the_samsara
Thành viên

Bài viết: 1017
|
 |
« Trả lời #90 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 09:42:02 pm » |
|
Chương hai 1. Ma-ri-na Rup-xô-va không thể từ chối mãi người bạn gái mới quen biết cứ năn nỉ mời tới thăm ngôi nhà nhỏ và uống câ-phê. Chị đã hai lần viện cớ bận việc để khước từ lời mời rất lịch sự của bà ta. Đối với người Bỉ, khi mời bạn đến chơi mà bí từ chối là coi như bị xúc phạm. Do đó trong bất cứ hoàn cảnh nâo cũng không được khước từ ngay mà trước hết phải nói: “Ồ, tôi rất vinh dự, rất hân hạnh. Hoặc xin cám ơn, tôi sẵn sàng thôi”. Rồi sau đấy phải tim cách tư chối cho khéo, cho hợp lý nếu không có thề bị mất bạn bè. Lần này cũng vậy, sau lời cám ơn chị lại cố từ chối với những lời lẽ lịch thiệp qua máy nói: -Tối xin cám ơn bà Van-déc Gráp, xin cám ơn. Nhưng bà hiểu cho, tôi không tiện... Chị quen Van-đéc Gráp một tháng trước đây tại vườn bách thú thành phố An-véc-pen. Vườn bách thú này thuộc loại lớn nhất nước Bi và dân thành phố rất tự hào về nó. Mùa nào cũng vậy, ở đây rất đông người. Có những gia đinh năm bảy người đến đây để xem các loại chim và thú quý, nhất là thú châu Phi. Ma-ri-na thường đến chuồng con gấu Mi-sa, một con gấu nâu hiền lành, dễ thương mặc dầu trên tấm biển lại giới thiệu “chủ nhân ranh mãnh và hung dữ của rừng tai-ga”. Ma-ri-na hay mang kẹo đến cho chú gấu và nó thường cúi đầu thò chân trước ra ngoài chấn song như muốn bắt tay chị. Nhận kẹo xong, hắn hất gọn vào miệng, vừa khoái chí nhai nhai vừa gật gù chiếc đầu ra dáng cảm ơn. Đôi mắt nó có vẻ buồn buồn làm Ma-ri-na cảm thấy tim mình thót lại. Chị có cảm giác như chính nó cũng biết chị là người đồng hương và đang khát khao chờ đợi những lời an ủi dịu dàng bằng tiếng Nga. Ma-ri-na kín đáo đưa tay vuốt vuốt mõm con gấu. Chị đến với nó hầu như hàng tuần. Đối với chị, nó là một tâm hồn sống của Tổ quốc xa xôi. Chị cảm thấy nó là người bạn thân thuộc của mình. Nhìn con gấu Mi-sơ-ca chị liên tưởng đến Mát-xcơ-va, đến đại lộ Xvét-nôi, nơi có rạp xiếc lớn của thú đô, ở đó cũng có những chú gấu nâu hiền lành thường biểu diễn một cách vô tư và hỏm hình, hay dùng hai chân trước nhận kẹo và cúi đầu cho khán giả... Chuồng gấu này ít người dừng lại lâu vì nó chẳng có gì đặc sắc. Nó chỉ là con vật nhỏ bé bình thường và, dĩ nhiên không thể sánh với những chàng hổ vằn hùng dũng, những chị sư tử âm thâm lặng lẽ và những loài thú khác đưa từ rừng núi châu Phi, từ Ấn Độ về. Mải mê đùa vui với con gấu Ma-ri-na không đề ý tới một phụ nữ tóc vàng thường chú ý tới chị và cũng hay xuất hiện bên chuồng gấu. Lúc đầu hai người chỉ đưa mật nhìn nhau cười cười, như thầm trao đổi với nhau về chú gấu đáng yêu. Thỉnh thoảng người phụ nữ tóc vàng đó lại đưa một bé trai khoảng sáu tuổi tới xem gấu. Cậu bé có vẻ hiếu động và mạnh dạn. Cậu không biết sợ lạ gì nên đã nhiều lần tự đưa kẹo vào tận tay gấu và mỗi khi chú gấu gật đầu cảm ơn thì cậu ta cười thích thú. Bé trai tên lâ Sac-lơ, Ma-ri-na rất thích chú bé, thường xoa đầu nó và mỗi lần như vậy chị cảm thấy khoan khoái chi bàn tay đặt lên mớ tóc vàng dìu diu. Thế là hai người phụ nữ quen nhau. Tại thành phố đông dân và sầm uất này Ma-ri-na chẳng quen biết gần gũi ai cả. Chị tuân theo nguyên tấc khắt khe của những người hoạt động bí mật. Chị đối xứ với mọi người chung quanh một cách bình thường và luôn giữ một khoảng cách nhất định trong quan hệ giao tiếp, thậm chí có vẻ lạnh lùng, cô đơn như con ốc sên, tự giam mình trong căn phòng nhỏ hẹp, không làm điều gì thái quá và cũng không giao thiệp với ai. Nói tóm lại chị không vi phạm bất cứ một quy định nhỏ nhoi nào. Như vậy mới có thể tự bảo vệ được mình trong cuộc sổng đầy nguy hiềm ở nơi đất khách quê người và đó cũng là những kinh nghiệm chị đã tích lũy được trong những năm sống và hoạt động xa Tô quốc. Càng ít bạn càng ít khả năng bị lộ, có thế thôi. Từ sự quen biết bình thường có thề dẫn đến sự thân mật, cởi mở và như vậy thật nguy hiềm. Vì có thề có một lúc nào đó sẽ quên mất vai trò mình đang đóng, quên mất sự đề phòng và rất tình cờ có thể thốt ra một điều gì đó, dù chỉ là một câu nói vô tình, sơ ý nhưng lại đầy ý nghĩa. Ma-ri-na quyết tâm giữ mình trong cái vỏ bọc kín đáo vì chị nhớ rõ lờl dặn dò khi tiễn đưa: “Hãy cố giữ mình”. Thế nhưng khi đứng cạnh chuồng gấu, có lúc chị lại quên nguyên tắc này, quên điều tự răn mình, chị đã bắt chuyện với một người chưa quen biết. Về nhà, nhớ lại chi tự trách mình đã cẩu thả trong giao tiếp. Đáng lẽ không nên bắt chuyện làm quen mặc dầu đó là bà Y-vôn-na Van-đéc Gráp, mặc dầu trong thực tế chưa có gì nguy hiểm đối với chị. Bà ta sống cùng với đứa con trai nhỏ, chồng đang làm việc tận châu Phí xa xôi. Khuôn mặt bà Y-vôn-na thật phúc hậu, như người ta nói “hợp với lòng mình”. Thế là tự nhiên hai người phụ nữ ấy gần nhau. Họ tìm thấy những vấn đề chung để trao đồi, chuyện trò. Thật ra, có chuyện để mâ nói đối với họ không quan trọng, cái quan trọng là ở chỗ, họ cần có người để thông cảm, để trao đổi cho đỡ cô đơn. Từ lâu Ma-ri-na đã cảm thấy sợ cảnh cô đơn. Chị cố dối mình về nỗi lo sợ cho tương lai. Bao đêm ròng chị trằn trọc lo âu, hai mắt nhìn lên trần nhà, tai cố lọc trong cái tĩnh mịch của đêm khuya những tiếng động lạ, tiếng bước chân rón rén nhẹ nhàng trên cầu thang của bọn mật vụ rồi tiếp đó là những tiếng gõ của hối hả, gay gât. Tay chị đột nhiên luôn xuống dưới gồi sờ xem khấu súng lục xinh xắn còn đấy không, và đưa lòng bàn tay úp lên báng súng âm ấm. Khẩu súng xinh xắn này do An-đrây, người đã đến đón và đưa chị từ Brúc-xen về đây tặng. Chính ông là người chuyển điện đài cho chị. Ông là người đã trả lại cuộc sống cho chị. Trong suốt những ngày ở đây chị luôn luôn cảm thấy sức mạnh và niềm tin thực sự vào người chỉ huy. Ông đang điều khiển cuộc chơi đầy khó khăn nguy hiểm này và đang giúp chị quen dần với hoàn cảnh mới, với cuộc sống và vai trò mới. An-đrầy đã đưa chị đến với người võ sĩ của chúng ta và đã bao lần tim Ma-ri-na thót lại vì không hiểu nồi tại sao lại có thể chịu đựng được cái trò đấm nhau của môn quyền Anh ấy. Một cái trò mà từ lâu chị đã loại ra khỏi suy nghĩ của mình. Chị không coi đấy là một thôn thề thao mà chỉ là trò tiêu khiển đáng xấu hổ cho những kẻ vô công rồi nghề bày ra. Giờ đây Ma-ri-na đã chịu đựng nồi mỗi trận đánh của Mi-cla-sốp và thật may là anh đã giành được thắng lợi trong những trận đánh đó. Chị vui mừng chờ đón những chiến thắng của anh, như chở đón những tin chiến thắng từ mặt trận phía đông, nơi quân ta đang đánh đuổi bọn phát xít và đang tiến tới gần niên giới phía tây Tồ quốc, đang tiến tới Béc-lin, đang đưa ngọn lửa trừng phạt tới sào huyệt của chúng. Ngày chiến thắng cuối cùng đang đến gần. Ma-ri-na Rup-xô-va đến với ngày chiến thắng vĩ đại đó bằng những tín hiệu điện đài báo về Trung tâm những dòng tin ngắn ngủi của An-đrây do Mi-cla-sốp cung cấp. Thế nhưng đến mua thu tất cả bỗng dột ngột chấm dứt, tựa như có một kẻ vô hình nào đó giật đứt sợi dây liên lạc nối liền Ma-ri-na với: các đồng chí của chị. Các nguồn tin đều ngừng lại. Thời gian thôi quá nhanh nhưng hòm thư mật vẫn trống không. Nguồn tiền cung cấp cũng ngừng. Rồi người đồng chí võ sĩ cũng biến mất. Biến bất ngờ, không đề lại một dấu vết, một lời cho từ biệt. Biến mất tựa như chưa bao giờ anh ta có mặt ở nước Bỉ này. Trên các áp phích quảng cáo quyền Anh chỉ thấy xuất hiện những tên họ xa lạ. Và tất nhiên, Ma-ri-na không bao giờ đến xem nữa. Chị không những sợ mà còn căm thù môn thể thao này, vì nó đã cuốn hút I-go của chị mất tăm. Hơi thở của cuộc chiến tranh đã lan tới đây; tới cuộc sống no đủ và khá thờ ơ của người Bỉ. Han-xơ bị giết ngay trước mắt chị và chị thoát được nhờ một sự tình cờ hết sức may mắn. Còn Van-te thì hy sinh để bảo vệ chị, để chị có thề truyền đi dòng tin quan trọng tạo cho chị có thì giờ phá máy và tiêu hủy tài liệu. Chị không biết rõ anh hy sinh thế nào và chưa thật tin vào lời thông báo của An-đrây là Van-te được truy tặng huân chương. Còn có một người bạn chiến đấu ở lại với chị thì giờ đây cũng đã biến nốt. Đây là người bạn chiến đáu thứ ba. Thế là chị lại cô đơn. Không có liên lạc, không có ai chỉ đạo và hầu như chị đã cạn tiền tiêu. Trước các yêu cầu của chị. Trung tâm chỉ trả lời vắn tắt “Hãy chờ”. Chờ đến bao giờ. Một tuần, một tháng chăng? Không ai có thể trả lời cho chị. Trong những ngày đầy lo âu và buồn chán như vậy chị đã làm quen với người phụ nữ tóc vàng Y-vôn-na Van-déc Gráp, một phụ nữ lịch sự, cô đơn. Những buổi gặp gỡ vô tình và chuyện trò ở vườn bách thú đã làm dịu bớt nỗi lo âu và căng thẳng của chị. Và thật dễ hiểu Y-vôn-na đã trở thành người bạn của chị. Tuy vậy, chị đã từ chối lời mời đến uống cà phê và cố tránh việc tới thăm nhà riêng bà ta. Những phải từ chối sao cho lịch sự để mối quan hệ của hai người không trở nên lạnh nhạt. Thật lòng mà nói thì Ma-ri-na cũng muốn đi vào tìm hiểu cái xã hội, cuộc sống cửa những người như Y-vôn-na trò chuyện cùng bà ta, một người mà theo chị nhận xét là thông minh và có học thức. Nhất là được vui đùa cùng đứa con trai xinh xắn, bụ bẫm sạch sẽ của bà ta, chú bé Sác-lơ vì chị vẫn hằng ước ao một đứa con trai khi chiến tranh kết thúc. -Này, cháu Sác-lơ nhắc tới chị vâ rất mong chị đến đấy, giọng Y-vôn-na thánh thót van lơn như trách móc trong ống nghe, bà ta nhấn mạnh thêm rằng, tối hôm nay sẽ có cà phê nguyên chất và xúc xích ướp khói từ nông thôn gửi ra. Ma-ri-na chẳng biết chối từ sao cho tiện nên đành phái cảm ơn, nhận lời mời: -Nhưng chị cho phép, tôi chỉ đến chốc lát thôi đấy. Chị đừng bày vẽ tiếp đón, ăn uống gì đấy nhé!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
the_samsara
Thành viên

Bài viết: 1017
|
 |
« Trả lời #91 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 09:45:29 pm » |
|
2
Ngôi nhà hay đúng hơn là biệt thự của bà Van-đéc Gráp ở ngay ngoại ô phía nam thành phố trong một khu vực nhiều cây xanh giống như một mảnh rừng tự nhiên thường thấy ở những vùng chung quanh. Khu cây xanh này được ngăn cách bởi các dãy hàng rào và những đoạn đường nhựa chạy xuyên qua, nổi bật lên những biệt thự cao hai, ba tầng với nét kiến trúc gọn giống nhau nhưng chỉ khác ở bố cục mặt tiền, màu sắc cửa kính và mái ngói đỏ, vàng, trắng hoặc nâu nhạt...
Nơi chiến trưởng xa xôi phía đông đang đổ máu hàng ngày nhưng ở đây không ai cảm thấy không khí chiến tranh. Mùa hè hoa vẫn nở trên các bồn cửa sổ, mắt vẫn quen với những thảm cỏ xén tỉa gọn gàng dịu mát, chim vẫn líu lo ca hót. Còn mùa đông tuyết vẫn rơi đều, hoa vẫn nở bên trong các cửa sò ấm áp, cây cối vẫn được xén tỉa. Chiến tranh không ảnh hưởng gì đến cuộc sống ở đâu.
Biệt thự bà Van-đéc Gráp xây theo lối cổ đã trở thành mốt của thời này. Chạy dọc theo hàng rào là những ngọn đèn điện nhỏ lắp chụp cầu kỳ. Ngay cạnh cũng vào hai bánh xe ngựa gắn vào chiếc cột bê tông. Lối vào rải sỏi với hai dãy rão nhỏ dẫn thẳng vào biệt thự lợp ngói đỏ tươi, mái nhọn. Con đường rải sỏi chạy sâu vào khu vườn rộng phía sau biệt thự, có đặt ghế ngồi và những cây bạch dương bạc trong.
Ma-ri-na đến hơi muộn. Bà Y-vôn-na thanh lịch trong chiếc váy màu sáng có thêu trang nhã bước ra đón khách với nụ cười cởi mở vui mừng:
-Ôi, thật vui sướng được tlếp chị ở nơi thôn giã này!
-Còn tôi thì suýt nữa vượt qua tòa lâu đài này nếu như không nhìn lại một lần nữa số nhà và tên đường.
-Chị có thích không?
-Rất thích...!-Ma-ri-na thú nhận một cách nhiệt thành-Ở đây thật tuyệt vời! Không gian yên tĩnh, không khí trong lành chứ không như trong thành phố đầy khói bụi và ồn ào. Đặc biệt vào những ngày đầu đông khi lò sưởi cuốn lên trông như đám mây mỏng trên mái nhà thật là huyền ảo. Ở đây không phải là hít thở nữa mà là được uống no không khí trong lành, mát dịu.
-Chị thân mến, như như chị không vội và cho phép thì xin mới chị đi dạo quanh vườn trước khi vào phông khách. Được chứ? Y-vôn-na đề nghị, vẻ sung sướng và tự hào hiện rõ trên nét mặt. Nhưng xin chị đừng chú ý nhiều đến cảnh bừa bộn, vụng về vì đã ba năm nay tôi sống một mình. Khi anh ấy còn ở nhã thì chỗ này gọn gàng, đẹp đẽ hơn nhiều.
Hai người sánh vai nhau đi dạo trong khu vườn rộng và Ma-ri-na luôn xuýt xoa khen ngợi. Bà chủ nhà cũng không giấu vẻ kiêu hãnh, giới thiệu rành rọt tiểu sử từng loại cây, quả trồng trong khu vườn. Cây ăn quả, cây hoa cảnh trông rất hài hòa, mặt cỏ phẳng xén tỉa cẩn thận phủ một lớp tuyết mỏng trông thật tươi mát. Nhìn khu nhà sang trọng nhưng xa lạ, Ma-ri-na bồi hồi nhớ tới ngôi nhà nghỉ nhỏ xinh bằng gỗ của gia đình tại ngoại ô Mát-xcơ-va gần Gô-li-xun. Gọi là nhà nghỉ, chứ đấy là căn nhà của ông bà nội gồm toàn gõ tấm dựng nên, có ba cửa sổ trông ra đường lởn. Vườn không rộng nhưng có các loại cây ăn quả và mấy bồn hoa quen thuộc. Chẳng hiểu sao, Ma-ri-na xốn xang nhớ lại mùa xuân trước chiến tranh-mùa xuân cuối cùng Ma-ri-na đến nghỉ ở nhà ông, ngẩn ngơ đứng ngắm vườn táo đang nở hoa và chị có cảm giác đang đi trong bức màn hoa trắng lung lính, màu sữa. Chị còn nhớ,
ông vừa mở thùng mật vừa giảng giải và rót cho chị một ly mật ong trong suốt vào cốc nước quả thơm lừng mát lạnh. “Không có đàn ong này thì không có mật mà cũng không có quả đâu”-ông giảỉ thích-Nhớ lấy điều đó, cháu yêu quý ạ. Không có ong thì cháu không có mật ăn đâu. Liệu ông còn sống không? Vườn cây còn nguyên vẹn không?... Nhưng Y-vôn-na đã cắt đứt dòng suy nghĩ:
-Nào, bây giờ xin mời chị vào nhà. Chúng ta đi theo cửa chính.
Ma-ri-na nhin Y-vôn-na như để nhận ký bà ta. Nhưng hồi ức của chị vụt biến mất. Chị vội mỉm cười trở lại vai tròn của mình.
-Chà, nhà chị thật tuyệt vời!
-Xin mời chị vào.
Không hiệu tại sao Ma-ri-na bỗng thấy miễn cưỡng ngập ngừng không muốn bước văn phòng. Một linh cảm khác thường nào đó vẫn day dứt trong chị. Hình như trong phòng khách sang trọng và hấp dẫn kia còn ẩn dấu một cái gì đó nguy hiềm, đáng ngờ. Chị bỗng thấy tiếc là đã nhận lời mời đến đây. Mối linh cảm ẩn náu sâu lắng day dứt trong suy nghĩ của chị, làm chỉ cảm thấy lành lạnh và tự báo mình phải thận trọng hớn. Hay chỉ là cảm giác thế thôi? Thường xuyên sống trong lo sợ và thận trọng, luốn chạm trán với bao mối hiểm họa bất ngờ. Đó là tâm trạng của chị. “Mình nhát quá, thần hồn nát thần tính,-chị thầm nhắc để tự an ủi mình-việc gì mà sợ. Mình chỉ ngồi một lúc thôi, chóng thôi”. Không khí trong sân mát lạnh. Chị muốn đứng một lúc ngoài trời. Nnưng chủ nhà đã mở cửa lớn:
-Xin mời chị vào. Tôi hi vọng chị sẽ hài lòng.
Quả thật Ma-ri-na cảm thấy hài lòng nếu như không nói là thích thú. Đây không phải là năm đầu tiên sống ở nước ngoài, nên chị phải thích ứng với mọi điều. Đã từng sống trong những khách sạn sang trọng ở thủ đô, cũng đã từng sống trong những căn phòng xoàng xĩnh, có lúc phải nhịn đói và nói chung đã phải trải qua tất cả. Nhưng đây là lần đầu tiên chị đặt chân đến một biệt thự riêng tuy không hoàn toàn lộng lẫy và giàu sang nhưng nó có một cát gì đó cầu kỳ trong từng chi tiết trang trí đồ đạc và kiểu cách khác nhau trong từng căn phòng, nó làm cho bất cứ ai bước vào cũng cảm thấy dễ chịu. Cảm giác đó cứ bám lấy chị trong suốt buổi hôm nay. Chị như vừa phát hiện cho riêng mình một thế giới mới, một thế giới nhỏ bé và xiết bao mong ước đối với một phụ nữ luôn ước mong có một tổ ấm riêng, một gia đình hạnh phúc. Chị xem xét, nhìn ngó tất cả phòng khách sang trọng, khiêm tốn ngắm một bức họa có khung mạ vàng, với những chiếc ghế giản dị nhưng có vẻ đrường bệ bọc da và chiếc bàn khảm gỗ nhiều màu. Phòng ăn rộng và thoáng đãng. Ba buồng ngủ với ba kiểu trang trí khác nhau. Tường dán giấy màu hòa hợp với bàn ghế. Hai chiếc giường ngủ rộng, dưới trải thảm len mỏng. Mỗi phòng ngủ đều có một cửa phụ thông sang phòng khác. Cửa phụ này để làm gì? Sau chị mới hiểu ra mỗi phòng ngủ đều có phòng tắm riêng với đá lát màu hồng, trần màu xanh nhạt, với bể tắm màu xanh lam. Chiếc gương lớn đủ soi cả thân hình. Gương điểm trang đứng sau chiếc bàn trên bầy đủ các loại mĩ phẩm dành cho phụ nữ, lòng Ma-ri-na rộn lên. Không, chị không có ý ghen tỵ. Chị tự an ủi là tất cả những thứ sang trọng lúc này không cần thiết cho mình. Chị thấy bình thản hơn. Nhưng trong thâm tâm vẫn thầm ước nếu được mời ở lại trong căn buồng này dù chỉ một tuần lễ thôi, có lẽ chị sẽ không từ chối.
Sau khi xem phòng ngủ của chú bé Sác-lơ, họ vòng sang phòng bếp và phòng ăn. Thật là sạch sẽ, hấp dẫn và hiện đại...
Trở lại phòng khách, Y-vôn-na bật đàn bàn. Một lượng ánh sáng mát dịu tỏa trong chiếc chao đèn mầu hồng cánh sen chiếu xuống mặt bàn gây một cảm giác thoải mái.
Hai cốc rượu vang nhẹ lóng lánh dưới ánh đèn. Đĩa xúc xích nướng tỏa mùi thơm hấp dấn, có lẽ sẽ hợp khẩu vị với bất cứ người sành ăn nào.
-Chị không từ chối một ly nữa chứ, chị thân mến?
-Cám ơn chị, rượu vang ngon và hợp với tôi quá.
Nhưng chị cho phép tôi còn phải về cho kịp chuyến xe buýt chín giờ tối.-Ma-rì-na nói.
Chị cảm thấy hơi choáng váng. Chả lẽ lại say nhanh vậy. Suýt nữa thì Ma-ri-na chạm cốc theo phong tục người Nga. Chị cũng không hiểu là đã kịp dừng tay lại ra sao nữa. Ở đây khi chúc rượu người ta chi nâng cốc lên chứ không bao giờ chạm cốc vào nhau như ở Nga. Sao chị lại có thể lầm lẫn như thế được? “Thôi phải về thôi, phải rút nhanh”-Ma-ri-na thầm quyết định.
Nhưng Y-vôn-na đã đứng dậy đi pha cà phê. Chiếc cối xay điện xay cà phê reo réo. Những hạt cà phê tròn trĩnh màu nâu sẫm xoay chuyến, quay tròn và chốc lát biến thành những hạt bột mịn màng rơi xuống chíếc tách bên dưới.
Hai người phụ nữ lại vui vẻ trao đổi hản huyên với nhau đủ chuyện và cùng nhấm nháp li rượu cam Pháp. Ma-ri-na kiên quyết đứng dậy làm Y-vôn-na kình ngạc thốt lên một cách thành thật:
-Chị định bỏ tôi ngồi một minh đêm nay hay sao? Còn sớm mà!
-Còn mười lăm phút nữa đúng chuyến xe tuyến tối-Ma-ri-na bình thản nói.
-Chị đừng lo. Xe buýt chạy đến nửa đêm kia mà. Cứ nửa giờ lại có một chuyến vào thành phố. Y-vô-na vội lấy một chai cao trong tủ ra. Chị hãy thử ngụm rượu thuốc xem sao. Nhà tôi rất thích toại này nên anh ấy vừa gửi về cho tời đấy.
-Nếu ít thì được. Một vài “giọt” thôi. Chỉ nếm mùi vị là đủ. Ma-ri-na đành miễn cưỡng đồng ý.
Nhưng sau li rượu và cà phê, Y-vôn-na còn cố kéo dài thời gian bằng cách giời thiệu bộ phim cuộc sống gia đình quay hồi trước chiến tranh, khi bà ta cùng chồng đi du lịch ở Ý và Ma-ri-na lại không ngớt lời khen về hạnh phác của họ, khen những công trinh kiến trúc cổ cũng như phong cảnh tuyệt vời của nước Ý.
3.
Quàng chiếc áo khoác lông lên vai, Y-vôn-na đì tìễn Ma-ri-na tới tận bến xe. Mặc dầu Ma-ri-na hết sức khẩn khoản từ chối nhưng bà ta vẫn chờ cho tới khi Ma-ri-na bước lên xe mới hôn từ biệt và nói:
-Tôi chân thành và rất vui sướng cám ơn chị đã đến thăm cái tổ ấm của tôi. Chị đã làm tôi khuây khỏa cảnh đơn chiếc đấy.
-Chính tôi mới phải cảm ơn chị về buổi nghỉ ngơi tuyệt vời này. Hôm nay là một ngày vui thực sự với tôi, Ma-ri-na hôn lại, nói chân thành.
Chiếc xe buýt chuyển bánh, Ma-ri-na úp mặt vào tấm kính cửa nhìn theo Y-vôn-na đang vẫy tay từ biệt, lòng thầm nghĩ “Chị ta tốt thật đấy chứ, Ma-ri-na nhận xét-Nhưng dầu sao thì cũng không nên quá gần gũi như hôm nay. Phải luôn luôn giữ một khoảng cách nhất định“. Trở về nhà, chưa cởi áo vội Y-vôn-na Van-đéc Gráp đi vào phòng khách, cầm máy điện thoại, quay số.
-Mác, anh phải không?
-Vâng, tôi đây-Một giọng nam trầm vang lên trong ống nghe. Đến rồi chứ?
-Đến rồi.
-Thế nào?
-Nói chung, chẳng sao cả.
-Không phát hiện gì đặc biệt hay sao?
-Không. Một phụ nữ bình thường, có vẻ nghèo. Tính tình khiêm tốn và chân thật. Tôi có cảm giác, chúng ta sẽ uổng công vô ích nếu cứ bám lấy đối tượng này.
-Chúng tôi không cần biết cái cảm giác của cô người đàn ông có tên là Mác-càu nhàu-chúng tôi cần theo dõi cô ả này. Và gã lên giọng vẻ mệnh lệnh-Cứ tiếp tục củng cố mối quan hệ đã có và hãy chú ý đến mọi cử chỉ, mọi chi tiết của cô ta.
Y-vôn-na Van-đéc Gráp, điệp viên của cơ quan an ninh Đức tại Bỉ, được tuyển dụng từ những tháng đầu chiếm đóng, buông ổng nghe, nhún vai tỏ vẻ khó hiểu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
the_samsara
Thành viên

Bài viết: 1017
|
 |
« Trả lời #92 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 09:48:37 pm » |
|
Chương ba
1 Tiếng cồng đùng đục vang lên báo hiệu hết hiệp hoà lẫn tiếng hò la, huýt sáo của hàng nghìn khán giả. Trọng tài vũ đài, một người Béc-lin đầu hói đứng tuổi cao gầy đôi mắt tinh nhanh sắc sảo cất tiếng hô đanh gọn “Stốp”. Và đưa tay gạt hai võ sĩ ra. Võ sĩ người Hi Lạp, bước lảo đảo như say rượu, miệng thở dốc, người bóng nhẫy mồ hôi, hai tay đeo găng giơ lên, đi về góc vũ đài, gieo mình xuồng chiếc ghế do huấn luyện viên vừa đặt lên và ngả người dựa lưng vào chiếc gối đệm ở góc vũ đài. Huấn luyện viên cầm miếng bọt biển xốp sẫm nước xoa xoa khắp mặt mũi, lưng cho anh ta, vừa kì cọ vừa nhắc nhở điều gì đó. Chỉ có thể đoán biết được qua thái độ, hình như ông ta tỏ ý không hài lòng về cách đánh vừa qua. I-go Mi-cla-sốp mệt nhoài, há miếng thở dốc như đớp từng ngụm không khí vào lồng ngực nóng ran cũng đi về góc mình, dựa hai tay vào hàng dây trên cùng và liền cảm thấy tấm lưng mát dịu dưới một chiếc khăn tắm lởn, thấm nước vừa được trùm lên. Huấn luyện viên Các Bun-xông nhanh nhẹn lau mặt, ngực, lưng cho anh bằng tấm khăn rất lạnh, miệng không ngừng lắp bắp cả tiếng Đức lẫn tiếng Nga “Gút! Gút! Kơ-ra-sô”. Trận đánh tuy căng thẳng nhưng không diễn ra như ý muốn ban đầu, là thắng nhanh mặc dầu ngay giữa hiệp một Mi-cla-sốp đã có hai cú đấm mạnh và chính xác làm cho đối thủ ngã lăn xuống sàn bạt. Cả hai lần cử tưởng anh ta không dậy được và đành nằm vậy cho đến tiếng đếm cuối cùng nhưng người võ sĩ Hi Lạp chờ đến tiếng đếm gần cuối liền vùng dậy lầm lì lao vào như một con bò tót say đòn. Anh ta lao thẳng vào đối thủ, tay trái dướn lên dài như một cây gậy luôn dứ dứ nhử đòn. Đánh với anh ta không hợp lắm vì cũng thuận tay trái lại rất ranh mãnh. Mãi đến cuối hiệp anh mới tách ra được khỏi thế giáp lá cà, dùng một đòn nhử, giáng mạnh một cú tay phải quật đối thủ ngã xuống đệm bạt, nhưng chỉ nằm đến giây thứ “tám” lại vùng dậy và, bặm miệng lao vào vô sĩ Nga trong tiếng hò reo, huýt sáo cổ vũ của người xem. I-go không tránh kịp đành phải giơ tay lên chống đỡ một loại cú đấm trả liên hồi, đành phải tiếp nhận lối đánh gần bất đắc dĩ rồi cố tim cách lùi ra nhưng đối thủ dầy dạn kinh nghiệm kia cứ bám riết lấy anh, quấn lấy anh thậm chí ngả cả người vào đến nỗi Mi-cla-sốp chỉ còn biết đỡ lấy anh ta như đỡ một bao tải đầy cát cho đến lúc trọng tài phải giãn họ ra thì cũng vừa hết hiệp. -Den gút? Kơ-ra-sô!-Các nhắc đi nhắc lại, tay lau mạnh chiếc khăn mới thấm nước lên ngực anh-Gút, Mi-cla-sốp!-Ông ta lại lắp bắp nói lịu tên anh. Rõ ràng Các Bun-xông hài lòng về trận đánh này mặc dầu nó không hoàn toàn diễn ra như dự tính, là một huấn luyện viên giàu kinh nghiệm, ông hiểu rằng võ sĩ của ông sẽ thắng điểm và như vậy sẽ vào bán kết. Chỉ còn đợi công bố chính thức của các trọng tài và cả hai người, Mi-cla-sốp lẫn huấn luyện viên đều nhìn theo trọng tài vũ đài. Lúc này trọng tài chính đang đứng chờ trên đài, đám khán giả đang sôi nổi bàn tán. Ông rút chiếc lược trong túi áo, chải lại mái tóc thưa điểm bạc và sau đó đi một vòng quanh vũ đài nhận giấy báo điểm của các trọng tài ghi điểm ông ta lướt nhanh các cột điểm và thầm cộng lại mặc dầu trong thâm tâm biết rằng võ sĩ Nga đã thắng cuộc. Cuối cùng ông ta nhoài người qua hàng dây, đưa toàn bộ giấy ghi điểm cho một viên đại tá chủ tịch ban trọng tài. Ngồi cạnh gã đại tá là hai nhân viênn khác một người vận quân phục SS cấp tá với chiếc huân chương chữ thập trên ngực và người thứ hại, bận thường phục. Họ là ai và đại diện cho ai, Mi-cla-sồp không biết được. Anh chỉ được Bun-xông rỉ tai cho biết đấy cũng là một võ sĩ cỡ bự mà Các đã hân hạnh gặp ở Béc-lin. Viên đại tá liếm liếm môi, thong thả xem các phiếu điểm, đưa cho hai người ngồi bên xem rồi hất đầu ra hiệu cho trọng tài vũ đài như hạ lệnh công bố đi. Trọng tài bước nhanh tới cầm cổ tay Mi-cla-sồp, dẫn ra giữa sàn đấu và giơ mạnh lên, miệng mở rộng nụ cười công bố bằng tiếng Đức người chiến thắng nhưng lại nhầm cả họ lẫn tên anh: -Người chiến thắng hôm nay, lính hàng binh lê dương Nga Y-van Mi-ca-la-sa-nốp! Cả gian phòng đáp lại bằng những tràng vỗ tay sôi nổi hoan nghênh người thắng cuộc xứng đáng và quyết định đúng đắn của trọng tài. Bun-xông cũng quay người lại chào cảm ơn khán già rồi khoác lên người Mi-cla-sổp chiếc áo choàng vải bông, lấy khăn lau đôi má vẫn còn toát mồ hôi của anh. Tới phòng gửi áo, Các thân mật cởi găng cho Mi-cla-sốp vất nó lên chiếc bàn gương, đôi găng lăn trên mặt bàn, đến sát tường thì dừng lại được gương phản chiếu trông cứ như tai đôi úp vâo nhau. Mi-cla-sốp ngồi phịch xuổng chiếc ghế đệm tựa lưng vào thành và ngửa hẳn đầu ra sau, há miệng thở, mắt lim dim mệt mỏỉ. Anh chẳng muốn làm gì nữa. Không nhìn, không nói và cũng không muốn cử động. Anh không còn sức lực, thế thôi. Trận đấu với võ sĩ Hy Lạp kéo dài, quá căng thẳng, thắng lợi nhưng không làm cho anh vui mừng, không mang lại cho anh “niềm vuỉ ngọt ngào” như thường thấy ở các người khác. I-go cảm thấy mồ hôi vẫn nhỏ giọt trên má anh. Cổ họng, lưỡi khô đắng. Nếu bây giờ được một cốc nước lã mát thì anh sẽ uống liến mấy cốc cho cổ họng, dạ dày và toàn thân dịu bớt. Nhưng anh biết không được phép uống ngay, sau trận đấu chỉ có thể súc miệng. Thậm chí lúc này anh không còn sức để tới chỗ vòi nước, đành ngồi nguyên trong chiếc ghế mềm còn hơn là phải cử động. Anh lim dim mật thở nhè nhẹ. Đang lim dim với những hồi ức xa xưa, mặc cho trí tưởng tượng đưa anh về Mát-xcơ-va, về với những hình ảnh thân thương khôn nguôi thì tiếng nói bên cạnh đã thức anh dậy: -Này võ sĩ Ý thắng rồi. Như vậy hắn sẽ là đối thủ của anh trong bán kết. Hắn đánh tay phải rất chúa thường lùi chếch sang phải rồi bất ngờ dúng cú móc vào bụng dưới. Cứ ngồi im nghe tôi nói. Đó là cú đấm sở trường của tay người Ý đấy. Bên tai anh là tiếng rì rầm của Các mà anh tưởng như lời dặn dò chậm rãi của A-na-tô-li Hen-ri-khô-vích Dôm-béc-huấn luyện viên, người bạn, người đồng chí chiến đấu Lê-nin-grát của anh. Anh nhìn huấn luyện viên và thầm nghĩ, dù sao cũng phải chấp nhận cái thực tế phũ phàng, phải đóng vai diễn, nhưng không phải để biểu diễn trên sân khấu như mẹ anh thời trẻ, mà là trong cuộc sống, không có tiếng động không có ánh sáng, không có những bộ quân áo và tóc giả, không có cả những câu kịch bản đã được học thuộc lòng. Bun-xông vẫn đang say sưa nói về thủ thuật đấm của đối thủ nay mai, giảng giải cho anh cách tránh và phản công lại. Thậm chí ông ta còn cởi cả áo véc-tông, chỉ mặc bộ quần áo thể thao và đến trước gương trình bày động tác mẫu cho anh xem. Chẳng còn cách nào khác, Mi-cla-sốp đành phải xem ông ta vừa nói vừa xoay người tiến lủi, tránh đánh trả với chính bóng mình trong gương. Ông làm lại lần nữa thật chậm: Anh mỉm cười, thấy chẳng có gì mới. Một động tác quen thuộc anh đã nghiên cứu và tập kỹ hồi ở trường thể thao Mát-cơ-va, từ trước chiến tranh, miếng đòn chiến thuật này anh còn giữ kín nó có thể sẽ là mối nguy hiểm cho ai gặp phải nó. Anh nhớ đến trận đấu cuối cùng ở Lê-nin-grát, trước ngày nổ ra chiến tranh Y-van Da-pô-rô-giơ-xki; vô địch hạm đội Ban-tích cũng sử dụng khá thành thạo cú đánh hiếm này. Ôi, lâu quá rồi Mi-cla-sốp buồn rầu nhớ lại. Thật không thể tin được mới ngày nào đó thế mà như trong chuyện cổ tích vậy, thời gian ấy còn đâu nữa Mi-cla-sốp còn nhớ rõ, anh đã tiếp nhận phát hiện ra lối đánh này nhưng mãi đến hiệp ba của trận đấu anh mới tìm được cách trả lại miếng đòn móc bụng ấy. Có lẽ mai đây đối thủ người Ý cũng sẽ đánh như vậy, hay là gần như vậy chăng? Nhưng đó là quá khứ. Còn giờ đây phải sống với thực tại. Mai kia là vòng bán kết, sẽ là đối thủ mạnh. Lúc đầu là ở Lai-xíc. Đây gần như là cuộc đấu giành vô địch châu Âu. Bọn Đức đã đưa về đây tất cả những võ sĩ nổi danh của châu Âu để dự giải. Rõ ràng là, bị thất bại nặng nề ở mặt trận phía đông, bị đẩy vào thế rút lui chiến lược nên bọn Hít-le muốn đánh lừa, muốn làm lãng quên dư luận bằng những cuộc thi đấu thể thao "cưỡng bức" được tuyên truyền rùm beng này. Báo chí viết khá hấp dẫn, đài phát thanh nước Đức đưa tin khá thường xuyên. Nhưng chúng biết là không đánh lừa được mấy ai. Cả nước Đức hầu như đang lặng đi vì thất bại trên chiến trường nước Nga và chờ đợi cái giá phả trả món nợ máu từ phía đông dội tới.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
the_samsara
Thành viên

Bài viết: 1017
|
 |
« Trả lời #93 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 09:50:18 pm » |
|
2.
Li-đa Mi-cla-sô-va ngồi cạnh chiếc giường trẻ con và khóc nức nở, hai tay ôm gối. Chị khóc trong cảnh thất vọng và bất lực. Chị không biết làm gì hơn để cứu chữa cho con trai thân thương của mình. An-đriu-sa đang sốt mê man, người nóng hầm hập. Chú cứ hất chăn đi, miệng lảm nhảm nói mê đòi uống nước liên hồi.
Ngay từ tối, khi rảo bước trên đường phố phủ một lớp tuyết mỏng, chị đã linh cảm thấy điều gì đó. Chị về muộn cố nhấc đôi chân mỏi nhừ để được gặp con. Gió lạnh phả vào người, buốt như gai chích. Sau bữa trưa tưởng được nghỉ nhưng ông quản đốc yêu cầu chị em ở lại có việc "đột xuất, khẩn cấp". Mà quả vậy, có mấy đoàn tàu cùng đến, rất nhiều toa do vậy đội bốc xếp chuyên nghiệp không thể nào đảm đương nổi việc chuyển một núi hòm đạn nặng lên các toa... Lạnh dưới hai mươi độ, lại còn gió mạnh nữa... Vừa mở cổng, Li-đa đã thốt lên sợ hãi. Trên bậc thềm nơi cánh cửa đang đóng chặt, chú bé An-đriu-sa của chị đứng im lìm, lạnh ngắt. Chị vội lao vào ôm chầm lấy con.
-Sao lại thế này ? Sao lại đứng đây, con ? Sao không ở chỗ bà Ca-chi-a ?
-Con trốn. Co-on Trô-ốn and run cầm cập, lưỡi líu lại ôm chặt lấy mẹ, vừa thở vừa nói-Co-on trốn mà…
Bà Ca-chi-a, bà láng giềng tốt bụng, hiền lành gầy như cây sào ở cách vài ba nhà, mới nhận được giấy báo tử của anh Ni-cô-lai con trai duy nhất của bà hy sinh ở mặt trận. Chị con dâu được bà Mác-pha nhận vào đội bốc xếp của nhà máy. Còn bà vẫn ở nhà, trông mấy đứa cháu nội, hai đứa lớn đã đi học, đứa thứ ba lớn hơn An-đriu-sa một chút. Li-đa thường nhờ bà trông nom hộ An-đriu-sa cho tiện và thằng bé cũng vui hơn. Thế mà hôm nay lại đến nông nỗi này…
-Ai cho phép con trốn, hả ?-Bế co vào phòng, Li-đa vừa cởi áo măng tô, vừa bỏ mũ ra cho nó-Nói đi, sao lại im lặng?
-Con với nó cãi nhau...
-Thế có đánh nhau không?-người mẹ nhìn vào mắt con hỏi.
-Có đánh chút ít thôi, thằng bé đáp, vẫn tỉnh khô.
-Ôi thật khổ thân tôi.-Chị rên lên , thở dài, vừa nói vừa xoa xoa đầu vào tay, vào má con cho ấm lên.
-Nó làm gãy cái bút chì của con, An-đriu-sa cãi lại cái bút chì xanh đỏ mẹ cho ấy mà...
Vừa cởi quần áo cho con, vừa nghe nó lý lẽ, Li-đa định đi nhóm bếp, hâm lại thức ăn, nướng bánh mì để ăn tối, chị đã đói cồn cào rồi và lại còn bao nhiêu việc nữa. Giặt giũ quần áo cho con, chuẩn bị bữa mai… Khi cởi quần cho thằng bé chị thấy quần ướt sũng đến tận dây rút, thấm vào cả phần dưới áo may-ô.
-Sao lại ướt thế này? Chơi trượt tuyết ngoài trời hả?
-Không phải đâu mẹ ạ. Chúng con chơi đắp núi đấy.
Chị hiểu ngay thế nào là “chơi đắp núi” của lũ trẻ. Cũng là một thứ trò chơi ngoài tuyết lạnh.
-Thế xe trượt đâu, không mang về à?
-Con cãi nhau với anh Va-xca. Con không muốn về nhà anh ấy nữa nên… phân trần
-Cái gì cũng làm hỏng hết, quần rách và ướt thế này? Làm sao mẹ có thể mua cho con mãi được, hả?
-Không cần mẹ nữa, bố sẽ gửi từ mặt trận về cho con. An-đriu-sa đáp giọng nghiêm trang.
-Con nhớ bố lắm hả ? Li-đa khẽ hỏi lòng nhẹ nhõm, sẵn sàng tha thứ cho con tất cả.
-Con nhớ, lúc nào cũng nhớ đến bố đấy...
Li-đa ôm chầm lấy con, ghì vào lòng, lặng đi. Bao giờ bố mẹ, vợ chồng mới được gặp nhau ? Họng chị khô đắng hai dòng nước mắt từ từ lăn trên má. Chỉ cần một lá thư hay chỉ một vài lời nhắn nhủ để biết tin tức về anh ấy thôi cũng đủ an ủi rồi. Nhng vẫn biệt vô âm tín. Đã hơn một năm trôi qua kể từ cái ngày người đai uý vui tính đó đến thăm và trao quà, hàng quý người ta vẫn tiếp tục gửi thực phẩm và một ít tiền đến cho chị.
Như vậy là anh ấy vẫn sống. Có lẽ anh ấy đang chiến đấu ở đâu đó trong vùng du kích, vùng hậu phương quân thù. Còn mình thì héo hon, lo lắng vì mù mịt tin tức. Anh thân yêu, anh thương nhớ, giờ đây anh ở đâu? Anh đang làm gì? Thật vất vả cho em khi không có anh bên cạnh. Anh có biết em sống khó khăn và buồn nhớ, lo lắng ra sao không ? Mặc dầu quanh em là những con người tốt bụng, những đồng chí thân yêu vùng U-ran hết lòng hết sức chăm sóc mẹ con em. Biết đến bao giờ mới diệt hết được loài rắn độc, đuổi hết chúng đi để mẹ con em được trở về nhà, về thủ đô quê hương, thành phố mẹ hiền của chúng ta. Biết đến bao giờ...
Củi ướt không chịu cháy cứ bốc khói xèo xèo cay cả mắt. Li-đa càng thổi khói càng nhiều, mắt mũi giàn giụa nước mắt. Chị phải nhóm lò để hong quần áo ướt cho An-đriu-sa, hâm thức ăn và nấu nước... Chị nhìn đồng hồ. Và ngoái nhìn An-đriu-sa. Sao nó ngồi bất động thế kia. Chị giật mình. Nó đang ngồi trên ghế xoay lưng lại với bếp lò. Bỗng nó thều thào nói:
-Mẹ, đắp áo cho con, con rét lắm ! Rét quá...
Li-đa nhìn con, lạnh cả người! Thằng bé xỉu xuống run lên bần bật, chị hầu như cũng run theo. Chị không còn sức lực để chịu đựng thêm nữa. Biết làm sao đây?
-Mẹ ơi, con lạnh lắm... lạnh lắm...-thằng bé mấp máy môi!
Li-đa vội áp tay lên trán con. Trán nóng rực. Chị vội đo nhiệt kế một phút sau rút ra và không còn tin ở mắt mình nữa-ba chín độ rưỡi.
-Tôi đã biết mà. Tôi đã biết mà,-chị nói như rên, vội vã chạy đến chiếc tủ con, mở ngăn kéo lục tìm hộp thuốc.
Đút vội viên thuốc đắng vào miệng con, rồi cho nó uống ngụm nước nóng. Chị bế nó lên giường, đắp kín chăn lại.
-Con nằm ngủ đi. Nhắm mắt lại ngủ đi, con bé bỏng của mẹ. Sáng mai con sẽ khỏi thôi.
Nhưng đến nửa đêm bệnh tình có vẻ nặng hơn. An-đriu-sa mê sảng, vật vã. Còn Li-đa thì chả biết xoay xở ra sao nữa. Chị cảm thấy bất lực. Không biết làm gì hơn, chị lại nhét thêm thuốc vào miệng nó nhưng nó lại nôn ra. Chị đành ôm con ngồi khóc nức nở. Lúc đầu còn khóc thầm nhưng về sau càng khóc to hơn và cuối cùng, dường như không chịu nổi, chị gào lên: "Trời ơi, biết bao giờ mới chấm dứt được nỗi khổ này... Bao giờ"...
3.
Bà Mác-pha mãi quá nửa đêm mới đi làm về. Họ đã xếp đầy các toa tàu những hòm đạn nặng nề, những món quà dành cho lũ phát xít. Sau đó chạy ù khoảng một tiếng đồng hồ tới thăm cậu con trai thứ hai Phê-đô vừa cưới vợ và ở rể luôn tại nhà cô An-tô-ni-na. Mẹ cô bị ốm nặng sau khi được tin chồng hy sinh, anh cô bị mất tích hơn nửa năm nay chưa có tin tức gì, do đó bà mẹ vợ đã khẩn khoản xin cho Phê-đô được về "ở rể" để chăm nom nhà cửa. Nhưng thực ra anh cũng chẳng có lúc nào rỗi rãi để về nhà nữa. Suốt mấy ngày liền ăn ngủ luôn trong nhà máy. Anh làm ở phân xưởng lắp ráp, trưởng ca đường dây chuyển chính lắp xe tăng. Sau khi cưới, anh đề nghị An-tô-ni-na tách khỏi đội bốc xếp của mẹ và sang làm ở dây chuyền của mình. Từ đấy hai người làm việc bên nhau. Vài ngày một lần, sau giờ làm việc bà Mác-pha tranh thủ chạy đến nhà bà thông gian, xem bà ta có cần gì không, có khi nấu ăn luôn ở đấy cho tiện. Và hôm nay cũng thế nên bà về muộn.
-Chuyện gì mà ầm ĩ như hoà nhạc thế này ?-Bà vừa hỏi, vừa cởi khăn trùm đầu.
Li-đa vẫn không nguôi. Chị bước đến, nức nở gục đầu vào ngực bà chủ nhà mà từ lâu chị đã coi như mẹ mình, chiếc áo khoác lạnh giá của bà vẫn thoang thoảng mùi dầu máy.
Bà Mác-pha ôm đầu chị, tay xoa xoa mái tóc, vỗ về :
-Thôi nín đi... nín đi... Rồi đâu sẽ vào đấy, con ạ...
Nhưng ngay sau đấy tựa như nỗi lo lắng của Li-đa cũng lây sang bà. Bà chợt hiểu và cảm thấy có điều chẳng lành. Bà tròn mắt, nâng đầu Li-đa dậy, nhìn thẳng vào vô, lo lắng, thì thào hỏi :
-Nhận được tin chăng?... Chả lẽ... lại cái giấy trời đánh ấy... sao. Li-đa lắc đàu nhưng vẫn nức nở. Bà Mác-pha nhẹ hẳn trong lòng. "Chồng nó vẫn sống". Bà thoáng nghĩ. Bà vẫn ấp mặt Li-đa trong đôi bàn tay chai sạn của mình.
-Vậy sao cô lại nức nở như vậy, chỉ làm khổ thân mình ?-Li-đa im lặng chỉ giường đứa con mê man, ú ớ.
-Cháu An-đriu-sa. Người sốt như bị quay ấy...
-Thế sao cô không bảo ngay,-bà quát lên, giọng quở trách, và bỏ Li-đa ra.-Cứ ngồi đấy mà nức nở. Có im ngay đi không nào, tôi nói có nghe không ?
-Bác sĩ, phải mời bác sĩ ngay, bác ạ...
-Không cần, tôi biết cách rồi,-bà Mác-pha bình tĩnh nói.
Bà đến bên gường, áp má mình vào sát má An-đriu-sa nghe ngóng trong lúc Li-đa lo lắng nhìn bà, chờ đợi.
-Hơi thở khò khè rồi đấy, nó bị cảm lạnh nặng rồi-bà nói giọng chắc nịch.-Phải giải cảm cho nó ngay, nhưng chẳng cần bác sĩ đâu.
Bà với lấy ngọn đèn dầu hoả, cầm vào buồng. Bà mở tủ lục tung đống quần áo lên rồi lấy một gói tay nải ra. Bà mở gói, lôi ra đủ các thứ lạ, rễ cây hạt khô gì đó. Bà lục tìm một hộp thuốc cần thiết, vừa lục vừa càu nhàu:
-Đây rồi, cứ tưởng là mất. Bà quay sang Li-đa :-Sao cô đứng như phỗng thế. Lấy cho tôi cái đĩa. Thôi, không cần. Cái đĩa con cũng được rồi. Một mùi thuốc lá toả thơm khắp phòng. Cả mùi dầu long não, mùi khuynh diệp. Bà Mác-pha lật An-đriu-sa dậy, xoa mạnh thuốc vào lưng, xoa bóp chân tay, ngực, bụng, cổ cho cậu bé vừa dỗ dành:
-Chịu khó một tý cháu yêu của bà. Khỏi ngay bây giờ đây mà. Bà sẽ đuổi con bệnh đi cho cháu.
Bà vừa làm vừa thở rồi im lặng. Bà thay áo trong cho nó, đắp lại chăn và vỗ vỗ ru nó ngủ. An-đriu-sa nằm im. Một lát sau nó đã ngy đều đều.
-Nó ngủ rồi đấy. Đến sáng là qua cơn sốt thôi. Cứ ngủ được là nhẹ ngay. Thằng Phê-đô nhà tôi cũng bị một trận thế này đấy. Cái giống thuốc vườn trị bệnh này nhanh đáo để. Hiệu nghiệm lắm. Tôi cũng phải xoa bóp chân, tay, ngực cho nó. Người ta gọi là đánh gió mà. Thằng An-đriu-sa của cô cũng vậy thôi, nó khoẻ lắm chẳng sao đâu. Nó sẽ thắng con trai U-ran được đấy. Mai lại chạy như con cún con cho mà xem. Bà nói như nói với chính mình, mệt mỏi dựa lưng vào thành bếp lò, Li-đa cầm đĩa bã thuốc định đi ra ngoài ngước mắt hỏi bà:
-Cái bã này đổ đi đâu hả bà?
-Ôi, Li-đô-ca. Lưng tôi mỏi nhừ rồi đây này, không thở được nữa ?-Bà Mác-pha nói, giọng có vẻ ngượng ngập:-Đừng đổ đi vội, cô giúp xoa bóp cái lưng hộ tôi. Kẻo mai lại không đi làm được.
-Được thôi, được thôi. Bà để cháu bóp cho,-Li-đa vui mừng vội nói, mắt ánh lên vẻ biết ơn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
the_samsara
Thành viên

Bài viết: 1017
|
 |
« Trả lời #94 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 09:54:48 pm » |
|
Chương bốn 1. Thành phố Pli-út đã ở sau lưng họ. Từ đó đến Xtru-ghi Đỏ, theo đường chim bay còn chưa đến ba chục ki-lô-mét. Nhưng Gri-gô-ri Cun-ga không dược cái may mắn tấn công vào thành phố này. Anh được điều sang mũi tấn công bên phải thành phố, lợi dụng đường xuyên làng, đường lót gỗ vòng qua các đầm lầy thẳng tiến đến vùng Pơ-xcốp. Tiểu đoàn tăng của Cun-ga đang là mũi thọc sâu của các đơn vị phản công. Họ phải thi hành mệnh lệnh hết sức rõ ràng của bộ chỉ huy: không được lao vào những trận đánh kéo dài, phải hết sức tránh đụng độ lớn, len lỏi qua các vùng hổng của quân địch, chọc sâu vào hâu phương chúng bằng các trận đánh trinh sát. Họ được các đơn vị du kích giúp đỡ tích cực. Các đơn vị này cử những người dẫn đường giàu kinh nghiệm, bí mật luồn tránh những khu vực nguy hiểm, tiến sâu vào lòng địch. Trời rất rét. Khi thì băng giá, lúc thì mưa tuyết rồi đột nhiên lại hửng nắng, trở ấm, tuyết tan, băng rữa ra mỏng dần mất cả độ rắn cần thiết và những chiếc tăng của họ hầu như là bò trong đống nước tuyết lẫn với bùn. Hậu phương xa dần, việc tiếp tế nhiên liệu cho xe rất thất thường. Đó là tình hình hiện tại. Toàn tiểu đoàn ém quân trong rừng. Những hàng thông cổ thụ xanh rờn, cao vút vươn thẳng lên bầu trời tạo thành một chiếc tán khổng lồ kín đáo. Khu nhà gỗ nhỏ của người gác rừng đơn độc đứng giữa một bãi đất vuông vắn, nấp dưới một cây thông cổ thụ, thân mập ngọn cao và những cành thấp nhất xoà tới tận cửa sổ lắp kính. Chiến tranh tuy ở xa nhưng những đơn vị tuần tiễu Đức có lúc cũng xộc tới tận đây, đập vỡ những cửa kính, đồ đạc bị xáo trộn, những cành thông bịo bẻ gãy ngổn ngang. Mấy chiến sĩ xe tăng bước vào ngôi nhà gỗ xem xét, họ bỏ mũ ra và lặng lẽ kéo nhau trở về xe. Va-li-a gục đầu vào vai Cun-ga miệng cắn chặt đôi tất tay. Những ngày ở mặt trận cô đã thấy đủ thứ chết chóc và phá huỷ, máu và nước mắt. Những xác chết còn nguyên vẹn và cả những mảnh thân thể bị bom đạn xé nát. Có thể nói, cô đã trải qua tất cả... Nhưng hôm nay, trong ngôi nhà gỗ nhỏ nhắn này, họ đã gặp một cảnh tượng thật tàn bạo. Trong góc nhà, cạnh cửa sổ kê đơn độc chiếc bàn con, trên một cây thông năm mới, xung quanh cành treo mấy thứ đồ chơi cắt bằng giấy. Thay cho ông già tuyết là một con búp bê nhỏ có dán thêm bộ râu giả. Mảng tường sau cây thông nhỏ có dán thêm bộ râu giả. Mảng tường sau cây thông nhỏ còn in rõ vết đạn tiểu liên. Vết đạn bắn cả vào tấm ảnh gia đình đã vàng úa treo trên tường. Dưới nền nhà, nằm vương vãi mấy con búp bê độn bằng vải đã bị vết ủng giày xéo bẹp dúm, bát đĩa vỡ, chiếc ghế đẩu nằm chổng chơ cùng những chiếc gối bông thủng lỗ chỗ. Cạnh bếp lò, còn vương vệt máu, xác một người đàn bà đứng tuổi, tóc đã điểm bạc nằm nghiêng, hai tay còn cố ôm lấy một trẻ em đã cứng tựa như trước khi chết bà còn cố lấy thân mình che chở cho em bé tội nghiệp, đôi chân nhỏ xíu đi tất len dày. Cũng ngay trên sàn cạnh bà lăn lóc một cuộn len đan dở. Đầu bà quấn chiếc khăn màu, vải lanh, nhuộm đỏ máu đã khô cứng. Rõ ràng, bà đã bị đánh chết bằng súng. Em bé trai gầy còm, bé bỏng đang vươn đôi tay bé nhỏ ôm chặt lấy người đàn bà, đôi mắt trừng trừng mở to và cái miệng xinh xinh méo xệch đi trong nỗi sợ kinh hoàng, bất động. Chiếc lưng nhỏ gầy trên đó mỏng manh một chiếc sơ mi thấm máu. Mất vết đạn chạy thành một đường dài, dọc ngang hình chữ thập. -Gri-sa, sao lại thế này được?-Ga-li-a mấp máy đôi môi trắng bệch vì xúc động, khẽ hỏi. -Có lẽ chúng đi tìm du kích. -Bọn khủng bố,-trung sĩ I-li-a Xê-ti-lin, tổ trưởng tháp pháo nghiến răng nói.-Công việc của chúng là như vậy. Bọn rắn độc! Anh đứng sau lưng Cun-ga, áo ngoài mở phanh ra, chiếc mũ lật sau gáy để lộ rõ mái tóc vàng sáng như rơm. Còn U-tắc mặt trắng bệch như xoa phấn, đứng im lặng cúi đầu tay vò nhàu chiếc mũ. Một dòng nước mắt còn đọng lại trên khuôn mặt gầy gầy của anh. -Nó chỉ bé bằng em gái tôi, em Ma-ri-a... Em gái út tôi, nó cũng không còn nữa... Anh đưa tay giụi đôi mắt đỏ quạch thở dài đau xót. Xê-tilin cởi chiếc tai nghe nhạc khỏi đầu, nắm chặt tay U-tắc, hỏi nhỏ, giọng trầm hẳn đi : -Em cậu... cũng bị bọn Đức tiết? -Cũng chính bọn ấy... Khi chúng ném bom thành phố... Bom rơi trúng giữa nhà... Không còn một tý gì... Cả mẹ và em mình bị tan xác... Thậm chí không còn một mảnh xác để chôn nữa... Các chiến sĩ xe tăng âm thầm, đau xót nhìn hai cái xác nằm cứng đơ trên nền nhà, nhìn cây thông năm mới trên bàn, nhìn những mảnh đồ chơi xếp bằng giấy và bức ảnh nhuộm vàng thuốc súng. Xê-ti-lin đưa mắt tìm chiếc xẻng, U-tắc cũng tháo chiếc xẻng nhỏ cán đeo bên mình. Cun-ga cúi xuống nhặt chiếc xẻng trong gầm xe nhưng mấy chiến sĩ xe tăng liền giằng lấy: -Đồng chí thiếu uý, để chúng tôi... Đất rắn nên khó đào. Họ đào một lỗ huyệt không sâu lắm rồi đặt xác người đàn bà và em bé vào hố, đầu quay về hướng đông. Min-ga-se-va khẽ phủ lên mặt họ tấm áo trẻ em và các chiến sĩ tăng nhẹ nhàng, thận trọng phủ lên thân hình họ những xẻng đất lạnh cứng, như sợ làm xây xát hai thân thể đã giá lạnh. Một chiếc mộ đơn sơ được lấp kín lên thi hài. Cả nhóm chiến sĩ, bỏ mũ đứng im lặng trước nấm mộ hai con người bất hạnh. Xa xa phía sau ừng thông cổ thụ, mặt trời tháng Hai mờ đục từ từ lặn xuống phía chân trời, một vệt bóng tím sẫm của mấy ngọn thông cao toả ra, kéo dài trên nền tuyết trắng. Có tiếng chim gõ kiến trên cây, tiếng gõ vang rõ trong khu rừng im ắng lúc chiều tà. Một đàn chim vành khuyên ríu rít bay sà trên khu rừng, đậu rải rác trên các ngọn cây. Nhưng chỉ một phút sau, như sợ hãi điều gì, đàn chim lại rào lên chiêm chiếp, cất cánh bay vù. Bỗng trên trời cao rì rầm vang lên tiếng động cơ máy bay. Họ ngước đầu nhìn theo hai chiếc phóng pháo, dang đôi cánh rộng in hình những chiếc sao đỏ đang bay song hàng về phía tây. Chúng bay về phía mặt trời lặn. 2. Từ chỗ rẽ trên con đường ven làng, xuất hiện một chiếc xe vận tải và tiếp theo nó, chiếc xe thứ hai. Họ nhận ra chúng ngay. Hai chiếc nối đuôi nhau, vừa rú ga vừa trườn lên, tuy trông đã xác xơ cũ kỹ nhưng vẫn rõ hình là mấy chiếc xe “pho“ chở đạn dược. Sau chúng lại xuất hiện thêm hai chiếc “Xtum-de-béc-ke“ còn mới nguyên, sơn màu loang lổ. Những chiếc xe Đức chiến lợi phẩm. Trên thùng xe trông rõ những phuy xăng xếp thành hàng bên nhau. -Xe chúng ta đã đến! Các chiến sĩ xe tăng vui hẳn lên. Lập tức thành xe phía sau được mở ra, mọi người xúm lại, kê hai tấm gỗ dài và thận trọng lăn từng thùng xăng xuống. Còn hai chiếc “pho“ vẫn chồm chồm lắc lư trên con đường đất hằn vết xích, đến bên từng chiếc tăng và lần lượt dừng lại để chuyển đạn. Các chiến sĩ xe tăng nhanh nhẹn háo hức bê những hòm đạn pháo, đạn súng máy và tiểu liên về xe. Nhận xong phần của xe mình, Gri-gô-ri Cun-ga còn nhảy lên bên ca-bin, thò đầu vào buồng lái, huýt một tiếng dài chào xởi lởi. Đạn dược được cung cấp đúng tiêu chuẩn quy định nhưng anh có vẻ chưa thoả mãn lắm. Anh nháy mắt với người lái xe và cũng là người cung ứng: -Anh bạn, thêm cho chút ít nữa nhé? -Mình tiếc làm gì, hả đồng chí thiếu uý? Nhưng mình chỉ được phép phân phát đúng quy định thôi, đòi thêm làm gì cho nặng xe!-Anh ta nói, giọng tỉnh khô. Anh đã quen với những đề nghị “linh động“ tương tự, nhưng khi nhìn thấy trên cầu vai Cun-ga chiếc quân hàm sĩ quan, giọng anh ta có vẻ “kính nể“ hơn. -Thôi mà, anh bạn đồng hương, thêm cho anh em mình một hòm nữa! -Tôi lấy đâu ra, đồng chí thiếu uý? Tôi không có quyền phát thừa cho bất cứ xe nào cả, đồng chí thông cảm-Chỗ đô nữa mà đòi hỏi thêm cho nặng. -Nặng hay nhje không phải là việc của cậu. Cứ cho, chúng mình sẽ có chỗ xếp,-và anh nhấn thêm giọng có vẻ quan trọng đầy ý nghĩa:-Thêm riêg cho mình thôi, anh bạn đồng hương. Bọn mình còn phải tới tận quê hương U-cra-in mà. Thật ra, cả người cung ứng đạn và cả Cun-ga đều biết rằng đơn vị của họ không phải tiến về U-cra-in mà tiến về phía thành phố Pơ-xcốp cổ kính của nước Nga và từ đấy có thể họ sẽ tới thẳng vùng Ban-tích. Nhưng cả hai cùng đều hiểu rõ rằng, ở đây họ giành được thắng lợi nhanh chóng bao nhiêu thì sẽ tạo điều kiện cho các đơn vị bạn tiến về U-cra-in nhanh chóng và thuận lợi bấy nhiêu. -Này, Gri-gô-ri, cậu thì bao giờ cũng vậy, chỉ muốn giành phần hơn cho mình thôi. Nhiên liệu cũng đòi hơn, đạn cũng đòi hơn. Nhưng lòng dạ mình cũng không phải là kẻ keo kiệt, mặc dầu mình biết cậu cũng vì sự nghiệp chung cả thôi,-anh lái xe nói và kết thúc lời giải thích ngắn gọn của mình với giọng kẻ có quyền:-Thôi linh động cho cậu vậy. Này, Gri-sa quàng lên, Bê lấy một hòm nữa. -Cảm ơn, người anh em. Thế mới gọi là đồng hương chứ! Cun-ga vừa lắp bắp cảm ơn vừa lẹ làng bê hòm đạn nặng trao cho Xê-ti-lin: -Cất đi, nhanh lên! 3. Nhịp độ cuộc tấn công được đẩy mạnh! Sau khi chọc thủng tuyến phòng thủ của địch, thọc sâu một mũi vào trung tâm, các đơn vị chúng ta tiếp tục tiến sâu hơn và mở rộng sang hai cánh, tiến thẳng về hướng Pơ-xcốp vừa tiến vừa đánh trả lại sự chống cự điên cuồng của quân Đức. Tiểu đoàn tăng của Sa-ghin, vượt qua các tuyến chống đỡ của Đức, ngày càng tiến sâu vào hậu phương chúng. Các chiến sĩ du kích thông thạo địa hình đã dẫn đường cho các chiến sĩ xe tăng đánh vào những chỗ bất ngờ nhất của địch. ... Rạng đông hôm ấy, chiếc tăng của Cun-ga bất ngờ thọc vào một khu làng bị chiếm. Làng được bao bọc bởi một dãy hào phòng thủ theo hình vòng cung ở phía bắc, với các công sự bê tông, gỗ tròn ốp đất dày. Quân Đức, rõ ràng là không hề ngờ rằng quân Nga có thể xuất hiện ở đay, và nhất là lại từ hướng nam đánh lên, hay nói một các khác, từ vùng hậu phương của chúng, nơi đặt chỉ huy sở của bộ tham mưu quân đoàn và cả bộ tham mưu cụm tập đoàn quân “Nord“ (1-Phương Bắc-tiếng Đức). Mới chiều qua thôi, bọn Hít-le vẫn cảm thấy mình là người chủ thực sự ở vùng Xa-pen-ca này. Bọn sĩ quan các đơn vị đồn trú ở đây ồn ào kỷ niệm ngày sinh của tên chỉ huy cao nhất của chúng vì trước đây một ngày gã đã được tên tướng tư lệnh tập đoàn quân tự tay gắn chiếc huân chương Chữ thập sắt về chiến tích “tiễu trừ bọn phỉ, du kích“ như nguyên văn mệnh lệnh ghi rõ. Nhưng thật ra, chiến tích đó là kết quả của những vụ thảm sát đối với dân lành, không vũ khí, phần lớn họ là người già, phụ nữ và trẻ em. Tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn đồn trú, hai mươi lăm tuổi là một kẻ giết người không phải thụ động theo mệnh lệnh của cấp trên, mà là một kẻ hành động có ý thức. Hắn hành động có suy nghĩ, có kế hoạch và chính những dòng nhật ký của nó đã nói rõ hắn muốn “làm trong sạch mặt đất này bằng cách tiễu trừ hết những người mang dòng máu Xla-va và Do Thái, để bảo đảm thắng lợi hoàn toàn và tuyệt đối cho những người mang trong mình dòng máu vĩ đại của đế chế Đức“. Nhưng hắn không thể giữ được mãi chiến thắng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
the_samsara
Thành viên

Bài viết: 1017
|
 |
« Trả lời #95 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 09:55:55 pm » |
|
Các chiến sĩ du kích, những người mà hắn gọi là thổ phỉ đã trở về Xa-pen-ca cùng với các chiến sĩ xe tăng anh dũng. Lựu đạn ném tới tấp qua cửa sổ những căn nhà bọn Hít-le chiếm giữ. Bọn sống sót nhảy bổ ra, hai tay giơ thẳng đôi mắt bàng hoàng trắng dã, bộ mặt méo xệch vì kinh hoàng. Lựu đạn bay cả vào buồng viên thiếu tá. Hắn không nghe rõ tiếng kính vỡ nhưng tiếng nổ bất thần đã dựng hắn dậy và nhảy vọt ra khỏi giường. Hắn thoát chết nhờ có thân cây bạch dương che chở. Quả lựu đạn rơi ngay dưới cây tựa như một chiếc mộc che đỡ cho hắn, tự hấng lấy những mảnh đạn nham nhở. Người anh hùng của nước Đức chết lặng trong chốc lát và chợt tỉnh dậy vì một tràng đạn cắm phập xuống mặt đường ngay cạnh hắn, rít lên trong tiếng gió tuyết rét buốt. Hắn liền co đôi chân trần, mặc quần đùi chạy thục mạng quên cả đôi giày lông ấm áp, quên cả chiếc huân chuương vừa mới nhận và cả khẩu súng lục luôn đeo bên người. Nhưng hắn không chạy xa hơn được. Phút đền tội đã đến, một tràng tiểu liên đã quét theo, hắn sững lại, đổ ập xuống mặt đất đóng băng, hai tay dang rộng chới với...
Trong cơn cuồng phong của cuộc tấn công, không ai để ý đến tên Đức mặc quần đùi áo lót, bi giết chết bởi những viên đạn căm thù của những người du kích. Và cũng không phải chỉ có mình hắn bị chết vì những viên đạn nóng bỏng căm thù ấy... Những tên may mắn sống sót, đầu cúi gằm run lẩy bẩy trong gió rét và sợ hãi, hai tay giơ cao, đứng quay mặt vào các bức tường nhà.
Một vài tên còn kịp cầm chiếc gậy, phất phơ mảnh áo trắng giơ lên.
Mọi việc diễn ra thật nhanh chóng, bất ngờ. Trận tập kích ngừng đột ngột như lúc bắt đầu. Trong không gian im lặng của làng Xa-pen-ca chỉ còn nghe thấy tiếng hô, tiếng rên đau đớn của lính Đức bị thương xen lẫn tiếng máy nổ rì rầm. Một lúc sau bỗng nghe vọng lại tiếng reo, tiếng khóc thổn thức, tiếng nói nghẹn ngào trong nước mắt, tiếng hò reo vui sướng của những người được giải phóng...
-Quân ta! Quân ta đã về !...
Nhanh nhất vẫn là đám trẻ con. Chúng hò reo chạy xốc tới, leo ào lên xe tăng, giúp các chú bộ đội thu dọn súng đạn, len lỏi giữa những người du kích. Các cô gái và phụ nữ vừa thoát khỏi cuộc cưỡng bức sang Dức, giàn giụa nước mắt ôm hôn các chiến sĩ. Một bà già đầu bạc trắng trong bộ quần áo tồi tàn vá víu, đứng lặng trong góc nhà; một tay chống vào tường, một tay run run làm dấu thánh, miệng lẩm bẩm cầu kinh, để lộ đôi hàm móm mém đã rụng hết răng.
Bọn tù binh bị dẫn ra bãi đất trước trụ sở ban quản trị nông trường. Chúng đi thất thểu thành từng tốp hoặc đi lẻ từng đứa một. Trên khoảng đất nổi bật lên một chiếc xà ngang dài, lủng lẳng năm xác người bị treo cổ. Một ông già gầy gò với bộ râu tuyết phủ trắng toát, hai người đàn ông đẫy đà mặc quần áo công nhân đường sắt còn vương đầy vết dầu mỡ, một phụ nữ trẻ, ngực nở căng và một cậu bé độ mười ba tuổi, đầu tóc rối bù. Tất cả đều đi chân đất, thân hình đầy những vết lưỡi lê và mặt còn thâm tím máu. Người phụ nữ hầu như bị lột trần, trên thân hình chị còn hằn rõ những vết đánh tím bầm, vú trái bị những vết đâm khá sâu. Trước ngực mỗi người đều treo một tấm biển con với hàng chữ đen “Du kích“. Ông già và chú bé là người làng này, còn cô gái và hai người đàn ông không rõ người ở đâu. Nghe nói họ là trinh sát từ khu Lê-nin-grát bị bao vây tới đây.
Bọn tù binh cúi gầm mặt đi ngang qua những người bị treo cổ, không dám nhìn họ, dúm lại với nhau tựa như để tăng thêm hơi ấm cho nhau.
Đại uý Sa-ghin trải tấm bản đồ ngay trên xe, vừa đưa ngón tay trỏ vừa giải thích gì đó với đôi trưởng du kích-một người đàn ông trán rộng, khuôn mặt vuông kiên nghị với hàng ria xén tỉa ngay ngắn. Ông vừa gật đầu vừa liếc nhìn đống vũ khí chiến lợi phẩm chất đầy trên chiếc xe trượt tuyết. Một đống lựu đạn xếp gọn trên sân gạch. Đội du kích của ông đang thiếu vũ khí và thế là được bổ sung bao nhiêu là súng ống, lựu đạn đủ kiểu! Mấy anh du kích trẻ, ngực đeo tiểu liên còn xanh ánh thép, đang vui vẻ trò chuyện, xúm quanh chiếc xe trượt.
“Chàng trai ba tư tấn" của Cun-ga đỗ ở một góc bãi cạnh đống ngói vỡ. Ga-li-a ngồi trên nắp xe, hé mắt nhìn mấy xác người trên giàn treo cổ, khẽ đung đưa trong gió. Chị chưa lại sức sau trận đánh căng thẳng. Trước mắt chị như còn in rõ những cảnh xe cháy, tai đang ù vì tiếng súng đạn, tiếng la hét thất thanh của bọn lính địch bỏ chạy toán loạn. Và giờ đây chị lại phải nhìn cảnh những người bị treo cổ. Đây là lần đầu tiên chị thấy cảnh này. Chị cắn môi căm giận. Niềm vui chiến thắng mới tràn đến thì đã phải chứng kiến cảnh đau lòng này. Chị cảm thấy như có lỗi trước cái chết của những con người bất hạnh này. Cái cảm giác mình đến quá chậm nên không kịp cứu họ cứ ám ảnh chị. Những hạt tuyết bay phả vào mặt, đọng lại và tan đi làm dịu bớt đôi má nóng bỏng của chị.
-Chúng ta đến không kịp! Chị đau xót nói thầm.
Bỗng từ sau đống đổ nát trước mặt, một người đàn bà chạy xốc tới bãi đất. Mặt bà hốc hác đầu trần, tóc xoã tung trước gió. Mặt bà đanh lại, tím ngắt tựa như được đúc bằng gang, đôi mắt long lên trông thật đáng sợ. Bà chạy những bước dài thẳng tới đám du kích đang xúm quanh chiếc xe. Những người dân đứng quanh đấy dịch ra nhường bước cho bà.
Bà vừa chạy vừa nhìn năm thân người đang lơ lửng trên dây treo. Bà bỗng chạy tới chỗ cậu bé nắm chặt lấy hai chân đang đung đưa của cậu, áp sát vào mặt mình và trên bãi đất, bỗng vang lên một tiếng rú căm giận nghẹn đi vì đau xót, át cả tiếng máy nổ, tiếng huyên náo của bao con người đang hả hê trò chuyện:
-Mi-sen-ca! Mi-i-se-en-ca-a! Ôi con yêu, đứa con độc nhất của mẹ!...
Và bà bỗng ngừng bặt, quay ngoắt đầu lại nhìn bọn tù binh đang dúm lại với nhau, há hốc mồm ngơ ngác như chưa hiểu điều gì đang xảy ra trước mắt chúng. Rồi bà đảo ánh mắt nặng nề sang đống vũ khí chất trên xe trượt.
-A... a... Bọn giết người, bọn súc sinh!...
Bà bỗng nhảy xổ hai bước đến đống súng và chộp ngay một khẩu tiểu liên. Bà quay ngoắt nòng chĩa thẳng vào bọn lính Đức đang hốt hoảng lùi lại. Chúng đăm đăm không dám rời mắt khỏi bà mẹ đang điên dại vì đau khổ.
-Vì thằng Mi-sen-ca! Vì hòn máu duy nhất của tao!
Đội trưởng du kích nhảy đến bên bà nhưng không kịp. Một loạt đạn ngắn vang lên, xới tung đống tuyết trước mặt mấy tên tù binh đứng gần nhất. Một tên ngã gục xuống như chiếc bao tải nặng, tên thứ hai cúi gục xuống đất, hai tay ôm bụng và từ đấy một dòng máu chảy ra thấm đỏ mặt tuyết. Như đàn quạ tan tác, bọn lính Đức chạy dạt ra, lùi lại dồn thành đám. Mấy tên bị thương lổm ngổm bò thục mạng trên mặt tuyết, la hét the thé, cố chuồn thật xa người đà bà Nga điên dại.
-Dừng lại!-Sa-ghin hét lên.-Không được bắn nữa.
Bà mẹ vẫn cười sằng sặc, hai mắt long lên, tay vẫn lia mũi súng theo đám tàn binh Đức.
-Giữ bà ấy lại! Giữ ngay lại!
Hai anh du kích chạy lao lên ôm chặt lấy tay bà mẹ nhưng bà quẫy mạnh một cái, cả hai người văng ra, bà bóp cò nhưng không còn nghe tiếng nổ nữa. Đạn đã hết! Nhưng bà vẫn nghiến răng, khóc nức nở, tay vẫn bóp cò…
Hai người du kích lại xông vào ôm chặt lấy bà và giằng được khẩu súng ra khỏi tay bà. Bà buông khẩu súng ra, quay lại vồ lấy một anh du kích. Anh ta chưa biết xoay xở ra sao thì bà đã chộp được quả lựu đạn dắt ở thắt lưng. Quả lựu đạn chày. Mọi người nháo nhào chạy tản ra. Bà mẹ ngượng nghịu vung tay.
-Nằm xuống,-có tiếng ai đó hét lên. Một số người kịp nằm xuống ngay trên mặt tuyết lạnh. Quả lựu đạn lạng đi mấy thước, quay vòng và rơi bịch xuống ngay trước một tốp lính Đức đang nằm úp mặt xuống đất. Nó lăn một đoạn rồi dừng lại, nằm im. Bọn Đức rú lên kinh hoàng. Nhưng không có tiếng nổ.
-Ôi, bà ta không rút nụ xoè,-anh du kích thốt kêu lên.
Họ ôm chặt được bà nhưng bà vẫn vùng vẫy, chửi rủa bọn giết người và khóc nức nở. Người chỉ huy du kích vội chạy đến, vốc một nắm tuyết lớn xoa xoa lên khuôn mặt đầm đìa nước mắt và nóng hổi của bà.
-Không nên như vậy, bà ơi! Đừng làm như vậy! Không được phép giết tù binh... Đừng làm vậy, mẹ... Chúng ta sẽ xét xử chúng đúng theo pháp luật. Mẹ cứ yên tâm! Mẹ hãy bình tình lại đi!
Người đàn bà im bặt, đảo đôi mắt ướt đẫm nhìn lên xác đứa con trai yêu quý. Miệng bà há rộng như đớp từng ngụm không khí. Có mấy người phụ nữ cũng chạy đên dìu bà đi. Bà mẹ đưa hai tay ôm chặt lấy mặt, đôi vai rung lên. Mấy người phụ nữ oà khóc theo...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
the_samsara
Thành viên

Bài viết: 1017
|
 |
« Trả lời #96 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 09:57:03 pm » |
|
Chương năm 1. Võ sĩ Ý Pôn-trét-tô có nét gì đó giống như võ sĩ Bỉ Ca-mi-li-a biệt danh Hổ Xám, người mà Mi-cla-sốp đã đọ găng năm kia ở An-véc-pen, nơi anh bắt liên lạc được với hiệu thính viên Ma-ri-na. Mi-cla-sốp sớm nhận ra những nét giống nhau đó, mặc dù nhìn bề ngoài họ hoàn toàn khác nhau. Hổ Xám, dân miền biển Bắc Âu, nguyên là công nhân bốc vác có những nét đặc trưng của người phương Bắc như: tóc màu hung, thân hình nở nang, rắn khoẻ, trắng trẻo. Còn Pôn-trét-tô người miền Nam Âu thì lại hoàn toàn khác hẳn: mặt ngăm ngăm; tóc loà xoà đen nháy như lông quạ, mắt như hai quả anh đào, da bánh mật. Nhưng dầu sao giữa hai con người này vẫn có cái gì đó giống nhau. Pôn-trét-tô, cũng như Hổ Xám, trước trận đấu đều tập rất mạnh động tác tay trái, động tác di chuyển chân rất lẹ và tư thế tự vệ giống hệt nhau. Mi-cla-sốp cảm thấy nhẹ nhàng và thoải mái hơn, anh chỉ làm vài động tác toàn thân tựa như anh được gặp lại đối thủ quen biết và trận đấu sẽ không có gì đáng phải quan tâm, căng thẳng cả. Huấn luyện viên của anh cũng phát hiện ngay được cái vẻ giống nhau đó. Các Bun-xông vừa xoa lưng cho Mi-cla-sốp vừa hỏi anh còn nhớ anh chàng người Bỉ mà ông ta đã quên tên không. -Anh còn nhớ trận đấu ở An-véc-pen chứ?-Và nói thêm:-Hiệp bảy? I-go gật đầu. Anh hiểu ý huấn luyện. Trận ở An-véc-pen chính anh ta đã cho Hổ Xám đo ván ở hiệp bảy. Bằng một cú tay phải sở trường. Anh đánh cú đó do quán tính thôi, nhưng mạnh và trúng vào hàm dưới. Anh cũng không ngờ cú đấm ấy lại làm cho đối phương đo ván. Mãi giờ đây anh vẫn còn như nhìn rõ ánh mắt ngạc nhiên của người võ sĩ Bỉ khi nằm trên sàn đấu. Anh ta nằm xoài ngay dưới chân I-go không thể nào gượng dậy nổi trong tiếng la ó giận dữ và sốt ruột của những người ái mộ. -Hãy lặp lại ở đây, đúng như vậy!-Bun-xông nói, tay vừa xoa xoa bóp các bắp thịt ở vai anh.-Hãy lặp lại cũng vào hiệp bảy nhé. I-go gật đầu. Trước mắt anh đã hiện lên bức tranh của trận đấu sắp tới với vẻ sốt ruột và những cú đấm tới tấp của đấu thủ Ý, những bước lùi tránh nhanh nhẹn của anh ta. Và sau tiếng cồng, khi trọng tài vừa giơ tay ra lệnh cùng với tiếng hô “bắt đầu” thì võ sĩ Ý, cũng như Hổ Xám, lầm lũi thu mình lại, giấu chiếc cằm sau bắp vai phải mập mạp, hua hua đôi tay trước chiếc mũi khoằm như để tự vệ và tiến lên tấn công ngay. Vừa liên hồi đưa ra những quả đấm thẳng tay trái khá mạnh, Pôn-trét-tô vừa co về dồn Mi-cla-sốp vào thế tự vệ. Đôi tay anh ta như một cái máy khi nhứ lên cao, khi nhứ vào vai, mặt, bụng buộc Mi-cla-sốp phải bị động tránh đỡ và bộc lộ sơ hở nhằm dồn sức mạnh toàn thân vào một cú đấm quyết định. Thủ thuật này không mới lắm nhưng rất có tác dụng vì với những người thiếu kinh nghiệm hay dễ bị mắc lừa, và với những người từng trải thì dùng nó lại rất thành công. Võ sĩ Ý đánh rất chủ động. I-go nghe rõ anh ta cố thở theo đúng nhịp di động của mình. Đặc biệt là nhịp thở bằng mũi của anh ta rất ăn khớp với những cú đấm thẳng. Anh chàng Hổ Xám lúc mới vào hiệp cũng có lối thở mạnh như thế này. Có cảm giác như chiếc đầu máy xe lửa phì khói theo từng nhịp còi vậy, I-go vẫn lạnh lùng tránh đòn, thậm chí còn hơi nhếch mép cười như thầm bảo với đối thủ: “Vào đi, anh bạn! Vào đi!”. Anh không ngờ, nụ cười đó đã như bật que diêm châm vào thùng thuốc súng. Bỗng nhiên trong đôi mắt đen nháy của người võ sĩ Ý trông sâu thẳm tựa như đáy giếng trong vắt giữa thảo nguyên, bật lên một tia sáng dữ tợn. Pôn-trét-tô kêu khẽ một tiếng, không ra cáu cũng không ra cười xông thẳng vào Mi-cla-sốp. Hàng loạt cú đấm tới tấp lao vào Mi-cla-sốp, cú sau mạnh hơn cú trước tựa như những bao sỏi ném vào anh. I-go chỉ còn biết vừa lùi vừa chống đỡ trước cơn bão táp thịnh nộ của võ sĩ Ý; đánh vào vai, vào găng, vào bắp tay và cả vào thân thể với những bắp thịt cứng như đá. Cả gian phòng hình như chỉ chờ đợi có thế. Đặc biệt nhốn nháo là những người đồng hương của anh ta-những binh sĩ sư đoàn Ý sau khi đã bổ sung và tổ chức lại đang được nghỉ ngơi một thời gian ngắn ở Lai-xích trước khi lên đường sang mặt trận miền Đông. Họ hò la, giậm chân vỗ tay cổ vũ người võ sĩ đồng hương và đồng ngũ của mình. Một viên đội, ria đen nháy đứng hẳn dậy, đưa tay ra hiệu; điều khiển cái dàn nhạc vô tổ chức ấy. Mi-cla-sốp đang gặp khó khăn thực sự. Anh cảm thấy bị dồn vào sát hàng dây, lưng luôn chạm vào nó. Anh phải tránh đỡ những cú đấm mạnh như bay phả vào người, vào mặt. Những cú đấm cứ liên tục dồn tới mạnh như những nhát búa. Không thể nào cản được nó, và không có cách nào thoát khỏi nó. Đặc biệt là những cú đấm bất ngờ, ác hiểm từ dưới móc lên, những cú móc hàm như Bun-xông đã nhiều lần nhắc đến. Đây là món sở trường của võ sĩ Ý. Mi-cla-sốp vừa tránh đòn vừa đánh trả lại bằng vài cú đấm rời rạc nhưng võ sĩ Ý hầu như không đếm xỉa tới, anh ta lại khẽ gầm lên tấn công tiếp, I-go không làm sao cản nổi. Anh bắt đầu thở nặng nề và quả quyết rằng Pôn-trét-tô không giống Hổ Xám. Đấu với võ sĩ Bỉ dễ hơn nhiều. Còn võ sĩ Ý, xét về tài năng, về sức bền bỉ và trình độ cũng như kinh nghiệm thi đấu thì hơn hẳn võ sĩ Bỉ. Đúng là một tay chuyên nghiệp cớ quốc tế. Mi-cla-sốp đã uổng công chờ đợi hi vọng những giây khức ngừng nghỉ ngắn ngủi, hít thở đầy lồng ngực mình làn không khí cần thiết để có thể đủ sức đánh tiếp. Trước đây chính Mi-cla-sốp đã từng lợi dụng những khoảnh khắc dừng nghỉ ngắn ngủi đó để buộc đối thủ phải đánh tiếp, không cho anh ta hồi sức. Nhưng giờ đây anh lại gặp phải một đối thủ nhà nghề đầy kinh nghiệm, có sức khoẻ tốt, biết tận dụng những giây có lợi cho mình. Và mọi hi vọng của I-go chỉ còn mong vào đôi chân. Mong vào bước di chuyển lẹ làng, mềm dẻo và nhanh nhẹn của chúng. Anh cố giành chủ động bằng những cú đánh trả rời rạc nhưng khá mạnh để đẩy đối thủ ra xa hơn, thoát khỏi lối đánh gần và tấn công dồn dập để đơi phó lại với thế chủ động hay đúng hơn là bẻ gãy tâm lý hiếu thắng của đối thủ. Anh không nghĩ rằng mình sẽ thua, nhưng cũng chưa có cách nào thoát khỏi tình trạng nặng nề này. Anh chỉ có một suy nghĩ đơn giản là, không được thua. Không những thế, anh cần phải chiến thắng võ sĩ Ý và phải thắng cả đợt thi đấu này. Thắng với bất cứ tình huống nào, với bất cứ giá nào. Phải thắng, vì có như vậy thì báo chí mới nhắc đến tên anh. Chỉ cần nhắc tới, dù chỉ là một dòng ngắn ngủi, để người ta biết đến, nhớ đến tên anh. Đây là cơ hội duy nhất để anh trở về với đội ngũ, bắt liên lạc được với Trung tâm. Phải làm cho mình nổi tiếng. Đó là lời nhắc nhủ của Mát-xcơ-va. Và giờ đây điều này thực quan trọng. Có thể nói, đã mấy tháng nay Mi-cla-sốp “không có việc làm”. Chẳng hiểu tại sao sự liên lạc bị cắt đứt đột ngột. Điều gì đã xảy ra với các đồng chí ấy, anh không hề biết. Khả năng xấu nhất, đáng sợ nhất là tan vỡ. Cũng có thể như vậy lắm chứ. Chiến tranh là chiến tranh. Có thể Trung tâm, ở Mát-xcơ-va đã biết hết. Do đó cần phải làm mọi cách công khai qua báo chí báo rằng tình báo viên Mi-cla-sốp vẫn sống, vẫn được tin cậy, đang trong đội ngũ. Anh nhớ lại lời dặn của đại tá I-lin-cốp: “Anh cứ việc chờ đợi. Người của chúng ta sẽ đến tìm anh, nhưng anh cũng đừng để lãng phí thời gian. Anh làm cho mình nổi tiếng đi. Phải làm sao để tên anh được đưa lên báo chí, dù chỉ là vài dòng ngắn ngủi”. Và do đó nếu thua thì anh sẽ không được nêu tên lên báo chí. Vậy, cần phải thắng. Chả lẽ ở Xta-lin-grát, các đồng chí của anh dễ dàng hơn hay sao? Không những họ vẫn đứng vững, mà còn đánh đuổi được kẻ thù, đã làm chấn động toàn thế giới. Và chiến công đó được lặp lại vào mùa hè năm ngoái ở Cuốc… Bọn phát xít Ý cũng đã bị đánh tơi bời, “Sư đoàn xanh: của chúng đã rụng lông cánh. Và giờ đây anh phải cho gã võ sĩ này đo ván. Vừa đánh, vừa lùi tránh đòn, Mi-cla-sốp miên man suy nghĩ. Bỗng tiếng cồng mong đợi đã vang lên, nó đã cứu viện cho anh. Trọng tài vội nhảy vào giữa hai người, dang tay hô: “Ngừng đấu”… Pôn-trét-tô thở hồng hộc bước lại góc nghỉ của mình.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
the_samsara
Thành viên

Bài viết: 1017
|
 |
« Trả lời #97 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 09:57:45 pm » |
|
I-go không phải ngồi mà là rơi phịch xuống chiếc ghế đẩu do huấn luyện viên vừa đặt cho anh. Cũng may là đúng lúc tiếng cồng nổi lên anh lại đang ở ngay góc của mình. Như vậy sẽ đỡ mất sức và được nghỉ nhiều hơn. Anh ngả người tựa vào chiếc đệm đỡ sau lưng, hai tay dang ra trên dây chão và há miệng hít thở những hớp không khí. Nhưng anh chẳng kịp thở được bao nhiêu. Huấn luyện viên Các Bun-xông đã phủ cả tấm khăn thấm nước lên mặt, mũi anh, I-go cố nén giận; lắc đầu tỏ ý muốn bỏ khăn ra. Các hiểu điều đó, con sói già trong làng quyền Anh này hiểu cần phải làm gì để nhanh chóng hồi phục sức cho I-go. Vừa xoa bóp, lau mình cho anh, ông ta vừa bảo:
-Thở sâu vào… Sâu nữa… Gút… Gút… Anh đánh rất tốt,-Mi-cla-sốp không tìm thấy vẻ lo âu hay khích lệ giả tạo nào trong giọng nói của huấn luyện viên nên anh yên tâm ngay. Ông ta dạng rộng khăn quạt cho anh, phân tích kỹ thuật của đối thủ và đánh giá hiệp đấu.
-Hắn là một kẻ hiếu thắng, sức mạnh của hắn là ở chỗ liên tục tấn công, liên tục gây sức ép. Đừng chấp nhận lối đánh đó. Các nói và khuyên luôn:-Bây giờ anh thử chủ động tấn công xem. Và quan sát hắn đối phó lại ra sao. Anh cứ tấn công, đánh gần vào. Đừng cho hắn tiến lên dù chỉ một bước thôi. Theo dõi chặt đòn đánh móc từ dưới leê. Anh phải cố làm chủ vũ đài. Đừng lùi nữa!...
I-go đã nhìn võ sĩ Ý với con mắt khác. Bun-xông nói đúng. Tại sao anh lai không nghĩ ra nhỉ? Bài toán có gì phức tạp đâu, cũng có thể là phức tạp đấy nhưng cách giải quyết lại rất đơn giản. Bọn lính xâm lược, thường chẳng đáng sợ khi người ta buộc chúng phải lùi lại, hay như điều người ta nói là buộc chúng phải quay lưng tiến lên…
Ở góc đối diện, Pôn-trét-tô cũng đang ngả mình trên ghế chân co chân duỗi, khuôn mặt đẫm mồ hôi, nở nụ cười thoả mãn như trước mắt anh ta chẳng có gì khó khăn. Còn huấn luyện viên lười nhác vẫy vẫy chiếc khăn mặt bông ướt trên đầu võ sĩ. Nét mặt ông ta lộ vẻ tin tưởng và tự hào của người đã nắm chắc phần thắng, trận đấu sẽ kết thúc chóng bánh và chỉ còn chờ trọng tài công bố nữa thôi.
2.
Tiếng cồng báo hiệp hai vừa dứt, cả gian phòng rộng đông nghịt mờ mờ tối bỗng vang lên tiếng huýt sáo của người nào đó khi thấy võ sĩ Nga-con người mới lúc nãy còn cố lẩn tránh những đòn đánh nặng nề của đối thủ người Ý giờ đây có vẻ hùng hổ, đứng bật dậy như chiếc lò xo xăm xăm tiến ra giữa vũ đài, chờ lệnh trọng tài sẵn sàng lao vào hiệp đấu mới. Về phần mình, trọng tài cũng có vẻ ngạc nhiên trước khí thế mới của người võ sĩ Nga đang đứng trong tư thế sẵn sàng và võ sĩ Ý trong tư thế của người nắm chắc phần thắng. Cả hai đang đợi lệnh và ông phất tay ra hiệu:
-Bắt đầu!
Cả Pôn-trét-tô và huấn luyện viên của anh đều không ngờ tới thái độ kiên quyết của võ sĩ Nga lúc này. Thậm chí họ cũng không hề nghĩ rằng, anh chàng lại dám chấp nhận đánh gần. Anh ta thoáng vẻ phân vân. Có thực đây là người võ sĩ Nga trong hiệp một hay là một người khác đã được thay thế. Pôn-trét-tô nhận ra và cũng có vẻ như không nhận ra đối thủ của mình. Nhưng rồi anh mỉm cười, lấy đúng tư thế ban đầu, bước lên, áp sát vào đối thủ với hi vọng, như ở hiệp một, dùng những cú đấm liên tục, đặc biệt là những cú móc để dồn đối thủ vào góc vũ đài, vào sát hàng dây.
Những I-go vẫn không nao núng, không lùi một bước. Anh bướng bỉnh chấp nhận và sẵn sàng trả miếng lại. Những cú đấm như gió lốc cứ xoắn xuýt lấy nhau. Tấn công hàng loạt,trả miếng hàng loạt. Chẳng ai chịu ai. Và Pôn-trét-tô có cảm giác hình như những cú đấm của anh rơi vào không khí hoặc như đấm vào bức tường. Đôi găng da của anh xoay như cơn lốc tối cả mặt mày, giáng vào thân mình anh ta không phải là những cú đấm nặng như búa tạ mà là những phát đại bác… Pôn-trét-tô phải di chuyển nhanh hơn trước đối thủ Nga đang đánh trả như đieê. Chả hiểu người Đức đã lôi được anh ta ở đâu? Bên Nga không có võ sĩ nhà nghề, thế nhưng, anh chàng này xét về toàn diện mà nói thì lại còn từng trải hơn cả những tay từng trải, đánh ác hơn cả những tay đánh ác nhất mà anh đã gặp. Trong hiệp một hắn đã làm mình chủ quan và bây giờ hắn đang lộ rõ bộ mặt thật của nó. Hay chỉ là cảm giác thế thôi? Việc gì mình phải sợ hắn? Xan-ta Ma-ri-a sừng sở là thế mà cũng còn bị thất bại. Làm một động tác giả và xoay người, võ sĩ Ý tiến sát mic đấm liền mấy quả rất gần và căng, hy vọng là với ngón đòn quen thuọc này anh ta có thể giành được thắng lợi. Phía khán giả, bọn lính Ý vẫn tiếp tục la hò cổ vũ cho người đồng hương.
Nhưng I-go đã đề phòng sẵn. Chính anh đang chờ loạt đấm này. Anh đã dày công tập luyện nó cùng với huấn luyện viên. Hai quả đầu anh giở nửa găng ra đỡ, và như các nhà chuyên môn gọi đó là cú đỡ bằng lòng bàn tay. Và những cú đấm sau, anh phải giơ cả hai tay che kín bụng bằng mu bàn tay và đấm theo liên tục tựa như bốn bàn tay đeo găng đó bị móc vào nhau. Pôn-trét-tô đang hăng và nổi cáu. Anh ta nghĩ rằng, với loạt cú đấm hiểm này anh sẽ làm cho võ sĩ Nga hết ngoan cố và sẽ phả quay lại tự vệ như ở hiệp một.
Từ dưới nhìn lên, có thể có cảm giác ưu thế đã thuộc về võ sĩ Ý. Anh ta đang nắm quyền chủ động của hiệp đấu. Ngay cả các trọng tài ghi điểm cũng không hiểu và băn khoắn tự hỏi, tại sao võ sĩ Nga không tự tránh ra khỏi tư thế bất lợi, chỉ cần lùi lại một bước và né sang phải là anh ta có thể thoát được sức ép đang tăng của đối thủ người Ý.
-Va-nhi-a, cố giữ vững !-Từ hàng ghế xa có tiếng kêu.
Trên các áp phích cổ động cho trận đấu, người ta không ghi rõ tên các võ sĩ, chỉ nêu danh hiệu và họ của đấu thủ như: “Võ sĩ hạng trung Mi-cla-sốp, vô địch Lê-nin-grát”. Người ta gọi anh là võ sĩ I-van và cả trọng tài cũng gọi như vậy để đáp lại tiếng gọi động viên duy nhất đó đối với võ sĩ Nga, đám lính Ý lại đồng thanh gào lên:
-Pôn-trét-tô-ô!... Pôn-trét-tô-ô!...
Võ sĩ Ý dướn đầu lên trước đến nỗi gần như húc vào vai Mi-cla-sốp, và đấm liên tục. Tay anh ta vung ra như một chiếc búa tự động, như một khẩu súng máy, cứ việc lạnh lùng nhả đạn mà không cần biết những viên đạn đó có trúng mục tiêu hay không. Những tiếng găng chạm nhau bùng bục nghe như tiếng súng giã giò. Pôn-trét-tô đã dồn được Mi-cla-sốp vào góc vũ đài, lưng anh đã phải dựa vào hàng dây và có cảm giác chỉ vài ba giây nữa trận đấu sẽ kết thúc.
Đúng là hiệp đấu đã diễn ra như vậy. Nhưng người nằm trên sàn không phải là võ sĩ Nga như mọi người tưởng mà là… Pôn-trét-tô. Người ta bỗng thấy anh ta sững lại, khuỵ dần xuống sàn phủ bạt, xanh xám tựa như bị rút hết xương sườn và mất hết sức chống đỡ bên trong nên đã gục xuống rất nhẹ nhàng, từ từ. Sự việc diễn ra nhanh đến nỗi nhiều người không kịp hiểu ra tại sao lại như vậy được? Rõ ràng là Pôn-trét-tô đang tấn công Mi-cla-sốp thế mà chính anh ta lại gục xuống sàn? Chả lẽ anh ta lại tự làm mình đo ván hay sao? Quả thật, cú đấm hiểm và hết sức nhanh của Mi-cla-sốp chỉ có một số ít người sành sỏi mới kịp nhận thấy thôi. Cú đấm móc hàm rất mạnh và nhanh. Lợi dụng đúng lúc Pôn-trét-tô sau một loạt cú đấm liên tục phải dừng lại trong khoảnh khắc để lấy lại nhịp thở và hơi né sang phải nên để lộ cả mảng hàm ra. Ngay trong nháy mắt quý giá đó, Mi-cla-sốp dướn chân phải lên, dùng sức mạnh toàn thân quay ngoắt theo đà tránh của đối thủ, giáng một đòn búa bổ vào quai hàm đang nhô ra trước chiếc găng của anh. Cú đấm nhanh như một ánh chớp, ánh chớp đen. Cú đấm tầm cỡ đó vừa đạt được cả mấy yếu tố: bất ngờ, nhanh, mạnh và chính xác! Cả gian phòng lặng hẳn đi. Từ góc xa lại vang lên cái tiếng Nga thân thiết lúc nãy:
-Phải lắm, đánh ra đánh!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
the_samsara
Thành viên

Bài viết: 1017
|
 |
« Trả lời #98 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 09:58:25 pm » |
|
Trọng tài ra hiệu cho Mi-cla-sốp lùi lại góc của mình. I-go lùi lũi bước đi, như người có lỗi. Trọng tài dang rộng tay, chém vào không khí, miệng đếm thong thả.
-Một… Hai… Ba…
Khi đếm đến sáu thì Pôn-trét-tô nhỏm dậy, chống một tay xuống sàn, nghiêng mặt cố nhìn trọng tài vẻ ngạc nhiên như muốn hỏi tại sao ông ta lại giơ tay đếm trước mặt mình. Sau đó anh ta lắc lắc đầu tựa như xua đi tiếng ù ù trong đầu và hiểu ra ngay. Những giây đếm cuối cùng vẫn rành rọt vang lên. Đúng đến tiếng thứ tám thì Pôn-trét-tô như chiếc lò xo, đứng bật dậy, hai tay ở tư thế sẵn sàng. Người võ sĩ nhà nghề đã hiểu rõ nguyên tắc và luật quyền Anh. Anh không thể để thua gã võ sĩ người Nga chưa hề có tiếng tăm này. Thua chưa bao giờ nằm trong tiềm thức hay ý nghĩ của anh ta. Anh rời thành phố Nê-a-pôn tới đây hoàn toàn không phải để lãnh phần thua. Những người cổ vũ anh cũng đồng loạt vỗ tay hào mừng, động viên.
-Tiếp tục-Trọng rài ra lệnh.
Như để biểu thị sự chịu đựng và sức khoẻ dẻo dai của mình, Pôn-trét-tô lại xông vào đợt tấn công hỗn loạn, với sự căm giận của một kẻ bị xúc phạm. Điều dại dột và mất trí đó đã làm cho Mi-cla-sốp nhẹ nhõm hơn trong việc quyết định hành động của mình. Vấn đề bây giờ chỉ thuần tuý mang tính chất kỹ thuật. Cúi tránh một cú đấm chéo móc sườn làm cho đối thủ quá đà, Mi-cla-sốp đồng thời đánh trả luôn hai quả đấm thẳng-một vào giữa mặt và một đúng ngay quai hàm dưới.. Nhưng Pôn-trét-tô vẫn đứng được. Anh ta không ngã mặc dầu bị ngây ngất trong giây lát. Nhưng vì không cử động được nữa, hai tay buông thõng, lảo đảo bước quanh vũ đài như người say. Đây là trường hợp rất hiếm có trong quyền Anh. Đó là tình trạng “nốc-ao đứng”. Người võ sĩ nào bị trường hợp này mặc dầu đầu óc vẫn tỉnh nhưng không còn điều khiển nổi chân tay mình nữa. Anh ta cứ bước như vậy, đầu lắc bên này ngả bên kia, lảo đảo nhưng không ngã hẳn. Trọng tài phải chạy lùi trước anh ta, hai tay dang rộng, một tay chém vào không khí theo nhịp đếm, rõ ràng, rành mạch:
-Sáu… Tám… Chi-ín…! Mư-ươi… Mười…!
Đếm đến tiếng cuối cùng, ông thở dài đánh sượt và hô lên cái tiếng không hề mong đợi đối với ông: “Nốc-ao!”-và ngay lúc ấy, ông xốc tay võ sĩ Ý, dìu về góc của anh ta. Sau khi đỡ anh ta ngồi xuống ông mới quay lại bước đến bên Mi-cla-sốp đang đứng cúi đầu, cầm tay giơ lên tuyên bố anh thắng tuyệt đối. Các Bun-xông vội dấp lên đôi vai đẫm mồ hôi của Mi-cla-sốp chiếc áo khoác vải bông và dìu anh xuống phòng.
Cả gian phòng vang lên tiếng la ó, huýt sáo thiếu thiện cảm.
Cả Pôn-trét-tô lẫn huấn luyện viên của anh ta cũng vô cùng phẫn nộ. Khi đã tỉnh lại, anh ta cùng huấn luyện viên kéo nhau đến phòng hội đồng trọng tài và ban tổ chức giải vô địch quyền Anh châu Âu để phản đối quyết định của trọng tài vũ đài. Anh ta tuôn ra hàng tràng câu chửi bới bất lịch sự bằng cả tiếng Ý lẫn tiếng Đức để phản đối. Anh ta gào lên, hăm doạ sẽ tố cáo và đòi phải trừng phạt kẻ thiên vị. Anh ta coi đây là sự xúc phạm tới danh dự của làng quyền Anh Ý và đối với anh nhà võ sĩ vô địch đại diện cho nước Ý trong giải này, một giải thi đấu mà anh đã lên án là chỉ để làm tiền; là bẩn thỉu, là đầy dối trá. Anh đe doạ là không dừng lại ở đây, ở những lời lẽ kiên quyết này và sẽ khiếu nại lên tận thủ tướng Mút-xô-li-ni, người bạn, người đồng minh vĩ đại của quốc trưởng Hít-le. Anh ta đòi huỷ bỏ kết quả trận đấu và phản đối kịch liệt nếu báo chí tường thuật về trận đấu của võ sĩ nhà nghề vĩ đại thi đấu với một gã lính I-van hàng binh. Anh ta nói sẽ phản đối đến cùng và trong khi chờ đợi báo chí không được đưa tin gì về trận bán kết quan trọng của vòng hung kết giải vô địch quyền Anh châu Âu...
3.
Sáng hôm sau huấn luyện viên Các Bun-xông uống ngay quầy báo đầu tiên gần khách sạn, mua tất cả các báo hàng ngày cẩn thận nhét vào túi áo khoác ngoài, lòng đầy thoải mái đi dạo một vòng dọc đường phố rồi mới trở về phòng trọ. Ông không cởi áo ngoài, ngồi ngay xuống ghế giở báo ra đọc. Càng tìm đọc bao nhiêu ông càng ngạc nhiên bấy nhiêu. Báo chẳng đưa tin gì về trận đấu tối qua cả. Không một dòng. Không hề thấy tên họ Mi-cla-sốp đâu cả. Tựa như chẳng có trận bán kết. Trong các cột dành cho bình luận thể thao, các báo chỉ đưa tin về trận bán kết thứ nhất giữa võ sĩ Giắc Pơ-lát người Pa-ri vô địch nước Pháp và nhà quyền Anh số một Hung-ga-ri, I-a-nốt Cai-di người Bu-đa-pét. Trận đấu giữa họ cũng diễn ra gay go suốt trên mười hiệp và mãi đến những hiệp cuối thì một trong hai người đó mới nhích lên giành được ưu thế. Xác định người thắng trong một trận đấu cân tài cân sức như trận này là khó khăn và các trọng tài đành phải căn cứ vào từng điểm nên võ sĩ Pháp đã trội hơn, được xác nhận là người thắng cuộc… Bun-xông buồn rầu xem đi xem lại các tờ báo. Ông ta chẳng hiểu gì cả. Sao lại như vậy được? Sao người ta lại im lặng trước trận đấu đầy hứng thú của võ sĩ Nga và Ý? Các tưởng mình mua nhầm báo cũ. Ông xem lại ngày tháng in trên trang đầu. Không, báo mới ngày hôm nay. Chính hôm qua, trước khi diễn ra trận đấu giành quyền vào chung kết, một nữ phóng viên quen biết đã đến gặp ông, hỏi han tỉ mỉ về “con gà giò” của ông, về thành tích của anh ta, về việc anh ta xuất hiện ở đây và hứa sẽ viết một phóng sự về trận đấu, về huấn luyện viên già dặn Các Bun-xông… Cô ta còn nói, các nhà hâm mộ quyền Anh ở Lai-xích sẽ rất thú vị khi thấy tên ông xuất hiện trên báo sau mấy năm vắng tiếng. Thế mà giờ đây thật lạ lùng, trên hai cột báo không có một lời nào về trận bán kết thứ hai.
Các gập báo lại, có chuyện gì rắc rối đây. Báo chí câm lặng thế này là dấu hiệu không bình thường. Ông ta biết rõ điều này. Có kẻ quyền thế nào đó đã khống chế được cả báo chí trung ương và địa phương ở đây. Như vậy là kẻ bí mật đó có thể khống chế cả số phận ông ta nữa. Ông thấy nóng mặt. Ông lau mồ hôi trán và thầm rủa mấy người bạn đồng nghiệp Bóc-lin đã ấn cho ông gã võ sĩ Nga này. Việc quái gì ông ta phải chơi với tay quỷ sứ này nhỉ? Bun-xông cau có gõ gõ tay xuống bàn. Làm gì bây giờ? Ông cảm thấy một mối nguy hiểm thầm lặng nào đó đang bao quanh mình. Nó đang đến với ông, nhưng đến từ phía nào? Sao người ta lại giáng cho ông quả đấm này. Để làm gì? Ông không còn nghi ngờ nữa. Ông ta đã từng bị như thế này một lần rồi. Đó là vào những năm ba mươi, sau Ô-lem-pích ở Béc-lin. Tên tuổi nhiều nhà thể thao Đức khi diễu hành đã cố ý không chào mừng, hoan nghênh Hít-le, đã biến khỏi báo chí, hay nói cách khác là đã bị xoá đi. Về sau tên những chàng trai này và cả con người họ nữa cũng đã biến hẳn khỏi cuộc đời…
Cần phải xác minh ngay, phải làm một cái gì đấy để hiểu rõ nguyên nhân. Cần phải hành động chứ không phải khoanh tay ngồi chờ người ta bạt tai rồi mới xoa má. Những ngón tay ông đột nhiên gõ gõ suống bàn theo điệu hành khúc lúc nào không biết. Trước đây, thời trai trẻ, Các là người đánh trống không đến nỗi tồi. Thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ông là nhạc binh. Chính nhờ đánh trống con nên tay ông được luyện thường xuyên và do vậy tạo thuận lợi cho nghề quyền Anh sau này. Hai mươi ba tuổi đã giành chiến thắng trên vũ đài và trong trận tranh giải vô địch châu Âu lúc bấy giờ. Thời kỳ quang vinh mở ra từ đấy!
Nghĩ vậy Các Bun-xông liền cởi áo khoác ngoài, mở chiếc va-li da dán đầy nhãn hiệu các khách sạn châu Âu, lấy chai cô-nhắc vẫn cất dưới đáy va-li từ bao lâu nay. Ông xoay xoay chai rượu trong lòng bàn tay. Loại cô-nhắc này bây giờ rất hiếm. Sản phẩm gia truyền của nước Pháp trước chiến tranh. Ông để dành gần nửa năm nay, định chọn dịp thuận tiện mới mở vui với bạn bè. Ông gói chai rượu trong tờ báo.
Đến trước gương, ông ta ngắm lại mình. Đưa tay sờ má, râu đã cạo nhẵn. Bộ com-lê đúng mốt, sơ mi sạch sẽ mới tinh. Với bộ cánh này thì đúng không còn chê vào đâu được. Ông ta tự bảo mình: thôi đừng vểnh râu lên nữa, Các ạ! Vẫn đứng trước gương, và tự hỏi xem nên đến phòng ai. Phải xác minh cho được nguyên nhân báo chí im lặng. Nhất định là phải gặp các uỷ viên ban giám khảo. Trọng tài chính chăng? Không, sẽ mất toi chai rượu cho cái gã đại tá bận thường phục ấy mà chả moi gì được đâu. Hay gặp phó trọng tài? Ông này cũng thuộc loại kín tiếng, keo kiệt lời nói lắm. Hai điểm đã bị loại. Chỉ còn người thứ ba Hen-rích Cri-u. Ông ta cũng từ Béc-lin tới. Một nhà thể thao chuyên nghiệp và lại là bạn bè với nhau. Thôi đến với ông ta vậy. Tuy vậy Bun-xông cũng phải ôn lại một chút những cuộc gặp gỡ với nhau từ trước, ở đâu, lúc nào, và lý do đến thăm hôm nay…
Hen-rích Cri-u vui mừng thật sự khi thấy Bun-xông đến với mình. Ông đang định đi ăn sáng. Đã pha xong cà phê. Cà phê, chính gốc. Ông đếm từng thìa món dự trữ ít ỏi này. Nhưng chưa kịp uống thì có khách. Ông ta đón chào ông bạn quý đã một thời nổi tiếng trong làng quyền Anh bằng nụ cười rạng rỡ.
-Ồ, ông bạn, ông sống khá phong lưu đấy chứ,-Bun-xông cố lấy giọng xởi lởi, chào ông chủ phòng, và vểnh mũi hít hít mùi cà-phê thơm ngát.
-Cà-phê chính gốc đấy,Cri-u tự hào khoe ngay.
-Brê-din à?
-Đúng, của một ông bạn làm ở sứ quán bên ấy gửi về.
-Chà, anh bố thí bạn bè sang thật!-Bun-xông nịnh ra mặt.
-Nhưng ông ta vẫn nhớ tổ quốc lắm. Viết thư về bảo là như đi đầy ấy.-Cri-u nói khẽ, trầm trầm, trang trọng và lên giọng.-Nhưng phụng sự tổ quốc, phụng sự quốc trưởng là nghĩa vụ của mỗi người Đức chân chính chúng ta, dù cho là anh ta đang ở đâu, làm gì. Vì đó là phụng sự quốc trưởng.
-Đúng vậy, quốc trưởng của chúng ta, quả là một bộ óc vĩ đại.-Bun-xông tán thưởng và mong chuyển đề tài sang hướng mình mong đợi. Ông liền đặt chai rượu lên bàn, mở tờ báo bọc ra và nói:-Hôm nay xin phép được uống với anh.
-Cái gì vậy?-Cri-u hất đầu hỏi và nhìn chai cô-nhắc chính hiệu.
-Rượu Pháp đấy. Đã hai mươi năm nay được bảo quản trong hầm lạnh đấy nhé. Làm một li cô-nhắc của tôi, với một tách cà-phê của anh thì thật tuyệt diệu. Ông thấy kết hợp như vậy được chứ?
Cri-u mỉm cười sảng khoái. Bun-xông đến thật đúng lúc. Đang lúc ông ta thèm rượu. Và ông vui vẻ vỗ vỗ bàn tay lên đôi vai vạm vỡ của người huấn luyện viên đồng nghiệp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
the_samsara
Thành viên

Bài viết: 1017
|
 |
« Trả lời #99 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2010, 09:58:47 pm » |
|
-Anh bạn già, anh thông minh lắm! Anh sống hơn với mốt thời đại đấy.
-Không, He-rich ạ, tôi già đi nhiều rồi đấy. Và thậm chí cảm thấy chảy rồi.-Các vừa nói vừa mở chai. Tôi định đến thăm anh từ ngày đầu thi đấu nhưng cứ dùng dằng mãi. Cuộc đấu chưa bắt đầu, sợ có tiếng xì xèo không lợi cho anh. Người ta lại tưởng tôi có bạn bè trong ban giám khảo, do đó sẽ dễ dàng hơn… Tôi muốn nói là các huấn luyện viên khác có thể nghĩ vậy. Còn bây giờ thì khác, mọi sự đã rõ ràng…
-Anh có tay võ sĩ khá lắm, cái tay người Nga ấy.
-Phải cái hơi cứng đầu một chút.
-Không sao, anh biết cách làm việc với con người mà…
Hai người ngồi đối diện nhau trên những chiếc ghế mềm thấp, thong thả tiếp cho nhau chất rượu cô-nhắc vàng óng ánh, và pha với chất cà-phê đen nóng, đặc sệt. Họ cùng im lặng nhấm nháp, thưởng thức. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng của mình nhưng cả hai lại không ai biết rằng họ cũng đang suy nghĩ trùng hợp như nhau: thật là thoải mái biết bao khi có được những buổi rỗi rãi ngồi uống với nhau như cảnh tượng thời trước chiến tranh thế này. Các Bun-xông tự nói lên suy nghĩ của mình. Hen-rích bắt chuyện ngay:
-Anh bạn ạ, tôi sợ rằng thời kỳ ấy sẽ chẳng bao giờ trở lại nữa đâu.
-Tôi sẽ cố nhớ mãi chừng nào còn sống.
-Tất nhiên là nếu chúng ta còn sống được đến ngày đó,-Hen-rích thành thật thú nhận.
-Thôi đừng nghĩ đến những chuyện buồn nữa.-Chỉ tổ hại thần kinh thôi.
-Nhưng không ai trốn tránh được thực tế đâu, ông bạn ạ.
-Đúng vậy, trước mắt chỉ thất chuyện buồn nhiều hơn điều vui. Tốt nhất là đừng nghĩ gì cả.-Bun-xông lai rót đầy li rượu. Tôi có cảm giác là dạo này hay nghĩ điều gở lắm. Không hiểu sao trong đầu óc tôi cứ lởn vởn ý nghĩ, đây là giải vô địch cuối cùng mà tôi được tham dự.
-Vì ở đây cũng như ở ngoài mặt trận, tinh thần Nga đang thắng đấy,-Hen-rích nói giọng rầu rầu.
Nhưng Bun-xông lại hiểu câu nói này theo ý mình. Đã nên vào đề chưa? Ông ta nghĩ vậy và vội vàng vào đề luôn.
-Mic-cla-sốp là người mang dòng máu chúng ta trong xương tuỷ đấy. Tuy là hàng binh, lính lê dương nhưng hắn đã được coi nhu người của chúng ta. Hắn được thưởng huân chương vì thành tích chiến đấu chống du kích. Hắn lại có người cậu ruột là một nhân vật khá quan trọng của bộ thông tin tuyên truyền.
-Không, ở đây tôi không nói về anh ta, về một con người cụ thể. Tôi nói cái tinh thần chung thôi.-Hen-rích cầm li rượu của mình lên, lắc lắc cho chất nước vàng vàng sóng sánh và say sưa ngắm cái màu sắc ấy.-Chất rượu này đẹp thật!... Đúng là nước thánh. Nhưng tôi với anh, anh bạn già ạ, lại không phải là kẻ đi dạo. Và sau này sẽ ra sao, chẳng ai trong hai chúng mình biết được. Sẽ có một cái kỳ diệu gì đó. Nhưng tiếc rằng, lúc đó chẳng còn chúng ta nữa đâu. Thôi, ta chúc nhau cạn chén vì một điều vui nào đó.
-Chúc cho tinh thần thượng võ của chúng ta đời đời tồn tại.-Bun-xông nói một câu bóng bảy.
-Nào, chúc tinh thần thượng võ!... Hen-rích uống cạn một hơi.
Họ lại uống tiếp và im lặng. Bun-xông không hỏi gì thêm nữa. Ông ta biết chờ đợi. Và quả vậy. Rượu cô-nhắc đã phát huy tác dụng của nó. Các rót thêm rượu, ngồi im.
-Nào chúc cho cậu vào chung kết tốt,-Hen-rích bỗng nói.-Mặc dầu thật lòng chúng ta không muốn để cho thằng Nga của anh thắng. Nhưng thú thật, hắn là võ sĩ có hạng, và đã tỏ rõ tài năng của mình.
Hen-rích vừa uống vừa kể cho biết là hôm qua, ngay sau khi kết thúc, cái anh chàng võ sĩ Ý ấy đã làm ầm lên đòi kiện lên tận quốc trưởng về quyết định của trọng tài. Tất nhiên bọn tôi phải điện về Béc-lin xin ý kiến và ở đấy, cấp trên của chúng ta chẳng cần nghĩ ngợi gì đưa ngay mệnh lệnh với báo chí là lờ đi.
-Sáng sớm nay mấy anh nhà báo gọi điện tới phàn nàn là hôm qua nhà in đã phải khổ sở vì chuyện này. Và tôi biết anh cũng cáu với chúng tôi vì anh là huấn luyện viên của tay người Nga ấy. Nhưng không sao, anh bạn, ngày mai anh cứ việc ăn mừng đi.
Thế là rõ. Bun-xông nhẹ nhõm trong lòng. Thế giới xung quanh ông ta lại sáng sủa và bình yên hơn…
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|