hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2010, 11:20:53 am » |
|
Đặng đi sang lán điện đài, trèo lên sạp đọc nốt tờ tạp chí Thời mới. Tuyên xuống bếp ăn quàng mấy bát cơm nguội với mắm pa đẹc. Hai lạng một bữa, sao cơm có vẻ hơi nhiều. Anh chợt nhớ ra mỗi lần ăn chung với cơ quan thì phần cơm chia còn đúng suất, .nhưng khi anh đi đâu về ăn sau thì cơm được những ba bát. Phải hỏi lại anh em, bảo họ bỏ cái lối tây vị ấy đi... - Anh ạ! Tuyên quay lại. Cô y tá Soan đứng sau lưng anh, mỉm cười. Soan mặc váy. Lào đen, sơmi đàn ông, xách một nải chuối xanh. Tóc buộc túm đuôi chồn sau gáy bằng mẩu vải quân trang cũ. Đôi mắt tròn, to, hơi xa nhau như mắt búp bê, cứ nhìn anh trân trân. Tuyên luống cuống đánh rơi một chiếc đũa, đưa tay quệt mồm: - Soan đi đâu về đấy? - Em đón thương binh, đón hụt anh ạ. Ai lại chở đến nửa đường, anh ta đùng đùng xách ba lô trở về đơn vị, không can được. Mang cho các anh nải chuối nấu canh. Tuyên vớ bi đông rót nước uống. Anh lại bình tĩnh. Anh đưa Soan lên nhà, mời Soan ngồi xuống võng. Dây võng đứt đánh sựt, thả Soan ngồi xuống đất. Soan cười phá lên. Tuyên nóng bừng cả mặt mũi chân tay, mắng thầm mình không tiếc lời. - Tại em nặng cân đấy... Đội anh Lương bao giờ về hở anh? - Sắp thôi. Độ mươi hôm. Kết quả tốt lắm. Chúng tôi định tuyên dương toàn mặt trận đấy. Mặt Soan lấm tấm những tia vàng. Soan cười ngượng nghịu: - Anh... Anh Khiêm thế nào chả biết... Vâng, chả dạo trước anh ấy bị thương chữa ở bệnh xá, chưa khỏi đã bỏ về bộ đội mà. - Các tướng ấy vẫn thế. Khiêm hăng lắm, vào đồn như đi chợ. Chỉ phải cái hơi tếu... Bên tai Tuyên có ai cứ hỏi ghẹo: “Thế nào? Nói đi chứ!” Nhưng anh vẫn nhìn Soan, kể chuyện Khiêm, và nghĩ đến cái câu không chịu ra khỏi miệng mình. Các Đảng ủy viên lục tục đến. Soan chào, ra về. Một đồng chí ngó Tuyên cười mủm mỉm. Tuyên chột dạ: “Chúng nó biết!” Anh ngồi vào bàn, lật sổ tay, nói một mạch không lấy hơi: - Mời các đồng chí vào. Công việc khẩn trương đấy. Tôi xin báo cáo kết quả cuộc thảo luận với ủy ban kháng chiến về kế hoạch mở chiến dịch Pà Thạc... Dưới bến sông vọng lên tiếng cười lanh lảnh. Tuyên nghĩ vội: “Soan đi thuyền, mà sông nhiều thác dữ...”.' Anh vẫn tiếp tục báo cáo đều giọng. Nghe Đặng thì thào sau lưng: “Soan bột... cũng sắp sắp...”, Tuyên vụt đỏ tai, ấp úng mất vài giây. * * * Một đàn voi nào đông lắm đang tập đi đều trên hai bờ sông Xê Ban. Từ sớm tinh mơ đến tối, đến khuya, tiếng bình bịch cứ rền chuyển đất, từ làng này vẳng sang làng kia như gọi nhau, thách nhau. Thỉnh thoảng trong một góc rừng vắng cũng dội lên tiếng ục ịch lẻ loi. Tất cả khu du kích đang giã thóc làm gạo nuôi chiến dịch. Bất cứ một anh bộ đội Itxala hay Tình nguyện nào lật ngửa hai bàn tay ra cũng thấy da tay đỏ hỏn, phồng rộp từng mảng còn mọng nước hay đã giập rát buốt. Chiếc thuyền độc mộc của Tuyên đi men bờ sông, lựa theo dòng nước ngược mà lên phía bắc. Suốt một ngày, Tuyên nghe không dứt tiếng giã gạo. Tim anh cũng dào lên theo nhịp chày chắc nịch ấy. Khu du kích hồi đầu năm bị đốt nặng. Ba tiểu đoàn địch bám đuôi nhau xuyên qua vùng làng kháng chiến như con rắn lửa, để lại sau lưng một vệt cháy đen ngoằn ngoèo. Chúng đốt làng, đốt lúa, bắn trâu, bắn voi, rất đều đặn chi li, không bỏ sót thứ gì dùng được trên đường càn quét. Nhưng đến nay, thóc nằm trong rừng lại tuôn về làng, trấu rắc ngập các lối ngõ, gạo đè nặng lưng voi và lòng thuyền trẩy về mặt trận bộ. Tuyên nhớ lại một đoạn tài liệu của địch hướng dẫn cho các sĩ quan mới đến Đông Dương. Tác giả nhận định rằng người Lào là giống lười số một trên thế giới: “Thật vậy họ không sống trong hiện tại mà chỉ kéo dài mãi một cái quá khứ nhẫn nhục, lười biếng, vô lo. Nước Lào đẹp và thơ mộng, nhưng dân tộc Lào đang chết dần chết mòn trong cơn mê gật gà, với nụ cười trên môi”. Nghe dịch xong, Tuyên túm cuốn sách định xé. Xúc phạm đến một người hay bôi nhọ một phong trào còn dễ hiểu. Chúng lại cả gan nhổ nước bọt vào cả một dân tộc! Hôm nay, hơn bao giờ hết, Tuyên hiểu được sức mạnh của nhân dân Lào. Người Lào hồn nhiên, vui tính, trong sáng như nước suối, ghét yêu minh bạch như muối với đường. Họ làm việc không ngớt tay từ gà gáy đến khi chim khăng khắc kêu. gần nhau báo nửa đêm, nhưng vẫn hát vẫn cười cho khuây nhọc. Đừng nghe tiếng hát trên đồng, tiếng cười trong làng mà vội tưởng rằng người Lào lười biếng hay nhẫn nhục. Khờ dại bao nhiêu những kẻ chỉ thấy hoa đào nở trên miệng núi lửa mà quên sức nóng ghê gớm ùn trong lòng núi!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2010, 11:25:35 am » |
|
Tuyên thông cảm sâu sắc với Thông Phun đang chong đèn đến sáng viết cuốn Lịch sử nước Lào, giữa một núi công việc hàng ngày. Lịch sử nước Lào bị bôi nhọ quá nhiều rồi. Người ta nói xấu dân tộc Lào nhiều quá rồi. Cả đến bọn người Lào mang Tổ quốc đi bán rong cho Pháp, Nhật, Mỹ, cũng rập một giọng chửi lại cha ông. Thông Phun thú thực rằng nhiều lúc anh viết mà nổi căm giận đến run tay. Và anh vừa tức cười vừa đau xót khi đọc báo chí từ Viêng Chăn đưa lọt về, hay khi xem thư bạn cũ gửi thăm anh, hỏi anh về những vấn đề sinh tử của dân tộc Lào. Những người bạn trí thức ấy yêu nước nhưng không hiểu nhân dân. Họ xanh mặt trước xe tăng Pháp và lóa mắt trước đô la Mỹ. Thông Phun viết thư khuyên họ: “Chỉ cần ra ở khu du kích ba ngày, ông sẽ tìm thấy sự thật”. Có đôi người ra, rồi ở lại luôn với Itxala. Họ đã tìm thấy sự thật.
Trong những đêm hội làng, các anh các chị mỏ lâm 10 đứng trên bục, múa tròn hai bàn tay kẹp nến, hát lên lời ca ngợi nhân dân Lào đã dựng nước và giữ nước:
Trên nước Triệu Voi Nước Triệu Ruộng, nước Triệu Vựa thóc Có thần Rắn Nạc phù hộ Người ta bắn tên thuốc độc Múa giáo tẩm thuốc độc Voi xóc ngà vào bụng voi Xác người dựng thành lũy cao Đánh lui kẻ thù, Xác quân cướp nước làm mồi cho cá sấu Xác quân bán nước làm mồi cho quạ...
Tiếng hát hòa theo tiếng súng trong cuộc kháng chiến Lào. Và hôm nay, tiếng giã gạo thình thình đối đáp nhau giữa các làng trong khu du kích cứ dội hoài trong ngực Tuyên như hồi trống thúc tiến quân không dứt. Anh không quen nói ra những tình cảm lớn, những xúc cảm kỳ diệu chỉ thoáng qua vài phút mà quyết định cả một đời người, nhưng anh biết rằng suốt đời anh sẽ không quên được cái kỷ niệm phơi phới, ngây ngất, rất cao và rất đẹp của chuyến đi thuyền trên sông Xê Ban này.
Hai bên bờ sông, rừng ngửa lá đón nắng trưa lấp lánh như hai con trăn nằm song song phơi vẩy. Tiếng ò ò đến. Thác Cổ Cò. Một cái cổ đã nuốt nhiều thuyền gạo muối của bộ đội. Đồng chí trung đội trưởng Lào ngồi vắt vẻo sau đuôi thuyền ngừng tay chèo, lên tiếng:
- Anh đổi chỗ cho tôi. Tôi nhớ lạch.
Nước gầm giữa thác. Nước ôm tròn những tảng đá gần bờ, như lớp cùi nhãn trong veo bọc lấy hạt. Chiếc thuyền độc mộc nhảy trên sông, húc vào đá, chúi xuống tợp một ngụm nước, chồm ngược lên suýt hắt Tuyên xuống sông. Vượt cái thác hình chữ chi dài ba chục thước mất hơn một giờ. Cả hai người ướt sũng nước sông và mồ hôi.
Anh trung đội trưởng Lào nheo đôi mắt xếch, cười:
- Chưa nguy hiểm bằng sông Nậm Đăm đâu. Tôi vượt thác sông Nậm Đăm từ bé, thuyền cứ dựng đứng thế này.
- Đồng chí quê ở đâu?
- Làng Phi Lạt. Bố mẹ và em gái tôi ở đấy.
Tuyên nhớ ngay đến cái tên Phi Lạt trong các báo cáo của CC3.
- Bố đồng chí tên là gì?
- Thít La, ông cụ rèn súng kíp nổi tiếng. Ba năm nay tôi đứt tin, nhưng chắc nhà tôi không theo Pháp đâu.
- Đúng thế!
- Ồ, anh biết tin gia đình tôi hở? Biết rõ không anh?
- À, là tôi đoán thôi...
Tuyên không nhìn đôi mắt xếch lấp láy vui. Anh nhớ rất rõ đoạn báo cáo của Lương về cơ sở Itxala làng Phi Lạt. Bức điện gần đây ghi vắn tắt: “Cụ Thít La bị giết, Pha ho lao, Muôn vẫn ở đồn”. Một cái gì nhói trong ngực anh. Phải giữ bí mật hướng chiến dịch, không được nói!
Con thuyền lại men theo nước ngược đi lên phía bắc.
Bến làng Na Phô ở mé bên kia. Tiếng rình rình cối chày quen tay. Một ông cụ đeo súng kíp đứng bên bờ khum tay che mắt, gọi với sang:
- Vào đây kiểm soát đã!
Thuyền cập bến, ông cụ nhận ra anh cán bộ Lào:
- Anh Pheng đấy hả? Còn anh kia?
- Bộ đội Việt.
Ông cụ chạy xổ đến. Vỏ dao đeo lưng đập vào báng súng lách cách.
- Ở cơ quan phải không?
- Phải.
Cụ quay ra sau, vành tay lên miệng gọi tướng:
- Mẹ nó ơi, mang xuống. Nhanh!
Bà cụ tất tưởi chạy xuống dốc, tay kéo lê một con cá to. Cô con gái chạy theo sau, vượt lên trước. Cả ba người đều có vẻ uất ông cụ nói trước, giọng sừng sộ:
- Con nghĩ xem, thế này còn ra cái gì! Hôm qua con bé Soan đi lấy thương binh tạt vào làng. Mẹ nó đang ốm (cụ gí ngón tay vào vai bà lão), nhức đầu tưởng chết, người sốt như rừng cháy...
- Cụ đừng nóng, đừng to tiếng. Đây là ông...
Ông cụ gạt lời Pheng, càng gắt to với Tuyên:
- Con tính, nó cho uống thuốc, nấu lá xông cho mẹ nó, vừa chín nồi cơm đã khỏi. Rồi nó lẻn đi lúc nào bố không biết. Nó muốn để tiếng cho bố mẹ là người ăn ở bạc, vô ơn hay sao chứ? Hử? Sao nó lại không lấy cá? Hử?
- Mà nó không chịu ăn cơm của mẹ. Nó sợ cơm mẹ là sạn là sỏi...
- Em mới đi tìm chỉ trắng về buộc tay cho chị ấy, nháy một cái, chị ấy biến đi đâu rồi. Người cứ như ma...
Láo nháo, líu tíu, rối tinh lên một lúc, rồi con cá nằm gọn trong lòng thuyền, và cả gia đình kia lại trèo lên dốc. Cô con gái cười khi khí, ông cụ xoa tay hể hả, bà mẹ đi vài bước lại xì mũi. Tuyên và Pheng nhìn con cá dài ngót thước tây, nhìn nhau, cùng phì cười. Họ đẩy thuyền ra.
- Chúng mình ăn thôi, Pheng ạ.
- Anh bảo chị Soan người ta cho thì phải nhận, không họ oán. Chị Soan tốt lắm. Tôi ốm về nằm bệnh xá năm hôm, chị ta cứ thức đêm ngồi đầu giường...
Pheng ngừng tay chèo, thẫn thờ tiếp:
- Người lại đẹp nữa. Tôi cứ muốn ngắm mãi thôi.
------------------------------------------------------- (10) Người hát những bài con lâm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2010, 11:27:55 am » |
|
Thuyên thích cái lối nói bộc trực của người Lào về tình yêu và phụ nữ. Từ mười sáu mười bảy tuổi, trai gái đi hội đã buông lời ghẹo nhau, tán tỉnh nhau tự nhiên. Nhưng muốn vác gối vác chiếu đến ở nhà vợ không phải dễ. Được để ý nhất là anh bộ đội Itxala, anh du kích. Rồi đến các anh thanh niên khỏe, nhộn, bắn giỏi, săn voi rừng tài, cày bừa xốc vác... Tuyên đùa một câu:
- Anh thích lấy xảo Soan không?
- Thích chứ. Nhưng đợi độc lập đã. Đánh thắng rồi, cô ấy chưa lấy ai thì tôi đến hỏi.
Tuyên mỉm cười, nghĩ thầm: “Giá mình bạo như Pheng...”
Tuyên nhẩm lại cái câu rất đơn giản mà rất khó nói với Soan. Ba mươi tuổi đầu, anh vẫn không kịp lo đến vợ con. Từ dạo vượt ngục Sơn La, hoạt động Việt Minh bí mật, qua kháng chiến đến nay vừa tròn mười một năm, anh chưa yêu ai, và hình như cũng chưa ai yêu anh. Anh có cảm tình với “giới phụ nữ nói chung”, thấy mỗi cô gái thoáng qua đều mang đến cho anh một chút gì tươi mát, êm dịu trong mười một năm căng thẳng liên miên ấy. Hết chiến dịch đến chỉnh huấn, xong chỉnh huấn đến luyện quân, qua luyện quân lại đến chiến dịch mới, bao giờ cũng có yêu cầu “Tạm gác việc riêng, tập trung tư tưởng”. Đối với yêu cầu ấy anh luôn gương mẫu, quá gương mẫu là khác.
Anh em chung quanh lại đoán chệch. Họ kháo nhau: “Trung đoàn trưởng, bí thư Đảng ủy, hai huân chương, còn trẻ, nổi tiếng, tương lai sáng rực như đèn pha ô tô nhé... Ông Tuyên phải lấy cán bộ tỉnh trở lên mới xứng. Kén là đúng!”. Các cô gái chừng cũng nghĩ thế. Họ hình dung hạng cán bộ như Tuyên là một loại người riêng biệt, đúc bằng thép, tim không bao giờ đập nhanh hay chậm khác mức bình thường, miệng chỉ mở ra để nói chuyện chính trị hay hạ mệnh lệnh tác chiến, cả đến một nụ cười cũng có sắp đặt từ trước. Bởi vậy, đối với Tuyên họ chỉ mến và phục chứ không yêu. Trong tình yêu của người phụ nữ thường pha lẫn rất nhiều tình thương, mà ở Tuyên họ không tìm ra cái gì để thương cả.
Khúc sông này vắng lặng. Tuyên chèo đều tay như cái máy. Đi thuyền trên sông êm, hồn người hay trải rộng theo dòng nước. Tuyên lại nghĩ đến Soan. Anh nao nao, nửa vui nửa buồn.
Anh quen bố Soan từ đầu kháng chiến. Một hôm hành quân qua gần nhà, cụ quản lý cố nèo anh tạt vào chơi. Soan đi học về, vai gánh một gánh lá ủ phân chuồng, cuốn vở và con khăng cầm tay. Soan chào lí nhí: “Chú ạ!”. Tối hôm ấy đội thiếu nhi không họp, Soan ngồi nghe chú kể chuyện đánh Tây, đánh ghê quá. Soan bíu tay chú, mồm tròn chữ O, mắt dựng chữ I, nghe như nuốt từng câu, hỏi dồn hỏi dập:
- Thế nó được hay ta được hở chú?
- Thế chú không sợ hở chú?
Cụ quản lý theo đơn vị lên Lào. Bẵng đi mấy năm, Soan bỗng lù lù cõng ba lô bước vào mặt trận bộ, chìa ra cái chứng minh thư ghi chức vụ y tá, cấp tiểu đội phó. Ông cụ đeo kính đọc giấy, lại gỡ kính ra nhìn con, buột mồm: “Đồng chí... mày nhớn thế kia à?”.
Ít lâu sau, cụ được giải ngũ về làm chủ tịch xã. Cụ dặn Soan:
- Tao gửi mày cho anh Tuyên đấy. Anh ấy vào bậc cha chú, bảo mày phải nghe. Muốn tính đường chồng con cũng phải “thông qua” anh ấy, kẻo rồi đi một về ba là tao không tán thành.
Soan đang khóc thút thít cũng bật cười, nguây nguây:
- Ứ ừ, con chả đâu.
- Chả với nem gì? Anh Tuyên còn sáng suốt hơn bố mày...
- Là con chả lấy chồng đâu. Con đợi độc lập cơ!
Trước khi Soan đến mặt trận bộ, Tuyên có một cái thú riêng. Cách cơ quan của anh hai cây số có một ngã tư. Rẽ bên trái là vào bệnh xá, rẽ bên phải là vào xưởng sửa chữa vũ khí. Đi công tác về, Tuyên thường rẽ sang phải. Anh nghiện cái mùi dầu cháy hăng nồng, tiếng giũa sắt rin rít, ánh lửa máy mài xòe như pháo hoa cải. Bước vào xưởng, tay anh bắt đầu ngứa. Anh lân la hỏi chuyện, rồi vớ cái đục, đục luôn một cái cần bật lựu đạn trên mẩu tôn thừa, nhát đục cắn nhau liền như dập máy. Có khi say việc, anh ở mãi đến tối để cãi nhau với anh em quân giới về cách chữa đạn phóng bom mười một cân thành mìn giật, về một kiểu ngòi nổ chậm dùng thuốc nhỏ mắt thay axít, về cái hạt nổ đạn đại liên hốt kít không chịu “ăn” kim hỏa súng trường Anh-đô-si-noa. Máu thợ nguội trong người anh hay bốc như thế. Vào xưởng máy là anh quên hết, chỉ còn nhớ đến hai bàn tay mình đã đục, giũa, cưa, phay, tiện trong nhà máy xe lửa Gia Lâm trước Cách mạng, cho đến ngày mật thám soát thấy bó truyền đơn buộc vào đùi.
Từ khi Soan về bệnh xá, anh rẽ sang trái nhiều hơn trước. Ban đầu chỉ là đến thăm thương binh, thăm cháu. Mãi đến gần đây anh mới hiểu mình. Anh đâm sợ, cố tránh mặt Soan suốt một tháng. Nhưng khi Soan ốm, anh đâm bổ sang ngay, hoảng hốt đến suýt nữa lộ hết. Tình yêu bị nén mãi càng bùng lên dữ. Tuyên đã yêu Soan, cô gái trẻ hơn anh ngoài chục tuổi, quen xem anh như ông chú thân mà nghiêm...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2010, 12:27:33 pm » |
|
- Đến rồi anh ạ.
Mũi thuyền trượt êm trên lưỡi cát. Hai anh em du kích xem giấy. Pheng giao thuyền cho họ, hỏi đường. Vẫn tiếng rình rình kin kít quen tai.
- Báo cáo anh, dọc đường có biệt kích hoạt động.
- Sáng nay Đacôta quần phía núi. Có lẽ thả dù.
Tuyên buộc gói phạ phe vào lưng, lên đạn các bin, khóa cò. Những ý nghĩ chờn vờn vụt tan. Còn ba ngày đường bộ nữa mới lên đến chỗ hẹn đón trung đoàn 217. Đường rừng, biệt kích, máy bay dò xét...
Nửa giờ sau, một anh du kích dẫn họ đi về phía bắc. Đi với nhau cách năm sáu thước, súng kẹp nách, mắt nhìn soi xói vào hai bên con đường mòn xuyên rừng, tai dỏng nghe từng tiếng lá khô vỡ đáng nghi. Dưới chân là những hố chân voi sâu ngập gối, viền những chùm vắt ngoe nguẩy trên miệng.
- …Về chiến thuật một điểm hai mặt tôi chỉ giới thiệu đến đây. Các đồng chí đọc thêm bài của đại tá Minh Lý trong Quân chính tập san số tháng 12 năm 1951, và bài của tôi trong số tháng 2 năm 1952, phân tích một số trận công kiên của ta về mặt vận dụng chiến thuật. Chiều ngày kia tôi sẽ báo cáo sang chiến thuật chia cắt, đề nghị các đồng chí đến đúng giờ hơn. Đúng giờ là nguyên tắc quân sự cơ bản nhất, các đồng chí nhớ đấy. Giải tán.
Tham mưu trưởng Đặng mỉm cười, mổ ngón tay trên mặt kính đồng hồ. Nghe câu phê bình khéo, cả hội trường cười ồ, ùn ùn ra về. Ánh đèn chai soi lên vòm lá vầu, đuổi sóc nhảy loạn.
Buổi lên lớp chiến thuật nào của Đặng cũng đông nghịt, cả các ông cán bộ già ở kho gạo bên kia sông Xê Ban cũng chèo thuyền sang nghe. Phần vì cán bộ ít được học thêm về quân sự, phần vì Đặng giảng rất hay. Tờ báo in litô của khu đã đăng tin: “Lần đầu tiên từ ngày thành lập mặt trận Tây Nam, các đồng chí ở mặt trận bộ được nghe những bài giảng phong phú, sinh động, có sức hấp dẫn lạ thường”. Và những câu pha trò vừa êm vừa đậm, cái lối chúm năm ngón tay bắt chuồn chuồn trong khi nói, cả cái trán hói và cây ba toong bịt bạc chiến lợi phẩm của đồng chí tham mưu trưởng được đồn thổi ra rất nhanh trong khắp mặt trận. Cái tên “ông Đặng ba toong” có từ đấy.
Đặng bấm đèn pin đi về lán Tham mưu. Anh em đi vắng cả. Đồng chí cần vụ đang loay hoay trở ngược trở xuôi cái ống nghe điện thoại, thổi phù phù, lắc lắc. Đặng phì cười, nhắc:
- Khổ! Bấm cái mấu giữa ống nghe ấy. Hỏi xem có việc gì.
- À vâng… Tôi nghe đây. Ai nói đấy? “Tôi” à? Tôi là ai?... Tôi là ai mới được chứ?
Đặng gõ ba toong xuống đất, cười sặc:
- Hỏi “đồng chí là ai”, ông mãnh ơi?
Ngoài trạm liên lạc báo tin có đại đội phó đại đội 46 về xin gặp tham mưu trưởng gấp về việc bổ sung vũ khí. Đặng cau mày:
- Bảo họ chiều ngày kia cho vào.
- Họ đề nghị sáng mai anh ạ. Đơn vị đóng xa sáu ngày đường, sắp sửa đánh xe.
Đặng rút sổ con, xem lại lịch công tác. Sáng mai anh có buổi tự học, chiều mai họp tổ chức chế độ trực ban… Không được. Phải chủ động. Cấp vũ khí chỉ mất mười lăm phút hay nửa giờ, nhưng lắt nhắt thế đâm ra sự vụ mất.
- Sáng ngày kia bảy giờ vào gặp tôi.
Cái máy điện thoại này anh đã phái người lên xin tận trên khu, cho bộ đội cắt dây của địch gửi về lắp. Chỉ mắc từ trạm liên lạc ngoài làng Na Phô vào đây xa năm cây số, mà tiện đáo để. Cán bộ ở đơn vị về không được xồng xộc vào cơ quan bắt giải quyết công việc lập tức nữa, mà phải nằm ngoài trạm liên lạc đợi lệnh. Của đáng tội, họ kêu ca châm chọc cũng lắm, nhưng cán bộ các ban có phần dễ thở hơn. Tiểu đội bảo vệ đỡ lo kẻ lạ vào mặt trận bộ. Anh em liên lạc bớt được công chạy ra chạy vào. Tóm lại chung quanh cái “ống lô phôn” rất hiện đại giữa cái chiến trường rất du kích này có lắm tiếng chê khen, nhưng tiếng chê ở xa mà tiếng khen ở gần.
Một người đi qua, gọi chõ vào:
- Mời anh đến nghe đài ạ. Chữa xong rồi, pin mới chắc nghe tốt.
Người chen lố nhố trong lán chính trị. Cây đèn chai bốc khói nhiều hơn lửa, thả rơi từng chấm nhựa cháy xèo xèo xuống đất.
Làn sóng điện của đài Tiếng nói Việt Nam cũng chập chờn như ngọn đèn. Tiếng cô phát thanh dào lên rỏi tắt ngấm, đến khi nghe đều lại nhỏ ri ri, lay lắt. Tất cả mặt trận bộ vây quanh cái máy thu thanh Philíp vỏ gỗ đã bong sơn, căng tai, cố lẩy ra từng chữ từng câu trong cái đống bát nháo những tiếng rồ, tạch tè, nhạc giật gân cứ tràn qua tràn lại. Hôm nào cũng ngần ấy hồi hộp và thất vọng, nhưng họ không vắng trong giờ nghe đài. Tiếng nói của Tổ quốc kháng chiến vọng sang, dù không nghe rõ, vẫn có cái gì thiêng liêng và an ủi lạ lùng.
Lắng tai một lúc, Đặng ngáp dài, hất hàm:
- Chán ốm. Mở France - Asie 11 thôi.
Anh liếc nhìn đồng chí trưởng ban chính trị như trêu tức. Không đợi trả lời, anh ghé mắt xoay núm vặn. Một điệu nhạc lê thê rét mướt cất lên, kèm giọng đàn bà hát:
Sống trong lòng người đẹp Tô Châu Hay là chết trên dòng sông Đanuýp...
Nghe hát, cứ tưởng như ả kia là một mụ béo phị, mỡ lấp cổ họng, đang rền rĩ khóc chồng. Rồi tiếp một bài “xuynh” nhạc Mỹ, lời Pháp. Ngắc ngứ, giật ngược kéo xuôi, như anh chàng nào đó vừa hát vừa nhảy vừa ăn kẹo mạch nha, cả ba việc đều hối hả, hối hả.
------------------------------------------------------- (11) Đài Pháp - Á của Pháp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2010, 12:32:20 pm » |
|
Đồng chí trưởng ban chính trị lẳng lặng ra về. Đặng nhún một bên vai. Đặng không ưa anh kia từ trước, càng khó chịu khi anh được cử thay thế trung đoàn trưởng Tuyên đi vắng. Anh định đưa điều lệnh ra vặn Tuyên: “Tham mưu trưởng là người thay thế thứ nhất khi thủ trưởng vắng mặt..” Nhưng thôi, chả nói nữa. Ở chiến trường này, từ cán bộ cao cấp trở xuống đều du kích thế cả. Vòng người chung quanh máy thưa dần, rồi tan hẳn. Đặng vẫn lim dim, mổ ngón tay trên đùi đánh nhịp. Anh ghé tai một cán bộ tuyên huấn: “Thỉnh thoảng ướt một tí chứ cậu!” Đôi bên nháy nhau, cười.
Một liên lạc viên xồ vào lán. Bụi đỏ lấm bết ống quần, lên khỏi đầu gối thì nhạt thành màu da cam, đến ngực chỉ còn phơn phớt trắng. Anh chìa ra một mẩu giấy, toét mồm cười:
- Thư hỏa tốc của ông Thông Phun đây anh ạ.
- Gì?
- Ông Thông Phun ấy mà, ông bảo cầm giấy này về gấp cho anh. Gớm, gió gió khiếp, bụi vào đến ruột chứ phải chơi.
Đặng cau mày. Anh không ưa cái lối vai vế, gia đình chủ nghĩa như thế. Mà lại xồng xộc tìm anh vào giờ nghỉ... Anh nói đĩnh đạc, mắt nhìn qua vai đồng chí liên lạc viên vừa ngồi xuống kéo vạt áo lau mặt:
- Khi có giấy tờ gửi đến, đồng chí mang sang văn thư để vào sổ công văn. Đừng đưa tắt ngang, nhỡ thất lạc không ai chịu trách nhiệm. Cần tập làm việc có nề nếp cho quen. Đồng chí về nghỉ.
Sáng hôm sau, Đặng ngồi vào bàn đúng giờ hành chính, giữa cái lán trống không. Tất cả mặt trận bộ đi suốt lúa rẫy tăng gia từ mờ đất. Văn thư đã xếp sẵn tập công văn trên bàn. Lá thư của Thông Phun viết bằng bút chì bi đỏ nằm trên cùng. Đặng rút bút máy ghi bên lề: “Công văn chữ Lào phải có bản dịch của văn thư kèm theo”. Anh đẩy lá thư sang bên. Các cán bộ thường trực bên Ban chính trị cũng dịch được, nhưng anh không thích sang hỏi. Làm việc sự vụ như thế người ta coi thường mình đi.
Sẩm tối, đồng chí văn thư về lán. Đồng chí thở dài, thắp đèn chai ngồi dịch một loạt giấy tờ chữ Lào đến ba giờ sáng. Dịch xong thì vừa có còi đánh thức mặt trận bộ dậy sớm đi suốt lúa.
Đặng lại ngồi vào bàn giấy, lật tập công văn vào chiều hôm sau. Lá thư của Thông Phun viết ngắn, không có câu mào đầu trang trọng: “Của Ủy ban kháng chiến mặt trận gửi các đồng chí trong Ban chỉ huy Quân tình nguyện thân mến và quý trọng được biết” như mọi lần.
“Tôi vừa nhận tin hỏa tốc của trinh sát Lào. Con đường bí mật số 1 từ Pà Thạc về đây bị lộ. Địch rải quân phục kích dọc đường từ hôm qua. Bên tôi cán bộ vắng cả. Anh điện ngay cho đội CC3 chuyển sang đường khác. Nếu chậm, có thể...”
Đặng đi như chạy sang lán mật mã. Buồng làm việc của mật mã che kín mít, bộ đội thường gọi đùa là “buồng đẻ”. Đặng vén tấm ni lông, xộc vào.
Đồng chí mật mã vơ cái chăn úp chụp trên đống tài liệu lắp bắp:
- Yêu cầu anh ra ngoài.
- Gấp lắm, cậu cứ...
- Đồng chí ra đi!
Bị cự thẳng tay, Đặng phát khùng, nhưng phải rút lui. Anh tạt sang lán điện đài, chặn tay đồng chí hiệu thính viên đang gõ cái ma níp lia lịa:
- Điện hỏa tốc cho CC3, đánh cờle 12 cũng được.
- Báo cáo anh, họ hết ca 13 ban nãy.
- Bao giờ liên lạc được?
- Chiều mai ạ.
Đặng ngồi bệt xuống sạp, vuốt mồ hôi lạnh ướt trán. Mặt anh sạm như rắc tro. Đồng chí mật mã đến trao bức điện ngắn:
“Quân số đủ Điều tra G.M.4 sắp xong, đang đợi Pha vào gặp Muôn chưa ra. Đường an toàn. Sẽ về đúng hẹn - Lương”.
Đặng không nghe lời phân trần xoắn xuýt của đồng chí mật mã. Anh hiểu nguyên tắc không được vào buồng mật mã. Nghĩ một lúc, anh lấy sổ điện, viết vội:
“Gửi CC3 - Đường số 1 lộ, chuyển ngay đường khác - Đặng, 18.12.52”.
Đồng chí mật mã cầm sổ đi, lại bước vào:
- Báo cáo anh, hôm nay ngày 19 đấy ạ.
- Gì nữa?
- Anh ghi lầm ngày. Đề nghị anh ghi luôn giờ viết điện sang bên cạnh.
Đặng vùng vằng chữa ngày, ghi giờ. Anh đã cố ý viết sai, nhưng không được. Anh lầm lầm ra về. Tiếng gõ ma níp giòn tan vẳng theo anh như chế giễu. Đồng chí mật mã cầm cây ba toong bịt bạc chạy theo đưa trả anh, còn thanh minh thêm mấy câu nữa.
------------------------------------------------------- (12) Minh ngữ. (13) Giờ trực đài.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2010, 12:34:57 pm » |
|
V Lương bước vào cửa hang, cúi xuống giắt lại múi băng trên bắp chân, rứt hai con vắt ném ra xa. Anh đứng thẳng lên, bỗng suýt kêu ngạc nhiên. Pha ngồi trên tảng đá vôi, tay chống cằm, mặt trắng bệch và cứng đờ như cũng tạc bằng đá vôi. Đôi mắt xếch ngó anh mà không thấy anh, giống hai viên thủy tinh lắp thay tròng. Từng mẩu vải mắc trên vai, trên cổ. Váy cũng rách bươm. Gai cào trên trán Pha những đường chấm đỏ chi chít, mắc vào tóc rối từng khúc gẫy ngang dọc. - Chị Pha mới đến hở? Pha không động, không chớp mắt. Văn Thon kéo Lương vào cạnh cây cột đá hình xương sống voi. Tiếng anh khản đặc như bào cuống họng mà ra: - Có chuyện gì không biết. Chị ta mất trí, chỉ nhớ thằng Muôn nói quân G.M. bốn ngày nữa rút đi. Có quan Mỹ đến nữa. Nói được có thế rồi đờ người ra. - Sao chị ta biết chỗ này? - Trước hình như ông cụ dẫn lên một lần. Lội rừng đến nát người thế kia, chắc đi tìm suốt đêm. Khiêm bưng đến một bát cháo bốc khói, trỏ ngón tay: “Kin ! Kin!” Bác Cống dỗ Pha ăn. Pha vẫn ngồi im. Lịch đến bên Văn Thon, lắc cái đầu bù: - Chị Pha mất cả ba mươi hai vía rồi. Ma rừng nó bắt. - Nhảm nào! - Còn gì nữa, người cứ rỗng như vỏ rắn lột thế kia. Anh biết kinh, cúng gọi vía cho chị ấy đi... À, hay là cúng chia cơm cho bố chị ấy. Phải, ông cụ chết chưa được chia cơm, hồn còn ở lại ám con đấy thôi. Văn Thon gạt phắt. Trước anh tu đến chức hòa thượng, nay còn thuộc kinh. Nhưng anh chỉ theo lời Phật dạy, mà không tin cúng vái bùa chú như ngày xưa nữa. Nghe Lích nói, anh hơi ngượng với Lương. Lương bàn góp: - Ừ anh cúng cho chị Pha đi. Anh biết cúng chứ? - Biết, có điều... tôi không tin... - Anh không tin nhưng chị ấy tin. Không chừng tỉnh người ra ngay đấy. Cũng như truy điệu ông cụ thôi mà. Văn Thon thở phào, nhẹ nhõm. Thật ra, anh lo cuống vì Pha, muốn cúng thử xem sao. Anh em Việt vào chùa cũng lạy sư, nghe kinh, dân quý họ lắm. Lích lấy cái đĩa nhôm bày tạm thành mâm cúng. Anh cắt lá chuối rừng lót đĩa, trút gạo lên trên, vốc một dúm con muối, xé một đầu cái phạ phe để rút mấy sợi vải trắng làm chỉ buộc tay. Bác Cống móc gói áo quần một lúc, lấy ra mẩu nến dự trữ, cắm trên mâm. Bác đứng sau lưng Pha, căng cái áo lót cổ vuông đạc chừng vóc người Pha, định xé theo đường chỉ và đính cúc may vội cho Pha cái áo. Rồi bác lắc đầu, moi trong đáy “kho tạp hóa” của bác lấy cái phạ phe dự trữ, quàng lên vai Pha. Lương đi soát lại một lần nữa việc chuẩn bị lên đường, để Văn Thon cúng được tự nhiên, không ngượng vì có người nhìn. Anh ra đứng của hang, lật xem nốt tập báo cáo số 5, ghi thêm vào trang cuối: “Ngày 17-12 G.M.4 từ Việt Nam lên đóng tại sân bay Pà Thạc. Lúc luống: bốn xe tăng Sécman, tám xe bọc sắt A.M., mười hai pháo 105, ba trăm hai mươi xe bộ binh và hậu cần. Tất cả đều trang bị vũ khí quân trang Mỹ. Cơ sở báo tin có cố vấn Mỹ cùng đi, và chỉ ở lại Pà Thạc bốn ngày”. Ngòi bút dừng một lúc lâu. Lương ngoái cổ nhìn. Pha, rồi đọc lại mấy dòng mới viết.Ngắn quá, cộc cằn quá. Anh muốn ghi thêm một chút gì, dù chỉ mấy chữ thôi, để người đọc báo cáo biết rằng cô gái cơ sở Itxala đã mang đến cho đội cái câu cuối cùng trong báo cáo này vừa trải qua những xúc động chắc hẳn là kinh khủng nhất, thương tâm nhất, và giờ đây đang ngồi chết lặng trong hang núi Vượn tối và ẩm... Anh nhấc tập giấy trong lòng bàn tay. Bốn mươi trang lớn, dài quá rồi. Viết báo cáo quân sự tối kỵ cái kể lể dông dài. Lương tháo tấm ni lông khoác đi mưa, rọc một góc gói tập báo cáo. Mũi anh cay cay.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2010, 12:36:54 pm » |
|
* * * Màn sương trắng như nước gạo vây chung quanh Pha. Tiếng u u rền ngạt trong sương. Ai nói gì léo xéo, khi xa khi gần. Gọi tên Pha, gọi cụ Thít La nhiều lần. Pha núp trong sương đặc, không đáp, như lúc bé chơi ú tim. Pha không vui, không buồn, người cứ tê dại, nổi bồng bềnh. Tiếng người đến sát trước mặt Pha, gọi tên bố. Pha tức mình, trừng mắt. Màn trắng hé ra một quầng sáng, Pha thấy chờn vờn một bóng người to lớn ngồi xếp bằng tròn, hoa cây nến. Trò gì vui thế nhỉ? Pha tò mò lắng tai nghe: Hồn lìa khỏi xác, hồn lên Niết Bàn, hồn đầu thai khiếp khác, tránh chốn khổ não tìm nơi vui thú, hồn chớ quẩn quanh ám mãi người trần. Hồn cụ Thít La ơi... hỡi!
Pha giật mình. Chung quanh quang hẳn. Bàn tay anh Văn Thon to như nải chuối vẫn hoa cây nến trước mặt Pha: Đời là giấc mộng, sống thác lẽ thường. Cõi trần đày đọa mấy mươi năm, nay mừng hồn được giờ siêu thoát. Kẻ ở lại vui vẻ đợi ngày theo hồn về chôn Niết Bàn. Hồn cụ Thít La ơi... hỡi! Kẻ ở lại mừng hồn được giờ siêu thoát, vui vẻ đợi theo hồn về chốn Niết Bàn... Văn Thon tụng bài kinh dài. Khi còn đi tu, anh đến đám tang đọc kinh bảy ngày đêm là thường. Nhà có người chết gọi là hươn đi, là nhà được phúc vì đã cho người về hầu Phật. Bởi vậy không ai khóc ồn ào, mà lại chơi vui như mở hội. Trai gái thức suốt đêm hát đưa tình cạnh quan tài bố hay mẹ. Giờ đây Văn Thon đọc thuộc lòng những câu tiễn hồn người chết và khuyên nhủ người sống, những câu anh nhớ mà không tin nữa. Pha đã tỉnh hẳn. Máu đông lại trong tim đang chảy dần ra, tỏa khắp thân. Pha ngồi thẳng lên trước cái mâm cúng, nhìn ngơ ngác, rồi túm hai tà phạ phe che ngực. Bác Cống bưng đến bát cháo vừa hâm: “Chị cố ăn cho lại sức”. Pha lắc đầu. Pha không muốn sống. Pha hết sạch người thân như cái cây đứt hết rễ, cố đứng gượng rồi cũng chết khô. Chết là hết giày vò, hết khổ. Lương đến bên Văn Thon. Con mắt lành chớp vội mấy cái. Anh nói: - Cố ăn cháo đi chị. Rồi kể chuyện gặp anh Muôn chúng tôi nghe với. - Tôi giết nó rồi! Bác Cống giật mình, suýt đánh rơi cái đĩa nhôm bác đang cất. Văn Thon hỏi dồn. Pha nín thinh. Lương khẽ xua tay: - Thôi để lúc khác. Chị ăn đã. - Không. - Nhịn mãi thì chết mất. - Tôi muốn chết. Sống làm gì? Làm gì? Cái gì chặn ngang cổ Lương, khiến anh ngạt thở. Anh nắm bàn tay Pha, thấp giọng: - Pha đừng nghĩ quẩn. Pha còn anh Pheng đi bộ đội, còn dân làng, còn chúng tôi. Hôm nào đánh đồn, Pha về mà xử cái thằng giết cụ Thít La nhé! Pha trẻ lắm, đừng nghĩ bậy. Buồn thì cứ khóc, khóc to lên... Pha ngẩng đầu nhìn anh, thều thào: - Tôi hết nước mắt rồi. Không khóc được. Hàm răng Pha bỗng rung lập cập. Một ý nghĩ xóc qua đầu như mũi tên: trả thù, phải trả thù, phải sống mà trả thù. Khuôn mặt gầy vụt đỏ ửng. Pha bưng bát cháo lên húp. Mắt Pha khô, sắc lạnh, sáng quá. Lích cười, nháy Văn Thon: - Thấy chưa, cúng là ma hết ám ngay! Lương xem đồng hồ, giẫm chân: - Muộn mất hai giờ. Bác Cống cho ăn cơm nhanh, nửa giờ nữa xuất phát.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2010, 12:42:24 pm » |
|
* * * Đội chuẩn chiến lên đường về mặt trận bộ lúc nắng tròn bóng. Họ phải trèo núi tám ngày, luồn qua các làng vũ trang của địch theo con đường bí mật số 1. Bác Cống và anh Chum tiễn một quãng. Chum thấy lính đồn xuống lùng bắt Pha, đốt nhà cụ Thít La, vội lẻn lên núi Vượn. Thằng Muôn chỉ bị thương, không chết. Tình hình thế này Pha không về làng được nữa. Đội đưa Pha về khu căn cứ tìm anh Pheng và chữa bệnh. Bác Cống ở lại nắm cơ sở theo dõi địch, đợi bợ đội xuống đánh Pà Thạc. Bác soạn gói tạp hóa chia cho Khiêm một nửa, dặn đường đi nước bước đến đứt lưỡi. Rồi bác kéo Lương ra, rỉ tai: - Anh về nhớ thu xếp cho Khiêm nó đến thăm con bé Soan một tẹo. Chúng nó dỗi nhau. Thằng này tính khái lắm, anh dỗ hộ tôi. - Được, tôi cũng định thế. Ghen với ông Tuyên, lạ thật cái thằng bé! Cống há mồm: - Sao anh biết? - Nghe lỏm. Nó vẫn giấu tôi đấy. Đội đi khuất, anh Chum vẫn đứng bần thần, như đánh rơi đâu mất cánh tay, cái chân. Bác Cống búi mãi cái núm tóc đã bạc tiêu muối. Bác để tóc dài cho tiện trà trộn vào nhân dân. Mười lăm phút sau, bác vẫn ngồi búi tóc, hai ngón tay phải xỏ vào cuộn tóc sau gáy, nghĩ gì không rõ. Khiêm đi cuối hàng, kín đáo đưa ống tay quệt mũi. Hiệu thính viên Sử xốc gọn cái ba lô mang điện đài, ngoái cổ lại: - Mày nhớ bố không? - Vớ vẩn! - Hôm qua, bố Cống chỉnh mày hở? - Ừ. Tại tao ném mẩu thuốc lá cho thằng lính gác. Sử trố mắt. Cánh mũi đỏ phập phồng. Những trò tếu của Khiêm không phải ít, nhưng đến cái nước vào đồn cho lính hút thuốc thì quá sức tưởng tượng. Trước đây Sử hay ghen ngầm với cái điển trai của Khiêm. Cậu trinh sát trẻ nhất đội có thân hình cao, dẻo, cân đối, khuôn mạt trắng hồng, môi đỏ chót như con gái đương thì, đôi mắt trong veo và hơi xanh lơ. Nhiều cô trong khu căn cứ gạ đổi mười trâu lấy anh Khiêm về làm rể làng, nói cứ nửa bỡn nửa thật. Về sau, Sử chuyển sang thèm cái tài trinh sát và tính táo bạo hiếm có của Khiêm. Các tay trinh sát lão luyện, sẹo và huân chương đầy ngực, cũng lắc đầu khi kể chuyện tếu của “Khiêm chuột nhắt”. - Mày đùa với lính gác thật đấy à? - Gì đâu. Tao vớ được gói Cô táp trong nhà thằng quan hai, móc một điếu. Chà, đêm rét kinh, mà tao chỉ mặc độc cái xi líp. Đánh diêm trong hàm ếch, nó cóc thấy lửa. Phải cái khói thơm quá. Thằng gác mò đến tìm mãi. Để nó sục lâu thì lộ, tao phải kẹp mẩu thuốc vào lòng bàn tay, úp sấp lại thế này, nhoi lên đặt sau lưng nó. Cu chàng nhặt được, hút đến tụt dái lên cổ. Nó tưởng trong lô cốt hút vất ra mà lị! Sử cười phá lên. Một lệnh ngắn truyền xuống: “Im lặng - Lương”. Sử đi một quãng, lại gợi: - Chúng nó đồn mày định xây dựng với cái Soan bột ở bệnh xá hở? - Cái mồm! - Mày vẫn thẳng ruột ngựa với anh em cơ mà! Sử đánh trúng chỗ yếu của Khiêm. Khiêm lại quệt mũi, buồn rầu: - Ừ, có thế. Mà nó đá tao. Con gái đứa nào cũng đểu mày ạ. - Ơ, độc miệng thế chả trách... - Thằng lính quèn, bì thế nào được với ông Tuyên. Thôi chả thèm nói cái chuyện “lãng mạn” ấy nữa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2010, 12:44:12 pm » |
|
Khiêm không có cha mẹ, quê quán. Một bà cụ nhặt Khiêm trong bó tã, nuôi lớn lên. Gặp dạo đói kém, cụ dứt ruột bán Khiêm cho một anh làm xiếc chó và bán thuốc cao. Anh này dạy Khiêm làm đủ trò xiếc tả lố tùng phèng, cho ăn roi nhiều hơn cơm. Sau cách mạng, Khiêm trốn theo bộ đội làm liên lạc. Khiêm đội mũ sắt, đeo lựu đạn lệch người, chạy veo veo qua lưới đạn. Cái tên “chuột nhắt” có từ đấy. Rồi Khiêm vào trinh sát. Cái tài trèo me trèo sấu, chui lỗ cống, nhảy vòng lửa lại gặp chỗ dùng, Khiêm không nhớ mình học lúc nào mà biết đọc biết viết. Khiêm mới lên Lào đã bị thương thủng vai. Về nằm bệnh xá hai tháng lại bị thương thủng tim. Ấy là vì mê cô Soan bột và ghen với trung đoàn trưởng Tuyên. Sự tình vừa đơn giản vừa rắc rối.
Khiêm sốt dữ dội sau khi mổ không thuốc mê, chỉ tơ lơ mơ thấy một đôi mắt. Đôi mắt to, tròn, hơi xa nhau như mắt búp bê. Hơi tỉnh ra, Khiêm thấy thêm cái miệng tươi mởn. Tỉnh hẳn, Khiêm thấy cô y tá mắt tròn, môi tròn, mặt tròn, người cũng tròn mầm mắẫ. Hỏi ra mới biết Khiêm đã tát cho cô này một cái ngã chúi xuống chân giường trong khi mê. Lương tâm cắn rứt, Khiêm bèn lân la xin lỗi. Soan cười, má lúm hai đồng tiền tròn xoe. Khiêm cười theo, xí xóa. Thế là thân nhau.
Soan vừa tròn mười chín tuổi, cái tuổi của những ước mơ đẹp nhất, rạo rực nhất, và thường là anh hùng nhất đối với những cô gái bộ đội. Soan vừa được bầu chiến sĩ thi đua của mặt trận bộ, đang được bồi dưỡng để kết nạp vào Đảng. Nhiều anh cán bộ đặt vấn đề, Soan chỉ nói: “Em đợi độc lập cơ!” Nhưng cái tuổi mười chín nào có chịu đợi độc lập...
Lúc Khiêm ngủ yên, Soan bâng khuâng ngắm anh trinh sát nổi tiếng gan liền, sốt lên thì hét toàn những sự đâm năm chém mười, đến lúc tỉnh lại hiền như phỗng đất. Ánh mắt Khiêm quấn quýt theo Soan nhiều lần. Soan đỏ mặt, đi hay vấp, nói hay lắp, trở nên đãng trí, thường mỉm cười một mình trong gương rồi thở dài rất lâu. Chị y tá trưởng nhận xét riêng: “Đồng chí Soan có diễn biến”. Chị ta người khô hạc, điểm một thoảng râu mép, hai mươi lăm tuổi chưa ưng ai, và khuyên Soan không nên nghĩ đến chuyện chồng con trước thời hai mươi lăm như chị.
Nội quy bệnh xá cấm hẳn thương binh “đặt quan hệ linh tinh” với nhân viên. Nằm yên đấy, chữa khỏi hẳn mới cho phép. Khiêm và Soan quen chào nhau bằng nụ cười. Cũng là cười nhưng ý nghĩa mục đích ngày một khác đi. Cười mãi, ắt phải nói. Nói rằng:
- Đồng chí Soan này...
- Gì hở đồng chí?
- Đồng… Ờ, chị bao nhiêu tuổi nhỉ?
- Đố anh biết…
Về sau cách xưng hô lại đổi:
- Soan định xây dựng đâu chưa?
- Tôi… ư… Tôi chưa… Tôi đợi đến… còn lâu anh ạ.
- Tôi cũng thế. Cũng thế.
Cả hai cùng luống cuống, ngắc ngứ. Soan xổ cuộn băng rồi quấn lại rối tung. Khiêm thắt gút đầy kín cả sợi dây dù buộc võng, sau đó mất một buổi chiều ngồi tháo gút bằng tay, chân và răng.
Vết thương đã liền da. Chỉ mười hôm nữa Khiêm sẽ về đơn vị. Một buổi trưa Soan đi tiêm thuốc, sờ thấy trong túi dết một mẩu giấy không ký tên:
Tôi vụng lắm, không biết nói sao cho phải. Tôi yêu Soan lắm, muôn xây dựng với Soan, bao giờ cũng được. Soan không đồng ý thì tôi buồn lắm, vì tôi yêu Soan lắm, Soan trả lời tôi nhé.
Soan run tay, phải nhờ chị y tá trưởng tiêm hộ. Soan đi thẳng đến lán của Khiêm. Lán vắng quá, chỉ có một mình Khiêm ngồi viết gì trong góc. Soan đứng ngẩn người cạnh cửa, rồi quay ra rừng như người mất hồn. Soan đứng dựa gốc cây, xé lá vụn rơi dồn thành đống, một đàn ong bay vo vo trong đầu.
Tiếng lá khô sột soạt đến gần, dừng lại. Soan cúi mặt, tim đập như trống báo động máy bay, đất sụt dưới chân. Ai cầm tay Soan thủ thỉ rất lâu, vuốt tóc Soan. Người Soan nóng rồi lạnh từng cơn. Cả một rừng chim nổi lên hót ghẹo chung quanh, một giọt nắng đùa đai nhảy mãi trên mũi Soan, bắt Soan phải ngẩng lên bằng được.
Trời xế chiều. Soan và Khiêm chúi đầu vào cái tổ chim rơi, cãi nhau rất hăng. Bốn con chim tí xíu ngoác mỏ, rung tít cái đầu tròn đòi mẹ bón. Đôi bên đồng ý mang về nuôi. Soan tính cho ăn cơm nó mới hiền, mới ngoan. Khiêm cứ nhất định phải cho ăn cào cào, sâu róm nó mới khỏe. Soan dỗi, trèo lên cây đặt tổ chim vào chỗ cũ. Soan nhảy xuống, vì trượt chân mới ngã vào lòng người yêu, chứ Soan không cố ý...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2010, 12:47:08 pm » |
|
Câu chuyện đến đây tưởng đã đầu xuôi đuôi lọt, hay đâu lại gặp trắc trở. Bệnh xá ít thương binh, Soan được điều về mặt trận bộ, công việc ngập đầu, còn Khiêm ở bệnh xá như nằm trên bàn chông. Đồng chí bệnh binh mới về nằm cạnh Khiêm lại là tay ít ưa phụ nữ. Đồng chí thường triết lý khề khà: - Đàn bà nói chung cũng kẻ tốt người xấu, nhưng đều mắc cái tật trông lên, nhất là các ả bộ đội. Hôm nay thích cậu một gạch đít tròn 14, mai cảm anh trung đội, tháng sau vớ được ông trung cấp lại mê. Đá đít cứ xoành xoạch. Cô gì má bánh đúc ở đây hôm nọ, ít nhất cũng đặt tiêu chuẩn “lúc lắc, tích tắc, đứng ngoài hang”. Hầy, nghĩa là phải có súng lục “chân giò”, phải có đồng hồ diện, phải chỉ huy một bê một xê gì đấy… Khiêm nghe như có con giun bò trong rốn, nôn nao ngứa ngáy không chịu được. Một tối Khiêm lần đường sang mặt trận bộ, nói dối là sang tìm đội trưởng trinh sát. Đến lán trung đoàn trưởng, Khiêm đứng chỗ tối dòm vào, Soan đang tiêm thuốc cho Tuyên, nói gì rủ rỉ, cười to. Với Khiêm, cô ả chưa cười tự nhiên thế bao giờ. Họ xưng anh em với nhau cứ ngọt xớt. Chao ôi, người sao mà dối, mà tráo trở! Sáng hôm sau, Khiêm cuốn ba lô bỏ đi, không báo cáo với ai cả. Soan tạm ngớt việc, vội chạy sang bệnh xá. Chỗ Khiêm nằm chỉ còn sạp không. Soan khóc một mình, nghĩ: “Chắc anh đội trưởng trinh sát bắt anh Khiêm về gấp. Tội nghiệp, sợ tai tiếng nên không dám viết thư để lại cho mình”. Khiêm về đơn vị, lấy làm sầu lắm. Bèn húi đầu trọc lốc phơi nắng cho đen da, và kể sự tình cho bố Cống nghe. Khiêm thề: “Suốt đời con không thèm nghĩ đến nó nữa. Con nói sai, đạn chui qua áo tức khắc!” Bố Cống khuyên Khiêm đừng thề vậy mà ra điều duy tâm, chỉ cần hứa rằng: “Suốt đợt công tác này con nhất định gác cái việc ấy lại, không nghĩ vớ vẩn”. Thì Khiêm nghe cũng phải. * * * Những thớ núi trông xa cứ liền nhau thành bức vách tím. Ngọn cây lô nhô xếp lớp như vẩy con tê tê, càng lên gần đỉnh càng khít nhau, kết thành đường chân trời khía răng cưa. Đi trên sườn núi, nhìn sang bên kia lũng chỉ thấy một thác xanh đổ dựng đứng, thăm thẳm đến rợn người. Nhưng khi đến gần, sườn núi thoải dần ra, cây hé gốc vừa lọt thân người lách. Chỉ phạt vài nhát dao là mở được lối đi. Con đường bí mật số 1 không có dấu mòn trên cỏ, mà chỉ kéo dài theo vết dao chém rất kín đáo trên thân cây, cách nhau từng quãng chục bước. Lương bám vào sợi dây leo, bước qua hốc đá. Tiếng sỏi rơi mé sau. Lương quay đầu, kêu một tiếng khẽ. Pha biến đâu mất, chỉ còn hai bàn tay nắm sợi dây leo lủng lẳng trên miệng vực Anh túm cổ tay Pha, kéo lên. Pha lặng lẽ gỡ mấy con vắt bám chân, nét mặt vẫn lạnh. Lương buột miệng: “Chịu cô!”. Đến chân núi, rừng thưa dần ra. Sắp đến sông Nậm Phỉ, một nhánh nhỏ của sông Nậm Đăm. Đường mòn liên tiếp chạy ngang trước mặt. Lích truyền xuống: “Cởi dép đi chân không, tránh vết”. Quãng này nhiều đá nhọn và gai. Vòm lá quang hẳn trên đầu. Mặt trời ướt không chạy loang loáng qua cành lá theo đội chuẩn chiến nữa, mà dừng lại nhìn theo. Ánh sáng nhảy xuống rừng vàng nhợt như lọc qua bong bóng lợn. Đội vượt sông Nậm Phỉ mé dưới làng Phi Lạt cũ, bây giờ chỉ còn lại mấy chục cây cột cháy nhô giữa rành rành cao ngập đầu. Sông hẹp mà sâu, chỉ có chỗ này lội qua được Súng cầm tay, đội chuẩn chiến dò dẫm bước xuống bãi. Lích và Đại dẫn đầu. - Rạ ạ-ạ-ạt! Tặc tặc tặc! Nước tóe lóc bóc chung quanh Lích. Con dao văng khỏi tay anh, lia một ánh chớp, chìm nghỉm. Súng trước mặt réo dồn, réo dồn. Các bụi cây phụt khói. Lương nhảy lùi, quát: “Chạy theo đường cũ!”. Anh rút lựu đạn, uốn người ném vút hết đà tay. Quả sắt vàng vạch một đường khói, vo vo bay qua sông. Một quả nữa. Những bong ka ki Mỹ bên kia vừa nhô lên, vội thụt xuống. Lương đẩy Văn Thon đang vẩy súng ngắn: “Dẫn đội rút lui! Chạy đi!”. Khiêm kê các bin trên cành cây bấm liên hồi, nhanh như súng máy. Đạn xối đến tông tốc, bùng bục, reo reo nhức tai. Gió rít như xé vải trên đầu Khiêm, Khiêm chồm lên ôm chân Lương quật ngã sấp. Hai quả đạn súng cối nổ, hắt đá rào rào trên lưng họ. Quả thứ ba nổ trên cành cây, ném xuống vai Lương một mảnh gang cháy bỏng. Lương kéo Khiêm: “Rút thôi!” Hai người vọt về mé bên phải. Một cột khói bốc lên đúng chỗ họ vừa nấp. Hút chết! ------------------------------------------------------- (14) Tiểu đội trưởng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|