Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:41:06 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng Văn hoá liệt truyện - Tập 1  (Đọc 74025 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #40 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 07:13:35 pm »


Chương III
GIANG THANH “XÉ RÀO” NỔI DẬY


1
Hai mươi năm sau Giang Thanh “xé rào” nổi dậy
Miệng rộng mở to phà hơi tanh tưởi ghê người


1. Giang Thanh là tên do Mao Trạch Đông đặt cho Lam Bình ở Diên An. Cái tên này từ ý nghĩa đến phát âm đều rất thích hợp với người đàn bà có dã tâm, có sức quyến rũ, mê hoặc và sâu xa không lường được

Năm 1915, sinh ở Gia Thành tỉnh Sơn Đông, được đặt tên là Thục Mông. Vì lúc nhỏ có bó chân, cho nên còn để lại dấu vết xấu xí, làm cho bà ta từ đó có bước đi vòng kiềng suốt đời. Khi học trường huyện, vì thường hay đánh nhau với các bạn nên bị nhà trường đuổi học. Về sau khi nói đến quá trình này bà ta bảo: “Lúc ấy tôi đã thề quyết không để một người nào bắt nạt mình”. Điều đó chứng tỏ, bà ta đã biến tình cảnh xã hội khó xử của mình thành ý thức bất bình cá nhân, trên thực tế đã tạo nên tính cách “tướng cướp” sau này của bà ta.

Vào giữa những năm 20, Giang Thanh được tiếp tục học ở trường tiểu học số 2 thuộc Học viện Sư phạm số 1 Tế Nam, đổi tên là Lý Vân Hạc. Năm 1929, bà ta vào trường Chuyên khoa Nghệ thuật tỉnh Sơn Đông do Triệu Thái Mâu và Vương Nhuận Sinh v.v... thành lập, bắt đầu học Kinh kịch và kịch nói v. v... Để sinh sống, bà ta kết hôn với một thanh niên họ Phí, cuộc hôn nhân này chỉ kéo dài được mấy tháng. Năm 16 tuổi, Lý Vân Hạc một mình đến Thanh Đảo, đã quen biết với Du Khải Uy sau đổi tên là Hoàng Kính, sau khi nước Trung Hoa mới thành lập, ông ta đã từng giữ chức thị trưởng kiêm Bí thư Thành ủy Thiên Tân, hai người yêu nhau và nhanh chóng sống chung. Du Khải Uy là Trưởng ban Tuyên truyền của tổ Đảng thuộc Đại học Thanh Đảo, qua sự giới thiệu của ông ta, Lý Vân Hạc đã tham gia hoạt động trong “Mặt trận văn hóa cộng sản chủ nghĩa”. Tháng 2 năm 1933, được Du Khải Uy giới thiệu đã gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 7 cùng năm Du Khải Uy bị bắt, công việc yểm trợ mà Lý Vân Hạc đảm nhiệm cũng kết thúc từ đó.

Bà ta rời bỏ tổ chức Đảng ở Thanh Đảo, một mình đến Thượng Hải đổi tên thành Lam Bình. Tháng 10 cùng năm, bà ta bị bắt, hai tháng sau được bảo lãnh ra tù. Tháng 4 năm 1935 vào công ty phim Điện Thông. Tham gia diễn vở “Thần Tự do” và “Phong cảnh đô thị”. Năm 1936, chuyển sang công ty phim Liên Hoa, đảm nhiệm vai chính trong vở kịch nói “Na-ra”. Na-ra, người đàn bà phản nghịch này có tính cách rất giống bà ta và bà ta trở thành “diễn viên có bản sắc” Na-ra. Năm 1936, Lam Bình có tình yêu sét đánh với Đường Nạp, biên tập tạp chí và đạo diễn kiêm nhiệm của công ty phim Điện Thông và đã kết hôn với nhau. Sau khi cưới, Lam Bình đã mấy lần gây nên sóng gió biển tình làm cho Đường Nạp sống đi chết lại, mấy lần tự sát, cuối cùng chia tay mỗi người một ngả.

Hạ tuần tháng 8 năm 1937, Lam Bình đến Diên An. Vừa thấy Mao Trạch Đông bà ta đã dán mắt nhìn, đồng thời tìm tất cả mọi dịp có thể gần gụi Mao Trạch Đông, bà ta cũng làm cho Mao Trạch Đông phải chú ý. Hai người gặp nhau mấy lần trong hầm của Mao Trạch Đông, cùng bàn công việc, hí kịch, học tập, sự tiếp xúc ngày càng nhiều, làm cho Mao Trạch Đông đem lòng yêu mến Lam Bình, một cô gái trẻ trung, thông minh, nhiệt tình, mạnh dạn, hơn nữa lại xinh đẹp. Lúc ấy Lam Bình 24 tuổi, Mao Trạch Đông đã 46 tuổi. Tháng 8 năm 1938. Lam Bình nhận được lệnh điều động, từ Đoàn Nghệ thuật Lỗ Tấn đến gần Văn phòng của Mao Trạch Đông, nhận công việc rất hay là thư ký Phòng lưu trữ của Quân ủy. Bà ta toại nguyện vì đã tìm được chỗ dựa vững chắc. Khi Mao Trạch Đông và Giang Thanh lấy nhau, Ban Bí thư Trung ương đã đưa ra bản quy ước bồm ba chương. Trong đó có một điều là: Đồng chí Giang Thanh chỉ quản công việc riêng và sự vụ của đồng chí Mao Trạch Đông, trong vòng 20 năm cấm không được đảm nhiệm bất kỳ chức vụ gì trong Đảng. Đồng thời không được can dự vào nhân sự trong Đảng và tham gia hoạt động chính trị. Giang Thanh thực sự bắt đầu đảm nhiệm vai chính của bà chủ gia đình theo yêu cầu của bản quy ước ba chương, lo liệu sức khỏe của Mao Trạch Đông và cuộc sống hằng ngày. Tháng 8 năm 1940, Giang Thanh sinh được một người con gái, Mao Trạch Đông rất vui, việc sinh con đã làm cho Giang Thanh củng cố được vị trí của mình bên cạnh Mao Trạch Đông.

Cuộc sống hôn nhân lãng mạn của Mao Trạch Đông và Giang Thanh đến sau năm 1942 thì bắt đầu có thay đổi. Giang Thanh khát khao độc lập và có dã tâm không cam tâm làm người nội trợ. Giành được quyền lực là mục đích của bà ta. Sau năm 1942, Giang Thanh bắt đầu từ cuộc sống bà chủ gia đình cẩn thận, chăm chỉ bước ra. Sau năm 1947, cùng với các trận thắng liên tiếp trong chiến tranh giải phóng, Giang Thanh bắt đầu tham gia một cách vừa phải vào cuộc chiến tranh và chính trị. Mao Trạch Đông vẫn nghiêm khắc tuân thủ quyết định của Trung ương, không để Giang Thanh tham chính, tham gia lãnh đạo hội nghị. Về chuyện này Giang Thanh tức lắm nhưng cũng chỉ có thể để trong lòng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #41 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 07:15:13 pm »


2. Trước khi nhúng vào chính trị, thời gian sống đẹp nhất của Giang Thanh là cuộc sống của một minh tinh ở Thượng Hải vào những năm 30. Bà ta đã diễn “Na-ra” của Henrik Johan Ibsen

Lúc ấý Hiệp hội kịch nghiệp dư Thượng Hải là một nhóm người làm văn hóa cánh tả được thành lập dưới sự lãnh đạo của nhóm bí mật của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong những năm tháng ấy, không có tiền thì không làm được gì, họ mời Trương Thiện Côn đầu tư, bấy giờ mới lo liệu được. Về Trương Thiện Côn, mới đầu ông này dựa vào việc giúp cho Hoàng Sở Cửu, một nhà đâu cơ ở Thượng Hải quảng cáo thuốc lá mà giàu lên, về sau tôn Hoàng Kim Vinh tên đầu sỏ lưu manh ở Thượng Hải làm thầy, gia nhập “Thanh bang” ông ta trở thành người kinh doanh Đại Thế giới và Hồng Vũ Đài ở Thượng Hải, tình hình kinh tế mở rộng. Thế là ông ta lại trở thành “Ông chủ” sau lưng của Hiệp hội kịch nghiệp dư Thượng Hải.

Trong Hiệp hội kịch nghiệp dư Thượng Hải, có hai người quen cũ của Giang Thanh. Một người là Nguỵ Hạc Linh là bạn cùng học ở Viện Kịch thực nghiệm Sơn Đông, một người khác là Vạn Lại Thiên, ông là giáo viên tổ kịch nói của Viện Kịch thực nghiệm Sơn Đông là bạn học của Vương Bạc Sinh thời gian ở lớp chuyên nghệ thuật Quốc lập. Ngụy Hạc Linh đóng vai bác sĩ Nan-cơ trong “Na-ra” còn Vạn Lại Thiên là một trong ba đạo diễn của “Na-ra”, có sự giới thiệu mạnh mẽ của Vạn Lại Thiên và Ngụy Hạc Linh, nên Hiệp hội kịch nghiệp dư Thượng Hải liền gửi thư mời Giang Thanh.

Về sau trong bài viết “Từ “Na-ra” đến “Đại lôi vũ”” của mình, Giang Thanh nói về tâm trạng khi còn là lính mới tò te:

“Mùa xuân năm 1935”.

“Tôi mãi mãi không quên! Đó là cái ngày u ám như tâm trạng của tôi. Tôi đã rời cố đô vô cùng hiền dịu đối với tôi, đã vứt bỏ những cái quý báu nhất trong lịch sử cuộc đời, mà sẽ chẳng bao giờ có lại được nữa, đến Thượng Hải diễn “Na-ra”.

“Diễn “Na-ra” là một sự bắt đầu của tôi chính thức bước vào ngưỡng cửa hí kịch...”

“Na-ra” là tác phẩm tiêu biểu của Henrik Johan Ibsen, nhà viết kịch nổi tiếng của Na Uy, còn có tên là “Gia đình chơi tượng”, “Gia đình bù nhìn”. Đây là vở kịch lấy việc giải phóng phụ nữ làm chủ đề.

Giang Thanh mới đến chân ướt chân ráo, còn dàn kịch của tổ kịch “Na-ra” thì rất mạnh, làm cho bà ta không thể không cảm thấy căng thẳng: diễn vai chồng của An-na là Triệu Đan, đóng vai Cơ-lác là Kim Sơn, Nguỵ Hạc Linh đóng vai Nan-cơ, Ngô My đóng vai vợ của Lin-đơn...

Về chính trị không được như ý, Giang Thanh trông mong vào sự vượt trội hơn người khác trên vũ đài, mà “Na-ra” là trận đầu tiên của bà ta, là hành động có quan hệ đến sự thành bại.

Lúc bấy giờ, bà ta đã từng nói:

“Khi tập “Na-ra” tôi đã từng thấp tha thấp thỏm, cố sức tập… Còn nhớ, lúc ấy tôi đã từng mất ngủ khi đọc kịch bản, mỗi khi về đêm tiếng ngáy của người thợ may La Tống Cơ cách tường bên cạnh thay thế tiếng máy may xạch xạch, là tôi lại lấy tập kịch bản để ở dưới gối ra đọc, dùng giọng đọc nhỏ nhẹ bền bỉ đọc từng câu đối thoại...

Bà ta cũng đọc rất kỹ “sáu bài giảng về kỹ thuật diễn xuất” của Li-sê Bô-ri-sláp-sky do Trịnh Quân Lý dịch, lặng lẽ mò mẫm.

Lúc này, bà ta lấy nghệ danh là Lam Bình. Nghe nói: vì thông thường bà ta thích mặc áo màu xanh lam, mà bà ta lại từ Bắc Bình (Bắc Kinh - N.D.) đến nên lấy tên là “Lam Bình”. Nhưng khi ký hợp đồng với Hiệp hội điện ảnh nghiệp dư Thượng Hải, có người kiến nghị với bà ta đổi thành “Lam Bình” (chữ Bình trong chữ Bắc Bình có thêm bộ thảo đầu - N.D) nghĩa là quả táo màu lam thật khác người! Bà ta cũng cảm thấy “Lam Bình” rất tân kỳ nên cũng từ đó lấy hai chữ “Lam Bình” này, thế là, mọi người đều gọi là “Lam tiểu thư”. Người quen thì gọi là “A Lam” hoặc “A Bình”.

Lam Bình bắt đầu nổi trội trong kịch nói.

Ngày 27 tháng 6 năm 1935, trước Nhà hát lớn Kim Thành, Thượng Hải treo một áp phích quảng cáo lớn. Vở kịch nói “Na-ra” trên đề “Triệu Đan, Lam Bình sắm vai chính”. Lúc ấy Triệu Đan đã là diễn viên có tiếng ở Thượng Hải, cái tên “Lam Bình” mới mẻ lần đầu tiên sáng lên, vì sánh ngang với Triệu Đan, nên đã thu hút được sự chú ý của mọi người.

Đêm ấy khi màn đêm trùm xuống Thượng Hải, Nhà hát lớn Kim Thành trở nên nhộn nhịp khác thường. Vở kịch nói “Na-ra” lần đầu được diễn ở đây.

“Diễn viên sáng chói! Kỹ thuật diễn quyết liệt! Diễn xuất với quy mô lớn!” Thượng Hải trong những năm ấy, kịch nói đã bị chìm nghỉm khá lâu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #42 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 07:15:52 pm »


Việc công diễn “Na-ra” trở thành điểm nóng của thông tấn. Nhà hát lớn Kim Thành không còn trống một chỗ nào. Công diễn kéo dài một tuần, chỗ ngồi vẫn kín. Lỗ Tấn cũng đến xem “Na-ra”.

Các báo ở Thượng Hải tới tấp đăng tin công diễn “Na-ra”. Các đại danh “Lam Bình” được in trên rất nhiều báo chí, bay đến hàng ngàn hàng vạn gia đình.

Tờ “Thời sự Tân báo” rất có ảnh hưởng đã đăng số đặc biệt “Na-ra của Thượng Hải mới” trên trang đầu là bức chân dung khổ lớn của Lam Bình.

“Thần báo” (Báo buổi sớm) Thượng Hải, số ra ngày 2 tháng 7 năm 1935, đăng bài viết “Xem diễn vở Na-ra” của Tô Linh, đã bình luận kỹ thuật diễn xuất của Triệu Đan và Lam Bình như sau:

Triệu Đan là một nghệ nhân thanh niên, ưu điểm của anh không phải là trời phú, anh không có cái thể hình đẹp tiêu chuẩn, hơn nữa anh cũng không hề có cái giọng hay, nhưng anh đã cố gắng thành khẩn đối với nhân cách của nhân vật trong kịch, chịu bỏ công sức thể nghiệm về mặt tư tưởng, tình cảm. Còn về mặt nghệ thuật anh chịu khó khắc khổ rèn luyện. Trong “Na-ra” anh đóng vai He-mơ chồng của Na-ra. Anh có thể khắc họa một nhân vật như He-mơ, một người chủ gia đình, một thân sĩ vụ lợi có địa vị tương đối. Châu Âu trong thời đại của Ibsen cho đến Trung Quốc hiện đại, không biết có bao nhiêu He-mơ. Trong vở kịch “Na-ra”, He-mơ có thể coi là một vai khó diễn, nhưng Triệu Đan đã hoàn thành một cách rất nhẹ nhàng.

Thứ đến, tôi phải nói đến phát hiện mới của tôi. Lam Bình đóng vai Na-ra, tôi rất đỗi ngạc nhiên về thiên tài biểu diễn và nói lối! Nói lối của cô tôi chưa phát hiện được người thứ hai có thể nói được lưu loát (lưu loát chưa hẳn đã là nói nhanh) như cô. Từ đầu đến cuối thật là tuyệt vời! Chỉ có một chút nhỏ khuyết điểm, tức là bước đi có lúc nhảy chân sáo quá nhiều, có lúc nói lối quá nhanh vì thế thiếu tình cảm.


Ngày hôm thứ hai sau buổi diễn đầu tiên, “Dân báo” đăng bài viết “Sau khi xem “Na-ra”” của Hải Sĩ, cũng nói về Lam Bình.

“Nhân vật phối họp thỏa đáng còn kỹ thuật diễn xuất cũng rất ăn khớp, phải kể năm diễn viên Lam Bình, Kim Sơn, Ngụy Hạc Linh, Ngô My, Triệt Đan, tính cách của mỗi nhân vật, đã được họ sáng tạo, đối thoại thì rất hoàn mỹ. Nhất là màn thứ 2, vì sự cố gắng của Lam Bình, những động tác và biểu cảm giống như một giai diệu âm nhạc, rất xúc động lòng người, đến rơi nước mắt, khi nhảy điệu Tây Ban Nha, thì giai điệu ấy đạt tới đỉnh điểm, cảm thấy được sự ích kỷ và vô tri của toàn nhân loại, đều đè nặng lên người cô ta, đáng thương vô cùng”.

Tiếng pháo đầu tiên đã nổ, bà ta đã thành công lúc 21 tuổi.

Bà ta có thể diễn tốt vai Na-ra, ngoài kỹ thuật diễn của mình ra, còn một điểm quan trọng, bởi vì bà ta có tâm trạng như Na-ra! Bà ta đọc kịch bản hết lần này đến lần khác. Bà ta phát hiện người đàn bà phản nghịch Na-ra giống tính cách của mình! Bà ta cho rằng Na-ra là bà ta, bà ta là Na-ra. Bà ta trở thành “diễn viên nguyên mẫu” của Na-ra!

Thế là bà ta bắt đầu bước vào công ty điện ảnh.

Lam Bình, trời sinh ra đã là một người không an phận, tranh diễn vai chính trong “Tái Kim Hoa” với Vương Doanh, làm cho danh tiếng của bà ta một dạo xấu xa tồi tệ.

Lam Bình vốn không cam chịu lặng lẽ còn bận bịu hơn so với Đường Nạp. Chân bà ta đứng trên hai chiếc thuyền điện ảnh và kịch, một lòng một dạ tiến lên “minh tinh lớn” mặc dù phải trải qua hai hài kịch “Cuộc hôn lễ ở Tháp Lục Hòa” và “Đường Nạp tự sát ở Tế Nam”, “tiếng tăm” của bà ta càng lớn, nhưng trong giới điện ảnh, xét cho cùng thì bà ta cũng chỉ là diễn viên hạng ba hạng bốn. Vị trí minh tinh không phải là tranh giành đánh ghen ầm ĩ để xác lập mà lại ở thành tích thực sự trong diễn xuất.

Nói thực ra, trong kịch nói, bà ta chỉ nhảy được xa ở vở “Na-ra”. Ngoài ra còn đóng đạt vai vợ anh thợ mộc trong vở “Khâm sai đại thần” mà thôi.

Trong điện ảnh, phim “Thần tự do” và “Phong cảnh đô thị” vai diễn không nổi trội lắm và chưa bao giờ sắm vai chính.

Mặc dù trong con mắt bà ta chẳng có ai cả, đến “nữ hoàng điện ảnh” Hồ Điệp cũng không có trong con mắt bà ta, nhưng từ năm 1926, Hồ Điệp đã đóng vai chính và đã tham gia đóng mấy chục bộ phim. Còn bà ta thì sao? Bà ta dựa vào vai diễn thứ yếu trong hai phim “Thần tự do” và “Phong cảnh đô thị” để so với Hồ Điệp thì liệu có địch nổi không?

Cuối cùng bà ta chen chân vào tổ làm phim “Lang Sơn đẫm máu”. Bộ phim này do Thẩm Phù, Phí Mục biên kịch, Phí Mục đạo diễn, vai chính là Lưu Tam do Lưu Quỳnh đóng còn Lam Bình đóng vai vợ Lưu Tam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #43 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 07:17:12 pm »


Khó khăn lắm Lam Bình mới giành được “vai chính thứ 2”. Có điều, sau khi phim bắt đầu quay, Lam Bình mới biết vai diễn này chỉ là chút hư danh. Đến đạo diễn Phí Mục trong một bài viết có tựa đề “Lam Bình trong “Lang Sơn đẫm máu”” cũng không thể không nói rằng:

“Ở đây tôi chỉ giới thiệu nữ sĩ Lam Bệnh” lý do của ông là vai mà nữ sĩ Lam Bình diễn là một vai khán giả dễ dàng không đáng để ý nhất...

“Trong “Lang Sơn đẫm máu” hầu như cứ vài trăm thước phim mới đưa bà ta vào một pha, nhưng pha này phần lớn là một cảnh, rất ít khi có ba cảnh liền”.

Tuy nhiên bài viết của đạo diễn vốn muốn khen kỹ thuật diễn xuất của Lam Bình nhưng nói đi nói lại, lại thành ra bảo khán giả không nên coi nhẹ nữ diễn viên “cứ cách mấy trăm thước phim” mới xuất hiện một pha.

Thực ra, mỗi ánh mắt của đạo diễn đều sắc sảo. Những người đạo diễn đều hiểu sâu sắc sự thành bại của diễn viên sẽ ảnh hưởng đến sự thành bại của bộ phim. Đạo diễn luôn lựa chọn diễn viên ưu tú nhất đảm nhiệm vai chính. Đối với việc lựa chọn nữ diễn viên chính, càng được các đạo diễn cân nhắc kỹ lưỡng nhiều lần. Lam Bình có thể lôi kéo người ta viết bình luận phim, để ba hoa tâng bốc bà ta, nhưng khó có thể chinh phục được đạo diễn vì điều đầu tiên mà người đạo diễn tính đến là sự thành bại của bộ phim.

Xem ra, tuy Lam Bình đã bước vào điện ảnh, nhưng chỉ dựa vào kỹ thuật biểu diễn của bà ta thì còn xa mới ngồi được vào ngôi “minh tinh lớn”.

Bà ta lại muốn mở ra một con đường trên vũ đài kịch nói - xét cho cùng thì bà ta vốn là diễn viên kịch nói, huống hồ bà ta đã được đóng vai chính trong vở kịch “Na-ra”.

Đúng lúc này, kịch bản vở kịch nói “Tái Kim Hoa” được công bố, Lam Bình làm ầm ĩ đòi được sắm vai chính, lại gây sóng gió trong giới kịch bản phim. Bà ta là một người đàn bà không bao giờ an phận!

Cơn sóng gió này bắt đầu từ số 4 quyển 6 tạp chí “Văn học” tháng 4 năm 1936 đã đăng một kịch bản “Kịch quốc phòng” (Tái Kim Hoa) mới được sáng tác.

Tên của tác giả là Hạ Diễn, một cái tên lạ lẫm trong giới kịch bản phim Thượng Hải!

Tuy nói Trung Quốc ngày nay không biết tên tuổi Hạ Diễn e rằng chẳng có mấy người, nhưng trong khi kịch bản “Tái Kim Hoa” được công bố, mọi người thực sự không biết Hạ Diễn là ai!

Trên số 1 “Văn học giới” xuất bản vào tháng 6 năm 1936 đã đăng về “Cuộc tọa đàm “Tái Kim Hoa”” ngay đến người giữ vị trí chủ chốt trong giới kịch bản phim như Hồng Thâm, Vu Linh, Lăng Hạc cũng không biết “Hạ Diễn” là ai!

Chỉ nghe nói, Hạ Diễn là “nhà văn mới ở miền Bắc”!

Thực ra, “Hạ Diễn” - Thẩm Đoan Tiên, từ năm 1932 đã bước vào giới điện ảnh Thượng Hải. Nhưng do quan hệ công tác bí mật, nên ông đã không ngừng đổi tên. Lần đầu tiên ông tham gia cuộc hội nghị biên kịch của công ty phim Minh Tinh, có tên là “Hoàng Tử Bố”. “Chảy xiết” kịch bản phim đầu tiên ông viết ký tên “Đinh Nhất Chi”. Ông cải biên tiểu thuyết “Tầm xuân” của Mao Thuẫn thành kịch bản phim cùng tên, ký tên là “Thái Thúc Khanh”... Ông cho in kịch bản “Tái Kim Hoa” lần đầu tiên dùng bút danh Hạ Diễn, chẳng trách độc giả không ai biết về ông.

Trong “Ghi chép lười biếng tìm lại giấc mơ xưa” xuất bản năm 1985, Hạ Diễn đã nhớ lại quá trình viết “Tái Kim Hoa”.

“Thực ra tôi viết kịch bản này hoàn toàn là một sự xúc động ngẫu nhiên. Lúc ấy tôi sống độc thân trong một nhà trọ nhỏ của một người Bạch Nga, ngoài đọc báo ra chẳng có việc gì làm. Trên tờ “Đại Công báo” xuất bản ở Thiên Tân tôi đã đọc được một số cảnh ngộ bất hạnh vào những năm cuối đời của Tái Kim Hoa, đặc biệt là một đoạn phát biểu với nhà chí sĩ cách mạng Thẩm Tận khi cô vào trại giam, thực sự đã làm tôi nảy ra một cảm tưởng trong tâm linh về một nhân vật lớn trong miếu đường lúc ấy cũng còn thua xa một người kỹ nữ. Đây cũng chính là sự đồng tình của tôi đối với cô mà tôi không kìm nén được ở màn cuối cùng. Đây có thể coi là vở kịch nhiều màn đầu tiên của tôi...”

Sau khi kịch bản “Tái Kìm Hoa” được công bố, mặc dù tác giả kịch bản thuộc “loại không tên tuổi” nhưng có thể thấy được công sức của tác giả. Những sắc thái ly kỳ, những tình tiết biến hóa nhiều vẻ, ngay lập tức được giới kịch và điện ảnh chú ý.

Lam Bình vừa thấy đã tranh đóng vai Tái Kim Hoa. Tuy chưa biết đầu của tai nheo ra sao, lúc ấy đạo diễn vẫn chưa xác định việc chọn người, bà ta liền mời một tên “ma cô” tranh đưa tin trên tờ “Thời sự tân báo” để được coi là “có hiểu biết và tiếp thụ trước”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #44 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 07:18:23 pm »


“Có rất nhiều đoàn muốn diễn vở này (chỉ “Tái Kim Hoa” - Người chú), điều đó đương nhiên là hiện tượng tốt. Nhưng lại sợ vì quy mô to lớn, nhân vật lại nhiều nên có nhiều đoàn vì kinh tế và nhân tài không đủ, mà thành ra lực bất tòng tâm. Trong rất nhiều đoàn trong lòng thì rất muốn mà sức không đủ này, chỉ có đoàn Mã Nghị (con kiến - N.D.) là có hy vọng thực hiện một cách tương đối cụ thể.

“Đoàn kịch Mã Nghị trước đây đã từng diễn một số vở, thành tích tuy không thể coi là thật tốt, nhưng thái độ nghiêm chỉnh không sơ suất, cẩu thả đủ để cho chúng ta tin phục, cái thiếu ở đây là thiếu một đạo diễn thiên tài có thể chỉ huy những người yêu thích kịch này.

“Bây giờ họ đã quyết tâm diễn “Tái Kim Hoa” tiền chi phí cho việc tập dượt chuẩn bị khoảng hai ngàn đồng, để chi phí cho việc dàn dựng đạo cụ không đến nỗi thiếu thốn, vì thế đã mất đi tính hiện thực. Còn như nhân vật Tái Kim Hoa thì định mời Lam Bình đóng. Trong các vở “Na-ra”, “Khâm sai đại thần”, “Đứa trẻ bị giết hại”, Lam Bình đều đạt được thành tựu nổi trội, nay diễn vai Tái Kim Hoa xem ra thành tích hẳn cũng không đến nỗi tồi”. “Còn về đạo diễn và các nhân tài thì cũng muốn mời các đoàn khác”. Có điều chỉ tranh đưa tin trước, muốn “chiếm núi để xưng vương” đâu có dễ như thế.

Dần dần, tình hình đã rõ ràng: Những người trong Hội kịch nghiệp dư Thượng Hải, sau khi bàn bạc đã chuẩn bị dựng vở “Tái Kim Hoa”.

Về dàn diễn viên thì Hiệp hội kịch nghiệp dư đủ mạnh gồm Vương Doanh, Kim Sơn, Trịnh Quân Lý, Triệu Đan, Thi Siêu, Hồ Bình v.v.. Lam Bình cũng là một người trong số đó.

Điều làm cho người ta khó hiểu là, Hiệp hội kịch nghiệp dư vẫn đăng quảng cáo trên báo “Mời người đóng vai Tái Kim Hoa!”.

Nữ diễn viên của Hiệp hội kịch nghiệp dư không phải là ít, vì sao vẫn muốn mời nữ diễn viên đóng vai chính chứ? Chẳng phải là từ lâu Lam Bình đã tuyên bố là muốn đóng vai chính hay sao?

Cái dở lại là ở chỗ dàn diễn viên quá mạnh: Lam Bình muốn đóng Tái Kim Hoa, mà Vương Doanh cũng muốn đóng Tái Kim Hoa!

Vương Doanh và Lam Bình đã từng cùng đóng phim “Thần tự do” bây giờ vì để tranh đóng vai chính trong “Tái Kim Hoa” nên đã trở mặt! Hiệp hội kịch nghiệp dư không biết làm thế nào, đành phải mời diễn viên chính ngoài xã hội - vậy là mâu thuẫn giữa Vương Doanh và Lam Bình cũng đã được giải quyết.

Nhưng Vương Doanh và Lam Bình đã rút kiếm giương cung, ai sẽ nhận lời... làm nữ diễn viên chính người ấy sẽ phải chịu sự giáp công từ hai phía, chẳng ai chịu nổi!

Đúng lúc đang tranh nhau bất phân thắng bại, thì đạo diễn Chương Dẫn, Vu Linh được tin tác giả của “Tái Kim Hoa” Hạ Diễn vốn là Thẩm Đoan Tiên, thế là họ bèn “chuyển ngay” mâu thuẫn cho tác giả.

Trong “Ghi chép lười biếng tìm lại giấc mơ xưa” của Hạ Diễn có một đoạn hồi ức rất hay:
“Trong lúc không biết làm thế nào, tôi đã nảy ra một chủ ý trộn vữa, cho rằng có thể chia thành hai nhóm A và B. Triệu Đan và Lam Bình, Kim Sơn và Vương Doanh, để họ thể hiện tài năng của mình trên sân khấu. Nào ngờ kế ấy được Chương Dẫn đồng ý, còn Vu Linh thì tỏ vẻ miễn cưỡng. Vì ông biết dù là diễn kịch hay làm người, Lam Bình đều có cái “tính cách” không chịu kém ai một chút nào nếu bảo bà ta đảm nhận vai B thì chắc chắn bà ta sẽ làm ầm ĩ. Về sau sự thể phát triển đúng như dự đoán của Vu Linh...”

Đúng thế, Lam Bình không chịu nhận vai B! Bà ta vẫn như cũ đòi đóng vai Tái Kim Hoa.

Khi Vương Doanh và Lam Bình còn đang tranh giành nhau thì đột nhiên xảy ra “chính biến”: Kim Sơn và Vương doanh kéo một số người tách khỏi Hiệp hội kịch nghiệp dư tuyến bố “độc lập” thành lập Đoàn kịch Thập kỷ 40 (Tứ thập niên đại kịch xã). Đoàn kịch mới này đã ngầm ký kết hợp đồng với Nhà hát lớn Kim Thành và đến ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại Nhà hát lớn Kim Thành đã công diễn buổi đầu tiên vở “Tái Kim Hoa”.

Mặc dù ngày 15 tháng 11, Lam Bình, Triệu Đan, Trịnh Quân Lý, Đường Nạp v.v... thành viên trong Hiệp hội kịch nghiệp dư đã tiến hành họp báo tại Phòng trà Đại Đông giải thích rõ với báo giới về quá trình tranh chấp vai chính trong vở “Tái Kim hoa”... Nhưng 4 ngày sau, “Đoàn kịch thập kỷ 40” vẫn công diễn “Tái Kim Hoa” như thường. Nhân vật nữ chính do Vương Doanh đóng, nhân vật nam chính là Lý Hồng Chương do Kim Sơn đóng.

Sau khi công diễn “Tái Kim Hoa”, hai mươi buổi diễn liên tục buổi nào cũng chật ních, khán giả đạt tới ba vạn lượt người, làm chấn động Thượng Hải.

Lam Bình đã thất bại trong cuộc tranh chấp đóng nữ nhân vật chính trong “Tái Kim Hoa”. Có điều, khi các báo đăng tin về vụ tranh chấp “Tái Kim Hoa” thì Lam Bình lại trở thành vai chính trong vụ lộn xộn này...

Từ đó Lam Bình căm hận Vương Doanh. Về sau, khi bà ta trở thành “người cầm cờ” trong cách mạng văn hóa, bà ta đã đưa Vương Doanh vào chỗ chết. Đó là chuyện sau.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #45 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 07:19:09 pm »


3. Bây giờ với tư cách là phu nhân của Mao Trạch Đông, Giang Thanh lại chính thức trở lại. Có điều lần này bà ta không phải là một diễn viên mà là người lãnh đạo diễn viên. Bà ta nhậm chức ủy viên “Ban chỉ đạo điện ảnh”

Phu nhân Mao Trạch Đông xét cho cùng cũng chỉ là một loại thân phận, không phải là một loại chức vụ. Sống an nhàn trong thư phòng Cúc Hương, cuối cùng thấy không ổn. Giang Thanh đòi công tác. Tổ chức bàn đi tính lại cuối cùng đã xếp cho Giang Thanh một chức vụ không lớn không bé lại thích hợp với hứng thú của bà ta, đó là Phó Vụ trưởng Vụ Văn nghệ trong Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đây là một chức phó có tính co giãn, bà ta không cần phải đi làm thường xuyên, thậm chí có thể không quản việc gì cả, đeo một cái hàm không có thực, nhưng cuối cùng thì bà ta đã có một chức vụ chính thức trong Đảng. Theo cấp bậc của bà ta thì không thể có xe ô tô riêng. Nhưng dựa vào thân phận phu nhân Mao Trạch Đông nên bà ta có xe con, ra vào thuận tiện.

Bà ta là một người đàn bà không an phận, thấy Mao Trạch Đông trở thành Chủ tịch Đảng và Nhà nước, nên bà ta cũng háo hức muốn làm thử, muốn chấm mút vào chính trị. Thử nghiệm đầu tiên của bà ta là phê phán phim “Thanh cung bí sử” (Lịch sử bí mật trong cung nhà Thanh).

“Thanh cung bí sử” là phim của Công ty phim Vĩnh Hoa, Hương Cảng hoàn thành vào tháng 12 năm 1948, biên kịch Diệu Khắc; đạo diễn Chu Thạch Lân, do Thư Thích đóng vai Hoàng đế Quang Tự, Chu Triền đóng vai Trân Phi, Đường Nhược Thanh đóng vai Tây Thái hậu, Hồng Ba đóng vai Lý Liên Anh. Sau khi phim hoàn thành được công chiếu ở Hương Cảng. Ngày 3 tháng 5 năm 1950, “Thanh cung bí sử” được chiếu ở các thành phố Bắc Kinh, Thượng Hải v.v... Giang Thanh tuy đã bỏ nghề điện ảnh nhiều năm, nhưng vẫn chú ý đến xu hướng của giới điện ảnh, đã từng xem rất nhiều phim trong đó có phim “Thanh cung bí sử”.

Xem xong “Thanh Cung bí sử”, Giang thanh cho rằng, phim này có “nội dung phản động” là một bộ phim “theo chủ nghĩa bán nước”. Giang Thanh kể lại cảm tưởng của mình sau khi xem phim và đã được Mao Trạch Đông ủng hộ.

Thế là, trong một cuộc hội nghị của Ban Tuyên truyền Trung ương, bà Vụ phó Vụ văn nghệ này đã phát biểu ý kiến: “Thanh cung bí sử” là một bộ phim rất xấu, chúng ta phải tiến hành phê phán bộ phim này.

Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương Lục Định Nhất, Phó Trưởng ban Chu Dương, không đồng ý với lời phát biểu của vị Vụ phó Vụ Văn nghệ này. Một vị Phó Trưởng ban khác là Hồ Kiều Mộc còn phát biểu trái ngược với Giang Thanh.

Về Hồ Kiều Mộc, từ năm 1949, đã đảm nhiệm chức thư ký của Mao Trạch Đông và thư ký của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, tiếp xúc nhiều với Mao Trạch Đông. Giang Thanh có thể dùng thân phận phu nhân Mao Thạch Đông để dọa dẫm những người ở bên ngoài tường đỏ (bên trong tường đỏ là Trung Nam Hải nơi ở của các nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc - N.D.) nhưng không thể nào áp chế được những nhân vật có tư cách như Lục Định Nhất, Chu Dương, Hồ Kiều Mộc: Trước đây khi chuyển quân lên Thiểm Bắc, Lục Định Nhất là “Trịnh vị” (Chính ủy), cùng làm việc sớm tối với Mao Trạch Đông, còn Chu Dương thì từ những năm 30 đã là người lãnh đạo của Đảng trong giới Văn hóa Thượng Hải.

Lúc này Giang Thanh có một cảm xúc sâu xa về điều “người bé thì tiếng nhẹ”.

Có điều, bà ta vẫn quan tâm đến điện ảnh. Ngày 11 tháng 7 năm 1950, Bộ Văn hóa ban bố 4 biện pháp tạm thời “Giấy chứng nhận được chiếu phim mới”, “Xuất phim ra nước ngoài”, “Nhập phim của nước ngoài”, và “Thanh lý các phim cũ”, tăng cường quản lý ngành điện ảnh, đồng thời lại thành lập “ủy ban chỉ đạo ngành điện ảnh” để tăng cường lãnh đạo ngành điện ảnh. Ủy viên ủy ban chỉ đạo ngành điện ảnh có Lục Định Nhất, Chu Dương, Hồ Kiều Mộc, Điền Hán, Tưởng Nam Tường, Đinh Linh, Đặng Thác, Dương Hàn Sênh v.v... Giang Thanh cũng được cử làm ủy viên. Ngoài ra hôm ấy còn thành lập ủy ban cải tiến hí khúc thuộc Bộ Văn hóa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #46 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 07:31:28 pm »


4. Việc phê phán “Thanh cung bí sử” không được như ý muốn. Giang Thanh không cam chịu, chưa bao giờ bà ta chịu thua ai. Bà ta nhằm vào “Vũ Huấn truyện” cuối cùng đã lộ ra một “phong cảnh vô hạn” cho bà ta.

Vũ Huấn, nguyên có tên là Vũ Thất, là người Đường Ấp (nay là Liêu Thành Tây), tỉnh Sơn Đông vào cuối thời Thanh, nổi tiếng vì “đi xin ăn để học thành tài”, được triều đình nhà Thanh khen thưởng, phong làm “nghĩa học chính”. Đào Hành Tri rất tán thưởng tinh thần của Vũ Huấn. Mùa hè năm 1944, Đào Hành Tri đã gặp nhà biên kịch kiêm đạo diễn Tôn Du ở Trùng Khánh đã tặng cho Tôn Du một cuốn “Truyện tranh Vũ Huấn” và đề nghị ông dựng phim “Truyện Vũ Huấn”.

Cách mấy năm, vào năm 1947, khi Tôn Du từ Mỹ về nước đúng lúc xưởng phim Trung Quốc ở Nam Kinh bắt tay chuẩn bị dựng phim chống cộng “Dẹp loạn”. Dương Hàn Sênh người lãnh đạo giới văn nghệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc đang hoạt động bí mật biết Tôn Du có hứng thú với Vũ Huấn, nên đã đề nghị với ông viết thành kịch bản “Truyện Vũ Huấn” để xưởng phim Trung Quốc dựng phim, nhằm chống lại bộ phim “Dẹp loạn”. Vậy là Tôn Du đã viết ra “Truyện Vũ Huấn”, đến năm 1948, xưởng phim Trung Quốc khởi quay. Triệu Đan đóng vai Vũ Huấn.

Tháng 11 năm 1948, chiến dịch Hoài Hải đang nổ ra dữ dội, Nam Kinh đang ở trong tình trạng nguy cấp. Kinh phí của xưởng phim Trung Quốc có khó khăn nên phải ngừng quay “Truyện Vũ Huấn”. Tháng 2 năm 1949, Công ty điện ảnh Côn Luân Thượng Hải, đã mua lại quyền quay phim “Truyện Vũ Huấn”. Trải qua một thời gian trắc trở, đến tháng 12 năm 1950 mới hoàn thành và được công chiếu vào đầu năm 1951.

Một bộ phim phải trải qua ba năm, bắt đầu quay từ thời Quốc dân Đảng đến thời Đảng Cộng sản mới hoàn thành. Để làm cho bộ phim sát hợp với tình hình mới, ở đầu và cuối phim đã thêm vào lời bạch của một nữ giáo sư:

“Ngày nay, chúng ta đã giải phóng, chính phủ của chúng ta đã tạo cơ hội cho người nghèo được hưởng đầy đủ sự giáo dục những người đã vươn mình, không thể làm người mù sáng mắt nữa. Hôm nay chúng ta kỷ niệm Vũ Huấn, chúng ta phải tổ chức các trường mùa đông ở nông thôn của chúng ta, xóa nạn mù chữ, nâng cao văn hóa”.

“Đông đảo quần chúng lao khổ Trung quốc, trải qua cuộc đấu tranh gian khổ đẫm máu mấy ngàn năm mới được sự tổ chức của Đảng Cộng sản, nhân dân dưới sự lãnh đạo đúng đắn của chính đảng vô sản, mới đánh đổ được chính quyền của đế quốc và Quốc dân Đảng, giành giải phóng! Chúng ta kỷ niệm Vũ Huấn phải ra sức học tập văn hóa để đón cao trào xây dựng văn hóa!”

Biên đạo đã cố hết sức đem một tác phẩm được sáng tác trong thời đại cũ có cấu tứ như vậy để thích ứng với đòi hỏi của thời đại mới, dụng ý quả là tốt đẹp.

Sau khi phim được công chiếu, ba tháng đầu, “Truyện Vũ Huấn” được khen ngợi, các báo tới tấp đăng bài đánh giá bộ phim rất tốt. Tạp chí “Điện ảnh đại chúng” đã xếp “Truyện Vũ Huấn” là một trong mười phim trong nước hay nhất của năm 1950.

Với tư cách là ủy viên Ban chỉ đạo điện ảnh, Giang Thanh đã xem “Truyện Vũ Huấn”. Hình như nhiều người đang say còn bà ta thì tỉnh, bà ta đã nhìn ra trong “Truyện Vũ Huấn” đang tồn tại “vấn đề nghiêm trọng”.

Bà ta lại một lần nữa tiết lộ cho Mao Trạch Đông biết.

Mao Trạch Đông đã xem “Truyện Vũ Huấn” và cho rằng đây là một bộ phim tuyên truyền cho chủ nghĩa cải lương tư sản, phải tiến hành phê phán!

Giống hệt như lần trước, Giang Thanh chỉ nói lại ý kiến của Mao Trạch Đông nhưng chẳng hề nói đấy là ý kiến của ai.

Chu Dương vẫn không đồng ý, cho rằng một lần nữa Giang Thanh lại kiếm chuyện vạch lá tìm sâu, chọi lại một câu: “Có chút cải lương thì có gì ghê gớm đâu cơ chứ!”

Tình thế năm 1951 đã khác năm 1950, năm 1951 giới văn nghệ đã bước ra từ sự lộn xộn của năm đầu dựng nước, bắt đầu công tác phê phán:

Ngày 10 tháng 1 năm 1951, tờ “Văn nghệ báo” đăng bài phê phán ba tác phẩm: “Tên lửa căm phẫn”, “Đại phu lừa”, “Kẻ địch không cầm súng”.

Ngày 10 tháng 2, tờ “Văn nghệ báo” đăng bài viết của Trần Xí Hà, phê phán cuốn truyện dài “Sức mạnh của chúng ta là vô địch” của Bích Dã.

Tháng 4, các báo triển khai phê bình phim “Vinh dự thuộc về ai”. Thế là việc phê phán phim “Truyện Vũ Huấn” cũng được đặt lên bàn.

Ngày 25 tháng 4, tờ “Văn nghệ báo” đăng bài phê bình phim “Truyện Vũ Huấn” của Giả Tế có tựa đề “Vũ Huấn không thể làm chuẩn mực được” nổ phát súng đầu tiên trong việc phê phán “Truyện Vũ Huấn”.

Ngày 16 tháng 5, tờ “Văn nghệ báo” đăng bài “Thử bàn về việc Đào Hành Tri biểu dương “tinh thần Vũ Huấn” có hay không có tác dụng tích cực” của Dương Nhĩ, dí ngọn lửa phê phán lên đầu Đào Hành Tri. Bài viết trên tờ “Văn nghệ báo” cùng ngày đã có thêm lời tòa soạn, kêu gọi mọi người đi sâu thảo luận bộ phim này. Điều đó có nghĩa là báo của cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã để ý đến phim “Truyện Vũ Huấn”.

Sau bốn ngày, tức ngày 20 tháng 5, tình hình khác thường đã xảy ra, “Nhân dân nhật báo” đã đăng trên trang nhất bài xã luận có tựa đề nổi bật: “Cần coi trọng cuộc thảo luận phim “Truyện Vũ Huấn””. “Nhân dân nhật báo” phải công bố bài xã luận để phê phán một bộ phim là lần đầu tiên.

Ngôn từ của xã luận gay gắt, hành văn như nước trút từ trên cao xuống, có thể nhận ra đây không phải là ngòi bút tầm thường. Cách 26 năm sau, khi “Mao Trạch Đông tuyển tập” Tập 5 được xuất bản năm 1975 mọi người thấy bài xã luận này được in trong đó, mới biết bài này ra đời từ Thư phòng Cúc Hương.

Xã luận chỉ rõ, phim “Truyện Vũ Huấn” tuyên truyền một cách cuồng nhiệt văn hóa phong kiến, nói xấu cuộc đấu tranh cách mạng của nông dân, nói xấu lịch sử Trung Quốc. Sau khi phê phán “Truyện Vũ Huấn” ngòi bút chuyển hướng, nói một hồi về tính toàn cục, phê phán gay gắt những người lãnh đạo trong giới văn nghệ:

Sự xuất hiện của phim “Truyện Vũ Huấn” đặc biệt là sự ca tụng Vũ Huấn và phim “Truyện Vũ Huấn” nhiều đến như vậy nói lên sự hỗn loạn tư tưởng của giới văn hóa nước ta đã đến mức như thế nào!

Theo rất nhiều tác giả thì sự phát triển của lịch sử không phải là lấy sự vật mới thay thế sự vật cũ, mà là dùng mọi cố gắng để bảo vệ sự vật cũ, làm cho nó khỏi chết, không phải là dùng đấu tranh giai cấp để lật đổ bọn thống trị phong kiến phản động cần phải lật đổ mà là phủ đingj đấu tranh giai cấp của nhân dân bị áp bức như Vũ Huấn, đầu hàng bọn thống trị phong kiến phản động…

Điều đáng đặc biệt chú ý là một số đảng viên cộng sản được coi là đã học được chủ nghĩa Mác. Họ học được lịch sử phát triển xã hội – thuyết duy vật lịch sử, nhưng vừa gặp phải những sự kiện lịch sử cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể (như Vũ Huấn), tư tưởng phản lịch sử cụ thể (như phim “Truyện Vũ Huấn”, và những trước tác về Vũ Huấn) thì lại mất năng lực phê phán, có một số người đã đầu hàng tư tưởng phản động này. Tư tưởng phản động tư sản đã xâm nhập vào Đảng Cộng sản chiến đấu lẽ nào đó không phải là sự thực? Chủ nghĩa mà một số đảng viên cộng sản tự cho là mình đã học được đã chạy đi đâu mất cả rồi?


Bài xã luận đã xoay chuyển trời đất, trở thành phong trào phê phán có quy mô lớn đầu tiên trong giới văn học sau giải phóng trên toàn quốc. Ban biên tập “Điện ảnh đại chúng” vốn đã khen “Truyện Vũ Huấn” như Đới Bạch Thao, Mai Đóa v.v... tới tấp đăng báo kiểm thảo công khai.

Ngay cả Quách Mạt Nhược cũng dính vào, vì ông đã từng đề chữ và viết lời tựa cho “Truyện tranh Vũ Huấn”, trên tờ “Nhân dân nhật báo” ông đã công bố bài viết có tựa đề “Tự kiểm tra mình khi liên hệ đến việc phê phán Vũ Huấn”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #47 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 07:32:43 pm »


Biên đạo Tôn Du, diễn viên chính Triệu Đan trong phim “Truyện Vũ Huấn”, đương nhiên trở thành “nhân vật trọng điểm” liên tục phải kiểm thảo. Công ty phim Côn Luân gọi điện đi các nơi, ngừng chiếu phim “Truyện Vũ Huấn”. Bộ Văn hóa, Bộ Giáo dục, Thành ủy Thượng Hải, tới tấp ra thông tri kêu gọi phê phán “Truyện Vũ Huấn”.

Ngày 26 tháng 8, trên tờ “Nhân dân nhật báo”, Hạ Diễn cũng đăng bản kiểm điểm tựa đề: “Từ việc phê phán “Truyện Vũ Huấn”, kiểm tra lại công tác của tôi trong giới văn học nghệ thuật Thượng Hải”.

Trong cao trào phê phán, Giang Thanh đã làm một việc rất đắc ý. Đó là vào tháng 6 năm 1951, Tòa soạn “Nhân dân nhật báo” và Bộ Văn hóa tổ chức một “đoàn điều tra lịch sử Vũ Huấn” đến quê hương của Vũ Huấn ở Sơn Đông tiến hành điều tra thực địa. Đoàn điều tra gồm 13 người, Giang Thanh tham gia đoàn với cái tên “Lý Tiến”.

13 người này là: Viên Thủy Bách (Nhân dân nhật báo), Chung Điếm Bùi, Lý Tiến (Bộ Văn hóa), Phùng Nghị Chi (Ban Tuyên truyền phân cục Sơn Đông thuộc Trung ương Đảng), Vũ Quang, Dương Cận Nhân (Ban Tuyên truyền tỉnh ủy Bình Nguyên Đảng Cộng sản.), Tư Lạc Lộ (Phòng Tuyên truyền khu ủy Liễu Thành), Đoàn Tuấn Khanh, Triệu An Bang (Huyện ủy Đường Ấp), Triệu Quốc Bích (Phòng Tuyên truyền Đảng ủy thị trấn Lâm Thanh), Hàn Ba (Phòng Tuyên truyền Huyện ủy Lâm Thanh).

Đoàn điều tra đã tiến hành điều tra ở các huyện Đường Ấp, Lâm Thanh, Quản Đào v. v... thuộc tỉnh Sơn Đông trong 20 ngày... Địa phương biết ý đồ của Đoàn điều tra và cũng nghe nói thân phận đặc biệt của Lý Tiến và theo yêu cầu của những người điều tra cung cấp các loại tài liệu.

Sau khi đoàn điều tra trở về Bắc Kinh, ba người gồm Viên Thủy Bách, Chung Điếm Bùi và Lý Tiến đã chấp bút viết bài: “Ghi chép điều tra lịch sử Vũ Huấn” cuối cùng đã được Mao Trạch Đông đọc duyệt sửa chữa, tờ “Nhân dân nhật báo” đăng liền từ ngày 23 đến ngày 28 tháng 7 năm 1951 sau đó được in thành sách.

“Ghi chép điều tra” đã viết: “Vũ Huấn là một kẻ xuất thân lưu manh rồi làm nên, tuân theo ý chí của bọn thống trị phong kiến phản động, lấy việc “học hành” để làm bậc thang tiến thân, phản bội lại chính giai cấp của ông ta, leo lên địa vị giai cấp thống trị trở thành kẻ bóc lột phong kiến.

“Ghi chép điều tra” hoàn toàn phủ nhận con người Vũ Huấn, và cũng trên căn bản phủ định phim “Truyện Vũ Huấn”.

Công bằng mà nói, phim “Truyện Vũ Huấn” đã dựng và quay một cách gian nan vất vả trong những năm tháng có những biến động lớn, ngay bản thân bộ phim cũng có sự sơ sài qua loa cũng tồn tại rất nhiều thiếu sót rõ ràng. Nhưng Tôn Du, Triệu Đan đều là những người làm công tác điện ảnh cánh tả có dụng ý tốt. Nếu suy xét tới nguyên nhân lịch sử của phim thì không nên ra roi một cách thô bạo đối với bộ phim như thế. Sự phê phán này trên thực tế là sự xuất đầu lộ diện đầu tiên của trào lưu tư tưởng “tả”, sau này ngày càng phát triển cho đến cách mạng văn hóa thì bành trướng thành ác tính.

Năm 1985, khi cuộc “Tọa đàm nghiên cứu Đào Hành Tri” và “Quỹ Đào Hành Tri” được thành lập, Hồ Kiều Mộc đã phát biểu ý kiến trong bài nói: từ Đào Hành Tri đã đề cập tới việc phê phán “Truyện Vũ Huấn”, những ý kiến này của Hồ Kiều Mộc đã phản ánh thái độ phủ định của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ sau Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa 11, đối với việc phê phán “Truyện Vũ Huấn” trước đây:

Năm 1951, đã từng xảy ra một cuộc phê phán mà khi bắt đầu không liên quan nhưng sau lại liên quan đến ông Đào, về phim “Truyện Vũ Huấn”. Phạm vi mà cuộc phê phán này đề cập đến khá rộng. Ở đây hôm nay, chúng ta không thảo luận về sự đánh giá toàn diện đối với bản thân Vũ Huấn cũng như phim “Truyện Vũ Huấn” việc này cần được các nhà sử học, các nhà giáo dục học và các nhà nghệ thuật điện ảnh thảo luận tự do và không có bất cứ thành kiến nào mới giải quyết được. Nhưng tôi có thể nói một cách có trách nhiệm rằng, cuộc phê phán lúc bấy giờ là vô cùng phiến diện, vô cùng cực đoan cũng có thể nói là vô cùng thô bạo. Vì thế, mặc dù cuộc phê phán này có nguyên nhân lịch sử đặc biệt, nhưng do phương pháp mà cuộc phê phán này sử dụng, chúng ta không những không thể nói là nó hoàn toàn chính xác, thậm chí cũng không thể nói là cơ bản chính xác. Mới đầu cuộc phê phán này đề cập đến biên đạo và diễn viên của bộ phim này như đồng chí Tôn Du, đồng chí Triệu Đan v.v…; họ đều là những nhà nghệ thuật tiến bộ công tác lâu dài dưới ảnh hưởng của Đảng, việc phê phán đối với họ phải nói là hoàn toàn sai lầm. Họ quyết định và tiến hành quay bộ phim này là do sự ủng hộ của Đảng và giới văn hóa tiến bộ. Nếu quyết định này không thỏa đáng thì trách nhiệm cũng không thuộc hai vị này cũng như những người tham gia khác. Nội dung bộ phim này không thể nói là không có sai lầm và khuyết điểm, nhưng những tội danh gán cho bộ phim này về sau lại thổi phồng quá đáng tới mức làm cho người ta không sao tin nổi. Bắt đầu từ việc phê phán bộ phim này, về sau phát triển tới phê phán tất cả những người đã bày tỏ sự khẳng định ở những mức độ khác nhau đối với nhân vật Vũ Huấn, cũng bao gồm các tác phẩm tranh liên hoàn, điều đó đã làm cho những sai lầm vốn có mở rộng ra rất nhiều. Phương pháp phê phán sai lầm này, sau này vẫn tiếp tục trong thời gian rất dài, cho mãi đến Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa 11 mới được sửa chữa.

Giang Thanh rất đắc ý, với việc phê phán phim “Truyện Vũ Huấn”, “đỉnh núi kỳ lạ” khuất kín trong mây mù, cuối cùng đã tình cờ lộ ra. Bà ta mượn quyền uy của Mao Trạch Đông phút chốc làm cho Chu Dương, Hạ Diễn là cấp trên của bà ta trước kia phải nhốn nháo kiểm thảo, làm cho Đào Hành Tri đã tìm viết thơ cho Đường Nạp đang ngủ dài dưới đất cũng không được yên và Triệu Đan cũng phải nếm cái mùi lợi hại của bà ta. Bà ta tham gia Đoàn điều tra lịch sử Vũ Huấn và trên thực tế trở thành người lãnh đạo của Đoàn điều tra này. Bà ta bắt đầu thập thò vượt qua những điều cấm của “Quy chế ba chương”, thử can dự vào chính trị.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #48 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 07:33:59 pm »


5. Trong thời kỳ mà Giang Thanh xuất đầu lộ diện hết lần này đến lần khác thì từ tháng 2 năm 1952, cái “đỉnh núi kỳ lạ” trên sông (Giang - N.D.) bỗng nhiên lại chìm trong đám mây mù!

Sau khi phê phán “Truyện Vũ Huấn” và sau hơn hai năm nghỉ dưỡng cái bệnh cỏn con, Giang Thanh lại một lần nữa xuất hiện...

Bà ta bắt đầu tiến quân vào việc nghiên cứu “Hồng Lâu mộng” của Du Bình Bá.

Du Bình Bá là một nhân sĩ có thẩm quyền nghiên cứu “Hồng Lâu mộng” của Trung Quốc, Giáo sư trường Đại học Bắc Kinh.

Hai “nhân vật nhỏ” đã đọc bài “Lược bàn về Hồng Lâu mộng” của Du Bình Bá đã không đồng ý với ý kiến của Du Bình Bá! Họ đã viết bài phê bình.

Hai “nhân vật nhỏ” ấy là Lý Hy Phàm và Lam Linh.

Tiểu thuyết mà Giang Thanh đã đọc không nhiều nhưng “Hồng Lâu mộng” thì lại đọc mấy lần.

Giang Thanh rất hứng thú khi đọc bài viết của Lý Hy Phàm và Lam Linh, rất tán thưởng bài viết này. Bà ta đem bài viết giới thiệu với Mao Trạch Đông. Sau khi đọc xong, Mao Trạch Đông cũng cho rằng bài viết hay, ông đề nghị “Nhân dân nhật báo” đăng lại. Có điều, Mao Trạch Đông cho rằng mình trực tiếp ra chỉ thị cho “Nhân dân nhật báo”, yêu cầu họ đăng lại thì có vẻ trịnh trọng quá, nên ông đã giao cho Giang Thanh, chuyển lời ông đến “Nhân dân nhật báo”.

Chu Dương cho rằng “Nhân dân nhật báo” đăng lại bài này là không thích hợp nên đã đề nghị tờ “Văn nghệ nhật báo” đăng lại. Ngày 16 tháng 10, một bức thư của Mao Trạch Đông đã làm chấn động giới trí thức Trung Quốc. Hôm ấy, Mao Trạch Đông đã viết cho Bộ Chính trị Trung ương Đảng và các nhân sĩ có liên quan khác. Bức thư này về sau được in trong “Mao Trạch Đông tuyển tập”, tập 5.

Phụ vào hai bài văn phản bác Du Bình Bá, (Người dẫn chú) trừ tạp chí “Văn, Sử, Triết” số tháng 9 đăng bài “về bài viết (Lược bàn về Hồng Lâu mộng) và các bài khác” ra, “Quang minh nhật báo”số ra ngày 10 tháng 10 lại đăng bài “Bình sách “Nghiên cứu Hồng Lâu mộng”“ của họ, xin mời đọc. Đây là cuộc nổ súng thật sự đầu tiên vào cái gọi là những quan điểm sai lầm của nhà văn quyền uy nghiên cứu Hồng Lâu mộng từ hơn ba mươi năm qua đến nay. Tác giả là hai đoàn viên thanh niên. Mới đầu họ viết thư cho “Văn nghệ báo”, xin hỏi là có thể phê bình Du Bình Bá hay không, nhưng họ phớt lờ. Bất đắc dĩ họ đã phải viết thư về trường cũ của họ - các thầy giáo ở trường Đại học Sơn Đông và họ đã nhận được sự ủng hộ, trên tạp chí “Văn, Sử, Triết” của Trường đã đăng bài viết của họ: “Bác (Lược bàn về Hồng Lâu mộng)”. Vấn đề lại quay về Bắc Kinh, có người yêu cầu đăng lại bài này trên “Nhân dân nhật báo” để mong đưa tới một cuộc tranh luận, triển khai phê bình, lại bị một số người lấy nhiều lí do (chủ yếu là “bài viết của nhân vật bé”, “báo Đảng không phải là nơi tranh luận tự do”) để phản đối nên không thể thực hiện; Kết quả là đã đi tới một sự thỏa hiệp, bài viết này được đăng lại trên “Văn nghệ báo”. Tiếp sau đó trên chuyên mục “Di sản văn học” của “Quang minh nhật báo” đăng lại bài viết của hai thanh niên này: “Bác “Lược bàn về Hồng Lâu mộng” của Du Bình Bá”. Xem ra cuộc đấu tranh chống luận điểm duy tâm tư sản của phái Hồ Thích đã đầu độc thanh niên hơn 30 năm qua trong lĩnh vực văn học cổ điển, có lẽ có thể triển khai được rồi. Sự việc là do hai “nhân vật bé” làm ra, còn “nhân vật lớn” thì thường không chú ý, đồng thời thường ngăn cản, họ cùng các nhà văn tư sản luôn nói tới một mặt trận thống nhất, trên phương diện thuyết duy tâm, cam tâm làm tù binh cho giai cấp tư sản. Đây gần giống như tình hình lúc chiếu phim “Thanh cung bí sử” và “Truyện Vũ Huấn”. “Thanh cung bí sử” được người ta gọi là bộ phim yêu nước nhưng thực tế lại là bộ phim bán nước. Sau khi chiếu trong cả nước đến nay vẫn chưa bị phê phán. “Truyện Vũ Huấn” tuy đã bị phê phán, nhưng đến nay vẫn chưa rút ra bài học lại xuất hiện chuyện kì lạ khoan dung thuyết duy tâm của Du Bá Bình và ngăn cản bài phê bình rất có sinh khí của “nhân vật bé”, đó là điều đáng để chúng ta chú ý.

Những phần tử trí thức tư sản như Du Bá Bình, tất nhiên nên dùng thái độ đoàn kết, nhưng phải phê phán tư tưởng sai lầm đầu độc thanh niên của họ, không nên đầu hàng họ.


Thư của Mao Trạch Đông, với thế sấm vang chớp giật, giáng một cú đấm vào Chu Dương và một số người.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #49 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 07:34:23 pm »


Cách một ngày sau, ngày 18 tháng 10, Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng và Đảng đoàn Hiệp hội Nhà văn Trung quốc đã họp Hội nghị quán triệt chỉ thị của Mao Trạch Đông.

Ngày 28 tháng 10, “Nhân đân nhật báo” đăng bài “Chất vấn tòa soạn “Văn nghệ báo” nghiêm khắc phê bình “Văn nghệ báo”.

Tiếp đó Đoàn Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Trung Quốc và Đoàn Chủ tịch Hội Liên hiệp nhà văn Trung Quốc triệu tập Hội nghị liên tịch mở rộng lên thứ 8 để quán triệt chỉ thị của Mao Trạch Đông.

Thế là, trong phạm vi cả nước, đã dấy lên phong trào phê phán cuốn sách “Nghiên cứu Hồng Lâu mộng” của Du Bình Bá.

Từ Du Bình Bá lại dính líu tới Hồ Thích, cả nước lại triển khai phê phán tư tưởng Hồ Thích.

Bức thư của Mao Trạch Đông, bày tỏ sự ủng hộ đối với tình thần khiêu chiến của “nhân vật bé”, bày tỏ sự đồng tình với việc có thể triển khai thảo luận với những kiến giải quyền uy trong học thuật, điều này có ý nghĩa tích cực nhưng đối với ý kiến học thuật của “nhân vật lớn” và “nhân vật bé” ông lại ra quyết định thì rõ ràng là không thỏa đáng. Đặc biệt lúc này đã hình thành việc ngả về một phía, phủ định hoàn toàn đối với Du Bình Bá và chụp lên cái mũ lớn mang tính chất chính trị, trên thực tế là một khuynh hướng “tả”.

Sau Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa 11, vào tháng 1 năm 1986, nhân kỷ niệm 65 nãm mừng Du Bình Bá tham gia hoạt động học thuật với sự có mạt của Hồ Thằng Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Trung Quốc, ông đã phát biểu ý kiến, đánh giá lại cuộc phê phán năm 1954.

Hồ Thằng nêu rõ:

“Từ đầu những năm 20, ông Du Bình Bá đã bắt đầu nghiên cứu “Hồng Lâu mộng”. Nghiên cứu của ông trong lĩnh vực này có ý nghĩa mở đường. Về phương pháp và quan điểm nghiên cứu của ông, các nhà nghiên cứu đã nêu ra những ý kiến hoặc phê bình khác nhau vốn là chuyện bình thường. Nhưng nửa cuối năm 1954, vì việc nghiên cứu “Hồng Lâu mộng” mà bao vây công kích mang tính chất chính trị đối với ông là không đúng đắn. Cách làm này không phù hợp với phương châm song bách (trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng – ND) của Đảng đối với học thuật và nghệ thuật. “Hồng Lâu mộng” có bao nhiêu phần mang tính truyện ký, đánh giá ra sao bốn mươi hồi cuối do Cao Ngạc viết tiếp, đánh giá như thế nào về nghệ thuật của “Hồng Lâu mộng”, những cái đó đều là vấn đề thuộc lĩnh vực học thuật. Những vấn đề này chỉ có thể do giới học thuật tự do thảo luận. Hiến pháp nước ta bảo vệ rất nghiêm quyền tự do này. Đảng ta kiên trì 4 nguyên tắc. Dựa vào nguyên tắc chuyên chính dân chủ nhân dân trong bố nguyên tắc, đối với vấn đề học thuật thuộc phạm vi dân chủ nhân dân, Đảng không cần và cũng không nên đưa ra bất cứ một sự “quyết đinh”nào. Cách làm của năm 1954 vừa làm tổn thương đến ông Du Bình Bá về mặt tinh thần, vừa không có lợi cho sự phát triển của học thuật và nghệ thuật”.

Việc phê phán sách “Nghiên cứu Hồng Lâu mộng” của Du Bình Bá vào năm 1954, người khơi mào trước nhất chính là Giang Thanh. Việc phê phán đối với phim “Thanh cung bí sử” và “Truyện Vũ Huấn” người khơi mào trước nhất cũng chính là Giang Thanh. Ba lần đọ sức giữa Giang Thanh với Chu Dương và những người khác “con át chủ bài” mà bà ta dùng để đánh thắng kẻ thù chính là mượn uy quyền của Mao Trạch Đông.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM