Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:10:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng Văn hoá liệt truyện - Tập 1  (Đọc 74071 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #70 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:41:11 pm »


5. Mao Trạch Đông sửa “Kỷ yếu” cho Giang Thanh

Giang Thanh đưa “Kỷ yếu” cho Mạo Trạch Đông đọc duyệt. Mao Trạch Đông rất coi trọng đích thân sửa đổi 11 chỗ. Sửa đổi quan trọng nhất là sau câu nguyên văn: “Chúng ta nhất định phải căn cứ vào chỉ thị của Trung ương Đảng, kiên quyết tiến hành cuộc đại cách mạng xã hội chủ nghĩa trên chiến tuyến văn hóa, triệt để phá bỏ sợi chỉ đen này”, Mao Trạch Đông đã thêm một câu:

“Sau khi xóa bỏ sợi chỉ đen này, sẽ còn có sợi chỉ đen trong tương lai, còn phải đấu tranh nữa”.

Ngày 10 tháng 3, theo thông báo của Giang Thanh, Lưu Chí Kiên lại cùng Trần Á Đinh một lần nữa đến Thượng Hải. Giang Thanh lại đưa cho Lưu Chí Kiên xem bản “Kỷ yếu” đã được Mao Trạch Đông sửa chữa. Thế là Giang Thanh, Trần Bá Đạt, Trương Xuân Kiều, Lưu Chí Kiên, Trần Á Đinh lại cùng nhau tiến hành sửa chữa “Kỷ yếu”. Ngày 14, ngày 17 tháng 3, Mao Trạch Đông lại sửa chữa bản “Kỷ yếu” hai lần nữa. Mao Trạch Đông đã phê duyệt: “Kỷ yếu này đã xem hai lần, cảm thấy... được rồi” vào ngày 17.

Mao Trạch Đông đã “cảm thấy được rồi”, thì “Kỷ yếu” cũng có thể coi là xong. Lúc này, trên tiêu đề đã ghi thêm mấy chữ: “Đồng chí Lâm Bưu ủy thác” đã biến thành “Kỷ yếu cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội do đồng chí Lâm Bưu ủy thác cho đồng chí Giang Thanh triệu tập”. Việc viết thêm 6 chữ vô cùng quan trọng, làm cho Giang Thanh trở thành “có cớ xuất quân” và “danh chính ngôn thuận”, đó là do “đồng chí Lâm Bưu ủy thác” mà “triệu tập cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội”, đồng thời cũng nâng cao giá trị của Giang Thanh, nâng cao địa vị của “cuộc toạ đàm” “một người nói”.

Đã do “đồng chí Lâm Bưu ủy thác” thì “Kỷ yếu” cần phải được đồng chí Lâm Bưu đồng ý. Thế là Giang Thanh yêu cầu Trần Á Đinh khởi thảo bức thư gửi cho Lâm Bưu, toàn văn như sau:

Đồng chí Lâm Bưu:

Dựa vào sự ủy thác của đồng chí, từ ngày 2 đến ngày 20 tháng 2, tôi đã mời đồng chí Lưu Chí Kiên cùng bốn đồng chí tiến hành tọa đàm về vấn đề công tác văn nghệ của bộ đội. Sau khi tọa đàm, họ đã chỉnh lý kỷ yếu tọa đàm gửi đến đồng chí và các đồng chí lãnh đạo khác trong Quân ủy, và cũng gửi cho tôi một bản. Tôi đã xem, cảm thấy việc chỉnh lý kỷ yếu tọa đàm chưa hoàn chỉnh và chính xác lắm. Vì vậy, tôi đã mời hai đồng chí Xuân Kiều và Á Đinh sửa chữa lại kỷ yếu, sau đó đã đưa Chủ tịch đọc duyệt. Chủ tịch rất coi trọng, đã đích thân sửa chữa kỷ yếu, đồng thời chỉ thị mời đồng chí Bá Đạt tham gia, lại bổ sung và sửa chữa. Từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 3, sau khi mời bốn đồng chí Bá Đạt, Chí Kiên, Xuân Kiều, Á Đinh cùng thảo luận và sửa chữa lại đưa Chủ tịch đọc duyệt, Chủu tịch lại sửa chữa lần nữa và ngày 17 đã phê duyệt: “Kỷ yếu này đã xem hai lần, cảm thấy được rồi”. Tôi lại sửa một chút, đề nghị các đồng chí suy nghĩ. Kỷ yếu này kiến nghị dùng danh nghĩa của Quân ủy, gửi đến một số đồng chí phụ trách của trung ương trưng cầu ý kiến, đề nghị họ chỉ ra sai lầm, để tiện sửa chữa. Tất nhiên trước tiên là phải trưng cầu ý kiến các đồng chí trong Quân ủy... Ngày 19, tôi lại mời các đồng chí Chí Kiên, Xuân Kiều, Đường Chung, Mạn Thôn, Á Đinh cùng tọa đàm, mọi người đều nhân trí đồng ý kỷ yếu này. Nay gửi kỷ yếu tọa đàm này lên để đồng chí đọc duyệt.

Xin gửi lời chào trân trọng


Giang Thanh
Ngày 19 tháng 3 năm 1966.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #71 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:41:52 pm »

 
Lâm Bưu lúc ấy đang ở Thượng Hải. Ông ta nhận được thư và bản “Kỷ yếu” in cỡ chữ lớn do Giang Thanh cho người đưa đến, biết Mao Trạch Đông đích thân đọc duyệt, tất nhiên là ông ta giơ cả hai tay tán thành. Ông ta không sửa một chữ nào, phê chuyển cho các Thường vụ Quân ủy. Lâm Bưu cho mời Lưu Chí Kiên và Trần Á Đinh đến để khởi thảo một bức thư cho các ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương là Hạ Long và một số người khác.

Lúc ấy, Chủ tịch quân ủy Trung ương là Mao Trạch Đông, Phó Chủ tịch chủ trì công tác hằng ngày của Quân ủy là Lâm Bưu, ngoài ra còn có Phó Chủ tịch Hạ Long, Nhiếp Vinh Trăn, Trần Nghị, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Diệp Kiếm Anh. Thường vụ ngoài chủ tịch, các phó chủ tịch có Chu Đức, Đặng Tiểu Bình, Đàm Chính, La Thụy Khanh. Thư của Lâm Bưu, toàn văn như sau:

Các đồng chí Thường vụ:

Gửi bản kỷ yếu của cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội do đồng chí Giang Thanh triệu tập, đề nghị đọc. Kỷ yếu này, đã được các đồng chí tham gia tọa đàm nghiên cứu nhiều lần, lại được Chủ tịch ba lần đích thân đọc duyệt và sửa chữa, là một văn kiện rất hay, đã dùng tư tưởng Mao Trạch Đông trả lời rất nhiều vấn đề trọng đại của cuộc cách mạng văn hóa trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa, không những có ý nghĩa thực hiện cực kỳ to lớn mà còn có ý nghĩa lịch sử sâu xa.

16 năm qua, trên trận tuyến văn nghệ tồn tại cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt, vấn đề ai thắng ai vẫn chưa được giải quyết. Trận địa văn nghệ, giai cấp vô sản không chiếm lĩnh thì giai cấp tư sản tất nhiên sẽ chiếm lĩnh, việc đấu tranh là không thể tránh khỏi. Đây là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa cực kỳ rộng lớn và sâu sắc trong lĩnh vực hình thái ý thức, làm không tốt sẽ xuất hiện chủ nghĩa xét lại. Chúng ta cần phải giương cao ngọn cờ vĩ đại của tư tưởng Mao Trạch Đông, kiên định không thay đổi tiến hành đến cùng cuộc cách mạng này.

Những vấn đề và ý kiến nêu ra trong  kỷ yếu, hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế của công tác văn nghệ của bộ đội, cần phải kiên quyết quán triệt chấp hành làm cho công tác văn nghệ của bộ đội có tác dụng quan trọng theo phương hướng cách mạng hóa làm nổi bật chính trị, thúc đẩy con người.

Có ý kiến gì đối với kỷ yếu mong cho biết để tiện báo cáo với Trung ương phê duyệt.

Xin gửi lời chào


Lâm Bưu
Ngày 22 tháng 3 năm 1966.

Bức thư này của Lâm Bưu, đã đánh giá cao bản “Kỷ yếu”. Trong thư ngầm thừa nhận “đồng chí Lâm Bưu ủy thác cho đồng chí Giang Thanh triệu tập”. Cuối thư nói “để tiện báo cáo với Trung ương phê duyệt”, có nghĩa là “Kỷ yếu” sẽ là văn kiện của Trung ương Đảng để in và phân phát...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #72 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:42:42 pm »


6. Tổ 5 người lạnh tanh

Tháng 2 năm 1966, đêm trước của trận bão táp đột biến. Khi Giang Thanh và 5 người gồm cả Lưu Chí Kiên, “tọa đàm” ở Khách sạn Cẩm Giang Thượng Hải thì ở Điếu Ngư Đài Bắc Kinh cũng có 5 người họp.

Hội nghị 5 người ở Thượng Hải họp vào ngày 2 tháng 2 còn Hội nghị 5 người ở Bắc Kinh họp vào ngày 3 tháng 2.

“Cuộc tọa đàm” ở Thượng Hải đã viết ra “Kỷ yếu” còn Hội nghị của nhóm ở Bắc Kinh đã viết ra “Đề cương”.

“Đề cương” và “Kỷ yếu” đối chọi với nhau.

5 người ở Bắc Kinh, chính là Tổ cách mạng văn hóa 5 người. Tổ này được thành lập theo chỉ thị của Mao Trạch Đông, phụ trách chỉ đạo việc phê phán học thuật đang triển khai lúc đó. Phần trước đã nói đến, 5 người này là Bành Chân, Lục Định Nhất, Khang Sinh, Chu Dương, Ngô Lãnh Tây.

Tổ 5 người đã viết. “Đề cương báo cáo của tổ 5 người” (Cũng tức là “Đề cương tháng Hai”) có điều, sau này Khang Sinh đã “tuyên bố” là ông ta phản đối “Đề cương tháng Hai” - mặc dù đã tham gia Hội nghị, nghe nói là trong Hội nghị ông ta đã “im lặng”.

Ngày 5 tháng.2, Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị tại Bắc Kinh do Lưu Thiếu Kỳ chủ trì đã thảo luận và thông qua “Đề cương tháng Hai”.

Ngày 8 tháng 2, Bành Chân, Lục Định Nhất, Hứa Lập Quần đặc biệt đến Vũ Xương để báo cáo với Mao Trạch Đông về “Đề cương tháng Hai”, Mao Trạch Đông đã hỏi một số vấn đề, nhưng không nói là không đồng ý công bố.

Thế là ngày 12 tháng 2, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc in và phát bản “Đề cương tháng Hai” cho toàn Đảng.

“Đề cương tháng Hai” rõ ràng là gồm một loạt ý kiến có tính chính sách nhằm vào sự hỗn loạn trong tư tưởng do bài bình “Hải Thụy bãi quan” của Diêu Văn Nguyên dẫn đến. Phải kiên trì thực sự cầu thị và nguyên tắc trước chân lý mọi người đều bình đẳng, phải dùng lý lẽ để thuyết phục người khác, không nên vũ đoán lấy thế để áp chế người khác như học phiệt, cần đề xướng kiên trì chân lý, sửa chữa sai lầm bất kỳ lúc nào; nên dùng thái độ nghiêm túc và thân thiện với người khác, cần phải thận trọng trong việc công khai chỉ tên phê phán trọng điểm trên báo chí...

Phương hướng của “Tổ 5 người” đã làm cho Giang Thanh chú ý, chẳng trách bà ta lấy lý do “bận việc” làm gián đoạn cuộc “toạ đàm”, vội vã đến Hàng Châu nghe ngóng tin tức từ Mao Trạch Đông. Thượng tuần tháng 3, đang lúc Giang Thanh bận việc sửa chữa “Kỷ yếu” thì ở Bắc Kinh bùng nổ “Sự kiện điện thoại”.

Đó là chuyện Trương Xuân Kiều muốn làm rõ chiều hướng của Bắc Kinh, đã cử Dương Vĩnh Trực Trưởng ban Tuyên truyền Thành ủy Thượng Hải đến Bắc Kinh. Theo sự sắp xếp của Trương Xuân Kiều, Dương Vĩnh Trực sẽ nói chuyện với Hứa Lập Quần và Hồ Thằng, nêu ra một số vấn đề, đặc biệt là yêu cầu giải đáp: “học phiệt” mà “Đề cương tháng Hai” nói là chỉ ai.

Ngày 11 tháng 2 khi Dương Vĩnh Trực chuẩn bị về Thượng Hải thì Hứa Lập Quần chuyển lời đáp của Bành Chân. Đó là những vấn đề được Dương Vĩnh Trực đề xuất mà Hứa Lập Quần đã ghi lại và báo cáo với Bành Chân, ghi chép cuộc đối thoại như sau, rất tế nhị:

Hứa (Lập Quần): Dương Vĩnh Trực hỏi, học phiệt có đối thượng cụ thể hay không, chỉ ai vậy?

Bành (Chân): Học phiệt không chỉ cụ thể là ai, là A Q, ai trên đầu có sẹo là người ấy.

Hứa: Dương Vĩnh Trực hỏi, Thượng Hải muốn phê phán một loạt phim xấu, bao gồm “Nữ vận động viên nhảy cầu” được không?... vì có cặp đùi to.

Bành: Anh đi hỏi Trương Xuân Kiều, Dương Vĩnh Trực là họ đã đi bơi bao giờ chưa?

Hứa: Dương Vĩnh Trực hỏi, bài phê phán học thuật quan trọng có cần đưa cho Ban Tuyên truyền Trung ương thẩm tra không?

Bành: Trước đây Thượng Hải công bố bài của Diêu Văn Nguyên, đến một tiếng cũng không nói, tính Đảng của Thành ủy Thượng Hải để đi đâu rồi?


Hứa Lập Quần đã chuyển những câu trả lời của Bành Chân cho Dương Vĩnh Trực qua điện thoại. Sau khi Dương Vĩnh Trực về đến Thượng Hải đã lập tức báo cáo nguyên xi với Trương Xuân Kiều. Nghe xong, Trương Xuân Kiều nói: “Bây giờ thì ăn chắc rồi, cú điện thoại này chứng tỏ Ban Tuyên truyền Trung ương và Thành ủy Bắc Kinh phản đối bài viết của Diêu Văn Nguyên, mũi nhọn của “Đề cương tháng Hai” chĩa vào Diêu Văn Nguyên cũng là chĩa vào Mao Chủ tịch...”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #73 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:43:32 pm »


7. Số phận bi thảm của “Đề cương tháng Hai”

Giang Thanh đã đẩy nhanh tiến độ hoàn thành “Kỷ yếu”, bà ta muốn “Kỷ yếu” đối chọi với “Đề cương tháng Hai”.

Trương Xuân Kiều thông qua Giang Thanh nhanh chóng mật báo với Mao Trạch Đông về “sự kiện điện thoại”.

Khang Sinh vốn là một thành viên của tổ 5 người giỏi quyền thuật, lựa gió chèo thuyền, lúc này trở giáo, tiến công Bành Chân, phê “Đề cương tháng Hai”.

Ngày 28, 29 tháng 3, Mao Trạch Đông nói chuyện với Khang Sinh hai lần ở Hàng Châu.

Ngày 30 tháng 3, Mao Trạch Đông nói chuyện với Khang Sinh, Triệu Nghị Mẫn, Ngụy Văn Bá, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều ở Hàng Châu.

Ba lần nói chuyện, Mao Trạch Đông đều phê bình gay gắt Thành ủy Bắc Kinh và Ban Tuyên truyền Trung ương (Tổ trưởng và tổ phó là Bành Chân và Lục Định Nhất là Bí thư thứ nhất Thành ủy Bắc Kinh và Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương) bảo họ bao che cho kẻ xấu không ủng hộ phái tả, rằng “đề cương báo cáo của tổ 5 người là xáo trộn giới hạn giai cấp, không phân phải trái, là sai lầm; Ban tuyên truyền Trung ương là “Điện Diêm vương”, phải đánh đổ Diêm vương giải phóng bọn tiểu yêu... Rằng Ngô Hàm và Tiễn Bá Tán là học phiệt, bên trên còn đại đảng phiệt (chỉ Bành Chân) bao che cho chúng, đồng thời chỉ đích danh phải phê phán “Bút ký Thôn ba nhà” do ba người là Đặng Thác, Ngô Hàm, Liêu Mạt Sa viết và “Truyện đêm ở Yến Sơn” do Đặng Thác viết là “chống Đảng và chống chủ nghĩa xã hội”.

Những lời nói ấy của Mao Trạch Đông, đã phê phán “Đề cương tháng Hai”, làm cho sự sụp đổ của Bành Chân và Lục Định Nhất là không thể tránh khỏi.

Ngày Mao Trạch Đông nói chuyện với Khang Sinh, Triệu Nghị Mẫn, Ngụy Văn Bá, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều ở Hàng Châu, ngày 30 tháng 3, thì Lưu Chí Kiên và Trần Á Đinh thực hiện những thủ tục cuối cùng để thông qua “Kỷ yếu” ở Bắc Kinh. Vì “Kỷ yếu” đã được Thường vụ Quân ủy Trung ương quay vòng đọc duyệt và thông qua, Lưu Chí Kiên và Trần Á Đinh khởi tháo báo cáo thỉnh thị của Quân ủy gửi Trung ương và Mao Trạch Đông.

Trung ương, Chủ tịch:

Các đồng chí trong Thường vụ Quân ủy nhất trí đồng ý với “Kỷ yếu cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội do đồng chí Lâm Bưu ủy thác cho đồng chí Giang Thanh triệu tập”, cho rằng đây là một văn kiện rất hệ thống, rất hoàn thiện để giương cao ngọn cờ vĩ đại tư tưởng Mao Trạch Đông về công tác văn nghệ, bộ đội cần phải kiên quyết quán triệt chấp hành. Nay gửi kèm theo bản kỷ yếu này và hai bức thư của đồng chí Lâm Bưu và Giang Thanh (Người dẫn chú: chỉ bức thư Giang Thanh gửi Lâm Bưu ngày 19 tháng 3 và bức thư của Lâm Bưu gửi Hạ Long và những người trong Thường vụ Quân ủy), đề nghị đọc duyệt.


   
Quân ủy
   Ngày 20 tháng 3 năm 1966

 Mao Trạch Đông không ở Bắc Kinh, bản báo cáo này đáng lý ra phải đưa cho Đặng Tiểu Bình Tổng bí thư Trung ương Đảng. Nhưng Đặng Tiểu Bình cũng không ở Bắc Kinh. Thế là lại được đưa tới tay Bành Chân - lúc ấy Bành Chân là Bí thư thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Bành Chân đọc xong “Kỷ yếu” vô cùng kinh ngạc. Nhưng biết bản “Kỷ yếu” này đã được Mao Trạch Đông ba lần đích thân sửa chữa, lại do “đồng chí Lâm Bưu ủy thác”, chuyện không nhỏ, nên đành phải làm công việc chung. Ngày hôm sau 31 tháng 3, Văn phòng của Bành Chân thông báo cho Lưu Chí Kiên khởi thảo phê duyệt của Trung ương Đảng, để lấy danh nghĩa Trung ương Đảng phê chuyển “Kỷ yếu”. Bành Chân nói một vài ý đại khái cho lời phê duyệt, chỉ là mấy lời làm việc công theo lệ thường. Lưu Chí Kiên cấp tốc gọi Lý Mạn Thôn, Tạ Đường Trung, Trần Á Đinh khởi thảo lời phê duyệt. Và cũng chính ngày hôm ấy, Khang Sinh đã truyền đạt nội dung cuộc nói chuyện của Mao Trạch Đông ở Hàng Châu đến Chu Ân Lai và Bành Chân.

Ngày 1 tháng 4, Bành Chân chuyển các bản “Kỷ yếu” và lời phê duyệt của Trung ương dưới dạng thông báo đến tháng Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Chu Đức, Đặng Tiểu Bình v.v... cùng các đồng chí phụ trách trong Trung ương Đảng. Không gửi đến Lưu Thiếu Kỳ, vì từ ngày 26 tháng 3 đến ngày 19 tháng 4, Lưu Thiếu Kỳ cùng phu nhân Vương Quang Mỹ đi thăm Pa-kít-xtan, Áp-ga-ni-stan và ngay ngày hôm ấy, 1 tháng 4 ở Hàng Châu, Mao Trạch Đông phê vào “Kỷ yếu”: Đã duyệt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #74 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:44:44 pm »


Ngày 10 tháng 4, “Kỷ yếu” được coi là văn kiện “có đầu đề đỏ” của Trung ương Đảng được in và phát cho toàn Đảng. Lúc này, lời phê duyệt của Trung ương Đảng đã được đổi thành lời phê duyệt khác do Lưu Chí Kiên khởi thảo vào ngày 3 tháng 4, lời phê duyệt mới đã đánh giá cao “Kỷ yếu”. Thế là, “Kỷ yếu” nhanh chóng được đưa xuống các Trung ương cục, các tỉnh thành, Đảng ủy Khu tự trị, Đảng ủy các ban ngành Trung ương, các Đảng ủy, tổ chức Đảng các cơ quan nhà nước và đoàn thể nhân dân. “Trong quân đội phát đến Đảng ủy Trung đoàn, địa phương phát đến các huyện ủy, Đảng ủy các cơ quan văn hóa”.

Đối với Giang Thanh mà nói, ngày 10 tháng 4 năm 1966 là ngày “lịch sử” với tiêu đề “Kỷ yếu cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ của bộ đội đo đồng chí Lâm Bưu ủy thác cho đồng chí Giang Thanh triệu tập”, được in nổi bật trên văn kiện Trung ương Đảng. Đây là sự biểu thị rõ ràng về sự nổi dậy của Giang Thanh. Văn kiện này đã nêu rõ quan điểm văn nghệ của Giang Thanh, đồng thời yêu cầu các nơi quán triệt chấp hành ý kiến của Giang Thanh về công tác văn nghệ, vì đây là văn kiện của Trung ương Đảng, mà không phải là một bài viết trên báo.

Điều quan trọng nhất lại ở chỗ văn kiện đã nói rõ là “Kỷ yếu” đã được Mao Trạch Đông “đích thân sửa chữa ba lần” là do “đồng chí Lâm Bưu ủy thác” chứng tỏ một cách đầy đủ “hậu đài” của Giang Thanh cứng biết chừng nào.

Việc tổ chức công bố bài của Diêu Văn Nguyên ở Thượng Hải, rốt cuộc thì Giang Thanh cũng chỉ là người thao túng ở đằng sau. Thúc đẩy “cuộc cách mạng Kinh kịch”, nắm vở kịch mẫu, bài “Bàn về cách mạng Kinh kịch” của Giang Thanh cũng mãi đến ngày 20 tháng 5 năm 1967 mới được phát biểu công khai. Lần này thì, Giang Thanh với dáng vẻ của “ngôi sao mới về chính trị” đã toả sáng trong toàn Đảng.

Lời phê duyệt của Trung ương Đảng đã đánh giá cao “Kỷ yếu”: “Cuộc tọa đàm về công tác văn nghệ bộ đội do đồng chí Lâm Bưu ủy thác cho đồng chí Giang Thanh triệu tập lần này là một cuộc tọa đàm giương cao ngọn cờ vĩ đại tư tưởng Mao Trạch Đông. Bản Kỷ yếu tọa đàm đã được Mao Chủ tịch ba lần đích thân sửa chữa, đã phân tích một cách đúng đắn rất nhiều vấn đề cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận văn nghệ hiện nay, đã nêu ra những phương châm chính sách đúng đắn, là một văn kiện rấl tốt rất quan trọng. Trung ương hoàn toàn đồng ý với văn kiện này. Nó không chỉ thích hợp với quân đội, cũng thích hợp với các nơi, thích hợp với toàn bộ trận tuyến văn nghệ. Các cấp Đảng ủy nên liên hệ với tình hình thực tế của khu vực mình và công tác văn nghệ của ngành mình, thảo luận nghiêm túc, nghiên cứu nghiêm túc, quán triệt chấp hành”.

“Kỷ yếu” đã chuẩn bị dư luận cho việc phát động cuộc đại cách mạng văn hóa, đã nói rõ mặt “văn hóa không thể không có cuộc cách mạng lớn”. Cốt lõi của “Kỷ yếu” là đoạn như sau:

Từ khi dựng nước đến nay, giới văn nghệ đã bị một sợi chỉ đem chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội đối lập với tư tưởng Mao Trạch Đông chuyên chính. Sợi chỉ đen này chính là sự kết hợp giữa tư tưởng văn nghệ tư sản, tư tưởng văn nghệ của chủ nghĩa xét lại hiện đại và cái gọi là văn nghệ những năm 30. Lý thuyết “viết chân thực”, lý thuyết “con đường rộng rãi của chủ nghĩa hiện thực”, lý thuyết “đi sâu vào chủ nghĩa hiện thực”, lý thuyết “đề tài quyết định”, lý thuyết “nhân vật trung gian”, lý thuyết chống “mùi thuốc đạn”, lý thuyết “hội tụ tinh thần thời đại” v.v… là những luận điểm tiêu biểu của họ, mà những luận điểm này đại để đều đã bị Mao Chủ tịch phê phán từ lâu trong “Bài nói chuyện trong cuộc tọa đàm văn nghệ Diên An”. Giới điện ảnh còn có người nêu ra cái gọi là lý thuyết “ly kinh phản đạo” chính là rời bỏ kinh sách chủ nghĩa Mác – Lê-nin tư tưởng Mao Trạch Đông, phản lại con đường chiến tranh cách mạng nhân dân. Do sự ảnh hưởng hoặc khống chế của dòng ngược của tư tưởng văn nghệ tư sản và chủ nghĩa xét lại hiện đại, mười mấy năm nay những tác phẩm tốt hoặc cơ bản tốt thật sự ca ngợi những nhân vật anh hùng công nhân, nông dân, phục vụ công nông binh cũng có nhưng không nhiều; không ít là tác phẩm ở trạng thái trung gian; còn có một loạt những cỏ độc chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội. Chúng ta nhất định phải dựa vào chỉ thị của Trung ương Đảng kiên quyết tiến hành cuộc đại cách mạng xã hội chủ nghĩa trên mặt trận văn hóa, xóa bỏ triệt để sợi chỉ đen này…

Căn cứ vào sự đánh giá “tả” của “Kỷ yếu” đối với giới văn nghệ cả nước thì một cuộc “đại cách mạng văn hóa xã hội chủ nghĩa” xuất hiện là điều không thể tránh khỏi. Cuộc “đại cách mạng văn hóa xã hội chủ nghĩa này, sau này được đổi gọi là đại cách mạng văn hóa vô sản”. Tuy nói sau này là “đại cách mạng văn hóa vô sản”, nhưng lại vượt xa phạm trù “văn hóa” nhưng mới đầu chính là từ “Kỷ yếu”. Cái gọi là “cách mạng văn hóa” tức là bắt đầu từ “kiên quyết tiến hành cuộc đại cách mạng xã hội chủ nghĩa trên mặt trận văn hóa mà “kỷ yếu” đã nêu ra.

Giang Thanh cho rằng, trước đây việc phê phán phim “Truyện Vũ Huấn” và “Nghiên cứu Hồng Lâu mộng” cho đến việc phê phán “Hải Thụy bãi quan” chỉ là nắm “một số vấn đề cá biệt”. Lần này phải “nắm một cách hệ thống và toàn diện!”

“Kỷ yếu” trở thành tuyên ngôn lên nắm quyền của Giang Thanh. Tuy nói trong “Kỷ yếu” Giang Thanh vẫn chưa có bất cứ một hàm phẩm gì, chỉ là “đồng chí Giang Thanh” thôi, chỉ với tư cách là một “đảng viên cộng sản, vì sự nghiệp của Đảng”, cùng các đồng chí bộ đội “tiến hành trao đổi một cách bình đẳng” nhưng việc truyền đạt bản “Kỷ yếu” xuống dưới... chứng tỏ Giang Thanh muốn “xuống núi”, sắp đảm nhiệm chức vụ quan trọng!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #75 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:47:04 pm »


5
“Thông báo “16 tháng 5”” trời quang sét nổ
Sử vô tiền lệ động trời phách lạc hồn xiêu

Từ ngày lễ dựng nước 1 tháng 10 năm 1949 đến nay. Vào các ngày lễ “1 tháng 5”, “1 tháng 10” có tổ chức mít tinh tại Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh thì chủ trì buổi lễ trên lễ đài Thiên An Môn, đều là Thị trưởng thành phố Bắc Kinh Bành Chân.

Nhưng ngày 1 tháng 5 năm 1966, cái “lệ thường” ấy đã bị xóa bỏ, trên lễ đài Thiên An Môn chẳng thấy bóng dáng Bành Chân ở đâu! Điều đó có nghĩa là Bành Chân đã gặp “rắc rối”.

Quả thực, Bành Chân đã gặp “rắc rối”. Từ cuối tháng 3, sau khi Mao Trạch Đông liên tục ba lần phê bình Bành Chân, phê bình “Đề cương tháng Hai” tại Hàng Châu, ngày 1 tháng 4, Trương Xuân Kiều đã nhanh chóng viết “Mấy ý kiến đối với (Đề cương báo cáo về cuộc thảo luận học tập hiện nay của Tổ cách mạng văn hóa 5 người)” đã liệt kê ra ba tội trạng của “Đề cương” và nã pháo vào Bành Chân.

Ngày 2 và 5 tháng 4, hai bài viết phê phán “chỗ hiểm” của “Hải Thụy bãi quan” và “bị Bành Chân chèn ép hai tháng rưỡi” của Thích Bản Vũ cùng Quan Phong và Làm Kiệt, công khai lên mặt báo làm cho áp lực đối với Thành ủy Bắc Kinh đột ngột tăng lên.

Khang Sinh từ Bắc Kinh gọi điện thoại đường dài cho Đặng Tiểu Bình đang ở Thiểm Tây: “Chủ tịch yêu cầu đồng chí về ngay Bắc Kinh, chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị truyền đạt thông tư hủy bỏ “Đề cương tháng Hai”.

Đặng Tiểu Bình đáp máy bay về Bắc Kinh, triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị. Trong cuộc họp, Khang Sinh truyền đạt nội dung ba lần nói chuyện của Mao Trạch Đông với ông ta ở Hàng Châu vào cuối tháng 3. Đã là ý kiến của Mao Trạch Đông thì Đặng Tiểu Bình phải làm theo, bảo Vương Lực cùng tham dự Hội nghị khởi thảo một bản thông báo.

Ở Trung Quốc có hai Vương Lực cùng họ cùng tên. Trong đó có một Vương Lực là Giáo sư Đại học Bắc Kinh, nhà Ngôn ngữ nổi tiếng. Còn Vương Lực này lại khác, Vương lực này vốn có tên là Vương Quang Tân, vào Đảng năm 1939. Khi hoạt động bí mật, đổi tên là “Vương Lê”. Năm 1943, khi in tiểu thuyết “Trời hửng” thì ký tên là “Vương Lực” từ đồng âm với “Vương Lê”.

Vì nét bút của chữ “Lực” đơn giản nên từ đó ông lấy tên là “Vương Lực”. Ngày 1 tháng 6 năm 1958, khi Tạp chí “Hồng kỳ” ra số đầu tiên, Vương Lực giữ chức biên ủy, từ đó bước vào “nhóm tú tài” của Trung ương Đảng. Bắt đầu từ năm 1960, Vương Lực được tham gia Hội nghị của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Năm 1963, giữ chức Phó Ban liên lạc đối ngoại Trung ương.

Theo Vương Lực nhớ lại, “Thông báo” do ông khởi thảo, mới đầu chỉ có một câu: “Đề cương báo cáo về cuộc thảo luận học tập hiện nay của “Tổ cách mạng văn hóa 5 người” mà ngày 12 tháng 2 Trung ương đã truyền đạt nay hủy bỏ”.

Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thông qua “Thông báo” này, rồi đưa cho Mao Trạch Đông phê duyệt. Mao Trạch Đông xem, không vui, nói: “Đây không hề nói rõ bất cứ điều gì, không nói vì sao huy bỏ. Phải khởi thảo lại”.

Mao Trạch Đông chỉ định Trần Bá Đạt phụ trách khởi thảo. Trần Bá Đạt muốn cùng Vương Lực viết. Vậy là hai người Trần Bá Đạt và Vương Lực đã viết bản “Thông báo” thứ hai. Bộ Chính trị lại họp để thảo luận, Bành Chân cũng có mặt. Khang Sinh đề xuất: “Phải thêm một câu: “Đề cương tháng Hai” là một văn kiện xét lại trăm phần trăm!” Bành Chân nghe thấy vậy cười nhạt: “Được thôi, hãy nói cho nó đã đi!”

“Thông báo” sau khi sửa chữa, lại gửi đi Hàng Châu. Mao Trạch Đông xem vẫn thấy không vừa ý, cho rằng quá giản đơn. Mao Trạch Đông đề nghị, tổ chức tổ khởi thảo văn kiện, lại khởi thảo lần nữa ở Thượng Hải. Mao Trạch Đông nêu đích danh Trần Bá Đạt làm tổ trưởng, tổ gồm 10 thành viên: Khang Sinh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Lực, Quan Phong, Thích Bản Vũ, Ngô Lãnh Tây, Doãn Đạt, Mục Hân, Trần Á Đinh.

Ngày 16 tháng 4. Mao Trạch Đông triệu tập Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng ở Hàng Châu thảo luận vấn đề của Bành Chân, quyết định giải tán “Tổ Cách mạng văn hóa 5 người”. Thành lập lại tổ cách mạng văn hóa.

Cũng đúng hôm đó, tại Thượng Hải, thành viên tổ khởi thảo tề tựu ở khách sạn Cẩm Giang. Tổ trưởng Trần Bá Đạt và tổ viên Khang Sinh đi họp ở Hàng Châu, tổ do Giang Thanh chủ trì.

Văn kiện do tổ này khỏi thảo cũng chính là “Thông báo”, đây không phải là “Thông báo” nói chung, mà là văn kiện quan trọng của Trung ương Đảng - “Thông báo 16 tháng 5”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #76 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:47:44 pm »


Giang Thanh vừa hoàn thành xong “Kỷ yếu”, lúc này ở vào địa vị nổi bật khác thường.

Mỗi khi tổ hoàn thành một bản, thì Trương Xuân Kiều lập tức cho người đem đến Hàng Châu đưa thẳng cho Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông đích thân sửa chữa. Sửa xong cho người đưa thẳng cho Trương Xuân Kiều. Lúc này, Trương Xuân Kiều đã trở thành nhân vật có quyền thế, mọi người cười gọi ông ta là “Tổng thư ký”.

Khi tổ soạn thảo họp hội nghị lần cuối cùng, Trần Bá Đạt và Khang Sinh từ Hàng Châu trở về. Theo Vương Lực nhớ lại, hai vị “đại tú tài” này đã không hay biết những chỗ mà “Chủ tịch đã sửa”! Ngày 24 tháng 4, Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng đã cơ bản thông qua dự thảo “Thông báo” quyết định giao cho Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng thảo luận.

Ngày 4 tháng 5, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng được triệu tập ở Bắc Kinh. Tham gia Hội nghị có các thành viên Bộ Chính trị cùng những người phụ trách hữu quan gồm 76 người, Giang Thanh đã xuất hiện tại Hội nghị cao cấp chủ chốt của Đảng Cộng sản Trung Quốc mặc dù đến chức ủy viên Trung ương bà ta cũng không phải! Ngoài Giang Thanh ra, Trương Xuân Kiều, Quan Phong, Thích Bản Vũ cũng không phải là ủy viên Trung ương. Những người thuộc phái đại “tả” khuynh này, với tư cách là thành viên của nhóm khởi thảo văn kiện tham gia hội nghị. Giang Thanh bước vào Hội trường với vẻ vênh vang tự đắc vì 28 năm trước đã có “quy ước ba chương” vậy mà giờ đây, bà ta đã có thể tham gia Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng, không thể không nói đó là thắng lợi vô cùng to lớn của bà ta. Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lại không có mặt trong hội trường. Ông vẫn ở Hàng Châu. Ông đã sửa đi sửa lại “Thông báo”, giao cho Hội nghị thông qua là được chẳng cần phải tham gia Hội nghị, chủ trì Hội nghị là Lưu Thiếu Kỳ, ông mới đi thăm nước ngoài về được nửa tháng, hơi có chút ngỡ ngàng đối với sự thay đổi gấp gáp trong cục diện chính trị ở Trung Quốc.

Trong Hội nghị có hai vai hát chính: một là Khang Sinh, truyền đạt nội dung ba lần nói chuyện của Mao Trạch Đông với ông ta ở Hàng Châu, phê phán Bành Chân, Lục Định Nhất, người thứ hai là ngôi sao mới Trương Xuân Kiều, ngày 6 tháng 5, đã phát biểu một bài dài, giới thiệu một cách hệ thống tình hình Bành Chân, Lục Định Nhất và những người khác sau Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khóa 8 đã “chống lại đường lối cách mạng văn hóa”.

Bành Chân, Lục Định Nhất trở thành mục tiêu chủ yếu để hội nghị công kích. Thêm vào đó là La Thụy Khanh đã bị phê phán, còn có Dương Thượng Côn người bị hàm oan trong cái gọi là “sự kiện máy nghe trộm” biến thành “Tập đoàn phán đảng Bành, La, Lục, Dương” bị đánh tới tấp.

Trong hội nghị, hỏa lực đan chéo.

Ngày 9 tháng 5, “Giải phóng quân báo” đăng bài viết của Giang Thanh ký tên là “Cao Cự” với tiêu đề: “Nổ súng vào sợi chỉ đen chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội” đồng thời “Quang Minh nhật báo” đăng bài của Quan Phong, ký tên là “Hà Minh” với tiêu đề “Lau mắt cho sáng, nhận rõ thật giả”.

Ngày 10 tháng 5, “Giải phóng quân báo” và “Văn hối báo” ở Thượng Hải, đồng thời đăng bài viết dài của Diêu Văn Nguyên có tựa đề “Bình “Thôn ba nhà””. Điều khác lớn nhất so với bài viết bình “Hải Thụy bãi quan” nửa năm trước là ngày hôm sau các báo chí trong cả nước (bao gồm báo các tỉnh) đều đăng lại bài “Bình “Thôn ba nhà””.

Ngày 11 tháng 5, Tạp chí “Hồng kỳ” đăng bài “bình lập trường tư sản của báo “Tiền tuyến” và “Bắc Kinh nhật báo”” của Thích Bản Vũ.

Ngày 14 tháng 5, “Nhân dân nhật báo” đăng bài “Vạch trần bộ mặt chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội của Đặng Thác”.

Bánh xe lịch sử, cuối cùng đã cuốn vào ngày hôm ấy, 16 tháng 5, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thông qua “Thông báo”. Vì được thông qua vào ngày 16 tháng 5, nên mọi người gọi là “Thông báo 16 tháng 5”.

“Thông báo 16 tháng 5” là tuyên ngôn của “cách mạng văn hóa”, là cương lĩnh để tiến hành “cách mạng văn hóa”. Các nhà sử học đã coi ngày thông qua thông báo ngày 16 tháng 5 năm 1966, là ngày bắt đầu “cách mạng văn hóa”.

Lưu Thiếu Kỳ người chủ trì Hội nghị, đã không hề biết rằng “những nhân vật Khơ-rút-sốp đang ngủ bên cạnh chúng ta” mà trong “Thông báo” nói tới ấy, chính là chỉ ông!

Một đoạn trong “Thông báo” đã khái quát mục tiêu tiến hành “cách mạng văn hóa”.

“Giương cao ngọn cờ vĩ đại của cách mạng văn hóa vô sản, vạch trần triệt để lập trường phản động tư sản của cái gọi là “quyền uy học thuật” chống Đảng chống chủ nghĩa xã hội, phê phán triệt để tư tưởng phản động tư sản của giới học thuật, giới giáo dục, giới báo chí, giới văn nghệ, giới xuất bản, giành lại quyền lãnh đạo trong các lĩnh vực văn hóa này. Nhưng muốn làm được điều này thì phải đồng thời phê phán những nhân vật đại biểu của giai cấp tư sản đã trà trộn trong Đảng, trong chính quyền, trong quân đội và trong các giới thuộc lĩnh vực văn hóa, gạt sạch những người này và cần phải thay đổi chức vụ của một số người.

“Những nhân vật đại biểu của giai cấp tư sản trà trộn trong Đảng, trong chính quyền, trong quân đội và trong các giới văn hóa, là bọn xét lại phản cách mạng, hễ thời cơ chín muồi, là chúng sẽ cướp chính quyền, từ chuyên chính vô sản biến thành chuyên chính tư sản. Những nhân vật này, có một số đã bị chúng ta nhận ra, có một số vẫn chưa nhận ra, có một số đang được chúng ta tin dùng, được bồi dưỡng làm người kế tục của chũng ta, chính là những nhân vật Khơ-rút-sốp đang ngủ bên cạnh chúng ta, Đảng ủy các cấp cần phải chủ ý đầy đủ điều này”.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #77 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:48:19 pm »


Do “Thông báo 16 tháng 5” gọi là “Đại Cách mạng văn hóa vô sản” nên từ đó cụm từ “Đại Cách mạng văn hóa xã hội chủ nghĩa” cũng biến mất trên tất cả các báo chí.

“Cách mạng văn hóa” đã tạo cơ hội tốt nhất cho sự trỗi dậy của Giang Thanh trong chính trị. Một lần nữa bà ta trở thành diễn viên hoạt động mạnh mẽ, chỉ có điều là bây giờ bà ta hoạt động mạnh trên vũ đài chính trị của Trung Quốc...

Trong “Thông báo 16 tháng 5” có một đoạn như thế này: “Bãi bỏ “Tổ cách mạng văn hóa 5 người” và các cơ quan làm việc của nó, thiết lập lại tổ cách mạng văn hóa, chịu sự quản lý của Thường vụ Bộ Chính trị”.

“Tổ cách mạng văn hóa” mới này, Mao Trạch Đông chỉ định Trần Bá Đạt làm tổ trưởng và yêu cầu Trần Bá Đạt tổ chức lấy người vào nhóm này.

Trần Bá Đạt biết vai trò quan trọng của “đệ nhất phu nhân” liền bàn với Giang Thanh về danh sách của tổ, quyết định lấy nguyên tổ khởi thảo “Thông báo 16 tháng 5” làm cơ sở, sau đó thêm bớt. Tổ khởi thảo, ngoài Trần Bá Đạt là tổ trưởng ra, tổ viên gồm 10 người: Khang Sinh, GiangThanh, Trương Xuân Kiều, Vương Lực, Quan Phong, Thích Bản Vũ, Ngô Lãnh Tây, Doãn Đạt, Mục Hân, Trần Á Đinh.

Trong đó Trần Á Đinh được thay bằng Tạ Hoàng Trung, vì Trần Á Đinh là Phó Cục trưởng Cục Văn hóa Tổng cục Chính trị còn Tạ Hoàng Trung là Cục trưởng, đưa Trần Á Đinh vào mà không đưa Tạ Hoàng Trung sẽ không thích hợp. Nếu để hai người thì Tổng cục Chính trị nhiều quá. Vì vậy đã thay Trần Á Đinh bằng Tạ Hoàng Trung.

Trong số tổ viên cử Khang Sinh làm cố vấn, Giang Thanh và Trương Xuân Kiều làm tổ phó. Ngô Lãnh Tây bị xóa tên.

Ngoài ra, tăng thêm Vương Nhậm Trọng và Lưu Chí Kiên làm tổ phó. Tăng thêm Lưu Chí Kiên vì ông đã tham gia việc khởi thảo “Kỷ yếu”. Tăng thêm Vương Nhậm Trọng là Bí thư Tỉnh ủy Hồ Bắc, ngoài nguyên nhân Vương Nhậm Trọng là “tú tài” trong số các Bí thư tỉnh ủy, đã viết khá nhiều tạp văn (thường được công bố dưới cái tên “Cung Đồng Văn”), hơn nữa do bài phát biểu của ông ta trong Thường vụ Tỉnh ủy Hồ Bắc ngày 24 tháng 1 năm 1966 về chính trị đi đầu, nên rất được Mao Trạch Đông coi trọng và đến ngày 10 tháng 4 năm 1966 đã được Trung ương Đảng phê duyệt và công bố trong toàn Đảng.

Ánh mắt của Giang Thanh, thận trọng lướt nhìn bản danh sách, phát hiện thiếu một tướng “tả” quan trọng Diêu Văn Nguyên.

Tuy Trần Bá Đạt không coi Diêu Văn Nguyên ra gì, nói bố của ông ta Diêu Liên Tử là kẻ phản bội, có điều phải nể mặt Giang Thanh, nên vẫn phải đưa Diêu Văn Nguyên vào danh sách ở ghế cuối cùng. Theo cấp bậc và quá trình công tác thì Diêu Văn Nguyên là người thấp nhất, mỏng nhất.

Danh sách này đã được Thường vụ Bộ Chính trị thảo luận và đồng ý đưa trình Mao Trạch Đông phê chuẩn.

Ngày 28 tháng 5 năm 1966, Trung ương Đảng đã gửi “Thông báo danh sách tổ Cách mạng văn hóa Trung ương”, toàn văn như sau:

Trung ương quyết định thành lập Tổ cách mạng văn hóa Trung ương dưới sự lãnh đạo của Thường vụ Bộ Chính trị. Nay thông báo danh sách Tổ cách mạng văn hóa Trung ương để các đồng chí biết:

Tổ trưởng: Trần Bá Đạt

Cố vấn: Khang Sinh.

Tổ phó: Giang Thanh, Vương Nhậm Trọng, Lưu Chí Kiên, Trương Xuân Kiều.

Tổ viên: Tạ Hoàng Trung, Doãn Đạt, Vương Lực, Quan Phong, Thích Bản Vũ, Mộc Hân, Diêu Văn Nguyên.

Các thành viên (4 người) của 4 khu lớn Hoa Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, sau khi xác định sẽ thông báo sau.


Từ đó, Giang Thanh đã có chức vụ thực sự: Tổ phó Tổ cách mạng văn hóa Trung ương. Tổ này, thường được mọi người gọi là “Trung ương văn cách” (Cách mạng văn hóa Trung ương).

Trong 4 tổ phó thì Giang Thanh đứng thứ nhất. Cuối cùng Giang Thanh đã thỏa mãn nguyện vọng coi như đã đứng vào tuyến đầu của chính đàn.

Năm 1966 là năm đắc ý nhất của Giang Thanh trên đường đời. Trong năm này bà ta đã có chức vị trong quân đội, càng làm cho bà ta có lý do để tự quảng cáo mình là chiến sĩ. Bà ta sắp trở thành vị thống soái của đại quân trên mặt trận văn nghệ. Vậy là phút chốc bà ta đã bước vào con đường đi tới quyền lực chính trị.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #78 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2010, 07:16:52 pm »


Chương IV
BA NƯỚC CỜ TRONG CÁCH MẠNG VĂN HÓA
CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG


1
Một bức tranh thần bí khiến Mao Trạch Đông hoảng hốt không yên


1. Những nhận định sai lầm của Mao Trạch Đông

Cách mạng văn hóa xảy ra trước hết bắt đầu từ những nhận định sai lầm của Mao Trạch Đông đối với mâu thuẫn chủ yếu trong nước. Vì vào năm 1956, trước khi hoàn thành cơ bản ba cuộc cải tạo lớn về chế độ tư hữu tư liệu sản xuất, Trung Quốc là một xã hội có giai cấp. Lúc ấy trong Đảng nảy sinh sai lầm “tả” khuynh, chủ yếu là đã coi bạn là thù, mở rộng diện đả kích, thu nhỏ quân đồng minh; trong đấu tranh đã dùng những sách lược và thủ đoạn không thỏa đáng v.v... Nhưng sau khi ba cuộc cải tạo lớn đã cơ bản hoàn thành thì tình hình khách quan và mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Trung Quốc đã có những thay đổi có tính chất căn bản. Vì vậy nhiệm vụ của Đảng cũng nảy sinh những thay đổi có tính chất căn bản mà chủ yếu là “phá bỏ thế giới cũ chuyển sang xây dựng thế giới mới”. Cho nên “tả” sau năm 1957, chủ yếu biểu hiện ở các vấn đề đấu tranh giai cấp xã hội xã hội chủ nghĩa v.v.. Lý luận và thực tiễn của “tả” khuynh lúc này vừa có mối liên hệ về các mặt nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc lịch sử v.v... với “tả” trước đây, lại vừa có sự khác biệt lớn về điều kiện xã hội khách quan và nội dung thực tế lý luận. Làm rõ sự khác biệt này, có một ý nghĩa quan trọng đối với việc làm rõ sự phát triển ác tính về lý luận và thực tiễn “tả” khuynh nào để cuối cùng dẫn tới cuộc đại cách mạng văn hóa. Đó là điều đầu tiên cần phải nói rõ.

Từ tiến trình lịch sử khách quan mà xét, sau năm 1957, sự phát triển của trào lưu “tả” khuynh trong Đảng Cộng sản Trung Quốc đã được xác định là bắt đầu từ đánh giá không thỏa đáng đối với tình hình giai cấp trong nước và nhận định sai lầm về mâu thuẫn chủ yếu trong nước.

Đáng lẽ, sau khi hoàn thành cơ bản cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với chế độ tư liệu sản xuất ở đại lục Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc phải đưa ra những quyết nghị đúng đắn đúng lúc để nêu ra những quyết sách trọng đại về sự chuyển hóa mâu thuẫn chủ yếu và sự thay đổi trọng tâm công tác. Đại hội 8 Đảng Cộng sản Trung Quốc họp năm 1956, trong Nghị quyết về báo cáo chính trị đã chỉ rõ: “Mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta, đã là mâu thuẫn giữa yêu cầu của nhân dân đối với việc xây dựng một nước công nghiệp tiên tiến với hiện thực là một nước nông nghiệp lạc hậu, đã là mâu thuẫn giữa nhu cầu của nhân dân đối với sự phát triển nhanh chóng nền kinh tế văn hóa với tình trạng nền kinh tế văn hóa trước mắt không thể thỏa mãn như cầu của nhân dân. Thực chất của mâu thuẫn này trong tình hình chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được xây dựng cũng chính là mâu thuẫn giữa chế độ xã hội chủ nghĩa tiên tiến với lực lượng sản xuất lạc hậu”. Việc trình bày này đối với mâu thuẫn chủ yếu trong nước về chữ nghĩa có chỗ chưa đủ chính xác.

Nghị quyết về báo cáo chính trị của Đại hội 8 có giống sự tuyên truyền trong thời kỳ đại cách mạng văn hóa hay không, rằng “do Lưu Thiếu Kỳ lén lút làm sau lưng Mao Chủ tịch”, “là món hàng xét lại tuyên truyền cho lý thuyết đấu tranh giai cấp đã chấm dứt”? Không phải! Sự thực là Lưu Thiếu Kỳ trong quá trình khởi thảo Báo cáo chính trị Đại hội 8, đã cùng Mao Trạch Đông bàn đi tính lại nhiều lần, đồng thời dựa vào ý kiến của Mao Trạch Đông đã sửa chữa một cách nghiêm túc. Mao Trạch Đông cho rằng Lưu Thiếu Kỳ sửa chữa rất tốt, đồng thời trên trang bìa giả của bản thảo đã đích thân viết đề mục: “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Đại hội đại biểu toàn quốc dân thứ 8”, dưới lại đề ba chữ “Lưu Thiếu Kỳ”. Trong Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 1 khóa 8, Mao Trạch Đông còn ca ngợi: “Là một đề cương rất tốt”. Đủ thấy đối với Báo cáo chính trị, Mao Trạch Đông đa đích thân sửa chữa và tán thành.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #79 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2010, 07:17:59 pm »


2. Sự kiện Hung-ga-ri đã làm nhận định sai lầm sâu sắc thêm

Sau Đại hồi 8, đã nổ ra sự kiện Hung-ga-ri làm chấn động toàn thế giới.

Ngày 23 tháng 10 năm 1956, lại thủ đô Pu-đa-pét của Hung-ga-ri đã nổ ra cuộc biểu tình lớn của hai mười vạn người, đòi xóa bỏ hậu quả do sai lầm của người lãnh đạo trước đó là Ra-cô-xi, đồng thời yêu cầu khôi phục lại chức vụ cho Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nát-giơ. Khi biểu tình... xảy ra sự kiện đổ máu tấn công Đài phát thanh, Cục bưu điện và kho vũ khí, tình hình lại có những sự phát triển nghiêm trọng mới. Một số nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước do Ia-nốt Ca-đa đứng đầu đã lập ra chính phủ cách mạng công nông, mời Liên Xô đưa quân vào trấn áp, ngày 4 tháng 11, quân đội Liên Xô vào Bu-đa-pét dập tắt cuộc phiến loạn.

Các nước Phương Tây thừa cơ dấy lên cao trào chống cộng sản sau báo cáo bí mật của Khơ-rút-sốp. Trước trận cuồng phong to lớn ấy, Đảng Cộng sản Trung Quốc bình tĩnh, lặng lẽ. Xét trên tổng thể, trong một thời gian, Mao Trạch Đông không hề thay đổi những nhận định cơ bản của Đại hội 8 với mâu thuẫn chủ yếu trong nước và tình hình đấu tranh giai cấp. Nhưng do Mao Trạch Đông đã tổng kết ra một bài học cơ bản nhất từ sự kiện Hung-ga-ri là: “Vấn đề cơ bản của một số nước Đông Âu chính là chưa làm tốt đấu tranh giai cấp”. Điều đó đã không thể tránh khỏi ánh hưởng đến sự phân tích và nhận định của ông đối với những mâu thuẫn và những sự kiện xẩy ra trong nước sau này.

Sự kiện Hung-ga-ri xảy ra đã thúc đẩy Mao Trạch Đông tập trung tất cả tinh lực cho việc tìm hiểu vấn đề giải quyết đúng đắn mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.

Cho đến đầu năm 1957, ý kiến của Mao Trạch Đông đối với mâu thuẫn chủ yếu trong nước là nhất trí với Nghị quyết của Đại hội 8.


3. Cuộc đấu tranh chống phái hữu làm mâu thuẫn trầm trọng thêm

Chỉ vài ba tháng sau, cuộc đấu tranh chống phái hữu đã bùng nổ. Cuộc đấu tranh này được coi là “một cuộc đấu tranh giai cấp có quy mô lớn và có tính quần chúng”. Trên thực tế, cuộc đấu tranh giai cấp này chủ yếu là do con người gây nên. Cuộc đấu tranh chống phái hữu không những đã quy kết sai hàng loạt trí thức, nhân sĩ dân chủ yêu nước và cán bộ trong Đảng là “phần tử phái hữu” làm cho họ và gia đình họ gặp phải những nỗi bất hạnh rất lớn, mà còn làm cho sự phát triển văn hóa khoa học của Trung Quốc bị trì trệ, khuyến khích sự bành trướng của trào lưu tư tưởng “tả” khuynh, đều có ảnh hưởng nặng nề đến tiến trình lịch sử xã hội Trung Quốc và cả đến sự bùng nổ của “đại cách mạng văn hóa”. Ngày 2 tháng 5, “Nhân dân nhật báo” đăng bài xã luận “Vì sao phải chỉnh phong” kêu gọi động viên đông đảo quần chúng giúp Đảng Cộng sản chỉnh phong. Lúc ấy, toàn quốc đã xuất hiện phong trào rầm rộ của đông đảo quần chúng tích cực phê hình và kiến nghị với Đảng. Tuyệt đại đa số là có thiện ý. Nhưng cũng không thể phủ nhận ở một số địa phương và đơn vị nào đó thực sự có rất ít phần tử thù địch với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, chúng được sự cổ vũ của cao trào chống cộng quốc tế sau sự kiện Hung-ga-ri, nhân cơ hội Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉnh phong, làm mưa làm gió, mưu đồ lật đổ địa vị lãnh đạo của Đảng. Một bộ phận quần chúng trong việc giúp đỡ Đảng chỉnh phong hoặc do thiếu kinh nghiệm xã hội hoặc do tư tưởng quá khích, đã phát biểu những lời lẽ gay gắt, không hoàn toàn phù hợp với thực tế, đã tiến hành những hoạt động đưa yêu sách, biểu tình v.v... đã gây ra hỗn loạn trong một thời gian. Đối với tình hình lúc đó, mới đầu Mao Trạch Đông đánh giá là “gió mới nổi, làm gợn lên những lớp sóng lăn tăn trong hồ nước xuân”, coi là không nghiêm trọng lắm, thậm chí còn thông qua các con đường và tuyên truyền trong dư luận, khuyến khích mọi người mạnh dạn nói rõ. Về sau, ông thay đổi cách nhìn đối với tình hình, cho rằng đã thành “mây đen phủ kín thành làm thành sắp đổ” rồi, nếu không phản kích thì một số tỏ chức Đảng sẽ sụp đổ. Thế là lại động viên toàn đảng phản kích, triển khai cuộc đấu tranh mang tính chất quần chúng với quy mô lớn, từ đó tạo nên cục diện cuộc đấu tranh chống phái hữu mở rộng một cách nghiêm trọng.

Cuộc đấu tranh chống phái hữu mở rộng một cách nghiêm trọng đã đưa lại cho Đảng và Nhà nước rất nhiều hậu quả bất hạnh, trong đó vấn đề trực tiếp nhất có tính chất toàn cục, là sự đánh giá tình hình chính trị trong nước không đúng và sự thay đổi đột ngột nhận định mâu thuẫn chủ yếu trong nước. Trong thời kỳ đấu tranh chống phái hữu, Mao Trạch Đông đã liên tiếp viết rất nhiều chỉ thị, bài văn và xã luận có những nhận định quá nghiêm trọng đối với vấn đề đấu tranh giai cấp.

Sự thay đổi nhận định đối với mâu thuẫn chủ yếu trong nước, trong hội nghị tổ trưởng của Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3 khóa 8, Mao Trạch Đông đã từng giải thích “trong văn kiện Đại hội 8 nói là cuộc đấu tranh giai cấp trên quy mô lớn cơ bản đã kết thúc, vì lúc đó giai cấp tư sản khua chiếng dóng trống, phục tùng nghe theo, vấn đề chưa bộc lộ đầy đủ. Vấn đề trí thức tư sản, vấn đề tư tưởng của tầng lớp trung nông giàu có, vấn đề thế lực chính trị và hình thái ý thức của giai cấp tư sản cũng như vấn đề trong kiến trúc thượng tầng, lúc đó nhìn rất không rõ ràng. Qua tự do lên tiếng, tự do phát biểu lần này, giai cấp tư sản muốn làm phản, vấn đề mới được nhìn rõ. Vì thế phải nói rằng, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là mâu thuẫn chủ yếu”. Từ lời giải thích này có thể thấy rõ, sai lầm cửa Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khóa 8 đối với việc nhận định về mâu thuẫn chủ yếu, là sự phản ánh về lý luận trong việc mở rộng nghiêm trọng cuộc đấu tranh chống phái hữu. Do có những phán đoán sai lầm đối với mâu thuẫn chủ yếu, nên trong quan điểm lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp trong xã hội xã hội chủ nghĩa tất nhiên sẽ phát sinh ra một loạt phán đoán sai lầm.

Trước tiên, phải xác định mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội xã hội chủ nghĩa, thì cần phải khẳng định trong điều kiện xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại một giai cấp tư sản với ý nghĩa hoàn chỉnh.

Nhận định là đại lục Trung Quốc đã bước vào xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại giai cấp bóc lột, về lý luận tất nhiên sẽ gặp những khó khăn không dễ khắc phục.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM