Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:04:20 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sách trắng quốc phòng Việt Nam 2009  (Đọc 33190 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #30 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:38:30 pm »

Bước vào thời kỳ hoà bình xây dựng đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực hiện điều chỉnh biên chế, tổ chức, cắt giảm gần hai phần ba quân số . Các thế hệ sĩ quan, chiến sĩ quân đội vẫn kế tiếp nhau phát huy truyền thống và bản chất tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ”, luôn làm đúng chức năng của một đội quân chiến đấu, một đội quân công tác, một đội quân sản xuất, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn s àng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Thực hiện chức năng là một đội quân công tác, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Là một trong các lực lượng nòng cốt tham gia công tác vận động quần chúng, các đơn vị quân đội đã tích cực thực hiện công tác dân vận. Nhiều đ ơn vị quân đội đã đi đầu trong phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng sâu, vùng xa; tham gia công tác c ứu hộ và giảm nhẹ thiên tai, phòng chống lụt, bão. Quân đội cũng tích cực tham gia xoá đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tình thần cho các tầng lớp nhân dân , phấn đấu đến năm 2010 hoàn thành chỉ tiêu xóa đói giảm nghèo cho 100.000 hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

Là một đội quân sản xuất, các đơn vị trong toàn quân đã tận dụng mọi tiềm năng lao động, đất đai, kỹ thuật... để đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tạo nguồn sản phẩm bổ sung tại chỗ, góp phần giữ ổn định và cải thiện đáng kể đời sống bộ đội. Các nhà máy, xí nghiệp của quân đội đã sản xuất được các loại vũ khí, khí tài phù hợp với yêu cầu tác chiến hiện đại, đáp ứng các yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Nhiều đơn vị làm kinh tế của quân đội đã sản xuất và kinh doanh có hiệu quả, trở thành các tổ chức kinh tế lớn của đất nước, đi đầu trong kết hợp kinh tế với quốc phòng, góp phần xứng đáng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh của đất nước. Các doanh nghiệp quân đội đã tham gia nhiều dự án công trình trọng điểm của quốc gia như đường Hồ Chí Minh, đường dây 500 KV Bắc - Nam, dịch vụ dầu khí và nhiều công trình thuỷ điện lớn như Sông Đà, Drây H"ling.

Hiện có 98 doanh nghiệp quân đội đang tham gia hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế như dịch vụ bay, dịch vụ cảng biển, viễn thông, công nghiệp đóng t àu... Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp này ngày một tăng.

Thực hiện chức năng cơ bản là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và các quyền lợi quốc gia của đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam được tổ chức theo hướng tinh gọn, được trang bị các loại vũ khí, khí tài hiện đại cần thiết, thực hiện huấn luyện thường xuyên, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam có lực lượng thường trực gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương với tổng quân số khoảng 450 000 người và lực lượng quân dự bị khoảng 5 triệu người.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #31 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:40:05 pm »

Bộ đội chủ lực là thành phần nòng cốt của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm lực lượng cơ động của các quân đoàn, quân chủng, binh chủng, bộ đội chủ lực của quân khu và bộ đội chuyên môn kỹ thuật. Bên cạnh các đơn vị huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu còn có hệ thống hoàn chỉnh các đơn vị bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; các học viện, viện nghiên cứu, các trường đào tạo sĩ quan và trường nghiệp vụ các cấp.

1.1.1. Lục quân
Lục quân Việt Nam không tổ chức thành bộ tư lệnh riêng mà đặt dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị; sự chỉ đạo chuyên ngành của các tổng cục và cơ quan chức năng khác. Khi mới thành lập, Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ có lục quân với bộ binh là chính. Sau 65 năm xây dựng, Lục quân đã từng bước phát triển cả về quy mô tổ chức v à lực lượng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Lục quân có 07 quân khu (1, 2, 3, 4, 5, 7, 9) và Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội; 06 binh chủng gồm Pháo binh, Tăng - Thiết giáp, Công binh, Thông tin, Hoá học, Đặc công; 04 quân đoàn (1, 2, 3, 4). Các quân khu, quân đoàn, binh ch ủng có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các đơn vị trực thuộc khác. Các quân khu được tổ chức trên các hướng chiến lược và theo địa bàn. Quân khu có các sư đoàn và trung đoàn chủ lực trực thuộc. Quân khu chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu. Quân đoàn là đơn vị cơ động lớn nhất của Lục quân, được bố trí để bảo vệ các địa b àn chiến lược trọng yếu của quốc gia, Quân đoàn có các sư đoàn và các đơn vị trực thuộc. Các binh chủng tham gia tác chiến hợp đồng quân binh chủng theo phân công đồng th ời thực hiện chức năng bảo đảm kỹ thuật và huấn luyện, đào tạo sĩ quan, nhân viên kỹ thuật theo các chuyên ngành cho toàn quân. Các binh chủng có các đơn vị chiến đấu trực thuộc, các trường sĩ quan và trường kỹ thuật theo chuyên ngành. Lục quân Việt Nam được trang bị theo hướng hiện đại, gọn nhẹ, có khả năng cơ động cao, có sức đột kích và hoả lực mạnh, có khả năng tác chiến trong các điều kiện địa hình, thời tiết, khí hậu, phù hợp với nghệ thuật chiến tranh nhân dân hiện đại. Trải qua thử thách trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, Lục quân đã từng bước trưởng thành, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và tạo nên truyền thống vẻ vang. Tất cả các quân đoàn, hầu hết các binh chủng và nhiều đơn vị của Lục quân đã được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.

1.1.2. Quân chủng Phòng không - Không quân
Quân chủng Phòng không - Không quân đảm nhiệm cả nhiệm vụ của bộ đội phòng không quốc gia và của không quân. Quân chủng là lực lượng nòng cốt quản lý, bảo vệ vùng trời, bảo vệ các mục tiêu trọng điểm quốc gia, bảo vệ nhân dân đồng thời tham gia bảo vệ các v ùng biển đảo của Tổ quốc. Lực lượng Phòng không - Không quân có thể độc lập thực hiện nhiệm vụ hoặc tham gia tác chiến trong đội hình quân binh chủng hợp thành. Quân chủng làm tham mưu cho Bộ Quốc phòng chỉ đạo xây dựng lực lượng phòng không lục quân và không quân thuộc các quân chủng, binh chủng, ngành khác. Lực lượng không quân vận tải ngoài nhiệm vụ vận chuyển phục vụ chiến đấu v à sẵn sàng chiến đấu còn tham gia các hoạt động cứu trợ thiên tai và phát triển kinh tế.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #32 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:41:56 pm »

Quân chủng Phòng không - Không quân được tổ chức thành Bộ tư lệnh Quân chủng, các đơn vị chiến đấu; khối bảo đảm; khối nhà trường và các đơn vị kinh tế. Bộ Tư lệnh quân chủng có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh; Chính uỷ và Phó Chính uỷ, các cơ quan đảm nhiệm các mặt công tác quân sự; công tác đảng, công tác chính trị; kỹ thuật; hậu cần và các đơn vị trực thuộc. Quân chủng có các sư đoàn không quân, sư đoàn phòng không và một số đơn vị không quân trực thuộc là các đơn vị chiến đấu chủ yếu. Quân chủng Phòng không - Không quân từng bước được trang bị các loại máy bay, tên lửa, pháo phòng không và các phương tiện kỹ thuật hiện đại khác trong đó có máy bay tiêm kích đa năng, tên lửa phòng không tầm xa, rađa thế hệ mới… Quân chủng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu đồng thời quản lý vùng trời của Tổ quốc và tham gia tìm kiếm cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai.

Trong cuộc chiến tranh giải phóng, lực lượng phòng không - không quân đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ ra miền Bắc, bảo vệ giao thông vận tải chi viện cho miền Nam, góp phần xứng đáng vào nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc v à giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Do những thành tích trong chiến đấu và thực hiện các nhiệm vụ khác, cả lực l ượng không quân và phòng không đều được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.

1.1.3. Quân chủng Hải quân
Quân chủng Hải quân là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên biển. Hải quân nhân dân Việt Nam có nhiệm vụ quản lý và kiểm soát chặt chẽ các vùng biển, hải đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông; giữ gìn an ninh, chống lại mọi hành vi vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia của Việt Nam trên biển; bảo vệ các hoạt động bình thường của Việt Nam trên các vùng biển đảo, theo quy định của luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam; bảo đảm an toàn hàng hải và tham gia tìm kiếm cứu nạn theo pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, sẵn sàng hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng khác nhằm đánh bại mọi cuộc tiến công xâm lược trên hướng biển.

Bộ tư lệnh Hải quân chỉ huy toàn bộ lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam. Bộ Tư lệnh có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ, các cơ quan đảm nhiệm các mặt công tác quân sự; công tác đảng, công tác chính trị; kỹ thuật; hậu cần. Hải quân nhân dân Việt Nam có 5 vùng Hải quân (1, 2, 3, 4, 5) và các đơn vị trực thuộc.

Lực lượng chủ yếu của Hải quân nhân dân Việt Nam là các đơn vị tàu mặt nước, pháo - tên lửa bờ biển; hải quân đánh bộ; đặc công hải quân và các đơn vị phòng thủ đảo. Hải quân nhân dân Việt Nam đ ã được tăng cường lực lượng và phương tiện để làm tốt nhiệm vụ tìm kiếm và cứu nạn. Trong tương lai, Hải quân nhân dân Việt Nam được tăng cường trang bị vũ khí hiện đại, nâng cao sức mạnh chiến đấu để có đủ khả năng hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam.

Hải quân nhân dân Việt Nam có truyền thống rất vẻ vang, lập công lớn trong chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân và hải quân Mỹ nhất là thành tích chống phong toả đường biển và các nhiệm vụ được giao trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Quân chủng Hải quân được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #33 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:43:41 pm »

1.1.4. Bộ đội Biên phòng
Bộ đội biên phòng là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, có vị trí như một quân chủng thực hiện chức năng quản lý bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển và các cửa khẩu theo quy định của pháp luật và là lực lượng trong các khu vực phòng thủ tỉnh, huyện biên giới. Bộ đội Biên phòng có nhiệm vụ chủ trì phối hợp với các ngành, lực lượng hữu quan trên địa bàn và chính quyền địa phương trong quản lý, bảo vệ đường biên quốc gia, mốc giới; duy trì thực hiện các hiệp định, quy chế biên giới và pháp luật về biên giới; phát hiện và đấu tranh với các hoạt động vi phạm và chống phá của các loại tội phạm, giữ vững chủ quyền, an ninh, trật tự ở khu vực bi ên giới; thực hiện nhiệm vụ đối ngoại biên phòng, quan hệ với các cơ quan hữu quan các nước láng giềng để giải quyết các vấn đề về quan hệ biên giới nhằm xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, góp phần tạo môi trường ổn định, phát triển và phục vụ đắc lực cho chủ trương mở rộng hợp tác quốc tế.

Bộ đội Biên phòng được tổ chức, chỉ huy thống nhất từ Bộ Tư lệnh đến các đơn vị cơ sở gồm có Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng các tỉnh (thành phố), Hải đoàn Biên phòng và các đồn biên phòng, hải đội biên phòng. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ, các cơ quan đảm nhiệm các mặt công tác quân sự; công tác đảng , công tác chính trị; kỹ thuật; hậu cần, Cục Phòng chống ma tuý và các đơn vị trực thuộc. Bộ đội biên phòng được xây dựng ngày càng vững mạnh, giỏi về nghiệp vụ bi ên phòng, dân vận, nắm vững pháp luật của Việt Nam cũng nh ư pháp luật và các thông lệ quốc tế, được trang bị các phương tiện nghiệp vụ biên phòng cùng vũ khí chiến đấu ngày càng hiện đại để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Được thành lập ngày 03 tháng 3 năm 1959, sau 50 năm xây dựng, trưởng thành và không ngừng phấn đấu, các thế hệ cán bộ, chiến sỹ biên phòng đã lập nên nhiều chiến công và thành tích vẻ vang. Toàn lực lượng Bộ đội Biên phòng đã được tặng huân chương Sao Vàng và hai lần được tuyên dương đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.

1.1.5. Bộ đội địa phương
Bộ đội địa phương là lực lượng cơ động tác chiến chủ yếu trên địa bàn địa phương, cùng với dân quân tự vệ làm nòng cốt của chiến tranh nhân dân tại địa ph ương, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh (thành phố) trực thuộc trung ương và Ban chỉ huy quân sự huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh). Bộ đội địa phương gắn bó chặt chẽ với khu vực phòng thủ, hoạt động chiến đấu trong thế trận phòng thủ chung của quân khu và của cả nước, phù hợp với yêu cầu và đặc điểm từng khu vực trong chiến tranh nhân dân địa phương kết hợp với chiến tranh nhân dân của cả nước.

Biên chế và thế bố trí của bộ đội địa phương tuỳ thuộc quy mô và tầm quan trọng của các tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh). Tuỳ theo qui mô tổ chức, điều kiện địa hình, hoàn cảnh kinh tế - xã hội của từng địa phương, các đơn vị bộ đội địa phương được trang bị vũ khí với số lượng, kiểu loại phù hợp với yêu cầu tác chiến. Bộ đội địa phương có các đơn vị chuyên môn, kỹ thuật, các đơn vị phòng không, pháo binh, trinh sát, đặc công, công binh và các đơn vị bảo đảm khác.

Ngày nay, việc tổ chức học tập, huấn luyện cho các đơn vị bộ đội địa phương được tiến hành thường xuyên, nhằm nâng cao ý thức cảnh giác, sẵn sàng phối hợp, hiệp đồng với lực lượng dân quân tự vệ trong chiến đấu, bảo vệ nhân dân và chính quyền địa phương. Lực lượng bộ đội địa phương còn kết hợp chặt chẽ với lực lượng dân quân tự vệ để giữ gìn trật tự an ninh trong địa bàn, giúp huấn luyện dân quân tự vệ và góp phần hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện lực lượng dự bị động viên.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #34 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:45:40 pm »

1.1.6. Lực lượng dự bị động viên
Lực lượng dự bị động viên là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật, có năng lực hoàn thành nhiệm vụ, sẵn sàng tham gia lực lượng thường trực khi có yêu cầu. Lực lượng dự bị động viên bao gồm quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, đ ã được lựa chọn và sắp xếp trong kế hoạch sẵn sàng bổ sung cho lực lượng thường trực của quân đội. Lực l ượng dự bị động viên được tổ chức theo biên chế thống nhất của quân đội với thành phần tương ứng với lực lượng thường trực của các quân chủng, binh chủng thuộc lực lượng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương.

Hàng năm, Chính phủ giao chỉ tiêu huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên cho các bộ, ngành và địa phương. Bộ Quốc phòng hướng dẫn, chỉ đạo kiểm tra đôn đốc các địa phương, đơn vị trong việc xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên theo đúng quy định của pháp luật; trực tiếp chỉ đạo việc sắp xếp huấn luyện các đơn vị dự bị động viên. Các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với các đơn vị thuộc lực lượng thường trực của Quân đội, tổ chức sắp xếp quân nhân dự bị v à phương tiện kỹ thuật vào đơn vị dự bị theo chỉ tiêu động viên được Chính phủ giao.

Quân nhân dự bị được tạo nguồn từ quân nhân hết hạn phục vụ tại ngũ hoặc đào tạo từ các ngành dân sự theo quy định của pháp luật. Hàng năm các đơn vị dự bị động viên được tập trung kiểm tra sẵn s àng động viên, huấn luyện, diễn tập theo chương trình huấn luyện thống nhất. Quân nhân dự bị được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉ huy đơn vị dự bị động viên và được hưởng phụ cấp theo quy định.

Đến nay, lực lượng dự bị động viên đã trở thành lực lượng quan trọng góp phần xây dựng nền quốc ph òng toàn dân, củng cố sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới.

1.1.7. Các học viện, nhà trường và viện nghiên cứu chủ yếu
Quân đội nhân dân Việt Nam có hệ thống học viện và nhà trường hoàn chỉnh, đáp ứng được yêu cầu đào tạo sĩ quan, hạ sĩ quan, nhân viên kỹ thuật ở mọi cấp cho quân đội, đào tạo cao học và nghiên cứu sinh tiến sỹ quân sự, đào tạo kỹ sư, nhân viên kỹ thuật phục vụ dân sự, đồng thời là những cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật nói chung và khoa học, kỹ thuật quân sự nói riêng. Hiện nay, Việt Nam có 21 học viện, trường đại học và 1 trường cao đẳng quân sự đào tạo sĩ quan cho tất cả các ngành, cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng. Về mặt tổ chức, có 6 Học viện lớn và 3 trường sỹ quan trực thuộc Bộ Quốc phòng. Các học viện, nhà trường còn lại thuộc quyền quản lý của các tổng cục, quân chủng, binh chủng. Các học viện và trường đại học quân sự được phân cấp theo chức trách, nhiệm vụ đào tạo sĩ quan. Học viện Quốc phòng là cơ sở duy nhất đào tạo sĩ quan cấp chiến lược. Các học viện còn lại đào tạo sĩ quan cấp chiến dịch, chiến thuật. Các trường sĩ quan đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội.

Học viện Quốc phòng là học viện lớn của Nhà nước, Chính phủ giao cho Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý. Học viện là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước gồm: đào tạo sỹ quan cấp chiến dịch, chiến lược cho quân đội; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ chủ chốt của các bộ, ban ngành, đoàn thể ở trung ương và địa phương; đào tạo cao học và nghiên cứu sinh quân sự; hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quân sự, dân sự về quốc phòng với một số nước.

Bộ Quốc phòng còn trực tiếp quản lý hai học viện đào tạo sĩ quan chính trị, quân sự trung, cao cấp là Học viện Chính trị và Học viện Lục quân. Học viện Chính trị có nhiệm vụ đào tạo sĩ quan chính trị có trình độ trung, cao cấp về chính trị, là học viện được Bộ Quốc phòng giao quản lý Viện khoa học xã hội và Nhân văn quân sự. Học viện Lục quân trực thuộc Bộ Quốc phòng là học viện quân sự, đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu cấp trung đoàn, sư đoàn lục quân.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #35 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:47:20 pm »

Trực thuộc Bộ Quốc phòng còn có các viện nghiên cứu về khoa học - nghệ thuật - kỹ thuật quân sự như Viện Chiến lược Quân sự, Viện Khoa học và Công nghệ quân sự, Viện Lịch sử Quân sự, Viện Quan hệ quốc tế về Quốc phòng...

Viện Chiến lược Quân sự có chức năng tư vấn cho lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam những vấn đề liên quan đến đường lối, chính sách quốc phòng và xây dựng lực lượng vũ trang; nghiên cứu, phân tích, dự báo các nguy cơ đối với an ninh - quốc phòng của Việt Nam; các vấn đề tư tưởng, đường lối, học thuyết quân sự; nghệ thuật quân sự, ph ương thức tiến hành chiến tranh; các vấn đề kinh tế - quốc phòng, đề xuất phương hướng tổ chức, xây dựng các lực lượng vũ trang, hệ thống lãnh đạo, chỉ huy và các biện pháp bảo vệ Tổ quốc.

Viện Khoa học và Công nghệ quân sự là cơ quan nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự; nghiên cứu phát triển các trang thiết bị vũ khí của quân đội đáp ứng các yêu cầu của chiến tranh hiện đại đồng thời nghiên cứu khoa học kỹ thuật, công nghệ phục vụ dân sinh.

Viện Lịch sử Quân sự là cơ quan nghiên cứu lịch sử đầu ngành của quân đội, có nhiệm vụ nghi ên cứu lịch sử quân sự Việt Nam và thế giới nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như trong tương lai.

Viện Quan hệ quốc tế về Quốc phòng là cơ quan nghiên cứu các vấn đề quan hệ quốc phòng của các nước đồng thời là cơ quan có nhiệm vụ tham mưu và tổ chức các hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương của Bộ Quốc phòng.

1.1.8. Các đơn vị Kinh tế - Quốc phòng chủ yếu
Các đơn vị kinh tế của quân đội là lực lượng đi đầu trong kết hợp kinh tế với quốc phòng. Các công ty, xí nghiệp trong đó có nhiều tổng công ty lớn, các đoàn Kinh tế - Quốc phòng của quân đội đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đồng thời có mặt ở những khu vực khó khăn nhất để phát triển kinh tế - xã hội địa phương, tạo thế trận quốc phòng vững chắc tại các địa bàn trọng yếu của Tổ quốc.

Quân đội có hơn 20 đoàn Kinh tế - Quốc phòng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm quốc phòng an ninh ở biên giới, hải đảo. Các đoàn Kinh tế - Quốc phòng tham gia bố trí lại dân cư theo quy hoạch sản xuất và mục tiêu lâu dài của quốc phòng - an ninh, hình thành các cụm làng xã tại các khu vực biên giới trong thế trận quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc. Nhiệm vụ của các đoàn Kinh tế - Quốc phòng là xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu như: đường, điện, thủy lợi, nước sạch, trường học, trạm xá, chợ...; thực hiện các biện pháp khuyến khích sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tạo yếu tố bước đầu cho phát triển kinh tế h àng hoá; thực hiện xoá đói giảm nghèo ở các khu vực được phân công.

Ở nơi có điều kiện sản xuất lớn mà nhân dân không đủ khả năng tự đầu tư sản xuất hàng hoá (như Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Bắc) quân đội trực t iếp tổ chức sản xuất để thu hút đồng bào dân tộc và nhân dân nơi khác đến lập nghiệp và tham gia vào tổ chức kinh tế của Nhà nước.

Đi đôi với nâng cao đời sống vật chất của nhân dân, các đoàn Kinh tế - Quốc phòng cũng góp phần đáng kể cải thiện đời sống văn hoá tinh thần ở các vùng đất xa xôi của Tổ quốc. Các đoàn Kinh tế - Quốc phòng đã vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát triển hệ thống phát thanh truyền hình, văn hoá, y tế ở các thôn bản; mở trường học cho con em đồng bào các dân tộc, tham gia chương trình phổ cập tiểu học và xoá mù chữ; nâng cao điều kiện chăm sóc y tế, chữa bệnh cho nhân dân; bảo tồn và phát triển văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số. Các đoàn Kinh tế - Quốc phòng cũng đã góp phần bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ cho địa phương, tạo điều kiện để kinh tế - xã hội trên địa bàn phát triển vững chắc.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #36 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:49:50 pm »

Từ khi được thành lập đến nay, các đoàn Kinh tế - Quốc phòng đã thực hiện di dân, xây dựng hàng trăm cụm bản, làng mới; đỡ đầu, tổ chức định canh, định cư cho hàng chục nghìn hộ dân, tạo việc làm cho lao động là đồng bào dân tộc thiểu số. Các đoàn Kinh tế - Quốc phòng đã giúp dân khai hoang, cải tạo đồng ruộng trồng lúa n ước, góp phần thay đổi tập quán canh tác, nếp sống sinh hoạt lạc hậu, xây dựng, củng cố được thế trận quốc phòng - an ninh trên các địa bàn trọng điểm.

1.2. Dân quân tự vệ
Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác, là một thành phần của Lực lượng Vũ trang nhân dân nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý điều hành của Chính phủ và của ủy ban nhân dân các cấp, sự chỉ đạo, chỉ huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của cơ quan quân sự địa phương, có trách nhiệm bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước ở cấp xã, cơ quan, tổ chức.

Trong thời bình, Dân quân tự vệ là lực lượng nòng cốt có nhiệm vụ vừa lao động sản xuất, vừa đóng vai trò xung kích trong bảo vệ sản xuất, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, địch hoạ và các sự cố nghiêm trọng khác, đồng thời phối hợp với lực lượng an ninh cơ sở giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, cơ sở; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện góp phần xây dựng khu vực phòng thủ địa phương ngày càng vững chắc. Ở biên giới, biển, đảo, Dân quân tự vệ phối hợp với Bộ đội Biên phòng giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh biên giới của Tổ quốc. Trong thời chiến, Dân quân tự vệ là lực lượng chiến lược của chiến tranh nhân dân, làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh gi ặc, tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, phối hợp với các lực lượng khác bảo vệ địa phương, đơn vị theo kế hoạch tác chiến của khu vực phòng thủ. Dân quân tự vệ có trách nhiệm thực hiện phòng thủ dân sự trong thời bình và thời chiến theo qui định của pháp luật.

Lực lượng Dân quân được tổ chức ở xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Lực lượng Tự vệ được tổ chức ở các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế (gọi chung là cơ quan, tổ chức). Dân quân tự vệ có lực lượng nòng cốt và lực lượng rộng rãi. Lực lượng nòng cốt gồm dân quân tự vệ bộ binh, phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, thông tin, phòng hoá, y tế, Dân quân tự vệ biển; Dân quân tự vệ cơ động, tại chỗ và thường trực được tổ chức thành các trung đội, đại đội hoặc tiểu đoàn, được trang bị vũ khí thích hợp.

Dân quân tự vệ được giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự theo chương trình do Bộ Quốc phòng quy định. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và chỉ huy cơ quan quân sự các cấp chỉ huy lực lượng Dân quân tự vệ theo quy định của Luật Quốc phòng. Hoạt động của Dân quân tự vệ theo kế hoạch của người chỉ huy quân sự cấp xã và ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp uỷ, chính quyền cơ sở.

Ngày 28 tháng 3 năm 1935, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ nhất ra “Nghị quyết về đội tự vệ” được coi là ngày thành lập Dân quân tự vệ Việt Nam. Trong 74 năm qua, lịch sử phát triển của Dân quân tự vệ đ ã gắn liền với sự nghiệp giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ năm 1935 đến năm 1945, các đội tự vệ ở cả nông thôn và thành thị ra đời, làm nòng cốt cho quần chúng thực hiện vũ trang khởi nghĩa, tiến hành chiến tranh du kích, xây dựng và mở rộng các căn cứ địa. Tháng 8 năm 1945, lực lượng Dân quân tự vệ đã cùng toàn dân thực hiện thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa giành độc lập. Sau ngày 02 tháng 9 năm 1945, Dân quân tự vệ trở thành lực lượng vũ trang của Nhà nước Việt Nam độc lập, một trong ba thứ quân của lực lượng vũ trang nhân dân, được tổ chức rộng khắp ở các làng xã, đường phố trong cả nước, thực sự là công cụ bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, bảo vệ thành quả cách mạng.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #37 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:51:22 pm »

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp , lực lượng Dân quân tự vệ phát triển rộng khắp trong cả nước, đã từng bước được thống nhất về tổ chức, do các x ã đội, huyện đội, tỉnh đội chỉ đạo, chỉ huy và đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng các cấp. Mặc dù chỉ được trang bị bằng các loại vũ khí thô sơ, tự tạo lại phải đương đầu với quân đội viễn chinh được trang bị hiện đại, lực lượng Dân quân tự vệ đã cùng nhân dân xây dựng làng xã chiến đấu, kiên cường bám đất, bám dân, tiêu hao quân địch, phá tề, trừ gian; tích cực phối hợp với bộ đội chống địch c àn quét, bao vây. Dân quân tự vệ đã bức hàng, bức rút nhiều đồn bốt địch, mở rộng các khu căn cứ du kích; thực hiện kiềm chế, căng kéo lực lượng địch, buộc địch phải phân tán đối phó, tạo điều kiện và góp phần cùng bộ đội chủ lực tiến hành thắng lợi nhiều chiến dịch lớn, giành thắng lợi quyết định trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lực lượng Dân quân tự vệ miền Bắc có trên 700 phân đội, được trang bị nhiều loại vũ khí tương đối hiện đại hình thành mạng lưới bắn máy bay địch bay thấp , đã bắn rơi nhiều máy bay địch. Dân quân tự vệ đã độc lập bắn rơi 10% tổng số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc, bắt sống nhiều phi công Mỹ, tiêu diệt hàng chục toán biệt kích, bắn chìm và bắn cháy nhiều tàu chiến địch. Lực lượng Dân quân tự vệ còn làm tốt công tác phòng không nhân dân ở cơ sở, xây dựng nhiều công trình phòng tránh, khắc phục hậu quả đánh phá của địch, tiến hành rà bom mìn, thủy lôi, chống phong toả bằng đường biển... Đã có 183 triệu lượt người được huy động tham gia đảm bảo giao thông, phục vụ chiến đấu, phòng tránh sơ tán khắc phục hậu quả do địch gây ra, chi viện sức người sức của có hiệu quả cho chiến trường miền Nam.

Lực lượng dân quân du kích ở miền Nam đã anh dũng đánh địch bằng mọi thứ vũ khí, vận dụng các hình thức tác chiến phong phú, sáng tạo trên khắp 3 vùng chiến lược; kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, thực hiện bám trụ kiên cường, tạo thế xen kẽ, cài răng lược với địch. Đây là cách đánh độc đáo, sáng tạo của chiến tranh du kích Việt Nam buộc địch phải phân tán lực lượng để đối phó. Trong cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975, lực lượng Dân quân tự vệ cùng bộ đội chủ lực và toàn dân miền Nam tiến công và nổi dậy đồng loạt, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau thắng lợi mùa xuân năm 1975, lực lượng Dân quân tự vệ đã làm nòng cốt cho nhân dân ở cơ sở khắc phục hậu quả chiến tranh, tích cực rà phá bóc gỡ bom mìn địch, giải phóng hàng triệu ha đất canh tác để khôi phục sản xuất. Lực lượng Dân quân tự vệ đã được huy động tham gia xây dựng tuyến phòng thủ biên giới; trực tiếp chiến đấu, phối hợp và phục vụ bộ đội chiến đấu góp phần quan trọng v ào thắng lợi của các cuộc chiến tranh biên giới.

Ngày nay, lực lượng Dân quân tự vệ được phát triển cả về chất lượng, số lượng, biên chế trang bị. Tổ chức, biên chế tinh gọn hơn nhưng chất lượng tổng hợp của Dân quân tự vệ được nâng cao, đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ mới.

Trải qua 74 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Dân quân tự vệ đã hết lòng trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, chiến đấu kiên cường, mưu trí, dũng cảm; lao động, học tập, công tác hiệu quả, sáng tạo v à đã lập nhiều chiến công to lớn; có 366 tập thể và 275 cá nhân thuộc lực lượng Dân quân tự vệ đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.

Dân quân tự vệ Việt Nam xứng đáng với lời khen ngợi của Hồ chủ tịch: “Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là bức tường sắt của Tổ quốc, vô luận kẻ địch hung bạo thế nào hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #38 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:52:38 pm »

2. PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VÀ DÂN QUÂN TỰ VỆ

2.1. Xây dựng Quân đội nhân dân
Việt Nam chủ trương duy trì Quân đội nhân dân đủ mạnh, quân số hợp lý, huấn luyện đạt chất l ượng cao, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.

2.1.1. Xây dựng về chính trị - tinh thần
Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị - tinh thần là nguyên tắc trong xây dựng quân đội, là cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân, thể hiện quan điểm coi yếu tố con ng ười là quyết định thắng, bại trên chiến trường. Xây dựng về chính trị - tinh thần nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý Nhà nước, giữ vững bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của quân đội. Sức mạnh chiến đấu về chính trị - tư tưởng của lực lượng vũ trang Việt Nam còn được thể hiện ở ý chí phấn đấu v ươn lên làm chủ khoa học - kỹ thuật quân sự hiện đại, thể hiện tinh thần dám đánh v à biết thắng.

Việt Nam chủ trương tăng cường công tác giáo dục chính trị bảo đảm cho quân đội phát huy được truyền thống yêu nước, đoàn kết đánh giặc giữ nước của cha ông và truyền thống quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải được giáo dục, rèn luyện để có bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi nhiệm vụ được giao, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh nhất là trước các luận điệu phá hoại tư tưởng của kẻ địch và các tác động tiêu cực của xã hội; tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với chế độ, thấm nhuần đạo đức cách mạng, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lợi ích quốc gia, góp phần giữ gìn hoà bình khu vực và thế giới. Tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, hệ thống cơ quan chính trị và các tổ chức quần chúng trong quân đội được xây dựng vững mạnh toàn diện.

Việt Nam chống lại mọi mưu toan “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân và Lực lượng Vũ trang nhân dân của các thế lực thù địch nhằm tách Lực lượng Vũ trang nhân dân khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2.1.2. Tổ chức, biên chế và xây dựng nguồn nhân lực
Trong thời bình, Việt Nam chủ trương tiếp tục giảm quân số thường trực, xây dựng lực lượng dự bị động viên phù hợp đáp ứng các yêu cầu khi có tình huống khẩn cấp hoặc chiến tranh. Lực lượng thường trực của quân đội được giữ ở mức độ hợp lý, tinh gọn, bảo đảm sức chiến đấu. Thực hiện giảm các đầu mối, từng bước chuyển giao một số hoạt động bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức dân sự, cơ cấu lại biên chế lực lượng vũ trang theo hướng ưu tiên cho các đơn vị chiến đấu, các đơn vị đang thực hiện nhiệm vụ quan trọng, các quân chủng, binh chủng kỹ thuật là những định hướng cơ bản về tổ chức và biên chế lực lượng vũ trang nói chung và quân đội nói riêng.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #39 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2009, 05:54:04 pm »

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của đội ngũ cán bộ, Người nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; do vậy, xây dựng đội ngũ sĩ quan, cán bộ chuyên môn kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng vũ trang nhân dân là công tác trọng tâm, có ý nghĩa chiến lược. Mục tiêu giáo dục đội ngũ sĩ quan, cán bộ chuyên môn kỹ thuật của Quân đội nhân dân là đáp ứng các yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Sĩ quan và cán bộ chuyên môn kỹ thuật của quân đội phải có bản lĩnh chính trị và ý chí chiến đấu cao, có năng lực chỉ huy bộ đội và tác chiến trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao. Họ phải là những con người được giáo dục và rèn luyện toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tác phong, năng lực v à trình độ học vấn. Hệ thống học viện , nhà trường của Quân đội có nhiệm vụ đào tạo sĩ quan, nhân viên kỹ thuật các chuyên ngành khoa học - kỹ thuật quân sự phải được tổ chức theo hướng chuyên sâu, mở rộng liên kết với nhau và với các cơ sở đào tạo của các bộ, ngành khác nâng cao hiệu quả đào tạo, tạo nguồn nhân tài dồi dào được đào tạo chuyên ngành theo yêu cầu của lực lượng vũ trang. Mặt khác, các học viện, nhà trường trong quân đội phải chuẩn bị vốn kiến thức cần thiết về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, pháp luật, kỹ thuật, công nghệ, quản lý... cho đội ngũ sĩ quan, cán bộ chuyên môn kỹ thuật để họ dễ dàng hoà nhập vào đời sống dân sự khi không còn phục vụ tại ngũ. Nhà nước thực hiện các chính sách đúng đắn về đào tạo có tác dụng động vi ên khuyến khích, thu hút nhiều thanh niên ưu tú vào các trường đào tạo sĩ quan, cán bộ chuyên môn kỹ thuật, tạo nguồn bổ sung nhân t ài cho lực lượng vũ trang.

2.1.3. Huấn luyện
Trong thời bình, đi đôi với xây dựng về mặt chính trị - tinh thần, huấn luyện quân sự là công việc tất yếu để tăng cường sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang. Quân đội nhân dân Việt Nam coi trọng huấn luyện kỹ năng chiến đấu cá nhân, tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng, phát huy tính năng, hiệu quả của các loại vũ khí, trang bị hiện có bằng nghệ thuật quân sự Việt Nam, đồng thời coi trọng việc nâng cao kiến thức về công nghệ quân sự hiện đại; đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp huấn luyện cho phù hợp với qui mô tổ chức, trang bị và điều kiện thực tế của từng thứ quân, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.

Đổi mới toàn diện công tác huấn luyện. Thực hiện tốt phương châm huấn luyện: "cơ bản, thiết thực, vững chắc", coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, sát yêu cầu, nhiệm vụ, địa bàn hoạt động của từng lực lượng, từng đơn vị; phù hợp với tổ chức biên chế, trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong huấn luyện phải coi trọng huấn luyện, diễn tập khu vực phòng thủ các cấp; diễn tập tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai; chống khủng bố..., bảo đảm cho các đơn vị xử lý tốt các tình huống, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Để nâng cao chất lượng tổng hợp, tăng cường sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của quân đội, các nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục, huấn luyện, đào tạo tiếp tục được đổi mới, phù hợp với điều kiện tác chiến hiện đại. Chú trọng đào tạo liên thông, liên kết trong nước và hội nhập quốc tế. Coi trọng công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chỉ huy toàn năng, nhân tài quân sự và nhân viên chuyên môn kỹ thuật giỏi. Huấn luyện sát với yêu cầu chiến đấu, kết hợp cách đánh mới với cách đánh truyền thống, tiếp thu có lựa chọn kinh nghiệm của các nước, kết hợp cách đánh du kích với cách đánh chính quy...
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM