Nguồn của bài viết là
http://r.club.china.com/data/thread/1015/2637/14/41/6_1.html LÝ DO VÌ SAO KHÔNG QUÂN TRUNG QUỐC KHÔNG THAM CHIẾN TRONG CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI 1979
Năm 1979,trong chiến tranh biên giới,không quân Trung Quốc được lệnh tập kết tại biên giới Vân Nam-Trung Quốc, nhưng không tham chiến. Nói theo lý do chính trị là Trung Quốc muốn chứng tỏ việc không muốn chiến tranh lan rộng. Nhưng nếu xét trên khía cạnh kỹ thuật ,lý do thực sự là sức chiến đấu của không quân Trung Quốc thời điểm này là rất kém, 1 biên đội không quân Việt Nam cũng có thể làm cho Trung Quốc phải đau đầu.
Vào thời gian đó,trình độ bay và tố chất phi công đều thua kém so với Việt Nam.Không có tư liệu minh chứng cụ thể, nhưng từ một số sách vở và báo cáo, ta có thể phân tích ra được nguyên nhân.
Trong 1 báo cáo gửi quân ủy trung ương của tướng tư lệnh không quân Trương Đình Phát,có ghi:"ngày 27 tháng 12 năm 1977, Tôi-Trương Đình Phát xin báo cáo với phó chủ tích Đặng Tiểu Bình,ủy viên quân ủy trung ương về số vụ tai nạn và trục trặc kỷ thuật trong huấn luyện bay thời kỳ nửa năm 1977..."
"....từ năm 1968 đến 1971,trong vòng 4 năm,công tác tuyển chọn phi công được hơn vạn người, nhưng đã hạ thấp tiêu chuẩn đầu vào, sau khi đưa vào huấn luyện ,nhiều nơi đã tự ý giảm số lượng giáo trình và thời gian thực tập, do thiếu trang thiết bị."
"2 năm 1968và 1969, phi công qua huấn luyện chỉ được học 1 tuần kiến thức cơ bản là đã được lên máy bay thực tập, bay huấn luyện sơ cấp và bay máy bay chiến đấu được nửa năm là đã được đưa vào biên chế không quân."
"Vì thời gian bay ít,phải giảm số lượng giáo trình,đơn giản các hạng mục.Các hạng mục bay trình độ cao càng ngày càng ít,rất ít tiến hành bay phồi hợp và các mục phức tạp khác,dẩn đến việc trình độ bay của phi công rất thấp."
"Nói đến chất lượng bay,nguyên nhân của các sự cố khi bay bao gồm nhiều vấn đề:chất lượng máy bay xuống thấp,có máy bay rơi mất cả linh kiện khi bay,có chiếc thì động cơ ngưng hoạt động khi bay,súng pháo trên máy bay bất ngờ nổ,....thậm chí còn có sự kiện cánh quạt của trực thăng bị văng ra khi khởi động"
Từ những đoạn trích trên có thể thấy,tình trạng an toàn bay của phi công là rất đáng lo ngại.Những số liệu chứng thực trình độ bay,bảo trì trang bị, trạng thái phi công của không quân đáng báo động.Qua 2 năm chỉnh đốn sau đó,bắt đầu từ năm 1979,tình trạng này mới được giảm.
So sánh với không quân Việt Nam cùng thời điểm,vừa bước ra khỏi cuộc nội chiến ,không quân Việt Nam có được rất nhiều kinh nghiệm không chiến, họ đã từng bắn rơi hơn 220 máy bay các loại của Mỹ. Phi công của các đơn vị chủ lực đều đã từng tham gia thực chiến,hiển nhiên tố chất con người cao hơn chúng ta. Mặc dù rất nhiều người từng học tại Trung Quốc,nhưng thời điểm đó "trò đã hơn thấy".
Chính vì thấy được ưu thế của Việt Nam,không quân Trung Quốc không dám xem thường. Lúc đó,đơn vị chủ lực của không quân Việt Nam có chưa đến 60 chiếc MIG-21 và hơn 20 chiếc F-5. Để đối phó với lực lượng này,Trung Quốc quyết định điều 20 đoàn máy bay tiêm kích, 6 đoàn máy bay ném bom,máy bay cường kích, tổng cộng hơn 700 chiếc.Để duy trì ưu thế tuyệt đối trên không, không quân Trung Quốc quyết định áp chế về số lượng. Trung Quốc đưa 2 đại đội máy bay tiêm kích f-6 vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu, duy trì số lượng máy bay và tên lửa luôn hơn Việt Nam ít nhất 2 lần.
Nhưng duy trì ưu thế số lượng cũng mang đến nhiều rắc rối, Vì Việt Nam và Trung Quốc đa phần sử dụng các loại máy bay giống hệt nhau(mig-21,mig-19), nên dẫn đến việc ta và địch đều biết rõ về nhau.
1 tài liệu của không quân Mỹ đã từng tổng kết về huấn luyện không chiến của không quân Việt Nam: [Từ góc độ của phi công Bắc Việt mà nói, tính áp chế về số lượng của không quân Mỹ có ý nghĩa chiến trường trên không là "môi trường đa mục tiêu"(target rich enviroment), còn từ góc độ của phi công Mỹ là "môi trường khuyết mục tiêu"(target poor enviroment)]. Điều này nghĩa là vấn đề biết rõ về nhau đối với không quân chiếm ưu thế tuyệt đối như Mỹ vẫn rất quan trọng.
Trong năm 1979,Trung Quốc cũng gặp vấn đề tương tự, tình hình thậm chí còn nghiêm trọng hơn. Không quân Mỹ ít ra trong phạm vi mục thị sẽ không thể xem nhầm ta và địch. Nhưng phi công Trung Quốc ngay cả trong phạm vi mục thị cũng phải tiến hành xác nhận máy bay, theo sau đó sẽ là cả 1 cuộc hỗn chiến.Vì thế ,trước khi tham chiến , không quân Trung Quốc đã phải cấp tốc sửa chửa phù hiệu và màu sơn mới.
Tiến hành nhiều công tác khắc phục như vậy,nhưng không có nghĩa không quân Trung Quốc sẽ nắm chắc phần thắng trên không.
1 vấn đề nửa là không quân Trung Quốc lúc ấy vẫn còn tiến hành tác chiến diễn tập trên sa bàn, nhưng chưa nắm rõ được địa hình của chiến trường, đến khi thực chiến sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Để giải quyết vấn đề này, trên cơ sở hệ thống rada sẵn có, bộ chỉ huy quyết định bố trị rada dẩn đường ở gần biên giới 2 nước, nhưng lúc này hệ thống rada lại phải nằm dưới tầm bắn của pháo binh Việt Nam.
1 vấn đề khác là sự uy hiếp của bộ đội tên lửa Việt Nam, họ đã từng bắn rơi gần 300 máy bay của Mỹ, so sánh với hệ thống điện tử của máy bay Mỹ, không quân Trung Quốc càng tỏ ra yếu thế trước bộ độ tên lửa Việt Nam, khi không có được năng lực đột kích trên không như Mỹ.Mặc dù đã trang bị thêm hệ thống gây nhiễu điện tử của Liên Xô.
Tóm lại, năng lực của không quân Trung Quốc lúc ấy là rất yếu ,sự phiền phức khi đem quân đi đánh xứ người cao hơn nhiều lần so với tác dụng đạt được. Vì thế, "hoán cung đãi phát,tiền thanh thủ nhân"(tạm dịch là để cung lên giá, nói cảnh cáo trước) , nhưng thực chất là "hoán cung đãi phát,tâm chiếu bất tuyên" (nghĩa là để cung lên giá, lo lắng mà không dám nói).
Mệt quá, ngồi dịch hoa cả mắt
