Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 05:35:10 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng Văn hoá liệt truyện - Tập 1  (Đọc 74140 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #50 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 07:40:31 pm »


6. Ba lần đọ sức là sự thử nghiệm việc bà ta tham gia chính trị ở Trung Quốc. Bà ta đều đắc thắng hồi triều! Trong thư của Mao Trạch Đông, quay trở lại phê phán phim “Thanh cung bí sử” và “Truyện Vũ Huấn”, điều này đã làm cho Chu Dương hiểu ra rằng không thể coi thường Giang Thanh!

Ngày 9 tháng 9 năm 1961, Mao Trạch Đông đề thơ lên bức ảnh Động Tiên Nhân do Giang Thanh chụp ở Lư Sơn:

Bảng lảng chiều hôm ngắm bóng tùng,
Mây trôi cuồn cuộn vẫn ung dung,
Trời sinh có một Tiên Nhân động,
Núi cao phong cảnh rộng vô cùng.


(Mộ sắc thương mang khán kình tùng, Loạn vân phi độ nhưng thung dung, Thiên sinh nhất cá Tiên Nhân động, vô hạn phong quang tại hiểm phong)

Bài thơ này được công bố công khai vào năm 1963. Giang 'Thanh đã lấy nó làm vốn chính trị, để tô son trát phấn ra sân khấu.

Ngày 29 tháng 9 năm 1962, bức ảnh cỡ lớn của Mao Trạch Đông, Giang Thanh và Xu-nô phu nhân được in trên đầu trang nhất tờ “Nhân dân nhật báo”. Bức ảnh này đã làm người Trung Quốc sửng sốt, vì từ khi thành lập nước đến nay ảnh chụp chung của Mao Trạch Đông và Giang Thanh chưa bao giờ được công bố chính thức. Giang Thanh bắt tay vào cuộc cải cách hí kịch từ năm 1962. Bà ta cho rằng cần phải cải tạo nghệ thuật biểu diễn, làm cho nó thích ứng với yêu cầu của hình thái ý thức xã hội chủ nghĩa. Từ trong lòng, Giang Thanh thích khẩu hiệu “hoặc làm cho nó đổi đời, hoặc cấm chỉ nó”. Bà ta cho rằng, nội dung kịch truyền thống Trung Quốc nên trở thành quá khứ, từ những năm 20 đến nay, hí khúc truyền thống đã từng trải qua một thời kỳ phát triển rực rỡ, nhưng những lúc khác thì đều do “đế vương khanh tướng, tài tử giai nhân” thống trị; đối với nhân dân Trung Quốc chẳng có ích lợi gì, chí ít cũng chẳng có giá trị chính trị gì đáng nói đối với chính quyền hiện thời.

Tháng 9 năm 1962, Giang Thanh hẹn gặp bốn vị Phó ban và Thứ trưởng của Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng và Bộ Văn hóa, “chỉ ra vấn đề nghiêm trọng trên sân khấu và trên màn ảnh bọn đế vương khanh tướng, tài tử giai nhân và đầu trâu mặt ngựa đã xuất hiện tràn lan thành tai hoạ”. Các vị này đã không hề để ý đến sự “cảnh cáo” của bà ta. Lúc này, bà ta nghe được khẩu hiệu mới “viết hoa 13 năm” do Kha Khánh Thi ở Thượng Hải đưa ra, với bà ta đã không hẹn mà nên. Thế là bà ta xuống phía Nam, gặp gỡ Kha Khánh Thi và Trương Xuân Kiều. Thượng Hải có Bí thư Thành ủy kiêm Thị trưởng như Kha Khánh Thi, có mưu sĩ như Trương Xuân Kiều, có cái gậy như Diêu Văn Nguyên, bà ta đã có được sự ủng hộ. Nên, bài phê phán đầu tiên mà bà ta tổ chức đã được đăng một cách thành công ở Thượng Hải. Bà ta cảm thấy, Thượng Hải có thể trở thành “căn cứ” của bà ta.

Tháng 2 năm 1963, bà ta chỉ thị cho viện Kinh kịch Trung Quốc cải biên “Chiếc đèn đỏ”. Mùa thu năm ấy, Giang Thanh lại đem món hàng Thượng Hải – “Hộ(*) kịch” - “Ngòi lửa trên bãi lau”, giới thiệu với Đoàn 1 Viện Kinh kịch Bắc Kinh để cải biên thành Kinh kịch “Sa Gia Bang”. Tháng 1 năm 1964, Giang Thanh đã chỉ đạo Viện Kinh kịch Thượng Hải dựng vở “Dùng mưu chiếm Uy Hổ Sơn”. Mùa đông năm 1964, cải biên vở Kinh kịch “Buổi sớm trên hải cảng”.

Giang Thanh đã vô tình coi hí kịch là hình thức giải trí, bà ta biết cái bà ta đang tiến hành là hoạt động chính trị mà không phải là hoạt động nghệ thuật. Giang Thanh cho mỗi một diễn viên tham gia dàn dựng một tập “Mao Trạch Đông tuyển tập” do tác giả tự tay ký tên, phát sách cho mọi người như tên trùm băng đảng phát súng cho bọn thủ hạ, gào lên bằng cái giọng the thé: “Các đồng chí chớ cho rằng tôi chỉ là người chào hàng cho môn kịch mới, tôi đến để chiến đấu với chủ nghĩa phong kiến, với chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xét lại!”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #51 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 07:40:53 pm »


Mùa hè năm 1964, Hội diễn Kinh kịch hiện đại đã mở màn trong bầu không khí chính trị ngột ngạt. Giang Thanh đã phát biểu trong Hội diễn, đây là lần nói chuyện quan trọng đầu tiên trong đời bà ta trước công chúng.

Lưu Thiếu Kỳ khi nói về những vở kịch mới của Giang Thanh đã nói bà ta là: “Quả dưa chưa chín đã hái”. Bành Chân phê bình những vở kịch này là: “Mặc quần hở đũng lên sân khấu”.

Từ kinh kịch, Giang Thanh lại chuyển sang vũ kịch, cải biên “Hồng sắc nương tử quân” và “Bạch mao nữ” thành vũ kịch, Giang Thanh đã thêm vào chủ đề của “Hồng sắc nương tử quân” một đoạn kết gần như là một sự sùng bái ca ngợi Mao Trạch Đông. Còn “Bạch mao nữ” sau khi Giang Thanh rút bớt những chi tiết biểu lộ tình yêu và thêm vào đó là sự hận thù giai cấp, cũng đã trở thành vở kịch mẫu.

Mùa đông năm 1965, một hôm Giang Thanh đột ngột đến thăm Đoàn Nhạc giao hưởng, đồng thời tuyên bố: “Nhạc giao hưởng của chủ nghĩa tư bản không có sức sống! Cần phải gạt bỏ những khuôn mẫu cũ”. Giang Thanh ra sức biện bạch và hai bản mẫu âm nhạc “Hoàng Hà hiệp tấu khúc” và “Giao hưởng âm nhạc Sa Gia Bang” của bà ta ra đời. Âm nhạc sẽ phục vụ cách mạng”, phục vụ đời sống chính trị của Giang Thanh.

Giang Thanh với sự cải cách Kinh kịch, múa ba-lê và nhạc giao hưởng đã được bọn bồi bút trong giới báo chí bình luận: “Những cải cách ấy là do tự tay đồng chí Giang Thanh vun đắp nên, là một chuỗi hạt trân châu lóng lánh trong nền văn học nghệ thuật của giai cấp vô sản, tỏa ánh sáng rực rỡ của tư tưởng Mao Trạch Đông”.

Giữa những năm 60, Giang Thanh rất gặp may, bà ta đã trở thành đại biểu Quốc hội Trung Quốc. Bà ta bắt đầu tham gia các hội nghị quan trọng, thậm chí có thể tham gia Hội nghị Trung ương Đảng.

Năm 1966 là một năm đắc ý nhất trên đường đời của Giang Thanh. Năm ấy bà ta có chức vị trong quân đội, càng làm cho bà ta có lý do tự quảng cáo mình là chiến sĩ. Bà ta sắp trở thành “người cầm cờ” của đại quân trên mặt trận văn nghệ. Những sự việc đó đã làm cho Giang Thanh bước vào con đường đi tới quyền lực chính trị. Giang Thanh mưu tính có địa vị lãnh đạo trong quân đội, người đáng để bà ta “cảm ơn” là Lâm Bưu. Giang Thanh người đã cãi nhau khắp thiên hạ nhưng chưa bao giờ giở mặt với Lâm Bưu, cho đến trước khi con người này chết vì rơi máy bay ở nước khác. Nguyên nhân là “Phó Chủ tịch Lâm ủng hộ tôi”.

Lâm Bưu nhờ bà ta triệu tập cuộc hội thảo văn nghệ của bộ đội. Trong cuộc hội thảo này Lâm Bưu “ca ngợi” Giang Thanh: “Về phương diện văn học nghệ thuật cảm quan chính trị của đồng chí ấy rất mạnh”, “Từ nay về sau các văn kiện về mặt văn nghệ của bộ đội đều phải đưa để đồng chí ấy xem”. Sau đó, Lâm Bưu chính thức tâng bốc Giang Thanh: là đại biểu kiệt xuất ít có trong các nữ đồng chí trong Đảng ta, đồng chí ấy có nhiều cống hiến quan trọng; nhưng chưa được mọi người biết đến, trong cuộc đại cách mạng văn hóa này tài hoa của đồng chí ấy đã lộ rõ. Lâm Bưu đã nâng cấp bậc hành chính của Giang Thanh từ bậc 9 lên bậc 5. Trong một cuộc Hội nghị Quân ủy mở rộng, Lâm Bưu mời Giang Thanh lên bục, đặt toàn bộ tướng soái uy danh hiển hách dưới con mắt của bà ta, nghe bà ta dạy bảo. Giang Thanh bước lên vũ đài chính trị bằng cái thang do Lâm Bưu dựng, “công lao” của ông ta quả là lớn!

Giang Thanh đích thân xây dựng ba kênh liên hệ chính trị quan trọng: Thứ nhất là quan hệ với Lâm Bưu; Thứ hai là quan hệ “với các trí thức cầm quyền”, “cánh tả” ở Thượng Hải; Thứ ba là quan hệ với Khang Sinh là đồng hương và là người quen cũ của bà ta. Đã có ba kênh này, Giang Thanh còn có thanh “Thượng phương bảo kiếm” Mao Trạch Đông, khiến cho bà ta có thể gọi gió làm mưa, rnuốn gì được nấy trong cách mạng văn hóa.

Giang Thanh tiến vào giới văn nghệ, thổi lên làn gió phê phán, cải cách cách mạng đối với Kinh kịch, không có việc nào không mang đậm dã tâm chính trị. Có điều là thời gian này so với tài nghệ nổi trội trong Đại cách mạng văn hóa mà nói thì chẳng qua chỉ là một cuộc thi nhỏ về tài năng mà thôi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #52 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 09:56:23 pm »


2
“Hải Thụy bãi quan” đất bằng nổi cơn sóng dữ
Yêu ma quỷ quái từ Thượng Hải xổng chuồng


1. Kha Khánh Thi giới thiệu với Giang Thanh một “chuyên gia phê phán”

Tháng 6 năm 1965, ở khách sạn Cẩm Giang, Thượng Hải, Giang Thanh bí mật trù tính viết phần thứ hai bài phê bình có trọng lượng.

Giang Thanh đã từng mưu tính tìm hai “nhân vật bé” đã từng khiêu chiến với Du Bình Bá hồi xưa ở Bắc Kinh, vì hồi ấy bà ta đã từng ủng hộ họ. Nhưng, họ đã không nhận làm.

Giang Thanh lại một lần nữa cầu cứu Kha Khánh Thi. Kha Khánh Thi nhận lời ngay và giao nhiệm vụ cho Trương Xuân Kiều. Trương Xuân Kiều đã thành “thư ký Kinh kịch”, để dựng lên những vở kịch “mẫu” nên đã có quan hệ mật thiết với Giang Thanh, huống hồ ông ta là Trưởng ban Tuyên truyền Thành ủy Thượng Hải, “Đại phê phán” chính là thuộc phạm trù công việc của ông ta.

Giang Thanh coi như đã tìm đúng người. Đối với Kinh kịch, Trương Xuân Kiều là ngoại đạo, nhưng đối với cuộc “Đại phê phán” thì lại là người trong nghề.

Trương Xuân Kiều, sinh năm 1917 ở Cự Dã, tỉnh Sơn Đông, cha ông ta là một trưởng phòng làm công tác y tế của Quốc dân Đảng, gia đình có tiền của, có xe hơi, có kẻ hầu người hạ. Trương Xuân Kiều là một nhân vật giao thiệp rộng rãi, hoạt động khắp nơi. Năm 1932, vào học trường Trung học Chính Nghị, thành phố Tế Nam. Năm 1933, đã bước lên vũ đài chính trị, trở thành người khởi xướng và phần tử trung kiên của “Hoa Đế xã” một tổ chức phản động, đồng thời trong tờ “Hoa Đế” số ra đầu tiên đã đăng tiểu thuyết “Ngân Linh”, số 2 đăng tiểu thuyết “Thu”. Đủ thấy, từ rất sớm Trương Xuân Kiều đã lộ rõ đặc điểm của mình: vận hành trên hai quỹ đạo chính trị và văn học. Mùa hè năm 1934, sau khi Trương Xuân Kiều tốt nghiệp trường Trung học Chính Nghị, với cây bút cùn lang bạt trên văn đàn Tế Nam, tự mệnh danh là “Nhà văn Tiền tiến”, trong con mắt của ông ta không có ai hết, tiến công Thi Điếm Tồn. Lão Xá và Tàng Khắc Gia, ông ta cũng chẳng coi Quách Mạt Nhược, Lỗ Tấn v.v... ra gì, Trương Xuân Kiều bé nhỏ, thật như một con nhím con, một “đứa trẻ hư” trên văn đàn!

Tháng 5 năm 1935, trên con đường Tứ Mã Thượng Hải đã xuất hiện bóng dáng gầy gò Trương Xuân Kiều. Ông ta là nhân viên sửa bản in thử của công ty tạp chí Thượng Hải, những lúc không sửa bản in thử ông ta gửi bài đến các báo và tạp chí lần lượt trên tờ “Đại Vãn báo” và “Ngọn đuốc”, phụ san của “Đại Vãn báo” đăng bài của ông ta: “Đầu cuối của cuộc đi”, “Xạ thủ súng kíp”, “Tôi tố cáo” v.v... Sau đó, ông ta trở thành bên ngoài là Phó Tổng biên tập tờ “Ngọn đuốc” bên trong là tay chân của Thôi Vạn Thu đặc vụ của quân đội Quốc dân Đảng và đổi tên là “Địch Khắc” để bắn lén Lỗ Tấn, trên “Văn đàn hàng tuần” của phụ san “Ngọn đuốc” đã đăng bài lóe lên những tia sáng lạnh “chúng ta phải chấp hành phê bình”, sau đó lại viết thư cho Lỗ Tấn. công kích và mạt sát Lỗ Tấn. Lỗ Tấn vô cùng phẫn nộ và khinh bỉ, ông đã viết hai bài “Tô giới tháng 3” và “Quan” cửa xuất quan” (Chữ “cửa” trong ra cửa - N.D. ) để phản kích lại. Ấy thế mà, sau khi Lỗ Tấn qua đời, Trương Xuân Kiều vẫn vắt ra nước mắt, vội vã hóa trang mình thành “học trò” của Lỗ Tấn. Tên vô lại trên văn đàn này lại còn viết bài bày tỏ lòng thương nhớ. Từ đó có thể thấy cái tên “Địch Khắc” bé nhỏ, đã có thủ đoạn hai mặt từ lâu rồi. Chẳng trách, sau này trên vũ đài chính trị lúc sáng thì ông ta là người, lúc tối thì ông ta là ma, đối với cái nghề hóa thân, cái mẹo giở mặt này, từ lâu ông ta đã tinh thông rồi.

Ngày 13 tháng 8 năm 1937, tiếng súng bom rung chuyển thành Thượng Hải, Trương Xuân Kiều rời Thượng Hải đi Tế Nam, ở nhà Triệu Quân Bật, Cục trưởng Cục cảnh sát thành phố Tế Nam. Ngày 13 tháng 12 cùng năm, Nam Kinh bị chiếm đóng, Tế Nam cũng nguy cấp trong ngày một ngày hai, Triệu Quân Bật chuẩn bị chạy trốn. Lúc này Trương Xuân Kiều mới hé răng nói mấy câu: “Cục trưởng Triệu, tôi phải đi Diên An”.

Vừa đến Diên An mảnh đất nóng bỏng được mấy ngày, trước ngực Trương Xuân Kiều đã đeo một ngôi sao đỏ “Kỷ niệm 10 năm sáng lập Hồng quân Trung Quốc”, cuối cùng ông ta đã trà trộn được vào dòng thác màu đỏ. Hai tháng sau khi đến Diên An đã viết “Phóng sự Diên An” dựa vào những ngón nghề hóa thân, đã gia nhập Đảng Cộng sản ở Diên An, được bổ nhiệm làm Phó Tổng biên tập tờ “Tấn Sát Ký nhật báo” thỉnh thoảng lại va chạm với Giám đốc kiêm Tổng biên tập Đặng Thác, ông ta tìm thủ đoạn hại Đặng Thác, viết thư kể tội Đặng Thác gửi cho Đảng ủy vùng Biên khu Tấn Sát Ký. May được Bành Chân Bí thư Phân cục miền Bắc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc hiểu rõ Đặng Thác nên viiệc vu cáo của “Địch Khắc” đã thất bại. Hiện tượng lịch sử, thường hay lặp lại. Khi bắt đầu cách mạng văn hóa, “Địch Khắc” lại cùng với Diêu Văn Nguyên chỉnh Đặng Thác, Bành Chân lại một lần nữa ra mặt bảo vệ Đặng Thác, nhưng hiềm một nỗi, lúc này “Địch Khắc” đã được thế, nên đã hạ được Đặng Thác cùng Bành Chân...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #53 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 09:58:12 pm »


Năm 1947, tờ “Thạch Môn nhật báo” xuất bản ở Thạch Gia Trang, Trương Xuân Kiều được điều về làm Giám đốc “Thạch Môn nhật báo”, ông ta rất đắc ý, cấp trên trực tiếp của ông ta là Kha Khánh Thi rất tâm đầu ý hợp. Không lâu sau, Kha Khánh Thi được bổ nhiệm làm thị trưởng thành phố Thạch Gia Trang, Trương Xuân Kiều được ông ta yêu vì, nên đã bổ nhiệm ông ta làm thư ký Ủy ban Nhân dân Thạch Gia Trang kiêm Giám đốc tòa báo “Thạch Gia Trang nhật báo”, Kha Khánh Thi và nhiều nhà lãnh đạo cấp Trung ương của Đảng có mối quan hệ rất sâu xa, theo Trương Xuân Kiều thì Kha Khánh Thi là một chiếc thang, cho nên đã gửi niềm hy vọng nhảy vọt về chính trị vào ông ta, trong thời kỳ cùng làm việc ở Thạch Gia Trang về sau đã trở thành thời cơ để Trương Xuân Kiều nhảy vào “long môn”.

Năm 1949, cuối cùng Trương Xuân Kiều đã trở về Thượng Hải sau 12 năm ly biệt và trở thành Phó Cục trưởng Cục Báo chí xuất bản Hoa Đông! Sau khi nhậm chức ông ta ý thức được chữ “phó”, nó quá vướng chân vướng tay. Cục trưởng Uẩn Dật Quần, kiêm Giám đốc, Tổng biên tập tờ “Giải phóng nhật báo” lại kiêm Hiệu trưởng trường Chuyên nghiệp Báo chí Hoa Đông. Uẩn Dật Quần giống như Đặng Thác luôn ghét điều ác như kẻ thù, không nể nang, điều đó đã làm cho Trương Xuân Kiều hậm hực không vui, Uẩn Dật Quần trở thành “hòn đá” đè lên đầu ông ta. Trương Xuân Kiều thèm nhỏ dãi cái ghế vàng Giám đốc kiêm Tổng biên tập “Giải phóng nhật báo” ông ta muốn hất hòn đá lớn Uẩn Dật Quần để ngồi lên cái ghế vàng có thể điều khiển dư luận ở Thượng Hải.

Trương Xuân Kiều bắt đầu gặp may. “Giải phóng nhật báo” đã đăng sót tin điện “Sáu năm ngày thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Nhật. Nguyên soái Sta-lin gửi điện mừng Mao Chủ tịch” một số người thừa cơ ra sức công kích Uẩn Dật Quần, một “phần tử tích cực” trong đó chính là Trương Xuân Kiều. Tình hình sự việc ngày càng mở rộng, dẫn đến việc Uẩn Dật Quần bị mất chức. Trương Xuân Kiều thừa dịp xông vào thay thế ngồi lên chiếc ghế vàng mà ông ta đã mơ ước từ lâu. Đây là một chức vị có quyền lực vô thường, ông ta có thể lợi dụng báo chí, tâng bốc một số người, công kích một số người. Đặc biệt là chuyên mục: “Tình hình nội bộ” của tòa soạn đều được đưa thẳng đến những nhân vật lãnh đạo ở Trung ương và Thượng Hải, “Tình hình nội bộ” của ông ta ngày nào cũng phải đưa cho cán bộ lãnh đạo của một hai Cục hoặc Bộ đọc duyệt. Ông ta không ngừng mở rộng thế lực của mình. Đây là nơi rất thạo tin, nhất cử nhất động của các giới ở Thượng Hải, ông ta đều biết ngay. Ông ta hiểu nhịp đập của Thượng Hải, hiểu các giới, các hạng người ở Thượng Hải, đặt cơ sở cho việc ông ta trở thành kẻ thống trị Thượng Hải sau này là Giám đốc kiêm Tổng biên tập “Giải phóng nhật báo”, Trương Xuân Kiều hằng ngày có thể gặp gỡ với các nhân vật đứng đầu Đảng, chính quyền, quân đội ở Thượng Hải, cho đến việc xây dựng mối liên hệ thường xuyên với những người lãnh đạo Trung ương. Trương Xuân Kiều đã ngồi vào chiếc ghế vàng, từ đó ông ta từng bước leo đến tận mây xanh.

Tháng 9 năm 1954, Trần Nghị được bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Trọng tâm công tác của Trần Nghị chuyển lên Bắc Kinh, cần phải chọn người khác đến Thượng Hải chủ trì các mặt công tác, Kha Khánh Thi có quyết định nội bộ làm Bí thư Cục Thượng Hải Trung ương Đảng, đã đến Thượng Hải trước để tìm hiểu tình hình, nên đã giữ lại Trương Xuân Kiều đang chuẩn bị lên Bắc kinh nhận chức Phó Tổng biên tập “Nhân dân nhật báo”. Kha Khánh Thi nhậm chức, Trương Xuân Kiều bám theo sau, với thân phận là thư ký chính trị của Kha Khánh Thi. Kha Khánh Thi vốn lưu ý đặc biệt đến những lời lẽ của Mao Trạch Đông, ông ta đã ảnh hưởng sâu sắc đến Trương Xuân Kiều. Trương Xuân Kiều coi những chiều hướng của Mao Trạch Đông mà ông ta biết được qua Kha Khánh Thi là kim chỉ nam cho hành động của mình. Tháng 9 năm 1956, trong Đại hội đại biểu toàn quốc khóa 8 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Kha Khánh Thi được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Những bước tiến sau này của Trương Xuân Kiều thực sự là đã nhờ vào cái thang Kha Khánh Thi.

Kha Khánh Thi trở thành một trong 97 ủy viên Trung ương Đảng, bất cứ lúc nào cũng được biết chiều hướng đến từ Trung ương, nên về tin tức Trương Xuân Kiều càng thông thạo. Chính vì có tin tức chính trị thông thạo đến từ nơi Kha Khánh Thi, nên ngày 8 tháng 6 năm 1957, khi bài xã luận “Đó là vì cái gì” làm chấn động cả nước đăng trên “Nhân dân nhật báo” vừa công bố, thì liên tiếp trên “Giải phóng nhật báo” đăng những bài phản kích “phái hữu”. Trương Xuân Kiều có một lời răn: “Phàm sự việc phải có ba phần tả”. Hôm nay ông ta phê phán người này, ngày mai ông ta phê phán người kia, trở thành “người anh hùng chống hữu” thứ nhất thứ nhì trên bãi Thượng Hải.

Sau khi Kha Khánh Thi trở thành Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng trong Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa 8 thì cơ hội tiếp cận Mao Trạch Đông càng nhiều. Mỗi lần từ chỗ Mao Trạch Đông về, Kha Khánh Thi luôn đem về những “chỉ thị mới nhất”. Trương Xuân Kiều vừa nghe, vừa ghi vào sổ tay. Ông ta cân nhắc xem xét kỹ càng, sờ trúng mạch đập tư tưởng của Mao Trạch Đông, viết ra một bài ngoài dự đoán của mọi người: “Xóa bỏ tư tưởng pháp quyền của giai cấp tư sản”. Bài này được đăng trong tạp chí “Giải phóng” số tháng 6 năm 1958 không lâu sau được đưa đến tay Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông thấy hứng thú với bài viết này, liền ra lệnh cho “Nhân dân nhật báo” đăng lại toàn văn, đồng thời tự mình viết “Lời tòa soạn”.

“Lời tòa soạn” của Mao Trạch Đông cùng bài viết của Trương Xuân Kiều được “Nhân dân nhật báo” ngày 13 tháng 10 năm 1958 đăng trên vị trí nổi bật. Tên của Trương Xuân Kiều lần đầu tiên được cả nước chú ý. Ngày hôm ấy, đối với Trương Xuân Kiều mà nói là cực kỳ quan trọng, là tuột ngày có ý nghĩa lịch sử.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #54 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 09:59:16 pm »


Năm 1955, sau khi triển khai phong trào “Chống Hồ Phong”, Diêu Văn Nguyên do viết cuốn sách “Bàn về tư tưởng của Hồ Phong” nên đã bị liên lụy rơi vào tình cảnh khó khăn. Trương Xuân Kiều đã giúp Diêu Văn Nguyên, lấy “Giải phóng nhật báo” để đỡ cho Diêu Văn Nguyên, trong 10 ngày ngắn ngủi đã đăng liền 4 bài phê phán Hồ Phong của Diêu Văn Nguyên thế là Diêu Văn Nguyên đã “quay giáo đánh lại” trở thành “anh hùng chống Hồ Phong”. Đây có thể coi là lần hợp tác đầu tiên của Trương, Diêu.

Hợp tác lần thứ hai của Trương, Diêu là vào mùa hè năm 1957, từ chỗ Kha Khánh Thi, Trương Xuân Kiều được biết tin là phải “phản kích phái hữu” lập tức nói lại cho Diêu Văn Nguyên biết. Diêu Văn Nguyên vội vội vàng vàng viết bài: “Ghi lại để tham khảo – cảm nhận tình cờ khi đọc báo” và được đăng trên “Văn hối báo”. Bài viết này trở thành “tác phẩm thành danh” của Diêu Văn Nguyên, vì ông ta được Mao Trạch Đông tán thưởng, đồng thời ra lệnh cho “Nhân dân nhật báo” đăng lại toàn văn trên trang đầu, còn có bài xã luận phối hợp “Phương hướng tư sản của “Văn hối báo” trong một thời gian”. Bài viết này đã làm cho Diêu Văn Nguyên được Mao Trạch Đông chú ý, theo ông ta thì phải cảm ơn Trương Xuân Kiều. Từ đó Diêu Văn Nguyên đối với Trương Xuân Kiều chỉ bảo sao nghe vậy, trở thành tay sai đắc lực của Trương Xuân Kiều. Trương Xuân Kiều đã giúp đỡ cho “cái gậy” này, Trương Xuân Kiều muốn viết bài phê phán gì, chỉ cần mở miệng là Diêu Văn Nguyên viết ngay.

Ngày 1 tháng 7 năm 1958, “Giải phóng” ra hai tuần một số, được xuất bản ở Thượng Hải nhờ Trương Xuân Kiều dẫn dắt. Diêu Văn Nguyên được điều về Tạp chí lý luận của Thành ủy Thượng Hải này và được đảm nhiệm chức tổ trưởng tổ Văn giáo của Ban biên tập, Diêu Văn Nguyên càng điên cuồng múa may cây gậy, công kích một loạt nhà văn nổi tiếng. Trong một thời gian, uy danh của ông ta chấn động cả văn đàn Trung Quốc. Trương Xuân Kiều đảm nhận làm đạo diễn sau sân khấu, bày mưu đặt kế, để Diêu Văn Nguyên chiến đấu xông pha, xuất đầu lộ diện. Nói theo lời của Trương Xuân Kiều là: “Trên báo chí Diêu Văn Nguyên ra mặt thì tiện hơn chúng ta”. Sau khi “Giải phóng” đình bản, Trương Xuân Kiều xếp Diêu Văn Nguyên làm Biên ủy kiêm Trưởng ban Văn nghệ của tờ “Giải phóng nhật báo”. Vậy là Diêu Văn Nguyên không ngừng làm theo ý chỉ của Trương Xuân Kiều, đăng bài trên “Giải phóng nhật báo” và “Văn hối báo”. Ở trên Trương Xuân Kiều có chỗ dựa là Kha Thánh Thi, dưới có Diêu Văn Nguyên làm đồ đệ, ông ta vênh vang ra vẻ ta đây, hầu như đã xưng bá trong giới văn nghệ Thượng Hải.

Khi Trương Xuân Kiều đang đắc ý thì lại gặp ngay một địch thủ, Phó ban thường trực Ban Tuyên truyền thành ủy Thượng Hải, Trần Kỳ Ngũ. Trần Kỳ Ngũ là một người có uy tín rất cao trong giới tuyên truyền, giáo dục, chính quyền và các giới văn nghệ. Kiến giải chính trị của ông hoàn toàn khác với Trương Xuân Kiều. Trương Xuân Kiều đã coi ông là một kẻ kình địch của mình. Trương Xuân Kiều đã nghiến răng nghiến lợi tức giận nói rằng: “Chỉnh người phải có dịp, Trần Kỳ Ngũ, mi hãy đợi đấy, không cho mi biết tay không được!”.

Trong Hội nghị Trung ương 10 khóa 8, Mao Trạch Đông đã nêu ra lời kêu gọi nổi tiếng “Nhất thiết không được quên đấu tranh giai cấp”. Trương Xuân Kiều cho rằng cơ hội nhổ cái đinh trong mắt, cái gai trong thịt cuối cùng đã đến. Ông ta tập kích bất ngờ Trần Kỳ Ngũ, Trần Kỳ Ngũ trở thành tấm bia “đấu tranh giai cấp” của Thượng Hải, ông bị trúng tên ngã ngựa, bị tước bỏ chức vụ và khai trừ khỏi Đảng, bị trục xuất ra khỏi Thượng Hải đến Dương Châu tỉnh Giang Tô. Trương Xuân Kiều giành thắng lợi và thay thế, trở thành Trưởng ban Tuyên truyền Thành ủy Thượng Hải, độc chiếm quyền lãnh đạo về tư tưởng và văn hóa ở Thương Hải, ít lâu sau Trương Xuân Kiều được thăng chức lên làm Bí thư Dự khuyết Thành ủy Thượng Hải.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #55 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 09:59:36 pm »


Đến năm 1965, Trương Xuân Kiều được đề bạt làm Bí thư Ban bí thư Thành ủy Thượng Hải, trở thành nhân vật tai to mặt lớn, có ảnh hưởng quan trọng ở Thượng Hải.

Trương Xuân Kiều đã bắt tay với Giang Thanh, kết bạn và bắt đầu “hợp tác”. Ông ta ngồi một bên chăm chú lắng nghe Kha Khánh Thi và Giang Thanh nói chuyện, qua quan sát tỉ mỉ, ông ta đã quy những kiến giải của Giang Thanh thành ba điểm:

Thứ nhất, bà ta muốn “phá” cũng có nghĩa là phê phán. Bà ta muốn phê “Hải Thụy bãi quan” muốn phê “Lý Tuệ Nương”, muốn phê “Đế vương khanh tướng, tài tử giai nhân, đầu lâu mặt ngựa”. Thứ hai, bà ta muốn “xây” cũng có nghĩa là đề xướng kịch hiện đại. Lần này bà ta xem vở Hộ kịch “Chiếc đèn đỏ” cảm thấy rất hay. Chỉ có điều là tính địa phương của Hộ kịch quá mạnh, lượng khán giả hạn hẹp, bà ta muốn sửa thành Kinh kịch, mở rộng diện ra cả nước. Thứ ba, Thượng Hải hay hơn Bắc Kinh rất nhiều. Thượng Hải có Kha Thánh Thi làm thống soái, nên có thể trở thành “căn cứ” của bà ta. Từ nay về sau, bà ta sẽ thường xuyên đến Thượng Hải, không phải đến để khám bệnh mà là đến để xây dựng “căn cứ”.

Gặp mặt Giang Thanh lần này, đối với Trương Xuân Kiều mà nói là cực kỳ quan trọng, có tính lịch sử. Ông ta đã để lại cho Giang Thanh ấn tượng sâu sắc. Trương Xuân Kiều đã gặp vận may lớn. Ông ta phát hiện, hễ được Giang Thanh coi trọng, thì việc lên chức sẽ rất nhanh chóng. Bà ta là chiếc thang tốt hơn Kha Khánh Thi. Ông ta biết Giang Thanh muốn làm “cách mạng Kinh kịch” muốn nắm được “Kinh kịch hiện đại”, theo bà ta chắc là hay, ở Thượng Hải nắm chắc “Kinh kịch hiện đại” thì rõ ràng sẽ là con đường hay nhất để tiếp cận bà ta.

Trương Xuân Kiều nóng lòng muốn ra sức phục vụ Giang Thanh. Ông ta nói với Giang Thanh: “Thượng Hải không chỉ có “phá”- cũng có thể “xây” được! Thưa đồng chí Giang Thanh, hãy giao nhiệm vụ cho Thượng Hải đi, tôi nhất định sẽ tổ chức tốt giới Kinh kịch Thượng Hải”.

Cuối cùng Trương Xuân Kiều đã nhận được nhiệm vụ do Giang Thanh giao. Giang Thanh lại “long trọng thăm Thượng Hải”, từ ngày 25 tháng 12 năm 1963 đến ngày 22 tháng 1 năm 1964. Thượng Hải tổ chức Hội diễn kịch nói Khu vực Hoa Đông. Hội diễn lần này nếu nói theo ngôn từ tuyên truyền lúc bấy giờ là được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Kha Khánh Thi và sự quan tâm của đồng chí Giang Thanh. Trong Hội diễn lần này, Trương Xuân Kiều đã nắm chắc cơ hội, theo sát Giang Thanh, ông ta mời Giang Thanh đến Viện Kinh kịch “chỉ đạo dựng” vở “Dùng mưu chiếm Uy Hổ Sơn”. Thế là “Dùng mưu chiếm Uy Hổ Sơn” trở thành vở kịch mẫu cách mạng đầu tiên do “đồng chí Giang Thanh đích thân bồi dưỡng”. Thượng Hải cuối cùng đã có kịch mẫu, mục đích tạm thời của Trương Xuân Kiều đã đạt được, ông ta rất vui. Tiếp liền sau đó là nhiệm vụ thứ hai được giao, mùa đông năm 1964, Giang Thanh xem vở Hoài kịch “Buổi sớm trên hải cảng” ở Thượng Hải, bà ta rất hứng thú nói với Trương Xuân Kiều: ““Buổi sớm trên hải cảng” cũng có thể biến thành Kinh kịch đấy!”.

Trương Xuân Kiều tuân theo “chỉ thị” của Giang thanh, cố công dồn sức nắm cho được “Dùng mưu chiếm Uy Hổ Sơn” nắm “Hải cảng” dựng lên hai vở kịch mẫu “Giang ký” ở Thượng Hải. Từ đó Trương Xuân Kiều được “tặng” một cái tên kỳ lạ: “Bí thư hai vở kịch”! Trương Xuân Kiều dựa vào con đường “nắm Kinh kịch hiện đại” nhanh chóng dựa được vào “đệ nhất phu nhân” từ đó mà lên nhanh như diều.

Ngày 9 tháng 4 năm 1965, Kha Khánh Thi ốm chết. Đối với Trương Xuân Kiều mà nói buồn vui lẫn lộn. Buồn vì cái chết của Kha Khánh Thi đã làm Trương Xuân Kiều mất đi một cái cột trụ phía sau, vui vì chính là do mất Kha Khánh Thi, việc “xây dựng căn cứ” của Giang Thanh ở Thượng Hải sẽ phải dựa vào Trương Xuân Kiều. Thế là Trương Xuân Kiều thay thế Kha Khánh Thi, cho tới sau này nhờ vào “cuộc cách mạng tháng Giêng” mà trở thành “một kẻ cầm đầu” ở Thượng Hải.

Từ sau khi Kha Khánh Thi chết, Giang Thanh đến Thượng Hải liên tục. Mỗi lần xe lửa còn chưa tới ga Thương Hải, Trương Xuân Kiều đã đứng nghiêm chỉnh chờ đợi ở sân ga từ lâu, cung kính đón chờ Giang Thanh đến thăm. Trương Xuân Kiều bây giờ đã thành “Bí thư bốn vở kịch”. Giang Thanh lại giao nhiệm vụ làm hai vở vũ ba-lê “Bạch Mao nữ” và vở Kinh kịch “Kỳ tập Bạch Hổ đoàn”. Trương Xuân Kiều cảm thấy gánh nặng trên vai đè nặng. Ông ta muốn tìm kiếm một người trong nghề “trung thực” để gánh đỡ ông ta. Ông ta đã tìm được Vu Hội Vinh, con người Vu Hội Vinh “trung thực với Giang Thanh, tinh thông “việc nịnh bợ” đối với loài kịch mẫu cũng là người trong nghề. Trương, Giang rất mến mộ anh ta”.

Vu Hội Vinh được Trương, Giang nâng đỡ, đã trở thành “kẻ mới phát trong chính trị”. Trương Xuân Kiều đã có kẻ thân cận đắc lực: Thông qua Vu Hội Vinh nắm “kịch mẫu cách mạng”, thông qua Diêu Văn Nguyên nắm một nhiệm vụ tuyệt mật khác - Giang Thanh giao cho việc phê phán “Hải Thụy bãi quan”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #56 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 04:21:52 pm »


2. “Kế chàng trai trẻ” múa “gậy vàng” gánh trọng trách.

Lý ra, ông Trưởng ban Tuyên truyền này, hoàn toàn có thể một mình đảm đương nhiệm vụ nặng nề do Giang Thanh giao phó. Có điều, tâm địa Trương Xuân Kiều có nhiều, không như Du Minh Hoàng đến đấy đi đấy. Trương Xuân Kiều biết lần giao nhiệm vụ này có lý do không nhỏ, liên quan rất rộng rất sâu, thà ông ta lui về sau để chỉ huy còn hơn, nên ông ta đã giới thiệu với Giang Thanh một nhà “bình luận văn nghệ trẻ” ở Thượng Hải.

Người này là Diêu Văn Nguyên. Theo hồi ức của Nhậm Bách Tôn, Giám đốc khách sạn Cẩm Giang, Thượng Hảì, Giang Thanh đã triệu kiến Diêu Văn Nguyên lần đầu tiên ở câu lạc bộ Cẩm Giang. Nhậm Bách Tôn nhìn thấy Diêu Văn Nguyên đi một chiếc xe đạp cũ đến dự. Diêu Văn Nguyên mới 34 tuổi, mặc một bộ quần áo màu xanh lam kiểu Trung Sơn, một đôi giày ba-ta màu cỏ úa, với một đôi mắt cá vàng. Cha của anh ta là Diêu Liên Tử, cũng có thể coi là một “danh nhân”. Trong cuốn “Từ điển Danh từ mới” do Hồ Tế Đào chủ biên và do Xuân Minh Thư điếm Thượng Hải xuất bản vào tháng 9 năm 1949. Trong “phần nhân vật” có mục từ “Diêu Liên Tử”, toàn văn như sau:

[Diêu Liên Tử] Người Gia Ký tỉnh Chiết Giang, là xuất bản gia, là một trong những thành viên của Liên minh các nhà văn cánh tả. Từng chủ biên “Đời sống văn nghệ” đã cùng Chu Khởi Ứng (người dẫn chú: tức Chu Dương) sáng lập tờ “Văn nghệ nguyệt báo”. Thời kỳ kháng chiến đã lập Thư phòng Nhà văn ở Trùng Khánh là một trong những ủy viên Hội Liên hiệp Văn học toàn qốc, cùng Lão Xá biên soạn chung “Văn nghệ kháng chiến”. Hiện nay thư phòng Nhà văn đã dời về Thượng Hải. Đã viết các tác phẩm”Tập cắt ảnh” và “Tranh phù thế”.

Trong mục từ này có viết là: Diêu Liên Tử gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc vào cuối năm 1927. Tháng 12 năm 1933 bị bắt, ít lâu sau thì phản bội, ngày 14 tháng 5 năm 1934 đã công bản tuyên ngôn từ bỏ Đảng Cộng sản của Diêu Liên Tử” in trong “Trung ương nhật báo”.

Diêu Văn Nguyên ra đi từ một gia đình văn hóa, từ thời Phổ thông trung học, vẫn luôn mơ tưởng làm một nhà văn, anh ta ngưỡng mộ Hồ Phong vì thế anh ta được người cha chỉ bảo để viết “Bàn về tư tưởng văn nghệ Hồ Phong”.

Khi bài này viết xong, đúng vào năm 1954 có phong trào “Phê phán Hồ Phong”. Diêu Văn Nguyên lúc này đã kế thừa bản lĩnh di truyền của người cha là Diêu Liên Tử - một thương nhân đầu cơ văn hóa lập tức chuyển hướng “quay giáo đánh lại”, lần đầu tiên để lộ bộ mặt “phái tả” đích thực trên văn đàn Thượng Hải.

Cũng chính trong phong trào này, Trương Xuân Kiều với tư cách là Giám đốc kiêm Tổng biên tập tờ “Giải phóng nhật báo” đã tìm ra Diêu Văn Nguyên. Được Trương Xuân Kiều ủng hộ Diêu Văn Nguyên lần lượt cho đăng 13 bài phê phán Hồ Phong, “cái gậy” của anh ta lần đầu tiên đã tạo nên uy lực.

Ngày 10 tháng 6 năm 1957 là bước ngoặt trong cuộc đời của Diêu Văn Nguyên.

Hôm ấy, Mao Trạch Đông mở tờ “Văn hối báo” phát hiện một bài ngắn “Ghi lại để tham khảo – Cảm nhận tình cờ khi đọc báo”. Tên tác giả là Diêu Văn Nguyên.

Bài “Cảm nhận tình cờ” là bản tin điện của Tân Hoa xã dẫn vào ngày 25 tháng 5, bản tin này đã đưa tin về bài nói chuyện của Mao Trạch Đông khi tiếp kiến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 3 Đoàn thanh niên Dân chủ mới Trung quốc tại Bắc Kinh ngày 25 tháng 5.

Từ việc sắp xếp đưa tin này của các báo, Diêu Văn Nguyên đã thấy “cửa”. Vô cùng xúc động đã viết “Ghi lại để tham khảo”. Mao Trạch Đong xem xong rất khen ngợi, ông lập tức thông báo cho “Nhân dân nhật báo” phải đăng lại. Mao Trạch Đông còn ra lệnh phải lấy danh nghĩa của Ban biên tập viết bài “Phương hướng tư sản trong một thời kỳ của “Văn hối báo” đăng cùng với bài của Diêu Văn Nguyên trên trang nhất “Nhân dân nhật báo” ngày 14 tháng 6 năm 1957. Báo chí các nơi trong cả nước đã đăng lại hai bài này. Đài phát thanh Nhân dân Trung ương đã trích đọc trong bản tin thời sự.

Bài của Ban biên tập “Nhân dân nhật báo” lần đầu tiên công khai nêu tên “Văn hối báo” và “Quang Minh nhật báo” khen ngợi bài của Diêu Văn Nguyên, cả nước đều chú ý.

Thế là, Diêu Văn Nguyên với tư cách là một “ngôi sao” mới trên văn đàn vang bóng một thời trên cả nước, anh ta một bước trở thành thành viên của tổ chức Đảng của Hỏi liên hiệp nhà văn Thượng Hải, thành viên của nhóm lãnh đạo chống phái hữu.

Về sau, Diêu Văn Nguyên theo Trương Xuân Kiều nã pháo vào “Văn hối báo”, “Tân quan sát”, “đánh” Vương Nhược Vọng, Thi Trập Tôn, Lưu Sa Hà, Lò Mãng, Từ Trung Ngọc, Từ Mậu Dung, Phùng Tuyết Phong, Ngải Thanh, Ba Kim, Đinh Linh...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #57 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 04:23:29 pm »


Năm 26 tuổi Diêu Văn Nguyên đã trở thành tên ác ôn chính cống trên văn đàn.

Nếu nói, khi chống Hồ Phong, Diêu Văn Nguyên chẳng qua chỉ là một chiếc gậy nhỏ và lúc chống phái hữu đã là chiếc gậy đồng, còn trong phê “Hải Thụy bãi quan” của Ngô Hàm thì anh ta đã là chiếc gậy vàng trong tay của Giang Thanh.

Có sự ủng hộ của Trương Xuân Kiều, Giang Thanh coi Thượng Hải là “căn cứ”. Để đạt được mục đích đen tối của mình, bà ta thường xuyên đi đi lại lại giữa Thượng Hải và Bắc Kinh.

Năm 1963, Giang Thanh nhờ Kha Khánh Thi giúp đỡ, đã bác lại “thuyết có ma vô hại” của Liêu Mạt Sa, nổ phát súng đầu tiên mở màn cuộc “đại phê phán”.

Phát súng thứ hai nhằm vào Ngô Hàm. Nhưng ở Bắc Kinh, Giang Thanh không được ủng hộ. Thế là đến năm 1965, Giang Thanh lại xuống phía Nam một lần nữa, bà ta muốn tìm kiếm “một cây bút” để phê phán “Hải Thuỷ bãi quan” của Ngô Hàm. Diêu Văn Nguyên lại được lựa chọn để làm “cây bút” này.

Việc sáng tác của Diêu Văn Nguyên ở trong trạng thái tuyệt mật. Vì anh ta chỉ tốt nghiệp phổ thông trung học, không hiểu biết gì về lịch sử nhà Minh, anh ta bèn cho người đi tìm tư liệu về nhà nhờ bố. Ông ta mạo hiểm phê “Hải Thụy bãi quan”.

Vậy là với Giang Thanh làm chủ soái, Trương Xuân Kiều làm quân sư, Diêu Văn Nguyên làm “cây bút” thực hiện “ba kết hợp” bí mật viết bài bình về “Hải Thụy bãi quan”. Trên thì giấu Ban Tuyên truyền Trung ương, Bộ Chính trị, dưới thì giấu Thành uỷ Thượng Hải, Cục Hoa Đông. Đến ngày 10 tháng 12 năm 1965, bài viết dài: “Bình vở kịch lịch sử mới “Hải Thụy bãi quan”” ký tên “Diêu Văn Nguyên” đăng trên tờ “Văn hối báo” Thượng Hải. Phê phán “Hải Thụy bãi quan” là việc lớn trong cả đời của Trương Xuân Kiều, cũng là thời cơ để Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên kết bè kéo cánh.

Ngày 28 tháng 3 năm 1966, Khang Sinh ngầm tố cáo Bành Chân với Mao Trạch Đông (tức là tổ 5 người đã khởi thảo “Đề cương tháng Hai” ra sao). Mao Trạch Đông đem tình hình mà Khang Sinh nói, kể lại cho Giang Thanh biết. Giang Thanh lập tức gọi điện cho Trương Xuân Kiều đến nhà. Khi Trương Xuân Kiều nắm bàn tay to và rắn chắc của Mao Trạch Đông, ông ta “cảm thấy như có một luồng hơi ấm áp hạnh phúc chảy khắp cơ thể”.

Trương Xuân Kiều quả là đã tăng tiến nhanh chóng. “Địch Khắc” tên ác ôn nhãi ranh trên bãi Thượng Hải thuở xưa, nay nghiễm nhiên có thể ngồi trên xa-lông bên cạnh lãnh tụ vĩ đại. Ông ta nhờ việc làm “kịch mẫu cách mạng” mà tiếp cận được “đệ nhất phu nhân”, lại nhờ việc phê phán “Hải Thụy bãi quan” mà tiếp cận được vĩ nhân. Trước mặt Mao Trạch Đông, Trương Xuân Kiều không nhiều lời, chỉ chăm chú ghi chép với dáng vẻ của một tín đồ ngoan đạo. Ông ta dự cảm tới việc sẽ bước lên tầng cao nhất trong chính giới Trung Quốc.

Trên con đường làm quan, Trương Xuân Kiều đã nhảy một bước có tính chất then chốt, nhận chức tổ phó Tổ cách mạng văn hóa Trung ương, đây trở thành bước nhảy từ Thượng Hải lên Trung ương của ông ta, trở thành bàn đạp để ông ta bước vào Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Ông ta trở thành một trong hai ông thiện và ông ác ở cửa chùa của Giang Thanh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #58 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 04:24:32 pm »


3. Đối với “Hải Thụy bãi quan” phải nhằm vào hướng nào để nổ súng?

Bài thứ hai “Phê bình có phân lượng” của Giang Thanh nhằm bắn vào hướng nào?

Mục tiêu ấy, bà ta đã xác định từ ngày 6 tháng 7 năm 1963. Hôm ấy bà ta xem vở Kinh kịch lịch sử mới “Hải Thụy bãi quan” do Ngô Hàm viết, đã nói “vở kịch này tồn tại sai lầm nghiêm trọng về chính trị, phải kiên quyết cấm diễn vở này”.

Hình như Giang Thanh có con mắt và cái mũi khác với mọi người, đã nhìn ra và ngửi thấy cái “cỏ độc” của “Hải Thụy bãi quan”. Có điều là, chỉ mình Giang Thanh kêu ầm là “cỏ độc” thì không ăn thua. Nhà sử học Lê Chú đã từng có một lời bình đối với Giang Thanh như sau:

“Địa vị của Giang Thanh những năm ấy, thực ra là cái máy thăm dò. “Thanh cung bí sử”, “Truyện Vũ Huấn”, “Nghiên cứu về Hồng Lâu mộng”, “Hải Thụy bãi quan” đều do bà ta ra mặt, bà ta cho là phải phê phán, nhưng mọi người từ xưa đến nay đều không cho bà ta là giỏi giang, nên nghe xong cũng chỉ để đấy. Sau đó bà ta về báo cáo: “Họ không nghe lời của Chủ tịch!”.

“Cái máy thăm dò” Giang Thanh, thực sự cần “quay về báo cáo”. Giang Thanh nắm được “Thượng phương bảo kiếm” thì Giang Thanh không còn là Giang Thanh giản đơn nữa.

Mới đầu, Mao Trạch Đông không để ý đến những báo cáo của “cái máy thăm dò”. Vì học tập “tinh thần Hải Thụy” là do chính Mao Trạch Đông nêu ra.

Đó là vào tháng 4 năm 1959, trong cuộc họp Toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khóa 8, tổ chức ở khách sạn Cẩm Giang, Thượng Hải. Trong thời gian họp đã tổ chức khiêu vũ. Mao Trạch Đông đã nhảy với một nữ giáo sư đại học, vừa nhảy vừa trò chuyện. Lời đáp của nữ giáo sư làm cho Mao Trạch Đông phải suy nghĩ rất kỹ. Mao Trạch Đông đã kể lại như thế này:

“Tôi cùng nhảy với một đồng chí nữ, hỏi cô ấy công tác ở Thượng Hải thế nào. Cô ta đáp, tôi là giáo sư đại học nên không thể nói. Tôi nói, cô không để ý tới chính trị à? Cô ấy đáp: “Không phải là không để ý, mà là không dám để ý”. Tôi hỏi Kha Khánh Thi ra sao? Cô ấy nói: Càng không dám kể. Tôi lại hỏi: Tôi thế nào? Cô ấy nói: Chủ tịch sáng suốt vĩ đại. Xem ra sự tín nhiệm của vị giáo sư này đối với chúng ta là rất có hạn”.

Lời của vị giáo sư này làm cho Mao Trạch Đông nghĩ tới: “Thiếu Kỳ v.v... là bạn chiến đấu bao nhiêu năm bên cạnh mình, trước mặt mình cũng không dám nói!”

Cũng đúng lúc hội nghị, biết Mao Trạch Đông thích xem Tương kịch, nên đã bố trí để Mao Trạch Đông đi xem Tương kịch “Sinh tử bài”, hình tượng cương trực không a tòng theo đuôi của Hải Thụy trong “Sinh tử bài” đã làm cho Mao Trạch Đông rất cảm động.

Thế là sau đó, Mao Trạch Đông đã mượn cuốn “Minh sử” xem “Truyện Hải Thụy” và rất cảm khái.

Vậy là vào sáng ngày 4 tháng 4, Mao Trạch Đông đã nói đến Hải Thụy trong hội nghị, mong mọi người giống như Hải Thuỵ, đã phê bình gay gắt Hoàng đế Gia Tĩnh.

Thư ký của Mao Trạch Đông là Hồ Kiều Mộc, đã để lộ nội dung bài nói chuyện của Mao Trạch Đông với Ngô Hàm, khuyến khích ông viết nhiều bài tuyên truyền “tinh thần Hải Thụy”.

Sự khuyến khích như vậy đã làm cho Ngô Hàm thấy cần tích cực hưởng ứng. Trước tiên là trên “Nhân dân nhật báo” đăng bài: “Hải Thụy mắng Hoàng đế”, “Bàn về Hải Thụy”. Tiếp đó theo lời hẹn với Mã Liên Nương diễn viên Kinh kịch nổi tiếng, viết kịch bản Kinh kịch “Hải Thụy bãi quan”.

Cái “máy thăm dò” Giang Thanh xem Kinh kịch “Hải T'hụy bãi quan” lại khăng khăng nói bừa rằng hoàng đế trong kịch là ám chỉ Mao Trạch Đông, Hải Thụy là Bành Đức Hoài. Và cứ thế bà ta “tìm chuyện bí mật” nói đóng sống rằng “Hải Thụy bãi quan” có “sai lầm chính trị nghiêm trọng”, là “cây cỏ độc lớn”.

Có điều là, vào tháng 7 năm 1962, lá bài “tìm chuyện bí mật” mà Giang Thanh làm vẫn chưa được sự ủng hộ của Mao Trạch Đông.

Thời gian trôi qua, sợi dây “đấu tranh giai cấp” càng bện càng săn, càng ngày càng có lợi cho Giang Thanh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #59 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2010, 04:24:58 pm »


Ba tháng sau, trong Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khóa 8, Khang Sinh lại dùng cách “tìm chuyện bí mật” nói tiểu thuyết “Lưu Chí Đan” là tiểu thuyết chống Đảng. Mao Trạch Đông thì nói “lợi dụng tiểu thuyết để tiến hành hoạt động chống Đảng là một phát minh lớn”, điều này chắc chắn đã làm cho Giang Thanh tin tưởng bội phần về việc phê phán “Hải Thụy bãi quan”.

Trước tiên Giang Thanh chọn “Lý Tuệ Nương” của Mạnh Siêu và “Thuyết có ma vô hại” của Liêu Mạt Sa làm tấm bia cho cuộc “đại phê phán”.

Tháng 6 năm 1964, trong cuộc nói chuyện về việc “Nhân dân nhật báo” đã ủng hộ việc phê phán “Thuyết có ma vô hại”. Mao Trạch Đông nói:

“Năm 1961, “Nhân dân nhật báo” đã tuyên truyền “Thuyết có ma vô hại”, sau đó vẫn không thấy thú nhận về việc này. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khóa 8 năm 1962, toàn Đảng đều nắm đấu tranh giai cấp, nhưng “Nhân dân nhật báo” vẫn chưa phê phán “Thuyết có ma vô hại”. Về phương diện văn học nghệ thuật, công tác của “Nhân dân nhật báo” làm không tốt. “Nhân dân nhật báo” trong một thời gian dài đã không nắm công tác lý luận. Từ khi “Nhân dân nhật báo” ra đời đến nay, tôi đã phê bình khuyết điểm này, nhưng vẫn không cải tiến, cho đến gần đây mới bắt đầu coi trọng công tác này.

Biết được bối cảnh bài viết của “Lương Bích Huy” (bút danh của tác giả bài “Thuyết có ma vô hại” tức Trưởng ban Tuyên truyền cục Hoa Đông thuộc Trung ương Đảng là Du Minh Hoàng biết được sự phê bình của Mao Trạch Đông, “Phồn Tinh (tức Liêu Mạt Sa) không thể không viết bài “Thuyết có ma vô hại” của tôi là sai lầm đăng trên “Bắc Kinh nhật báo” ngày 18 tháng 2 năm 1965.

Ngày 12 tháng 12 năm 1963, Mao Trạch Đông phê vào báo cáo của Kha Khánh Thi, phê bình giới văn nghệ: “Rất nhiều ngành đến nay vẫn là “người chết” thống trị”, cải tạo xã hội chủ nghĩa “đến nay hiệu quả thu được rất ít ỏi”. Ngày 27 tháng 6 năm 1964, lại phê vào “Báo cáo về tình hình chỉnh phong của Hội liên hiệp Văn học và các hiệp hội trực thuộc trong toàn quốc”, phê bình những hiệp hội này “mấy năm gần đây đã ngã xuống bên bờ của chủ nghĩa xét lại”. Đây chính là hai “lời phê” nổi tiếng của Mao Trạch Đông đối với giới văn nghệ.

Tháng 8 năm 1964, Mao Trạch Đông phê vào “Báo cáo thỉnh thị của Ban Tuyên truyền Trung ương về việc công khai chiếu và phê phán hai bộ phim “Bắc quốc Giang Nam” và “Tháng Hai xuân sớm”… Phải đưa những tài liệu xét lại này ra trước công chúng. Có thể không phải chỉ có hai bộ phim này, mà còn một số nữa cần phải phê phán”.

Vậy là cả nước đã xuất hiện cao trào phê phán.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM