Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:45:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chỉ có một Nguyễn Sơn - Vị lưỡng tướng quốc  (Đọc 56379 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 07:50:07 pm »


18

Nguyễn Sơn 17 tuổi là một trong số người ngoại quốc học trường Võ bị Hoàng Phố1 đầu tiên của nước Trung Hoa. Trong thời kỳ tham gia Bát lộ quân (tức là Hồng Quân) ông là giáo sư giảng dạy về chính trị, về chiến lược chiến thuật, về công tác tổ chức vận động quần chúng thành từng đoàn thể để đi theo phục vụ cách mạng - Qua kinh nghiệm giảng dạy tại đại học kháng Nhật phân hiệu 2 trường đảng cục 2 trung ương và một số trường khác do trung ương đảng tổ chức, ông rất mong muốn tại Việt Nam được thành lập trường đào tạo cho cán bộ có đầy đủ trình độ, kinh nghiệm để chỉ huy và tổ chức quần chúng thành một hậu phương vững chắc chống xâm lăng.

Trong thời gian luyện tập cũng có những lúc gây cho anh em nhiều ấn tượng. Sau khi được nghỉ 5 phút trên đỉnh núi Thiên Ấn, chúng tôi thấy một chiếc xe hòm đen2 leo lên đồi. Xe này do ông Nguyễn Sơn lái vòng quanh núi và dần dần tiến vào chỗ tập. “Thầy hiệu trưởng đã đến”. Đại đội trưởng Đào Văn Trường tập họp các sinh viên để chào thầy, “Nghiêm” chào tư lệnh “Chào”, Nguyễn Sơn khoát tay và bảo anh em cứ tiếp tục học. Sau 10 phút quan sát ông cho tập hợp để giảng về sự phối hợp của bộ binh với các loại vũ khí nặng.

Thường thường ông hay đến chỗ tập của các đại đội khi ở núi Thiên Ấn, hay núi Bút, khi sông Trà hay Ba La, Thu Xà để góp ý cho sinh viên thu thập rõ ràng về bài đang học. Trần Đình Mai nói với tôi: Xưa kia chỉ có tên công sứ Pháp đi xe Limousin lên núi ngoạn cảnh. Nay tướng Nguyễn Sơn lái xe jeep lên núi này để dạy ta đánh Pháp. Sự kiện đó không những riêng anh mà các sinh viên khác đều lấy đó làm niềm tự hào được tướng Nguyễn Sơn làm thầy.


Có một lần, phòng Thông tin Quảng Ngãi tổ chức đêm văn nghệ để chào mừng ngày khai giảng trường Sĩ quan Quảng Ngãi. Ban tổ chức có mời các giáo sư và sinh viên tham dự các tiết mục có đơn ca song ca, vũ khúc và kịch - Cô Duyên Hường, một ca sĩ cũng là một hoa khôi của tỉnh và cũng là chị ruột tôi đã lên hát bài: “Thiên Thai” - Một tuần sau, cũng tại rạp này, ông Nguyễn Sơn nói:

- Chúng ta ở cách mặt trận hơn 100 cây số. Mọi người đang chuẩn bị tinh thần để chiến đấu từ bên trong địch đổ ra và dưới biển Thu Xà cách thị xã 10 cây địch có thể đổ bộ tấn công ta. Ta phải xếp bài Thiên Thai lại một bên và sau khi chiến thắng quân xâm lược chúng ta giở ra hát cũng không muộn - Chuyện đó đến bây giờ các sinh viên Lục quân vẫn còn nhớ - Hơn nữa anh Trường đại đội trưởng đại đội 3 của trường lại là người nhớ dai nhất vì anh đã lại nhà tôi đánh đàn Hạ uy Di cho chị tôi nghe. Nếu nhà trường kéo dài thêm 6 tháng nữa, anh Trường có thể là anh rể của tôi vì những ngày nghỉ anh thường đến nhà tôi chơi đàn.

Một lần khác tại sân vận động Quảng Ngãi có cuộc đấu võ Ăng Lê (boxe) 3. Họ đấu hăng đến nỗi sứt miệng chảy máu mũi. Ông Nguyễn Sơn leo lên đài và bắt buộc các võ sĩ ngừng tay không được đánh “Hiện giờ không phải lúc chúng ta gây thù hận giữa nhau. Lúc này nên tập trung hết sức lực đi vào hàng ngũ Vệ quốc đoàn để đánh giặc ngoại xâm. Tạm thời các anh em hãy dẹp lối chơi này qua một bên để đầu quân bảo vệ Tổ quốc đang cần đến sức lực các anh để giữ nước”. Nói xong ông yêu cầu Ban tổ chức dẹp liền cuộc đấu này.
______________________________________
1. Trường này do Tôn Trung Sơn mở. Ông là vị lãnh đạo Quốc dân đảng thục hiện cuộc cách mạng tân dân chủ tại Trung Quốc.
2. Xe hòm đen: Loại xe du lịch của Pháp tên Traction quinze
3. Ăng lê: tiếng Pháp là Anglais: người Anh. Xưa kia ta thưòng gọi là đánh bốc (tiếng Pháp là boxe)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 07:51:06 pm »


19

Khi đợt 1 thi xong. Tôi qua bên Văn phòng Ủy ban kháng chiến miền Nam tại phía bên trái trước mặt trường. Tôi vào văn phòng bất ngờ gặp ông Nguyễn Sơn. Ông hỏi:

- Đồng chí Tài đi đâu đấy!

- Thưa Chủ tịch tôi xin cấp giấy phép dùng súng lục.

- Đánh sẵn chưa? Ông hỏi.

- Dạ có và có dán ảnh với nội dung được dùng súng tại khắp các tỉnh miền Nam Việt Nam

- Đưa tôi ký.

Chủ tịch liếc sơ và ký liền.

Tôi cám ơn và nói:

- Đồng chí Chủ tịch có thể tiếp tôi trong 15 phút về vấn đề tình báo được không?

- Được, chiều 2 giờ đồng chí đến gặp tôi.

Đúng hẹn tôi đến và trình bày về tổ chức tình báo không biết ta có để ý chưa chẳng hạn - Guépiou của Nga, Scoland Yard của Mỹ, Zestapo của Đức, Intelligent service của Anh, 2 e bureau của Pháp. Ông giơ tay ngắt ngang.

- Tốt! Hiện giờ tôi và đồng chí Thanh Sơn đang nghĩ đến việc đó nhưng chưa có người huấn luyện.

Tôi nói liền:

- Chủ tịch yên chí! Tôi có người quen ở Sài Gòn làm trong sở nghiên cứu mật thám, anh ấy là bạn với anh tôi, hồi năm 1938, 1939, khi cha tôi là chủ bưu điện ở Phước Long, tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang). Tôi học ở Long Mỹ và anh tôi học ở Collège Bassac - Cần Thơ. Sau anh lên Sài Gòn học và quen anh Đức. Hiện nay anh ấy đang ở trong bộ đội Bà Rịa thất trận trôi dạt ra ngoài này, Chủ tịch cần, tôi giới thiệu - Tôi tin anh ấy điều khiển lớp tốt.

- Bon! Sava, merci!1 Nói xong ông vỗ vai tôi.

- Cho anh ta gặp tôi vào 9 giờ 30 sáng mai.

Tôi trở về rất hân hoan và đi gặp Đức để cho biết cuộc hẹn này. Sau đó Đức đã đến đúng hẹn.

Cách hai tháng sau ông Thanh Sơn đã lập phòng Tình báo Điệp báo miền Nam Việt Nam và anh Đức người tôi giới thiệu là thầy huấn luyện cho khoá đầu tiên cho các học viên ở tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Phan Rang về học tại Phong Niên thuộc tỉnh Phú Yên trong thời gian 6 tháng vào đầu tháng 3 năm 1947. Sau đó rút lại còn bốn tháng vì tình hình chiến sự căng thẳng.

Ông Thanh Sơn đã cho người ra trường Võ bị Sơn Tây rút Phạm Ngọc Thảo mới học có 2 tháng ở Võ bị về. Sau đó là sinh viên Nguyễn Thống cũng ở trường Võ bị này được chuyển vào Nam Bộ năm 1948 làm phó khoa Tình báo Quân khu 9. Phòng Tình báo2, Điệp báo miền Nam Việt Nam được thành lập vào tháng 10, Phạm Ngọc Thảo làm Phó phòng3, Nguyễn Duy Khâm làm Trưởng phòng, anh Chi làm Chánh văn phòng.

Khi rời Tư lệnh Bộ, tôi gặp cô Nội vợ ông Nguyễn Sơn ở chung với một cô trong căn nhà gần Bộ Tư lệnh.

Trong dịp này Thiếu tướng Lê Thiết Hùng đại diện Bộ Tổng tham mưu đi thanh tra các trường quân chính tại miền trung. Ông có ghé thăm trường lục quân đang học giai đoạn đầu. Nhà trường được tin đã chuẩn bị thật chu đáo về mọi mặt.

Hiệu trưởng Nguyễn Sơn đã đón tiếp Thiếu tướng với nghi thức long trọng cùng các đại đội ngay hàng thẳng lối. Sau khi Thiếu tướng được hướng dẫn đi thăm trang trại kể cả nhà bếp và giếng nước, Thiếu tướng khen nhà trường tổ chức có quy củ, ngăn nắp tuy nhiên ông nhấn mạnh quân đội đi lên chính quy phải đầu tư nhiều hơn nữa. Nguyễn Sơn hoan nghênh sự đóng góp của Thiếu tướng đồng thời ông “phản pháo”. Ông vuốt râu và chỉ vào những trang trại che lá trong hoàn cảnh thiếu thốn, ông nói:

- Thiếu tướng ạ! (vì hai ông đều là bạn cùng học một trường Võ bị Hoàng Phố) đây là trường ở rất gần mặt trận nên cách huấn luyện dựa vào nhu cầu thực tế của chiến trường. Trường đóng ở một tình nghèo nên gặp rất nhiều khó khăn. Đây là một trường kháng chiến, các sinh viên vừa học vừa chuẩn bị luôn luôn sẵn sàng để chiến đấu khi địch tấn công. Vừa qua quân Pháp đã chiếm An Khê, nhà trường đã mở cuộc mít tinh và đã có đa số sinh viên tình nguyện ra mặt trận.


Trường Lục Quân bước qua giai đoạn đầu, Nhà trường đã mở kỳ thi sát hạch trình độ quân sự, chính trị của các sinh viên sau hai tháng học tập. Số sinh viên bị loại khoảng gần 50 người với một số lý do, sức khoẻ kém, học tập kém và vô kỷ luật. Sau khi thông báo kết quả thầy hiệu trưởng quyết định cho sinh viên tham gia cuộc luyện tập dã ngoại trong một tháng. Các sinh viên được đi thâm nhập các đơn vị từ Thanh Hoá vào tới Khánh Hoà. Đây là chuyến công tác vào thực tế chiến trường để sinh viên tham gia huấn luyện và sâu sát với đời sống bộ đội.

Tại mặt trận Đèo Cả, Củng Sơn đã có 2 sinh viên bị thương khi lâm trận. Một chuyến đi đầy bổ ích cho số sinh viên non trẻ mới bước khỏi ngưỡng cửa trường học phổ thông trung học được tập dượt để làm quen với không khí mặt trận.

Phòng Nam bộ đã kịp thời lập Đài tiếng nói Nam Bộ do các đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, Huỳnh Văn Tiểng, Cao Hồng Lĩnh phụ trách đóng tại đình Thọ Lộc huyện Sơn Tịnh gần sông Trà Khúc - Đài đã loan nhiều tin chiến thắng của quân khu 5 quân khu 6, các hoạt động chống Pháp bằng mưu trí tại đồng bằng Sông Cửu Long và tố cáo tội ác của giặc tại miền Nam. Đài có nhiều chương trình phát thanh, ngâm thơ rất sinh động. Bọn Pháp cố tìm địa điểm này để phá hoại nhưng chúng không tìm ra được nơi đài hoạt động.
_______________________________________
1. Thế là tốt đấy! Cám ơn! Hồi ấy ai cũng sợ nói tiếng Pháp vì chính quyền quy là thân Pháp. Họ cho là Việt gian. Nhưng ông Sơn biết ai là người có học thức, đào tạo trường Tây, ông hay nói vài câu tiếng Pháp... cho vui với người đối thoại.
2. Nhân viên Tình báo phải là người có học thức để nghiên cứu các tài liệu tình báo các nước và các chủ trương của quân Pháp.
3. Phạm Ngọc Thảo là người công giáo, dòng Roma đậu tú tài làm kỹ sư công chính. Sau khi sinh viên Tài học xong lớp tình báo vào tháng 5/1947 Tài đã được phòng tình báo phân công làm phụ tá cho đồng clú Thảo với nhiệm vụ mở các đường bộ và thủy đưa cán bộ Trung ương, tài liệu và vàng để mua vũ khí ở Thái Lan đem viện trợ Nam bộ.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 07:53:29 pm »


20

Quảng Ngãi cũng là trung tâm nhận các thương binh trên các chiến trường từ miền Nam ra dưỡng bệnh và dưỡng thương. Các chiến sĩ từ miền Bắc vào được nghỉ ngơi trước khi được phân phối ra mặt trận - Tỉnh Quảng Ngãi cũng là trung tâm văn hoá, văn nghệ miền trung để các chiến sĩ về nghỉ được giải trí trước khi đi nhận công tác. Tại rạp chiếu bóng đều có trình diễn văn nghệ dịp cuối tuần.

Trường Quân chính Đại đội đã mãn khoá vào tháng 7 do tình hình chiến trường miền Nam căng thẳng. Căn cứ vào tình hình chiến sự phía nam trung bộ, Nguyễn Sơn đã đề nghị được rút ngắn thời gian luyện tập của trường lục quân. Bác Hồ và Quân ủy Trung ương đã chấp thuận. Ngày 20/11/1946 trường Lục quân trung học cũng bế mạc.

Buổi lễ diễn long trọng và chứa chan tình cảm giữa thầy trò, quân dân. Sau khi tuyên bố kết quả học tập của các sinh viên, thầy Nguyễn Sơn căn dặn: sinh viên phải cố gắng khắc phục mọi trở ngại luôn học tập trong chiến đấu để làm rạng danh trường.

Các sinh viên phải hiểu vị trí mình trong hoàn cảnh lực lượng ta còn non yếu hơn địch rất nhiều, phải cùng đồng đội, đồng bào nuôi lấy lòng căm thù giặc và bọn Việt gian bán nước. Phải khắc phục mọi khó khăn, gian khổ sáng tạo trong chiến thuật, quyết đoán mau và dốc toàn lực diệt quân thù.

Cuối cùng đồng chí Lê Văn Kiện đại diện cho sinh viên toàn trường đã cảm ơn thầy Nguyễn Sơn cùng toàn thể Ban Giám hiệu và các huấn luyện viên ngoại quốc đã giảng dạy. Đồng chí Kiện không quên cám ơn đồng chí Bí thư, đồng chí Chủ tịch cùng các ban ngành, đoàn thể, nhất là các mẹ, chị chiến sĩ đã giúp đỡ về hậu cần cho trường trong khi tỉnh nhà phần đông ăn cơm sắn, khoai để nhường cơm sẻ áo cho sinh viên. Đồng chí đánh giá: chúng tôi xem đây là một mối tình đẹp nhất giữa địa phương và tiền tuyến, giữa quân và dân như cá với nước.

Sau lễ bế mạc, chúng tôi ra trường sớm hơn một tháng để kịp thời trường tung cán bộ về các địa phương. Tuy nhiên nhà trường cũng cho các sinh viên nghỉ 10 ngày phép để chuẩn bị hành trang, sau này lên đường ra mặt trận với sự phân công của nhà trường.

Riêng phần tôi, nhờ dịp này tôi đã được về thăm mẹ ở Gia Lâm sau 10 năm xa cách. Khi tôi lên 5 tuổi mẹ tôi đã đi tu nhưng năm sau bà được ông chánh tổng Gia Quất huyện Gia Lâm rước về làm vợ. Dịp này tôi đã gặp bà ở một căn nhà lá riêng biệt trong đất nhà ông Chánh tổng. Bà được sống độc lập nhưng vì ham buôn bán, gánh gạo nhiều quá nên bị cụp xương sống làm cho bà gù lưng. Bà vẫn còn mạnh khỏe khi tôi trở về trường. Đó là điều làm tôi rất mừng và yên chí vào tiểu đoàn Ba Dương thực hiện “Nam Tiến”.

Thế mà hơn 30 năm sau khi hoà bình lặp lại tôi mới gặp mẹ tôi, như thế cũng là điều may mắn hơn một bạn sinh viên trường này sau hiệp định Giơnevơ1 đáng lẽ được về nhà gặp mẹ nhưng vì có lệnh đi học Trung Quốc gấp trong 3 năm. Đến khi trở về nhà thì mẹ đã mất rồi...

Việc nghỉ phép 10 ngày riêng đối với tôi thật quý. Đây cũng là một quyết định rất tình cảm và khoa học của thầy Sơn đã dành cho các sinh viên được sum họp với gia đình trước giờ xuất phát và chuẩn bị từ tinh thần đến vật chất thật dứt khoát, gọn nhẹ trước khi trở về trường nhận nhiệm vụ phục vụ mặt trận tại 3 miền trung, nam, bắc. Họ đã rũ bỏ hết những vấn vương trong lòng trước khi ra đi với tinh thần sung mãn được vinh dự hiến thân cho Tổ quốc.



21

Nhận được quyết định số 214 ngày 20 tháng 11 năm 1946 ông Nguyễn Sơn đã bàn giao với Thiếu tướng Lê Thiết Hùng sẽ thay ông làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam và ông sẽ về trung ương làm Tham mưu trưởng. Đi theo ông có 17 người gồm 1 cần vụ, 1 y tá, 1 thư ký và 2 bảo vệ với 10 sinh viên lục quân Quảng Ngãi, bà Nội vì mang thai 4 tháng nên ông để ở lại khi nào yên sẽ ra Bắc sau.

Ông cho biết trước đường đi ra Bắc rất gian nan phải xuyên rừng vượt núi. Ông ra lệnh mỗi người phải chuẩn bị một ruột tượng 5kg gạo - Và lương khô cùng đồ gia vị muối vừng (muối tiêu) muối đậu. Mỗi người được cấp 1 võng, 1 tấm ny lông che mưa và để đắp, 1 hộp mùng tròn dùng khi đứng gác, hộp này trồng vào đầu để tránh muỗi, một khăn mặt, một đôi giầy da và hai đôi tất, 30 viên thuốc cảm, ỉa chảy và kiết, một gói nhỏ bông băng với lọ thuốc đỏ - Ông giao la bàn cho thư ký quản lý.

Các đồng chí Nguyễn Chánh, Phạm Kiệt, Hoàng Quốc Việt đã tổ chức một bữa cơm tiễn đưa ông Nguyễn Sơn và đoàn đi về trung ương có mặt cả cô Nội. Trong bữa ăn ông nhắc nhở các vị chỉ huy nên chú ý vùng biên giới Trung Lào, địch có thể xâm nhập bất cứ lúc nào kể cả các cửa biển Mỹ Khê, Thu Xà, Sa Huỳnh - nhất là Sa Huỳnh nên có những phòng tuyến chống địch đổ bộ - Nơi đây là đường huyết mạch, núi lại sát biển nếu địch chiếm được chúng sẽ uy hiếp vùng Đức Phổ, Mộ Đức làm trở ngại cho hoạt động quân sự của ta.

Hiện lại tỉnh Buôn Ma Thuột đã thành lập 3 đại đội độc lập, 3 đội vũ trang tuyên truyền và 3 ban xung phong công tác gồm:

- Đại đội độc lập 29 phụ trách Cheo Leo và tả ngạn sông Ba.

- Đại đội độc lập 79 hoạt động ở M’Drak

- Đại đội độc lập 49 hoạt động ở Buôn Hồ2

Phải liên lạc với 2 ban xung phong công tác ở bản Đôn và một ban hoạt động ở phía Tây đường 14 (từ Buôn Ma Thuột đến Buôn Trắp) để chỉ đạo chiến đấu.

Tình hình lúc này thuận lợi cho ta vì các cán bộ, đảng viên các cấp, bộ đội du kích, bắt đầu bám vào dân, bám đất, vào cơ sở cách mạng. Tuy nhiên các đồng chí phải theo sát tình hình để tìm cách tạo cho địa phương những thuận lợi trong chiến đấu và xây dựng. Đây cũng chứng tỏ về mặt chiến lược khi ông mới bước chân vào miền Nam ông đã lên liền An Khê để chỉ đạo việc bố phòng mạn sườn của Trung bộ là Buôn Ma Thuột, Pleiku, Kontum chống lại dã tâm lấn chiếm của thực dân Pháp.

Mãi 8 giờ tối mới chia tay. Theo thường lệ, sau buồi cơm chiều ông nghỉ chừng 15 phút và sau đó là giờ đọc sách của ông tối thiểu cũng phải mất 2 giờ. Đây xem như kỷ luật ông đã áp dụng suốt thời gian ở nước bạn.

Đặc biệt tối nay, ông bỏ việc đọc sách, và lái xe đưa cô Nội đi vào Sa Huỳnh vì biển Mỹ Khê cô Nội đã đến tắm biển ở đó rồi.

Trước khi đi ra bắc ông cũng có chuyện cần bàn với cô
_______________________________________
1. Hiệp định đình chiến tại Genève (Thụy Sĩ) giữa Pháp và Việt Nam ký kết vào tháng 7/1954.
2. Trích cuốn Đảng bộ tỉnh Đắc Lắc tập 2 năm 1992

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 07:57:32 pm »


22

Biển Sa Huỳnh nằm hai bên ngọn núi nhỏ gần bờ. Ánh trăng bàng bạc khắp trời - Hai người leo ngồi trên tảng đá phẳng lì. Cô Nội ngả người vào vai ông - Ông lại nhớ phảng phất mùi hoa bưởi khi mới gặp nhau - Cô Nội nói:

- Về đây nhiều khi em nhớ Huế nhất là ngày đầu tiên gặp nhau chúng mình rong chơi cả ngày quên ăn...

- Em lãng mạn còn hơn anh! Chỉ khi nào em cười anh mới thấy đấy là Nội của Huế năm xưa, và những lúc...

Cô Nội cướp lời:

- Những lúc mình cãi nhau, là anh không nhớ phải không? Nói rồi cô véo vào đùi ông. Ông suýt xoa nói nhỏ: Đừng thế!

Ông xoay mặt cô hôn cô và bảo:

- Bao giờ anh cũng yêu quý em kể cả hòn máu đang nhúc nhích trong bụng em! Em cũng biết thời giờ đối với anh rất quý vì thế có khi em buồn vì thời gian gần bên em ít ỏi và anh lại là người tham công tiếc việc anh phải luôn xuống chỉ đạo tại các tỉnh, huyện và những điểm anh cảm thấy còn yếu kém. Trong cuộc trường kỳ kháng chiến cán bộ, chiến sĩ phải được chăm sóc cũng như ta trồng cây. Giống cây tốt đã đành nhưng nếu ta không bón phân và luôn tưới nước thì cây, cũng không thể nẩy mầm ra hoa kết quả mau chóng được.

Hai người tâm sự với nhau một hồi lâu. Trăng vừa ló trên ngọn núi trước mặt. Họ đã thỏa thuận ông Sơn đi ra bắc và sau khi sinh đẻ xong vài tháng cô Nội sẽ ra sau.

Hai vợ chồng lên xe ra về khi trăng lên khỏi đỉnh núi. Biển vẫn im lìm dưới bầu trời xanh lơ - Không ngọn gió, không tiếng sóng dạt dào. Không một bóng người - Ánh sáng mờ mờ của biển và trời nhập nhòa. Cảnh biển lùi dần phía sau xe...


6 giờ sáng ngày 02 tháng 01 năm 1947. Đoàn được một xe ô tô lớn chở ra Tam Kỳ. Tại đây bắt đầu cuộc đi bộ xuyên rừng vì đường sá đã bị phá hủy. Các địa phương triệt để “Tiêu thổ kháng chiến” 1 vườn không, nhà trống, đường quốc lộ đào thành những hố ngang dọc để đề phòng quân Pháp không thể dùng đường để đi ruồng bố, dùng nhà để ở dễ dàng.

Đoàn đã phải vất vả khi qua các khu vườn hoang, dân chúng di tản xa thành thị tất nhiên đoàn phải tự chuẩn bị nấu nướng để giải quyết bữa ăn dọc đường. Qua ba ngày đi trong núi rừng, đoàn đã lên được đỉnh đèo Hải Vân.

Ngồi trên tảng đá Nguyễn Sơn thấy mây bay là là dưới chân như những dải bông gòn - Khí lạnh núi rừng làm tê buốt mặt. Sau khi ăn cơm nóng sốt anh em phải tìm những cành khô nhóm lửa sưởi tay. Lúc anh em vào ngủ trong lều vải Nguyễn Sơn vẫn ngồi trầm ngâm bên bếp lửa sắp tàn. Ông nhìn màn đêm mờ mờ dưới trăng đã gợi ông nhớ đến Ngũ Hành Sơn, đến thôn Đông Dã nhà của người vợ trẻ Trần Kiếm Qua, cái tên do ông đặt và nàng đã vui lòng chấp nhận. Kiếm Qua có nghĩa là gươm, giáo hợp với bản chất cứng rắn của nàng thay vì tên Ngọc Anh. Nàng là người năng động, quả cảm, cứng rắn, nói là phải làm cho được. Mọi việc quyết định mau lẹ, tính tình như đàn ông. Nàng đã dám cắt tóc ngắn trong khi phụ nữ Trung Hoa lúc ấy để tóc dài và thắt bím của thời phong kiến. Ông đã cưới nàng bất chấp luật lệ của Hồng Quân vì sự kiện này ông đã bị kỷ luật “khai trừ khỏi đảng”.
____________________________________
1. Tiêu thổ kháng chiến là tất cả đường sá, cầu cống, nhà gạch kiên cố, thành quách đều phá để quân địch khi tiến chiếm không có chỗ ở, không vườn rau để ăn...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 07:58:18 pm »


23

Trăng vẫn mờ mờ thấp thoáng sau những làn mây đang lững lờ trôi trên khắp núi đồi. Ông nhớ lần lượt hồi mới gặp Kiếm Qua, nàng đã chấp thuận cùng ông sinh cùng một ngày (1/10) Ông nhớ ông nắm tay nàng, ông lắc lắc và nói:

- Em hãy ghi nhớ không cần biết năm nào tháng nào ta chết, hãy cứ quyết định chúng ta sinh ra cùng tháng cùng ngày. Ngày ấy là ngày 1/10 và ta tôn thờ chủ nghĩa cộng sản mãi mãi. Ông nhớ cả bữa tiệc cưới chỉ có ông nội của Kiếm Qua đứng chủ hôn. Ông đã hứa trước ông nội và anh em: “Thưa ông nội! Xin ông cứ yên tâm, cháu và Ngọc Anh trên trời như đôi chim liền cánh, dưới đất như hai cành lý liền cành sẽ theo cách mạng cho đến chết, cháu nguyện cùng kết bạn với Ngọc Anh suối đời”. Nói xong ông uống hết chén rượu đầy không còn sót một giọt. Cảnh tượng đêm động phòng ông nhớ rõ như in.

Khi vừa tiến vào “phòng hoa chúc” 1, tửu hứng của Hồng Thủy vẫn còn. Ông bỗng nổi hứng vừa đi lại vừa cao giọng ngâm bài thơ đã làm rung động Hoa Hạ của thi sĩ Vương Bột đầu đời Đường. Bài thơ “Đằng Vương Các” bất hủ. Khi ông đang say sưa ngâm đến câu: “Lạc hà dữ cô vụ tề phi; Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc” là 2 câu thơ hay tuyệt trần, Kiếm Qua nhịn không được, cười rũ ra:

- “Anh vừa làm rể của Trung Hoa, lại vừa muốn làm “thiếu niên tài tử” của Trung Quốc nữa cơ đấy!”

Hồng Thủy dừng lại hỏi Kiếm Qua:

- “Kiếm Qua, em có biết Vương Bột là nhân sĩ đất nào không?”

- “Tất nhiên là em biết! Ông ta là người Hà Tân, Sơn Tây, là “thiếu niên tài tử” của quê em. Ông được coi là người đứng đầu “Tứ kiệt” thời đầu nhà Đường”.

- “Thế em có biết ông ta chết chôn ở đâu không?”

Cô lắc đầu im tịt.

Ông từ từ thong thả đáp:

- “Vương Bột chết chôn ở Việt Nam”.

Cô nghĩ rằng có lẽ trong khi vui mừng ngày cưới, Hồng Thủy lại da diết nhớ về Việt Nam chăng, nên cô không dám hỏi.

Hồng Thủy bỗng nhiên cười phá lên “Người Sơn Tây và Việt Nam có duyên với nhau đấy!”

Bấy giờ Kiếm Qua mới rõ là Hồng Thủy chúc mừng hai người thành đôi thành lứa.


Về vấn đề Vương Bột cha là Vương Phúc Kỳ, một huyện lệnh của quận Giao Chỉ thời đó (nay là Việt Nam). “Đằng Vương Các tự” là tác phẩm của Vương Bột sáng tác tại Nam Dương, Sơn Tây.

Trên đường về nam, sang Giao Chỉ thăm người thân vào mùa thu năm 676 (sau công nguyên). Vương Bột cùng gia đình cả thảy 7 người đi thuyền vượt biển gần tới bờ thì biển nổi bão lớn, thuyền chìm. Tất cả đều chết hết. Theo truyền thuyết thì sau khi thuyền chìm, chỉ duy nhất xác Vương Bột nổi lên và trôi dạt vào bờ bắc sông Lam (ở Trung Bộ Việt Nam). Thời ấy Vương Phúc Kỳ làm quan được lòng dân, nên dân chúng tổ chức chôn cất Vương Bột tử tế. Người dân địa phương thường đồn đại: cứ nửa đêm ở hai ven sông lại vang lên tiếng Vương Bột ngâm hai câu thơ tuyệt cú:

“Lạc hà dữ cô vụ tề phi
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc”.


Tạm dịch:

Ráng chiều theo cánh chim cô đơn
Nước mùa thu lẫn trời một sắc.

Dân chúng bèn lập đền thờ Vương Bột để cầu cho vong hồn của một thiếu niên từ miền Bắc Trung Quốc đến đây gặp nạn tại Việt Nam. Ít lâu sau người cha của Vương Bột là Vương Phúc Kỳ tạ thế. Dân chúng địa phương cũng đem chôn ông cạnh mộ của con, và thành kính thờ. Trải hơn một nghìn năm đã trôi qua, hương khói của đền vẫn luôn nghi ngút cho đến bây giờ.


“A! Anh còn là một nhà Trung Quốc học”. Kiếm Qua mỉm cười khen ông.

- Em còn nhớ 2 câu thơ khác của Vương Bột cũng đã được lưu truyền thiên cổ không?”

“Hải nội tồn tri kỷ
Thiên nhai nhược tỉ lân”

Tạm dịch:

“Bốn bể còn tri âm
Chân trời xa mà gần”

Kiếm Qua và Hồng Thủy thực sự hợp ý nhau. Khi ấy hai trái tim của hai người đã hoà cùng nhịp đập. Người này mới mở miệng người kia lại đáp liền.

Đây cũng thể hiện tính hiếu học của ông đã nghiên cứu về cả văn chương cổ đại Trung Quốc.
________________________________________
1. Phòng hoa chúc có nghĩa là phòng ngủ của đôi tân hôn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 07:58:55 pm »


24

Một hôm, bí thư Đặc ủy Tấn Đông Bắc, Vương Dật Quần, mời Kiếm Qua lên phòng làm việc của ông. Ông mặc một chiếc áo bông dài, hai tay đút vào hai ống tay áo, đi đi lại lại, mặt có vẻ đăm chiêu. Kiếm Qua nghi ngại không hiểu ra sao. Ông ngừng lại và hỏi thẳng:

“Nghe nói cô và Hồng Thủy kết hôn rồi, có phải không?”

Kiếm Qua gật đầu, cảm thấy có điểu bí ẩn.

“Cô có biết Bát lộ quân có một điều quy định, không cho phép quan binh kết hôn trong thời gian kháng Nhật không?”

Cô lắc đầu “Không biết ạ”

Lúc đó mặt cô đỏ bừng lên. Bản tính cô rất bướng, thế mà lúc ấy vì chuyện kết hôn bị phê bình, thật chẳng biết làm thế nào cho phải.

Thấy thái độ phản ứng của cô, Vương Dật Quần dịu giọng hơn:

“Việc này không trách cô được, điều này do Bát lộ quân quy định. Cô cũng lớn tuổi rồi, ở huyện Ngũ Đài, người tuổi như cô thì đã có con bồng, con mang”

Vương Dật Quần không phê bình cô nữa, song trong lòng cô rất không yên. Điều quy định chỉ áp dụng với người trong Bát lộ quân, thế nhưng “sai lầm” đó đều do hai người gây nên. Nghĩ lại cô vô cùng lo lắng cho Hồng Thủy. Vì việc lấy vợ này, Hồng Thủy bị phê bình, song ông không nói nửa lời cho cô hay. Hồng Thủy là người tính tình quả cảm, chỉ cần thấy đúng là ông dám làm và cũng dám chịu. Trời có sập, thì một mình chịu, quyết không để ai bị liên luỵ, và nét mặt vẫn bình thản như không có gì xẩy ra.

Cô hiểu rõ tính cách của Hồng Thủy. Việc ông Vương gọi cô lên nói, cô cũng không kể lại. Cô nghĩ Hồng Thủy đã chịu đả kích quá nhiều, lẽ nào cô lại gây thêm nỗi đau lòng cho ông! Hồng Thủy đã ba mươi tuổi rồi, thời gian ở trong Bát lộ quân đâu có ngắn. Hàng ngày anh vẫn vui vẻ, nói nói, cười cười, không lúc nào thấy anh lộ vẻ buồn rầu. Một người chịu nhiều đả kích như thế, nếu không có ý chí cách mạng kiên cường thì sao còn luôn giữ được niềm lạc quan.

Việc Hồng Thủy và cô lấy nhau, nghe nói trong Bát lộ quân thời đó là việc xảy ra đầu tiên và vang dội khắp nơi. Một số cán bộ lớn tuổi đều cười:

- Hồng Thủy đã có vợ, chúng ta lớp lớn tuổi chắc có thể được cấp trên lưu ý và thay đổi chính sách đối với cán bộ lớn tuổi chưa vợ chăng!

Tin Hồng Thủy cưới vợ và bị khai trừ khỏi Đảng đã được truyền về Diên An, đến tai Mao Chủ tịch và Chu Tổng tư lệnh. Hai người cảm khái nói: “Đây là lòng quân rồi! Con đường cách mạng Trung Quốc quá dài. Rất nhiều chú bé ngày nào vào bộ đội, súng đeo dài lê thê gần quét đất, tham gia chống bao vây dũng cảm, xông pha trận mạc, đánh rồi lại tiếp tục đánh nữa, luôn hăng hái trung thành với cách mạng. Nay đã quá tuổi. Yêu cầu lấy vợ ngày càng bức thiết. Địa bàn của khu giải phóng có hạn con gái vốn dĩ đã thiếu, nay lại về đóng thêm bao nhiêu quân, tỷ lệ nam nữ chênh lệch rất lớn. Tại Diên An tỷ lệ đó đã đạt tới mười tám nam trên một nữ. Tranh dành với đàn bà con gái địa phương, thì làm sao còn được lòng dân! Chúng ta phải nghĩ ra một giải pháp hợp lý để hạn chế việc bộ đội kết hôn, chứ không nên cấm hẳn.

Cấp lãnh đạo quân đội bàn đi tính lại rồi ra một quy định gọi là “28 + 7 + đoàn” (Đoàn: trung đoàn), tức là người đã đủ hai mươi tám tuổi, có bẩy tuổi quân, là cán bộ cấp trung đoàn, phù hợp với điều kiện trên thì được phép kết hôn.

Tuy có quy định nghiêm như vậy, song số lượng nữ đồng chí quá ít. Vì vậy bộ đội chiến đấu có thêm một nhiệm vụ nữa: mỗi khi đến một nơi nào, hết sức thu nạp nữ thanh niên tham gia quân đội, làm cán bộ hậu cần.

Khi nói đến chuyện này, các đồng chí lớn tuổi đã dự đoán đúng và hả hê nói với nhau:

“Phải cảm ơn Hồng Thủy đã nã phát súng đầu tiên tạo điều kiện cho chúng ta lấy vợ”.

Sự việc cô và Hồng Thủy kết hôn đã làm Mao Chủ tịch và Chu Tổng tư lệnh phải thay đổi chính sách hợp lý khoa học đối với các cán bộ trong quân đội.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 08:02:23 pm »


25

Trăng le lói trên dải Trường Sơn. Đêm này ông lại liên tưởng đến người vợ đầu tiên đã có một cháu gái mới vài tháng. Bà tên Hoàng Thị Diệm người Hà Nội, học lớp 5 sau bỏ học bán hàng xén1, là người xinh đẹp thùy mị của đường Quán Thánh. Lúc bấy giờ khi quen nhau ông mới 16 kém bà 4 tuổi. Mỗi lần đi học ngang qua quán, ông đều tìm một lý do để mua hàng của bà. Có lần ông mua gói thuốc lào, ông để lá thư tỏ tình trong gói thuốc và trả lại bảo là thuốc hỏng. Bà giở gói thuốc và biết là thư của ông. Nội dung muốn nói gì, bà nhìn ông và cười. Sau đó bố ông đã sắm lễ vật xin cưới bà Diệm cho con mình.

Trong vòng 1 năm giữa 2 bà thông gia có chuyện bất đồng. Chiều theo ý mẹ, vợ ông ôm bé Võ Thanh Các về bên ngoại. Sẵn dịp đồng chí Thụ đón ông qua Trung Hoa gặp Bác Hồ để tham gia cách mạng, ông giả vờ gây gổ đập tan cửa kính, chửi bới om sòm cho láng giềng biết để tối hôm đó ông, cùng đ/c Thụ và một người nữa đi tàu hỏa lên Bắc Giang. Bắt đầu từ đây ba người phải đi bộ qua Trung Quốc đến Quảng Châu.

Thuở ấy nếu thực dân Pháp biết nhà nào có người làm cách mạng, là chúng đầy đọa gia đình người ấy khổ sở điêu đứng - Vì tránh tình trạng liên luỵ đến gia đình bên vợ, ông đã tạo một màn kịch giả trước khi đi để tránh con mắt soi mói của mật thám Pháp. Ông cố hét to cho hàng xóm nghe để lấy cớ trước khi ông đi bọn mật thám không chú ý. Đoàn ông đi trong 3 ngày bằng đường bộ lên đến biên giới vì khi đó đường tàu hỏa bị phá nên phải băng núi rừng về Quảng Châu rất vất vả vì phải luồn tránh những đồn của Quốc dân đảng.

Tại đây ông đã gặp lại Bác Hồ lần thứ 2. Ông ở với Bác một tuần, sau đó ông được vào học trường Hoàng Phố2. Khi ra trường Bác giữ ông lại bên Bác để làm sĩ quan liên lạc với các cán bộ cao cấp của Hồng Quân.
_______________________________________
1. Hàng xén: hàng tạp hoá.
2. Trường sĩ quan đầu tiên của Quốc dân đảng - Lê Thiết Hùng trong đội ngũ quân Tưởng cũng học trong này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 08:07:07 pm »


26

Trên đỉnh Hải Vân, ánh trăng khi mờ khi tỏ. Gió lạnh từng đợt lùa vào lều vải. Ông bỏ thêm củi cho to ngọn lửa để xua đuổi khí lạnh đang bao vây quanh người. Xa xa dưới dãy núi chỉ thấy một dải trắng xám mờ mờ. Trời lẫn lộn với biển và thỉnh thoảng có đám mây từ từ bay qua dưới chân ông. Ông lại nhớ Kiếm Qua sau thời gian động phòng 2 người đều không có mái nhà để ở và cả hai đều ở cách nhau 4, 5 cây số. Lúc đó ông từ Cục chính trị được điều về tại báo Kháng Địch nên ít gặp Kiếm Qua. Tờ báo này đã ra được 20 lần và viết chữ ngược lên đá litho1 để in báo. Khi ông ra thêm 1 số thì tòa báo bị máy bay Nhật đánh phá sập trụ sở. Ông được Ủy ban huyện cấp cho 1 máy in với số chữ chì. Những máy móc này rất lạ đối với ông nhưng ông quyết mấy mò cùng anh em xếp chữ tranh thủ ra báo lần thứ 22 - Sức làm việc của ông suốt ngày đêm đã cuốn hút các nhân viên cán bộ, nhà in và toà soạn cùng làm như ông. Từ đấy ông viết truyện ngắn, xã luận và thơ. Thời gian ông phụ trách đã ra được 5 lần báo thì ông được chuyển công tác.

Tư lệnh Bát lộ quân đã công nhận tờ báo của biên khu do ông làm chủ nhiệm đã tạo nội dung tốt và trình bày phong phú hơn trước. Song song trong thời gian này ông cũng đã thành lập Ban kịch nói với 5 người và 1 nữ là vợ ông. Sau lần ấy vợ ông đã lôi kéo bạn bè trong hội phụ nữ được thêm 4 người làm ca sĩ trong Ban kịch2.

Năm 1939 do sự phát triển của Bát lộ quân yêu cầu phải thành lập thêm trường huấn luyện cấp bách, Hồng Thủy được điều về làm Phân hiệu phó phân hiệu 2 trường đại học kháng Nhật do La Thụy Khanh phụ trách. Đây là trường đại học đầu tiên tại khu căn cứ địa. Các giáo viên đều có trình độ tú tài trở lên, Hồng Thủy phụ trách chủ nhiệm khoa chính trị.


Thu đông 1939 Bát lộ quân đánh 3 trận lớn tại Trấn Đông Bắc đập tan chiến dịch vây quét mùa đông của giặc Nhật. Sau đó Sư đoàn Hạ Long lại thắng 1 trận lớn tại Trần Gia Trang gần nhà trường.

Ngày 3 tháng 4 năm 1940, tướng Nhật là Trung tướng Abê Norihido phái Đại tá Mêruna Kankichi chỉ huy 1500 quân tấn công khu căn cứ cách mạng. Đội quân này đã bị Bát lộ quân tiêu diệt hoàn toàn tại núi Nhạn Túc - Đại tá Kankichi bị chết dưới hoả lực mạnh mẽ của Hồng Quân.

Trung tướng Abê người đã tự phụ là vị chỉ huy tài giỏi đứng đầu trong hàng tướng Nhật Bản, sau cái chết của sĩ quan cấp dưới, ông coi đây là một cái tát lớn của Hồng Quân đã giáng vào mặt ông. Tính tự cao, kiêu căng đã làm ông nổi giận. Bốn ngày sau ông Abê thân chinh dẫn đại quân tấn công vào biên khu tại Hoàng Phố để trả thù trận thua cay đắng vừa rồi. Abê đã bị đại quân Dương Thành Vũ bao vây. Một trận chiến đấu khốc liệt giữa hai bên. Sau cùng Abê bị tiêu diệt cùng quân đoàn của mình. Chiến thắng oai hùng này đã vang dậy khắp cả nước Trung Hoa vì đây là chiến thắng to lớn nhất chưa từng có của Hồng Quân.

Đêm nay nhớ đến chuyện cũ ông ngâm nho nhỏ, bài thơ ông viết về Abê sau trận thất bại to lớn này. Bài này đã được đăng lên báo Kháng Địch.

“Chiến thuật mũi dao nhọn thọc sâu”
“Phản công hợp kích”
“Phân khu càn quét”
…
Còn có trò nào
        có thể làm
bày ra cho hết!
Hỡi các anh hùng “Hoàng khuẩn”!!
(Hoàng quân)
“Chín mũi tiến công”
“bảy vòng vây quét”
…
Đã bao phen
Mộng xâm lược tan như bèo bọt
Thế nhưng
Như lợn chết, không sợ dội nước sôi:
lại muốn tới
lại phải tới
lại phải mò đến nơi
Chiến dịch Trần Gia Trang
Bài học đó
vẫn không dạy người sâu sắc
trận tiêu diệt Ngân Phương Nhạn Tú
cũng chưa làm người mở mắt
Cho nên “Trung tướng Abê”, con người xuất sắc,
thân chinh xuất mã
là danh tướng, tỏ rõ uy phong
nở hết cỡ “Đoá hoa danh tướng”
Tiếc thay!...
        Hoa đẹp mà sao “mệnh bạc”
“Danh tướng chi hoa”
cũng chẳng sao tránh nổi
mệnh vẫn bi thảm trời dành
Ô Ê hô! Ra ma!

*
Đường sao mà hiểm ác
như báo “Triều Nhật” đã nêu
đúng đấy
những con đường
        Trung Quốc
bọn xâm lược đi trên đường Trung Quốc
thì đâu đâu cũng là hiểm ác.
dù là phương Nam
hay lên miền Bắc
“Trung tướng”
cũng chẳng còn đường nào khác
… ngoài những con đường hiểm ác...
Vậy làm sao?
        miệt mài,
                lặn lội,
Ông cố gắng
miệt mài
mò mẫm,
từ Trương Gia Khẩu tới được Mã Dịch xong,
là đến...
        chỗ cuộc đời ông đi tong!
“Trung tướng”
Cái vận ông đen như chó mực
Không!...
Cái vận tối của Thiên hoàng mới là đích thực,
đã hại ông!
biến ông thành cây mục
chẳng nhận nỗi hình dung
Biển báo đường
đã đề rất rõ:
“Trương Gia Khẩu” từ chữ “khẩu” mà ra
“Trương Gia Phần” theo chữ “phần” mà tiến
“Xin lỗi ông,
Đừng nổi cáu!...
Trung Quốc không có họ “Abê”
trong tính danh trận họ
Họ Trương là họ đứng đầu!
Vậy nên ông,
vừa tới địa giới “Phần”
Đạn pháo!
Lũ đạn pháo thật là vô lễ
đã đợi ngài tới nổ ầm ầm.
Ông đã tới nơi ông định tới,
miệt mài,
mò mẫm
mời tới được chả muốn tới:
“Phần mộ Abê”
(trên nghĩa trang đã ghi)
“Adi đà phật!
Quan thế âm Bồ tát,
xin cứu khổ ông
cứu nạn cho ông ấy,
Khổ nạn của ông do chiến tranh xâm lược đấy!
“Trung tướng”
Ngài thương kẻ dưới trướng lắm nhỉ?
thương chàng đội trưởng Kankichi
Ngài thương hắn...
hết lòng chiến đấu
khổ cực
bên vực Nhạn Túc
chết rục
Ngài rơi lệ
Ngài nắm tay kêu
và bèn cùng hắn
chết theo...
Ôi gương “nhân ái” thực là đáng nêu

Chúng tôi
đám con cháu của Thái Hàng Sơn
Xin cám ơn ngài
Từ huyện Thanh Sơn
quê hương ngài yêu dấu
đã miệt mài
mò mẫm
đến tặng cho
mảnh đất khô cằn
thêm được ít phân bón
Đoá hoa danh tướng!...
Nay thành phân bón cho Thái Hàng Sơn


Hồng Thủy rất có tài về thơ, văn. Đoàn kịch do ông tổ chức tại Trung Quốc lúc đầu chỉ có vợ ông và ông đơn ca, hoặc nói chuyện tếu vì ông rất có khiếu hài hước. Trong cuộc trường chinh vạn lý rất khổ sở, đói khát, ai nấy mặt mày ủ rũ, mồ hôi đầm đìa ông lại có nhiều tình tiết để khai thác làm đề tài văn nghệ. Trong hoàn cảnh gian nan ông vẫn lạc quan yêu đời và đem cuốn Kiều ra ngâm nga để quên đi những cực khổ trước mắt hoặc ông lại trêu chọc tướng Trần Canh và anh em đang mệt nhọc trên đường đi xa thẳm.


Lúc đầu tiết mục trình diễn rất nghèo nàn. Ông còn nhớ vợ ông hát được 6 bài là “cạn vốn.” Bài hát ruột của vợ ông được quân dân hoan hô với những lời lẽ mộc mạc, Nguyễn Sơn nhớ lại và se sẽ hát:

Chiếc đèn nho nhỏ leo lét cháy
Chồng tôi đánh trận tôi ở lại
Không buồn không đau không rầu rĩ
Tôi mang cho chiếc áo thật ấm thật mềm
A! Hây a!
Đàn con lớn lên lại đi đánh giặc Nhật
A! Hây a!
…

Nguyễn Sơn còn có khiếu sáng tác kịch thơ như “Xuân canh”, “Tòng quân Triều” và trường ca “Thiên chân” 3 bản bi kịch đã đăng nhiều kỳ báo. Những bài thơ ông đều được quần chúng và nhất là thương binh bộ đội thích nhất. Sau đó kịch của ông được các anh các chị kịch sĩ ở thành thị vào kháng chiến đã dàn dựng diễn xuất và sau này có những diễn viên nổi tiếng như Hồ Bằng, Diễm Hoa và các biên tập Lưu Giai, Hồ Khả, Đỗ Phong cùng các đạo diễn Nguỵ Nguỵ, Đinh Lý, Hồ Xô, Uông Dương về với ban kịch nên có thêm nhiều sáng tác giá trị và tiết mục biểu diễn càng thêm phong phú.

Đoàn kịch Kháng Nhật đã tạo thêm nguồn sinh lực trong quần chúng - là đạo quân tiên phong phục vụ nâng cao tinh thần chiến đấu và giáo dục bộ đội, quần chúng nhân dân trong khu căn cứ địa. Đây là đoàn kịch đầu tiên của Hồng Quân Trung Hoa có những kịch bản sâu sắc với diễn viên diễn xuất rất hay được toàn quân đội và dân chúng các tỉnh hoan nghênh.
_______________________________________
1. Phải viết chữ ngược và in bằng tay trên đá. Miếng đá trắng, viết chữ ngược bằng mực charbonel.
2. Ban Kịch sau thành đoàn kịch Kháng Nhật có tăng cường các tri thức nam nữ ở thành vào chiến khu nên lực lượng Đoàn kịch trở nên vững mạnh và phong phú về tiết mục biểu diễn.
3. Tiếc rằng chúng tôi chưa sưu tầm được tác phẩm và thơ của ông.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 05:12:13 pm »


27

Qua đêm khác, trên dải Trường Sơn ông cũng đã không ngủ được. Ông đặt lưng trên vải bạt. Đêm càng khuya. Trăng mờ dần. Ông vẫn suy nghĩ miên man về những ngày hoạt động ở Trung Quốc, với người vợ trẻ nhưng kiên cường - ông nghĩ đến con ông, hai đứa Tiểu Việt, Hàn Phong còn nhỏ quá. Ông nằm trằn trọc, trong những hình ảnh quay cuồng. Mắt ông khi nhắm, khi mở.

Ba tháng trước đây ông đã nghe tin vợ con ông đều bị chết vì bom do máy bay Nhật oanh tạc. Không thể nào ngủ yên! Vợ yêu của ông có chết thật không! Chao ôi! Chiến tranh khói lửa mịt mùng. Cái gì cũng có thể gọi là đúng được. Ông bước ra ven rừng nhìn những ngọn núi xanh lam trùng điệp lớp lớp chung quanh. Xa xa có phải là cửa biển Thuận Hóa không? Ông lại nhớ đến cô Nội một chiến sĩ cách mạng năm 1940 của thời Nam Kỳ khởi nghĩa. Cô Nội trong thời kỳ bí mật đã từng là vợ đồng chí Trần Văn Bẩy, Bí thư Liên chi ủy Hậu Giang. Đồng chí đã bị giặc bắt và bị thủ tiêu trong tù. Cũng như cô Tú Anh1, cũng đi mua vật liệu làm súng, mìn cùng một công tác với cô Nội. Từ năm 1936 hai cô đã gia nhập cách mạng lúc còn rất trẻ. Đảng ủy liên tỉnh Hậu Giang đã giao cho hai cô công tác sưu tầm vật liệu làm vũ khí như thuốc nổ, ống nước đem về xưởng tại U Minh để chế tạo vũ khí, chuẩn bị thời cơ chống Pháp. Tuy cùng 1 công tác nhưng 2 người phải đi riêng với 2 hướng đi khác nhau.




28

Trước khi vào nhận nhiệm vụ tại Quảng Ngãi, Nguyễn Sơn đã ghé Huế hai ngày vì ông được biết một sĩ quan cao cấp Nhật chỉ huy các đội quân Nhật tại miền Trung nên ông cần gặp họ. Nếu thuyết phục được bộ chỉ huy này theo kháng chiến thì ta được lợi vô kể. Cuộc gặp gỡ đã diễn ra tốt đẹp.

Đã từ lâu ông có ý định thưởng thức cảnh đẹp của sông Hương núi Ngự do các bạn khen ngợi và mô tả về Phu Vân Lâu chỗ vua ngự và chùa Thiên Mụ.

Đây cũng là dịp may để ông được xem thành nội, lăng các vị vua triều Nguyễn, chỗ ở của vua, hoàng hậu và các cung tần mỹ nữ. Ở Huế còn có món ăn đặc biệt như cơm âm phủ, bánh bột lọc, tôm chua... và các nơi như chợ Đông Ba, bến Kim Luông, núi Ngự, đò sông Hương...

Ông lái ô tô đến Huế, ông được Ủy ban nhân dân thành phố bố trí ở tại khách sạn Morin Frère và ăn tại nhà sẹt2. Qua một đêm trên giường nệm êm ái, ông thức dậy đi tắm. Ông đã phải ở Huế hai ngày trong việc gặp gỡ sĩ quan Nhật.

Lúc tờ mờ sáng ông lái xe qua cầu Tràng Tiền. Ông rẽ bên trái từ từ đậu vào lề đường. Ông tò mò muốn biết chỗ vua hay ra hóng mát tại Phu Vân Lâu. Ông nhớ rất rõ lúc ấy ánh mai vừa hừng sáng. Ông bước lên bậc tam cấp của ngồi nhà cổ kính cất gần bờ sông. Chung quanh cỏ cây xinh đẹp. Chợt ông sững sờ nhìn thấy bóng một người đàn bà đang đứng nhìn ra bờ sông Hương. Người phụ nữ này dong dỏng tầm thước. Trên đầu mái tóc đen huyền được bới gọn và xệ xuống dưới vai. Gió dưới sông thổi lên làm bộ bà ba lụa trắng của cô dán sát vào người nổi bật những đường cong tuyệt mỹ. Phía sau đã vậy ông tìm cách ra phía trước để quan sát. Ông giả vờ hỏi:

- Thưa cô! Tôi từ Hà Nội vào, nghe nói chùa Thiên Mụ đẹp lắm, mong cô chỉ hộ chùa Thiên Mụ đi đường nào?

- Thiên Mụ à! May quá, người ta mới chỉ cho tôi, tôi cũng đang định đến đó.

- Thế tôi có thể đưa cô đi được không? Tôi đậu xe ngoài kia.

Ông nói thêm:

- Người bạn ở Hà Nội có giới thiệu về bún bò Huế ở Đông Ba, mắm tôm chua ở thành nội, cơm âm phủ, tiện thể mời cô ăn thử bún bò Huế sáng nay!

- Quá hân hạnh cho tôi!

Cả hai lên xe ông cầm lái. Cô ngồi bên xe Jeep chăm chú nhìn hai bên cầu. Khi qua ngang cầu Tràng Tiền ông cao hứng ngâm nho nhỏ bắt chước giọng Huế. “Cầu Tràng Tiền mười hai cái nhịp - em đi qua không kịp ờ - chậm - Cô cướp lời - chậm thì em đi nhờ xe anh. Cả hai cùng cười thích thú. Không khí giữa họ đã trở nên thân mật.

Ăn bún bò xong, khi lên xe ông giơ tay nắm tay cô nâng cô lên chỗ ngồi. Bàn tay búp mầng của cô hồng hào mềm mại. Cô cảm ơn và nhìn ông với cặp mắt dịu hiền. Đôi má trái xoan của cô ửng hồng. Cô cười rất tươi và nói:

- Mong ông giúp đỡ những người miền Nam xa xôi như tôi

Ông cầm vô lăng lái và nói:

- Tôi từ miền Bắc vào công tác có thể sẽ vào tới miền Nam của cô. Tôi cũng ước mong được sự giúp đỡ của - lúc ấy hai người cùng nhìn nhau, ông nói tiếp của mọi người và nhất là cô.

Trên xe, cô cho biết khi các mặt trận trong Nam tan vỡ cô cùng các đồng chí Dương Bạch Mai, Vũ Trường Khê (đã học 5 năm trường Hoàng phố) và Hà Huy Giáp đi thị sát mặt trận Buôn Ma Thuột khi trở về bị phục kích, Khê đã chỉ huy một tiểu đội bắn cầm chân địch để đoàn rút lui an toàn. Tiếc thay Khê đã bị một viên đạn vào ngực và hy sinh anh dũng. Năm ấy anh mới 24 tuổi. Đàm Minh Viễn anh ruột Đàm Quang Trung cũng hy sinh ở mặt trận này cách một tuần trước.

Ông liếc nhìn cô và thầm nghĩ người đẹp như cô lại thích chịu khổ cực nơi mặt trận. Quả thật cô là người đẹp toàn bích. Nếu so sánh Kiếm Qua có vẻ non trẻ và dáng người thấp hơn, chắc da chắc thịt với giọng nói cương nghị biểu hiện bản chất người nông dân cứng cỏi. Còn cô Nội lại có một vẻ đẹp quý phái trong nước da trắng hồng, với đôi mắt long lanh, với mái tóc được búi tròn và thòng xuống theo kiểu những thiếu nữ đảng Dân chủ đi kháng chiến ở Nam Bộ. Cô mặc bộ quần áo bà ba cổ “bà lai” 3 làm nổi lên một bộ ngực tròn trịa với thân hình thon thả. Quả là một vẻ đẹp lý tưởng trong sự giản đơn của bộ đồ màu mỡ gà lụa Hà Đông.

“Em Kiếm Qua! Hồn em bây giờ ở đâu có lẽ xác em và con biến thành những mảnh vụn trong làn bom khủng khiếp của bọn giặc Nhật và Quốc dân đảng. Tha lỗi cho anh trong sự so sánh ngày hôm nay. Đây cũng là đồng chí bạn của em đấy. Họ cũng gian nan cực khổ không kém em”.
_________________________________
1. Tú Anh là một nữ sinh – Đảng viên Đảng ủy Rạch Giá (Kiên Giang) đóng tại rừng U Minh. Thời đầu Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940. Sau 1975 cô là Giám đốc nhà hàng xuống khách sạn tỉnh Minh Hải suốt gần 20 năm, cô là vợ của đồng chí Tăng Hồng Phẩm, Bí thư tỉnh Minh Hải. Khi Tây đi ruồng bố U Minh, phần lớn các đồng chí bị bắt chỉ còn đồng chí Tám Kiệt (Tám Lục lạc) và Năm Tôn thoát khỏi. Rừng U Minh lúc ấy là nơi căn cứ của liên tỉnh ủy gồm Long Xuyên (An Giang), Rạch Giá (Kiên Giang), Cần Thơ (Hậu Giang), Sóc Trăng, Bạc Liêu (Minh Hải).
2. Nhà Sẹt, tiếng Pháp Cercle: Câu lạc bộ hồi ấy nơi này toàn tiếp khách sang trọng và các dân biểu Trung phần thời chế độ cũ (Diệm, Thiệu)
3. Bà lai: cổ chéo

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 05:25:44 pm »


29

Khi xe dừng lại bên thềm chùa Thiên Mụ, hai người vào chùa và cũng dâng hương lễ phật. Đây là lần đầu tiên, ông thắp hương bắt chước vái theo cô.

- Anh biết tôi vái gì không?

- Chắc cô cầu cho ông, bà cha mẹ...

- Không phải? Tôi vái cho chồng tôi đấy.

Ông ngạc nhiên nhưng không dám hỏi giữa khói hương nghi ngút của điện thờ.

Khi hai người bước ra sân gần lan can chùa, họ đứng bên nhau cùng hướng mắt xuống dưới sông Hương nhìn con đò đang cô đơn cắm sào ở bên kia bờ sông.

Cô Nội nói tiếp:

- Chắc anh ngạc nhiên là tôi đã có chồng. Chồng tôi là Bí thư Liên chi ủy Hậu Giang1, tuy chúng tôi gần nhau có một đêm và sáng hôm sau chồng tôi bị bắt. Giặc Pháp từ Rạch Giá đi từ tờ mờ sáng vào bao vây căn cứ bắt hầu hết những người trong căn cứ. Lúc đó tôi đang đánh răng tại bờ rạch rừng U Minh. Tôi nghe tiếng súng, tôi vội lặn vào bụi ô rô nhưng tôi cũng bị bắt. Bọn Pháp dẫn tôi đi dập dềnh trên bờ kênh và lùng sục trong rừng. Khoảng chừng một tiếng đồng hồ thằng quan Pháp hô lớn

- Rassemblement2. Tiếng chạy và tiếng súng lách cách tiếp theo.

- En avant! à la direction du bâteau! Marche! 3

Nguyễn Sơn là người học tiếng Pháp thông thạo. Ông nghe cô Nội nói tiếng Tây4 lưu loát và phát âm đúng giọng “đầm” 5 sau này ông mới biết cô là sinh viên địa chủ ở Bình Minh, tỉnh Cần Thơ. Từ đấy ông và cô nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp vì ông rất thích giọng nói của cô phát âm giống người Pháp.

Ánh sáng ban mai hồng lên trên bờ sông Hương. Hai người vừa chuyện trò vừa nhìn những con thuyền đánh cá đang buông lưới trên dòng Kim Luông.

Ông cũng đã nói đến công tác và hoàn cảnh gia đình vợ ông ở Ngũ Hành Sơn (Trung Quốc). Cô cũng nói thời gian cô công tác với các đồng chí ở rừng U Minh.

Cô nói tiếp: bọn Pháp đã bắt được tôi và một số đồng chí đưa về nhốt tại khám Rạch Giá, sau đó tôi bị đày ra Côn Đảo6. May mắn thay còn hai anh đi công tác đến trưa mới về là anh Tám Kiệt7 và anh Năm Tôn không bị bắt.

Chiều hôm đó các anh Quảng Trọng Linh, Chín Ngự, Ba Đôn đã gặp đ/c Ba Hồ trong rừng sâu. Đ/c Ba Hồ8 là Bí thư đầu tiên của tỉnh Rạch Giá năm 1941. Đ/c phân công các anh đi các nơi để tránh mũi nhọn của giặc và tạm thời ngừng hoạt động chờ lệnh mới. Căn cứ tỉnh ủy được chuyển về Canh Đền khoảng 8 cây số gần nơi đồng chí Chín Ngự đang ở.


Hai người nói chuyện càng tâm đầu ý hợp. Tình cảm đồng chí càng dâng trào. Họ đều đồng chung cảnh ngộ một bên không vợ, một bên không chồng. Họ nắm tay nhau tung tăng hết đi quanh thành nội thăm ngai vàng của Vua Bảo Đại, khi dừng bên hồ Tĩnh Tâm đầy sen nở thơm ngát. Khi vào Hoàng cung ông lại lái xe đưa cô Nội đi các Lăng Minh Mạng, Thiệu Trị, cuối cùng là lăng Tự Đức. Họ hẹn nhau sau này nếu có thì giờ sẽ đi thăm lăng vua Gia Long. Cô Nội hứa sẽ thuê một chiếc thuyền mui, cùng ông đi trên dòng sông dài 27 cây số để hưởng thú vui trên sóng nước sông Hương. Cô quả là một trí thức có tình cảm dạt dào, lãng mạn.

Tại Lăng Tự Đức 2 người đứng bên nhau nơi ngự phòng, vua Tự Đức thường ngắm cảnh và làm thơ ở đấy. Họ nhìn ra hồ sen nở đầy mầu hồng chung quanh nhà thủy tạ. Hương sen thoảng thơm ngát. Ông nhắc lại khi Bằng Phi chết, vua Tự Đức tiếc thương và đã làm một bài thơ trong đó ông còn nhớ 2 câu thơ rất hay:

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng

Xếp tàn y lại để dành hơi!...

Những đóa sen hồng như ánh lên giữa những tia nắng chiều trong cảnh tranh tối tranh sáng, Nguyễn Sơn nhẹ nhàng đặt hai tay lên vai cô và từ từ hai đôi môi giáp lại vào nhau. Hai thân xác nóng bỏng như đang lên cơn sốt đã hòa nhập trong những cánh tay xiết chặt giữa ánh chiều đang lóe sáng trước khi tắt.
______________________________________
1. Liên chi ủy Hậu Giang là Liên chi ủy miền tây Nam Bộ gồm Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Xuyên.
2. Rassemblement: tập họp
3. Theo hướng tàu chiến “tiến”
4. Tiếng tây: tiếng Pháp.
5. Đầm: tiếng Pháp: madame là đàn bà.
6. Côn Đảo (Poulo condore) cách Vũng Tàu 80 cây số.
7. Tám Kiệt được gọi là “Tám lục lạc”. Đi đến đâu, tiếng nói rổn ràng và lội nước rất hay. Sau này ông Tám làm thủ tướng chính phủ Việt Nam.
8. Đồng chí Ba Hồ tên thật là Huỳnh Hữu Phước Bí thư tỉnh uỷ đầu tiên của tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang) - Trích tư liệu lịch sử đảng Kiên Giang.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM