Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:49:16 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trước giờ nổ súng  (Đọc 62105 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #30 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 08:45:23 pm »

   Mười phút sau, Lương và Khiêm trèo lên đến chỗ hốc đá trơn ban nãy. Tiếng súng mé sông nổ rào rào mấy loạt rồi thưa dần. Chúng nó đang sục. Lương gạt mồ hôi vằn vèo trên mặt, nói không ra hơi: “Đủ cả chưa?” Văn Thon giẫm chân: “Thiếu Lích, Đại”.

   Lương bật dậy đi tìm. Văn Thon rút súng ngắn cầm tay, bước lên. Thấy Lương lắc đầu định từ chối, anh sừng sộ:

   - Đến nước này, anh vẫn không tin tôi à? Hay là...

   Cổ anh tắc lại vì giận.

   Tiếng súng lại dậy lên ở phía khác, kéo dài. Một khẩu súng máy nào thỉnh thoảng nổ ba viên một, nhát gừng. Không phải lối bắn của địch. Lương và Văn Thon tụt dốc, ào xuống bờ sông. Văn Thon hổn hển:

   - Có lẽ Súng K.50 của anh Đại...

*
*    *

   Lích oằn người, lê từng bước, hai tay bưng đống ruột phòi trên bụng. Khoảng trống hốc trong thân loang dần, buốt nhói. Mồ hôi chảy to giọt chung quanh đôi mắt lồi. Anh tìm dấu vạc trên cây. Vấp sợi dây rừng, anh ngã sấp. Hàng trăm mũi dùi lửa từ bụng xói lên óc. Anh mê đi một lúc.

   Tiếng xì xồ đâu đây, gần lắm. Bên phải, bên trái, đằng sau, giày đinh giẫm cành khô rôm rốp. Địch giăng hàng đi lùng như săn nai. Lích cắn môi chảy máu. Lích không phải con nai. Lích rút hai quả lựu đạn trong cái túi gai dệt xanh đỏ, đặt bên tay. Tiếng chân vẫn nguyên chỗ cũ. Chúng nó không biết xem dấu chân như Lích, chỉ tìm hú họa.

   Bàn tay Lích sờ cái bùa giữ mạng đeo cổ. Trên người Lích nó là quý nhất. Một tượng Phật chạm bằng ngà voi, một mẩu nanh lợn lòi, ba bốn cái đầu đạn đồng tháo ở những viên bắn không nổ, tất cả khâu trong cái túi dài, xin ông sư phù phép rồi mới đeo. Ba năm đánh giặc, Lích không bị thương chính nhờ cái cà thả ấy giữ mạng. Nay nó hết thiêng rồi. Tại Lích vô ý, để nó uế tạp lúc nào không rõ. Lích tháo bùa, rướn người, cố treo nó lên cành cây thấp. Đằng sau, bọn địch léo xéo:

   - Có dấu máu đây! Coi chừng mìn!

   Rừng từ từ xoay tròn. Chóng mặt quá.

   Tiếng túc chinh rõ dần, cả tiếng trống bập bùng...

   Làng Lích mở hội đưa người đi cứu nước. Lích cầm giáo nhảy chung quanh cây hoa trắng lốp những bó xơ tre. Bùng búng bung, rình rịch rình! Lích phóng mũi giáo vào con trâu cúng, xuyên đúng sườn ba. Con trâu lồng lên rồi quỵ. Tiếng reo sau lưng Lích: “Anh Lích đâm giỏi nhất!”. Lích đỡ cái cần hút rượu trong bàn tay mềm, lại nghe: “Anh Lích đâm Pháp chết nhiều, em thưởng”. Đêm ấy Lích chỉ uống một sừng trâu rượu. Lích cầm cái sáo khui đuổi theo cô gái chạy giữa rẫy lúa. Tiếng cười ngặt nghẹo lấp tiếng sáo.

   - Nó đay! Nhanh lên!

   Chân chạy sầm sầm. Nhiều cái mồm quát um. Một giọng ồm ồm, khê nặc: “Thằng Itxala hàng đi!”. Đúng thằng quan Pháp. Lích cắn chốt hãm lựu đạn. Hai quả sắt ấm dần trong tay Lích, như đã xì ngòi. Tay Lích giấu dưới ngực. Lích nằm đợi, tim ngừng đập, ngực không thở, bụng hết đau. Lích sắp về hầu cụ Côm Ma Đam. Kìa quân cụ vác giáo kéo giữa vùng cao Bôlôven, chân dội chuyển núi. Đợi tôi với. Tôi là người Itxala...

   - Nó chết rồi.

   Thằng Pháp giẫm trên đầu cái xác, day day chân trên mớ tóc xoắn như dăm bào. Cái xác vùng lật nghiêng, phì khói. Hai vạch trắng vọt lên, rơi giữa đám mũ rộng vành bẹp tai. Trời đất nổ tung.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #31 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 08:47:51 pm »

   *
*    *

        - Hô lê manh! (Giơ tay lên!)

   - Manh cái chi? Nì lưu manh!

   Khẩu K.50 khạc lửa. Cái bóng xanh xám lăn gô xuống sườn dốc. Trung đội trưởng Đại cười khà, vuốt máu chảy trên mặt. Không ai cấm nói to nữa nhé! Cái giọng Hà Tĩnh rền như loa lại oang oang:

   - Mẹ mi, còn lưu manh nữa không? Lên đây choa cho ăn kẹo chì!

   Díu! Một sợi dây đàn rung lạnh bên tai Đại. Suýt mất thêm mẩu tai nữa là sứt đủ hai bên. Anh dòm qua kẽ đá. Một thằng áo dù loang lổ dưới kia đang kê khẩu tự động Garăng, ngắm rất lâu. Đại quỳ xuống, ngắm lại nó. Díu! Mũ anh nảy bật lên, toác vành. À, nó bắn cừ. Anh nín thở đúng yếu lĩnh, nghĩ nhanh: “Không trúng thì ba tháng luyện quân đổ xuống sông!” Khẩu K.50 nhả đúng năm viên. Thằng địch đang cúi lom khom bỗng cắm luôn đầu xuống bùn. Đại sướng quá, vành tay lên miệng, gào:

   - Này lưu manh! Lên đây nhởn với chắc!

   Bên dưới im lặng. Chừng chúng đợi thêm quân. Đại chạy lạc rừng không biết hướng mô tê nào. Cứ chạy một quãng lại húc vào địch. Chúng nó đuổi quáng quàng. Cuối cùng Đại trèo lên mỏm đồi trọc này, mắc nghẽn luôn. Sau lưng là vách đá dựng đứng trên sông Nậm Phỉ, trước mặt địch rào kín. Đại cố giữ đã ngót một giờ, vừa đánh nhau vừa chửi, nhớ bao nhiêu câu chửi tuôn ra hết.

   Địch lại tấn công. Bốn khẩu súng máy cùng nổ, tung bụi đá trắng mù. Khoảng hai chục thằng khom lưng chạy lên, nấp vào lưng nhau mà tiến. Đại mở nắp lựu đạn chày, bĩu môi nhận xét:

   - Chỉ huy tồi! Có điểm mà thiếu diện, thiếu dương công phụ công, lại dùng đội hình mật tập. Choa ăn gỏi đừng kêu!

   Anh chỉ ném hai quả lựu đạn. Địch nháo nhào chạy lùi, bỏ lại năm xác. Súng ngừng nổ.

   Đại soát lại súng. Chỉ còn vài chục viên tiểu liên, không cầm cự được mấy nỗi. Đại bò đến bờ vực ngó xuống. Vách đá cao hơn ba chục thước. Xa tít bên dưới, nước xanh thẫm như sơn dầu. Đại không biết bơi, nhảy xuống là chìm như hòn đá. Anh lắc đầu: “Nỏ mần!” Máu trên trán rỉ bết vào lông mày, vòng xuống cằm rơi nhỏ giọt. Đại không đau, chỉ buồn nhức nhối. Đánh giặc, bị bắt là sự thường. Mình cũng giết được hơn chục thằng nằm kia. Liều mạng vô ích. Còn chiến đấu về lâu về dài...

   Đại liếc nhìn xuống chân đồi, thốt lạnh người. Súng cối! Họng súng đen đang ngóc đầu dần lên theo bàn tay quay. Đại ngắm thật kỹ, thả một loạt. Hụt! Một loạt nữa. Hai tên đổ kềnh. Nhưng khẩu súng cối đã dựng ngược tám mươi độ. Quả đạn vọt lên trời, lao xuống. Tất cả các cỡ súng địch cùng nổ theo.
 
   Đá bay tới tấp. Khói trắng khét xé phổi. Đại nghiến răng, bóp cò. Tiếng cơ bẩm rơi đánh cốc trong buồng đạn rỗng. Đại gầm lên, đạp những tảng đá lung lay lăn ào xuống dốc. Ngọn đòn bất ngờ chặn địch được vài phút. Oàng! Đại ngã ngồi, cánh tay gần đứt lìa. Cũng trong lúc ấy, như ánh chớp, Đại nhớ đến bộ quân phục trên người và thấy địch xì xồ chung quanh mình: “Áo quần khác, súng khác... Việt Minh chủ lực đến rồi!”. Lộ hết hướng mở chiến dịch! Hơi đạn xô anh ngã dúi. “Nó sẽ tăng viện cho Pà Thạc. Chiến dịch hỏng...”

   Máu ộc thành vũng bên người anh. Không được, không cho nó bắt! Không cho nhặt xác! Không để lại tí dấu vết nào! Đại chống tay ngồi lên, quờ ba lô. Hai mảnh đạn cối xóc viu víu vào ngực, vai. Đại không đau. Người anh mạnh ghê gớm như quả bộc phá cháy hết ngòi sắp nổ.

   Bọn lính áo dù hồng hộc chạy lên, quét tiểu liên mở đường. Khói còn mù mịt trên đỉnh đồi. Thoáng một bóng lảo đảo đứng dậy, súng quàng cổ, ba lô đeo lưng, cánh tay buông thõng.

   - Pa pưn! Nho mư khựn! (Bỏ súng! Giơ tay lên!)

   Một tiếng thét lạ tai. Hình người trong khói chồm vọt lên, biến mất. Cả đại đội lính Xửa pà xô rom đến bờ vực.

   Một đám bọt li ti sôi lên giữa những quầng tròn đang lan rộng, lan rộng. Mặt nước nuốt chửng người rơi. Một con cá sấu trên bãi bên kia lạch bạch bò xuống nước, nắng lia trên cái lưng sần sùi một đường chấm trắng rợn. Nó bơi ì ạch một quãng, rồi lặn xuống chỗ bọt đang sủi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #32 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 08:50:23 pm »

*
*    *

   Tiếng súng tắt hẳn. Tiếng rừng xao xác bật to hẳn lên, nghe lạ tai. Hình như đội chuẩn chiến đã dừng lại chỗ hốc đá này, ngủ mê đi; và cùng thấy một giấc mơ dữ.

   Khiêm kéo tay Văn Thon đang trèo lên, hỏi bập bẹ:

   - Được không?

   Văn Thon thả mình ngồi phịch xuống đất. Lương nhìn quanh, nói rất bình tĩnh:

   - Chúng tôi tìm ra dấu máu, nhưng có lẽ chúng nó khiêng hai đồng chí về đồn. Đường số 1 như thế đã bị lộ. Đồng chí Sử chuẩn bị liên lạc với mặt trận, báo tin đội bị phục kích. Dịch mật mã ngay đi, sắp đến giờ rồi đấy.

   Khiêm băng cánh tay cho anh Văn Thon.

   Trong những lúc này, bộ đội nhìn vào người chỉ huy để đoán tình hình đã nguy hay chưa. Lương chợt thấy tay mình hơi run. Anh thọc tay vào túi, chạm phải lá bùa vấy máu của Lích vừa nhặt được. Một mảng sương đỏ buông tối sầm trước mắt anh. Ban nãy, anh phải cấu vào ngực để buộc mình không được bắn vào bọn địch láo nháo dưới bãi sông. Khó khăn lắm anh mới giằng được Văn Thon, bắt rút lui. Lương móc con dao cạo trong bao đạn, ngồi soi gương cạo râu, đợi Sử đặt máy. Tay anh hết run.

   - Báo cáo anh, mất đài rồi ạ.

   Con dao nhảy một cái trên tay Lương. Khiêm ngừng tay buộc băng, nói tiếp:

   - Chạy vướng. Sử nó vứt đâu không nhớ.

   Lương đứng phắt lên, rồi ghìm chân đi thật thong thả đến trước mặt Sử. Đừng nóng, đừng bối rối… anh lại cấu vào đùi Sử xanh nhợt như tàu chuối non, lùi một bước. Lương hỏi:

   - Cậu đánh rơi đài ở đâu?

   Sử không nhớ ra. Sử chạy thục mạng, nghe tiếng chân mình lại tưởng địch đuổi sát gót, càng hoảng. Một sợi dây rừng ngoắc vào ba lô. Sử tụt luôn hai quai mà chạy.

   - Không sao cả. Cậu cố nghĩ xem đánh rơi vào quãng nào.

   - Hình như… đâu gần bờ sông…

   Lương cố nén cơn giận đang lồng lên. Anh quay lại, kể qua việc mất đài với Văn Thon. Văn Thon rút súng ngắn, thay băng đạn đầy vào, đến kéo vai Sử:

   - Ra đây!

   Sử đứng lên, lại khuỵu xuống, đưa mắt nhìn Lương van xin. Văn Thon gắt:

   - Kìa, ra chỗ này.

   Anh vung súng ngắn, chỉ một gốc cây trước mắt:

   - Đi lại đằng kia!

   Sử thất thểu mấy bước, đợi phát súng xuyên lưng. Lương đứng sẵn cạnh Văn Thon, lo thấp thỏm. Văn Thon chỉ chăm chú nhìn vết dép cao su trên mặt đất ướt, rồi vẫy Lương. Hai người đâm bổ xuống dốc, đi tìm điện đài theo dấu chân Sử.

   Nửa giờ sau, họ mang về cái ba lô vuông. Sử lập cập mở khóa, bưng đài ra. Chánh lắp ragônô quay rè rè một lúc lâu. Bóng đèn xanh trên đài tắt lịm như mắt mèo chết. Đài vỡ hỏng nhiều quá, không chữa được, chỉ còn là cục sắt lạnh.

   Từ nay, đội chuẩn chiến 3 rơi tõm vào im lặng. Người dẫn đường cuối cùng đã hy sinh.

   Lương trải tấm bản đồ in litô trên cỏ, đặt địa bàn lên chỉnh hướng, hồi hộp tìm... Hai con đường bí mật luồn qua vùng làng vũ trang của địch được đánh dấu bằng hai đường chấm len lỏi băng rừng, chạy giữa những hình tam giác đen nằm rải đều từ sông Nậm Đăm ngược về phía Bắc, mãi đến gần sông Xê Ban mới gặp những vòng tròn trắng - làng của ta. Từ đây về đến mặt trận bộ đo được hai mươi bốn phân. Bản đồ tỉ lệ một phần năm mươi vạn, vị chi là một trăm hai mươi cây số theo đường chim bay. Hôm chọc xuống Pà Thạc đội đi mất hơn bảy ngày mới đến chỗ này. Bây giờ về…

   Văn Thon khía một vết móng tay từ đường số 1 chéo sang đường số 2:

   - Phải vòng hướng này.

   - Có chắc tìm ra được đường số 2 không?

   Văn Thon chậc lưỡi, hơi khó chịu:

   - Không chắc cũng phải đi... hay là để một số anh em quay lại Pà Thạc, tôi với anh về mặt trận bộ báo cáo?

   Lương gọi toàn đội lại cùng bàn. Chánh muốn trở lại núi Vượn:

   - Mất cậu Lích, đi mò mẫm nhất định bị nó tóm. Pháp không bắn thì bọn võ trang cũng cắt đầu đổi muối.

   Sử và Pha không nói. Khiêm xin đi theo Lương và Văn Thon, để ba người kia đưa nhau về núi Vượn. Chánh lườm Khiêm, thở phào ra mùi rượu, không hiểu uống lúc nào:

   - Chúng tôi không quen đi rừng. Anh Văn Thon đưa chúng tôi trở lại Pà Thạc rồi đi đâu hẵng đi.

   - Đường số 1 mới đi qua đấy! Cứ lần theo dấu vạc...

   - Đã bảo đường số 1 lộ rồi còn. Anh Văn Thon biết đường số 2 ở đâu dẫn cánh này về cái đã, vội gì.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #33 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 08:51:51 pm »

   Thế là tắc nghẽn. Chỉ một mình Văn Thon có thể dẫn đường, đội không thể chia ra hai bộ phận, một đi một ở. Chánh khăng khăng đòi cả đội rút về núi Vượn:

   - Trên mặt trận thiếu gì liên lạc. Đợi lâu sốt ruột họ khắc cho người xuống tìm ta chứ lị.

   Khiêm gắt:

   - Bộ đội đang ùn đống lại đấy chớ xuất phát...

   - Hẵng cứ đánh nơi khác đã, cái Pà Thạc để sau!

   - Mày cứ nói như trẻ con!

   - Đằng ấy định cà khịa hử?

   Văn Thon huých Lương:

   - Rõ rồi đấy. Không còn cách nào khác.

   Lương can Chánh và Khiêm. Anh đưa tấm bản đồ, cái địa bàn Nhật và con dao còn sót lại cho Văn Thon, cử chỉ không cố ý mà trịnh trọng như trao cờ khi xuất quân công đồn. Từ phút này, toàn đội trông cậy vào cái tài mở đường rừng của anh đại đội trưởng Lào.

   Tiếng máy bay trên đầu vụt bùng to. Một chiếc trực thăng luồn qua sườn núi, vè vè bay sát ngọn cây. Thằng phi công thò đầu dòm xuống, nghiêng nghé. Chúng nó vẫn lùng riết.

   Lương nhìn lướt qua anh em một lượt. Luồng mắt anh dừng lại trên mặt Pha. Giá lúc ấy đừng để Pha đi theo đội... Anh nói vắn tắt:

   - Chúng ta đứt liên lạc, mất người dẫn đường, mà phải về báo cáo với Ban chỉ huy mặt trận và đưa bộ đội xuống đánh Pà Thạc. Tám ngày nữa phải đến mặt trận bộ, nếu không chiến dịch sẽ bị lỡ. Anh Văn Thon sẽ cắt đường đưa toàn đội đi sang đường số 2, đi rất gấp. Kết quả chiến dịch Pà Thạc do chúng ta quyết định đấy, các đồng chí nhớ cho. Chuẩn bị xuất phát!

   Mọi người đứng lên. Chánh chui ra khỏi bụi rậm, ngồi xuống cạnh cái máy ragônô. Mặt Chánh đỏ hơn ban nãy.

   Văn Thon rẽ sang tay phải. Khiêm đi sau, súng lên đạn sẵn cặp nách. Tiếp đến Sử và Pha. Chánh ngó ngoáy chân, vẫn ngồi. Chánh vừa tu nốt chai rượu cô nhắc giấu trong ba lô, vất vỏ chai trong bụi. Lương đập vai Chánh, cố dịu giọng:

   - Lại say bét nhè! Đi thôi cậu.

   - Có mà phải dại!

   - Cậu muốn ở đời đây à? Đằng trước đi xa rồi kìa.

   Mắt Chánh đỏ quạch. Chánh co một tay lên gân, kè nhè:

   - Này đừng hòng dọa. Đây lên non xuống biển đã từng, đây đếch sợ thằng nào. Bàn với đằng ấy thế này này, cánh mình…

   Khắp người Lương bốc lửa. Một tay anh rút súng ngắn, một tay anh túm cổ áo Chánh dựng hắn đứng lên:

   - Đi!

   Chánh líu lưỡi:

   - Anh.. anh định…

   Lương bật khóa hãm đánh tách, từ từ đưa súng lên ngang mắt. Chánh vồ lấy cái ba lô đựng máy, khẩu súng trường Anh, xách hai tay hai thứ cắm cổ chạy theo đội. Lương nhặt cái bao gạo của Chánh quàng lên vai mình, đút súng vào bao.

   Dưới rừng già, mặt đất phủ một lớp gai hổ ngươi dày, như tấm thảm xanh xù lông rắc những hoa hồng nhạt bé tí. Đội đi trước khua hổ ngươi khép lá, thành một vệt dài sẫm màu ngoằn ngoèo luồn qua các gốc cây, chạy hun hút vào rừng. Lương đi cuối cùng. Sau lưng anh, hổ ngươi lại thong thả dựng cành xòe lá, khỏa lấp con đường của những người đang bước vào cuộc thử thách lớn nhất trong đời.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #34 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 08:58:02 pm »

VI

   Đêm đến, làng Phi Lạt nhắm mắt nín thở sau hàng rào lông nhím. Những người đi phu về ngồi trên đầu cầu thang, bốc ăn chập chuội mấy nắm củ còi chấm muối ớt, miếng mặn miếng nhạt. Pháp cấm đốt lửa. Mé đồn đèn sáng giăng giăng. Họ ngó về chỗ ấy, miếng củ nổi gai trong cổ, không nuốt được.

   Riêng nhà mè Xỉ cứ đốt lửa. Con gái mè trở dạ đẻ. Lão nai bản dẫn lính làng đi tuần, đảo qua mấy lượt bắt dập lửa. Mè đứng trên nhà chửi xuống xơi xơi: “Mày là cháu tao, con tao không gì cũng là chị mày, chẳng giúp được thì chớ lại còn gây sự!” Cái bìu trên cổ mè nhảy lên, đôi vú một bên dẹt một bên đầy cũng nhảy lên theo ngón tay xỉa xói. Bọn kia phải lảng, không dám trêu vào bà lão, vì đứa nào cũng có họ hàng dây mơ rễ má với mè Xỉ cả. Anh Chum đắp sân bay chưa về.

   Mè chạy tròn con quay trong nhà. Nghe tiếng rên mè lo quắt ruột. Mè ra ngồi bếp, kéo củi ra lại đẩy củi vào, lóng ngóng như người mù tìm gậy. Mè chực mãi từ chiều, đứa cháu vẫn không ra, chỉ quẫy đạp trong bụng mẹ. Nó giận. Mè nói một mình cho đỡ sốt ruột:

   - Tao ăn muối nhiều hơn chúng mày ăn cơm, mà bảo cấm biết nghe. Báng bổ cả lũ. Hồi xưa tao với bà vợ cụ Thít La kiêng khem lắm mới nuôi được con gái. Con Pha cũng bị giết đâu trên đồn rồi. Cụ tiệt nòi giống rồi cụ Thít La ơi... Chúng mày hỏng, hỏng. Bảo phơi váy ngược cho con nó ra đầu trước chân sau cũng quên. Tao dặn chớ ăn cà to mà bị bọc nước trong thai. Ăn nhộng ong sau này con nó quấy...

   Chị vợ anh Chum đang rên quằn quại trong buồng, bỗng nín hơi một lúc, cãi mẹ:

   - Con quên bao giờ?

   - Ừ, mày không quên. Chứ đứa nào ngồi bậc cuối cầu thang hôm nọ?

   - Ối… Lạy Phật cứu khổ... chết mất… ngồi cuối cầu thang từ khi chưa có mang, mẹ cứ lú lẫn... ối, dà ơơơi!

   Mè chạy nháo vào buồng, bày sẵn cái nia để đặt đứa trẻ vào đấy. Mè ra ngoài, vặn tay thì thào với cái bóng mình trên phên: “Mời thầy cúng đến xem. Lấy ai đi mời bây giờ hở Phật?” Hàng xóm vắng quá. Đàn ông đi phu cả. Chị cháu mè lên cơn sốt rung sạp. Cô gái nhà bên bị quan đồn gọi, giữ lại mấy đêm chưa trả. Không ai chạy việc giúp mè, còn nói chi đến cái sự tụ họp ngoài nhà, đàn hát làm vui cho người đau đẻ theo tục xưa! Tiếng rên xoắn vào tai, lôi giật mè vào buồng, lại đẩy mè ra.

   Anh Chum đâm bổ lên nhà, hỏi dồn: “Nó ra chưa?” Mè Xỉ rền rẫm, đay đả con rể như chính mè đang đẻ khó. Bỗng mè nín tắp. Một vệt đen cắt chéo ngang mặt Chum, che lấp một mắt. Cái môi sưng vếu. Mè lắp bắp: “Xa thú! Nó lại đánh mày ư con?” Chum không đáp, chỉ ngây mặt nghe tiếng rên, bóp vụn một mẩu củi. Cánh tay cũng vằn mấy đường tím như rắn quấn xà nhà. Mè Xỉ đẩy anh:

   - Vào đi con. Vào cho nó dựa lấy hơi.

   Chum ngồi cho vợ dựa lưng. Chị vợ quờ bàn tay chồng, nắm chặt như người sắp chết đuối bíu vào dây. Mồ hôi trên lưng vợ thấm qua áo đến lưng Chum, nóng hổi.

   - Em ơi, vợ quý ơi, cố lên!

   - Chết... em chết mất... ối! Quỷ nó ăn ruột đây mà... Lạy Phật, lạy Phạ In, lạy Nang Tholani... ối!

   Một tiếng cú rúc ngoài xa lọt qua hơi thở hồng hộc nóng bỏng bên vai Chum. Anh giật mình. Từ nãy, anh đã nghe cú rúc hai lần, ba lần, không để ý đến ám hiệu. Bác Cống đợi từ chiều...

   - Vợ quý ơi, em níu vào cột nhé. Dựa đây! Thế!

   - Em chết...

   - Em ngồi vững chưa? Anh đi lấy thuốc, gọi người giúp...

   Sợ mè Xỉ chửi, Chum nhảy ào xuống đất, vọt ra rừng. Bác Cống đợi đã hơn một giờ. Chum đứng ngẩn một lúc mới nhớ ra tình hình:

   - Bọn ba trăm xe mới đến không đào hầm. Chúng nó chặt cây gác qua loa. Vợ tôi đẻ bác ạ... Thằng Muôn không chết. Đồ trời đánh! Sáng nay nó lại quật tôi một trận, nó nghi tôi giấu chị Pha. Máy bay xuống hai chiếc to. Thằng Mỹ đến, tôi nom thấy cứ tưởng con buôn. Bọn lính bảo nhau nó tinh lắm, nơi nào cũng đi xem. Nó mặc Tây như thằng tỉnh trưởng, gầy lêu đêu...

   Một tiếng rú dài ngạt hơi. Chum hộc lên:

   - Vợ tôi chắc chết! Đau bụng từ sáng, không đẻ được.

   Chum lẩy bẩy ngồi bệt xuống đất, úp mặt trên hai gối. Cống sờ nắn cái gói tạp hóa đeo lưng, nghĩ một lúc. Rồi bác theo Chum về nhà, trèo lên cầu thang sau mái hiên. Chum ra trước nhà, đứng gác. Mè Xỉ tròn mắt:

   - Mày dẫn ai về đấy hử?

   - Thầy cúng. Mẹ đừng vào buồng, để ông ta phù phép...

   Nửa giờ sau, trong buồng im tiếng rên. Đột ngột, tiếng khóc oe oe bật lên khiến Chum ứa nước mắt. Mè Xỉ vào buồng, chỉ thấy con gái nằm thở trên chiếu và đứa bé quẫy khóc trong cái nia. Từ đầu đến cuối mè không nom rõ ông mỏ xađo (thầy cúng), cũng không nghe ông nói câu nào. Mè xoắn xuýt giục con rể:
   - Phúc đức! Mày bắt gà cho ông đi. Bắt con mái vàng đang đẻ, lấy chai mật ong...

   Chum chạy ra đến gốc me cạnh hàng rào, thấy Cống đang lau tay. Bác dúi cho Chum mẩu quế. “Anh mài cho chị uống. Che buồng lại thật kín nhé. Đừng cho đi tắm ngay. Bà con ở đây mới đẻ vài hôm đã ra suối tắm, dễ ốm lắm”. Chum ấp úng: “Bác ạ, bác...” Anh vơ bàn tay Cống áp vào cổ vào mặt mình, nghẹn lời.

   Sáng hôm sau, mè Xỉ còn giục con rể đi lễ tạ:

   - Cái móng con gì ông mỏ xađo đưa mày ấy, uống nóng hơn uống rượu. Mày bắt con mái vàng béo nhất, lấy chai mật ong...

   Nhưng con gà mái vàng đã bị bọn lính đi tuần cuỗm mất tối hôm qua, giữa lúc bối rối. Vết giày đinh hằn rõ cạnh ổ. Mè Xỉ tắm cho cháu xong, ra đứng đầu hiên nhà chửi có ngành có ngọn. Cả làng không ai biết chửi như mè cả, nghe mè chửi lính ai cũng sướng bụng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #35 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:00:14 pm »

*
*    *

   Hòn núi Vượn vẫn sừng sừng nhô cao cái hình thắt cổ bồng bí hiểm. Nhưng trong hang núi Vượn, từ ngày đội rút đi, chỉ còn một mình bác Cống lui lủi ra vào như con dơi bay trong nhà hoang.

   Bác Cống ngồi xổm trước cửa hang, tỉ mẩn gọt khúc ngà voi thành cái cán dao găm. Thằng Khiêm thích con dao găm cán ngà. Bác đi đào củ rừng, vớ được cái xác voi chết, đôi ngà dài hơn ba gang. Bác vác ngà về gọt cán dao  cho con nuôi, chạm cả lá cờ có ngôi sao vào đấy.

   Đàn vượn trắng trong hang chui ra, nhấm nháy dòm bác, rồi vọt lên cây hú gọi nhau dồn dập. Bụi phấn bay lả tả trên lá. Gãi lông một lúc, chúng đen dần. Bác Cống để cho vượn vào ngủ hang tự nhiên. Đôi gấu nâu cũng kéo đến. Hôm đầu gấu còn làm dữ, đứng dựng hai chân xù lông hét inh. Không thấy ông cụ kia tranh ăn hạt dẻ, gấu làm lành. Đôi bên quen nhau. Gấu liếc mắt nhìn người, gãi mõm ra dáng xin lỗi, rồi bám gốc trèo lên cây. Thỉnh thoảng chúng ngừng nhai, gật gù. Bên dưới, bác Cống ngồi gọt ngà voi cũng gật gù cái núm tóc củ tỏi, theo đà nghĩ ngợi.

   Thoạt nhìn ông lão mới bốn mươi bảy mà còm cõi như ngoài sáu mươi ấy, không ai đoán là tay trinh sát vững kiêm dân vận cừ. Bác Cống quanh năm mặc quần cộc phơi cặp chân đầy lông, nhưng áo sơmi luôn luôn cài cúc tay và nhét trong quần cộc cẩn thận. Kè kè cái bọc “tạp hóa” gói trong phạ phe đeo lưng, từ cái bấc bật lửa đến cái kéo cắt tóc, sợi dây trói tù binh đều có đủ. Ai xin gì bác sẵn lòng cho, nhưng tay đưa mà miệng căn dặn đến phát ngấy với cái câu kề cà: “Ấy tức thị rằng là…” Người chậm, yếu, nhưng lĩnh việc gì cứ nhẩn nha làm kỳ xong, chắc như cua gạch.

   Ngày mới gặp Khiêm, bác không ưa cái thằng nom như con gái mà lêu têu nghịch quấy, trẻ chẳng tha già chẳng thương. Tổ Đảng giao cho bác đào tạo Khiêm thành trinh sát. Bác dạy một nó làm được hai ba, chỉ hơn tháng đã tuồn vào đồn như con chạch, bác cứ phải nắm cẳng kéo lại. Đến cái đêm bác sốt thương hàn, nó cầm đuốc chạy suốt bốn mươi cây số đường rừng về bệnh xá lấy thuốc cho bác, thì bác đâm phải lòng đứa con nuôi nhận đùa mà thương thật. Nó khổ mổ côi, đầu không chằng đít không rễ. Bác chắt chiu để dành được hai trăm Đông Dương, định tổ chức cho nó cưới cái Soan xong bác hẵng về hậu phương mà tăng gia, nộp thuế nông nghiệp nuôi đồng đội.

   Về hậu phương...

   Cấp trên cho về mấy lượt, bác còn chần chừ. Bởi cái lão chánh Tam thối tai râu quặp cắm ruộng bác vẫn còn trờ trờ làm chủ tịch Liên Việt xã, ngồi đâu cũng khoe công tác Việt Minh từ hồi còn bóng tối. Chả dạo trước khởi nghĩa nửa tháng có anh cán bộ Việt Minh đến ở nhà lão mấy hôm, thế thôi. Bây giờ ban ngày lão hầm hừ đi đòi tô, tối đến họp thôn lão kêu gọi đoàn kết hy sinh. Bác ngại khi giải ngũ về làm việc với lão, nóng tiết lên lại phạm chính sách. Mà đảng viên không nhận công tác địa phương thì bỏ cho ai?

   Ngày xưa hai vợ chồng anh Cống ăn cơm vay cày ruộng rẽ, chiều ba mươi Tết còn lội đầm móc củ sen ăn cầm hơi. Quần quật như trâu lăn suốt một năm mới vỡ xong sáu sào bảy thước tư đất màu trên đồi hoang, vợ chồng ngỡ phen này mở mặt được đây, bèn mua cả hai lạng thịt về cho con sướng miệng một bữa. Lão chánh Tam bấy giờ mới lật sổ địa bạ, chiềng làng rằng đất đồi ấy của lão trưng khẩn, nộp thuế nhà nước từ lâu. Anh Cống uất máu chửi vung. Lão nhe răng cười, để đấy. Đến vụ thuế anh xin khất tạm hai hào, bị lý trưởng con lão bắt lên cùm một ngày một đêm, đánh đủ hai chục hèo mây. Chị Cống phải bán chạy con lợn, biện gà rượu lên xin mãi mới lĩnh được chồng về, thành thử khất hai hào hóa đi ba tong ba đồng bạc. Anh Cống bỏ làng ra tỉnh kéo xe hơn năm, khi về chỉ thêm được đôi dép cao su mỏng, có cái quai xỏ ngón chân trỏ vào cho con nó nghịch. Anh lì lì như người ra dại, hay gắt vợ đánh con hơn trước.

   Anh hỏi dò cụ đồ được tên cúng cơm ông tổ lão chánh Tam là lý Nòng, bèn đặt tên thằng con út là thằng Nòng. Trước chỉ gọi là thằng Cún. Hôm nào rỗi việc nhớ chuyện cũ anh ra quán chợ mua xu rượu, ngồi nhấm nháp rõ lâu cho thiên hạ thấy, giả vờ nát rượu say lử cò bợ tuy rượu chưa đủ cay mồm, rồi về nọc thằng cu Nòng ra. Tay anh quất roi đen đét xuống chiếu, miệng anh réo đến ngũ đại lục đại thằng Nòng ra chửi inh làng nước. Phải cái bố con chánh Tam xem trong gia phả thấy ghi tên cụ tổ là lý Nòng, nên tuy ngờ ngợ mà không động lòng, mặc anh Cống chửi thì anh Cống nghe. Chỉ tội cho thằng cu Nòng không ăn roi mà khiếp quá bị đòn hằn, nhác thấy bố là lẩn. Đến năm đói nó chết sau cùng. Đã hấp hối mà thấy bố khóc lại tưởng bố say, nó còn chắp tay van.

   Mãi đến bây giờ, nghĩ đến gia đình, bác Cống lại thấy hai bàn tay khô đen như cẳng hạc của thằng con út thò ra dưới mép chiếu, vái vái bố. Chao ôi con!

   Bác Cống buông khúc ngà voi gọt dở, quờ tay đấm đấm lưng, thở dài.

   Thôi thì trước sau cũng phải về, phải đoàn kết với chánh Tam ít lâu nữa. Đánh Tây xong là người cày có ruộng, nhất định thế. Làm cách nào có ruộng thì sau này Đảng bảo cho, áng chừng cũng chả khó... “Tây không sợ, sợ đếch gì thằng râu quặp thối tai! Hẵng cứ nhả ruộng nông dân ra, trả sáu sào bảy thước tư đất màu của ông đây rồi đoàn kết thì đoàn! Nào, có muốn ăn báng súng không thì bảo?”. Những nghĩ suông cũng đủ mát ruột...

   Đàn vượn hú dồn, chuyền ra xa. Đôi gấu ục ịch bỏ đi. Cống quờ tay lấy tiểu liên, đứng dậy. Anh Chum xồng xộc chạy lên dốc núi. Khuôn mặt sần sùi mụn cá lúc này cắt không ra giọt máu. Cả vết roi bầm chéo ngang mặt cũng xanh nhợt.

   - Nó bắn chết đội anh Lương rồi bác ơi!

   Khẩu súng buột khỏi tay Cống.

   - Thế nào?

   - Nó phục ngang sông Nậm Phỉ, bắn chết sạch. Mỗi đồn kiêng về một xác.

   Chum òa khóc to. Cống nhặt khẩu súng, lau đất bám, lau mãi một chỗ như máy. Chum ném trên bệ đá một gói lá chuối con:

   - Nó đặt anh Lích nằm trên bàn, gọi dân đến. Ruột anh lòng thòng, mắt còn chớp. Nó rút dao mổ bụng lấy lá gan... Anh còn chửi, còn thở... Đây này, mỗi người phải bỏ hai đồng mua một miếng gan. Nghe nói các đồn khác đều làm thế cả.

   Cống vẫn lau hoài cái báng súng. Một bàn tay lông lá bóp mạnh tim bác đến vỡ tung. Bác nuốt nước bọt, tưởng nuốt hòn than lửa. Chết hết... Không, vô lý! Không thể chết cả một lần từng ấy người!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #36 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:03:02 pm »

   Buổi chiều, súng cắc bọp trên đồn lại nổ ba tiếng gọi phu.

   Dân làng Phi Lạt kéo đến. Một dây người đen sạm, mắt trắng dã, mặc áo lính ngụy rách như lá chuối héo. Có ông cụ đi chen giữa, hình như người thiểu số. Hai tai đeo lủng lẳng hai khoanh ngà voi tròn, tóc búi sau gáy, đóng khố, trông người gầy gùa lom đom. Ai hỏi gì, cụ chỉ bấm be, bấm be. Anh Chum đỡ lời:

   - Ông lão trên núi xuống mua muối, đi thay vợ tôi đang đẻ. Khốn nạn, câm điếc từ bé.

   Thằng Muôn đứng cạnh cổng, cánh tay buộc băng treo trước ngực, tay kia vẫn ngoe ngoảy cái roi da. Nó đi vòng qua những chỗ cuốc đất đắp sân bay. Ông lão nhẩn nha dọn gốc gần bọn lính. Bọn này kháo nhau đủ chuyện. Thằng Muôn đến. Nó cười gằn, hàm răng vàng bật tia lửa:

   - Chúng mày có thằng chết. Tao biết cả.

   - Thàn biết gì?

   - Bảo nhau bắn lên trời chứ gì. Chó đ. mẹ chúng mày! Tao cho hai thằng vào tù rồi. Đi phục kích, mới thấy Itxala nhô ra đã bập ngay.

   - Thàn ngứa mồm, cứ nói. Dọa già đây đếch sợ.

   - Mày dám nói thế hở?

   - Đây còn lưỡi, đây không buộc không vu ai. Cái bọn nói điêu, ra trận hay ăn đạn trước. Chả Trời Phật phạt tội mà.

   Muôn tím mặt, vung roi. Hai người lính gân mặt, ngoáy ngoáy một ngón tay trên họng súng. Muôn quay lại, quát ông lão dọn gốc:

   - Thằng khọm, nghe gì?

   Trên cái lưng còng bật lên một con lươn đỏ sậm. Cụ già bấm be lảng đi. Một người lính nhổ toẹt, nói to:

   - Con gái ông tỉnh trưởng chắc đẻ ra vượn mày ạ.

   - Đúng cái giống thằng Muôn.

   Cả bọn cười. Một chiếc máy bay lên thẳng lừ lừ hạ, bên sườn nó vẽ chữ thập đỏ. Bốn năm cái cáng chui thun thút vào bụng nó. Giữa bọn lính, một câu lè nhè:

   - Bặc hà măn! Chúng nó vất khối xác trong rừng. Ngay chỗ suối đằng kia còn một cái chân thò ra, thối hoăng.

   Tối hôm ấy, tổ Itxala làng Phi Lạt họp ngoài rừng.

   Chum đánh lửa châm đèn chai. Ngọn lửa đào hõm thêm những hố mắt đen, sâu, điểm một chấm trắng dưới đáy, gọt nhọn các gò má lồi xương như sắp chọc bung da. Tám hội viên bó gối nhìn lửa, không nói, sợ mở miệng sẽ bật ra tiếng khóc mất.

   Bác Cống ngồi né sau lưng Chum. Bác vẫn đóng khố, cởi trần. Chum bắt đầu báo cáo. Anh cố gò đúng những từ chính trị nên ấp úng.

   - Tổ ta họp gấp vì có tình hình xấu. Đội anh Lương bị phục kích (một chị sụt sịt). Anh Lích bị bắt mổ bụng. Anh không khai cơ sở. Nhiều người tưởng đội anh Lương chết cả. Sai, sai hết. Đội vẫn còn...

   - Xa thú!

   - Tin đâu thế?

   - Anh Văn Thon nói hở?

   Cống gãi tai định nói, lại im. Bác sợ lấn việc của Chum. Chum đợi mãi không nghe bác lên tiếng, lại báo cáo:

   - Bác Cống với tôi đi phu đồn, nghe rõ hết. Thằng Muôn chửi lính làm phản, thấy Itxala vội nổ súng ngay cho họ biết. Cơ sở lính ngụy cũng nói vậy. Địch chết nhiều, đâu ngót hai chục. Dân các làng gần sông Nậm Phỉ thấy nó khiêng về một mình anh Lích. Thế là đội thắng, hiểu chưa? Đội về gọi quân xuống đánh Pà Thạc. Ấy nghĩa là chúng mình nay mai ngóc cổ lên được...

   Ánh lửa bùng cao hơn. Các khuôn mặt dãn dần nếp nhăn. Chị đang sụt sịt cũng quệt má, cười. Chum im một lúc bỗng nói tướng lên, không ấp úng nữa:

   - Mẹ nó, giết thế chó nào được hết Itxala! Còn Pháp là còn khổ, còn khổ ắt còn người nổi dậy đánh Pháp, còn Itxala. Nó chặt một đầu ta mọc chín đầu, để rồi xem cá ăn kiến hay kiến ăn cá!

   Đột ngột, tiếng voi rống vọng đến. Không phải tiếng rống vui hay sốt ruột của con voi chở hàng nom thấy bầy. Nó là tiếng rú ằng ặc lạc giọng của con vật bị chọc tiết sắp chết còn rướn lên tiếng gọi bầy cuối cùng, khi bọt máu đã phòi ra dưới cổ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #37 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:04:20 pm »

   Một người nói, môi nhợt chỉ hơi máy:

   - Con voi cụ Thít La. Nó không dậy được nữa.

   - Chúng mình rồi cũng thế…

   Câu nói như ngòi lửa châm vào thuốc súng. Một anh thanh niên chồm lên, thở hồng hộc, đấm nắm tay vào lửa, hét:

   - Cũng thế mà được à? Thù oán chất lên núi núi sụp, đổ xuống sông sông đầy. Đợi mãi rồi. Bảy khẩu súng kíp của cụ Thít La không bắn rồi gỉ hết, làng Phi Lạt không vào núi cũng chết hết. Ai vào du kích với tôi?

   - Tôi. Đánh ngay bây giờ!

   - Muốn ăn tim voi phải chịu gai cào!

   - Lão nai bản mới mang về tám thứ thuế nữa, vị chi mười chín thứ. Cây cau năm đồng, con trâu ba chục...

   - Người Lào không phải sâu bọ nhé!

   Tổ Itxala nhốn nháo, chửi vung, chẳng ai nghe ai. Chỉ có ông lão ngồi lẩm nhẩm tính mãi các thứ thuế trên đầu ngón tay là không quát tháo: xe bò ba chục, máy khâu trăm rưởi... ấy là anh ruột của nai bản. Ông lão tính chán, rồi xua tay nói tự nhiên:

   - Khoan, im tôi nói... Tối nay bắt thằng Muôn đi đánh bạc, tế cụ Thít La với anh Lích. Sau đó lấy súng của lính làng, sáng sớm mai úp luôn bọn đi tuần. Cả làng chỉ gọi một tiếng là chạy vào núi theo ta cả. Thằng nai bản em tôi hậm họe thế, chứ không lòng dạ nào bán làng cho Pháp đâu. Các anh còn trẻ, ăn chưa no lo chưa tới, đừng hét inh lên mà lộ. Đánh giặc phải im, phải kín chứ!

   Bác Cống sững sờ nhìn quanh khắp tổ. Không, bác không ngờ được lòng căm thù của dân Pà Thạc đã mạnh và sâu đến thế. Từ anh thanh niên xốc nổi, chị phụ nữ hay khóc, đến ông lão đếm đầu ngón tay tính thuế lẩm cẩm kia, ai cũng như cái bẫy căng quá sắp tung dây, phóng ra một loạt mũi lao tẩm thuốc độc. Người bác cồn lên, sung sướng và lo ngại. Tổ trưởng Chum sẽ xử trí thế nào đây?

   Chum lặng lẽ nhả khói thuốc, đợi mọi người hơi nguôi mới nói. Anh trầm giọng nhắc lại nhiệm vụ của cơ sở Itxala khu dồn dân. Những người uất đến quẫn trí cũng im lặng, nghe. Họ không được đánh. Phải cắn răng chịu đòn nữa, nộp gạo thịt, đi phu, đổ máu, phải uống nhiều nước mắt nữa để thu góp từng con số, từng mẩu tin, góp vào một bản báo cáo nào đó. Quét được địch, cứu được dân hay không đều trông cậy vào bản báo cáo. Trong tổ Itxala, chưa ai trông thấy nó bao giờ. Nhưng nó quan trọng thế, chắc phải rộng bằng tàu lá chuối, và dày như mấy bộ sách lá cọ chép thơ của cụ Thít La.

   Mãi đến nửa đêm, tổ Itxala còn bàn việc kết nạp hội viên mới. Cảm tình hội thì nhiều, nhưng sàng đi lọc lại mới chọn được năm người. Cô bé Lả mới mười bảy tuổi được ghi tên đầu tiên. Hôm nọ thấy lính xuống đốt nhà chị Pha, Lả kéo hơn chục phụ nữ ra giằng xé, hô hoán rầm làng nước, cuối cùng giật lại được mấy bộ sách cổ, cái đàn khoỏng vông có mười sáu đĩa đồng và bộ đồ rèn.

   Một chị đề nghị bà mẹ vợ của Chum. Cả tổ phá lên cười ồn ào:

   - Vào để chửi tổ trưởng đấy chứ?

   - Cử bà ta làm cái việc đánh giặc mồm. Ha ha ha!

   - Xa thú! Đừng khinh phụ nữ...

   - Chết, chết, mè Xỉ cũng là đàn bà thật à?

   Một đàn vạc ăn đêm đang quần trên cái chấm sáng le lói giữa rừng đêm đen ngòm. Nghe tiếng cười, chúng giật mình bay lảng ra xa, kêu quang quác.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #38 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:06:42 pm »

VII

   -… Hành quân bôn tập, đôi khi vội quá không kịp uống nước, quân tướng kéo nhau chạy thục mạng. Hay là khi học liên tục vận động, trên bắt nhịn khát chạy cho quen. Cứ gọi là ăn không kịp xỉa, ỉa không kịp chùi chứ mới khát thế này đã mùi gì. Được cái tao khéo xoay. Cứ lừa khi cán bộ không để ý, vờ ngã xuống suối ùm một cái, tha hồ uống no căng...

   - Tao cháy cổ rồi!

   - Rồi thì trú quân rừng mơ nhá. Bốn giờ sáng đến nơi, đào xong hố nấp là lăn gô ra ngủ, khát ra khát. Sáng mở mắt trông lên, úi giùi ui, thấy những mơ là mơ. Phốc lên cây, bứt nhá chết thôi. Chua, chu-u-ua lịm người...

   Sử ngậm miệng, nhưng cái núm cổ trồi lên trụt xuống hai lần. Khiêm cười tủm, cũng nuốt nước bọt. Khiêm kể chuyện ăn chua cho Sử đỡ khát, mà ngay mình cũng rỏ dãi.

   Đội chuẩn chiến đang vượt qua vùng núi trọc không suối. Nửa năm mưa trắng trời đã chấm dứt. Nắng đầu mùa chan lửa xuống lưng. Đất nhả lên hơi trắng loa lóa, nồng mũi. Sương đọng trên lá chỉ nhấp được mấy giọt buổi tinh mơ. Các lỗ chân voi đã nứt đáy, bong bùn non. Lợn rừng quẫy đục ngầu đôi hốc bùn còn sót, thối kinh người. Một tối gặp vũng nước trong, vốc tay soi lên còn trông thấy được lòng bàn tay, cả đội uống no kềnh, xong đâu đấy mới nhận ra một cái xác nai rữa nát nằm giữa vũng, dòi nhung nhúc.

   Văn Thon và Pha cố tìm nước. Người Lào đi rừng chẳng khác gì thăm vườn rau quả. ăn đỡ khát có quả mạc khảm pọm chua chua đắng đắng, ăn xong thấy ngọt miệng, quả mạc xụm mo chan chát, có mạc khọ, mạc giàng, lá bứa. Nước trong cây nứa uống mát lạnh. Nhưng qua vùng núi trọc các giống ấy hết tiệt. Khát nước không ăn được, người tóp rất nhanh, da nhăn nheo như da cóc. Ra khỏi bóng cây là bước vào lửa. Lửa trời trút xuống, lửa đất lóa lên, lửa trong phổi phì ra, cả các lỗ chân lông kiệt mồ hôi cũng nhả hơi lửa nóng hầm hập.

   Văn Thon đi đầu hàng. Anh dừng lại nhắm hướng, rồi phát cành, rẽ gai, mở lối đi. Anh dẫn đội cắt rừng băng chéo sang phía đông tìm đường bí mật số 2. Phải đi rất gấp nên không kịp sục kỹ tìm nước uống.

   Qua hết quãng đồi cháy nắng, Văn Thon lảo đảo ngồi xuống. Lương tháo bi đông đeo cạnh sườn:

   - Anh uống một hớp.

   Văn Thon vồ lấy bi đông, rồi chậm rãi đưa trả:

   - Anh chia phần.

   - Tôi uống rồi. Còn phần anh với Pha.

   Văn Thon lấy ca, rót cho mình một đốt ngón tay nước, rót cho Pha nhiều hơn. Lương nhặt dao đi lên trước. Cơn khát thấy nước lại bùng lên. Lương nhá đầu lưỡi tê dại như miếng da trâu, nghĩ: “Một ngụm nhỏ thôi. Vừa đủ ướt miệng, tan nước bọt...” Nước óc ách trong bi đông nghe rõ quá. Lương đập vào tai đánh bốp, tai ù lên không nghe gì nữa. Anh cười thần , mắng mình: “Đồ trẻ con!”

   Khiêm, Sử, Chánh đều nghe tiếng óc ách. Chánh rỉ tai Khiêm, chỉ trỏ: “Thấy chưa! Gương mẫu thế đấy!” Khiêm gạt đi, nhưng cũng thắc mắc sao anh Lương còn nước mà không uống. Môi anh nẻ toác, bong da, trông qua cũng biết anh mệt lắm.

   Một lúc nghỉ, Lương nói để anh em khỏi hiểu lầm:

   - Tổ Đảng quyết định bất kỳ khó khăn đến đâu cũng phải đưa anh Văn Thon về đến nhà. Tất cả mọi thứ ăn uống phải dành phần anh thật đầy đủ. Khéo nói một chút, đừng để anh ấy biết thì lôi thôi.

   Mặt trời nghiêng xuống phía tay trái. Lương đi giữa một quầng sáng chập chờn, chém bừa trước mặt những nhát dao hú họa.

   - Khưa dên!

   Pha rú lên, chỉ về một bên rừng.

   Sợi dây khưa dên to bằng cổ tay rủ lòng thòng từ trên cây cao xuống. Lương phứt mạnh con dao. Ba bốn tia nước trong veo trong lòng dây phọt ra. Nước uống vào đến đâu, lửa trong người tắt đến đấy. Khiêm trèo lên cây, chặt một loạt dây khưa dên rơi xuống. Cả sáu người uống no, còn lấy thêm được đầy một ống nứa mang theo.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #39 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2010, 09:08:40 pm »

   Tối đến, đội nghỉ dưới một cây to, lá xòe như cái tán. Anh em đốt lửa, thái măng luộc ăn thay cơm.

   Pha trút một túm nấm nhặt ban chiều, rồi lùi vào góc tối. Hai tay Pha nắn chân. Đôi mắt xếch nhìn lửa trừng trừng, không động đậy, không chớp. Lương ngừng tay bóc măng, đến bên Pha:

   - Chị mệt lắm không?

   Pha không nói. Lương đánh bật lửa soi chân Pha, rùng mình. Hai bàn chân rách xước, máu rỉ vằn vèo, khô đen từng mảng. Lương giận mình không trông nom Pha từ đầu. Anh vẫy Khiêm ra, tụt dép cao su đưa cho Khiêm. Anh đặt cái ca nhôm đầy nước lên bếp, xé một mảnh sơmi. Vừa lúc ấy, Văn Thon vác đến một bó đuốc nứa khô cao bằng đầu người, châm vào bếp. Lương hỏi đi đâu, anh đáp qua kẽ răng, không nghe rõ. Đốm lửa đuốc hun hút chìm vào rừng đêm. Văn Thon đi đâu, làm gì? Lương băn khoăn định gọi lại hỏi thêm, nhưng sợ anh khó chịu, đành thôi.

   Mươi phút sau, Lương bưng đến trước mặt Pha một cốc nước nóng pha thuốc tím:

   - Chị để tôi rửa chân. Phải bôi thuốc, băng lại.

   Pha hốt hoảng rụt chân. Lương nói mãi, Pha mới cầm mảnh vải dúng nước, tự rửa chân. Tay Pha lóng ngóng. Lương nghiêm giọng:

   - Chị đưa đây tôi. Không làm cẩn thận, sau này sưng chân phải nằm lại giữa rừng mất.

   Lương lau sạch những vết thít rách, bôi thuốc đỏ, băng lại. Khiêm lúi húi bóc dép của Lương lấy một đôi đế mỏng, xỏ vào đấy bộ quai cao su dự trữ của bố Cống chia cho. Lại còn mang đến đo chân Pha, ra dáng thợ lành nghề lắm.

   Lương muốn nói mấy câu nhẹ nhàng, vui, nghịch một tí nữa, cho Pha tươi lên và dễ gần mọi người hơn. Nhưng anh không nghĩ ra. Như anh đã mất thói quen đùa bỡn. Khiêm, cây nhộn của đội, lại không biết tiếng Lào. Cuối cùng Lương chỉ biết nhắc khẽ:

   - Đi đường lúc nào mệt chị cứ bảo nghỉ nhé. Cố giữ sức, về khu căn cứ còn đi chữa bệnh này, đi học lớp cán bộ Itxala này, còn đi đánh đồn với chúng tôi nữa chứ. Nghe đâu anh Pheng cũng ở gần chỗ anh Văn Thon. Chắc anh Pheng nhớ cô em gái ghê lắm nhé.

   Ăn xong bừa măng với nấm, Pha xỏ đôi dép mới vào chân, đi thử thấy vừa khít. Pha ra ngồi một chỗ khuất, áp má trên đùi, nghĩ đến mấy câu anh Lương nói. Những lời thủ thỉ ấy đánh thức lên cái gì nóng hổi trong lòng Pha. Pha về gặp anh, khỏi bệnh, đi công tác Itxala, đi học. Pha còn được sống vui nhiều năm nứa Pha mới hai mươi hai tuổi thôi mà... Nước mắt tưởng đã cạn lại dào lên, lăn xuống má. Pha khóc lặng lẽ như thế đến khuya.

   Một chấm lửa đuốc chớp trong đêm, đến gần. Văn Thon đã về. Anh vất mẩu đuốc sắp tàn, ngồi phịch xuống cạnh bếp. Lương giật áo anh:

   - Đi ngủ thôi Văn Thon!

   Văn Thon quay đầu lại. Đôi lông mày rậm nhíu lại thành một vệt đen liền trên hai mắt:

   - Lạc đường rồi Lương ạ.

   - Để mai hẵng liệu. Anh ngủ đi. Vào ổ lá đây này.

   Văn Thon tưởng Lương không nghe rõ. Anh dằn tiếng, bực tức:

   - Tôi không tìm ra đường bí mật số 2. Lạ quá!

   Lương kéo anh nằm xuống ổ. Anh lật người mấy lượt, thiếp đi, đôi mày vẫn cắm vào nhau. Miệng anh càu nhàu trong mê. Khiêm vác đến cả một cây gỗ, kê ngang trên đống lửa. Ban ngày nắng to thế, chắc đêm nay rét chết cóng được.

*
*    *

   Nghe Văn Thon kêu lạc đường, Lương không ngạc nhiên, vì bộ đội tình nguyện đi lẻ thường mắc nghẽn trong rừng như cơm bữa. Chính Văn Thon mới lấy làm lạ. Lần đầu tiên trong đời, anh bị rừng đánh lừa.

   Từ khi còn ẵm ngửa, Văn Thon đã quen nghe tiếng rừng vi vút lẫn trong tiếng mẹ ru. Nhỉnh lên một chút, địu bám vào lưng mẹ, chú bé giương mắt nhìn cây lá diễu hai bên, hấp háy khi nắng rây những giọt vàng qua lá rơi xuống đầy mặt. Tiếng rừng rì rào, thoi thóp, xào xạc, êm và thân như tiếng mẹ. Rồi chú biết đi, lũn cũn bám theo mẹ vào rừng hái rau, bẻ măng, nhặt hạt dẻ, nhổ nấm. Chú lội suối bì bõm bắt nhái và nghịch nước, khóc rống khi bị cua kẹp tay. Càng lớn khôn Văn Thon càng thuộc rừng, và rừng hé dần cho chàng trai Lào kho của không cạn. Ba phần tư đất Lào là rừng núi, dân Lào đi dọc các nguồn nước tìm chỗ khoét từng khoảnh rừng để cắm làng, vỡ ruộng. Vì thế người Lào quen rừng cũng như quen sông, quen làng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM