chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #30 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 05:28:35 pm » |
|
30
Chiếc xe đưa 2 người về đến nhà Sẹc. Khi ngồi vào bàn ăn cô Nội nói:
- Il fait beau temps nous avons un promenade très satisfaisante1
Ông đáp:
- Bien sur2 - Ngừng một chốc ông hỏi:
- Prenez vous quelque chose? Soupe marseillaise ou bien Châtcau briand? 3
- Ca dépend de4 votre gôut.
Ông vẫy bồi lại đem đến 2 ly Cointreau và nói:
- Mình làm tí rượu khai vị - Cô nhún vai
- Si vous voulez.
Cô nói thêm:
- Cest magnifique? Ce matin nous avons oublié dè prendre le déjeuner5
Cô nhìn đĩa lớn tôm hùm, cua, cá, sò, cô nói thêm:
- J’ai pris faim! 6
Ông nói:
- Moi, aussi! 7
Lúc ấy, hai người đều nói với nhau bằng tiếng Pháp, rồi Nguyễn Sơn rót rượu vang trắng vào hai ly và cùng cô nâng cốc. Khách chung quanh tưởng đôi bạn này là người ngoại quốc.
- Chúc sức khỏe và may mắn giữa chúng ta - Cô nói tiếp:
- Khi ông gọi lấy rượu vang trắng, tôi biết ông là người lịch lãm, thành thạo môn ăn uống của người Pháp.
Vấn đề này ông Sơn rất sành sỏi. Ông ảnh hưởng người anh và người cha nên những cử chỉ của ông đều có vẻ Tây phương từ cái nhún vai cho đến cái búng ngón tay.
Ông hỏi tiếp:
- Trình độ học vấn của cô?
- Trước kia tôi có học 1 năm y khoa Sài Gòn
- Tôi cũng thế đã học 4 năm Lycéc Protectorat8 ở Hà nội và cô là địa chủ chứ?
Cô gật đầu.
- Đúng vậy!
- Tôi cũng thế! Những ruộng nương của gia đình tôi còn ở Gia Lâm
Nguyễn Sơn kêu bồi lấy thêm Sandwich (bánh mì vuông) và Roque Fort loại phó mát có tiếng bên Pháp. Ông muốn cô Nội được thưởng thức mùi vị của món này vì nó được chở từ bên Pháp qua - (ở Việt Nam làm chưa được) - Cô vừa ăn vừa gật gù:
- C’est très bon gout9
Ông cười, cầm ly nghiêng mình tới trước mặt cô quàng tréo ly, 2 cánh tay hai người đan nhau. Ông nói:
- Vidéz comme il faut10. Cô cười thỏa thích hai đầu cụng nhau cùng cạn cốc rượu
- Bien entendu! 11
- Món tôm, sò quả thật là ngon khi chấm với gia vị moutarde và sauce mayonnaise12 - cô khen:
- Bon appétit13
Ông đụng nhẹ đầu gối vào chân cô, cô cười nói:
- Ne touchez pas! 14 Nhưng cô vẫn để im không tránh né. Ăn xong cô đứng lên có vẻ không vững. Mặt cô đỏ hồng. Ông bước lại tay đặt lên vai cô - Cô nói lè nhè:
- Từ trước đến nay gia đình em chỉ ăn fromage bruyère, hôm nay quả thật ngơn tuyệt.
Ra khỏi cửa nhà hàng cô ngả đầu vào vai ông và để ông dìu ra xe. Ông cũng hơi chếnh choáng. Ông quàng tay vào vai cô. Tay cô ôm ngang lưng ông. Ông dừng lại một phút hít một hơi dài hương hoa bưởi thơm dìu dịu phảng phất trên đầu cô. Thân thể mềm mại làm nóng lưng ông. Ông ngơ ngẩn chưa bao giờ ông có được cảm giác tuyệt diệu như tối nay trong sự êm dịu, mềm mại của da thịt.
Khi lái xe trở về khách sạn, ông còn đi một vòng và ghé lại bên bờ sông Hương. Lúc ấy cô Nội đã ngả lưng nhắm mắt trên nệm xe. Ông tới ngồi bên bờ. Dòng sông mờ mờ. Bên sông có dăm bảy ánh đèn chiếu lung linh dưới màu nước đen xì. Trên bầu trời xám trong có vài ngôi sao chiếu sáng.
Phía sau lưng ông là trường Quốc Học Khải Định. Cả ngày rong chơi bên người đẹp ông mới thấy Huế là đáng yêu. Ông ngâm khẽ:
Người đâu gặp gỡ làm chi Trăm năm biết có duyên gì hay không? 15
Ông là người rất thích truyện Kiều và gần như thuộc lòng truyện Kiều.
Ông vẫn ngồi bên bờ sông để hứng làn gió đêm mát rượi. Những phút vui sôi nổi của đêm nay lắng xuống. Ông đăm đăm nhìn về hướng bắc phía cầu Tràng Tiền. Ông nhớ tới Kiếm Qua và con. Ông nhớ tới cô vợ thông minh đã hiểu lòng ông “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” 16.
Ông nhớ lại những phút vui suốt ngày nay bên cô Nội. Ông cảm thấy ông đã có lỗi với Kiếm Qua. Ông thầm nói: hương hồn em ở đâu hãy tha thứ cho anh. Anh còn trẻ, cô bạn em đây cũng là đồng chí như em vậy, cô cũng gặp oan trái của cuộc đời cô đầy sóng gió!
Về đến cửa phòng ngủ, cô Nội ôm ông và nói bằng tiếng Pháp:
- Em ước mong ngày mai tình chúng ta vẫn mãi tươi đẹp và đậm đà như hôm nay.
Tối hôm ấy trên giường nệm êm ái, dưới ánh đèn hồng hai người đã trao cho nhau những nụ hôn cuồng nhiệt trong ân ái... ______________________________________ 1. Chúng ta đã có một cuộc dạo chơi lý thú trong buổi sáng đẹp trời. 2. Tùy sở thích của anh 3. Cô ăn món gì! Súp hay thịt bò. 4. Tùy theo ý thích của anh. 5. Cuộc đi chơi thật huy hoàng làm chúng ta đã quên ăn sáng. 6. Tôi cảm thấy đói. 7. Tôi cũng thế. 8. Trường trung học Bưởi. 9, 13. Rất ngon. 10. Chúng ta hãy cạn ly. 11. Nhất trí. 12. Món mù tạc là loại bột bằng bông cải làm gia vị. 14. Cấm đụng chạm. 15. Trích thơ Kim Vân Kiều của Nguyễn Du. 16. Đồng thanh tương ứng đồng khí trưng cầu có nghĩa là hai trái tim hoà hợp, người này mới nói người kia đã hiểu hết.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #31 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 05:34:24 pm » |
|
31
Mỗi buổi sáng theo lệ thường, Nguyễn Sơn tập thể dục. Vì không có chỗ rộng tạm thời ông tập ở ngoài hành lang khách sạn. Khi ông tập xong thì cô cũng chải đầu xong. Cô đã đồng ý ở với ông thành vợ chồng. Cô lấy hành lý theo ông lên xe về Quảng Ngãi. Nguyễn Sơn đã điện thoại cho Hội Liên hiệp Phụ nữ Thừa Thiên báo tin cô về miền Nam công tác.
Đến Quảng Ngãi ông đã trao quyết định của Bác Hồ với các đồng chí Phạm Kiệt, Nguyễn Chánh. Hai người đã dành cho ông 2 phòng ở cách ban chỉ huy 15 thước trong đồn Khố Xanh (nội thành Quảng Ngãi cũng là trụ sở của Ủy ban kháng chiến tỉnh Quảng Ngãi). Sau đó ông đến gặp Xứ ủy Trung Bộ.
Đầu tháng 1, ông đi quan sát mặt trận An Khê và Bộ Tư lệnh đóng trên đồi An Khê trong một toà lầu của bọn sĩ quan Pháp đã ở trước kia. Trên đường đi ông vẫn không biết là những giọt máu nóng hổi của ông đã thâm nhập trong thân thể cô Nội và sau nay đã hình thành một đứa bé gái, đấy là Mai Lâm.
Ông ở An Khê vài ngày ông lại lái xe vào Nha Trang Phan Rang.
Khi Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam dời về Bồng Sơn - Cô Nội đã vào ở với ông 10 ngày - Sau 1 tháng Ủy ban lại dời về Quảng Ngãi lúc đầu ở trại đồn Khố Xanh1 sau đó đóng trụ sở tại nhà hai tầng ở gần trường Lục quân Quảng Ngãi.
Đêm nay nhớ đến cô Nội, lòng ông vẫn cảm thấy ấm áp. Người trí thức bao giờ cũng tế nhị - Cô luôn chiều ông và săn sóc ông. Mỗi khi ông về nhà là luôn có một cốc nước chanh hay ly sữa và cái khăn mặt để trong chậu nước. Trong bữa ăn tự cô xào thịt bò và nấu những món ông thích như ra-gu2. Cô quấn quít bên ông. Nhiều lúc cô tỏ ra hờn giận vì thấy ông hay đi xuống địa phương bỏ cô ngủ một mình trên căn lầu rộng mênh mông. Chưa bao giờ cô được hưởng thú chăn gối đậm đà bên người trai tràn đầy nhựa sống như những ngày gần ông. Vì yêu ông quá nên nhiều khi cô cũng ghen và hờn giận. May thay văn phòng Ủy ban lúc ấy không có một cô thư ký nào. Chuyện ghen này cũng không trách cô được khi cô biết thế nào là hương tình yêu, là nguồn vui vô tận, là hạnh phúc của đời con gái với một người đàn ông dày dặn, cường tráng.
Ông lăn qua, trở lại trằn trọc không ngủ được. Sương khuya càng thấm lạnh. Ông lại ngồi dậy bỏ thêm củi vào bếp lửa. Ông cứ bước tới bước lui trên đường mòn của rừng núi. Tiếng lạo xạo sỏi cát va vào nhau dưới gót chân ông. Ông lại trở lại nằm trên tấm bạt, tay ông gác lên trán - Ánh trăng đã mờ dần để lại đêm tối vài vì sao khuya. Tiếng chim cú hót làm cho không gian thêm u sầu.
Qua hôm sau, đoàn đi vòng vèo theo dải Trường Sơn và đến Huế. Ông vẽ đường trên giấy và cho liên lạc đến nhà một số văn nghệ sĩ có tiếng để đi vào khu tham gia chống Pháp. Ông phải mất 2 ngày ở lại liên lạc với một số nhân sĩ, tri thức ở Huế.
32
Nguyễn Sơn là một người lãnh đạo nhìn xa hiểu rộng. Ông đã tận dụng những nhân tài của đất nước kể cả những người theo chế độ cũ trước đây và những người ngoại quốc như các sĩ quan Nhật, Áo, Đức hay dân tộc thiểu số như Y Bloc3, YBlum, YBlam, Ung Răng với ai ông cũng tôn trọng và coi như bạn bè.
Hồi còn ở Trung Quốc bác sĩ Buttion, một đảng viên Cộng sản do đảng Cộng sản Canađa giới thiệu đến Trung Quốc để phục vụ cách mạng. Sự tự nguyện của Bác sĩ đã làm ông yêu mến. Ông đã đàm thoại bằng tiếng Pháp với bác sĩ. Hai người rất thích thú và kết bạn với nhau. Một lần ông bị trĩ thường ra máu tại hậu môn, ông đã nhờ Buttion mổ nhưng với điều kiện là không được dùng thuốc mê vì lúc bấy giờ thuốc mê rất đắt tiền và hiếm có. Thuốc này chỉ dùng cho những ca mổ thương binh nặng. Ông phải 3 lần khẩn khoản đề nghị bác sĩ đừng dùng thuốc mê để mổ cho ông, ông cam đoan có thể chịu đựng được cơn đau. Thuốc mê dùng cho ông là lãng phí của nhà nước. Bác sĩ Buttion chiều theo ý ông. Khi mổ đau quá ông cắn răng chịu đựng không rên la tiếng nào. Mồ hôi trán nhỏ ròng ròng xuống mặt. Bác sĩ nhìn ông và lắc đầu. Trước khi mổ bác sĩ đã đưa ông 1 miếng băng gạc để ngậm khi bị đau, nhưng ông cũng không sử dụng. Ông nhớ lại ở mặt trận Mai Lâm, khi ông bị thương phải tự chữa trong khi phải chống chọi sự tê cóng của mùa đông đã làm vết thương nhức nhối. Cả khi bọn Tàu Tưởng trở mặt đã uy hiếp và đánh ông bầm tím. Dù đau đớn đến đâu ông cũng không bao giờ rên la huống hồ sự đau vì mổ của ngày hôm nay.
Sau khi mổ 1 ngày, bác sĩ xem xét lại phần mổ và khen ông:
- Vous êtes trop aimable et Courageux! 4
Riêng ông thầm cảm phục người chiến sĩ vô sản quốc tế này từ nước Canađa đã tự nguyện tham gia chiến đấu cùng Hồng quân Trung Quốc. _______________________________________ 1. Đồn khố xanh nơi đóng quân của lính Nam triều (garde indigène): quân đội bản xứ. 2. Món ăn theo Pháp có khoai tây, thịt bò, đậu trắng, cà rốt nấu sệt sệt ăn với bánh mỳ hay cơm cũng được. 3. Y Bloc cùng ở trung đội 2 - đại đội 3 với tôi. Ông mới học được 2 tháng, Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái mời về để gặp Bác Hồ. Bác Hồ nói: Vua du kích cần gì học, chỗ Y Bloc về Tây Nguyên sớm để tổ chức quần chúng đánh giặc - Sau giải phóng miền Nam Y Bloc làm Thiếu tướng. 4. Anh rất dễ thưong và can đảm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #32 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 05:41:27 pm » |
|
33
Sau 9 ngày đi đường núi và xuống đồng bằng, đoàn của ông đã về đến Trung ương - Bộ Tổng tham mưu, lại có sự thay đổi đột xuất của Trung ương Đảng.
Sắc lệnh số 214 ngày 20/11/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, căn cứ tình hình hiện tại, ông Sơn không phụ trách Tham mưu trưởng mà là Cục trưởng Cục quân huấn kiêm Hiệu trưởng trường Võ bị II.
Ông chuẩn bị chiêu sinh. Các sĩ quan Lục quân Quảng Ngãi soạn thảo chương trình huấn luyện cùng với số sĩ quan trường Võ bị Trần Quốc Tuấn.
Tối hôm khai giảng những sinh viên trường Quảng Ngãi có giấy giới thiệu đảng viên được ông Sơn mời lên chỗ ông ở gần văn phòng. Ông trải chiếu và mời các anh em ngồi. Số đảng viên lúc ấy vỏn vẹn chỉ có 5 người. Bên phía giáo viên Võ bị Trần Quốc Tuấn không có ai là đảng viên cả.
Ông nói: Lực lượng Đảng ta tại trường này rất mỏng và yếu. Tôi đề nghị các đồng chí trước hết phải thân ái đoàn kết trong Đảng rồi đến ngoài Đảng, phải làm tấm gương sáng cho quần chúng nể phục và theo Đảng cùng chung sức làm cách mạng. Ông kể lại khi tham dự chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân, vượt vạn lý trường chinh gian khổ. Trên không có máy bay địch truy kích, dưới đất vượt thảo nguyên bùn lầy phải làm giầy rơm lớn vì sợ ngập sình. Tuy thế cũng có người đã chết vì lún sâu ngập đầu dưới sình. Nhiều gian khổ khác, khi qua núi tuyết lúc đói khát phải ăn gót giầy. Trong cuộc dời quân về căn cứ địa vùng Thiểm Tây Hồng quân vừa đi vừa chống trả bọn Tưởng đuổi theo. Biết bao gian khổ, biết bao hy sinh. Lúc khởi hành Hồng quân có 20 vạn quân nhưng khi về đến căn cứ chỉ còn 2 vạn mà ông lại trải qua tới 3 lần vượt núi tuyết do thực hiện công tác trên giao. Các đảng viên nghe chuyện đều mến phục sự cương nghị chịu đựng của ông. Khi bị kẻ xấu hãm hại ông vẫn không sờn lòng.
Trong bốn đêm liên tiếp ông đã dạy cho số đảng viên về công tác tổ chức và hoạt động quần chúng. Ông đem những kinh nghiệm về tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể khi chỉ một mình ông trở lại tỉnh Sơn Tây, xây dựng lực lượng kháng Nhật và Quốc dân đảng. Ông tổ chức dân quân chiến đấu, tổ chức các đoàn thể làm hậu cần cho quân đội để chống 2 kẻ địch.
Trước mắt ông yêu cầu các đồng chí phải làm quen và nắm được số sinh viên Trần Quốc Tuấn lôi kéo những nhân tố tích cực để phát triển biến họ thành cánh tay mặt cho Ban giám hiệu. Đi đôi với việc này chú ý phát triển đảng trong cán bộ nhà trường và sinh viên.
Theo lời đồng chí Vũ Hắc Thông1: Trong khóa này chúng tôi đã nỗ lực và phát triển trên 50 đảng viên (1/3) của tổng số học sinh. Những lời của đ/c Nguyễn Sơn gây cho chúng tôi một ấn tượng về người tướng dũng cảm đã động viên chúng tôi vượt qua nhiều khó khăn trong việc phát triển đảng cũng như trong chiến đấu.
Vài hôm sau trường bị bom tan nát - Ông phải dời trường về Hà Đông, Sơn Tây ở tạm các nhà dân chúng. Một tháng sau trường cho mãn khóa để các học sinh về gấp địa phương đào tạo thêm cán bộ. Trường lại tiếp tục mở khóa mới.
Ông cùng Hoàng Minh Thi đóng tại nhà một cụ già người miền Trung. Cụ trước kia cũng làm ông quản Khố Xanh tại dinh ông án sát Quảng Trị dưới thời Bảo Đại. Cụ rất hãnh diện được làm quen với cấp cao của bộ đội Việt Minh - Hoàng Minh Thi hay ngồi với cụ uống vài ly trà. Thỉnh thoảng ông Sơn cũng cùng cụ uống trà và ngâm thơ Kiều. Ông giảng giải Kiều rất hay làm cụ phục lắm. Một lần cụ luộc một con gà giò cho ban giám hiệu nhậu để ngâm thơ. Tên cụ tôi không nhớ. Cụ chỉ có một cô con gái 17 tuổi. Cụ bà mất lâu rồi. Cô con gái tên Lan, sắc mặt luôn trắng hồng, vóc người mảnh mai. Đặc biệt cô có đôi mắt lá dăm long lanh. Thỉnh thoảng cô lại liếc nhìn trộm ông Sơn. Có lẽ cô phục dáng vẻ oai hùng quắc thước của ông khi đứng trước ba quân với giọng oang oang ông hô chạy đều. Cô thường đến lấp ló nhìn ông giảng bài trong đình làng. Sau này ông mới để ý về cái nhìn là lạ của cô quả thật là cái nhìn làm điên đảo anh hùng.
Sau buổi cơm chiều, thường thường ông Sơn hay dạo chơi trên ngọn đồi phía sau nhà - Có chiều mây đỏ ối ở dẫy núi xa ông lại nhớ đến An Khê đến trận đánh Bô Keo – Số chiến sĩ đã hy sinh cùng Đàm Minh Viễn, ông nhớ vết đạn soi vùng ngực Võ Trường Khê, ông nhớ cả một đại đội đã cùng Vi Dân hy sinh! Cái sự ấu trĩ về chiến thuật ai chịu trách nhiệm! Rồi ông cùng ông Thanh Sơn đã đưa một số anh em Lục quân và quân chính đại đội đi vào nam bằng thuyền, trong đó có Xích, Võ Ban, Mai Nam Hải, Lý Nguyên Bá.v.v… là học trò của ông2. Trong những chuyến thuyền về nam ban đêm ông cũng biết khi thuyền không thoát khỏi tay địch, anh em sẽ cho nổ thuyền để không bị địch bắt và phi tang, có nghĩa là anh em chấp nhận hy sinh theo thuyền. Một số sinh viên được tăng cường vào 2 tiểu đoàn “Nam tiến” của Phòng Nam bộ là Tiểu đoàn Ba Dương và Hùng Phước.
Ông lại nhớ đêm liên hoan chung với ông Phạm Văn Đồng tiễn đưa các đoàn cảm tử đem vàng qua Xiêm để mua vũ khí đem về Việt Nam3. Có đoàn đã đi mất tăm tích trong rừng sâu hoặc thú dữ ăn thịt, hoặc chết vì đói khát. Ông lại nhớ đến những tình báo viên còn trẻ mới 16, 17 tuổi như Trinh và Vân trong những chuyến mở đường đặt trạm từ miền Trung vào Nam bộ đã bị địch bắn tại Khánh Hoà. _____________________________________ 1. Võ Hắc Thông là tỉnh đội trưởng dân quân tỉnh Bắc Ninh. Sau này là Thiếu tướng cục Dân quân Bộ quốc phòng 2. Sinh viên Lục quân đi biển vào Nam có Mai Nam Hải tới Nam bộ làm Giám đốc trường Quân chính Quang Trung khu 9, Võ Ban là Phó giám đốc chuyên đi các tỉnh huấn luyện các xã đội trưởng dân quân. Nguyễn Xích làm Trung đoàn trưởng chủ lực Tây Đô. Lý Nguyên Bá sau tên là Hoàng Xuân Hảo, Tham mưu phó khu 8, khi hoà bình là Giám đốc trường Thương mại Trung ương phía nam. Trạng làm chi đội phó 25 (khu 7, 2 tiểu đoàn Ba Dương và Hùng Phước do ông Thanh Sơn thành lập). Số sinh viên Lục quân nhập vào tiểu đoàn Ba Dương và Hùng Phước gồm có: Báng, Tuấn, Nhàn, Tài, Phát, Bạch Thọt, Hùng Anh, Nguyễn Sơn cũng góp phần xây dựng Phòng Tình Báo, Điệp Báo miền Nam Việt Nam trong buổi ban đầu. - Báng, Nhi, Hồng hy sinh, Thọ chết ho lao. Tuấn, Tiểu đoàn trưởng chủ lực Pokumbo Đông Bắc Kampuchia; Bạch Thọt: Tiểu đoàn phó Ba Dương - Đặng Hùng Anh và Tài học trường Tình báo, Điệp Báo miền Nam Việt Nam. Hùng Anh đậu số 1 làm Phó trạm tình báo Khánh Hoà - Tài đậu nhì làm phụ tá cho Phạm Ngọc Thảo Phó phòng Tình báo miền Nam Việt Nam đưa 4 thùng vàng, tài liệu, vũ khí và cán bộ Trung ương vào Nam (Bộ trưởng giáo dục Ca Văn Thỉnh, Diệp Ba giám đốc Công an Nam bộ, Nguyễn Sĩ Giám đốc báo Chống xâm lăng - Các kỹ sư Nghiêm, Tùng và Toàn, Chính - Cán bộ chính trị Trung ương v. v… 3. Nguyễn Trại đi theo đoàn qua Thái Lan 2 lần. Sau này ông là Đại tá đã bảo vệ đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn suốt 30 năm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #33 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 05:43:07 pm » |
|
34
Ngày 12/2/1947 khai mạc khoá IX (tức là Võ bị khoá II) được cử hành tại thị xã Tuyên Quang - Nguyễn Sơn đã giới thiệu người thứ nhất là Trần Tử Bình phụ trách Chính ủy nhà trường. Người thứ hai là Trương Trung Phụng hàm Đại tá trong quân đội Quốc dân đảng bên Trung Hoa, phụ trách phó giám đốc. Thấy ông Phụng râu đen xì, rậm dài ông dí dỏm nói: “đấy ông Phụng là em của Trương Phi, tướng quân nhà Hán. Anh em ồ lên và không nín được cười. Không khí long trọng trở nên thoải mái. Sau đó ông nói về âm mưu của giặc đang dự định tấn công ta. Ông động viên các khoá sinh cố gắng học tập và tuân theo lời Bác Hồ dạy: “Trung với nước, hiếu với dân”, khắc phục khó khăn, mọi việc đều hoàn thành xuất sắc.
Việc tổ chức nhà trường với 340 học viên chia thành 3 đại đội, được phân ra 3 loại học tập: đại đội 1 đào tạo Trung đội trưởng, đại đội 2 đào tạo Chính trị viên, đại đội 3 đào tạo Cán bộ huấn luyện dân quân. Các giảng viên là các sinh viên của hai trường Võ bị và Lục quân trung học.
35
Nắng đã tắt trên đồi Sơn Tây - Trong khói lam chiều đang quyện bao nỗi nhớ, bao luyến thương trong lòng ông. Ông có tham dự lễ xuất quân tiến về nam của 2 tiểu đoàn Ba Dương và Hùng Phước.
Hồi sáng này ông có tiếp anh Đào Chúc là sinh viên trường Lục Quân - Quảng Ngãi, hiện là đại đội trưởng trong trung đoàn Thủ Đô đến thăm ông. Ông hỏi thăm các sinh viên khác - Ông được biết một số sinh viên Võ bị Quảng Ngãi đã hy sinh anh dũng trong sáu ngày toàn quốc kháng chiến như Nguỵ Trường Sanh tại mặt trận Phùng (ngoại ô Hà Nội). Cao Duyến ở chân cầu Long Biên, Đinh Mĩ Tuệ ở Nghĩa Đô, Từ Liêm, Hồ Sĩ Tài ở Thụy Khuê, Hồ Cảnh Chung ở An Châu, Nguyễn Liên ở Chèm. Kể cả sự khai quật hài cốt chiến sĩ ở Huế. Các chiến binh đã tìm thấy huy hiệu trường Lục quân và biết đó là Trần Văn Tư và Vũ Bão Tiểu đoàn trưởng 115, Trung đoàn 165 mặt trận Tây Bắc. Đặc biệt Cát Tường một sinh viên ốm yếu “ba gai” đại đội 3 đã hy sinh anh dũng khi nâng khẩu súng máy của địch lên cao, cho anh em xung phong tại mặt trận bảo vệ Thủ Đô - Đợt đầu sinh viên ra các đơn vị trong toàn quốc đã hy sinh trên 40 người.
Ông đã mời sinh viên Chúc ăn bữa cơm trưa, và động viên anh chiến đấu đồng thời nhờ anh nhắn với các sinh viên khác: Nguyễn Sơn vẫn luôn theo dõi và chúc sự chiến đấu gan dạ, sáng suốt của các sinh viên giành thêm nhiều thắng lợi cho đất nước và làm vẻ vang cho trường Lục quân Quảng Ngãi.
Lệnh trên chỉ thị trường Quân chính Bắc Sơn và Võ bị Sơn Tây hợp nhất thành một trường do Nguyễn Sơn làm hiệu trưởng1. Yêu cầu trước mắt là đào tạo cán bộ chỉ huy cho các đơn vị chủ lực và quân địa phương.
Trước khi đi vào miền Trung ông đã thành lập một trung đội đặc biệt lấy bí số 13 với nhiệm vụ tổ chức tại các xã, thôn chung quanh vòng đai Hà Nội, Trung đội này dạy dân quân đánh du kích để ngăn đường bọn Pháp sẽ lấn chiếm ra Hà Đông, Sơn Tây... Vì đảm bảo bí mật các sinh viên trong trung đội phải đổi tên thật và lấy họ Vũ (họ Vũ là họ của thầy Nguyễn Sơn) ví dụ: anh Lưu Đình Hy đổi tên là Vũ Hắc Thông (thân mình đen đủi và cứng rắn như cây thông). Các anh em khác đổi thành họ Vũ như Vũ Hoàng Quỳnh, Vũ Hoàng Lan (giống con gái), Vũ Thanh Quế (cao, gầy), Vũ Hắc Bồng (thanh gồ) 2 v.v... Trung đội cán bộ này dưới quyền chỉ huy của đồng chí Khuất Duy Tiến. Cứ 10 ngày lại về báo cáo một lần. Khi toàn quốc kháng chiến các cán bộ họ Vũ được phân tán đi lãnh đạo phong trào dân quân tại các tỉnh xung quanh Hà Nội, như Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây...
36
Bộ Quốc phòng lại ra lệnh toàn trường Võ bị phải di chuyển về Liên khu 4 và Nguyễn Sơn vẫn là Hiệu trưởng trường này với chương trình huấn luyện cấp tiểu đoàn để đáp ứng nhu cầu cấp bách của chiến trường toàn quốc.
Ngày 14/7/1947, Nguyễn Sơn nhận được lệnh vào làm Khu trưởng liên khu 4. Với hơn 300 học viên cán bộ của trường - Ông giao cho Hoàng Minh Thi Hiệu phó - phụ trách gần 2 đại đội sinh viên hành quân theo ông vào Khu 4. Ông giao cho Thi phải hoàn tất việc chuẩn bị trong một ngày.
Khi hành quân vào miền Trung đơn vị lại đến Sơn Tây trời đã tối ông ra lệnh ban hiệu trưởng lại về đóng nơi nhà cũ của cô Lan.
Nghe tin chuyển trường vào nam, đêm đó cô Lan đã nấu một nồi xôi gấc và một con gà luộc gói lại sẵn sàng - Mới tờ mờ sáng khi cô biết ông đã thức dậy, cô gói xôi trong lá chuối, ngoài bọc giấy nhật trình và đem lại bên giường ông để tặng ông ăn khi đi đường - Cô hỏi nhỏ: chừng nào ông trở lại? - Ông bảo:
- Lâu lắm.
Mắt cô dường như đỏ hoe - Ông nhìn sâu vào mắt cô, ông nói vội:
- Cám ơn Lan, chúc cụ và Lan ở lại mạnh khỏe.
Lan mạnh dạn bắt tay ông. Ông bước liền ra sân truyền lệnh cho tập hợp đội ngũ để lên đường. Có lẽ ông không muốn nấn ná khi biết lòng ông cũng có những phút rung động yếu mềm.
Dọc đường ông suy nghĩ: Lan đã có cảm tình với ông về giọng ngâm tiếc thương đời Đạm Tiên hay khúc Kim Trọng gặp lại Kiều hoặc về cái gì! Mắt Lan sao đa tình quá nhỉ! Cặp mắt lá dăm long lanh ấy đã ám ảnh ông suốt cuộc hành trình vào Nam. Có lẽ cô yêu ông chăng! Cái bắt tay đột ngột vừa qua đã thể hiện rõ tình yêu của cô!
Nếu sáng hôm ấy ông không nhanh chân bỏ ra ngoài sân để hô lớn “tập hợp” thì không biết chuyện hai người sẽ diễn biến như thế nào. _____________________________________ 1. Tư liệu do Trung tá Võ Ban phụ trách an ninh phi trường Tân Sơn Nhất cung cấp. 2. Vũ Hắc Bồng: Trưởng ban đối ngoại Thành phố Hồ Chí Minh, đã từng làm Đại sứ 9 nước trên thế giới. Vũ Hắc Thông là Thiếu tướng tại Cục dân quân - Bộ Quốc phòng
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #34 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 05:44:00 pm » |
|
37
Nửa tháng sau đã đến Quân khu 4 - Kiểm điểm lại số sinh viên vẫn đầy đủ, mặc dầu rất vất vả trên đường vào Nam. Ông vào Khu ủy đưa sắc lệnh cho đồng chí bí thư Hồ Tùng Mậu - Ông Mậu cười và nói:
- Bác Hồ có điện cho tôi biết trước. Đồng chí hãy nghỉ hôm nay, ngày mai ta sẽ bàn giao giữa Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, Đào Chính Nam và đồng chí. Nhưng nói trước để đồng chí biết, sau khi mặt trận Bình Trị Thiên tan vỡ các đơn vị toàn Quân khu hầu như chưa hoạt động ra hồn, các chỉ huy phần đông non yếu trong chiến đấu. Tinh thần quân đội sa sút, dân chúng hoang mang sợ sệt. Hơn nữa lại bị bọn phản động Quốc dân đảng quấy rối và các phần tử manh động trong công giáo từ Phát Diệm vào xách động phong trào - cùng bọn Pháp từ biên giới Lào lăm le xâm chiếm. Đồng chí sẽ gặp khó khăn đang 4 mặt bao vây quân khu.
Hôm sau, cuộc bàn giao tiến hành nhanh chóng. Trước khi Lê Thiết Hùng ra bắc, Phó khu trưởng Đào Chính Nam đã đãi một bữa cơm trưa với khoảng 10 cán bộ tham dự tại Tư lệnh bộ đóng ở Đô Lương - Nghệ An. Lúc ấy chính ủy Trần Văn Quang cũng từ mặt trận Bình Trị Thiên về kịp tham dự liên hoan. Đi theo ông có một số em làm trinh sát, liên lạc của mặt trận, đã chạy tán loạn, được ông Quang thu nhặt đem về.
Ngày hôm sau Chính ủy Trần Văn Quang đã trình bày tình hình chiến sự tại mặt trận Bình Trị Thiên. Đầu năm 1947 Mặt trận Huế và Lào bị Pháp chiếm đóng. Chúng chiếm Quảng Trị và tính ra Bắc Quảng Bình để liên lạc với quân Pháp ở Trung Lào. Ta đã chiến đấu dũng cảm nhưng không ngăn cản được sức tấn công như vũ bão của địch. Kiểm điểm lại Ban chỉ huy mặt trận muốn giải quyết nhanh nhưng trong chỉ đạo lại đánh nhỏ lẻ phân tán và kéo dài trận chiến. Ông lắng nghe nhưng không có ý kiến. Ông đề nghị đồng chí Quang báo cáo về tình hình dân chúng, hoạt động của các đoàn thể và phong trào dân quân các tỉnh. Ông đặc biệt chú ý đến sự hoạt động của tôn giáo và của bọn Quốc dân đảng.
Theo ông Quang cho biết tại Ninh Bình giám mục Lê Hữu Từ đã tung một số giáo sĩ và tín đồ Thiên chúa giáo vào hoạt động tại Ninh Bình, Thái Bình và Thanh Hóa. Mục đích những người này là tìm sâu những sơ hở của cách mạng để tuyên truyền trong giáo dân chống lại chính quyền ta. Cách đó một tháng chúng đã sách động dân Ba Làng biểu tình đòi trả tự do cho những giáo dân bị giữ vì đã xuyên tạc chính sách nhà nước. Thừa dịp này bọn Quốc dân đảng của Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh tìm mọi cách xuyên tạc chế độ dân chủ cộng hòa. Bọn biểu tình đã đi dọc theo bờ biển huyện Hoằng Hóa. Để đối phó, Thiếu tướng Lê Thiết Hùng đã ra lệnh cho đồng chí Phó phòng chính trị Nguyễn Sĩ Đồng tìm mọi cách dẹp bọn biểu tình. Ông này đã dẫn một đại đội đi cấp tốc về đón đầu đoàn biểu tình. Trải qua nửa ngày đụng độ trước sự sôi sục của giáo dân rất hung hăng với gậy gộc, ông Đồng không tự chủ được, ông liền bắn hai phát súng vào hai người đầu đàn. Dân chúng đả đảo vang rền. Ông phải ra lệnh quân đội bắn chỉ thiên nhiều loạt và ngay đêm đó quân đội đã rút lui.
Sau đó tôi cử hai cán bộ chính trị đại đội thay mặt Bộ tư lệnh xuống dàn hòa và tìm hiểu nguyên nhân để thoả mãn yêu sách của đoàn biểu tình. Họ yêu cầu đem Nguyễn Sĩ Đồng ra xử. Đại diện bộ đã tuyên bố ông Sĩ Đồng bị đình chỉ công tác và ông bị giải về Trung ương để xét xử. Tạm thời dân Ba Làng đã ngừng biểu tình và không khí lắng dịu.
Tôi đã cho tình báo đi dò la và đã nắm được số đầu sỏ giật dây của Thiên chúa giáo kể cả bọn phản động Quốc dân đảng.
Ông Sơn nói:
- Tốt! Tạm thời cứ để yên đó xem họ có mưu mô gì khác hay không. Đụng đến tôn giáo là phiền phức lắm đấy! Chuyện này tôi sẽ làm việc với phòng chính trị.
Ông quay sang vấn đề khác: Các cháu ở mặt trận có nơi ăn chốn ở không? Không thể để các cháu thất học được? Phải có kế hoạch ổn định đời sống và học tập cho các cháu - Nhờ đồng chí làm dự án lập trường, ta có thể lấy danh nghĩa là Thiếu Sinh quân. Bọn Pháp còn có tổ chức “Enfant de troupe” sao ta lại không thể tổ chức trường dạy con em chiến sĩ. Trường này tương lai là kế tục những hướng đi của chúng ta - Việc tổ chức phải huy động con em ở các phòng ban thuộc bộ tư lệnh và con chiến sĩ, liệt sĩ các tỉnh trong liên khu về học tập.
Ông Quang đề nghị để đồng chí Võ Viết Sơn làm hiệu trưởng. Các bộ phận trực thuộc do Viết Sơn tự tìm cán bộ phù hợp trong việc điều hành - Ông nói với Trần Văn Quang:
- Chuyện đó tự đồng chí sắp xếp, không cần ý kiến của tôi.
Địa điểm đầu tiên của Trường tại chợ Choi huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh. Khoá đầu chiêu sinh được 200 cháu. Để bảo đảm việc dạy dỗ được tốt ông Nguyễn Sơn đã bỏ thì giờ để đi mời một số trí thức và giáo viên phụ trách giảng dạy cho các cháu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #35 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 05:45:01 pm » |
|
38
Ngày 6/1/1948 khai giảng trường Thiếu Sinh quân, Ban giám hiệu có mời đồng chí Tư lệnh quân khu đến khai mạc - Ông Sơn bận việc không đến được - Ông gửi thư với vài chữ vắn tắt đến các học sinh. Đại ý: “Việc đào tạo rèn luyện đội ngũ này thành công sẽ cung cấp bổ sung hàng loạt cán bộ nòng cốt tương lai cho quân đội và cho các cơ quan đảng và nhà nước sau này” Ban giám hiệu đã đọc bức thư này trước các em thiếu sinh quân để động viên các em tin tưởng vào tương lai, cố gắng trong học tập. Những lời của ông Nguyễn Sơn đã được viết to trên tường nhà trường để cổ vũ sự học tập chuyên cần của các em.
Khóa đầu tiên, Hiệu trưởng Võ Viết Sơn mời con đầu của ông Sơn là chị Võ Thanh Các làm cán bộ phụ trách giám thị của trường với nhiệm vụ đôn đốc các em tôn trọng giờ giấc, thi hành đúng thời khoá biểu, vũ trang tinh thần chịu đựng gian khổ trong luyện tập sinh hoạt hàng ngày sạch sẽ, quần áo tươm tất, chỗ đóng quân thứ tự, vệ sinh.
Trong số thiếu sinh quân có một số các cháu: Vũ Toàn (con ông bà hai); Vũ Tuấn (con ông Năm); Vũ Hồng Long tức Vũ Được (con ông Đức); anh em chú bác với ông Nguyễn Sơn những người em con cô cậu như Đào Hữu Hạnh, chị Đào Thị Hồng là cháu của ông Sơn do các chú các bác gửi đến.
Hai cháu phạm kỷ luật và cũng tỏ ra vẻ là con cháu Tướng Nguyễn Sơn đối xử phách lối với các học sinh. Ông đã nghe được chuyện đó, ông bảo chị Các tập trung tại nhà chị ở gần trường để ông nói chuyện. Khi các cháu đã ngồi đầy đủ trên chõng tre trước nhà. Chị Các mời ông Sơn đến và ngồi trên ghế đẩu.
Ngoài vườn chuối, ánh trăng vừa nhô. Ông hỏi việc học hành mỗi cháu. Ông khuyên các cháu nên cố gắng học hành để sau này giúp nước nhà được nhiều. Ông nói đến những em bé 12, 13 tuổi như các cháu, súng đeo trên vai gần đụng đất, thế mà trong khói lửa chiến tranh các cháu ấy vẫn hiên ngang bắn từng tên giặc và luôn vui vẻ không nệ khó khăn trong cuộc vạn lý trường chinh đầy hiểm nguy, gian khổ.
Bây giờ trên vùng đất này độc lập tự do, và vắng bóng quân thù, các cháu1 phải thấy rằng các chiến sĩ và đồng bào đang đổ mồ hôi xương máu tại mặt trận Bình Trị Thiên, tại Bắc Bộ, Nam Bộ để đánh đuổi quân thực dân Pháp đang mong đặt ách nô lệ lên cổ toàn dân ta. Họ chiến đấu để cho các cháu yên lành học tập mai sau phục vụ đất nước.
Các cháu phải thấy rõ nhiệm vụ của các cháu là phải học cho giỏi, rèn luyện thân thể, mở mang trí óc để sau này nối gót cha anh xông tới tiêu diệt ngoại xâm. Trước mắt các cháu phải đoàn kết trong họ hàng và đoàn kết với các bạn học khác. Ông giải thích: không đoàn kết một chiều để kéo phe, kéo cánh ức hiếp các bạn khác. Đối với nhau phải chân thành, cởi mở, “chị ngã em nâng” cùng nhau cố gắng học tập. Không nên ích kỷ chỉ lo cho mình mà luôn nghĩ tới bạn, giúp đỡ bạn cùng học tập tốt.
Ông ngừng một chốc, lấy ống điếu nhồi thuốc châm lửa và nhả từng luồng khói:
- Các cháu có hứa với ông là học hành tốt, giúp đỡ bạn cùng học, giúp đỡ đồng bào, luôn trau dồi đạo đức để tiến lên xứng đáng với sự hy sinh của cha, anh để giành độc lập. Các cháu phải tự thấy xấu hổ khi làm việc xấu để chú bác phải buồn phiền vì các cháu là cháu Tướng Nguyễn Sơn mà không biết khiêm tốn lại vỗ ngực ta đây, thể hiện sự xấu xa, làm ô danh Tướng Nguyễn Sơn.
Trong đám các cháu có tiếng sụt sùi khóc vì hối hận. Ông nói tiếp:
- Các cháu phải noi gương các chiến sĩ tí hon Trung Quốc vì yêu nước mà khắc phục mọi khó khăn gian khổ. Khi bác được phong hàm Thiếu tướng thì các cậu ấy đã trưởng thành. Người làm trung đoàn trưởng, người làm sư đoàn phó, có người làm anh hùng quân đội.
Các cháu có hứa với bác quyết phấn đấu vươn lên và chứng tỏ chúng ta đều anh hùng như Trần Quốc Toản, Nguyễn Huệ không?
- Xin hứa.
Để chấm dứt buổi họp ông nhấn mạnh:
- Sống như tầm gửi, dựa vào người khác mà tiến lên là hèn. Hãy ngẩng cao đầu, tiến lên bằng đôi chân vững chãi của mình.
Khi tan cuộc họp, trăng đã tỏa sáng trên đỉnh ngọn chuối. _____________________________________ . Vũ Hắc Bồng. Trưởng ban đối ngoại Thành phố Hồ Chí Minh
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #36 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 05:49:03 pm » |
|
39
Đối với nhà trường, Nguyễn Sơn rất quan tâm và tìm kiếm những thầy cô giáo giỏi để tăng cường cho ban huấn luyện nhà trường như: Phạm Khuê, Nguyễn Công Nghênh, Trần Quốc Nghệ, Nguyễn Văn Thứ, Phạm Văn Thường, nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim, vợ chồng nghệ sĩ Nguyễn Đức Quỳnh cùng một số thầy giáo có trình độ giảng dạy kể cả Nguyễn Tiến Lãng (nguyên là Tổng đốc Hà Đông) chuyên dạy về Pháp Văn.
Một điểm đáng nói: Nguyễn Sơn rất hài hoà và thâm nhập với quần chúng hoặc bộ đội dễ dàng. Bộ đội vác củi lên xe nặng nề ông cũng lại đỡ củi tiếp. Những việc gì có thể giúp đồng bào, ông làm liền. Không những đồng bào thích ông vì tác phong giản dị, cởi mở mà kể cả gia tộc của ông ai cũng ưa ông. Vì rất dễ hiểu ông ưa thích họ, ai ông cũng có thể khen và động viên họ làm tốt việc gia đình. Gia đình càng yên ấm thì xã hội mới tốt đẹp.
Các cháu đều mến ông, ông cũng mến các cháu. Ông hay hỏi han việc học và động viên các cháu học giỏi và làm nhiều điều tốt cho gia đình, cho xã hội. Chị Thanh Các con đầu lòng của ông, ông rất thương Các, vì Các đã thiếu tình thương của ông từ thuở nhỏ, nhưng không phải vì thế mà ông không thương các cháu khác. Có lần chị Các phải ghen tỵ và thốt lên: Cậu yêu anh Bảo, anh Lân hơn con.
Đi đôi với việc xây dựng trường Thiếu Sinh quân, ông triệu tập liền các cấp chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn các tỉnh về họp tại khu bộ và đồng thời tập trung số cán bộ đã học trường Lục quân Quảng Ngãi về khu bộ để ông bố trí công tác.
Nghe tin Nguyễn Sơn về làm tư lệnh Quân khu 41 các cán bộ, chiến sĩ đều trông ngóng và kỳ vọng ở một vị tướng bách chiến bách thắng từ Trung Quốc trở về Việt Nam. Số sĩ quan nào được mời đi họp, họ cũng tỏ ra rất sung sướng và số ở lại thì lại buồn tiếc vì không được gặp tướng Nguyễn Sơn.
Ông Sơn đã tổ chức lại các phòng ban của khu bộ, bố trí lại nhân sự dành cho một số sĩ quan Lục quân Quảng Ngãi phụ trách. Các phòng ban đều được tăng cường cán bộ. Trung đoàn chủ lực Quang Trung của quân khu do Nam Long chỉ huy được bổ sung thêm cán bộ chuẩn bị thành lập đại đoàn, sau này là Đại đoàn 304. Tiểu đoàn phòng vệ bộ tư lệnh cũng lấy quân từ Tiếp phòng quân của Thiếu tướng Lê Thiết Hùng qua để thành lập do Nguyễn Tần làm Tổng đội trưởng và Lê Thiên Tào làm Tổng đội phó.
40
(Lê Thiên Tào, một sinh viên Đại đội 2 thuộc trường Lục quân trung học Quảng Ngãi rất gây ấn tượng đối với các sinh viên trong trường. Các bạn không thể nào quên hình ảnh một sinh viên vạm vỡ, trắng trẻo, đầu cạo trọc, tiếng hô sang sảng như tiếng của ông Sơn, động tác cơ bản rất mau lẹ như máy, thành thạo hơn cả các huấn luyện viên Nhật; khi ở trường lục quân Tào làm Tổng đội trực để chỉ huy chào cờ trông anh rất oai phong lẫm liệt.)
Thường thường tại khu bộ vào mỗi buổi sáng đều do Tổng đội trưởng Tần chỉ huy chào cờ. Có lần Tần vắng mặt nên Tào thay thế điều khiển. Tiếng hô của Tào rất lớn và dõng dạc đã làm các chiến sĩ cán bộ giật mình sửa lại đội hình ngay ngắn. Tào quay sang chào đồng chí tư lệnh và hô chào cờ. Thường thường chỉ mỗi chủ nhật anh em mới phải hát Quốc ca. Hôm ấy ông Sơn rất thích thú với việc chỉ huy và động tác nhanh nhẹn của Tào nên ngày hôm sau ông bắt Tào điều khiển thay cho Tần.
Có một lần đồng chí trung đoàn trưởng bị phạm lỗi. Trước khi giải tán, Tổng đội phó Tào đã hô lớn:
- Yêu cầu đồng chí Đồng lên cột cờ đứng nghiêm 5 phút. Đồng chí đã phạm lỗi nói chuyện trong lúc chào cờ.
Đồng chí Đồng phải lên chịu phạt tại cột cờ cho đến khi Tào cho nghỉ.
Trưa hôm đó lúc ăn cơm2 tướng Nguyễn Sơn vỗ vai Tào:
- Đồng chí đã áp dụng kỷ luật đúng đắn. Quân nhân lúc nào cũng phải nghiêm chỉnh mới thể hiện được kỷ luật sắt trong quân đội. Tôi khen đồng chí.
Ba chục năm sau khi Lê Thiên Tào về Huế thăm gia đình, họ hàng, anh lại gặp ông Đồng lúc này là Trung tướng Chủ tịch hội cựu chiến binh tỉnh Thừa Thiên. Ông Đồng mừng rỡ thăm hỏi nhắc lại chuyện xưa:
- Tào còn nhớ hồi ấy anh là đại đội trưởng mà dám phạt trung đoàn trưởng, trưởng ban tác chiến quân khu không! Nhưng tôi rất phục các sinh viên lục quân ở quân khu này đều có tác phong nghiêm chỉnh đúng yêu cầu của một quân đội chính quy.
Tào bả lả:
- Hồi đó tôi mới ra trường nên hăng lắm, ảnh hưởng tác phong của Nhật nhất là sự dõng dạc oai phong chỉ huy của tướng Nguyễn Sơn.
Cả hai cùng cười xoà...
- Anh Đồng còn nhớ không: Tập hợp không ngay ngắn là ông Sơn bắn liền sau này tôi hỏi anh Bài là sĩ quan cận vệ thường luôn đi sát bên ông, anh ta nói.
- Ông bắn có chết ai đâu! Ông nổ súng phía sau rồi giơ nòng súng ra phía trước đang bốc khói. Anh em bộ đội đều xanh mặt tưởng là ông bắn thật. Đấy là ông Sơn bắn thị uy mà thôi!
Ông Bài nói tiếp:
- Tại mặt trận Hồi Xuân, La Hán Thanh Hóa sát biên giới Lào. Trong khi giữa quân ta và địch đang giằng co do đồng chí Nam Long chỉ huy. Đây là một mặt trận giữa ranh giới Quân khu 4 và Lào. Bọn Pháp luôn có âm mưu lấn chiếm nơi này để làm bàn đạp tấn công Thanh Hóa, Nghệ An. Lúc đầu quân ta đã đẩy lui quân địch nhiều lần do quân Pháp cầm đầu bọn lính Lào toan dành thế thượng phong. Ta đã nhiều lần làm chúng thất bại nhưng sau này vì sự bố phòng của ta không cẩn mật nên bọn Pháp đã lợi dụng những Tù trưởng Lào và người dân tộc dẫn quân lén đánh úp quân ta làm cho các đơn vị phải bị động rút lui vào nội địa 10 cây số. Bài học đau đớn này cho ta thấy lực lượng dân quân còn yếu, tổ chức trinh sát không hoàn hảo vì không theo dõi từng giờ từng phút những biến chuyển của địch. Hệ thống thông tin không nhanh nhậy. Làm chỉ huy phải nắm được những điều cần yếu khi tấn công và khi phòng ngự. Đây là sơ hở và tổn thất chưa đến nỗi nặng nề nhưng nó là bài học xương máu khi các chiến sĩ đã hy sinh oan uổng.
Sau đó Nguyễn Sơn đã trực tiếp chỉ đạo mặt trận này. Bọn lính Pháp nghe danh tướng Nguyễn Sơn từ lâu. Khi tiếng ông thét ra lệnh từ xa bọn lính đã bỏ chạy toán loạn.
Cái thời ấy các cấp chỉ huy bảo nhau để phấn đấu: “Quân lệnh như Sơn” là thế.
Đại đội trưởng Lê Thiên Tào được phân công về chỉ huy Đại đội độc lập phối hợp với Trung đoàn Trung Quốc thuộc Trung đoàn 308 của tướng Trần Canh đưa sang Việt Nam yểm trợ cho Quân khu 4. Trung đoàn trưởng là Trần Kiệt người xứ Nùng, Tiểu đoàn trưởng là Hải Linh, người Móng Cái có học trường Võ bị Hoàng Phố, Tiểu đoàn phó là Thế Xương người Thái trắng.
Đại đội anh Tào đã tranh thủ trao đổi kiến thức và kinh nghiệm quân sự với đơn vị bạn. ________________________________________ 1. Trong tháng 7/1947 để tiện việc chỉ dạo, quân khu được đổi thành Liên khu. Các tỉnh Bình Trị Thiên được thành phân khu Bình Trị Thiên do đ/c Nguyễn Chí Thanh, ủy viên trung ương làm bí thư phân khu và dưới hệ thống của Khu ủy Liên khu tư. 2. Thường thường ông Sơn hay ăn cơm chung với Tiểu đoàn bộ. Khi có khách ông mới ăn cơm riêng để tiếp khách.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #37 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 06:21:50 pm » |
|
41
Trong buổi họp đầu tiên tại Bộ Tư lệnh quân khu 4 các đơn vị đều trình bày những ưu khuyết và những khó khăn cần giải quyết. Nguyễn Sơn cũng biết trước đặt vấn đề kiểm điểm là để gây lòng tin giữa tư lệnh và chỉ huy các cấp. Việc mặt trận Bình Trị Thiên tan vỡ là tất nhiên, vì lực lượng giữa ta và địch chênh lệch nhau rất nhiều. Ông đã lắng nghe ý kiến các vị chỉ huy. Sau cùng ông kết luận:
- Quân đội của ta là quân đội nhân dân chưa được luyện tập kỹ càng như quân đội thực dân Pháp. Ta chống Pháp chỉ với tấm lòng yêu nước. Vấn đề trọng yếu là phải luyện tập quân sự, chính trị. Người lính tự vũ trang cho mình một trình độ quân sự khá, một tư tưởng chống Pháp vững mạnh. Ông đưa ra những kinh nghiệm các đơn vị trong Nam Bộ đã đánh giặc bằng tầm vông đẽo nhọn, bằng giáo mác, bằng hầm chông, bằng bất cứ phương tiện thô sơ nào nhưng đầy đủ mưu trí như bắt tổ ong vò vẽ bỏ vào bao để khi bọn giặc Pháp bắn tung bao ra. Ong ùa ra đốt chúng chạy tán loạn. Bị đốt đau có đứa chết tại chỗ. Ông lại đưa ra kinh nghiệm người Ra Đê ở Chiến khu Ba Tơ đã làm những bẫy cọp. Giặc Pháp bị bẫy thất kinh không dám xông xáo vào trong rừng ruồng bố căn cứ của ta vì bẩy nỏ ấy khi bật ra, tên xuyên ngang qua ngực chúng làm chúng rất khiếp sợ.
Ông nói thêm, về kinh nghiệm chiến tranh du kích bên Trung Hoa trong một tiếng đồng hồ.
Tiếng kẻng vang 3 lần báo hiệu giờ cơm.
Ông ra dấu cho anh em nghỉ và nói:
- Chiều nay đúng 2 giờ các đồng chí đến tiếp tục họp. Bây giờ các đồng chí tranh thủ ăn cơm và nghỉ 1 giờ.
Buổi họp chiều diễn ra đúng giờ. Ông đã đúc kết tất cả ưu khuyết điểm của các đơn vị và đề ra phương pháp giải quyết. Ông chỉ nói qua về giữa tương quan lực lượng địch và ta. Ông nói qua về chiến thuật áp dụng trong chiến đấu và việc phải làm trước mắt cho các đơn vị.
Ông đề xuất ngay một kế hoạch cấp tốc củng cố các địa phương.
1. Thông báo Tỉnh đội các tỉnh tổ chức trạm thu dung để thu nhận các chiến sĩ bị thương hoặc lạc đơn vị, cho họ ăn uống đầy đủ, cho nghỉ phép vài ngày và sau đó cho vào biên chế để luyện tập quân sự, chính trị.
2. Trong trường Võ bị phụ trách thêm lớp đào tạo Xã đội trưởng, trong 3 tháng. Chương trình huấn luyện do phòng Tham mưu và phòng Chính trị soạn thảo được Chính ủy cùng Phó tư lệnh duyệt. Hai phòng này đặc biệt theo dõi kế hoạch thực hiện xây dựng dân quân tại các tỉnh, huyện, xã.
3. Biệt phái các sinh viên về các xã tại các tỉnh huấn luyện cấp tốc về quân sự, chính trị cho dân quân trong 15 ngày - Nghiên cứu địa hình tại xã, ấp lập kế hoạch tác chiến khi có giặc vào. Bằng mọi phương tiện, lựu đạn địa lôi, hầm chông để độc lập chống giặc và cướp súng giặc.
4. Đồng chí khu phó trực tiếp xuống các đơn vị hải quân tại Cửa Lò, cùng ban chỉ huy các hạm đội lên kế hoạch tuần tiễu mặt biển và phối hợp với dân quân vùng ven biển các tỉnh trong kế hoạch chống đổ bộ.
5. Đ/c Chính ủy lên phía tây biên giới Lào để củng cố lực lượng xây dựng các đội võ trang tuyên truyền vùng biên giới và thành lập mặt trận Liên quân Lào Việt.
Ông kết luận: mỗi đơn vị phải có kế hoạch huấn luyện và đối phó với địch trong mọi trường hợp có thể xảy ra.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #38 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 06:23:49 pm » |
|
42
Một tuần lễ sau, Trường Võ bị II đã mời ông đến khai mạc lớp xã đội trưởng. Ông phân tích sự thất bại của bộ đội vừa qua là do thiếu sự yểm trợ của dân quân trong chiến đấu. Ông nói về tổ chức và hoạt động của dân quân đại để những nét lớn. Dân quân là một tổ chức nghĩa vụ của nhân dân tham dự chiến tranh do Sắc lệnh của Chính phủ quy định: Công dân Việt Nam phải có mặt trong dân quân từ 18 đến 65 tuổi. Công dân phải có nghĩa vụ giữ nước, giữ quê hương (không có tình trạng tự do gia nhập như nhiều nơi đã làm). Nếu tự do gia nhập sẽ giảm bớt số nhân dân tham chiến, lạc hướng tinh thần chiến tranh nhân dân đi đến giảm bớt sức kháng chiến và kiến quốc. Dân quân là một hình thức huấn luyện quân sự và chính trị nâng cao tạo điều kiện cho người dân thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự như trong các nước tiên tiến trên thế giới đã làm.
Chúng ta phải tuyên truyền nghĩa vụ tham gia dân quân và họ phải nhận thấy đây là vinh dự từng người được quyền tham dự chiến tranh giải phóng dân tộc. Tổ chức dân quân phải do chính quyền nhân dân chủ trì. Nó là một tổ chức nửa quân sự, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Thực hiện nhiệm vụ chiến lược bảo vệ và xây dựng hậu phương.
Nói về nhiệm vụ dân quân có các mục cần thực hiện:
- Vườn không nhà trống (để không có chỗ giặc vào: ăn ở)
- Tổ chức tránh giặc (triệt nguồn bổ sung lính địch) dân được bảo vệ.
- Phòng gian, bảo mật (cảnh giác, dò la, nghe ngóng phần tử gian tà để bảo vệ an toàn cho dân).
- Liên lạc đưa tin (giữa các xã, giữa trên và dưới, giữa bộ đội địa phương - Các phương pháp đưa tin (trống, mõ, kẻng, chuông) thông tin địch để tránh giặc. Quy định người đưa tin gấp và thường. (Phải tạo dấu hiệu, tín hiệu, và giữ gìn giấy tờ, tin tức. Có kỷ luật về bí mật của người đưa tin, cấm không được tò mò xem giấy tờ có hại cho việc bí mật quân đội.)
Về nhiệm vụ vận chuyển, bộ đội sẽ vất vả nếu không có dân quân vận chuyển vũ khí lương thực, kể cả chiến lợi phẩm tù binh, thương binh từ mặt trận về. Thực hành nhiệm vụ này phải có nam nữ dân quân với các hình thức chiến đấu phù hợp.
Khi giặc đến và khi giặc rút lui, dân quân phải tác chiến trong điều kiện thiếu thốn vũ khí đạn dược. Do đó nhân dân đã nẩy ra nhiều sáng kiến giết giặc cướp súng giặc.
Về các chiến thuật phá hoại có những nhận thức sai lầm về phá hoại: Phá cầu cống, đường sá, địch sửa lại cũng là vô ích. Phải nhận rõ rằng phá hoại là hình thức chiến đấu của chiến tranh nhân dân và áp dụng trong mọi đường hợp - Đó là nhiệm vụ cốt yếu của dân quân du kích và dân quân tự vệ liên kết với đồng bào. Ông Sơn nói đến các mục tiêu phá hoại: đường sá, cầu cống, cắt điện thoại, chặt cột đèn, phá kho tàng đạn dược thuốc men kể cả phá hoại chính quyền bù nhìn và nội bộ địch. Phải có kế hoạch để người nào cũng làm được và nhằm vào cơ sở kinh tế, quân sự của địch để phá.
Ông Sơn nói về sử dụng địa lôi, về chiến thuật quấy rối, về tình báo trinh sát và xây dựng làng chiến đấu.
Ông nhấn mạnh về công tác chính trị của dân quân phải được tổ chức hẳn hoi có hệ thống và tăng cường cán bộ có năng lực thảo tài liệu phù hợp với địa phương về địch vận, về phá tề, về nghĩa vụ giữa dân quân và vệ quốc đoàn. Phải ý thức dân quân và đồng bào là cánh tay phải của bộ đội.
“Sức mạnh nhân dân là lấp biển vá trời” nhưng phải được tổ chức và huấn luyện mọi mặt thì mới thành sức mạnh - Tôi vừa mời một số kỹ sư, bác học lên kế hoạch phá huỷ đường sắt vào Nam. Họ tính phải mất 3 năm và rất nhiều tiền, chuyện này phải thực hiện gấp. Tôi thất vọng quá. Sau đó tôi cho uỷ ban thông báo cho dân phá đường ray. Họ được lấy làm của riêng để làm dao làm búa tuỳ sở thích thế rồi dân chúng đã phá với kỷ lục không ngờ - Họ chỉ thực hiện có 2 tháng là phá xong 90 cây số đường ray xe lửa.
Bên Nga tại phòng tuyến Stalingrad Hồng quân Liên Xô bố trí chống phát xít Đức nếu không có dân vận chuyển 350 khẩu đại bác, làm sao quân đội Xô Viết có thể vận chuyển súng trong 1 ngày. Khi Nga bao vây Beclin với chu vi 60 cây số, Hồng quân đã bố trí 600 khẩu đại bác trên một km chính diện1. Đấy cũng là nhờ sức nhân dân mới chuyên chở đến mặt trận nhanh chóng.
Yếu tố nhân dân cũng ảnh hưởng nhiều đến kỹ thuật tác chiến của quân đội. Có những cái ta phải học của nhân dân vì trong sách không có - Ví dụ: nghe máy bay, nhân dân nghe tiếng động cơ biết loại gì? Đầm già! Thám thính! Khu trực, vận tải! Máy bay bỏ bom, máy bay chiến đấu... Họ bình tĩnh và quyết định nên xuống hầm tránh máy bay hay không xuống hầm.
Người chỉ huy không biết huy động sức mạnh của nhân dân, chỉ ỷ vào máu anh hùng của mình, không cân nhắc nên thí quân hay không! Trong cuộc chiến, địch mạnh hơn ta thì nên tránh khéo léo và tổ chức từng bộ phận phối hợp với dân quân tiêu hao, quấy rối làm cho địch lúng túng hoang mang. Ta phải tâm niệm cố sử dụng tốt lực lượng dân quân địa phương.
Vị tướng tài ba Napoléon danh vang lừng lẫy Châu Âu, lại bị thất trận tại Waterloo chỉ vì một thượng tướng của ông điều động một quân đoàn đã không khẩn trương nên đến chậm nửa tiếng đồng hồ thành thử không tiếp ứng được và đi đến thất bại hoàn toàn. Ông Sơn nhấn mạnh: Sự chậm chễ là điều tối kỵ trong quân đội. Chúng ta không thể chấp nhận được.
Ngày bế mạc lớp xã đội, tướng Nguyễn Sơn đả thông tư tưởng sai lầm về dân quân, đã giúp các đại biểu tỉnh đội huyện đội, xã đội ý thức vai trò chiến lược của dân quân, một lực lượng không thể thiếu trong việc sát cánh với bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực trong cuộc kháng chiến trường kỳ của toàn dân.
Tháng 4 năm 1948, qua báo cáo của khu phó Đào Chính Nam việc huấn luyện và kiện toàn tổ chức dân quân tại các tỉnh đã có kết quả tốt đẹp, đứng đầu là tỉnh Hà Tĩnh nhì là tỉnh Thanh Hóa.
Trong 4 tháng lực lượng dân quân thường trực đã phát triển từ 300 đến 700 dân quân tại các tỉnh. Vùng tạm bị chiếm dân quân đã tự chiến đấu chống địch, các vùng khác dân quân đã tự lực chiến đấu. Nhìn chung dân quân đã được vũ trang 1/3 súng ống.
Qua tháng năm đại hội quân sự toàn quân khu đã xác định vị trí quan trọng vai trò của dân quân trong mọi công tác, nhiệm vụ họ đã thực hiện tốt việc yểm trợ bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực, bộ đội lưu động. Một số địa phương còn có sáng kiến lập đơn vị “dân quân thường trực” đội “Quyết tử quân” “Biệt động đội”, với các trận đột xuất tiêu hao địch trong đô thị làm chúng rất hoang mang, sợ hãi. ____________________________________ 1. Trích cuốn Luận văn về chính trị, quân sự do tướng Nguyễn Sơn viết, xuất bản năm 2004 do TS. Nguyễn Văn Khoan và THS Thu Hương soạn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #39 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 06:28:48 pm » |
|
43
Tư lệnh Nguyễn Sơn về Liên khu 4 tổ chức, báo chí văn nghệ đã phát triển mạnh - Tại khu bộ có báo Cứu quốc Chiến sĩ. Thanh Hoá có báo Truyền tin, Chống giặc. Nghệ An có báo Truyền Thanh, Kháng chiến. Hà Tĩnh có báo Thông Tin, Gọi Bạn. Quảng Bình có báo Truyền Tin, Thống Nhất. Quảng Trị có báo Tiếng Vang, Địch Vận, Người Lính. Thừa Thiên có báo Giết Giặc, Tiến Quân.
Về mặt văn hoá nghệ thuật tướng Sơn luôn là mũi xung kích trong các tập san báo chí. Thường thường ông lấy biệt hiệu là Lâm Phong có nghĩa là con gái cô Nội tên Mai Lâm và con trai Kiếm Qua tên là Hàn Phong. Ông ghép lại làm biệt hiệu Lâm Phong để luôn nghĩ đến con mình. Việc này chứng tỏ ông là người rất nhiều tình cảm đối với gia đình cũng như xã hội...
Tướng Nguyễn Sơn thường viết các truyện ngắn, xã luận, kịch và thơ để đăng trong tập san Liên khu 4. Tập san đầu ra đời có đến 9/10 là bài của ông thể hiện đủ các loại và đủ các tên khác nhau. Nguyễn Sơn còn viết lý thuyết về quân sự, cách đánh trận ở đồng bằng, ở miền núi. Ban tuyên huấn Liên khu 5 trước đây đã in 500 bản lý thuyết quân sự chính trị đã phổ biến đến các Trung đoàn.
Tại Liên khu 4 ông điểm lại và soạn thêm cuốn “Chiến tranh du kích”; “Bí quyết người chỉ huy”. Ngoài ra Nguyễn Sơn còn viết những cuốn với tiêu đề người Cộng sản làm gì: “Chủ nghĩa Mác Lênin”, “Lịch sử Đảng cộng sản Trung Quốc”, “Vấn đề đánh lâu dài” v. v… để nâng cao trình độ chính trị của chiến sĩ và dân chúng. Ông cũng đã soạn xong một chương trình lớn về huấn luyện dân quân, lập xã chiến đấu đã được Xứ ủy Trung bộ duyệt.
Tới số thứ 2, tập san của quân khu được đổi tên là Chiến Sĩ. Cũng từ số này các văn nghệ sĩ từ các nơi đã nghe đồn Nguyễn Sơn là một tướng hào hùng, văn võ song toàn, cũng là một trí thức hiểu sâu, biết rộng các vấn đề, tâm hồn lại rất cởi mở, bình dị đã cuốn hút nhiều người tài theo ông. Họ đã mến mộ và đã về hợp tác làm cho tập san được phong phú về bài vở cũng như chất lượng. Từ đấy mỗi tháng đều ra 1 tập san và kỳ nào cũng có bài của tướng Nguyễn Sơn. Đây cũng thể hiện kỷ luật sáng tác của ông và sự ước mong cán bộ, nhân viên cũng cùng sáng tác.
Để gây phong trào văn hóa, nghệ thuật ông đã tổ chức một cuộc nói chuyện quy mô giữa các Văn nghệ sĩ và các giới đồng bào, học sinh Thiếu Sinh quân, sinh viên Võ bị II trong 7 buổi sáng tại Sim nhưng trong tay ông lại không có một miếng giấy soạn sẵn.
Ông thuyết trình văn nghệ với các dẫn chứng sống động lấy từ truyện Kiều, kịch Tào Ngu và Lôi Vũ của hồng quân Trung Quốc làm ví dụ. Tất cả thính giả đều chăm chú nghe không biết mệt mỏi. Cuối cùng Nhà văn Đặng Thái Mai phải thốt lên: ông Sơn nói về Lôi Vũ có nhiều chi tiết sáng tỏ hơn tôi dịch cuốn Lôi Vũ.
Những ngày ấy ông thuyết trình rất lưu loát. Ông đã đem lại sự ngạc nhiên đến các nhà văn tên tuổi như Nguyễn Tuân, Đặng Thái Mai, Chế Lan Viên, Cù Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Phùng Quán, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Xuân Sanh, Tương Tửu v.v… và các nhạc sĩ, kịch sĩ tên tuổi như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Nguyễn Đình Nghi, Bửu Tiến v.v...
Qua buổi nói chuyện này các văn nghệ sĩ chất vấn Nguyễn Sơn và ông cũng giải đáp rõ ràng, mạch lạc, lưu loát. Họ đã không ngờ vị tướng oai hùng lại am hiểu tường tận về văn nghệ. Đấy cũng là kết quả hoạt động về văn nghệ trên 20 năm ông đã thâu thập nhiều kinh nghiệm tại Trung Quốc để đem truyền bá lại cho Quân đội Việt Nam.
Sau tập san số 2 ra đời, quân khu được tăng cường đồng chí Nguyễn Kiệm về phụ trách phòng Chính trị1 Ban văn nghệ đứng đầu là Nhà văn Nguyễn Đình Lạp (cháu đồng chí Nguyễn Phong Sắc) tác giả 2 cuốn tiểu thuyết “Ngoại ô” và “Ngõ hẻm” đã xuất bản và có tiếng vang ở Hà Nội.
Trong tháng qua quân đội ta đã đánh đắm thông báo hạm Amyot D’inville tại ngoài khơi biển Sầm Sơn do bộ ba Nguyễn Văn Hoàng Đạo, Chu Duy Kính và Kim Sơn thực hiện. Chị Nguyễn Thị Lợi đóng vai vợ Hoàng Đạo đã anh dũng hy sinh được nhà nước phong danh hiệu liệt sĩ ngành An Ninh và được truy tặng huân chương quân công hạng 3. Tướng Nguyễn Sơn gợi ý với nhà văn Nguyễn Đình Lạp nên viết về đề tài này.
Mấy tháng sau Nguyễn Đình Lạp đã hoàn thành truyện “Chiếc va ly”. Cùng thời đó hoạ sĩ Sĩ Ngọc vẽ bức hoạ “cái bát” đã nổi tiếng cho đến bây giờ.
Báo “Chiến sĩ” do nhà thơ Hữu Loan làm Tổng biên tập. Thơ văn của ông đăng tải đều đều trên các báo với bút danh “Hữu” nhưng nhiều Hữu quá: Tố Hữu, Chính Hữu, Thôi Hữu v.v... nên ông lấy tên thật: Hữu Loan. Ông là một nhà thơ sâu sắc và nổi tiếng một thời. Nguyễn Sơn đã lôi kéo người thanh niên này đã đậu tú tài toàn phần từ kinh đô Huế vào phục vụ văn nghệ cho quân khu. Chúng ta còn nhớ bài thơ “Màu tím hoa sim” do Hữu Loan sáng tác và được nhạc sĩ phổ nhạc đã phổ biến sâu rộng trong toàn quốc kể cả bài “Các anh đi bao giờ trở lại”...
Tôi nhớ lại những đêm hành quân bằng xuồng trên kinh xáng Chắc Băng gần rừng U Minh, tôi nghe bên bờ tiếng hát văng vẳng “Những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt. Một chiều hành quân được tin em gái mất trước tin em lấy chồng...” Tôi cảm nhận nỗi buồn man mác của thời chiến chinh. Người lính không bao giờ chết, vẫn tiến lên mà em gái thì đã mất rồi.
Ban văn nghệ còn lập thêm đoàn tuồng, chèo và một đội ca kịch với nhiều nhạc sĩ, nhà văn, hoạ sĩ, nhà báo, nhà trí thức.
Anh trùm chèo Nguyễn Đình Nghi rất khâm phục ông tướng của mình đã góp ý thật chính xác cho anh xây dựng một số vở chèo thêm hoàn hảo, anh đã học tập những cách thể hiện dân gian về chèo của quần chúng.
Nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác được nhiều bài hay như: “Thi đua ái quốc”, “Tiếng hát Sông Lô”, “Bà mẹ Gio Linh”, “Về miền Trung”. Riêng bài “Xuất quân” đã được anh em chiến sĩ hát trước khi bộ đội chủ lực liên khu 4 xuất quân đánh trận đèo Hải Vân đã tiêu diệt 24 toa chở lính Pháp. Tiếng hát ấy đã làm sôi sục đoàn quân quyết chiến diệt thù. Trận này ta thu rất nhiều vũ khí. Nhạc sĩ Ngọc Bích với các bài: “Khúc nhạc tương tư”, “Bản đàn xuân” v.v... Phạm Đình Chương cũng có một số bài hát được phổ biến, riêng ca sĩ Phạm Đình Viêm đã nổi tiếng nhờ tài bắt chước ngựa hí là khúc dạo đầu cho bài hát “Kỵ binh Việt Nam”. Nguyễn Tiến Lãng, người giỏi Pháp văn, em vợ Tản Đà, được tướng Nguyễn Sơn mời ông làm công việc dịch thuật, và dạy tiếng Pháp ở trường Thiếu Sinh quân và trường Võ bị.
Riêng Nguyễn Đức Quỳnh, Nguyễn Sơn giao cho dịch Le capitaênsme (Tư Bản luận) đó là một cuốn sách dầy hơn 1 tấc do Karl Marx soạn thảo.
Vợ chồng họa sĩ Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim (điêu khắc) và người anh ruột là Phạm Văn Chừng đều là những nghệ sĩ hoạt động sôi nổi ở Thanh Hóa thời ấy.
Trường hợp đầu quân đặc biệt của Nguyễn Phan Chánh, ông là họa sĩ tốt nghiệp trường Cao đẳng mỹ thuật Đông dương khóa đầu tiên nhưng khi ra trường suốt một năm vẫn không được nhà nước bảo hộ Pháp trọng dụng. Ông đã phải biến thành thợ vẽ chân dung đi lang thang tại các chợ hoặc các nơi như Vinh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh để vẽ hình chân dung làm kế sinh nhai. Lúc không có khách ông bèn vẽ sẵn, người hoặc 2 ông bà ngồi bàn “sa lông” có bình hoa, ấm trà, đằng sau có tủ thờ. Khi có khách ông vẽ thêm đầu vào bức hình vẽ sẵn cho mau.
Nguyễn Sơn nghe tiếng Nguyễn Phan Chánh. Ông ra Chợ Gạo và nhờ họa sĩ vẽ cho một bức hình trông giống như vị tướng. Ông Chánh đã dựa theo quân phục của Napôlêông để vẽ chân dung cho ông. Ngày hôm sau giao tranh. Nguyễn Sơn cười và bảo đây là công việc của nghệ nhân và không phải của hoạ sĩ. Hoạ sĩ phải sáng tạo, chân dung phải có hồn. Ví dụ, muốn vẽ cảnh dân giàu thì vẽ cảnh các cô gánh lúa về nhà vì họ quan niệm đấy là vàng... Tôi thấy anh làm việc này phí thời gian, vì dân chúng cũng lo đánh giặc nên thu nhập của anh ít ỏi. Anh nên theo tôi vẽ tranh tuyên truyền. Tôi sẽ cung cấp đủ tiện nghi cho anh. Lúc ấy ông Chánh mới biết mình đang tiếp chuyện với vị tướng danh tiếng Tư lệnh Liên khu 4.
Từ đấy hoạ sĩ Chánh về ở chung với Sĩ Ngọc ở tại Phòng tuyên truyền Quân khu 4. Ngoài những tranh vẽ cổ động kháng chiến ông còn sáng tác những bức hoạ nổi tiếng như “Cô gái rửa rau”, “Trục lúa”, “Mẹ bồng con”, “Đi chợ”, “Cây đuốc sống”, “Lê Văn Tám đốt kho xăng”.
Màu sắc trong tranh phản ánh trung thực người dân đôn hậu, thuần khiết, mộc mạc của nông dân Việt Nam. Cái lò văn hoá, nghệ thuật của Nguyễn Sơn đã đúc ra nhiều tác phẩm giá trị lưu đến những thế kỷ sau này2. Nguyễn Sơn đã khuyến khích vẽ tranh bằng tất cả thể loại với đề tài tự do, nếu nghiêng về chiến đấu, sản xuất càng tốt. Nguyễn Sơn muốn để văn nghệ sĩ tự do sáng tác tuỳ theo cảm hứng của mình. Ở Liên khu 4, cách 3, 4 tháng lại có triển lãm trưng bày tranh và tác phẩm sơn mài nhân các ngày lễ. Do đó trình độ thưởng thức của dân chúng liên khu được nâng cao.
Về sáng tác nhạc Tư lệnh rất chú ý tới những dấu huyền, sắc, ngã, nặng trong tiếng Việt Nam. Nguyễn Sơn nhắc khéo các nhạc sĩ khi sáng tác nên quan tâm lúc dùng nét nhạc cao thấp phải phù hợp với các dấu sắc, huyền, nếu không, có thể thành phản tác dụng như câu: “góp phần cho chiến trường” khi sáng tác và hát, lại thành “góp phân cho chiến trường”. Ông khuyến khích nên sáng tác những bản nhạc vui và hạn chế những giai điệu ủ rũ.
Bộ môn Kịch có nghệ sĩ lớp cũ Minh Trâm từ Hà Nội nghe tiếng đồn về Nguyễn Sơn cũng đã vào khu cùng xây dựng Ban Kịch với nghệ sĩ Vũ Đình Hải. Hoàng Trọng Miên họ hàng với học giả Hoàng Xuân Hãn cũng là một cây viết xuất sắc về kịch. _______________________________________ 1. Đoạn nói về Văn nghệ, cuốn “Nguyễn Sơn vị tướng huyền thoại” nói rất rõ - Xin được đăng tải lại đoạn này để quý bạn hiểu biết thêm 2. Mấy chục năm sau Hội Mỹ thuật Việt Nam đã triển lãm tranh của ông đi khắp các nước Trung Âu, Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh, Tiệp Khắc. Những tranh nổi tiếng như: “Cô hàng xóm”, “Chống hạn”, “Con thô”, “Đẩy đò”, “Rổ thóc”
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|