Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:20:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đứng vững đến cùng  (Đọc 107052 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #130 vào lúc: 27 Tháng Bảy, 2015, 08:49:38 am »

       «Đến tháng Năm phải bỏ hẳn, - I-lin-cốp nhắc lại với mình. – Phải bỏ thôi. Ni-kô-lai nói đúng đấy». Và ông trở lại bàn. Chiếc đèn bàn chiếu một vòng hẹp trên mặt bàn như tấm kính dày, soi rõ cặp bìa hồ sơ màu đỏ: «Phải uống một cốc trà đặc với chanh».

      Các cuộc tấn công cùa quân ta đã buộc cơ quan tình báo phải làm việc gấp đôi gấp ba sức mình. Trong chiến công chung có không ít những đóng góp của đội ngũ những nhà tình báo. Mùa hè năm bốn ba, bọn Hít-le đã không thể lập lại những bước chiến thắng nhảy vọt như mùa hè năm bốn hai, khi xe tăng Đức đã chọc thủng phòng tuyến Vôn-ga và tấn công vào Xta-lin-grát. Các cán bộ tình báo đã kịp thông báo cho bộ chỉ huy quân đội Xô-viết biết những kế hoạch chuẩn bị tấn công của địch, đã báo địa điểm và thời gian chúng sẽ giáng đòn quyết định của chiến dịch «Xi-ta-đen». Bọn Hít-le cũng không thể phục thù được những thất bại ở Lê-nin-grát. Chiến dịch vòng cung Cuốc vĩ đại đã kết thúc với chiến thắng giòn giã của quân đội Xô-viết. Chiến dịch «Xi-ta-đen» mà Hít-le đặt nhiều hi vọng đã kết thúc thảm hại. Bầu trời Mát-xcơ-va lần đầu tiên vang lên tiếng nổ của những loạt pháo hoa chào mừng chiến thắng quang vinh của quân đội Xô-viết giải phóng Ô-ri-ôn và Ben-gô-rốt. Những kế hoạch chiến dịch do cơ quan tham mưu Đức nghiên cứu soạn thảo tỉ mỉ đã thất bại cay đắng. Trên mặt trận bí mật càng căng thẳng hơn...

       Dùng thìa dầm dầm múi chanh trong cốc, thiếu tướng I-lin-cốp lim dim mắt, uổng liền mấy ngụm trà đường chanh một cách khoái trá. Ông mở cặp bìa đỏ, bắt đầu đọc và dùng bút chì đỏ đánh dấu. Bỗng chuông điện thoại réo lên gay gắt. Tướng I-lin-cốp phân biệt rất rõ tiếng chuông của sáu chiếc máy điện thoại trên bàn mình. Ông cầm ống nghe chiếc máy màu đen :

     «Tôi nghe đây!..., Sao:.. Từ Bi à... Rất tốt… được, ngay bây giờ thôi... Tôi chờ... ».

       I-lin-cốp mỉm cười, xoa xoa tay vào nhau. Thế là những ý đồ phác ra trong căn phòng này đã được thực hiện. Có điện của Ma-ri-na Rúp-xô-va từ Bỉ đánh về. Như vậy là đại tá Xtar-cốp đã gặp Ma-ri-na. Rất tốt! Nhóm Pa-ri từ nay sẽ đưa cô ấy vào quỹ đạo của mình. Ông vui vẻ đánh giá tình hình và đặt chiếc thìa ra đĩa, cầm cốc nước uống liền mấy ngụm.

       Một sĩ quan cao to, ngực dính đầy cuống huân chương xuất hiện nơi ngưỡng cửa, chờ lệnh.

     - Mời đồng chí trung tá vào.

      Trung tá trực ban bước đến bên bàn, hơi húng hắng ho, đi khập khiễng. Anh bị thương cách đây ba tháng trong khi làm nhiệm vụ. Vừa ra khỏi quân y viện và mới về đây được ít lâu. Trung tá lặng lẽ đặt lên bàn mấy bức điện đã được giải mã.

      «Tại các phòng nghiên cứu bí mật đặt ngầm dưới đất, quân Đức đã hoàn thiện xong việc thiết kế loại tên lửa - FAU 9 -  hai tầng có tầm xa trên 4000 km. Bra-un lãnh đạo toàn bộ công việc này. Bộ phận điều khiển vô tuyến điện mới cải tiến cho phép đạt tỉ lệ chính xác cao. Chiến dịch En-xter đang được chuẩn bị. Bọn Đức ngạo mạn tuyên bố sẽ báo trước ngày giờ phóng tên lửa này vào khu nhà trọc trời Nữu Ước. I-kar».

      Bức điện thứ hai viết:

      «Tại nhà máy chế tạo xe tăng – Porsa và K…, kỹ sư Sin-len-bua đang nghiên cứu chế tạo loại xe tăng hạng nặng mới mang tên Thần Hổ. I-kar».

      Bức điện thứ ba ngắn gọn hơn:

     « Xe và tài xế đã lên đường. I-kar-8»

      Hai bức điện trên ông xếp vào cặp bìa đỏ để báo cáo Bộ trổng tư lệnh. Bức thứ ba xếp vào cặp bìa xanh để báo cáo thủ trưởng trực tiếp. Ông rút một điếu thuốc và thầm an ủi «mọi việc diễn ra đúng như kế hoạch». Phải hút một diếu để mừng công. Xtar-cốp khá lắm!. Xe và tài xế tức là hiệu thính viên và điện đài. Đã lên đường tức là đến Pa-ri. Chữ ký I-kar-8 thông báo rằng việc này đã được sợ thỏa thuận của nhóm Béc-lin.

       Ông hút liền ba hơi dài và dập điếu thuốc vào chiếc gạt tàn pha-lê «Hút ít thế thôi », ông an ủi mình, mở chiếc cặp xanh trong có hai tờ báo Đức và bài tường thuật trận thi đấu quyền Anh đã được dịch sang tiếng Nga. Đưa mắt lướt nhanh bài báo, ông mở tiếp sang trang sau.. Ảnh I-go Mi-cla-sốp, được đóng khung bằng bút chì đỏ, đang nhìn ông, mỉm cười. Thiếu tướng im lặng ngắm người võ sĩ thân yêu của mình, thầm nói chuyện với anh. Chà, anh bạn, thế là anh lại xuất hiện. Khá lắm! Anh đã tự báo tin cho chúng tôi. Điều chính yếu nhất - cậu vẫn sống với chúng mình. Sống ngoài vòng theo dõi. Khá lắm. Chúng tôi hiểu cậu đang có nhiều khó khăn. Phải cố chịu đựng thêm ít nữa. Mọi việc sắp chấm dứt rồi. An-đrây Xtar-cốp sẽ đưa cậu vào nhóm Pa-ri. Đấy toàn là những người dầy dạn kinh nghiệm. Đừng lo lắng gì về gia đình cả. Ở nhà vẫn binh thường. Đặt tờ báo xuống, ông mở sổ công tác ghi vội mẩy dòng:   

       1.Gửi điện mừng tới Ê-li-da-ve-ta Mi-ela-sô-va nhân ngày 8/3 với chữ ký của chồng là: «Em thân yêu, anh vẫn khỏe».

      2.Giao cho các đồng chí U-ran chuyển đến cho cô ấy mọi tiêu chuẩn thực phẩm của «anh ấy», trước 8/3.

      Ông gạch đậm hai gạch đỏ dưới dòng chữ này.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #131 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2015, 06:26:40 am »

       2.



      Mi-cla-sốp đã đến An-véc-pen. Nhờ giấy tờ hợp lệ nên dễ dàng lọt qua các trạm kiểm tra. Chữ ký và bức ảnh của Mác-cơ Sơ-me-lin-gơ đã giúp anh rất nhiều. Bọn Đức không những tự hào và ngưỡng mộ thần tượng của mình mà còn biết rằng, ông ta là bạn của quốc trưởng nữa.

      Anh trọ tại khách sạn gần trung tâm thành phố là nơi người ta đã từng biết anh. Hồi còn tập luyện chuẩn bị thi đấu ở Bỉ anh đã trọ ở đây. Việc anh trở lại thuê phòng ở ít lâu sẽ không gây nên sự nghi ngờ gì. Hơn thế nữa, báo chí các nơi, trong đó có cả các tờ báo Béc-lin đã đưa tin và viết khá nhiều bài tường thuật về cuộc thi quyền Anh ở Lai-xích, và dĩ nhiên, trong đó có bài nói về thắng lợi của Anh.

      Đặt chiếc va-li nhỏ trong phòng – chiếc va-li mà anh đã buộc phải sắm sửa cùng vài thứ lặt vặt khác, dù muốn hay không thì sau chuyến đi Lai-xích về, chả lẽ lại vẫn chiếc ba-lô lính - Mi-cla-sốp đi xuống tầng dưới, vào phòng ăn. Giờ này đang vắng người. Anh chọn chiếc bàn gần cửa sổ. Chưa kịp ngồi thì ông chủ khách sạn đã hồ hởi bước ra. Người thấp, béo tròn như quả bóng, với vành ria mép mỏng trên môi, ông ta rảo bước gần như chạy lại bắt tay Mi-cla-sốp:

      — Ồ, rất vui mừng được đón tiếp ông tại đây! Rất tự hào là ông đã không quên chọn khách sạn chúng tôi, ông Mi-cla-sốp ạ !

       Mi-cla-sốp đã nhiều lần được chứng kiến sự ngưỡng mộ thể thao của người Bỉ. Lần chót, trên những tờ quảng cáo vui vui khi đọc tên những khách sạn; hiệu cà-phê, hiệu ăn mang những tên thể thao như: «Sức mạnh thể thao», «Sức khỏe», «Người yêu thề thao », «Vũ đài », «Cuộc đua vòng tròn»v.v... Tại các cửa hiệu dán đầy ảnh các nhà thể thao nổi tiếng ở Bỉ và thế giới, áp phích cổ dộng cho các cuộc đua xe đạp vòng quanh Bỉ, thi đấu quyền Anh, vật Hi Lạp v.v... dán la liệt, rất hấp dẫn. Những người yêu thích thể thao thường đến đây để nhấm nháp tách cà-phê hoặc thưởng thức những vại bia mát lạnh vừa để theo dõi tin tức thời sự mới nhất, những tin sốt dẻo về thể thao. Đối với tin tức gì cũng vậy, phải có bạn bè để trao đổi, bình luận thì mới hứng thú.

       — Thưa ông, nếu ông cho phép, mong ông cho chúng tôi những tờ báo nói về thắng lợi oanh liệt của ông trong giâi quyền Anh châu Âu vừa qua. Xin ông ký vào đây và chúng tôi sẽ trưng bày nó ở nơi trân trọng nhất với bức ảnh phóng to của ông.

        Mi-cla-sốp không muổn từ chổi đề nghị này. Dù muốn hay không ông chủ khách sạn cũng sẽ làm như vậy.

       -Tôi rẩt vui mừng trước những lời tốt đẹp ông dành cho tôi. - Mi-cla-sốp nói. — Nhưng anh thoáng nghĩ là phải nhanh chóng rời khỏi đây càng sớm càng tốt vì anh không muốn nhiều người biết đến anh. — Nhưng tôi chỉ có một đề nghị nhỏ.

         -Vâng, xin ông cứ cho biết.

       -Ông hãy cất ảnh của tôi đi. Tòi không muốn mọi người biết tôi đang ở đây. Như vậy đỡ phiền phức. Mà tôi thì lại không muốn đổi khách sạn khác...

      -Ôi, sự khiêm tốn của ông còn cao hơn cả mọi lời khen!

       Cuộc sống như vậy là tạm ổn. Nhưng không hiểu sao anh vẫn cảm thấy có một mốl nguy hiểm ngấm ngầm nào đó đang đến gần. Sự yên ổn ở đây cũng như không khí tạm yên ắng trước cơn giông vậy. Tuy bầu trời quang đãng đấy nhưng chân trời đang có một đám mây đen tụ lại, gió ngừng thổi như để dự trữ cho trận cuồng phong lớn... Sống lưng Mi-cla-sốp cảm thấy gai gai như có hơi thở hồng hộc của những kẻ đang săn đuổi anh. Anh chẳng còn hoài nghi gì nữa, nhất định chúng nó đã tìm thấy xác tên Tô-bôn-xki và khẩu súng lục “brao-ning” anh vứt lại trong bụi. Tất nhiên mọi nghi ngờ đều đồn vào anh. Anh tự rủa thầm vì sự sơ ý đó. Sao lại vứt súng đi? Nhất định nó sẽ còn in rõ dấu tay của anh. Tại sao lại bỏ chạy? Đáng lẽ anh phải quay lại, cùng bọn bảo vệ đi tìm «vị thủ trưởng mất tích». Nhưng cái gì đã xảy ra thì không thể bắt nó dừng lại được, đã sai lầm rồi thì khó sửa ngay. Mi-cla-sốp dự đoán chúng sẽ chờ đón bắt anh ở đơn vị lê dương, nơi nhất thiết anh phải trở về. Nhưng giờ đây anh không thể trở lạị đó, anh muốn bắt liên lạc với du kích và tham gia các nhóm kháng chiến.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Bảy, 2015, 06:39:09 am gửi bởi huytop » Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #132 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2015, 06:41:50 am »

        -Tôi xin vui mừng thông báo ông rõ là, theo quyết định của hội đồng gia đình chúng tôi; từ nay trở đi, thưa ông Mi-cla-sốp vô cùng kính mến, ông có quyền mỗi ngày uống một vại lớn bia nhắm với khoai tây rán không mất tiền, - ông ta cố cao giọng với trịnh trọng để cho đám khách ăn thưa thớt cùng nghe.

         Mi-cla-sốp chẳng còn biết nói gì hơn là chân thành cám ơn nhã ý của ông chủ khách sạn. Mặc dầu anh biết rằng ông ta chưa thể họp hội đồng gia đình được. Song thật ra một vài vại bia hơi có đáng là bao. Đó phải chăng cũng là một kiểu quảng cáo. Mi-cla-sốp vừa dứt lời cám ơn thì trước mặt đã thấy một cốc vại bia hơi sủi bọt trắng xóa và một đĩa lớn khoai tây rán.

        -Thưa ông, xin mời ông.

        -Tôi xin cám ơn ông một lần nữa, nhưng… nhưng.. Mi-cla-sốp ngập ngừng dang rộng hai tay như thanh minh và đẩy vại bia ra giữa bàn làm sóng sánh cả bọt. – Ông hiểu cho, tôi không được uống nhiều rượu. Chế độ tập luyện mà... Còn khoai tây và bít-tết thì tôi không dám từ chối!...

         Ông chủ vẫn không chịu, ông ta liền ngồi xuống cạnh Mi-cla-sốp và cùng uống với anh. Một lát sau người phục vụ mang ra hai đĩa bít-tết. Ông chủ sốt sắng mời anh ăn... Miếng thịt bò to bằng chiếc lưỡi xẻng công binh, đang sủi mỡ nóng, tỏa mùi thơm ngậy đầy hấp dẫn...   

        Ăn trưa xong, Mi-cla-sốp đi về phòng. Phải nhanh chóng tìm biện pháp gì đó. Anh đút khẩu súng vào túi,  nhưng rồi lại rút ra giấu dưới đệm giường. Anh đứng im lặng một lúc, tự ngắm mình trong gương. Anh vuốt tay lên má, râu đã cạo nhẵn. Tiền và giấy tờ cần thiết đã nằm gọn ở túi áo ngực. Cứ đề phòng, ngộ nhỡ không quay lại đây nữa. Anh đi lại trong phòng. Đến cửa anh dừng lại, suy nghĩ, lấy khẩu súng dưới đệm đút vào túi quần. Có súng vẫn yên tâm hơn...

           Anh đi ra phố cho tới gần tối mới trở về khách sạn. Cuộc đi thăm dò hôm nay không thành công. Ở ngoại ô, bọn lính Đức đông hơn ở thành phổ nhiều. Hai lần chạm trán với bọn tuần tra. Bọn Đức canh phòng cẩn mật các cửa ô vào thành phố. “Cần phải ra khỏi thành phố này ”, - anh quyết định. Ý định này nảy sinh khi anh đến “thăm” hai hòm thư mật : một hòm thư chính và dự bị. Cả hai nơi đều trống rỗng. Cô nữ hiệu thính viên không biết cả hai hòm thư này. Cô có một hòm thư riêng đặc biệt. Hòm thư này chỉ dùng khi cần thiết, lúc anh phải đi thi đấu ở các nơi và vắng mặt một thời gian nào đó. Từ mùa thu năm ngoái, Mi-cla-sốp đã rời khỏi dây. Chả lẽ từ năm ngoái đến giờ lại không có «bưu điện» từ Béc-lin hay sao ? Anh thấy không yên tâm. Cái cảm giác về mối nguy hiểm mơ hồ cứ bám lấy anh.

        Treo chiếc áo khoác lên mắc, để nguyên quân phục Mi-cla-sốp nằm xoài lên giường. Thật là thoải mái khi được duỗi đôi chân đã mỏi nhừ lên thành giường mà chẳng cần phải suy nghĩ gì. Hôm nay anh đi khá nhiều. Gần trọn một ngày lang thang vô ích. Anh lim dim mắt, gác tay lên trán. Chiếc đồng hồ kêu tích-tắc ngay bên trái làm anh liên tưởng đến tiếng bánh xe lăn đều đều trên đường ray. Chà, giờ mà  được một vại bia như ông chủ khách sạn mời lúc trưa thì tốt quá. Bóng tối đổ ụp xuống căn buồng hầu như tối hẳn, liên lạc nào, còn một sợi chỉ mỏng manh đã đứt nốt. Giờ thì anh có vẻ như đã bị loại hoàn toàn khỏi cuộc chơi. Hay là nhóm Béc-lin cũng đã bị lộ ? Anh không muốn nghĩ tới điều kinh khủng này,- nhưng như người ta thường nói, không thể nhắm mắt trước thực tế được. Trong các hòm thư mật không có một mẩu giấy nào. “Hòm thư trống rỗng”. Bây giờ mình tự làm chủ mình, hay nói một cách khác, bây giờ chỉ còn mình anh trên chiến trường... Một mình, nhưng vẫn là chiến sĩ! Và anh phải tìm ra một phương cách hoạt động nào đó cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh. Đứng dậy vươn vai, anh đấm liền mấy quả vào không khí, vào một kẻ thù tưởng tượng. Anh nhảy nhảy, tiến lùi tựa như đang ở trong phòng tập, Anh bỗng nhớ và hối tiếc cho Các Bun-xông. Có ông ta thì vẫn đỡ hơn, có chỗ dựa, mọi việc sẽ dễ dàng hơn. Cũng đáng thương cho ông ta. Số phận thật trở trêu, nán lại vài ngày ở Lai- xích và thế là, «hy sinh» luôn. Ông ta là huấn luyện viên có tài, là một con người biết điều. Anh muốn luyện lại những cú móc mà Bun-xông đã dạy cho anh. Nhưng tập làm gì. Có thể chấm dứt cái môn “bốc" này roi. Mình còn chờ đợi gì nữa?

         Anh khoác chiếc áo ca-pốt lên, cài thắt lưng cẩn thận. Anh biết, tại thành phố này có nữ đồng chí hiệu thính viên đang sống, nhưng chưa bao giờ anh đến phòng cô ấy cả. Giờ đây anh cũng không định đến đấy. Anh chỉ đi qua đó, xác định xem cô ấy còn ở đấy không. Làm việc này chẳng có gì khó. Chỉ cần đến gần khu nhà ở, đi bên kia đường, nhìn lên cửa sổ xem có tín hiệu gì không. Nếu màn che phủ kín
cả cửa sổ thì tình hình vẫn yên tĩnh; không có gì bất trắc. Còn nếu phía góc trái màn cửa bị vắt lên là nguy hiểm. Đó là tín hiệu quy ước. Không có gì nguy hiểm thì anh có thể đến hòm thư bỏ vào đấy những tin tức cần chuyển về Trung tâm.
 
        Vào nửa đêm thời tiết thay đổi đột ngột. Gió từ biển thổi vào mạnh hơn. Mây đen ùn tới kèm theo mưa nhỏ. Đường phố vắng người. Chỉ còn một phố nhỏ nữa là đến chỗ rẽ sang phố Ma-ri-na ở. Anh đi sang phía bên kia đường. Từ xa anh đã thấy ba cửa sổ sáng đèn, trong đó có phòng của cô ấy. Anh đi tiếp, và từ bên này đường anh thấy tấm màn buông kín cửa – một tín hiệu bình thường. Nhưng cũng ngay lúc đó anh đã bỏ qua một chi tiết nhỏ - tấm màn không phủ kín toàn cửa sổ. Điều anh quan tâm là màn cửa kéo thẳng, không chéo góc, quy ước an toàn. Liên lạc với Trung tâm vẫn có. Có thể đặt tin vào hòm thư mật. Vâ anh thầm nghĩ từng câu từng chữ trong bản báo cáo sắp tới….
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #133 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2015, 06:50:46 am »

         CHƯƠNG MƯỜI BA



        1.



        Mi-cla-sốp vòng ngang qua ngôi nhà và dừng lại ở ngã tư. Từ đây có thể nhìn rõ ban công phủ đầy dây trường xuân. Mưa đã tạnh. Anh lặng lẽ kín đáo quan sát ngôi nhà và suy nghĩ. Hôm nay là thứ tư.Như vậy là ngày kia, cô ấy sẽ phải đến hòm thư mật, như thường lệ vào thứ tư và thứ sáu. Và đến hòm thư dự bị vào chủ nhật. Dù muốn hay không cũng phái chờ đợi. Cứ chờ tốt nhất là hai hôm nữa tin tức sẽ được chuyển tới Trung tâm. Và nhất định Mát-xcơ-va sẽ phải suy nghĩ cách giải quyết; sẽ chuyển anh đi đâu, chuyển như thế nào. Thế như thời gian thì gấp lắm. Hoàn cảnh của anh giờ đây không phải tính từng ngày mà tính từng giờ. Anh nhìn lên cửa sổ. Đèn vẫn sáng. Cô ấy vẫn đang thức.
 
      Anh đi vòng lại, quan sát cửa vào. Cửa đóng. Có lẽ chẳng có điều gì đáng ngại. Chung quanh vắng lặng, không một bóng người. «Vào bây giờ thì sao? Chỉ cần vào chỗ cô ấy một phút, nói vài lời và về ngay khách sạn. Mi-cla-sốp do dự đấu tranh với bản thân vì anh hiểu rằng làm như vậy sẽ vi phạm nguyên tắc tiếp xúc. – Nhưng biết làm sao được? Hai ngày dài đằng đẵng. Hai ngày quí giá. Cần phải liều. Cô ấy sẽ hiểu. Hoàn cảnh bắt buộc thôi, chẳng còn lối thoát nào khác. Anh cảm giác cô hiệu thính viên, có những nét rất gần gũi, rất giống Li-đa-ve-ta. Ngay từ những buổi gặp gỡ đầu tiên, anh đã nhận thấy như vậy. Những người thân yêu của mình; Li-đa-ve-ta, An-driu-sa, lạy trời, chả hiểu nó còn nhận ra mình nữa không? Bao giờ mới được gặp lại…?».

      Mi-cla-sốp dừng lại. Đường phố vắng vẻ. Nhưng trong các căn nhà, đèn vẫn sáng. Tim anh đập liên hồi. Cố bình tĩnh lại, anh đi thẳng đến lối vào, dưới ánh sáng mờ nhạt của một ngọn đèn nhỏ. Chân nặng nề, tựa như ai đó cố giữ anh lại. Nhưng anh không chịu nghe mình, không muốn tin vào những linh cảm. Anh vẫn cứ bước tới. Anh đã sơ suất, chiếc màn cửa tuy vẫn buông thẳng nhưng không hòa toàn giống như qui định. Anh không biết rằng, Ma-ri-na không còn ở đây nữa mặc dầu căn phòng vẫn còn sáng đèn, vẫn nguyên vẹn. Xtar-cốp đã dẫn cô đi cách đây hai hôm. Trước khi đi cô đã cố ý kéo hẳn cho phía góc trái màn bị vắt lên để báo hiệu nguy hiểm. Hãy tránh xa đi! Từ xa đã có thể và phải quan sát thấy.
 
       Hôm ấy, chỉ một giờ sau khi sau khi Ma-ri-na Rúp-xô-va đánh điện và vội vàng thu dọn điện đài thì bọn gíét- ta-pô ập đến. Nhưng chúng đã muộn. Không có ai đáp lại tiếng gõ cửa hối hả và hách dịch của chúng cả. Không làm ầm ĩ, chúng lẹ làng phá khóa cửa. Nhưng người phụ nữ mà chúng đang tìm không còn ở trong nhà nữa. Đồ đạc vẫn nguyên vẹn, quần áo vẫn treo trên mắc. Chắc cô chủ nhà đi đâu đó chốc lát.

        Thế là chúng dăng bẫy chờ đợi. Nhưng chẳng có kết quả gì. Chúng vẫn kiên nhẫn chờ. Thời gian cứ trôi qua mà cô chủ vẫn không trở lại. Vì muốn tránh cho người ở phía đối diện bên kia khỏi nhìn thấy một trong hai tên phục kích đã vô tình kéo tấm màn cửa buông xuống trùm kín cánh cửa sổ. Chính chi tiết ấy đã làm cho Mi-cla-sốp phát hiện được và mắc sai lầm,..




      2.




       Cố nhón chân nhẹ nhàng, Mi-cla-sốp đi lên cầu thang gác và dừng lại ở lối rẽ, nghe ngóng. Chung quanh vẫn yên tĩnh. Cả khối nhà như chìm trong giấc ngủ. Chỉ có tiếng tim đập mạnh làm anh phải 'mỉm cười với chính mình. Dù nói gì thì nói, chứ đến với một người phụ nữ độc thân xinh đẹp như Ma-ri-na trong đêm hôm khuya khoắt thế này thì sao lại không hồi hộp được. Họ ít gặp nhau, suốt hơn một năm rưỡi họ chỉ gặp nhau có ba lần, Ma-ri-na thường dịu dàng thân mật ngước đôi mắt hiền dịu nhìn anh và hỏi: «Anh bị đánh như vậy có đau lắm không? ».  Cô còn công khai biểu lộ vẻ bất bình: «Chả lẽ ở Mát-xcơ-va không còn ai nữa hay sao mà phải cử anh sang làm cái công việc này». Mi-cla-sốp thường tìm lời lời an ủi để cô bạn gái yên tâm, khẳng định không bị đau đớn gì và phải giải thích cho Ma-ri-na hiểu nhiều điều oái ăm của môn quyền Anh. Nhưng có lẽ anh cũng chưa hoàn toàn thuyết phục được cô. Cô gái mỉm cười dịu dàng và nhắc lại đầy thông cảm: «Tôi hiểu. Tôi biết tất cả rồi. Anh chẳng cần phải giải thích và hùng biện nữa, mắt tôi đã trông thấy rồi…».

      Vừa đi vừa suy nghĩ, Mi-cla-sốp đã đứng trước cửa phòng, Anh vẫn đeo găng tay da, bấm chuông. Một hồi chuông ngân vang phía trong căn phòng. Bấm nhanh hồi chuông, I-go lùi lại một bước, lắng nghe. Có tiếng chân bước lại phía cửa. Tiếng khóa cửa kêu tách và cánh cửa từ từ mở hé. Sau cánh cửa, tối mò mò. Mi-cla-sốp bước nhanh vào, vớì tay đóng cánh cửa sau lưng lại. Anh ngửi thẩy mùi thuốc lá. Một cảm giác ớn lạnh chạy khắp người: Ma-ri-na không hút thuốc bao giờ? Nguy rồi...
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #134 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2015, 08:24:27 am »

       Anh lùi nhanh nhưng một nòng súng cứng lạnh dí vào xương sống:

      -Giơ tay lên! Hen-de hốc! Giơ tay lên! Mệnh lệnh tiếng Đức vang lên bên tai anh.

     Mi-cla-sốp lạnh toát người. «Bị rồi! Thế là hết! ». Lóe lên trong anh một ánh chớp thất vọng – Tự mình dẫn xác đến cho chúng! Anh từ từ giơ tay lên ngang vai. Nòng súng lại thúc vào lưng.

     -Giơ tay lên! Vào phòng!

     Anh bước vào căn phòng sáng ánh đèn lừa dối.Khắp nơi còn lộ rõ dấu vết lục soát. Ngăn tủ bị xới tung, chăn đệm bị đảo lộn, cảnh cửa tủ mở toang ra. Một tờ báo nằm trên bàn; mẩu thuốc lá vứt đầy chiếc gạt tàn. Chúng nó phục ở đây từ lâu, — Mi-cla-sốp thầm nhủ.

      Một tên giét-ta-pô mồm ngậm thuốc lá, mặt béo phì đứng dậy. Tay hắn đặt vào bao súng lục. Chăm chăm nhìn anh một lúc, hắn bỗng mỉm cười ra vẻ thân mật như quen biết từ lâu.

     -À, té ra là anh! Tôi biết anh từ lâu. Nhưng quả thật lại không ngờ rằng chúng ta gặp nhau ở đây, anh bạn võ sĩ quyền Anh. Anh biết không, tôi đâm mê anh từ sau trận đấu với tay võ sĩ bốc vác địa phương, thằng Cọp Xám ấy mà. Han-xơ, chúng ta gặp may đấy! Con thú này sa bẫy là loại bự đấy !...

      Cho bõ công chầu hẫu ở đây mấy hôm nay chứ, — một giọng nói đanh có vẻ quen quen cất lên sau lưng anh. Hắn lại thúc nòng súng vào lưng anh: - Bước lên, đừng ngượng.

       Phòng bên không thấy có thêm ai đi ra. Nếu có thì chắc hắn cũng đã bước ra. Như vậy chúng chỉ có hai tên. Mi-cla-sốp dừng lại giữa phòng, đứng trước chiếc gương lớn cạnh tủ. Qua tấm gương này, anh quan sát kỹ tên đứng sau tay lăm lăm khẩu súng lục. Hắn là Han-xơ. Hắn thấp hơn Mi-cla-sốp một đầu, người mập, chiếc áo quân phục mở phanh. Mi-cla-sốp chợt nhận ra Han-xơ chính là tên hạ sĩ quan trong nhóm ba tên biệt kích cải trang làm cảnh sát Nga ở khu rừng Lu-ga Lê-nin-grát mà anh đã từng chạm Irán. Lúc ấy bọn chứng có ba tên và anh lại bị trói hai tay ra sau. Còn hôm nay ở đây chúng chỉ có hai tên. Anh cố nén hồi hộp. «Phải bình tĩnh! Phải thật bình tĩnh». Anh tự hạ lệnh cho mình. - Tranh thủ thời cơ, phải đánh gục chúng chúng ! Anh bỗng đổi giọng, cố làm ra vẻ thật tức tối và xấu hổ:

     -Các anh không nhận ra người mình à? Người lính của quốc trưởng không có quyền đến với bạn gái hay sao? Chẳng có điều lệnh nào cấm chuyện đi tìm gái trong giờ rỗi cả.

    -A hà! – tên giét-ta-pô hút thuốc lá có vẻ sôi nổi hơn lên. Xem ra hắn là kẻ chỉ huy ở đây. – Như vậy anh biết ở đây có gái?

     -Sao lại không biết. - Mi-cla-sốp thẳng thắn công nhận, cố kéo dài trò chơi của mình.

     -Anh thường đến với nó?

     -Đúng thế. - Mi-cla-sốp khẳng định. – Còn ngủ lại đây là khác.

     -Thế đấy, thế đấy… Anh đến đây đã lâu chưa?

     -Lâu rồi, từ mùa thu năm kia. Đúng vào dịp sau khi đánh thằng Cọp Xám đấy; - Mi-cla-sốp đáp lại và thầm mắng ngay mình «Sao lại ba hoa làm gì? Ngộ nhỡ cô ấy đã trong tay bọn chúng thì sao?». Nhưng rồi anh cũng nói tiếp, - Tên thật của anh ta là Ca-min Di-um-ban. Tôi đánh anh ta nốc-ao vào hiệp bảy, ông còn nhớ chứ?

    -Đúng, đúng như thế…Tôi nhớ ra rồi…Đúng như vậy! Hôm ấy đánh đẹp lắm!– tên giét-ta-pô lại kéo dài giọng, nhả khói thuốc lên trần. – Hôm ấy có một người phụ nữ lên tặng hoa cho anh phải không?
     
     -Vâng, đúng vậy. - Mi-cla-sốp vui vẻ đáp và hiểu ngay rằng, hắn chưa biết mặt Ma-ri-na. Thế biết rồi thì hắn đã chẳng nói: «có một phụ nữ nào đấy» mà nhất định hắn ta sẽ nói ngay tên cô ta ra để dọa anh. Anh cảm thấy nhẹ nhõm. Như vậy là  chúng chưa bắt được cô ấy. Cô ấy vẫn đang tự do. Nhưng làm sao để kiểm tra được? Và anh nói luôn: - Vâng, chính là cô ta. Tôi bắt đầu làm quen từ hôm ấy.
—   Chúng tôi cũng đang cần gặp cô ấy đấy... Tên Han-xơ nói xen vào và hắn sẵng giọng: - Đã hai ngày đêm ngồi ở đây nhưng vẫn là công dã tràng.

      Như vậy là rõ. Ma-ri-na chưa bị bắt. Anh thở dài nhẹ nhõm.

     Anh đến đây lần cuối cùng vào lúc nào? - tên mật vụ châm thêm điếu thuốc khác.

     -Nửa năm rồi. Trước khi đi Lai-xích dự cuộc thi đấu quyền Anh châu Âu. Việc này tôi sẽ khiếu nại lên trên ! Chính ngài Mác-cơ Sơ-me-lin-gơ đã từng bắt tay chúc mừng tôi ở đây, thế mà các ông lại !... Không việc gì phải lăm lăm khẩu súng như vậy. Tôi không chạy đâu! -  Mi-cla-sốp quyết định tấn công. -  Tôi vừa xuống tàu Béc-Iin xong, vội quăng hết hành lý ở khách sạn và chạy đến đây với cô bạn gái cũ, một cô bạn gái cô đơn, không chồng con, không gia đình... Không ai cấm những người lính chúng tôi chuyện này cả. Tôi đã từng đổ máu ở mặt trận phía đông vì quốc trưởng, đã được thưởng huân chương!... Các ông cứ kiểm tra mọi thứ giấy tờ xem, các ông sẽ thấy tôi nói thật hay bịa. Ngay tờ báo kia, các ông đọc xem, người ta cũng viết về tôi đấy. Các ông xem có phải ảnh tôi đấy không ?...

     -Được thôi. Đừng nóng nảy. Chúng tôi biết anh. Sẽ kiểm tra giấy tờ... Đó là chuyện vặt. Nhưng chúng tôi cứ phải giữ anh lại đã. Đó là mệnh lệnh. Giữ lại bất cứ ai... - Tên hút thuốc ngập ngừng một lúc, rồi nói tiếp, giọng gay gắt hơn: — Chúng tôi không có quyền. Lát nữa tốp khác đến thay, anh cứ việc về cơ quan với tôi. Ở đấy người ta sẽ kiểm tra, sẽ quyết định, thả hay không thả. Thế thôi. Tất nhiên Mi-cla-sốp không thể ngoan ngoãn đến «cơ quan» chúng được.

     Thế còn khẩu súng kia, việc gì anh cứ chĩa vào tôi thế? Sợ tôi chạy à?

      Qua gương, anh thấy tên Han-xơ làu bàu gì đó và hạ súng xuống. «Thời cơ đây rồi» - Mi-cla-sốp quyết định – Nhưng phải bình tĩnh. Phải đánh gục ngay từ cú đầu.

       Và ngay sau đó, mọi việc diễn ra chỉ trong nháy mắt.

      Quay ngoắt người, Mi-cla-sốp nghiến răng đá thốc mũi giày vào khuỷu chân của tên giét-ta-pô hút thuốc lá đứng cạnh và tiện tay đấm móc một quả vào mạng mỡ của hắn. Hắn ứ lên một tiếng và gục ngay xuống sàn, kéo đổ theo chiếc bàn con.

       Mi-cla-sốp  không kịp nhìn xem hắn ngã ra sao liền nhảy phốc tới tên Han-xơ lúc ấy cũng đã nhanh chân nhảy lùi lại sau một bước sát tường và giơ súng lên. Nhoài người sang trái tránh hướng súng, anh lao thẳng vào tên mật vụ thứ hai, dùng tay phải chém mạnh vào tay cầm súng của hắn. Nhưng hắn cũng đã kịp bóp cò. Một tiếng nổ vang lên bắn vỡ tấm gương phía sau anh. Mi-cla-sốp  thụp người xuống tránh được và tiện tay đấm móc một quả vào hàm dưới tên Đức, tay trái đánh thốc vào dạ dầy và đầu gối xộc vào bụng nó. Han-xơ, tựa như một chiếc bao cát, co rúm lại và nặng nề ngã phịch xuống sàn, miệng ú ớ. Hắn lăn lộn tay vẫn không buông rời khẩu súng. «Nốc-ao rồi» - Mi-cla-sốp  lẩm bẩm theo thói quen nghề nghiệp.

      Rút khẩu Brô-ninh, anh chạy tới cửa phòng. Tình huống bây giờ phải tính từng giây. Ngoái lại nhìn thấy tên thứ nhất, có lẽ đã kịp tỉnh lại sau phát súng nổ, đang loay hoay sờ bao súng. Hầu như không cần ngắm, Mi-cla-sốp bắn liền hai phát vào nó. .Anh nhoài người, nhặt khẩu súng trong tay Han-xơ và chạy ra khỏi phòng. Khóa cửa và rút chìa khỏi ổ, anh chạy xuống nhà, dừng lại nghe ngóng. Chung quanh vẫn im lặng như không có chuyện gì xảy ra. Anh mở cửa lớn, nhón chân ra sân, và chạy sang bên kia đường phố.

      Đúng chỗ góc phố, anh chạm trán tổ tuần tra. Một ánh đèn pin gắt chiếu thẳng vào mặt anh.

     -Đứng im, không được động đậy! Cho xem giấy tờ!

      Mi-cla-sốp bình thản đưa giấy chứng minh, mọi thứ đều hợp lệ. Đưa trả lại giấy cho anh, tên đội trưởng hỏi :

       Bắn nhau ở đâu dấy ?

      -Hình như ở trong nhà này này, — Mi-cla-sốp chỉ vào ngôi nhà bảy tầng bên cạnh. — Tôi nghe hai ba tiếng nổ...

       Bọn tuần tra vội lao tới phía ngôi nhà đang im lìm trong bóng đêm...
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #135 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2015, 05:09:31 am »

       3.



        Sau khi được nếm hai cú đấm nặng cân của nhà võ sĩ mặc dầu tay không đeo găng đa, Han-xơ ngất đi một lúc và hồi tỉnh lại sau hai tiếng nổ. Vừa mở mắt, hắn đã vội nhào tới cửa sổ, đập vỡ kính, la lên báo động...

       Tên trùm giét-ta-pô lồng lên giận dữ khi được biết bọn tay chân đã để xổng mất «một con mồi cực kỳ nguy hiểm và quan trọng». Hắn gọi I-go Mi-cla-sốp võ sĩ hàng binh nổi tiếng, đội viên đội lính lê dương thuộc quân đội Đức là như vậy. Còn nếu như tính thất bại này với những vụ lộn xộn khác như những hoạt động lãn công, tẩy chay của các đơn vị tù binh và công nhân địa phương bị cưỡng bức lao động trong các nhà máy công nghiệp, những vụ hoạt động táo bạo của các đội vũ trang thuộc phong trào kháng chiến cùng với việc để mất tích nữ nhân viên tình báo và chiếc đài phát bí mật cách đây hai hôm thì, ta cũng hiểu được tình hình của ngài trùm giét-ta-pô thành phố này sẽ ra sao. Bản thân gã cũng hiểu được những «thành tích» này của  mình sẽ dẫn tới đâu. Hơn thế nữa, «con mồi quan trọng» đó lại sổng ngay trong phòng của nữ nhân viên điện đài, (mặc dầu không tìm được điện đài, nhưng bọn mật vụ sau khi lục soát kỹ càng đã phát hiện ra dây ăng-ten ngụy trang rất khéo tại chùm dây hoa trường xuân trên ban-công căn phòng của nữ nhân viên tình báo Nga). Ngay đêm hôm đó, gã thân chinh đến tận căn phòng này. Như vậy là chúng nó đã liên lạc với nhau từ lâu. Khớp mọi sự kiện đó lại với nhau, cơ quan tình báo Đức chẳng khó khăn gì cũng khẳng định được rằng, Mi-cla-sốp là kẻ thu lượm tin tức và nữ nhân viên tình báo kia là người truyền tin lúc đó về Mat-xcơ-va. Điều trớ trêu là mọi việc lại diễn ra tại đây, tại thành phố An-véc-pen này...

     Cơ quan giét-ta-pô in hàng loạt ảnh chân dung Mi-cla-sốp và Ma-ri-na với tên gọi chính thức là Ma-ri-na Toóc-ten-béc. Ảnh này do cơ quan an ninh của chúng cung cấp từ tấm phim do nữ nhân viên bí mật I-vôn-an Van-đéc-Gráp chụp. Tất cả cơ quan phản gián; giét-ta-pô, các trạm kiểm soát biên giới Đức ở các tỉnh, thành phố Bỉ đều được phân phát những bức ảnh này. Còn ảnh Mi-cla-sốp thi chúng chụp lại hình trên báo công khai. Các nhân viên mật vụ, an ninh chìm, nổi đều được điều động cùng với các đội cảnh sát, hiến binh và nhân viên các cơ quan quân quản được tung vào cuộc truy lùng hai điệp viên Nga.




      4.




        Quả thật vượt qua màng lưới bao vây dày đặc chăng khắp nơi trên các trạm kiểm soát biên giới không phải là chuyện dễ dàng. Nhưng lợi dụng ỉúc chúng đang tập trung vào việc đối phó, Mi-cla-sốp đã chạy được tới Brúc-xen. Ở đây chẳng có ai quen biết, anh muốn tới trung tâm, nơi đô hội nhất để dễ trà trộn vào dòng người tấp nập và những đường phố lắt léo. Anh muốn đến quảng trường trung tâm, một nơi thường vẫn có nhiều người thích đi dạo vào lúc chiều tà, để được ngắm nhìn những tia nắng vàng rực rỡ, tựa ánh đèn pha, chiếu thẳng vào mái tròn nhà thờ dát vàng, những khuôn cửa sổ óng ả màu sơn rực rỡ. Anh rất thích ngắm khu nhà thờ đồ sộ, trang nghiêm với những đỉnh tháp nhọn nhô cao trong bầu trời hoàng hôn rực nắng.

       Lúc này anh không còn tâm trí và thời gian để chiêm ngưỡng cảnh đẹp thiên nhiên và con người đang hòa hợp với nhau trong khung cảnh chiều hôm ấy. Vừa ra khỏi nhà ga, anh có cảm giác hình như sau anh có chiếc «đuôi» bám theo. Cũng có thể chỉ là bị ám ảnh thôi. Anh vội rẽ vào một hiệu ăn gần ga, chiếm chiếc bàn con cạnh cửa sổ, gọi cốc bia, miếng bít-tết khoai tây rán. Một lô lính cũng ùa vào ngay sau anh. Chúng ồn ào nói chuyện, cười hô hố như ở chỗ không người. Kín đáo nhìn qua cửa sổ, anh nhận thẩy mấy tên cảnh sát ở ngã tư thỉnh thoảng lại rút mẩu giấy trong túi ra ngắm và xoi mói nhìn vào tận mặt những người từ nhà ga đi ra. Các đội tuần SS chặn dường từng người kiểm tra giấy tờ hầu như không bỏ sót một ai.

        Mi-cla-sốp ăn nhanh và uống cạn vại bia.. Anh thầm hỏi : chúng nó tìm ai ? Một cuộc khám xét thật sự. Và tựa như có một luồng điện chạy dọc sống lưng, anh giật mình thầm đoán có lẽ là tìm mình chăng?! Anh đặt tiền trả dưới cốc bia và bình thản bước ra ngoài. Hình như đôi chân tự cất bước nhanh hơn là anh muốn. Anh biết lối vào ga và quyết định đi đường vòng chứ không theo lối chính. Nhà ga lúc nào cũng tấp nập đông đúc người qua lại. Anh hòa vào dòng người sôi dộng đó. Trong tay đã có sẵn chiếc vé tàu tốc hành Brúc-xen — Pa-ri. Trên sân ga nhung nhúc mật thám, cảnh binh, lính tuần tra SS, trâng tráo nhìn thẳng vào mọi người qua lại.

      I-go rẽ vào quầy hoa mua một bó cẩm chướng. Anh cố làm ra vẻ người đi tiễn. Quan sát một lúc, anh sà vào một bà cụ, xách chiếc va li khá nặng của cụ lên:

      — Mẹ lên toa số mấy?

     -Toa số năm, con ạ. Cảm ơn con yêu quý - Bà già vui sướng đáp lại, giọng đầy ngạc nhiên. Các con bao giờ cũng tốt bụng cả. Thăng cháu nội của mẹ cũng đang phục vụ trong quân đội Đức đấy, có thể con cũng đã gặp, hắn tên là Cac-lơ.

       Mi-cla-sốp đường hoàng xách chiếc va-li nặng đi qua trước mặt bọn quân cảnh; mật vụ vừa đi vừa mẹ mẹ con con ngọt xớt. Đưa bà cụ lên toa, anh giúi bó hoa vào tay bà:

      -Chúc mẹ lên đường may mắn.

     -Cảm ơn, cảm ơn, con trai của mẹ….Thôi con xuống đi kẻo tàu sắp chạy rồi.

       Mi-cla-sốp đi ra cửa toa. Nhưng anh không xuống. Anh bước sang toa khác. Đúng lúc đó, một hồi còi vang lên, đoàn tàu chuyển bánh rời khỏi ga và tăng dần tốc độ, Mi-cla-sốp thở dài, nhẹ nhõm, cảm thấy yên tâm đôi chút, Anh không vào toa ngay mà đi dọc hết toa này sang toa khác. Trước mỗi toa, anh đều dừng lại ngay lối đi, cạnh cửa lớn ở đầu toa. Đoàn tàu  đã vượt qua khu ngoại ở Brúc-xen, Hai bên đường sắt đã bắt đầu xuất hiện các khu rừng vành đai xanh. Những hàng thông cao vút,, vỏ xanh bạc màu rêu, che kín thân đường sắt. Rừng càng dày dặc hơn. Mi-cla-sốp biết rằng trong đám màu xanh bí hiểm ấy có các đội du kích của lực lượng kháng chiến đang hoạt động.
Nhưng họ ở đâu? Làm sao liên lạc được với họ?.

       Khi đi về chỗ toa mình! Mi-cla-sốp suýt nữa đâm sầm vào ba tên giét-ta-pô, Hình như chúng nó cũng đang đi lùng ai đó trong các toa. Thấy vậy, Mi-cla-sốp vội chuồn ngay vào phòng vệ sinh. Một linh cảm không hay vụt đến với anh. Bọn giét-ta-pôdang đi kiểm tra tất cả các phòng trong từng toa. Anh khóa chặt cửa phòng vệ sinh lại. Nhưng không thể ngồi lâu trong này được. Phải chuồn thôi. Anh mở cửa sổ nhỏ trong phòng vệ sinh. Một làn khói đượm mùi than ùa vào phả vào mặt anh. Mi-cla-sốp ló đầu ra ngoài cửa sổ. Đoàn tàu đang chạy ở đoạn đường vòng. Hai bên ỉà rừng xanh rờn. Nhảy ra bây giờ là mạo hiểm vì ở mọi toa đều có thể trông thấy rõ anh. Nhưng dừng lại đây cũng rất nguy hiểm, có tiếng gõ mạnh ngoài cửa. Tiếng gõ giục giã, hách dịch. Chẳng còn cách nào khác, không thể chần chừ được nữa, anh nhoài hẳn người ra cửa, vươn tay nắm lấy thanh xà dưới mái toa, dướn người lên. Làn gió mạnh ngược chiều như muốn hất anh lại. Lấy hết sức, anh dướn người lên nữa, đạp chân vào thành cửa, anh leo lên mái toa. Và thật may, đúng lúc ấy, cửa phòng vệ sinh bật mở, hai tên giét-ta-pô ùa vào. Chẳng có ai cả, người hành khách lúc nãy đã biến mất. Chúng nhìn vội qua cửa sổ: và hiểu ngay, anh ta đã biến theo đường này. Mấy tiếng súng vang lên, bay vèo qua cửa sổ hướng lên mái toa. Chúng bắn đuổi  theo hú họa, Mi-cla-sốp bò lổm ngổm trên mái toa. Nghe tiếng đạn rít, anh vội đứng dậy cúi gập mình lại, chạy lên phía đầu máy. Trong khi cuống lên như vậy anh không biết rằng, mình đã phạm sai lầm nghiêm trọng. Chạy lên phía trước là hết sức nguy hiểm, là mạo hiểm. Dù đã cố nhón chân chạy thật nhẹ nhưng tiếng động vẫn vang lên trên mái toa. Bọn bảo vệ ở đầu đoàn tàu cũng đã trông thấy anh. Nhưng chúng vẫn im lặng chờ đợi. Giây lát sau, chúng đã vung súng lục bắn đón vào mục tiêu đang chạy trước mặt chúng.

       Phát hiện ra điều đó nhưng Mi-cla-sốp biết rằng không thể quay lại được nữa rồi. Chỉ còn một cách: phải nhảy xuống khu rừng. Anh nằm xoài trên nóc toa, lần tay sờ chiếc xà dọc, đu mình xuống đưa chân tìm một điểm tựa nào đấy để lấy đà nhảy. Gió quất vào mặt anh nghe vù vù. Anh đã bấu được chân vào một điểm tựa nhưng vẫn không nhảy ngay được. Bọn bảo vệ đã mở chốt hãm. Đoàn tàu hơi rùng mình, giảm dần tốc độ. Không giữ được thăng bằng, Mi-cla-sốp mất đà, ngã lăn người theo độ dốc ta-luy đường sắt. Anh lăn đi mấy vòng và rơi vào một lùm cây rậm ngay dưới nền đường. Anh không cảm thấy đau. Cái chính là anh biết mình vẫn còn sống! Nhổm dậy, anh chạy cà nhắc vào khu rừng rậm trước mặt. Phía sau, từ trong các toa, tiếng súng bắn đuổi theo réo quanh anh. Những tràng tiểu liên vội vã vang lên.

       Bỗng anh cảm thấy một cú đánh mạnh vào tay trái. Anh ngã xuống. Cánh tay tê buốt. Nhưng rồi anh lại vùng dậy cố chạy sâu vào khu rừng. Những bụi gai sắc nhọn đâm vào da thịt anh. Đó là cái cảm giác đau đớn cuối cùng mà anh còn nhớ được trước khi ngã vật xuống một bụi cây gai. Anh bị ngất xỉu như rơi vào một không gian vô tận, tối mò...

      Anh không thể thấy được bọn giét-ta-pô nhảy ra khỏi các toa như thế nào, chúng phóng tới đuổi sát anh và khi thấy anh đã nằm lịm đi, để chắc chắn hơn, chúng đã găm mấy phát đạn vào con người bất động đó. Anh cũng khổng hề biết bọn chúng đã lục soát người anh, lôi trong túi áo anh những giấy tờ, chứng minh thư kèm theo ảnh của anh và la lên vui sướng khi biết rằng chúng đã có công đầu kết liễu tên «điệp viên Nga» đang bị truy nã, tại đây.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #136 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2015, 06:40:35 am »

        5.



        Hôm nay Li-đa-ve-ta dậy sớm hơn mọi ngày. Chị bước đến bên cửa sổ. Trời vừa rạng sáng. Màn sương tháng Ba đục mờ vẫn còn bao phủ bên ngoài cửa sổ. Suốt một tuần nay, bầu trời ẩm ướt đầy mây đen. Nhưng hôm qua, bỗng quang đãng trời xanh cao rộng lớn và nắng vàng sưởi ấm không gian. Ánh nắng hiện ra rực rỡ tựa như nụ cười báo tin vui và hy vọng. Ánh nắng như nô dỡn trên đường; phố xá như bừng tỉnh dậy sau những ngày rét buốt ảm đạm. Và thế là tháng Ba, tháng giao điểm của mùa đông rét mướt đã qua và mùa xuân ấm áp đã đến.

      Li-đa-ve-ta đứng im lặng bên cửa sổ, ngẵm nhìn cảnh ban mai rạng dần. Chị bỗng mỉm cười, bởi vì, lúc nào, tâm hồn chị cũng như mọi người đang háo hức mong chờ mùa xuân đến. Mùa xuân bao giờ cũng dem tới những niềm vui và hi vọng.

      Chị đang vui vì hôm qua vừa nhận được thư của Cun-ga và Ga-li-a báo rằng thiếu úy Rô-cô-tốp là một trong những người «đưa tiễn» Mi-cla-sốp đi làm nhiệm vụ quan trọng trong khu du kích nào đó... Bức thư mang đến cho chị niềm vui và hi vọng bất ngờ, chị quay vào giường đứng im lặng nhìn con. Thằng bé vẫn ngủ ngon lành và miệng như đang mỉm cười. Chị sửa lại chăn cho con và thì thầm: Ngủ đi con, ngủ cho ngoan, con yêu quý.

       Li-đa-ve-ta nhóm lò, bắc ấm nước sôi. Chị cũng không hiểu tại sao lại có ý định ngẫu nhiên tới chỗ chiếc bình hoa bằng thủy tinh đặt trên nóc tủ. Chiếc bình hoa đã sứt một miếng nhỏ trên miệng. Có thể nói về mặt giá trị thì nó chẳng có gì đặc biệt thậm chí có thể là nó mất cả vẻ đẹp nữa. Nhưng đối với chị, nó là  một báu vật. Nó là quà bạn bè tặng nhân ngày cưới và đặc biệt I-go rất thích. Cứ sau mỗi lần đi thi đấu về, anh thường cắm những bông hoa đẹp nhất vào đấy đặt trên bàn trong phòng riêng của hai người. Khi rời Mát-xcơ-va đi sơ tán chị bỏ lại mọi thứ đồ dùng khác, chỉ mang theo chiếc bình hoa kỷ niệm này. Thế nhưng chị vừa nhón chân định đỡ xuống, thì luýnh quýnh thế nào, chiếc bình tuột tay rơi ngay xuống đất vỡ tan làm mấy mảnh. Li-đa-ve-ta lặng người. Chiếc bình rơi đột ngột tựa như chính chị vừa đẩy nó rơi xuống vậy. Chị lặng đi, kinh hoàng vội ngồi xuống nhặt các mảnh vỡ lên. Chị rên rỉ: «Ơi mẹ ơi, có chuyện gì với anh I-go thế này? Điềm gở gì thế này?..».

      Niềm vui nhỏ nhoi của buổi sáng đầu xuân cũng tan biến đi trong chị và tim chị nhói lên một linh cảm bất hạnh. Nước mắt tự nhiên ứa trào và không kìm được nữa, chị bật khóc... Chị vừa nức nở vừa khẽ lầm bầm như tự an ủi mình: «Anh thân yêu, cỉ cần anh sống, dù bị thương, dù tàn phế cũng dược. Chỉ cần anh sống thôi. Em không thề sống được, nếu trên đời này không còn anh. Anh phải sống, phải trở về với em... ».

      Bà Mác-pha Kha-ri-tôn-nốp-na cũng bừng tỉnh khi nghe tiếng lọ hoa vỡ. Quàng chiếc khăn vuông lên vai, bà nhẹ nhàng đến cạnh Li-đa-ve-ta, ôm lấy chị, ghì đầu chị vào ngực mình, bàn tay xoa nhẹ lên mái tóc chị và an ủi :

     -Sao vậy con, có chuyện gì vậy ?... sao con cứ tự làm khổ mình thế?..

      -Chiếc bình... Chiếc bình... Mẹ biết không, tự nó lăn xuống rồi vỡ tan tành ngay trước mắt con... Mẹ ơi, có chuyện chẳng lành rồi, điềm gở rồi...

     -Nhảm nhí nào, nó vỡ vì nó bị rơi từ trên cao xuống...Con làm nó rơi chứ gì? Bình thủy tinh chứ có phải lọ đồng đâu mà bảo không vỡ... Chưa biết thế nào con ạ. Chưa biết là điềm gở hay điềm lành đấy... Chúng ta hãy cứ sống và cứ chờ xem... Chẳng ai đoán trước được điều gì đâu...

       -Điềm gở rồi, nhất định là điềm gở rồi... — Li-đa- ve-ta vẫn khăng khăng, thút thít khóc. Con đã nghiệm mấy lần rồi mà...

      -Thôi, đừng nói chuyện nhảm nhí nữa. Cô đi mà giặt quần áo cho con rồi còn chuẩn bị đi làm…
 
      Bà Mác-pha đưa cho chị miếng xà phòng tiêu chuẩn cuối cùng bà vẫn để dành. Li-đa-ve-ta vẫn vừa thút thít vừa giặt giũ quần áo cho con trai. Ánh nắng ban mai đầu tiên chiếu xuyên qua cửa sổ. Một ngày mới lại bắt đầu với những công việc bình dị, với những lo âu và hy vọng thường ngày.

        Giặt xong đống áo quần cho con. Li-đa-ve-ta vừa bước ra sân thì nghe thấy tiếng gọi của cô nhân viên bưu điện:

      -Này cô Li-đa-ve-ta, có thư bảo đảm đây này. Lại cả dấu khẩn nữa.

      Li-đa-ve-ta lặng đi, tay run run cầm tấm phong bì mỏng manh, đọc lướt nhanh địa chỉ nơi gửi: Mát-xcơ-va - Cục thiết kế ..À, họ vẫn còn nhớ đến mình. Họ chưa quên mình, chị thoáng nghĩ. Bóc vội phong bì, chị ngạc nhiên thấy bức thư đánh máy mà mắt không tin đây là những dòng chữ thực. Chị ôm ghì lá thư vào ngực, nhắm mắt lại, lặng đi sung sướng.

    -Này, chuyện gì thế, nói đi xem nào. Vui hay buồn. Làm người ta sốt cả ruột, - chị đưa thư tò mò hỏi với giọng trách móc. 

     -Mát-xcơ-va gọi về! - Li-đa-ve-ta chạy ù vào nhà, miệng reo ầm lên. - Mát-xcơ-va gọi về! 

     Bà Mác-pha không ở nhà. Bà đã đi làm từ khi mới hửng sáng. Li-đa-ve-ta bế thốc chú bé An-đrây dậy, sung sướng hôn lia lịa, vào mắt, vào mặt nó.

     -Con ơi, có lệnh gọi về... Lệnh gọi... Chúng ta sẽ về Mát-xcơ-va... Sẽ lại được sống trong căn nhà thân yêu, được tắm nước nóng, được nấu bếp ga, được ….
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #137 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2015, 12:07:03 am »

      6.


     Hai nông dân Bỉ vừa đi vừa càu nhàu chửi rủa ấp trưởng đã bắt họ đi chôn một người Nga nào đó bị bắn chết ngoài rừng, bắt họ lặn lội giữa băng giá, đến tận tuyến đường sắt xa lắc. Tuy nhiên chỉ có người nông dân trẻ là càu nhàu nhiều, còn ông già thì ít nói hơn. Ông ta chỉ im lặng rít chiếc tẩu thuốc lá và thỉnh thoảng lên tiếng quát con ngựa kéo xe mà thôi.

     Vừa ra khỏi khu rừng thông rậm rạp họ đã thấy dấu chân người xéo nát cây cỏ từ nền đường sắt chạy ngoằn ngoèo vào rừng, Đi một quãng nữa họ thấy một xác người nằm gần đống cỏ khô đã mục nát. Người bị giết nằm sấp, mặc chiếc áo ca-pốt Đức, hai tay ôm lấy đầu gối chân co chân duỗi, lưng áo hắn lỗ chỗ mấy phát đạn từ vai xuống mông, máu đã thâm tím lại.

      Bọn hiến binh và giét-ta-pô giết cả lính đào ngũ của chúng ở giữa rừng thế này, còn chúng ta thì chúng nó coi là cái thá gì hả? - anh nông dân trẻ vừa càu nhàu vừa lấy xẻng trên xe ngựa xuống.
   
    -Không phải lính đào ngũ đâu, mà theo ấp trưởng nói thì đây là một tội phạm lớn đấy, — Ông nông dân già giải thích.

     -Tội gì thì tội, cứ phải đưa ra tòa án chứ, ai lại bắn người ta ngay giữa rừng rồi vứt xác thế này... Đúng là người này bị bắn khi đang chạy, có lẽ nhảy từ tàu hỏa xuống? - anh trẻ vừa nói vừa cúi nhìn cái xác và ngạc nhiên thấy ở ve tay áo trái có phù hiệu đơn vị lê dương Nga, anh ta hiểu ngay. — «Tội phạm gì, đây là đơn vị lính lê dương Nga. Đối với người Đức thì bất cứ người Nga nào chả là tội phạm, chả là là kẻ thù. mặc dù họ đã chạy sang với chúng..».

      -Người Nga? - người đứng tuổi bước đến nhìn người lính Nga nằm sóng soài với vẻ khâm phục và kính trọng, ông nói thêm: - Vậy phải chôn cất anh ta cho tử tế, cho mồ yên mả đẹp. Ở mặt trận phía Đông, họ đã đánh vỡ quai hàm quân Đức nên chúng nó trả thù thế này đây. Thật là anh hùng!

       -Bọn chúng đã lục soát các túi và lũ súc sinh ấy đã lấy hết mọi thứ rồi. Chả còn gì trong người nữa.— Thôi lật anh ta nằm ngửa lại xem nào. Ông nông dân hạ giọng tựa như sợ người đang nằm bất động kia nghe được: — Đội du kích chúng ta đề nghị là nếu thấy còn quân hàm quân hiệu gì thì cứ lấy về đưa ngay vào rừng cho họ.

      Họ thận trọng lật ngửa người chết lên. Lục túi áo trong cũng chả còn giấy tờ gì, ngoài tấm ảnh của Mác-cơ Sơ-me-lin- gơ.

     -Này, lạ thật - ông nông dân thốt lên— hình như chưa chết hẳn. Người chưa lạnh giá, âm ấm... Tựa như mới bị giết thôi. Thế nhưng lão cảnh sát bảo là đã ba hôm nay rồi...

     -Sao, cậu xem lại mà xem, biết đâu đấy, chưa chết hẳn thì sao?... anh cháu cắm phập chiếc thuổng xuống đất, ghé sát tai vào ngực Mi-cla-sốp. — Chả có miếng gương soi nhỉ. Thôi, cậu đưa cho tôi con dao nhíp nào... Con của cậu rộng bản hơn...

     Ông cậu lục túi lấy con dao nhíp. Anh nông dân liền chùi lưỡi dao vào ống tay áo thật sạch bóng và ghé vào mũi Mi-cla-sốp. Một lát lưỡi dao bị mờ mờ một làn hơi nước rất mỏng khó mà nhận ra được.

     -Cậu thấy không? - Còn thở đấy chứ? Toàn thân đã cứng nhưng vẫn còn thoi thóp thở, chưa chết hẳn, - Anh lại dí sát lưỡi dao vào mũi và sung sướng  kêu lên lần nữa:— Còn thở... Còn sống... Làm sao bây giờ ?..

     Người đàn ông bỏ tẩu ra, càu nhàu, húng hắng ho. Ông ngồi im hồi lâu, chống tay vào xẻng, suy nghĩ. Ông rít thêm một hơi thuốc, rồi mới lên tiếng: — Bọn phu đào huyệt thì chúng nó chẳng kể gì đâu, nó chôn tuốt. Nhưng tôi với anh thì không thể , trở thành đao phủ thứ hai được. Phải cứu người đang sống. Có phải thế không, anh Lê-ô, chúng mình khênh anh ta lên xe, đưa về cho đội du kích cứu chữa xem sao...

     -Cậu nói đúng lắm, cậu An-đrê ạ. — anh thanh niên sung sướng, sôi nổi hẳn lên. — Ở đội du kích chúng ta có cả người Nga đấy. Họ rất tốt! Đánh rất hăng. Rồi ta sẽ mời bác sĩ từ thành phố về. Tôi biết họ mà.





    CHƯƠNG MƯỜI BỐN





      Mùa hè năm bốn tư, các đơn vị quân đội Xô-viết sau khi chọc thủng được tuyến phòng ngự bên trái bờ sông Vít-la (Con sông giáp biên giới Ba lan) đã dừng lại củng cố trận địa. Tiếp theo các đơn vị tiền tiêu ngay đêm hôm ấy, tiểu đoàn xe tăng của đại úy Sa-ghin cũng theo cầu phao sang sông. Bộ chỉ huy giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn là: không chỉ củng cố bàn đạp mà trong điều kiện có thể phải tiến sâu hơn nữa, mở rộng bàn đạp.

      Không để mất thời gian, các chiến sĩ xe tăng khẩn trương chuẩn bị cho những trận đánh sắp tới. Nhiên liệu khí tài, đạn dược và cả lương khô được bổ sung đầy đủ. Các chiến sĩ mệt nhoài vì bốc vác, sắp xếp các hòm đạn pháo, đạn đại liên, tiểu liên.

      Gri-gô-ri Cun-ga sang sông sau cùng, anh như nhún nhảy theo chiếc xe của mình khi vượt qua cầu phao. Nhận đạn dược xong, anh chưa kịp sắp xếp lại cho gọn gàng thì đã có lệnh triệu tập lên ban tham mưu tiểu đoàn. Trong căn hầm rộng của ban chỉ huy đã có mặt hầu hết đội trưởng các xe. Bên chiếc bàn là đại úy tiểu đoàn trưởng Sa-ghin và cạnh anh là đại tá trung đoàn trưởng.

      -Tất cả đã đến đủ chưa? Chúng ta bắt đầu. – Đại tá nói và nghiêm nghị nhìn các đội trưởng xe. – Bộ tham mưu mặt trận thông báo cho biết, các chiến sĩ trinh sát của chúng ta đã thu nhập được nhiều tin quan trọng. Bọn Đức của hướng tấn công của chúng ta đang chuẩn bị tung ra loại xe tăng mới nhất của chúng. Chúng ta chưa biết đây là loại xe gì, hỏa lực của nó ra sao. Cũng chưa biết được cả số lượng bao nhiêu, vị trí tập kết ở đâu và chúng sẽ sử dụng ở hướng nào. Vì vậy, tư lệnh mặt trận yêu cầu các đồng chí, những con đại bàng của chúng ta, hãy hết sức cảnh giác. Nếu phát hiện được loại xe tăng nào khác với những loại thông thường thì phải lập tức báo cáo về ban tham mưu. Bí danh để gọi chúng là  «ấm xa-mô-va».

     — Thế có được bắn vào những chiếc xa-mô-va ấy không ạ ?—Cun-ga buột miệng, hỏi.

       Những người ngồi quanh anh, cười vui vẻ. Đại tá cũng cười theo. - Không những được mà phải bắn cho bằng được! Chúng tôi đã cung cấp cho tiểu đoàn các đồng chí những loại đạn phá đặc biệt mới chở từ thủ đô tới.

      -Như vậy thì nhất định chúng tôi sẽ hoàn thành nhiệm vụ thưa đồng chí trung đoàn trưởng!

      Tiểu đoàn trưởng đang chăm chú theo dõi bản đồ dùng bút chì xanh đánh dấu những vị trí của các đội xe tăng trên bàn đạp này. Cun-ga được bố trí ở cánh phải gần một làng nhỏ Ba Lan. Không để phí thời gian, anh đưa xe vào vị trí chiến đấu. Phải chiếm lĩnh trận địa, ngụy trang chàng dũng sĩ «ba tư tấn» trước lúc rạng đông và biết rõ địa hình địa vật khu vực chiến đấu mới. Các chiến sĩ xe tăng không hề hoài nghi rằng, họ sẽ là những người chịu đựng mũi nhọn tấn công của bọn Hít-le. Trước mặt họ là tiểu đoàn xe tăng - sức mạnh của một cú đấm sắt bí mật đang được chuẩn bị.

      Đây là loại xe mạnh được chế tạo theo chỉ thị riêng của Hít-le. Vị quốc trưởng đang khao khát chờ đợi ngày ra đời của con quái vật thép khổng lồ này. Các tướng lĩnh Đức gắn bó cuộc đời mình với binh chủng xe tăng đã lợi dụng ngay sự say mê của Hít-le. Những viên tướng cao cấp trong bộ tổng tham mưu, những kẻ biết rõ khát vọng của viên quốc trưởng đối với loại xe bọc thép này, đã vạch những kế hoạch phản công bằng xe tăng nhằm phá vỡ thế phòng thủ của đối phương.

     Quốc trưởng đặc biệt chủ ý tới tiến sĩ kỹ thuật Poóc-sê, chủ nhân nhà máy sản xuất xe tăng, người trực tiếp đứng đầuhãng «Poóc-sê và K», tổng công trình sư, bá tước Vin-hem Phôn Sin-len-buốc —người được mệnh đanh là cha đẻ của các loại xe tăng Đức. Trong buổi gặp gỡ với họ, Hít-le đã nói rõ ý đồ của mình là phải cấp tốc chế tạo bằng được loại xe tăng siêu đẳng. Cần phải có vũ khí mạnh nhất và những chiếc xe tăng mạnh nhất.

      -Các ông hãy cho tôi năm rnươi chiếc xe như vậy thôi— Hít-le khẳng định với Poóc-sê và công trình sư Phôn Sin-len-buốc, - tôi sẽ đẩy lùi bọn Nga về phía Đông... Và thế là hai chuyên gia xe bọc thép Đức ngày đêm ra sức thực hiện ước mơ đó của quốc trưởng. Nhiều tình báo viên các nước đã uổng công thâm nhập, tìm kiếm các cơ sở thí nghiệm tuyệt mật đó nhưng các cơ quan an ninh Đức đã khép kín cánh cửa bí mật của hãng chế tạo xe tăng này.

       Trước mùa hè năm bốn tư, những chiếc xe mẫu đầu tiên đã được chế tạo tại một số nhà máy ngầm dưới đất. Chiếc xe tăng siêu đẳng đã đáp ứng dược đòi hỏi của quốc trưởng về nhiều mặt. Những cuộc bắn thử ngoài bãi tập đã khẳng định kết quả. Và thế là năm mươi chiếc xe hoàn chỉnh đã được khăẩn cấp chế tạo theo lệnh quốc trưởng.

      Đâu tháng Sáu năm bốn tư, tiến sĩ Poóc-sê và công trình sư Phôn Sin-len-buốc tới Béc-lin để báo cáo với quốc trưởng. Những tên SS mặt lạnh lùng đó xét kiểm tra kỹ từng chi tiết của chứng minh thư rồi mới im lặng mở tấm cửa sắt nặng nề cho các vị khách bước xuống hầm boong-ke bê-tông - đại bản doanh cuối cùng của Hít-le.

       Sau khi xem xong cuốn phim quay xe chạy thử, quốc trưởng tỏ vẻ hoan hỉ. Loại xe tăng này hơn hẳn hai loại xe tăng cũ «con Báo» và «con Cọp» về chất lượng và kỹ thuật chiến đấu. Con quái vật thép đó được mệnh danh là «Thần hổ»; Hít-le hạ lệnh phải nhanh chóng đưa «Thần hổ» ra trận. Hắn công khai bày tỏ niềm tin là «Thần hổ» sẽ có khả năng ngăn chặn cuộc tổng tấn công của người Nga lại và sẽ tạo nên một bước ngoặt chiến tranh mới. Hít-le đến bên bản đồ và chỉ ngón tay vào bờ trái sông Vít-la nơi bộ đội Xô-viết đang phản công.

      — Chúng ta sẽ chặn bọn Bôn-sê-vích tại đây!

     Công trình sư Vin-hem Phôn Sin-len-buốc tỏ nguyện vọng được đích than tham dự trận đánh lịch sử này, muốn trực tiếp kiểm tra mặt mạnh mặt yếu của những đứa con đẻ kỹ thuật của mình. Nhưng tiến sĩ Poóc-sê kịch liệt phản đối — ông ta không muốn liều lĩnh thí mạng người công trinh sư nổi tiếng. Còn Hít-le thì trái lại, trân trọng bắt tay Phôn Sin-len-buốc và đồng ý cho ông ta ra trận... Và thế là giờ đây công trinh sư đang ở vị trí tiền duyên cùng vói tiểu đoàn xe tăng «Thần hổ» của mình. Viên tiểu đoàn trưởng và đội trưởng đội bảo vệ đặc biệt của công trình sư hiếu thắng hết lời khuyên can không muốn cho vị cha đẻ của các «Thần hổ» tham gia vào cuộc phản công nhằm ngăn chặn quân Nga. Song ông ta đã long trọng tuyên bố:

        -Đừng nói chuyện cổ tích với tôi. Các ông có những quan niệm cũ kỹ về chiến tranh rồi, Xe tăng «Thần hổ» không thể bắn thủng được. Chúng sẽ tiến lên và chỉ có tiến lên! — Gã đưa tay gạt viên sĩ quan phụ trách đội bảo vệ đang đứng chắn ngang trước mặt, tiến về phía chiếc xe đi đầu, mở cửa chui vào.- Các ngài sĩ quan, tôi sẽ tự lái chiếc đầu đàn này!...

       Các sĩ quan xe tăng Đức cố im lặng. Viên tiểu đoàn trưởng do dự nhún vai còn viên đội trưởng bảo vệ riêng công trinh sư thì sau một lát ngập ngừng cũng đành theo công trình sư, chui vào bụng con quái vật thép đi đầu

      Rạng sáng hôm ấy, tiểu đoàn xe tăng «Thần hổ» tiến về phía Đông.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #138 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2015, 12:09:46 am »

       2.



     Tháng Sáu ở Pa-ri được coi là tháng của những ngày nắng ấm và của những cơn mưa đêm hè. Mấy cành cây dẻ lá xanh rờn nghiêng nhìn vào cửa sổ mở của phòng điều trị quân y viện trên gác hai. Mùi lá cây hòa lẫn với mùi thuốc quen thuộc của một bệnh viện loại lớn. Giường bệnh nhân Mi-cla-sốp (giờ đây mang chứng minh thư trung úy Đức. Phrin-xơ Rô-đen-bắc) kê sát tường dưới cửa sổ. Lúc này «người sĩ quan dũng cảm» của quốc trưởng, đã tỉnh lại sau cuộc giải phẫu kéo dài hàng giờ, có thể ngắm nhìn không chán mắt cái màu xanh êm dịu của lá cây, nghe tiếng chim ríu rít bên ngoài và hít thở làn không khí mát dịu.

      Mi-cla-sốp không thể nào nhớ và hiểu được, tại sao anh lại vào đây, và anh tới Pa-ri bằng cách nào. Anh chỉ còn mang máng nhớ rằng, khi tỉnh dậy tại một khu rừng xa lạ nào đó, anh thấy có những bóng người cúi sát trên mình anh, đang mặc cho anh bộ quần áo sĩ quan và luôn gọi anh, ghé sát vào tai anh nhắc đi nhắc lại: «Nhớ lấy, tên anh bây giờ là Phrin-xơ Rô-đen-bắc! Nhớ lấy, Rô-đen-bắc». Anh nhớ rõ những người lạ mặt đó nói tiếng Nga, mang súng lục. Anh không ngạc nhiên Iắm, chi lặng lẽ lim dim mắt và gật đầu.

       Mi-cla-sốp không biết rằng, đó là các chiến sĩ của phong trào kháng chiến Bỉ, sau khi đã phục kích một đoàn tàu quân sự chở quân tăng viện cho vùng biển nhằm tăng cường sức phòng thủ của Đức chống lại  cuộc đổ bộ có thể có của quân Đồng minh. Lúc ấy anh đã được cải trang thành một sĩ quan bộ binh Đức, ngực đeo huân chương và anh đã được chuyển sang đoàn tàu cứu thương của bọn Đức đi thu nhặt thương binh sau trận phục kích của du kích địa phương. Như vậy là anh đã được đưa vào hàng ngũ bọn thương binh Đức.

      Nhưng cũng chính trên đoàn tàu đó, mãi mấy năm sau anh mới được biết rằng, An-đrây Xtar-cốp và Ma-ri-na Rúp-xô-va đã hi sinh khi đang trên đường chuyển sang Pháp.

      Tại quân y viện Đức ở Pa-ri,các bác sĩ vẫn đinh ninh chính anh là viên sĩ quan bị du kích Bỉ làm bị thương nặng nên đã ra sức cứu chữa. Viên bác sĩ trưởng khoa mổ quân y viện Đức, sau khi đã làm phẫu thuật, xoa tay vào nhau, thốt lên kinh ngạc:

       -Không thể tưởng tượng nổi, anh ta có thể sống được với mười bảy vết đạn như vậy! Thật là một con người có sức chịu đựng kỳ lạ. Những vết đạn tập trung quanh vùng lưng khá nặng nhưng vết nặng nhất là ở cổ. Thế mà anh ta vẫn thoi thóp sống được! Đã mất bao nhiêu máu, thế mà ... Chà, chà, thật kỳ diệu. Tôi có thể bảo đảm với các ông rằng chỉ có những cơ thể được rèn luyện công phu mới tạo nên sức chịu dựng và sức khỏe đáng quý như vậy.

     Nhưng sau khi mổ, anh bỗng có vẻ biến chứng. Anh bị ngất đi. Tình trạng sức khỏe ngày càng sa sút. Mạch đập chỉ còn thoi thóp.
   
      -Sao chúng ta lại có thể để anh ta bị cơn đói giày vò, — viên bác sĩ trưởng thốt lên. — Với người sĩ quan dũng cảm này, chúng ta cần phải cứu chữa bằng được. Hãy tiếp thẳng nước xúp hầm vào dạ dày cho anh ta. Anh ta có quyền và phải được cứu sống bằng mọi giá. Anh ta là tượng trưng cho niềm vinh quang của tinh thần Đức.

     Họ nuôi anh như vậy suốt hơn mười ngày liền. Nuôi bằng cách tiếp nước xúp thẳng vào dạ dày, dùng vòi cao su xuyên thẳng vào cuống họng. Dần dân cơ thể anh được hồi phục. Những vết thương dịu dần. Thời gian trôi qua và anh đã tỉnh lại. Anh được chuyển sang phòng đặc biệt. Cùng nằm với anh còn có ba sĩ quan khác bị thương nặng đã hồi phục. Hai tháng sau, Mi-cla-sốp đã khỏe và có thể tập đi lại một mình.
   
          Trong những tháng điều trị đó, anh đã làm quen được với người nữ y tá già và mọi người thường gọi là Ma-ri. Mi-cla-sốp vui mừng biết rằng bà là người Nga. Cũng do tinh cờ thôi. Đó là vào hồicuối tháng Năm, bà Ma-ri, trong lúc rảnh rỗi đã khe khẽ hát một bài dân ca Nga. Mi-cla-sốp bàng hoàng, cảnh giác. Một sự khiêu khích chăng? Nhưng dần dà anh hiểu rằng, không có gì đáng nghi ngờ cả. Anh vẫn chưa bị lộ. Anh kín dáo hỏi chuyện và được biết bà Ma-ri là người Nga. Bà tự giới thiệu tên họ mình: Ma-ri-a Đơ-mi-tri-ép-na Vi-nhi-a-cô-va, di tản từ năm mười tám cùng với chồng, một giáo sư Nga nổi tiếng nhưng bị bệnh lao. Chồng bà chết từ lâu. Sau đó là chiến tranh và những người bạn Pháp đã giúp bà vào làm y tá tại quán y viện này. Bà tỏ vẻ quý mến chàng, trung úy dũng cảm Phrin-xơ Rô-đen-bắc. Bà nói tiếng Pháp thành thạo và tiếng Đức cũng không đển nỗi tồi.

       Ngoài bà ra, Mi-cla-sốp tránh mọi việc làm quen vởi bất cứ người nào khác. Anh tránh mọi cuộc nói chuyện cởi mở, tâm sự. Những người cùng phòng đã có cái nhìn khang khác với Mi-cla-sốp.

     Anh luôn phải sống trong tâm trạng căng thẳng, sợ bị phát hiện. Anh không thể nào trốn được và không còn đủ sức để tự chạy trốn một mình. Anh phải chống nạng đi lại rất khó khăn. Anh tự đặt cho mình một chương trình tự tập luyện cho đôi chân đủ sức hoạt dộng.

       Nhưng tai họa ập tới không phải từ phía anh vẫn thẩp thỏm lo âu. Mà là ở phía khác. Vào một buổi sáng thăm bệnh nhân, bác sĩ trưởng khoa, đến thẳng giường anh vừa mỉm cười độ lượng vừa vui mừng báo tin «hạnh phúc» cho anh:

     -Tôi rất vui sướng báo anh biết, anh Phrơ-rit thân mến. Vợ anh, cô Phrau Rô-đen-bắc, cuối cùng rồi cũng tìm được tin tức về anh. Ngày mai cô ấy sẽ tới Pa-ri thăm anh! Chúng tôi sẽ cho xe ra ga đón cô ấy.Thật hạnh phúc cho anh.

         I-go sững người, ỉặng đi. Quả thật bất ngờ. Anh chưa hề biết dung nhan người «vợ» yêu quý của mình. Sống lưng anh lạnh buốt, da nổi gai. Nhưng anh vẫn cố mỉm cười rạng rỡ đón «niềm vui bất ngờ» và nói: ”Xin chân thành cám ơn bác sĩ! Ngài có thể tưởng tượng được tôi vui sướng biết chừng nào! ».

      Bác sĩ trưởng khoa ngay sau đấy hạ lệnh thay quần áo mới cho anh và cho mang hoa vào cắm ở đầu giường anh. Ông bắt tay anh khi rời khỏi phòng, khuyên anh ngủ ngon, không nên quá xúc động trước niềm vui đột ngột vì sự xúc động cũng có thể mang lại hậu quả tiêu cực cho sức khỏe. Còn Mi-cla-sốp thì quả thực đang sống trong cảnh «hồi hộp và xúc động» thật sự. Lòng anh như lửa đổt. Làm sao bây giờ? Làm sao thoát khỏi cuộc gặp gỡ với «người vợ yêu quý?». Rõ ràng chẳng còn lối thoát nào nữa.

      Bà Ma-ri bước vào phòng, mặt mày tươi tỉnh, tay cầm bó hoa tươi chúc mừng anh sĩ quan bệnh nhân dũng cảm vừa nói chuyện vừa chọn hoa cắm vào bình.«Sẽ ra sao, nếu mình...» Mi-cla-sốp chợt lóe lên một ý nghĩ táo bạo. Đúng là một ý nghĩ quá táo bạo đầy liều lĩnh và mạo hiểm. Anh nhắm nghiền mắt lại. Nhưng dẫu sao thì trước sau gì cũng sẽ chết. Chỉ là sớm muộn một ngày... Trong phòng chẳng còn ai. Các bệnh nhân khác đang sưởi nắng ngoài vườn

      -Bà làm ơn cho tôi xin mẩu giấy. - Anh quyết định nói với bà Vi-nhi-a-cô-va.

     Bà ta đưa cho anh cuốn sổ tay và mẩu bút chì. Mi-cla-sốp tay run run, nguệch ngoạc viết: «Tôi là người Nga. Sĩ quan Nga. Bà tìm giúp tôi ngay hôm nay một bộ quân áo dân sự». Anh xé mẩu giấy đưa cho bà, rồi nói thêm:

    -Bà đọc và xé ngay đi.

      Bà y tá sửng sốt kinh ngạc nhìn Mi-cla-sốp. Anh im lặng chịu dựng cái nhìn như mũi dao xoáy vào tim mình. Anh hớp một ngụm không khí như để lấy lại sức, lặng lẽ gật đầu khẳng định điều mình vừa viết ra. Anh khẽ nói bằng tiếng Nga:

      Bà xé vụn đi.— Nhưng anh chợt nói lại:—Xin bà đốt ngay cho.

      Anh bật lửa và chìa ra trước mặt bà ngọn lửa nhỏ đang nhảy múa trước mắt họ. Bà y tá lặng lẽ đưa mẩu giấy vào ngọn lửa đỏ. Mẩu giấy cháy bùng lên.

       -Tôi sẽ cổ gắng giúp anh, — bà run run lí nhí nói rồi lặng lẽ đi ra. Qua cửa sổ, Mi-cla-sốp lo lắng nhìn theo bóng bà. Một lát sau anh thấy bà đang vội vã, trong bộ quần áo thường phục, bước nhanh ra cửa bệnh viện. Chỉ còn một cách duy nhẩt là chờ đợi. Nếu bà ta là nhân viên giét-ta-pô hay cơ quan an ninh thì đêm nay thôi anh sẽ bị bắt... Nếu bà ta không thể giúp đỡ được thì sớm mai, sau chuyến tàu tốc hành từ Béc-lìn tới, anh cũng sẽ bị vạch mặt.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 919


« Trả lời #139 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2015, 12:11:36 am »

      3.




     Cun-ga cho chiếc tăng đứng nấp sau bụi cây rậm ven một khe núi, ngụy trang thêm và chờ đợi. Đêm mùa hè đang chuyển dần sang hửng sáng. Trong ánh sáng mờ mờ từ phía làng vọng lại tiếng động cơ xe ô tô của bọn SS. Bọn lính đang đi càn lùa hết mọi người dân đi nơi khác. Vẳng lại tiếng kêu la chửi bới và khóc lóc của đàn bà, trẻ con. Mặc, bọn SS cứ lạnh lùng lùa họ lên xe và chở đi sâu về phía sau, vùng hậu phương của chúng. Trong làng nhốn nháo một hồi như vậy và tình hình lại yên tĩnh trở lại. Nhưng các chiến sĩ xe tăng càng căng thẳng hơn. Họ hiểu rằng bọn Hít-le đang chuẩn bị một trò gì mới đây.

       Sê-ti-Iin được cử đi trinh sát. Một giờ sau anh trở về, báo cáo: một đoàn tăng hạng nặng đã tập kết trong làng.

     -Có đến bốn chục chiếc đấy, thiếu úy ạ. Còn mới toanh, đúng là mới xuất xưởng. Giống như loại «Con cọp», nhưng cũng không hẳn như vậy. Chúng to hơn nhiều.

    -Hay là loại «Con báo»? — Cun-ga hỏi.

     -Không, tôi biết rõ loại «Con báo»chứ. Hồi đánh nhau ở Cuốc, tôi còn lạ gì. Loại này lớn hơn nhiều.

     -Này, trong đêm tối thì mèo nào chả đen và cô gái nào mà chả giống nhau, — Iu-tác, chiến sĩ thông tin nói đùa và mọi người bật cười.

      -Không, các cậu ạ, mình nói nghiêm chỉnh đấy. Hoàn toàn bảo đảm rằng, đây không phải là «Con cọp» hay «Con báo». Đây là loạt tăng mới hoàn toàn.

       Cun-ga chợt nghĩ, phải chăng đây đúng là loại mà trung đoàn trưởng đã thông báo. Có thể là như vậy, nhưng anh không được phép thông báo vì hai lý do: bọn Đức có thể bắt được sóng và anh có thể bị lộ. Thứ hai là đây chỉ là phỏng đoán rằng có thề là «bọn xa-mô-va» mới. Anh quyết định cứ im lặng chờ đến sáng rõ...

       Bỗng lát sau cả tổ giật mình khi nghe từ trong làng phát ra tiếng nổ nặng nề. Tiếng nổ gầm gừ mỗi lúc một to hơn và trong ánh ban mai mờ mờ mọi người thấy rõ bóng những chiếc xe đồ sộ lù lù hiện ra.

      -Chúng nó đến đấy!—Sê-ti-lin báo cáo và nhẩm đếm. - Mười một,... mười hai... mười bốn.

Bọn tăng lừ đừ tiến dần đến, gầm gừ, lắc lư nặng nề. Đất rung rung dưới sức nặng của chúng. Cun-ga khẳng định báo cáo của trinh sát viên đúng: đây không phải là «Cọp» hay «Báo». Loại mới hoàn toàn.

    -Iu-tắc, báo ngay về ban tham mưu: «xa-mô-va» đã xuất hiện. Mười bốn chiếc. Chúng tôi xin đánh. -  Cun-ga hạ lệnh.

      Những chiếc xe tăng mới, gầm gừ tiến ỉên không hề có ý đề phòng gì cả. Các chiến sĩ của chiếc «T-34» ngồi im, căng thẳng trong vị trí của mình.

     -Được rồi đấy, — Ga-li-a thì thào.

      -Bình tĩnh! Không bắn vỡ sọ những con trâu điên này được đâu. Phải đánh vào sườn.

       Tựa như những con trâu lười nhác, mấy chiếc đi đầuu vừa đến gần bờ khe bên kia liền rẽ ngang tránh sang phải và phơi sườn ra trước mũi súng chiếc «T-34». Các chiến sĩ căng mắt đến nhức cả đầu, dõi theo bóng chúng. Khi chiếc đi đầu vừa nhú vào vòng ngắm, Cun-ga khoát tay, hét:

    -Bắn!

      Một tiếng nổ nặng nề và khô khốc vang lên. Viên đạn họ vừa được nhận tối qua, đang phát huy tác dụng. Viên thứ hai xuyên thủng một mảng sườn và làm nổ tung thùng đạn bên trong.

     -Tiêu rồi,—Sê-ti-lin vui sướng hét lên trong xe. Toàn thân chiếc tăng khổng lồ bốc lửa ngùn ngụt. Các chiến sĩ reo lên vui sướng nhưng họ không biết được rằng, với hai phát đạn mới họ không chỉ tiêu diệt chiếc tăng đầu đàn mà họ còn diệt cả cha đẻ của nó, — gã công trinh sư xe tăng nổi tiếng của phát-xít Đức.

     -Chiếc thứ hai, hai viên xuyên. Bắn! — Cun-ga hét lên, lạc cả giọng.

      Làn khói đen đặc quánh lại bám lấy chiếc xe thứ hai.

     -Chiếc thứ ba, bắn!

      Và số phận chiếc thứ ba cũng như hai chiếc trên. Nó sững lại, rồi như bừng tỉnh đang định quay đầu chạy thì bỗng nổ tung lên, cháy rừng rực như chiếc nhà gỗ, chứ không phải là một khối thép nữa.

      Đúng lúc đó thì chiếc thứ tư đã phát hiện ra chiếc «ba tư» nguy hiểm. Hắn dừng lạỉ, chỉnh nhanh nòng khẩu pháo khá lớn về phía bụi cây.- Thời gian chỉ tính từng tích tắc.

      - Bắn nhanh, chiếc thứ tư kìa! — Ga-li-a giục. Nhưng cũng ngay lúc ấy từ nòng pháo dài, đen vằn của xe tăng dịch, một ngọn lửa phụt ra. Đất như sụp xuống dưới chiếc «tăng ba tư tấn». Mảnh đạn và đất đá bắn rào rào vào thành xe.

     -Xích bị đứt rồi! -  Cun-ga nghe tiếng kêu thất thanh của Ga-li-a, — Xích trái.

      -Mày không thoát được tao đâu, Cun-ga nghiến răng nhìn chiếc tăng đối diện đang chỉnh súng. – Đồ súc vật. Mày không...

      Hầu như cả hai khẩu pháo đối diện cùng nổ một lúc. Đúng ra thì khẩu Cun-ga nổ sớm hơn giây lát. Anh còn kịp trông thấy quả đạn trúng tháp pháo chiếc «Thần hổ». Nhưng cũng ngay lúc ấy một tiếng nổ kinh người vang lên và nhấc bổng chiếc xe lên cả một đám lửa lớn hừng hực bao quanh chiếc tăng của anh. Lửa bén vào và cháy rừng rực quanh quần áo Cun-ga. Anh ngất lịm đi...

      Những chiếc xe tăng Đức đi sau cũng dồn dập nã đạn về phía xe của Cun-ga, nhưng chúng không tiến lên nữa mà lại quay đầu rút về làng,
 nơi chúng vừa xuất phát sáng nay.

      I-li-a Sê-ti-lin bừng tỉnh và thấy khói phủ đặc cả xe. Chiếc tăng của họ đang cháy. Phải thoát nhanh ra khỏi xe. Anh bế xốc đội trưởng dậy và kinh hoàng thấy người Cun-ga mềm nhũn.

      Luồn qua lửa cháy rừng rực xung quanh, người rát bỏng. Cun-ga chui qua gầm xe bên dưới. Vai Ga-li-a cũng nhuốm đầy máu. Chị cũng bị ngất. Cố mở nắp tháp, anh lấy hết sức còn lại, đẩy người nữ đồng đội ra khỏi xe.

       Vừa nhảy xuống và lăn ra xa khỏi xe được một quãng thì chiếc xe của họ bùng nổ.

       Vùng dậy dập lửa trên người Ga-li-a xong,  Sê-ti-lin liền lăn xoài người mấy vòng để dập hết những tàn cháy trên áo ngoài, Sê-ti-lin đứng dậy, nhưng không còn sức nữa, anh ngã xoài và nằm lịm trên đám cỏ đang héo hon dần vì nóng... Bỗng anh ngồi nhỏm dậy nhìn về phía sau, nơi đang vẳng lại hàng loạt tiếng động cơ nổ ầm ầm mỗi lúc một rõ... Anh vui sướng cười vang khi thấy từng đoàn xe tăng của tiểu đoàn Sa-ghin đang vừa tiến vừa bắn.

      Bí mật của «Thần hổ» kinh hoàng không còn đáng sợ nữa...

       Mãi sau chiến tranh, khi lục lọi đống hồ sơ của Bộ tham mưu Hít-le người ta mới biết rằng, các sĩ quan tham mưu của tổng hành dinh Hít-le đã quyết định không báo cáo cho y biết về thảm họa của tiểu đoàn tăng hạng nặng đặc biệt và về cái chết nhục nhã của vị công trình sư, cha đẻ «Thần hổ», ngài bá tước Vin-hem Phôn Sin-len-bua.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM