Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:09:56 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đứng vững đến cùng  (Đọc 107057 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #80 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2010, 12:06:59 am »

4.

Trận đấu với Ê-min Lơ-pho nhà vô địch hạm đội cân sức hơn, anh ta biết cách tấn công dồn dập và thận trọng. Hai người quần nhau khắp vũ đài, di chuyển mau lẹ và đẹp mắt. Trận đánh đẹp và khẩn trương làm khán giả nhiều lần vỗ tay khen ngợi. Đúng là hai người cân sức nên ai cũng cố đánh những quả đẹp và giành ưu thế cho mình. Cả hai đều biết tấn công và phòng thủ kịp thời, kín đáo. Đôi khi người ta chỉ còn thấy những chiếc găng lao vun vút và hai thân hình đẫm mồ hôi chập chờn dưới ánh đèn.

Nhưng với những người sành xem và với những trọng tài giàu kinh nghiệm thì dễ nhận thấy Mi-cla-sốp có ưu thế hơn. Ngay giữa hiệp một anh đã đánh được mấy quả mạnh đạt điểm trội hơn. Nhưng sau đấy, đối thủ của anh đã rút kinh nghiệm và cũng tạo ra những quả đám khá chủ động. Nhưng rồi anh ta tỏ ra vội vàng, muốn kết thúc trận đấu có lợi cho mình. Trái lại, Mi-cla-sốp có vẻ không ham đòn. Anh không xông vào như trước nữa mà luôn né tránh liền mấy quả và dẫn đối thủ vào tình huống “đấm gió” làm người lao đao “như đi trong mây”. Sau những lần như vậy, Mi-cla-sốp chỉ đỡ gạt và tránh xa ra tạo cho Lơ-pho có dịp hồi sức. Dần dần võ sĩ Pháp hiểu ra ý đồ của anh và thầm cảm ơn nhà võ sĩ Nga. Ánh mắt anh ta không còn vẻ nhìn gay gắt phục thù nữa, mà đã dịu lại tỏ vẻ biết ơn. Khuôn mặt rộn và sần sùi vết sẹo của anh hơi mỉm cười. Và sau khi nghỉ hết hiệp một, bắt đầu vào hiệp tiếp thì anh chàng người Pháp khẽ chạm găng vào tay Mi-cla-sốp nói nhanh:

-Cám ơn, anh bạn!

I-go cũng chạm găng lại đáp lễ và với cử chỉ đó, hai người đã thầm hiểu nhau và tỏ dấu hiệu cho thấy chỉ đấu hữu nghị là chính. Tuy vậy trận đấu vẫn diễn ra hấp dẫn. Nhà vô địch hạm đội Pháp đã mấy lần định chiếm ưu thế, đánh những quả rất đẹp nhưng đều hụt và sau một lần như vậy, đối thủ người Nga lại tránh được và lùi xa không lao trả đũa như trước. Có thể nói I-go đã chủ động điều khiển nhịp độ trận đấu. Rồi trận đấu kết thúc trong tiếng vỗ tay hoan nghênh nhẹ nhõm của người xem, tuy nhiên ai cũng biết rõ là ưu thế nghiêng về Mi-cla-sốp.

-Hoan hô chiến sĩ của quốc trưởng!-Bọn Đức hét lên.-Hoan hô chiến sĩ của quốc trưởng!

Mi-cla-sốp nhận ngay ra tiếng của gã trung uý. Những giây phút này anh không còn là I-go của những ngày xa xưa nữa. Hàng dây đài đấu đã là ranh giới ngăn cách hiện tại với quá khứ của anh. Cái quá khứ chưa xa xôi lắm nhưng sao thấy xa lạ vậy. Tuy nhiên, anh cảm thấy vũ đài này đã đưa anh trở lại mảnh đất của Tổ quốc, đã trở thành bộ phận thân thuộc của đất nước thân yêu. Anh cứ muốn đứng nguyên như vậy để sống mãi với những phút giây thân thuộc của những trận đấu năm xưa. Nhưng dẫu sao cũng phải quay lại với thực tại, phải mỉm cười với chúng, giơ tay chào đáp lễ chúng.

Khi trọng tài vừa tuyên bố Mi-cla-sốp thắng điểm, cả hai võ sĩ đều ôm chầm lấy nhau trong tiếng vỗ tay hoan hô của người xem. Cả hai người cầm tay nhau bước xuống vũ đài và đi vào phòng nghỉ. Bu-tanh, tay cầm chiếc mũ nồi xanh đi lên qua các dãy bàn. Nhiều người rút tiền ném vào chiếc mũ với những lời động viên, khen ngợi anh ta.

… Mi-cla-sốp say sưa đẫm mình dưới vòi hoa sen để xua tan cơn mệt mỏi và kỳ cọ mồ hôi. Lơ-pho trao cho anh chiếc khăn tắm rộng và cười vui vẻ:

-Lau đi!...

Viên thượng sĩ Lô-ren luôn cau có rảo bước vào phòng tắm, áo mở phanh, nét mặt đã có vẻ vui hơn.

-Mi-cla-sốp, nhanh lên Đại uý đang chờ, cả bọn tôi nữa, nhanh lên… Họng khô hết rồi đây này!... Anh không ra đại tá không đi đâu!... Món ăn đã đặt để đãi anh rồi đấy…

-Vâng, một phút nữa, tôi xong ngay đây…

-Nhanh lên! Chúng tôi chờ anh ra mới mở rượu đấy!...

Viên thượng sĩ, người săn sóc Mi-cla-sốp trong trận đấu hắn cho rằng mình cũng có quyền được chia sẻ niềm vinh dự trong thắng lợi của anh và hắn cũng hãnh diện coi là kẻ chiến thắng trong ngày hôm nay.
Bu-tanh, tay cầm chiếc mũ đựng đầy tiền thưởng bước theo viên thượng sĩ đi vào phòng rượu. Sau anh ta là người hầu bàn, tay bê nguyên cả một két rượu vang. Tiếp theo là ngưiơì tổ chức trận đấu, trịnh trọng trong bộ com-lê màu đen.

-Đây là của ông,-Bu-tanh nói, đưa cả chiếc mũ đựng đầy tiền cho Mi-cla-sốp,-Người thắng trận được thưởng hết tiền thưởng này!

Nét mặt Bu-tanh đã có vẻ hồng hào và vui hơn sau khi tắm rửa và nhấm nháp cốc rượu vang.

-Người Pháp chúng tôi chào mừng thắng lợi của người Nga, à, xin lỗi, của võ sĩ Nga!

Mi-cla-sốp dốc tiền ra bàn, chia đều ra làm ba phần. Mọi người nhìn anh ngạc nhiên: anh ta làm gì thế này? Chia xong, I-go đưa cho Bu-tanh và Lơ-pho mỗi người một phần.

-Đây là trận đấu giao hữu thôi mà, chứ có phải là tranh giải vô địch đâu, hai bạn. Cả ba người chúng ta đều thi đấu, đều lao động như nhau,-Mi-cla-sốp nói. Quyền Anh là môn thể thao nặng nề nhất. Hôm nay chúng ta đều biểu diễn tốt, theo tôi không thể và không nên nói ai thắng ai thua cả. Chúng ta là những võ sĩ. Do đó tôi cho rằng cả ba chúng ta đều có quyền hưởng như nhau món tiền thưởng này.

Hai người bạn Pháp sốt sắng cảm ơn và vui vẻ nhận tiền. Họ hiểu ra rằng, người võ sĩ Nga trong bộ quân phục lính Đức này hoàn toàn không giống những kẻ chiếm đóng ở đây. Lơ-pho mở chai rượu vang:

-Chúc mừng sự quen biết của chúng ta!

Người trọng tài, tay giơ cao cốc vang phát biểu lời chúc mừng về tài năng và tính cách của Mi-cla-sốp. Ông ta nói là đã từng được dự xem những cuộc đấu của các võ sĩ có hạng ở nước Pháp và quốc tế, do đó ông có thể khẳng định rằng, người võ sĩ Nga này xứng tài ở hạng cao nhất.

-Tôi đã kịp trao đổi ý kiến với chỉ huy của ông, ông Mi-cla-sốp,-ông ta kết thúc lời chúc mừng dài và nồng nhiệt.-Nếu ông không phản đối thì tôi có thể đứng ra tổ chức một cuộc đấu nữa. Tôi có nhiều bạn bè làm ở các báo và tôi xin hứa rằng, ngày mai nhân dân thành phố sẽ biết về thắng lợi này của nhà võ sĩ Nga. Xin chúc mừng sức khoẻ của ông!

Họ chạm cốc. Đồng thời lúc đó, sau bức chắn mỏng trong hiệu cà-phê vang lên tiếng cốc chạm nhau, tiếng hô vui vẻ và tiếng mở nút chai rượu sâm-banh bôm bốp.

Bỗng một người đầu bếp ngó vào phòng và la lên:

-Hãy mở máy thu thanh mà nghe! Quân Đức đang tiến tới sông Vôn-ga!

Lơ-pho vội xô ghế đến bên bức tường nơi đặt chiếc máy thu thanh cũ kỹ. Căn phòng bỗng vang lên giọng nói hồ hởi đầy hưng phấn và trịnh trọng của phát thanh viên đài phát thanh Đức thông báo bản tin:

“… Quân ta đã tiến đến bờ bắc sông Vôn-ga! Mặt trận quân Nga đã bị chọc thủng. Binh lính của quốc trưởng đã dùng mũ sắt để uống nước sông Vôn-ga! Thắng lợi vĩ đại đang đến gần. Hàng ngàn máy bay của quân đoàn không quân bốn đang oanh tạc thành phố bên bờ sông Vôn-ga này. Xta-lin-grát đang chìm trong khói lửa. Trên thế giới này sẽ không có một sức mạnh hùng hậu nào có thể ngăn chặn được sức mạnh khủng khiếp của vũ khí Đức chúng ta!...”.

I-go mím chặt môi. Má anh trắng bệch, người choáng váng liền hớp vội ngụm rượu rồi đổ một ít ra lòng bàn tay, xoa xoa hai má tựa như để trán tĩnh cơn đau đầu. Mọi người trong phòng vẫn im lặng lắng nghe! Quả thật trong đời có thể gặp nhiều sự bất ngờ nhưng có lẽ không trường hợp nào đáng thất vọng và cay đắng như lần này. I-go không hình dung nổi điều gì đang xảy ra ở đấy. Ở Xta-lin-grát, và không hiểu nổi tại sao họ lại có thể để xảy ra cái sự kiện này… Anh mím môi chặt hơn…

Người trọng tài mỉm cười ngượng ngập, mắt ông ta như muốn xin lỗi Mi-cla-sốp đừng giận mình, vì ông không thể nói thành lời được. Ông ta đứng dậy, lấy cớ đi vào bếp.

-Sao chúng ta lại ngồi nhịn đói thế này nhỉ?

I-go vuốt tay xoa mặt, xoa vầng trán toát mồ hôi. “Bình tĩnh I-go! Hãy bình tĩnh lại!”-anh tự hạ lệnh cho mình.-“Mày hoang mang rồi đấy! Hãy làm chủ bản thân đi”. Anh dần dần bình tĩnh lại và nắm chặt tay, làm nổi bật những bắp thịt cứng cáp. Những đường gân nổi hẳn lên dưới làn da sạm nắng.

Lơ-pho đến cạnh Mi-cla-sốp và thông cảm đặt tay lên vai anh. Bu-tanh cũng đăm đăm nhìn anh, đôi mắt
lim dim dưới cặp lông mày sẫm, nhưng ngắn. Anh cũng lặng lẽ đến bên cạnh người bạn Nga mới quen biết này và đặt tay lên vai kia của anh. Những người Pháp này hiểu rõ tâm trạng và thông cảm với anh. Họ dễ hiểu nhau hơn trước nỗi đau chung của hai dân tộc. Hai năm trước đây, nước Pháp cũng đã cảm thấy cái nhục của sự thất bại-giữa tháng Sáu năm ấy, quân Đức đã gõ gót giày trên đường phố Pa-ri… Dẫu sao, thì nước Nga vẫn còn giữ vững được thủ đô của họ, đã tiến hành cuộc chiến tranh không cân sức được hơn một năm nay rồi và không một nước nào ở châu Âu có thể kháng cự được như vậy. Nhưng dẫu sao thì, trước mắt, quân Đức vẫn tiếp tục tiến, tiến xa hơn.

Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #81 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2010, 12:08:23 am »

Chương mười bốn

1.

Tin tức từ mặt trận dồn dập đến. Đó là những tin đáng buồn. Các thông báo của Cục Thông tin ngày càng xuất hiện tên nhiều thành phố nghỉ mát miền Nam như: thành phố Suối khoáng Pi-at-chi-gô-rơ, Crát-xnô-đa… Như vậy là quân Đức đang tiến tới vùng Cáp-ca-dơ, Vô-rô-ne-giơ đã không được nhắc đến nữa. Chả lẽ đã mất rồi hay sao?... Chiến sự đang diễn ra ở vùng Clét-ca và Cô-ten-nhi-cốp… Mỗi lần nghe tin chiến sự, Li-đa-ve-ta lại lo lắng-Chúng ta đang rút lui! Rút đến bao giờ? Và đến đâu mới dừng lại, mới ngăn chặn được cái thể chẻ tre này của quân Đức? Và thế là chúng nó, cuối cùng đã đến được Vôn-ga, Đnhi-ép đã bị mất, sông Đông cũng chằng giữ nổi. Và bây giờ đến lượt Vôn-ga. Nghĩ thật kinh khủng. Li-đa-ve-ta cởi chiếc quần đùi của An-đriu vất vào chậu giặt và mệt mỏi ngồi xuống, đưa cánh tay mỏi nhừ xoa xoa trán lấm tấm mồ hôi.

-Đến bao giờ hả?-Chị bỗng hỏi to một mình,-Còn tiếp tục đến bao giờ?

-Mẹ ơi, đừng mắng con nữa, con có nhổ cà-rốt đâu.

Tiếng gọi của đứa con trai đã giúp Li-đa-ve-ta thoát khỏi những ý nghĩ buồn rầu. Chị mím đôi môi khô khốc nuốt nước bọt. An-đriu-sa đứng cách chị ba bước, tay giơ củ cà-rốt, cởi trần, chân đi đất, người sạm nắng. Mãi lúc này chị mới để ý tới ba củ cà-rốt trong tay cậu con trai.

-Không phải con nhổ cà-rốt đâu! Bác Mác-ta cho con đấy mẹ ạ…

“Bác Mác-ta mà An-đriu-sa vừa gọi chính là bà Mác-pha Kha-ri-tô-nốp-na, chủ nhà nơi mẹ con Li-đa-ve-ta ở nhờ. Từ sáng sớm bà đã làm hết việc này đến việc khác ngoài vườn rau. Nào xới đất, vun trồng, làm cỏ, phơi phóng… ”Bà ấy lấy đâu ra lắm sức thế chả?” đã bao lần Li-đa-ve-ta tự hỏi khi biết bà đã đổ bao nhiêu sức lực cho việc bốc xếp, vận chuyển đạn pháo lên tàu. Đội bốc xếp của bà là một đội gương mẫu của nhà máy. Li-đa-ve-ta hiểu khá rõ công việc nặng nề của họ. Họ luôn phải làm việc đột xuất, quá sức. Thường thường sau ca hoặc cuối ngày làm việc họ lại bốc xếp thêm những hòm đạn đầy ắp lên các toa tàu. Sau những chuyến đột xuất như vậy chân tay Li-đa-ve-ta bải hoải, mỏi nhừ toàn thân, đau ê ẩm ba bốn ngày mới lại sức. Còn bà Mác-ta thì hình như được tạo nên từ sắt thép, chẳng thấy kêu ca phàn nàn gì cả mà trái lại, sau những buổi làm việc nặng nề ấy về tới nhà bà lại cứ luôn tay luôn chân, nào dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ, nào bổ củi, làm vườn.

-Con nói là bác ấy cho con à?-Li-đa-ve-ta hỏi con.

-Vâng ạ!

-Thế con có cảm ơn không?

-Có ạ!

Chú bé Vát-ca sáu tuổi, bạn láng giềng của An-đriu-sa xuất hiện nơi hàng rào. Chú bé có khuôn mặt sáng sủa, thông minh. Tuần trước gia đình chú vừa được tin đau buồn-bố chú vừa hi sinh… Vát-ca ra hiệu gọi An-đriu-sa:

-Mẹ ơi cho con đi chơi nhé?-An-đriu-sa hỏi và ngước mắt nhìn mẹ.

-Ừ, con đi đi!

Li-đa-ve-ta đưa mắt nhìn theo hai chú bé. Chiến tranh chẳng vừa chúng ra. Anh ấy vừa nhập ngũ được ít lâu, cứ như là vừa đi đâu đó ra khỏi nhà. Mấy ngày này mẹ Vát-ca gầy sọp và xanh hẳn đi trông như người mất hồn. Chị đi tha thẩn, thầm lặng như người câm. Không đau buồn sao được! Trong tay còn ba đứa con thơ dại. Vát-ca là con út. Trước đây chị là người vui tính, mau mồm mau miệng nhất đội. Bà Mác-pha đã phải buồn rầu thốt lên là “Bà già đau khổ” và quyết định nhận chị ấy vào đội bốc xếp.

Lod cúi mình trên chậu giặt, đổ chậu nước xà phòng và thay nước sạch. Mải làm, chị không để ý đến tiếng xe ô-tô ngoài cổng mặc dầu đường này ít xe qua lại. Nhưng tiếng xe phanh kít ngoài cửa khiến chị ngẩng lên nhìn. Một chiếc xe con màu đen đỗ ngay trước cổng hàng rào. Lại có người đến gặp mình. Một quân nhân lạ mặt bước xuống xe và đi về phía cổng.

-Chị ơi, cho tôi hỏi, đây có phải là nhà chị Mi-cla-sốp không?

Li-đa-ve-ta vội lau tay vào tạp dề.

-Vâng, ở đây đấy ạ.

-Tôi đến gặp chị có chút việc…

-Có tin gì về anh I-go phải không ạ?

-Đúng đấy. Anh ấy vẫn sống! Mạnh khoẻ! Chiến đấu giỏi!-Giọng nói của anh ta có vẻ vui và chân thật.-Tôi mang đến cho chị lời chào của anh ấy đây. Tôi vào được chứ. Chị có khách nữa đấy.

-Mời anh vào, Li-đa-ve-ta vội mời khách và chưa hiểu ngay ý anh định nói “có khách” là như thế nào. Chị không còn nghe gì hết vì tất cả trong chị lúc này chỉ đọng lại hai tiếng duy nhất, là “còn sống”. Chỉ cần thế thôi cũng đủ mang lại cho chị niềm vui sướng vô hạn rồi.

-Đồng chí Ô-xip Xtê-pan-nút, mang vào đây đi!-Người sĩ quan quay về phía anh bộ đội lái xe, gọi.

Bà Mác-pha Kha-ri-tô-nô-va ngừng việc và đứng nhìn, hết sức ngạc nhiên khi thấy hai người bộ đội khệ nệ xách hai chiếc va-li da màu nâu đi vào. Dựa chiếc cuốc vào tường, bà vội bước lên thềm vừa chùi tay vào tạp dề vừa nói:

-Mời các anh vào! Xin mời các đồng chí!

-Đại uý Lê-liu-sen-cô. Pa-ven Xtê-pa-nô-vích Lê-liu-sen-cô người sĩ quan đứng tuổi tự giới thiệu, lần lượt bắt tay Li-đa-ve-ta và bà Mác-pha. Chồng chị gửi lời chào và thư đây, chị Li-đa-ve-ta Xta-lin-grát-ve-lép-na. Đúng hơn là chuyển lời chào qua vô tuyến điện.

Li-đa run run cầm mẩu giấy trong tay và ánh mắt như mờ đi, ngạc nhiên. Thư gì mà chỉ có một dòng thôi? Cố nén lo lắng, chị bình tâm lại, lướt nhanh trên hàng chữ. Chị vẫn không hiểu gì cả. Chị phải đọc lại lần nữa.

-Sao, có gì bí mật mà im lặng thế?-Không kìm được, bà Mác-pha sốt ruột hỏi.

-“Em thân yêu, anh vẫn mạnh khoẻ”.

-Chỉ có thế thôi à?-Mác-pha lại hỏi.

-Chỉ có thế thôi… Đây bác đọc xem.-Li-đa đưa cho bà chủ nhà mẩu giấy nhỏ, mỏng manh.

Bà Mác-pha đưa mắt đọc kỹ từng chữ trên mảnh giấy vuông vắn và càng đọc thái độ càng trở nên trân trọng hơn. Với bộ óc thông minh và từng trải, bà hiểu rằng những lời chào ngắn ngủi này được chuyển theo đường dây đặc biệt, chứ không phải qua bưu điện thông thường và lại do một đại uý thân chinh mang đến thì không phải là chuyện thường. Thế có nghĩa là, anh Mi-cla-sốp, chồng Li-đa không phải là một chiến sĩ bình thường. Hiển nhiên là như vậy. Chỗ anh ấy có cả điện đài thường xuyên liên lạc với Mát-xcơ-va. Không phải bất cứ người chiến sĩ hay du kích nào cũng có thể chuyển lời chào cho vợ qua đường dây như thế. Theo bà biết thì trong nhà máy cũng có một người được chuyển lời theo kiểu này.

-Ồ, sao các đồng chí lại đứng như thế này. Xin mời vào nhà đi.-Bà Mác-pha hồ hởi mời khách.-Tiện thể, nhà có khoai tây luộc đây. Tôi đưa ra ngay bây giờ.

Vào bàn, đại uý Lê-liu-sen-cô đặt lên bàn những thực phẩm khác nhau lấy từ trong va-li. Hai người đàn bà ngạc nhiên nhìn những món hàng quý giá mà họ không dám nghĩ tới-đường viên để trong hộp trắng, dễ có đến năm kilô, rồi hai gói đường cát trắng tinh, tám hộp thịt Mỹ, mỗi hộp 1 kilô, sữa đặc, sô-cô-la thanh, các loại bột mì và gạo lúa mạch…

-Chị Li-đa-ve-ta, xin chị nhận cho. Đây là tiêu chuẩn của anh ấy…

Bà Mác-pha nhìn lên bàn và trong đầu thoáng lên câu hỏi day dứt, bà định hỏi người sĩ quan về tin tức chồng và con trai mình, có tin là đã hy sinh. Nhưng giờ đây bà lại hy vọng. Cũng có thể như Mi-cla-sốp họ đang sống chăng?

2.

Ngày hôm nay thật khó chịu và bực bội. Sau khi các bác sĩ quyết định cho thượng sĩ Cun-ga trở lại đơn vị chiến đấu thế mà anh còn phải chạy đi chạy lại vào hết phòng này sang phòng khác để làm các thủ tục giấy tờ.

Cun-ga khao khát được ra mặt trận. Vết thương của anh đã lành và bất cứ ở đâu anh cũng có cảm giác là mọi ánh mắt đều nhìn vào anh như muốn hỏi: trông con người khoẻ mạnh thế kia mà lại quanh quẩn ở hậu phương. Rồi còn việc riêng tư nữa, cái công việc như người ta thường nói là “mặt trận trái tim” cũng chẳng ra sao cả đến nỗi anh không muốn nghĩ đến nó nữa. Đã hai lần, Ga-li-a Min-ga-se-va gợi ý với người lính tăng nhát gan này rằng nếu không ra phòng giá thú và tay cô chưa có nhẫn cưới thì đừng động đến cô. Nhưng ai lại có thể nói đến chuyện cưới xin vào lúc mặt trận đang tiến dần đến vùng Vôn-ga. Cun-ga chưa hề nghĩ đến chuyện này và cảm thấy xấu hổ khi anh phải sa vào vòng gia đình luẩn quẩn dẫu biết rằng, sau chiến tranh anh sẽ khó sống được nếu không có Ga-li-a. Do đó cho nên không có một sức mạnh nào ở cái thành phố hậu phương vùng U-ran này có thể giữ anh lại được ngoài trung tá Xê-rô-kin, người có quyền làm tất cả để Cun-ga trở lại với những chiếc xe bọc thép. Thật ra họ cũng đã đề cập vấn đề này tới hai lần lúc chỉ có hai người ở khách sạn. Nhưng trung tá không chịu và anh luôn vung cánh tay phải còn lại để chứng minh cho mình. Cun-ga mặc dầu phải chấp nhận nhưng vẫn cứ khăng khăng trình bày ý kiến riêng.

-Tôi không thể ở mãi đây được, chỉ có thế thôi. Ước vọng trở lại mặt trận đang thiêu đốt lòng tôi, đồng chí tiểu đoàn trưởng ạ… Đồng chí đừng giữ tôi lại đây, không nên như vậy! Rồi sau này, khi chiến tranh kết thúc tôi làm sao có đủ can đảm để nhìn thẳng vào mặt bạnbè, đồng chí được?

Giờ đây thì tất cả mọi khó khăn cản trở đã ở phía sau. Chỉ còn lại một thủ tục là đến nhà máy, làm phiếu nhận xét và đưa trình quyết định.

Nhưng ở văn phòng nhà máy người ta giữ Cun-ga lại:

-Mời anh tới phân xưởng ngay.

-Tôi còn việc gì ở đấy nữa? Hôm qua tôi đã trình giấy tờ và lấy nhận xét rồi.-Cun-ga định gắt nhưng kịp kìm lại.-Không thể giữ tôi lại được đâu!

Nhưng anh cũng tới phân xưởng lắp ráp, nơi có những đường dây chuyền chính, với những khung cửa khổng lồ, nơi hoàn chỉnh toàn bộ quá trình lắp ráp cho xe xuất xưởng để tới nơi tập kết. Húng hắng ho anh đi lại phân xưởng trong tiếng ồn ào quen thuộc. Phân xưởng trưởng là một bác công nhân già, tóc điểm bạc đang đứng hút thuốc ở khung cửa lớn. Cạnh bác ta là Ma-ri-na, bí thư đoàn thanh niên cộng sản nhà máy và hai thợ cả khác, những người khá quen thuộc với anh và cũng là những người sản xuất có uy tín.
Hình như tất cả họ đều đang chờ Cun-ga thì phải. Khi vừa thấy anh đến, họ bỗng sôi nổi hẳn lên, quay sang nói thầm gì với nhau. “Có chuyện gì thế nhỉ?-Cun-ga tự hỏi.-Họ muốn tổ chức tiễn đưa hay sao?”.-Anh kín đáo đưa mắt tìm Ga-li-a Min-ga-se-va-nhất định cô ta cũng có mặt đâu đây,-nhưng anh không thấy đâu cả. Nhất định Ga-li-a phải biết là anh đã được trở lại đơn vị chiến đấu. Liệu cô ấy có mỉm cười với mình nữa hay không?
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #82 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2010, 12:09:20 am »

Anh tạt qua sân xếp đầy xe tăng mới để đến phân xưởng. Một dãy tăng dài xếp dọc theo hàng rào đã sẵn sàng xuất phát. Cun-ga đưa mắt nhìn suốt hàng xe lòng thầm mơ ước: “Giá mình được nhận một chiếc ở đây và lại cưỡi con ngựa sắt này tiến thẳng ra mặt trận thì tuyệt biết bao”.-Đã bao lần anh thầm ước ao nhưng anh cũng hiểu rằng chẳng ai có quyền quyết định như vậy được. Mỗi chiếc tăng ra xưởng đều đã ghi vào kế hoạch và đại diện các đơn vị chiến đấu đang nằm chờ sẽ nhận chúng ngay.

Bỗng từ trong xưởng xuất hiện một chiếc tăng mới, từ từ tiến thẳng về phía anh. Nó cũng giống như những chiếc đàn anh ra trước, song với con mắt sành sỏi, Cun-ga đã phát hiện ra điểm khác biệt và chằm chằm nhìn chiếc xe tăng đang lù lù tiến về phía mình. Tháp pháo nhỏ hơn, vỏ tháp dày hơn và đặc biệt là hai bên sườn có hàn thêm tấm chắn. Với lớp vỏ này thì đạn thông thường không bắn thủng được. Trên tháo pháo, thay cho dòng chữ số thấy nổi bật mấy chữ: “Kôm-xô-môn”.

Chiếc tăng tiến thẳng tới trước mặt anh. Anh định giơ nắm đấm lên đe người lái nhưng anh đã kịp dừng lại. Nhất định là cô ta rồi, không thể ai khác được. Sao lại đùa thế này, đáng trách thật. Nhưng anh bỗng mỉm cười và rảo bước tới đón chiếc xe tăng vẫn đang rú máy từ từ lại gần trước mặt anh.

Nhưng khi còn cách anh đúng hai bước nữa thì “chàng trai ba tư tấn” đó liền ngoặt sang phải, xéo nát một đường cỏ và dừng lại. Cánh cửa nắp tháp xe bật mở và, Cun-ga, đã đoán đúng, từ trong xe Ga-li-a nhô đầu lên. Cô nhoẻn miệng cười để lộ hai hàm răng trắng đều đặn. Đôi mắt đen láy dưới hàng lông mày mỏng
cũng như cười với anh, long lanh tinh nghịch.

Ga-li-a giơ tay sát vành chiếc mũ da chào và báo cáo:

-Đồng chí thượng sĩ! Ban chấp hành đoàn uỷ nhiệm cho tôi thử chiếc xe này, và cô cao giọng hơn: quyết định cử tôi làm chiến sĩ lái kiêm thợ cơ khí còn đồng chí là trưởng xe!

Giọng hồi hộp và vui sướng của cô lan sang Cun-ga. Anh mỉm cười đáp:-Tôi sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ đoàn giao phó. Chúng ta sẽ kiểm tra xem cô có hoàn thành được nhiệm vụ chiến đấu và có biết thực hiện các mệnh lệnh hay không. Tôi sẽ sát hạch đồng chí.

-Xong ngay!

-Đấy,-cô trả lời sai rồi. Không được nói “xong ngay” như vậy, mà phải đáp là “rõ”! Thưa đồng chí chỉ huy”. Đã bao nhiêu lần tôi nhắc đồng chí điều này, thế mà vẫn quên!

-Rõ, đồng chí trưởng xe! Ga-li-a đáp lại, đôi mắt vẫn không giấu vẻ tinh nghịch, nhưng miệng đã thôi không cười đùa nữa.

Cun-ga ngồi vào vị trí chỉ huy. Anh kiểm tra hệ thống bộ đàm trong xe và hạ lệnh. Ga-li-a thực hiện các động tác theo lệnh của Cun-ga một cách khá lão luyện. Cả khối thép khổng lồ nặng nề như vậy nhưng rất ngoan ngoãn và thậm chí có vẻ nhẹ nhàng khi tiến, khi lùi, khi ngoặt phải, khi rẽ trái, rú máy đều đều phụt ra sau một vệt khói trắng và vòng hẳn một trăm tám mươi độ làm đất bắn tung toé theo hình rẻ quạt ra chung quanh.

Cun-ga ra một mệnh lệnh cuối cùng và đưa cùi tay lau mồ hôi trán. Chiếc xe quả là tốt! Và người lái cũng thật tuyệt vời. Anh cứ muốn ngồi mãi trong xe, không muốn bước ra nữa.

Nhưng khi anh vừa mở cửa xe ra thì thấy, ngoài phân xưởng trưởng, hai người thợ cả còn có nhiều nữ công
nhân đứng quanh xe chờ đợi. Họ không vội vào nhà ăn như thường ngày mà lại tập họp quanh đây.

Cun-ga nhảy xuống sân, chùi chùi hai tay vào ống quần. Phân xưởng trưởng cùng bí thư đoàn Ma-ri-na
tiến đến bên anh.

-Thế nào?-Phân xưởng trưởng hỏi giọng thân mật.

-Còn phải nói gì nữa! Rất tốt bác ạ!

-Vậy thì hãy nhận lấy nó, đồng chí thượng sĩ ạ!

-Sao cơ?

-Đồng chí hãy nhận lấy chiếc xe này. Và hãy ký nhận vào đây. Ông nói và đưa tờ phiếu giao xe ra.

Nhìn tờ giấy, Cun-ga biết ngay đó là phiếu giao xe mà đại diện các đơn vị đều dùng khi ký nhận xe. Anh ngạc nhiên tròn mắt nhìn phân xưởng trưởng-chả lẽ anh lại được giao chiếc xe này hay sao?

-Đồng chí thượng sĩ Gri-gô-ri Cun-ga thân mến! Đoàn thanh niên Cộng sản nhà máy quyết định làm thêm giờ, sản xuất ngoài kế hoạch chiếc xe tăng này và quyết định giao nó cho đồng chí điều khiển.-Bí thư đoàn
Ma-ri-na bỗng nói, giọng trang trọng và hồi hộp.-Chúng tôi quyết định đặt tên nó là “Kôm-xô-môn”. Ban chỉ huy quân sự nhà máy quyết định chỉ định Ga-li-a Min-ga-se-va làm chiến sĩ lái kiêm thợ máy. Từ bây giờ trở đi các đồng chí là những người bạn chiến đấu bên nhau. Hãy tiêu diệt bọn xâm lược với mức cao nhất!...

Có lẽ chị đã học thuộc những lời phát biểu này từ lâu nhưng giọng vẫn ngắc ngứ, xúc động, mặt đỏ ửng, chị vọi bắt tay Cun-ga và Min-ga-se-va. Ngừng một lúc, chị bỗng nhào tới ôm hôn Ga-li-a thì thào:

-Ga-li-a, tôi ghen với cô đấy!

3.

Đêm yên tĩnh, ấm áp và sáng trắng. Một ngọn gió nhẹ mang theo mùi hoa đồng nội quyện với những đám khói than từ các đầu máy nặng nề thở ra, lướt theo các toa trần sừng sững những chiếc tăng mới tinh, ùa vào những cánh cửa mở rộng của các toa hành khách, từ đó, đang vang lên tiếng cười đùa, tiếng hát vui tươi, tiếng đàn gió của những người lính. Đầy trong toa lập loè ánh lửa thuốc lá.

Những đoàn tàu quân sự dài dằng dặc chạy suốt từ U-ran thẳng về hướng tây, về I-gia-ép và về đến Vôn-ga, Ca-dan. Tất nhiên, không ai trong họ biết chính xác được hướng đó chứ đừng nó gì đến ga cuối cùng phải xuống. Duy có một điều ai cũng rõ là họ đang tiến ra mặt trận, tới các đơn vị chiến đấu…

Những chiếc đầu máy có sức kéo mạnh, nặng nề toả khói, cần mẫn kéo từng đoàn tàu khi thì len lỏi theo các đường vòng cung uốn khúc, khi thì lượn theo những triền đồi thoai thoải, lúc lại vươn mình trên những cánh đồng bằng phẳng và để rồi rú còi xông thẳng vào các đường hầm tối om.

Trên toa mui trần, Cun-ga và Ga-li-a đang ngồi bên đống rơm tươi. Mùi rơm mềm thơm dễ chịu. Trời đêm oi bức. Cun-ga cởi áo quân phục ra nằm nghiêng người, tay chống đầu, cời đôi ủng nặng nề và khoan khoái vươn dài đôi chân trên mặt rơm êm dịu. Ngọn gió ngược chiều phả vào mặt, xới tung mái tóc và thổi căng chiếc áo sơ-mi. Hơi nóng của sắt thép và mùi sơn vẫn còn bốc lên từ những chiếc xe tăng, từ sàn tàu bằng sắt suốt ngày phơi mình dưới nắng chói chang. Sàn tàu lắc lư nhè nhẹ như trên chiếc tàu thuỷ đang
bập bềnh lướt sóng mang họ đi tới một nơi xa xôi hạnh phúc nào đó.

Ga-li-a ngồi cạnh, ngả đầu vào cánh tay anh ôm quàng qua vai. Tim Cun-ga đập dồn dập. Anh cảm thấy những giây phút này thật hạnh phúc. Trăng thỉnh thoảng lại ló ra khỏi đám mây mỏng, chiếu rọi xuống hai bóng người đang ngồi bên nhau im lặng trên đường ra mặt trận.

Họ cứ ngồi yên bên nhau như vậy vì, trong những giây phút này, không có lời nào có thể diễn đạt được nỗi niềm tâm sự, ý nghĩ và ước mong của họ. Chính sự im lặng đó nói lên rất nhiều, họ cần yên tĩnh để tận hưởng trọn vẹn cái cảm giác ngây ngất được ở bên nhau.

Ga-li-a nghiêng mắt nhìn khuôn mặt xám nắng, hiền từ của anh.

-Em sung sướng quá… Em thật hạnh phúc!-Cô thì thào và hiểu rằng anh đang nghe cô nói,-Đêm thật yên tĩnh, đêm thật đẹp… Trông kìa, trăng cũng đang chạy theo chúng ta đấy.

-Anh cũng vậy… những giây phút này thật hiếm hoi. Lại có em bên cạnh.-Cun-ga định nói nhiều, nhưng rồi không nói được gì cả, những điều dự định cứ như bị chìm sâu vào trái tim đang đập rộn rã và anh chỉ im lặng mỉm cười, đắm đuối nhìn bóng trăng đang in hình trong đôi mắt Ga-li-a.

-Anh có biết giờ đây em đang nghĩ gì không, em đang sung sướng thế nào không…

-Anh cũng vậy…

Trăng lại lẫn vào một đám mây dày, đoàn tàu đang đi vào đoạn đường núi hẹp và bóng tối như che lấp tất cả.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #83 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2010, 12:10:21 am »

Chương mười lăm
1.

Đã ba tháng nay Ma-ri-na sống im lặng trong căn phòng xép dưới tầng hầm, nơi chỉ đủ đặt một chiếc giường, chiếc bàn con, vài chiếc ghế và cái tủ đụng nhỏ. Căn phòng nhô một nửa lên khỏi mặt đất, trần thấp. Chị sống ở đây với tâm họ chiếu mới, mang tên Ma-ri Đê-cua.

Như về sau được biết, hộ chiếu này do người bạn cũ của Van-te chạy cho chị khi ở Gôn-đơ. Trước đây anh cũng đã từng cùng Van-te chiến đấu trong đội quân Cộng hoà ở Tây Ban Nha. Cho đến giờ Ma-ri-na cũng không thể nào tin được rằng Van-te đã chết, trong tai chị như vẫn còn vang vang tiếng nổ kinh hoàng làm rung chuyển cả bức tường xung quanh. Lúc ấy chị đang chạy thục mạng trên tầng gác thượng, luồn qua một dãy dây phơi quần áo… Cũng may cho chị là những người dân sống trong ngôi nhà nhiều tầng này hoảng sợ vì cuộc tấn công đã chạy dồn cả xuống các cầu thang nên chị đã hoà nhập vào đó.

Chạy ra tới đường phố, Ma-ri-na hớt hải vẫy chiếc tắc-xi gặp đầu tiên và nhảy bổ lên trước con mắt ngạc nhiên của người lái xe, vừa khoát tay giục chạy nhanh vừa lắp bắp nói tên một bênh viện sực nhớ ra. Bệnh viện này ở phía bên kia Brúc-xen. Dần dần Ma-ri-na đã bình tĩnh lại. Chị hiểu rằng chẳng còn mấy thời gian,-trong vòng vài ba tiếng nữa, thế nào bọn Hít-le cũng lùng sục được chị. Và có lẽ chúng đã bắt đầu từ phía ấy.

Ma-ri-na tìm được trạm điện thoại tự động gần bệnh viện, nhưng chị không làm sao gọi được số điện thoại mà Van-te đã ghi, vì trong túi không còn một đồng xu nào cả. Cần phải tìm cách nào đó. Thời gian đang phản lại chị. Chị đành phải quyết định một cách hơi mạo hiểm-tới quán cà-phê buổi tối và từ đấy gọi điện thoại tới nơi cần thiết.

Cho đến giờ Ma-ri-na vẫn còn nhớ kỹ những phút chờ đợi căng thẳng. Chị quay số tới hai lần nhưng cả hai lần từ đầu dây bên kia không có ai nhấc ống nghe lên cả. Mãi đến lần thứ ba mới có người đáp lại.
Thế là Ma-ri-na đã đến được với những người Bỉ yêu nước, bạn của Van-te. Họ che giấu chị mấy hôm chờ cho việc truy lùng tạm lắng đi, chạy lo hộ chiếu mang tên Ma-ri Đê-cua, bố trí cho chị rửa bát đĩa tại một hiệu ăn ở ngoại ô thành phố và sống trong căn phòng nhỏ này.

Và từ bấy đến nay là những chuỗi ngày đơn điệu, chán ngán, dồn dập công việc. Những người hầu bàn bê hết chồng bát đĩa này đến chồng khác, chất đống trước mặt và chị cứ việc rửa cho đến mỏi nhừ cả tay. Mãi đến khuya hay đúng hơn là đến quá nửa đêm chị mới được trở về căn phòng nửa tầng hầm này và lấy kem xoa tay cho đỡ xót rồi nằm xoài ra vì quá mệt. Cuộc sống hình như đã chấm dứt đối với chị.
Những tuần đầu tiên, mặc dầu công việc vất vả nhưng Ma-ri-na vẫn cảm thấy vui mừng. Dù sao thì chị đã thoát khỏi bọn giét-ta-pô! Nhưng rồi tháng này qua tháng khác trôi đi lặng lẽ mà vẫn không có ai đến với chị cả. Lúc đầu chị cho rằng, cần phải như vậy vì các đồng chí của chị còn phải suy nghĩ cách hành động thông minh hơn để khỏi lôi theo bọn giét-ta-pô. Nhưng càng về sau, Ma-ri-na càng lo lắng hơn: hình như họ đã quên chị! Có lẽ không ai cần đến chị nữa, hay ít ra trước mắt là như vậy.

Đã thế, tin tức từ mặt trận phía Đông mỗi ngày một đáng lo ngại hơn. Khi nghe tin bọn Đức tiến về phía Vôn-ga chị đã khóc suốt đêm… Thật kinh khủng khi nghĩ đến bọn Đức đã vào Xta-lin-grát. Rồi sẽ ra sao nữa? Từ Xta-lin-grát chỉ một với tay là tới U-ran…

Nhưng cũng may là chúng vẫn chưa chiếm được Xta-lin-grát.

Mùa thu đã đến. Một mùa thu lạnh lẽo, ảm đạm nhưng cũng đầy an ủi. Có ai ở châu Âu này lại không biết rằng, mùa thu và mùa đông… là mùa của những người Nga? Đó là trường hợp cuộc viễn chinh của Na-pô-lê-ông, là trường hợp mùa đông năm ngoái khi hàng trăm trung đoàn “bách chiến” của nước Đức vĩ đại đã bị chặn đứng ở ngoại ô Mát-xcơ-va và sau đó bị đuổi khỏi vùng này… Liệu mùa đông năm nay có thể xảy ra điều này không?

Nhưng nếu không như vậy thì sao? Lúc ấy sẽ thế nào? Ma-ri-na không muốn nghĩ đến điều này, muốn thoát ra khỏi những câu hỏi day dứt đó nhưng nó vẫn cứ bám riết lấy chị, vừa dai dẳng vừa nặng nề.
Hôm thứ bảy vừa qua là ngày lễ kỷ niệm tháng Mười-năm nay là năm chẵn-tròn một phần tư thế kỷ cuộc cách mạng vĩ đại. Suốt ngày hôm ấy Ma-ri-na quần quật trong phòng rửa bát đĩa, quanh quẩn bên chiếc bể lớn đầu nước nóng luôn tay vội vã rửa hàng chồng bát đĩa, thìa nĩa. Trong các phòng ăn chật ních binh lính và sĩ quan Đức, cùng những khách ăn sáng trọng. Từ trên đó vọng tới những tràng cười sằng sặc, những giọng nói lè nhè say rượu, những tiếng cười the thé của các cô gái và tiếng nhạc xập xình điên loạn… Còn Ma-ri-na thì vẫn phải bặm môi lại, hất thức ăn thừa vào chiếc thùng gỗ lớn, nhanh tay rửa bát đĩa.

Mãi tới quá nửa đêm chị mới về tới căn phòng nửa tầng hầm của mình và, không bật đèn, không cởi áo ngoài, nằm vật ra giường, ôm chặt chiếc gối vào lòng rồi nức lên. Chị không còn đủ sức chịu đựng, chờ đợi và hi vọng. Chị gần như đã kiệt sức. Chờ đợi gì nữa? Hi vọng vào điều gì? Chờ điều kỳ diệu nào?... Chị vò nhàu chiếc gối một cách điên dại. Chị muốn hét lên một tiếng cho nhẹ bớt nỗi đè nén, đã cố chịu đựng bấy lâu nay. Nhưng cho ai nghe? Ai sẽ an ủi chị? Chỉ có mình chị, cô đơn trống rỗng. Một sự cô đơn trống rỗng của một người con gái đang phải sống nơi đất khách quê người… Tim chị như thắt lại trước nỗi lo sợ cho ngày mai…

Sáng hôm sau, dù chưa lại sức nhưng vẫn phải dậy, đôi mắt đỏ vì thiếu ngủ và trằn trọc, chị lại thất thểu đi làm.

Ba ngày liền chị nhe kẻ mất hồn, như sống trong tâm trạng u u minh minh. Chị rầy rộc và già đi. Ngày nào cũng vậy, đài phát thang lại đưa những tin tức cuối cùng đầy lo lắng.

“… Hôm nay, hồi mười một giờ ba mươi, thi hành lệnh của quốc trưởng quân đội tuyệt vời của chúng ta đã chọc thủng tuyến phòng thủ của quân Nga, chiếm được những cứ điểm quan trọng trong thành phố và tiến dần đến sông Vôn-ga!... Ngày giải phóng Xta-lin-grát đã đến gần. Quân Nga bị chia nhỏ ra thành từng nhóm. Họ đã bị cắt đứt khỏi những nguồn tiếp tế. Từng tảng băng lớn đã bắt đầu trôi trên con sông vĩ đại này của nước Nga. Trong những ngày quyết định này Bộ tổng tư lệnh lực lượng vũ trang Đức đã ra lệnh hoàn thành việc chiếm đóng Xta-lin-grát sau khi cắt đứt nhiều khu phố còn lại khỏi tay quân Nga”.

2.

Một hôm vào lúc sáng sớm có tiếng gõ cửa làm Ma-ri-na tỉnh giấc. Có ai đó kiên trì và gõ cửa đều đều. Khoác vội chiếc áo ngoài, xỏ chân vào đôi dép đi trong nhà, Ma-ri-na hỏi:

-Ai đấy?

-Cô Ma-ri-na, cô có thư!

Giọng nói có vẻ quen thuộc. Vẫn không bỏ sợi xích con chằng cửa ra, Ma-ri-na chỉ hơi hé mở cánh cửa. Một cậu thanh niên lanh lợi trao cho chị chiếc phong bì và đi ngay. Ma-ri-na đã nhận ra cậu ta. Đó chính là người tháng trước đã tới trao cho chị tấm hộ chiếu và tiền của Gôn-đơ chuyển đến. Ma-ri-na mở phong bì, trong đó vẻn vẹn chỉ có một dòng chữ ngắn gọn: “Chờ gặp đúng mười giờ”.

Ma-ri-na băn khoăn nhìn mẩu giấy. Gặp ai, đi đâu? Gặp làm gì? Nét chữ lạ, chưa hề thấy bao giờ. Người này là ai? Sao lại có lời hẹn lạ lùng như vậy? Chị vò nhàu phong bì cùng mẩu giấy. Bật diêm và cũng giống như những lần chuyển xong điện, chị đốt mẩu giấy cho cháy hết mới thôi.

Tuy vậy, đúng mười giờ kém ba phút chị cũng mặc áo khoác ấm, đút khẩu súng lục vào túi và đi ra cửa. Trời hôm ấy có nắng ấm áp hơn. Chị nhìn quanh đường vẫn còn vắng vẻ nếu như không kể hai cô bé đang chơi phía bên hè phố. “Mình chỉ đợi đúng năm phút thôi”-Ma-ri-na thầm nhủ.

Từ góc phố nhô ra một chiếc xe con, thân xe dài sơn màu trắng nâu sáng khá đắt tiền. Từ trước đến nay
Ma-ri-na chưa thấy loại xe này, hay đúng hơn là chưa được đi loại xe này. Nhưng sao chị bỗng cảm thấy
hồi hộp: chả lẽ nó đến đón mình? Chị chậm bước lại, có ý đợi.

Chiếc xe phanh sát vỉa hè. Tiếng phanh rít lên.

Người đàn ông lạ mặt ngồi sau tay lái, vươn người mở cánh cửa trước, nói mấy tiếng Nga ngắn gọn, nhưng kiên quyết:

-Mời lên xe!

Ma-ri-na hoang mang giây lát. Một vụ khiêu khích chăng? Nhưng ngay lúc đó, như có ai thúc vào vai chị, chị chui nhanh vào xe và ngồi ngay cạnh người đàn ông, tay giữ chặt chiếc túi xách trên đùi.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #84 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2010, 12:11:19 am »

Chiếc xe chồm lên và phóng nhanh trên đường phố về trung tâm Brúc-xen. Ma-ri-na liếc nhìn người đàn ông lạ mặt. Ông ta khoảng bốn mươi tuổi, khuôn mặt trong, thông minh, cằm hơi lẹm và có vẻ lạnh lùng, bình tĩnh. Hàng ria mép không làm cho ngưiơì trẻ hơn mà lại có vẻ già đì. Tuy vậy cách ăn vận tỏ ra là một con người sang trọng, chiếc sơ-mi trắng mới tinh, tay áo cài măng-sét, cổ thắt chiếc cra-vát nâu nhạt kẻ sọc hài hoà với bộ com-lê cũng màu nâu sáng may bằng loại vải len đắt tiền, cổ tay long lanh chiếc đồng hồ vàng Thuỵ Sĩ và ngón tay giữa cộm lên chiếc nhân vàng. Mọi thứ đó như nói lên rằng đây là con người khá giả, biết ăn diện và lịch thiệp.

Chiếc xe vẫn bon bon trên đường. Trung tâm thành phố hình như ở đya phía bên trái xe. Người lạ mặt lái xe với tốc độ vừa phải. Xem qua cũng biết ông ta không thạo đường phố Brúc-xen. Họ đã ra vùng ngoại ô, đến sát sông đào. Phía xa một chiếc tàu đang nhả khói kéo theo hai chiếc sà-lan chờ nặng hạng. Bóng tàu in hình trên mặt nước bồng bềnh, gợn sóng. Ma-ri-na biết đang đi về phía bắc thành phố, có lẽ về phía An-véc-pen.

Người đàn ông bỗng lái xe sang phía sông đào rồi cho xe dừng lại ngay cạnh bờ sông. Ma-ri-na cảnh giác, tay nắm chặt nòng súng giấu trong túi áo khoác.

-Xin lỗi,-người đàn ông nói và mắt nhìn vào chiếc kính con quan sát phía sau.-Thế nào? Chị không thấy gì ở sau chứ.

-Hình như không… Không thấy gì cả...,-Ma-ri-na khẽ thì thầm trả lời, mặc dầu chẳng hiểu ông ta định nói gì.

-Cô chờ cho một lát, tôi phải thay biển số… Người lạ mặt nói và mở cửa xe.

Người đàn ông thay số xe xong và Ma-ri-na sung sướng hiểu rằng đây là “người mình”. Nếu không phải là người mình thì việc gì phải thay đổi biển số để đánh lừa quân Đức, khi chúng đang làm chủ ở nước Bỉ này?

-Xin chuyển lời chào của “Cô-xchi-a nhảy dù”,-người đàn ông nói khi cho xe tiếp tục chạy. Đó là người đã dạy cô học thuộc các chữ số của bài hát? Còn nhớ chứ, cô còn nhớ tín hiệu số hai-tức là hai chấm và số ba là-ba gạch chứ. Cô còn nhớ caâ hát của Cô-xchi-a “Tôi đi lên bầu trời…” chứ?

Ma-ri-na mỉm cười sung sướng. Người mình thực rồi! Chỉ có ai đã được học ở trường tình báo mới biết bí danh “Cô-xchi-a nhảy dù”.

Ma-ri-na chợt nhớ lại lần đầu tiên chị bước chân vào phòng điện đài và đã từng nghĩ rằng có lẽ chẳng bao giờ chị học thuộc được những ký hiệu chấm gạch chán ngán này. Chị cũng còn nhớ sau nhiều lần thực tập không đạt lắm chị có vẻ chán nản thì phía sóng bên kia lại vang lên trong tai câu nói “xin nhận lời chào của Cô-xchi-a nhảy dù” nhé.

-Thế chữ “F” có nghĩa là gì?-Ma-ri-na chợt nhớ và hỏi lại.

-Thím Ca-chi-a!-Người đàn ông đáp ngay.

-Đúng rồi!

Ma-ri-na ngẩng đầu vui mừng nhìn người chủ chiếc xe sang trọng này. Thế là sau ba tháng cô đơn chờ đợi,
thấp thỏm, hôm nay bỗng xảy ra cuộc gặp gỡ thực sự nhưng chị vẫn hồi hộp chưa tin là thật.

-Cứ gọi tôi la An-đrây, hay theo như tiếng Pháp là An-đrê, ông nói vẫn không quay sang nhìn Ma-ri-na.
Tên tôi chính là An-đrây. Còn họ, thì xin lỗi, như người ta nói là, bỏ quên mất ở nhà cùng với hộ chiếu rồi.

-Còn tôi là Ma-ri-na, đây là tên chính của tôi,-chị nói và không kìm được, liền thốt lên: Ôi, đã bao lâu nay không được nói mẹ đẻ. Tôi đang được nói tiếng Nga nhưng lại không tin là như vậy… Anh biết không, thật là nặng nề. Đêm đến cứ phải đọc thầm một bài thơ Nga đã học từ thời còn ở trường phổ thông…

-Tôi cũng có tâm trạng như vậy đấy,-An-đrây thú nậhn, và dấn ga vượt chiếc xe tải chờ đàn bò lơ đãng nhìn ra thế giới xung quanh qua tấm lưới thép phía sau xe.-Đặc biệt là những lúc mất liên lạc với Trung tâm. Nhưng rồi dần dà cũng phải quen đi… Thôi chúng ta vào công việc nhé. Hôm kia, Trung tâm thông báo rằng cô được tặng thưởng Huân chương Ngôi Sao đỏ. Tôi xin chúc mừng đồng chí!...

-Anh nói gì vậy?-Ma-ri-na hỏi lại,-Chị rất muốn nghe An-đrây nhắc lại lần nữa câu nói làm chị xao xuyến và tự hào. Chị mà lại được phần thưởng chiến đấu cao quý này hay sao?

-Trung tâm thông báo cho biết, đồng chí được tặng Huân chương Ngôi Sao đỏ và đề nghị tôi chuyển lời chúc mừng nồng nhiệt của các đồng chí ấy tới chị.

-Xin cảm ơn. Tôi chưa bao giờ dám mơ tới điều này!-Ma-ri-na hơi ngượng nghịu, chị im lặng và cảm thấy khuôn mặt đỏ ửng. Thế còn Van-te? Anh ấy chả lẽ không được tặng thưởng gì hay sao?

-Đồng chí Van-te Cu-ra-cốp được tặng Huân chương Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hạng nhất.

-Huân chương gì?

-Huân chương Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hạng nhất. Tháng Năm vừa qua Đoàn Chủ tịch Xô-viết tối cao
Liên Xô đã ra Sắc lệnh tặng thưởng loại huân chương mới này. Có hai hạng: hạng nhất và hạng hai.

-Thế Van-te còn sống?

-Xin lỗi, không!!! Đồng chí ấy được truy tặng.

Ma-ri-na cắn môi. Chị hiểu rằng nhờ có tinh thần anh dũng của Van-te mà chị còn được sống đến bây giờ… Ôi thật là một con người đáng quý! Chị bỗng nhớ tới những giây phút cuối cùng khi đang tuyền tin về Trung tâm thì ngoài hành lang thang gác vang lên tiếng súng. Mấy viên đạn bắn trúng kính cửa sổ làm vỡ những mảnh tưởng vôi bắn cả vào đầu, vào vai chị. Lúc đó Ma-ri-na vừa kịp kết thúc nội dung chính của bức điện và quyết định truyền thêm trực tiếp bằng lời báo tin Van-te đang chiến đấu bảo vệ chị. Thay cho mật hiệu TB (tạm biệt), Ma-ri-na đã đánh mật hiệu VB (vĩnh biệt).

Con đường nhựa trải rộng hun hút chạy về phía họ.

-Toi không thể tin được là…-Ma-ri-na khẽ nói.-lúc nào tôi cũng cứ nghĩ, anh ấy vẫn còn sống đâu đây…

-Chiến tranh là như vậy đấy,-An-đrây nói và thở dài, im lặng.

Anh cũng đã phải chịu đựng nhiều tổn thất riêng của mình. Anh đã vĩnh viễn mất đi những người bạn chiến đấu anh dũng. Anh vẫn mang trên vai mình gắnh nặng của sự mất mát không thể bù đắp được. Trong đầu óc anh không thể xoá nhoà được dòng tin kinh khủng: Ở Li-ông họ đã bị thất bại lớn… Còn anh, An-đrây Xtar-cốp, người hiện mang hộ chiếu công dân Pháp Anđrê Mô-roa thoát được nhờ một sự may rủi hoàn toàn tình cờ.

… Trong những ngày cuối tháng Tám vừa qua, trên báo chí xuất hiện một nguồn tin ngắn về cuộc đấu quyền Anh mà anh chờ đợi từ lâu. Các báo địa phương đưa tin về “Một võ sĩ quyền Anh Nga I-go Mi-cla-sốp, vô địch Lê-nin-grát đã tự nguyện chạy sang hàng ngũ nước Đức vĩ đại, hiện đang phục vụ trong tiểu đoàn lê dương thuộc quân đội Đức, đã được tặng thưởng huy chương theo như nhận xét của viên đại uý chỉ huy anh ta, “người võ sĩ này đã lập công xuất sắc trong trận chiến đấu với quân du kích Nga”.

Từ lâu người ta chờ đợi nguồn tin này. Mát-xcơ-va đã mấy lần hỏi về anh ta. Thế là cần phải đến ngay thành phố biển Bu-lông.

Nhưng các sự kiện cứ quay như chong chóng. Vừa mới bắt liên lạc được với chàng võ sĩ lừng danh thì lại được tin nhóm tình báo của anh vừa bị tan vỡ. Ngay đêm hôm sau anh nhận được tin báo từ Pa-ri. Lướt mắt qua bức điện công khai, anh giật bắn người, tỉnh ngủ hẳn: “Thím La-roa bị chết đột ngột, các con cháu về đưa tang đông đủ. Hãy đến ngay Ma-đơ-len”.

Xtar-cốp gấp bức điện lại và không tin. Anh hi vọng rằng có lẽ nó gửi cho người khách thuê phòng trước anh trong khách sạn này. Anh trả lại và đóng sầm cửa trước con mắt ngạc nhêin của nhân viên bưu điện. Nhưng trong óc lại loé lên ý nghĩ. Nhóm Li-ông là nhóm của anh. Chính anh đã mất bao công sức thành lập nhóm này. Về sau, theo chỉ thị của Trung tâm, anh bàn giao lại cho đồng chí khác và lên Pa-ri sống. Thế mà, bỗng nhiên bị thất bại!... Toàn văn bức điện phải hiểu theo nghĩa sau đây “Thím La-roa”-tức hiệu thính viên, “chết đột ngột”-đã không chịu để bắt sống và đã tự sát… “Các con cháu”-toàn bộ nhóm Li-ông, “đã về đưa tang”-đã bị vây bắt… Chữ ký “Ma-đơ-len” mật hiệu quy ước báo động khẩn cấp có nghĩa là, “hãy trốn đi anh đang bị truy lùng”.

Xtar-cốp đã đến Li-ông hai tuần trước khi nhóm này bị lộ. Anh đã ở đây mấy ngày. Trong những lúc rảnh rỗi anh tranh thủ dạo thăm các đường phố nổi tiếng vẫn còn in lại dấu vết cuộc đấu tranh anh dũng của giai cấp công nhân thành phố. Tám năm trước, ở đây đã diễn ra cuộc đình công lớn và công nhân đã xung đột với bọn cảnh binh. Giai cấp công nhân đã bị đàn áp nhưng tiếng vang và vết tích của cuộc đấu tranh vẫn còn giữ mãi đến ngày nay.

Chính trong khu công nhân này là nơi hoạt động của trung tâm nhóm tình báo Li-ông. Họ đã làm được nhiều việc quan trọng… Đó là những chiến sĩ dũng cảm, dày dạn kinh nghiệm… Thế mà bỗng nhiên…
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #85 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2010, 12:12:06 am »

An-đrray Xtar-cốp còn nhớ như in hai chiếc lều bạt lụp xụp bẩn thỉu tjư nhiên xuất hiện ngay giữa đường phố, trên miệng giếng cống gần ngay ngôi nhà ba tầng, nơi đặt điện đài của nhóm. Đây là loại lều bạt thông thường của công nhân nạo vét các giếng cống hoặc sửa chữa đường điện thoại trong thành phố. Chả có ai trong nhóm chú ý đến chúng cả. Chỉ có hiệu thính viên Pi-e nhún vai khó hiểu, càu nhàu: “Họ sửa chữa gì mà lâu vậy?”. Nhưng thật ra trong hai chiếc lều bẩn thỉu đó bọn giét-ta-pô đã đặt máy định vị tìm sóng vô tuyến, phục kích hiệu thính viên. Nhưng chúng không bắt ngay mà cứ từ từ, sự từ từ thận trọng của người Đức, chờ đợi, theo dõi bám sát và phát hiện được những người hay lui tới để cất một mẻ lưới tóm gọn cả nhóm.

Ngay ngày hôm sau, An-đrây đi Pa-ri. Anh được đón ngay ở sân ga, nhận tiền và giấy hộ chiếu khác, rồi tiếp tục đáp tàu lên biên giới và hai ngày sau đã ở trong khu vực an toàn. Anh đã sang Thuỵ Sĩ. Xtar-cốp sống ở đây gần hai tháng, lúc đầu ở Lô-dan về sau chuyển tới Giơ-ne-vơ. Từ Giơ-ne-vơ anh được lệnh sang Béc-lin để gặp nhóm Béc-lin và tiếp đấy sang Tiệp Khắc. Tại đây anh sống ở Pra-ha, nơi anh đã từng ở lâu trước chiến tranh và có mối liên hệ chặt chẽ với những nhóm kháng chiến Tiệp, hoạt động bí mật trong lòng địch. Anh nhận một nhiệm vụ khẩn cấp nhưng cũng khá mạo hiểm. Mang điện đài xách tay của các đồng chí Tiệp để sang Bỉ giao cho Ma-ri-na.

Bề ngoài Pra-ha hầu như không thay đổi. Nhà ga trung tâm thấp và khang trang ẩn mình trong những vòm cây xanh. Nó hoàn toàn không giống các nhà ga khác ở các nước châu Âu, là những khu nhà lớn lợp mái kính nhưng lại rất nhốn nháo và lúc nào cũng như bị phủ trong làn khói các đầu tàu. Còn ga Pra-ha đập vào mắt mọi người với vẻ đẹp riêng và sạch sẽ của nó. Tất cả như đều được lau chùi, không tìm thấy một mẩu rác, thậm chí một que diêm cháy dở… Chỉ có những lá cờ nhỏ của phát xít Đức và ảnh Hít-le dán trong các tủ kính là cái khó chịu duy nhất đập vào mắt mọi người.

Sân ga có nhiều người Đức, đặc biệt là lính. Vừa bước ra khỏi toa, Xtar-cốp nhận ra ngay trong số những người ra đón có người bạn cũ là Ia-rô-xláp Đốp-gích. Đã năm năm nay họ chưa gặp nhau và đấy cũng là những năm nặng nề đối với đất nước Tiệp. Năm 1938, sau sự kiện Muy-ních, chính phủ tư sản Tiệp Khắc đã tự nguyện nhường cho nước Đức vùng Xu-đét giàu có. Và đến tháng Ba năm 1939 quân đội Hít-le đã tràn vào Tiệp Khắc, chiếm đóng nước này. Vùng Séc và Mô-ra-vi-a được tuyên bố là vùng bảo hộ của nước Đức, còn Xlô-va-ki thì thành lập chính phủ bù nhìn… Dấu vết nặng nề của những năm qua còn in rõ trên khuôn mặt vốn lúc nào cung vui tươi của Ia-rô-xláp. Hai bên thái dương tóc đã điểm bạc, những vết nhăn hằn sâu trên má. Chỉ có đôi mắt là vẫn như trước đây.

Hai người bạn không hề tỏ thái độ vồ vập, không chào hỏi nhau một lời nào. Họ chỉ lặng lẽ đưa mắt cho nhau, tỏ niềm vui được gặp lại. Trong thời đại đầy sóng gió và giông tố này, không dễ gì sống nguyên vẹn được. Đốp-gích đi ngay ra cửa ga. Anh bước đi đường hoàng và mọi thái độ của anh như chỉ cho Xtar-cốp biết rằng “Pra-ha vẫn an toàn”, rằng từ Béc-lin có lệnh “ra đón một đồng chí" và anh, Ia-rô-xláp sẵn lòng làm việc này. Cứ như vậy, họ ra quảng trưởng nhà ga. Tại đây Ia-rô-xláp kín đáo ra hiệu và Xtar-cốp hiểu rằng: “Tôi đi trước, anh cứ theo tôi đúng cự ly như thế này”. Đi một lúc hai người lại cùng lên một toa tàu điện nhưng khác cửa, đến bến đỗ ở quảng trường Xta-rô-mét-nôi. Hôm nay trời không đẹp, có mưa nhỏ. Đến quảng trường nhà thờ Tun-xki, Xtar-cốp chậm bước lại, đưa mắt nhìn bức tượng đồng của Jan-gút đang phơi mình trong mưa. Người anh hùng nước Tiệp này đứng đầu trần dưới trời mưa sụt sùi, những dòng nước mưa lả tả, lăn trên mắt ông, tựa như những giọt nước mắt. Họ cứ tiếp tục đi cách quãng xa như vậy đến một ngôi nhà cũ kỹ ẩn mình trong hàng cây xanh. Và mãi tới khi vào đến trong nhà, khi cánh cửa đã khép lại, hai người bạn mới biểu lộ tình cảm vui mừng của mình trước cuộc gặp gỡ này. Họ ôm chầm lấy nhau, vỗ vai nhau đôm đốp.

Trên bàn ăn đã bày sẵn một chai rượu vang ướp lạnh, bánh rán nhân thịt tựa như bánh rán Ga-lu-ca ở U-crai-na, thường ăn với nước sốt cà chua, thịt rán, rau quả… Vừa tiếp bạn, chủ nhân vừa báo cáo tình hình, về những con người cụ thể, về thành công, tổn thất và những công việc tương lai.

-Thế còn kỹ sư vô tuyến điện của chúng ta ra sao?-Xtar-cốp hỏi.

-Anh định hỏi về kỹ sư Đô-tan-trích?

-Đúng đấy, anh Ia-rô-xláp ạ.

-Anh ấy không còn nữa, hi sinh rồi… Anh còn nhớ lần gặp gỡ đầu tiên với anh ấy, chính anh đã nhận xét
rằng, con người này có thể tin cậy được. Và anh ấy đã xứng đáng với lời nhận xét đó của anh.

Xtar-cốp đặt cốc vang xuống. Kỹ sư Đô-ta-trích đã hi sinh! Xtar-cốp nhớ lại buổi tối hôm anh được gặp người kỹ sư trẻ, dáng đâm đà, cao như con sếu. Hôm ấy Xtar-cốp quyết định gặp riêng anh ta để nói chuyện vì, anh được biết kỹ sư vô tuyến điện I-a Đô-tan-trích là người có tài năng và là một trong những “chuyên gia điện tử tương lai”. Mới ba chục tuổi nhưng anh đã tỏ rõ khả năng lớn của mình trong lĩnh vực này. Đô-tan-trích đã cải tiến loại máy thu phát cũ và thiết kế ra loại máy thu phát mới cỡ nhỏ. Đây là thế hệ máy hoàn toàn mới. Anh luôn luôn nghĩ đến nền quốc phòng của Tổ quốc. Thế nhưng chẳng bao lâu sau anh lai phải sửng sốt và căm giận chứng kiến sản phẩm của mình bị bọn chủ xưởng lợi dụng làm món hàng thương mại. Họ đã bán cho người Anh, người Mỹ và người Pháp với giá cao gấp mấy lần các loại máy thu phát thường. I-an Đô-tan-trích thất vọng và tức giận. Anh định thủ tiêu bản vẽ, phá huỷ loại máy sản xuất thử đầu tiên nhưng các bạn bè anh khuyên can và sau đó, giới thiệu anh với những người lãnh đạo phong trào kháng chiến bí mật của Tiệp.

Đó là câu chuyện trước đây. Hôm ấy I-an đến rất đúng giờ, mặc hợp thời trang. Khuôn mặt thông minh kiên nghị, chỉ ánh mắt mệt mỏi đã nói lên những ngày chịu đựng và cuộc đấu tranh thầm lặng của anh. Khi chia tay ra về, Đốp-gích hỏi: “Thế nào?” thì Xtar-cốp đã trả lời giọng khẳng định: “Con người này có thể tin được”.

Từ ngày ấy, anh ta thường lén mang linh kiện ở phòng thí nghiệm về lắp ráp được năm chiếc điện đài. Và cũng chính anh đã điều chỉnh, viết vắn tắt bản hướng dẫn sử dụng. Ia-rô-xláp kể lại.-Nhưng có một tên phản bội nào đó trong xưởng thí nghiệm đã báo với bọn Đức.-Bị bắt, anh vẫn im lặng trước các đòn tra tấn của bọn giét-ta-pô, không hề khai cho ai hoặc để lộ một địa điểm liên lạc nào. Lúc đầu chúng còn thuyết phục, dỗ dành, hứa thưởng tiền nhưng về sau chúng đã tra tấn anh rất dã Ma-ri-na. Nhưng anh vẫn trung thành với lí tưởng. Bọn chúng đành phải xử bắn anh vì tôi “phản bội” nước Đức.

Im lặng một lát, Đốp-gích nói tiếp:

-Máy của anh ấy vẫn hoạt động tốt. Đúng ra là hai cái trong số này đã bị loại ra ngoài vòng chiến đấu. Bọn Đức dò ra sóng và bố trí bao vây. Đồng chí hiệu thính viên bị thương đã kịp thời tự huỷ một chiếc. Còn chiếc khác bị bọn Đức bắt được tại chỗ trong cuộc bao vây bất ngờ ngôi nhà gỗ nhỏ ở Ta-trác-ha. Hai chiếc khác vẫn đang làm việc để trả thù cho người kỹ sư đã hy sinh. Còn một cái dự trữ ở chỗ chúng tôi, đã được lệnh giao cho anh. Chúng ta cùng chung kẻ thù và chúng tôi, những người Tiệp, coi đây là nghĩa vụ đối với các đồng chí…

Ngày hôm sau Xtar-cốp lại lên đường trở về Brúc-xen cùng với chiếc máy thu phát xách tay.

Tại thành phố cảng của nước Bỉ này, ông đã tìm được căn phòng hai buồng nhỏ trong ngồi nhà năm tầng cách Sen-đơ không xa lắm. Căn phòng ở góc nhà. Cửa sổ buồng thứ nhất có một ban công đã đặt sẵn chiếc thùng gỗ dài trồng cây vạn niên thanh khá rậm, tạo cho ban công một bức mành mành xanh tự nhiên. Chẳng khó khăn gì lắm, Xtar-cốp đã lắp được dây ăng-ten bí mật mà không sợ bị nghi ngờ vì được nguỵ trạng rất tốt.

Chỉ có một việc cuối cùng nữa là chuyển hiệu thính viên tới đây. Béc-lin đã thông báo địa chỉ Ma-ri-na Rúp-xô-va đang mang hộ chiếu Ma-ri Đê-cua và cho biết rằng, chị cũng suýt bị rơi vào móng vuốt bọn giét-ta-pô… Phải hết sức cẩn thận và cảnh giác: Béc-lin nhắc là không được khinh suất, phải hết sức cảnh giác… Bọn giét-ta-pô và cơ quan an ninh đang lùng sục theo vết của họ. Cuộc vây bắt ở Béc-lin hầu như đã làm tan vỡ hoàn toàn tổ chiến đấu của anh. Công việc, dầu sao cũng không thể ngừng được, chiến tranh đã mang một tính chất khác, nó đòi hỏi phải phát hiện cho được ý đồ các kế hoạch chiến lược của kẻ thù, khả năng và tiềm lực kinh tế, công nghiệp cũng như quân sự của chúng…

Ngay trước hôm đi Brúc-xen, tình cờ Xtar-cốp chú ý tới tấm áp-phích lớn cổ động cho trận đấu quyền Anh sắp tới. Qua đó ông được biết, tối thứ bảy 21 tháng Một, có cuộc đấu quyền Anh giữa Ca-min Đi-um-ba, võ sĩ nghiệp dư vô địch nước Pháp và I-go Mi-cla-sốp, vô địch Lê-nin-grát võ sĩ quyền Anh nghiệp dư Nga.
Xtar-cốp rất vui khi đọc tên họ người võ sĩ Nga. Chỉ vừa mới bắt liên lạc được với anh ta hồi tháng Tám, thế mà giờ đây đã được nhóm Béc-lin đưa vào “đội ngũ”… Anh hiểu rằng, sự xuất hiện của Mi-cla-sốp tại đây không phải là ngẫu nhiên. Có lẽ anh ta sẽ bắt liên lạc với Ma-ri-na. Ít ngày sau, ông đã lo cho Ma-ri-na tấm hộ chiếu mới mang tên một phụ nữ đức Ma-ri Lui-da Tô-ten-béc-gờ.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #86 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2010, 12:13:17 am »

Chương mười sáu

1.

Trước khi ngừng tập hẳn, Mi-cla-sốp đấm mạnh mấy quả vào túi bạt đựng đầy cát và mùn cưa. Đấm xong, khi chiếc túi nặng nề còn chao đảo, anh lùi lại và nhảy sang trái, giơ tay đấm thẳng một quả mạnh vào chiếc túi đang đà lao tới. Quả đấm rất đúng động tác và chính xác đến nõi chiếc túi dừng hẳn lại thật đột ngột và bất ngờ.

-Gút! Kơ-ra-sô! (Tiếng Đức và Nga trong nguyên bản)-gã huấn luyện viên người Đức Các Bu-xông thốt lên khen bằng tiếng Đức lẫn tiếng Nga-Nhưng còn ít lắm, làm lại lần nữa!

Mi-cla-sốp im lặng tập lại. Đẩy cho chiếc túi đung đưa mạnh, anh lùi lại đúng động tác nhưng khi lao lên đấm thì không dùng tay phải mà là tay trái. Quả đấm cũng mạnh và chính xác như tay phải. Túi cát nặng nề đó dừng hẳn lại.

-Ô, de-rơ gút!-Ô-trin kơ-ra-sô (Rất tốt, rất tuyệt).

Các Bu-xông hiểu giá trị của động tác chiến thuật này sẽ có hiệu quả thế nào nếu nó được áp dụng khi thi đấu. Trong đôi mắt lạnh lùng của ông ta ẩn sâu dưới cặp lông mày rậm, ánh lên vẻ ấm áp hiếm thấy. Huấn luyện viên có mái đầu bạc này, người đã hàng chục năm làm cái nghề dạy dỗ đấm đá này hiểu rất rõ giá trị của tài năng mới.

-Rất tốt,-ông lặp lại tiếng Nga ngọng và quay ngược chiều đồng hồ cát-Một phút nữa!

… Mi-cla-sốp được Bu-xông chú ý khi anh về Béc-lin, cách đây mấy tháng.

Mi-cla-sốp ở Béc-lin,-“thủ đô của Đức quốc trưởng”-có ba tuần. Đầu tháng Mười từ Béc-lin có một lệnh ngắn gửi tới ban tham mưu tiểu đoàn: “Cử binh nhì Mi-cla-sốp về Béc-lin”. Các cán bộ ban tham mưu đưa mắt nhìn nhau khó hiểu. Những lệnh gọi kiểu này thường rất hiếm hoi và chỉ gọi các sĩ quan cấp cao đến cái phòng “Nước Nga” vừa mới thành lập, nhưng lần này lại gọi một tay lính quèn mà chiến công của nó chỉ là ở chỗ được thưởng huy chương và có một người thân thích làm việc ở cơ quan trung ương; có lẽ bàn tay ông ta đã với tới đây để kéo tay lính Nga này về Béc-lin. Dù hắn là ai thì mệnh lệnh vẫn là mệnh lệnh-phải thi hành nó. Lợi dụng dịp hiếm có này, đại uý Béc-ke tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn lê dương đã tranh thủ đi phép đột xuất về thủ đô với lí do lính của tiểu đoàn lê dương không được đi một mình nếu không có sĩ quan đi kèm.

Đại uý Béc-ke đã thân chính dẫn Mi-cla-sốp đi các phòng để làm thủ tục giấy tờ và người cuối cùng bắt tay từ biệt với lời chúc thượng lộ bình an về Béc-lin là một viên hạ sĩ già trong bộ quân phục đen có bàn tay gầy và khô đét.

Đoàn tàu bị dừng lại ngay trước cửa ngõ Béc-lin. Phải chờ mất hai tiếng. Sốt ruột, Béc-ke đã định xuống tàu đi ô-tô buýt vào thành phố nhưng ngay lúc ấy, đoàn tàu kéo còi và lại lên đường. Họ đến ga Béc-lin vào lúc nửa đêm. Sân ga chính với mái vòm và đường ke trần làm Mi-cla-sốp nhớ tới ga Ki-ép ở Mát-xcơ-va. Tuy nhiên nếu ngắm kỹ thì nó không hề giống nhau tí nào. Ở đây chế độ phòng thủ ban đêm rất nghiêm ngặt. Các ngọn đèn hầu như không hề có tác dụng gì với chung quanh.

-Đi thôi, đừng dừng lại,-Béc-lin nhắc.

Mi-cla-sốp đành xách chiếc va-li to nặng của viên đại uý và rảo bước theo gã. Hành khách vội vã đi ra cửa ga, cuốn theo cả Béc-lin và Mi-cla-sốp. Chỉ nghe những giọng nói đùng đục và tiếng gót ủng nện trên đường xi măng. Rất nhiều quân nhân. Bọn lính SS đứng kiểm tra giấy tờ ở cổng ga, súng tiểu liên đeo ngang trước ngực.

Viên tiểu đoàn trưởng lê dương của Mi-cla-sốp nhiều bạn bè và người thân ở Béc-lin. Hèn nào hắn ta được bố trí ở một nơi béo bở, xa mặt trận phía Đông. Béc-ke vừa ra khỏi ga liền đến ngay trạm điện thoại tự động. Một chiếc xe chữa cháy chạy vút qua sân ga, đèn tín hiệu lập loè. Bên phải trạm điện thoại tự động thấy nhô lên một khối nhà đồ sợ, không hiểu là nhà dân hay là nhà máy. Gã gọi điện báo cho nhà biết là đang ở Béc-lin và hẹn chờ đón gã cho dù đã quá nửa đêm. Gã muốn khoe với Mi-cla-sốp đường tàu điện ngầm Béc-lin để so sánh với các đường ở Mát-xcơ-va. Nhưng làm sao so sánh được, ở đây, chỉ là những nhà ga đơn điệu, cái nào cũng như cái nào.

Lên khỏi tàu điện ngầm họ lại đi ô-tô buýt ra gần vùng ngoại vi thành phố. Tối hôm đó, Mi-cla-sốp được gã mời về nhà giới thiệu với mọi người nhưng anh cũng chỉ được đón tiếp bằng những cái nhìn nhạt nhẽo và trịnh thượng.

Sáng hôm sau anh được chuyển đến khách sạn nhỏ và tồi tàn. Rồi anh lại được đưa đến phố Vích-ti-ri-a-sơ, nơi đóng trụ sở của “Uỷ ban nước Nga” do cựu trung tướng Nga Vla-xốp làm chủ tịch. Mi-cla-sốp vẫn còn nhớ rõ, ở đây họ đón tiếp anh không được vồn vã cho lắm. Ồ! Làm gì một tay võ sĩ ấy! Chỉ có trưởng ban bảo vệ của Vla-xốp, một gã sĩ quan Nga béo phệ, mắt gườm gườm mặc bộ quân phục sĩ quan SS là mới anh đến phòng riêng của gã, nói chuyện với anh khá lâu, đặc biệt là hỏi dò về những thành tích thể thao, rồi tuyên bố:

-Tôi sẽ lấy anh vào đại đội bảo vệ trung tướng Vla-xốp. Một vinh dự lớn dành cho anh đấy, hãy vui lên và nhận lời đi! Sẽ được sống ở Béc-lin và lương khá hậu!

Mi-cla-sốp không biết là nên trả lời thế nào-đồng ý hay khước từ. Nhưng ngay sau đấy hình như có sự can
thiệp nào đó của bên tham mưu và người ta thông báo cho anh biết hãy đến ngay Đại lộ Phơ-rin-đrích Mới. Khi nghe nhắc đến tên đại lộ này, mặt viên sĩ quan chỉ huy đội bảo vệ Vla-xốp dài ra lộ vẻ hết sức ngạc nhiên.

Ngay sau đấy, Vla-xốp được biết, trên đại lộ này, tại nhà số hai mươi hai là trụ sở phòng nước Nga của Cục phản gián Đức. Tại đây, Mi-cla-sốp được hai viên trung tá tiếp, nói chuyện khá lâu và quả thật khi nói chuyện với chúng, Mi-cla-sốp không thể phân biệt được chúng là người Đức thật sự đã từng sống lâu ở Nga hay là người Nga chạy sang Đức. Sau cuộc nói chuyện chẳng khác gì một cuộc hỏi cung, cả hai viên trung tá này đề nghị Mi-cla-sốp là “để phục vụ cho công tác tuyên truyền và, dĩ nhiên vì lợi ích an ninh của nước đại Đức, Mi-cla-sốp nên dùng tài năng quyền Anh của minh phục vụ trong quân đội Đức”.

-Anh phải biết rằng, dân tộc Đức là dân tộc phát triển cao nhất, một dân tộc thượng đẳng và thông minh nhất, một dân tộc biết đánh giá đúng tài năng của mọi con người, nhất là những người hoạt động thể thao. Có lẽ anh cũng biết rằng, chính ở Béc-lin đã diễn ra đại hội thế vận Ô-lem-pích cuối cùng trước chiến tranh, trong đó đích thân quốc trưởng đã đến dự.

Người Đức biết đánh giá đúng và kính trọng những nhà hoạt động thể thao hạng nặng, nhất là những nhà quyền Anh. Có lẽ anh cũng biết rằng chính nhà võ sĩ Đức vĩ đại Mác Sơ-men-lin-gơ đã đánh thắng võ sĩ Mỹ Giô Lu-i-xơn và bản thân quốc trưởng đã bắt tay chào mừng người chiến thắng. Có thể nói ở Đức không ai là không biết Sơ-men-lin-gơ.-Người ta còn nói nhiều về sự vĩ đại của quyền Anh Đức, về vinh dự dành cho Mi-cla-sốp.

Sau những lời huênh hoang đó, Mi-cla-sốp xin phép được suy nghĩ một thời gian để quyết định. Nhưng người ta nói thẳng với anh rằng, không có thời gian để suy nghĩ gì cả và bảo anh phải ký ngay biên bản đã làm sẵn từ trước, nhằm biến Mi-cla-sốp thành một kẻ đánh thuê mua vui cho người Đức.-Anh phải hiểu rằng, những trận đấu của anh không chỉ có nghĩa là những trận đọ găng thông thường, nó là một sự kiện chứng minh sự gần gũi, tình hữu nghị giữa hai dân tộc chúng ta,-một gã còn cố tâng bốc thêm sau khi đã bắt anh ký kết.

Mi-cla-sốp được thay đổi quân phục khác và phát phiếu ăn. Ngay từ những ngày đầu chiến tranh, ở Béc-lin đã thi hành nghiêm ngặt chế độ tem phiếu. Có nhiều loại phiếu ăn khác nhau đối với từng loại thực phẩm riêng biệt, mỗi thứ một mà sắc kể cả phiếu thuốc lá, giải khát. Không có phiếu này thì không thể bước vào bất cứ cửa hàng ăn nào cả. Vào hiệu ăn cũng vậy, không có phiếu ăn thì chỉ có thể gọi được hai thứ duy nhất là xúp bắp cải với bia.

Mi-cla-sốp được bố trí ở tại một căn phòng vừa phải, sát ngay với phòng tập thể thao. Phòng có hai giường. Cùng sống với anh ở đây thỉnh thoảng còn có Các Bu-xông, vừa là huấn luyện viên, vừa là chỉ huy và cũng có thể nói, vừa là ông chủ thật sự của anh. Không có con người Đức này bên cạnh thì Mi-cla-sốp không thể đi đâu một bước ra khỏi khu vực nhà ở của anh. Tật xấu của ông ta là chưa nằm xuống đã kéo gỗ, vang phòng, làm cho Mi-cla-sốp lúc đầu không thể nào ngủ được, nhưng về sau cũng quen dần.
Những ngày ở Béc-lin Mi-cla-sốp rất sốt ruột mong được bắt liên lạc với nhóm tình báo của ta. Lúc đầu anh tưởng rằng, việc anh được gọi đến Béc-lin là do bà dì vợ của tên phản bội bảo đảm, đỡ đầu, nhưng sau khi gặp hai viên trung tá ở Cục VI Tổng cục an ninh đế chế thì anh đã mang máng thấy rằng, do những người khác, có thế lực và ảnh hưởng hơn đỡ đầu cho anh thì phải. Anh hi vọng và tin chắc là sẽ sớm được đưa vào công việc quan trọng nhưng đầy nguy hiểm đang chờ đợi trước mắt.

Nhưng công việc không như anh nghĩ. Vẫn im lặng. Mọi việc xem ra có vẻ không lạc quan thuận chiều.

2.

Ma-ri-na không thích quyền Anh, hơn thế nữa, cô không coi đây là một môn thể thao. Thể thao gì mà lại có thể để cho hai con người khoẻ mạnh dư thừa sức lực đấm nhau đến chết ngất trước sự cổ vũ, la ó như điên loạn của bao người khác? Chả lẽ đây cũng là một thứ văn hoá hay sao? Văn hoá gì mà để người ta đánh vỡ hàm nhau vậy? Chị cho rằng chỉ có thể gọi là thể thao với những môn thi đua như điền kinh nặng, thể dục nghệ thuật, nhảy, ném tạ, ném đĩa, ném lao, bóng rổ, bơi và thậm chí cả cái môn bóng đá điên rồ nữa, nhưng những người chơi môn này vẫn còn có thái độ văn hoá một chút là không đấm vào mõm nhau. Nhưng còn quyền Anh thì, xin lỗi!

Do vậy, Ma-ri-na không bao giờ đi xem đấu quyền Anh cả. Và mỗi khi chị biết, ai trong số bạn bè của mình, dù không chơi quyền Anh nhưng chỉ cần đến xem một cuộc đấu thôi cũng bị Ma-ri-na loại ra khỏi quan hệ bạn bè rồi. Chị khư khư giữ quan niệm rằng, một con người được coi là văn minh, lịch thiệp thì không thể đam mê cái trò đánh nhau vỡ hàm như vậy được.

Nhưng như người ta thường nói, ghét của nào trời trao của ấy. Đó là quan niệm trước đây của Ma-ri-na. Bây giờ thời thế buộc chị phải có suy nghĩ khác. Chiến tranh cũng đã ghi được dấu ấn lên con người của chị, hay ít ra đã làm thay đổi được quan niệm này của chị. Chị không thật đam mê quyền Anh lắm nhưng dầu sao cũng nhận ra được cái giá trị của nó. Một sự nhận thức mới đầy tự giác.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #87 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2010, 12:14:43 am »

Và dù muốn hay không thì hôm nay, trước trận đấu mọi người đang mong đợi này, chị cũng phải có mặt ở hàng ghế thứ năm trong gian phòng thi đấu để chứng kiến nó. Từ trên vũ đài có thể nhìn thấy chị và ngược lại, chỗ này cũng có thể nhìn rõ toàn vũ đài. Chỉ còn ít phút nữa là bắt đầu trận đấu giữa võ sĩ Ca-min Đi-um-bác có biệt danh là Hổ Xám với võ sĩ Nga I-go Mi-cla-sốp người chị chưa hề gặp mặt nhưng đã rất thân thiết. Anh đã được những bức tranh cổ động ở đây tặng danh hiệu “đôi găng mạnh nhất của nước Nga, vô địch Lê-nin-grát”. Chính chị được lệnh phải tìm cách tiếp xúc với Mi-cla-sốp vì anh ta là… người mình. Anh sẽ là người liên lạc. Anh sẽ thay thế Van-te Lan-gren đã hi sinh.

Nhưng liệu anh ta có thể thay được Lan-gren không? Van-te mãi mãi sống trong ký sức chị, như một người không bao giờ chết và không ai có thể sánh được.

Ma-ri-na cúi nhìn bó hoa cẩm chướng trong tay. Một bó hoa cẩm chướng đỏ nổi bật lên trong bông trắng. Tất cả chỉ có thế, một bó hoa bình thường như mọi bó hoa khác. Khiêm tốn và lịch sự. Nhưng đó lại là một mật hiệu, một bó hoa biết nói lên những điều bí mật nhất.

-Thưa cô, cô có những bông hoa thật đẹp-một người đàn ông, đứng tuổi, ngồi bên phải lên tiếng làm quen. Cô định tặng cho người chiến thắng?

-Vâng,-Ma-ri-na đáp và hiểu rằng chị cần phải tỏ ra lịch sự vì hôm nay phụ nữ đi xem thi đấu khá nhiều.

-Cô sẽ tặng cho người chiến thắng chứ?

-Không.

-Vậy có lẽ cô sẽ tặng cho “Hổ Xám” của chúng ta chăng?

-Ông lại lầm rồi! Vậy cô sẽ tặng cho ai? Nếu đấy không phải là điều bí mật của cô?

-Cho người nào tôi thích,-Ma-ri-na đáp, vẻ bướng bỉnh.

-Ồ, cô làm cho tôi ngạc nhiên đấy! Vậy người cô thích đó có lẽ là tôi thì sao?

-Ông có phải là võ sĩ đâu?

-Ôi, hi vọng vừa loé lên lại bị tắt ngấm như một que diêm ấy,-người đàn ông thở dài, than thở vẻ lả lơi.

-Ông cứ việc đánh diêm lên, xem cho kỹ mình… Kìa, hình như bắt đầu rồi đấy…

Các võ sĩ đang bước ra vũ đài, cùng với người chăm sóc. Vang lên tiếng vỗ tay chào mừng. Ma-ri-na nhìn lên và bỗng thấy thương hại: giờ đây họ sẽ lao vào cuộc đấm đá…

Hổ Xám khẽ nhún chân đáp lại lời chào mừng của khán giả quen biết. Trông anh ta độ hai mươi lăm tuổi, thân hình cao, nở nang và từng trải, có lẽ không phải là hàng chục trận…

Hổ Xám rất tự tin. Nhưng người võ sĩ Nga cũng không đến nỗi lép vế lắm. Trông anh ta cũng được đấy chứ,-Ma-ri-na thốt lên bình phẩm,-Trông không đến nỗi thộn đâu.

-Được rồi, để xem anh ta sẽ xoay sở ra sao sau tiếng cồng vào cuộc,-một khán giả ngồi ở hàng ghế sau lên tiếng hưởng ứng lời Ma-ri-na.

-Vũ đài không phải của người Nga. Và cũng chẳng còn chỗ cho anh ta rút lui nữa.-Một người béo phị ngồi trước lên tiếng và cười hi hi.

Ma-ri-na ngồi im, cố giấu niềm vui có thể nói là hạnh phúc của mình do những nguồn tin hôm qua chị vừa nghe được. Những tin tức đáng phấn khởi từ mặt trận phía Đông. Tình hình đã thay đổi. Còn gì đáng vui hơn-Đêm qua chị vừa lắng nghe đài phát thanh Mát-xcơ-va và đã khóc thầm vì vui sướng. Cuối cùng rồi điều đó đã đến! Bản thông báo thật rõ ràng: “Mấy ngày gần đây, bộ đội chúng ta ở vùng ngoại ô Xta-lin-grát đã chuyển sang tấn công đánh lùi quân phát xít Đức… cuộc tấn công bắt đầu ở hai hướng: từ tây bắc và hướng nam Xta-lin-grát… Vòng đai phòng thủ của quân địch đã bị chọc thủng dài ba mươi kilômét phía tây bắc thành phố (ở phía thành phố Xê-ra-phi-nô-vích), còn ở phía nam thành phố bị chọc thủng 20 kilômét ban đầu, sau ba ngày chiến đấu anh dũng đã mở rộng tới 60-70 kilômét… Quân ta đã chiếm thành phố phụ cận Ca-lát…”.

Cả đêm chị trằn trọc không ngủ được. Chị chuyển sang sóng đài phát thanh Béc-lin. Thủ đô đế chế im lặng
về thất bại này. Giọng lạnh lùng của phát thanh viên đài này chỉ nhắc lại một cách sơ lược những tin tức cuối cùng ở mặt trận phía Đông, nêu lên sự kháng cự “ngoan cố” của quân Nga và một vài trận giao chiến lẻ tẻ ở các khu vực khác nhau. Không hề nhắc đến thành phố Xta-lin-grát lần nào.

Ma-ri-na có cảm giác là trong gian phòng rộng lớn chật ních khán giả hôm nay chả có ai biết những tin tức về cuộc phản công của người Nga. Chị nhìn chằm chằm vào mặt Mi-cla-sốp như muốn báo cho anh hay vì chị nghĩ rằng, có lẽ anh cũng chưa được biết tin này. Chung quanh anh toàn là những kẻ xa lạ. Chẳng ai ủng hộ anh, chẳng ai thàm nói với anh một lời ấm áp… Báo chí thì chúc mừng anh chàng võ sĩ người Bỉ chiến thắng. Nhưng tiếng cồng sắp nổi lên rồi.

-Này, tôi cuộc một ăn năm là gã người Nga này sẽ không chịu nổi ba hiệp đâu!-Ma-ri-na nghe tiếng nói sau lưng.

-Ông cứ đi tìm những thằng ngốc mà cuộc!-Ai lại bỏ tiền ra cuộc cho kẻ thua!...

Khán giả tung hoa về phía võ sĩ Bỉ, có người chạy lên trao tận tay anh ta tựa như đã nắm chắc phần thắng rồi. Ma-ri-na cũng không kìm được nữa. Chị đứng bật dậy, chạy đến vũ đài.

-Hãy trao tận tay Hổ Xám ấy!-Chị nghe có tiếng hét với theo sau lưng.

Chị bước lên vũ đài đúng vào lúc người trọng tài tóc hoa râm bước lên, mời hai người chăm sóc của hai võ sĩ ra và đề nghị họ bốc thăm dành quyền được chọn găng.

Ma-ri-na bước đến sau Mi-cla-sốp lúc ấy đang thờ ơ tỳ lưng vào hàng dây chão to mập, và chị khẽ chạm vào vai anh, hấp tấp nói:

-Xin anh cầm họ. Tôi xin tặng anh…

Mi-cla-sốp quay người lại, sửng sốt nhìn thấy bó hoa đúng tín hiệu. Anh hơi lặng người đi trong giây lát nhưng rồi anh kịp mỉm cười ngay, cảm ơn người phụ nữ Bỉ và giơ cao bó hoa trên đầu:

-Tôi xin chào nước Bỉ!

Gian phòng bỗng rộ lên tiếng hoan hô và vỗ tay.

-Quân ta đang tấn công ở ngoại vi Xta-lin-grát! Lợi dụng giây phút đó, Ma-ri-na thì thào. Đã chọc thủng được hai nơi tại mặt trận, dài 100 kilômét. Đã chiếm lại Ca-lát!... Quân Đức ở Xta-lin-grát có thể bị bao vây.

-Cảm ơn!-Mi-cla-sốp mỉm cười và hỏi luôn bằng tiếng Đức. Bao giờ gặp nhau?

-Đúng giữa trưa mai, tại vòi phun ở trung tâm thành phố.

Ma-ri-na quay trở về chỗ ngồi. Chân chị lướt nhanh và có cảm giác như không chạm tới nền nhà nữa. Mọi người đang dồn mắt dõi theo chị. Có những cái nhìn ác cảm, nhưng cũng có những cái nhìn thiện cảm. Có tiếng đay nghiến sau lưng chị:

-Chán người Bỉ rồi hả?

Người đàn ông ngồi cạnh Ma-ri-na vừa dịch ghế cho chị vừa khẽ nói thầm:

-Cô có cảm ơn người Nga là họ đã giữ vứng đến năm thứ hai không?

Ma-ri-na chưa kịp nói với ông ta thì tiếng ồn ào lại vang lên. Chị nhìn lên vũ đài, trận đấu đã bắt đầu. Hai
võ sĩ đang di chuyển giữa vũ đài, vừa nhảy vừa dứ những cú đấm thăm dò. Nếu không có những cú đấm ấy thì có thể nghĩ rằng, hai người đang nhảy với nhau điệu vũ châu Phi. Hổ Xám đấm nhiều hơn, và sau mỗi cú đấm của anh ta, khán giả lại ồ lên vỗ tay la hét:

-Mạnh vào, mạnh vào!...

-Đánh vào bụng ấy!...

Ma-ri-na dán mắt vào hai người và mỗi cú đấm của Hổ Xám vung lên chị có cảm giác như đánh vào chính
mình. Mặt chị hơi tái đi, hai tay giữ chặt chiếc ví cỏn con. Mi-cla-sốp khéo léo và nhẹ nhàng lùi tránh những cú đòn nóng vội của người bạn Bỉ. Ma-ri-na không hiểu được rằng Mi-cla-sốp lùi tránh là những động tác chiến thuật mà thôi. Về mặt đó, đây cũng là động tác tự vệ, thăm dò. Những động tác của anh đã làm cho đối thủ đấm vào không khí. Và cũng chính những động tác này đã tạo cho anh tìm được thế lợi để đánh trả lại.

Hổ Xám vẫn hăng hăng say tấn công. Anh ta luôn tiến lên và muốn dồn Mi-cla-sốp vào góc vũ đài. Chỉ cần dồn được đối thủ vào góc hẹp là có thể làm hăn ta mất khả năng hành động. Và lý tưởng hơn nữa là đưa được vào hàng dây rồi cứ thế đấm liên tục.

Tim Ma-ri-na thắt lại. Mi-cla-sốp đang bị dồn vào góc hẹp. Anh chỉ còn cách hàng dây chắn ở góc có một bước chân! Chị dồn mắt vào anh. Nhưng chị ngạc nhiên hơn, suýt kêu lên vì vui sướng. Người võ sĩ Nga, làm một động tác giả lùi nhanh lại sau, sát hàng dây. Đối thủ của anh lao lên để chuẩn bị giáng những đòn mạnh trong thế đánh gần. Nhưng sự việc diễn ra không như ý muốn! Mi-cla-sốp hơi khom người xuống và nhẹ nhàng tránh sang phải. Hổ Xám đang lao vào bị mất đà, không kịp dừng lại suýt ngã chúi vào góc hẹp, nơi Mi-cla-sốp vừa bị dồn vào trước đây một giây.

Trong phòng rộ lên tiếng cười, tiếng vỗ tay tán thưởng. Ma-ri-na cũng vỗ tay hoan hô Mi-cla-sốp. Anh đã tỏ ra không phải là chiến sĩ tồi, như vậy anh có thể tự làm chủ được mình.

Hai đấu thủ lại quần nhau giữa vũ đài. Hổ Xám vẫn tỏ ra nôn nóng muốn làm chủ tình hình, và trong một phút tấn công gần, anh đã để hở mặt.

“I-go, đánh đi, đánh đi anh!”-Ma-ri-na muốn hét lên. Chị như chồm hẳn người lên trước. Mi-cla-sốp như cảm thấy được ý chị, anh lanh lẹn dấn một bước và đấm thẳng một quả rất mạnh. Nhưng-không trúng. Võ sĩ Bỉ không tránh lùi lại sau mà hơi né sang phải một bước dài, cúi người trước cú đấm mạnh của Mi-cla-sốp rồi tiện tay đang ở tư thế trụ chân phải anh ta đánh trả một cú đấm mạnh. Gian phòng rộ lên tiếng la hét.
I-go hơi cúi, hai tay ôm lấy bụng, gập người xuống gần sát sàn đấu phủ bạt. Ma-ri-na trông rất rõ mặt anh tái đi và những giọt mồ hôi vã ra trên trán rơi lả tả xuống sàn.

-Một!-Trọng bắt đầu đếm.

Hổ Xám không vội vàng đi về góc của mình. Anh ta tin ở cú đấm này. Ít võ sĩ nào có thể tránh được cú đấm điêu luyện, sắc sảo và nặng cân này.

-Hai!... Bốn!... Sáu!-trọng tài vẫn đếm, giọng đều đều, bình thản.

Khi đếm được đến bảy thì Mi-cla-sốp đứng dậy và giơ tay ở tư thế sẵn sàng đánh tiếp.

-Đánh!

Sau tiếng hô của trọng tài, Hổ Xám quay vụt lại và sán đến gần đối thủ.

Cả phòng đấu vang lên tiếng hò la cổ vũ người võ sĩ Bỉ. Tim Ma-ri-na như thắt lại, mắt vẫn không rời khỏi vũ đài. Nhưng cũng ngay lúc ấy tiếng cồng đồng khô gọn vang lên báo tin hết hiệp một.

-Ngừng đấu! Trọng tài hô lớn và giơ tay chém vào không khí đồng thời đứng len vào giữa hai người.

Mi-cla-sốp ngồi bệt xuống chiếc ghế con mà người chăm sóc anh vừa đặt lên. Ngả lưng vào đệm gối da buộc sát vào cột góc vũ đài, anh há miệng thở dốc những hơi dài theo chỉ dẫn của huấn luyện viên. Vừa thở vừa khẽ gật đầu tiếp thu những lời căn dặn của ông ta.

Mấy phút trôi qua, tiếng cồng lại thúc giục hai võ sĩ đấu tiếp. Cả hai cũng lao ngay vào trận đấu. Ma-ri-na lại một lần nữa hồi hộp lo âu. Không khí trong phòng sôi động, tiếng hò la, tiếng huýt sáo cổ vũ như những người mất trí. Tiếng chân dận thình thình trên sàn nhà.

-Đánh mạnh vào! Đừng cho thằng Nga lại sức!
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #88 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2010, 12:15:38 am »

Mi-cla-sốp cố tránh những cú đấm mạnh và thỉnh thoảng mới đánh trả lại bằng những quả đấm thẳng. Anh vẫn chưa muốn dốc sức nhiều trong hiệp này. Ma-ri-na cắn môi. Chị không muốn nhìn lên vũ đài nữa nhưng thật trái ngược với ý muốn của mình, vũ đài như một viên nam châm, cứ cuốn hút đôi mắt chị dõi theo hai người không dừng được.

3.

Những phút thi đấu ngắn ngủi vẫn trôi qua nhưng Ma-ri-na cảm thấy sao nó có vẻ dài vô tận. Càng xem chị càng hiểu hơn Mi-cla-sốp. Anh đã trở thành con người thân thiết nhất của chị ở đây, hay nói đúng hơn là trong những phút này. Anh đã tỏ ra một con người có bản lĩnh và anh dũng biết bao trong một trận chiến đấu căng thẳng như hôm nay. Ma-ri-na bỗng nghĩ tới Mát-xcơ-va và thầm oán trách Trung tâm, đặc biệt là những người đã cố tình cử Mi-cla-sốp đến đây với cái huyền thoại vô địch này. Chị cứ nghĩ rằng, Mi-cla-sốp chỉ là một cán bộ tình báo bình thường nhưng do có thể lực tốt, được rèn luyện nên người ta đã cố tình tạo cho anh cái danh hiệu vô địch và giờ đây đang bắt anh phải thực hiện vai trò kẻ “đánh thuê” chuyên nghiệp. Còn anh thì, có lẽ do không thoái thác được nên cũng phải cố nhận lấy cái nhiệm vụ bất đắc dĩ này. Chả lẽ họ không bố trí để anh ta nhập vai khác và chuẩn bị cho anh những giấy tờ hợp lệ khác được hay sao?

Cứ nhìn vẻ mặt thông minh trí thức của anh thì có thể bố trí cho Mi-cla-sốp đóng vai một nhà hoạt động nghệ thuật, một nghệ sĩ có hơn không. Việc gì bắt anh ta phải giơ đầu hứng chịu những quả đấm trời giáng đáng nguyền rủa này.

Hiệp sau bắt đầu với ưu thế nghiêng về võ sĩ Bỉ. Anh ta rõ ràng là đang làm chủ trận đấu và có vẻ không chú ý gì lắm đến thái độ quá mệt mỏi của người võ sĩ Nga. Mi-cla-sốp di chuyển bắt đầu nặng nề hơn.

-Đánh mạnh vào! Đừng để nó tránh thoát!

-Bám sát vào!

Hiệp bảy bắt đầu. Ma-ri-na không thể chịu đựng được hơn nữa. Chị gượng đứng dậy, chen lách qua đám đông dày đặc, nóng nực để ra ngoài. Sau lưng chị có người nào đó nói với theo:

-Về làm gì vội. Sao không ở lại để xem anh chàng võ sĩ Nga đã nhận hoa của cô gục trên sàn chứ!...

Khó khăn lắm, chị mới chen được ra đến gần cửa. Mấy người cảnh sát đang nghiếng chân đứng xem. Họ hơi nghiêng mình tránh đường cho chị bước ra. Ma-ri-na đang định bước qua cửa bỗng nghe mọi người rộ lên một tiếng rồi hàng ngàn người trong đấu trường bỗng lặng hẳn đi. Một sự im lặng nặng nề. Chỉ còn nghe tiếng giày ken két và tiếng đếm thong thả đều đều của trọng tài trên vũ đài vọng lại.

-Ba… Bốn… Năm!...

Ma-ri-na đứng sững tại chỗ “Anh ấy lại ngã rồi”. Một viên cảnh sát đứng sau chị quay sang nói với bạn:

-Chà, anh chàng Nga kia thế mà cừ thật!-Cú đấm đáng tiền đấy chứ. Tay nó cứng như đá…

Ma-ri-na quay ngoắt lại và nhón chân nhìn lên vũ đài qua đầu mọi người. Chị thấy người trọng tài thong thả đếm từng nhịp tay. Còn Mi-cla-sốp đang đứng ở góc vũ đài, mặt cúi xuống như người có lỗi, miệng hơi tủm tỉm cười tựa như muốn xin lỗi đối thủ của mình. Dưới chân anh, Hổ Xám đang nằm ngửa, tay dang rộng.

-Chín… Mư… ờ… i, Mười… trọng tài gắng kéo thật dài nhịp đếm cuối cùng và bổ tay xuống.-Nố-ao, nốc-…ao!

4.

Một tuần trôi qua kể từ trận đấu đáng ghi nhớ đó. Như đã hẹn với Mi-cla-sốp, Ma-ri-na đến hộp thư mật. Chị được biết là Mi-cla-sốp còn ở lại đây đến trước Tết và còn thi đấu vài trận nữa.

Một ngày nắng ấm hiếm hoi, lá vàng chưa rụng hết khỏi các cành cây và dưới nắng thu trông càng vàng hơn. Những người quét đường nhịp nhàng vung chổi, quét lá trên các vỉa hè. Ma-ri-na đi vào cửa số hai của một toà nhà sang trọng. Đến bậc thềm thứ hai, vờ đánh rơi chìa khoá chị cúi xuống kín đáo nhặt chiếc bao diêm giấu dưới bậc gỗ. Về nhà, chị khoá trái cửa lại, vội vã mở hộp diêm và rút ra một mẩu giấy nhỏ xếp ở trong. Từ lâu lắm rồi, chị không nhận được những tin tức, chưa dịch mã số, chưa được đánh đi những tín hiệu quen thuộc. Nói tóm lại đã lâu nay chị chưa được chuyển tin đi Mát-xcơ-va. Rúp-xô-va chưa được liên lạc với Trung tâm. Chị học điều khiển chiếc máy phát mới khá nhanh chóng. Trung tâm báo cho chị biết từ nay sẽ áp dụng khoá mã số ba. Điều đó có nghĩa là chị phải chuyển cốt mã. Chị đã thuộc lòng “phương án ba”.

Chị cảm thấy thật sung sướng. Tim đập rộn ràng, vui mừng xen lẫn hồi hộp, máu như dồn lên má, chị biết má mình đang ửng đỏ và luôn luôn đưa tay ôm lấy đầu. Thế là, cuối cùng rồi, chị lại được chiến đấu. Chị vui sướng vì lại được nói chuyện, được liên lạc, được phục vụ Tổ quốc thân yêu. Chị đang được góp sức vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù không đội trời chung. Ma-ri-na tự hứa với mình sẽ làm tất cả vì Tổ quốc, vì đất nước thân yêu để giờ chiến thắng vĩ đại đến nhanh hơn, sẽ làm tất cả những gì có thể làm được cho dù phải trả giá bằng cả cuộc đời mình cũng xin sẵn sàng.

Để trấn tĩnh thêm, chị đứng dậy đi đi lại lại trong phòng, tập trung suy nghĩ thật kỹ những gì mình sắp truyền lên không trung. Những suy nghĩ của chị lại hướng về Mát-xcơ-va xa xôi, về bạn bè, về những người thân thích, về Mi-cla-sốp mà giờ đây đối với chị là người thân thiếy, gần gũi nhất, là người đại diện của Tổ quốc bên cạnh chị.

Ma-ri-na ngồi xuống bàn, không phải mở cuốn “Ba chàng pháo thủ ngự lâm” quen thuộc của Đuy-ma mà là chuyện “Nhớ lại và suy nghĩ” của Ô-bít-xmắc bắt đầu dịch mã những dòng tin quý giá.

Đêm hôm ấy, đúng giờ quy định, trên không trung nước Bỉ vang lên mật hiệu quy ước và những âm thanh chuyển đi những dòng chữ số khó hiểu…

Ở Mát-xcơ-va đang là nửa đêm. Một đêm tháng chạp rét buốt. Tại văn phòng Cục trưởng cục tình báo quân sự, sĩ quan trực ban phấn khởi bước vào phòng báo cáo:

-Báo cáo đồng chí thiếu tướng, vừa nhận xong…

Vị tướng mở cặp giấy đựng bức điện, lướt mắt đọc nhanh những dòng chữ vừa được đánh máy sau khi dịch mã:

“Hiện nay ở Đức không còn lực lượng dự bị nào nữa. Chỉ có một số đơn vị tân binh vừa được gọi nhập ngũ theo lệnh khẩn cấp, gồm phần lớn là vị thành niên và trung niên: tổng số khoảng hai mươi sư đoàn. Chúng sẽ được huấn luyện cấp tốc khoảng ba bốn tháng. I-kar”.

Bức điện thứ hai viết:

“Tại các viện thí nghiệm bí mật của Đức đang tiến hành thử nghiệm tách hạt U-ra-ni-um. I-kar”.

Thiếu tướng mệt mỏi mỉm cười, đưa mu bàn tay quệt má. “Bọn phát xít không thể thoát ra được khỏi cái lòng chảo Xta-lin-grát”.-Ông thầm nghĩ và cầm ống điện thoại quay số máy của tướng I-lin-cốp:

-Anh Xê-men Va-xi-li-ê-vích phải không? Anh chưa đi à? Tôi hiểu… Tôi có tin vui cho anh đây. Vừa nhận
được tin mới… chàng võ sĩ của anh thật tuyệt vời đấy. Tôi cảm ơn anh đấy! Cảm ơn cả cậu ấy nữa!

“Em thân yêu, anh vẫn khoẻ”.



Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #89 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 09:38:01 pm »

Phần ba-Những đôi găng chiến sĩ
Thời gian trừng phạt

Chương một

Thời tiết cũng thay đổi đột ngột như tình hình mặt trận vậy. Mới hôm qua, bầu trời còn trong xanh, lác đác những lớp mây trắng nhởn nhơ kéo về phương nam và thả cho mặt đất mặc sức uống no ánh nắng hiếm hoi của tháng Hai giá lạnh. Ai cũng cảm thấy hơi thở mùa xuân đang đến gần và đều cho rằng chỉ một tuần nữa thời tiết sẽ chuyển sang ấm áp. Nhưng chiều đến, tuyết đột ngột tràn về. Từng bông tuyết lớn đua nhau bay phủ kín đồi và mặt hồ rộng lớn, bám trên các ngọn cây lấp lánh trong khu rừng thông bao la.
Tuyết rơi liên hồi, giống như tấm vải màn lớn phủ kín những vết thương rách nát mà con người đã gây nên cho thiên nhiên tươi đẹp, lấp đi nhưng vệt bánh xe nham nhở, những hố đạn bom sâu hoắm, những vết xích xe tăng nhàu nát cùng những dấu chân dày đặc kéo dài về hướng tây.

Đến gần sáng thời tiết còn tồi tệ hơn. Từng đợt tuyết lớn kèm theo giá lạnh, xua tan những đám mây xám xịt, tuyết bị dồn thành từng đống lớn và mùa đông đã thực sự ngự trị trên mảnh đất khô quạnh bị chiến tranh tàn phá. Nhưng trong gió lạnh có một con chim xanh đậu trên cành thông cao vút bên hồ như đã nhìn thấy mùa xuân tới gần thỉnh thoảng vẫn cất tiếng kêu thảng thốt: “Dindive, Dindive. Mùa đông hết rồi!”.

Trên ngọn đồi trọc bên kia hồ mới mọc lên một xóm nhà ít ỏi. Ngôi làng cũ đã bị triệt phá từ những ngày đầu chiến tranh khi quân Hit-le tràn tới và những người dân phải kéo nhau vào rừng bỏ lại làng quê bé nhỏ nhưng vô cùng thân yêu thắm thiết. Trong giá lạnh tháng Hai, một con sếu từ đâu bay tới vươn đôi chân dài, dang đôi cánh rộng lượn vòng trên bầu trời băng giá xám xịt màu chì.

Chiến tranh đã trở lại làng này một lần nữa, gây thêm nhưng vết thương mới. Bọn phát xít đã không giữ nổi vị trí chiếm đóng mặc dầu chúng đã đào hào đắp luỹ, chăng dây kẽm gai dày đặc. Nhưng không một sức mạnh phòng thủ nào có thể cứu vãn được chúng. Nhiều tên đã vùi xác lại trên mảnh đất vô cùng xa lạ này. Những tên sống sót, trước khi tháo chạy đã giận giữ đốt luôn hai căn nhà hòng xoá sạch khu làng.
Nhưng chiến sự vừa lắng thì những người dân từ bao năm tháng nay lẩn trốn trong các dải rừng thưa nằm gọn giữa các đầm lầy bí hiểm, liền quay về làng. Họ gồm phần lớn là ông già, bà lão, phụ nữ và trẻ con, nhưng họ quyết định trở về ngôi làng thân yêu nơi đã bị quân Đức chiếm đóng tàn phá mấy năm nay. Họ tin rằng đây là lần giải phóng cuối cùng nên đã mang những gì còn sót lại, cố chất lên những chiếc xe bò cũ kỹ và dỗ dành những con bò gầy guộc nhưng lại vô cùng quý giá để chúng đưa chút tài sản đó về tới ngôi nhà cũ. Đàn chó cũng tung tăng rối rít chạy ngược chạy xuôi cất tiếng sủa lanh lảnh như vừa vui mừng nhận ra khu làng cũ lại như vừa ngỡ ngàng trước cảnh hoang tàn khác lạ.

Cơn lốc tuyết chiều tối qua đã phủ một lớp tuyết dày trắng xoá trên ngôi làng điêu tàn nhưng vẫn chưa xoá hết được những vết tích khủng khiếp của chiến tranh. Đây đó, cạnh những ống khói bếp lò đen xạm lù lù nằm im những xác xe tăng, xe bọc thép đủ kiểu đủ loại nghiêng ngả cháy sém, chìm ngập trong tuyết. Chiếc mất bánh trước, chiếc bị thủng méo, chiếc lật ngửa nằm phơi bụng hấng tuyết, có chiếc như còn cố vươn nòng súng dài lên bầu trời xám ngắt. Có chiếc bị thủng bình chứa, xăng dầu chảy thành vũng đặc sệt đen xạm trên mặt tuyết trắng phau trông như máu từ bụng con quái vật rỉ ra. Khắp nơi nham nhở hố bom sâu hoắm phủ ngập tuyết, những đống đất bị cày xới lổn nhổm. Những hàng rào bị đạn cày nghiêng ngả nằm thành dãy quanh khu vườn. Những khu vườn rộng thoai thoải chạy xuống tận bờ đầm còn nổi rõ những luống đất cũ trồng rau hoặc khoai tây. Những hàng hướng dương gãy gục nằm dạt dưới tuyết nhưng trên mặt tuyết đã thấy lác đác những vệt khói xanh lam ấm áp như từ trong lòng đất thoát lên. Sau gần hai năm ngừng cuộc sống, khu làng giờ đây đang tỉnh dậy, đang hồi sinh. Những con quạ béo tròn miễn cưỡng cất cánh bay lên kêu quang quác vừa xông lại phía chúng. Cứ như vậy chúng vừa kêu, vừa lượn vòng trên khu làng bị chiến tranh tàn phá. Từng nhà, từng nhà bếp lò toả khói, lửa reo tí tách. Chủ nhân vừa trở về, ngồi quanh bếp sưởi ấm, nấu thức ăn, đun nước nóng hoặc giúp các chiến sĩ vừa ghé lại giặt giũ quần áo. Quân dân râm ran chuyện trò hoà chung niềm vui giải phóng. Họ trao đổi với nhau tình hình và những công việc dự định cho ngày mai.

Từng dãy tăng “T-34” sơn màu trắng tuyết nguỵ trang dàn thành hàng dọc trên con đường lớn chạy xuyên qua làng. Các chiến sĩ xe tăng nghỉ tạm chia thành từng tốp kiểm tra từng bụi cây, từng hố đạn pháo, từng hầm kho. Cuộc sống của họ gắn liền với sự sống của từng chiếc xe. Chỉ một chút lơ là cẩu thả để vướng mìn là có thể dẫn tới cái chết của toàn đội. Họ tranh thủ xem xét từng bộ phận, gõ búa lanh canh vào gầm, vào nhíp, người kiểm tra máy, người xem lại bình dầu. Các chàng thợ máy kiêm lái xe thì nghiêng đầu chăm chú lắng nghe tiếng động cơ máy nổ.

Phía cuối làng, sau dãy chiến hào của quân Đức, mấy bà chị đã chuẩn bị xong nhà tắm hơi cho các chiến sĩ, những con “đại bàng hùng dũng của họ”. Họ vừa làm vừa vui vẻ chuyện trò với các chiến sĩ, nhất là với Min-ga-se-va, nữ chiến sĩ lái xe tăng đầu tiên mà họ được gặp. Họ coi cô như là niềm tự hào của các bà, các chị ở vùng mới giải phóng này…

… Các chiến sĩ vừa trải qua những trận đánh nặng nề. Những trận đánh kéo dài đến nỗi hầu như họ chẳng còn lúc nào nghỉ ngơi dù chỉ là để lau rửa qua loa thân mình. Quần áo cứng cong sặc mùi thuốc súng, nên giờ đây họ đều tranh thủ tắm giặt thoả thuê.

Đầm mình trong nước nóng, Ga-li-a như quên hết cả những ngày chiến đấu căng thẳng vừa qua. Chị vui sướng tận hưởng những giờ phút nghỉ ngơi hiếm hoi của người lính chiến. Gri-gô-ri Cun-ga coi đây chỉ là những phút giải lao ngắn ngủi giữa những trận đánh căng thẳng và rất cần thiết cho bộ phận máy nổ của xe tăng. Mấy hôm nay nó đã chạy vượt cả quy định vận hành, những con người sử dụng nó suốt ba tuần nay cũng lao vào cuộc chiến đấu liên miên. Nó đã cùng với đội chiến đấu của anh đi qua bao chặng đường chọc thủng bao ổ đề kháng của quân thù trên đất Lê-nin-grát.

Chiếc xe và nhất là bộ phận máy của nó cần phải được tạm nghỉ tý chút. Con người cũng vậy phải nghỉ ngơi cho thân mình đỡ ê ẩm, cho giãn gân giãn cốt, cho thần kinh bớt căng thẳng. Nhưng thật ra, mọi ý nghĩ của anh lại hướng ra phía trước tiếp tục tiến lên, không được dừng lại, không được chậm trễ. Hãy để cho bánh xích nghiền nát công sự của quân thù. Hãy để cho những loạt pháo của xe tăng vùi dập mọi hoả lực của những tên ngạo mạn, đang vênh váo vì những chiến thắng quá dễ dàng và vẫn tiếp tục gieo chết chóc đau khổ lên đầu những người dân vô tội. Ôi, ai hiểu nổi Gri-gô-ri đã sốt ruột chờ đón giây phút được thanh toán mối thù này như thế nào. Đó là giây phút được lái chiếc xe tăng xông lên phá tan vòng vây và đuổi quân chiếm đóng ra khỏi mảnh đất Lê-nin-grát thiêng liêng! Giờ phút chờ đợi đó đã đến. Nó đến trong cảnh căng thẳng kinh hoàng của những trận chiến đấu liên miên nhưng cũng đầy phấn hứng. Gri-gô-ri có cảm giác như dây sẽ là hiệp đấu cuối cùng trong một trận sống mái vĩ đại. Mặc dầu quân thù vẫn còn ngoan cố kháng cự mãnh liệt và tàn bạo nhưng chúng không còn hung hăng như năm bốn mốt và phải rút lui từng chặng. Cun-ga thấy rõ ánh bình minh của những ngày chiến thắng đang rộ lên nơi chân trời. Con đường tới đó còn xa nhưng dầu sao cũng đang hiện ra trước mắt, quân ta đang tiến lên.

Gri-gô-ri Cun-ga còn có món nợ máu với quân thù. Anh bặm môi, vung rìu bổ những hòm đạn Đức ra làm nhiều mảnh vất vào bếp lửa, lim dim mắt nhìn làn khói bốc lên toả mùi nhựa thông thơm thơm. Anh mỉm cười. Hôm kia họ vừa giải phóng thành phố Lu-ga. Từ đây chỉ với tay là tới Xtru-ghi Đỏ. Thành phố thân yêu gần gũi anh biết bao. Anh không ngờ lại có niềm hạnh phúc lớn lao đã được chiến đấu hướng này. Được chiến đấu để giải phóng mảnh đất quê hương yêu dấu đầy những kỷ niệm khó quên. Nơi anh bắt đầu cuộc đời quân ngũ của mình, nơi anh đã được đào tạo rèn luyện để điều khiển những chiếc xe khổng lồ, nơi anh đã tham gia câu lạc bộ thể thao quyền Anh. Những ngày đó tuy đã thuộc về quá khứ nhưng anh cảm thấy như mới xảy ra hôm qua! Chả biết các bạn chiến đấu, những bạn đồng nghiệp trong đội tuyển quyền Anh hiện đang ở đâu, ai còn ai mất. Số phận dành cho Cun-ga cũng không ngọt ngào gì. Anh đã trải qua bao thử thách, chịu đựng bao gian lao vất vả. Đã thoát chết trong chiếc xe tăng bị bắn cháy, đã vật lộn với những chiếc xe hạng nặng trên hồ La-đô-ga đóng băng, đã thoát khỏi vòng vây rồi bị thương, được tặng thưởng phần thưởng cao quý, được phong hàm thiếu uý. Tất cả đều đã trải qua. Nhưng điều chính là anh vẫn sống, vẫn nguyên vẹn tuy không còn thật lành lặn. Và hôm nay anh đang ở đây, ở trên mảnh đất thân thuộc. Trước mắt anh là Xtru-ghi Đỏ… Chà, những ngày đầu chiến tranh sao mà chiến đấu xoàng đến thế! Giờ đây đã đánh chác khá hơn, luôn giành được thắng lợi. Giá như trong những ngày tháng đáng buồn đó họ có được những vũ khí trang bị kỹ thuật như ngày nay thì chẳng có gì phải bàn nữa. Nghĩ lại mà kinh hoàng. Hay là lúc ấy bọn Đức mạnh hơn, khác hơn bây giờ? Không hoàn toàn như vậy. Ngày nay bọn chúng cũng chưa phải đã yếu đi, không phải là chúng đã nhụt chí, mà trái lại chúng vẫn mạnh, vũ khí vẫn được trang bị đến tận răng. Mùa đông năm nay đã trở thành mùa đông nóng bỏng đối với chúng, một mùa đông nóng như trong hoả ngục. Đối với các chiến sĩ Xô-viết thì đây lại là mùa xuân. Trước mắt họ là Xtru-ghi Đỏ, sau nó là Pơ-xcốp rồi tiếp đến là vùng Pri-ban-tích và xa hơn nữa là nước Đức… Đến đó còn xa, xa lắm, nhưng chúng ta sẽ vượt dần từng kilômét, và nhất định sẽ tới được cái đất nước ấy. Đã bắt đầu rồi, nhất định sẽ tới. Chính người Nga chặn chúng lại thì giờ đây cũng chính chúng ta sẽ đến tận đất nước đó. Chặng đường này không một dân tộc nào có thể vượt được…

Và như để chấm dứt dòng suy nghĩ của mình, Gri-gô-ri Cun-ga liền bặm môi, bổ mạnh nhát rìu vào chiếc hòm gỗ… chiếc hòm vỡ đôi, anh vui vẻ ngắm nhìn nhát rìu chính xác của mình.Tốt lắm! Chỉ cần mấy nhát nữa là có thể bổ nhỏ nó ra từng mảnh…
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM