Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:06:47 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử phát triển súng đạn - Buổi sớm mai  (Đọc 257819 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
snowangel_2saw
Thành viên
*
Bài viết: 13


« vào lúc: 15 Tháng Ba, 2008, 09:02:07 pm »

 
Những súng đầu tiên. Hỏa mai khoảng năm 1470
Thuốc nổ xuất xứ từ Trung Á, nơi sa mạc có nhiều mỏ diêm sinh tự nhiên, sau đó truyền vào Trung Quốc vào khoảng đầu Công nguyên, cùng với kỹ thuật chế những chất dễ cháy. Trong Thiên niên kỷ thứ nhất người ta đã dùng "Hỏa Hổ", là một thứ súng phun lửa. Đến thời nhà Tống cũng xuất hiện những giàn tên lửa đầu tiên. Từ đầu Thiên niên kỷ thứ 2, kỹ thuật luyện kim và trộn thuốc nổ hoàn thiện, người ta dần dần chế ra súng sát thương bằng đạn, thay cho lửa.

Từ đó, ở phương Đông, súng có tên là "Bác" (tức "súng"), "Thần Công" (công phá như thần), "Hỏa Thương" (thương lửa), "Hỏa Mai" (mồi bằng lửa)... Từ thời nhà Tống, tiếng súng còn được dùng làm hiệu lệnh, nên còn có tên là "pháo", loại súng chuyên để làm việc này còn gọi là "súng lệnh", để phân biệt với "pháo lệnh" là ống tre nhồi thuốc nổ không nòng.
Ngày nay trong tiếng Việt, "pháo" chỉ "súng lớn", nghĩa đó cũng thường được gọi bằng từ Hán-Việt "Đại bác". Đồng thời, chữ "pháo" hiện đại cũng chỉ những liều nổ giải trí, như "pháo hoa", "băng pháo"..., vậy đó là hai từ khác nhau cùng nguồn gốc và đồng âm.
Trong khoa học quân sự, súng được gọi là "vũ khí có nòng". Khoa học nghiên cứu về súng gọi súng là "kết cấu vũ khí có nòng". Khoa học nghiên cứu về chuyển động của đạn, gọi là "đường đạn", bao gồm các môn nhỏ hơn là "thuật phóng trong" mô tả chuyển dộng của đạn trong nòng và "thuật phóng ngoài" mô tả chuyển động của đạn ngoài nòng.
Súng trong tiếng châu Âu là cannon, xuất xứ là "ống". Hiện tượng này cũng giống như tiếng Việt có cụm từ "súng ống".
Từ "hỏa hổ" đến "đại bác"
Từ đời nhà Tống, súng là một ống đồng hay gang đúc, một đầu bịt kín, gọi là nòng. Đầu bịt kín có khoan một lỗ nhỏ để tra ngòi. Người ta đổ thuốc nổ vào đáy ống, nhồi tiếp đạn, lèn chặt. Khi bắn, đốt ngòi bằng lửa. Súng có thể bắn đạn cầu bằng gang hay đá, cũng có thể bắn mảnh gang (đạn ria). Thuốc nổ sử dụng là thuốc nổ đen, được trộn từ diêm sinh (KNO3) và bột than củi giã mịn. Khi thuốc nổ còn yếu thì chỉ dùng lửa sát thương. Hỏa Hổ có nguyên lý như những súng phun lửa ngày nay, thuốc nổ trộn dư chất khử. Đến thế kỷ 15, súng được Hoàng tử Hồ Nguyên Trừng hoàn thiện và sử dụng rộng rãi (sau ông làm Thượng thư bộ Công, đứng đầu ngành chế súng tại Trung Quốc). Cũng thời điểm đó, châu Âu xuất hiện những súng nhỏ yếu.

Súng hỏa mai.
Ban đầu, tất cả các súng đều mồi lửa, gọi "là súng hỏa mai". Đến thế kỷ 19 ở châu Âu chỉ còn súng lớn mồi lửa. Các súng bộ binh nòng dài, súng trường dần dần trở thành vũ khí quan trọng, chuyển dần sang dạng "súng kíp". Súng hỏa mai không tạo ra cơ hội điểm hỏa chính xác cho xạ thủ.


Súng kíp.
Năm 1517, người Đức đưa ra súng kíp đầu tiên. Súng được mồi bằng một bánh xe quay cọ vào đã lửa. Đến năm 1570, người Đức cải tiến súng này, kíp là viên đá lửa đập vào mặt kim loại, làm cháy thuốc ở cốc mồi. Lửa được dẫn qua lỗ nhỏ vào khối thuốc chính. Năm 1612, người Pháp cải tiến một lần nữa, đưa ra loại súng kíp phổ biến ở châu Âu, có nắp đậy thuốc súng, chỉ mở ra khi bấm cò để đá lửa lao vào, hạn chế ẩm. Đến đầu thế kỷ 19, súng trường đã trở thành vũ khí chính, với kim hỏa và hạt nổ, súng kíp mới hết thời. Dân tộc Mèo ở nước ta rất giỏi làm súng kíp bằng các phương tiện thô sơ.







(Theo wikipedia)
Logged
snowangel_2saw
Thành viên
*
Bài viết: 13


« Trả lời #1 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2008, 09:07:57 pm »

Trong lịch sử, thuật phóng trong được xây dựng qua ba giai đoạn, theo khả năng tính toán tăng lên, người ta tăng khối lượng tính. Ban đầu, các nhà bác học coi tốc độ cháy của thuốc nổ là nhanh tức thời, khí cháy không có tỷ khối, áp suất trong nòng luôn đồng đều

Điều này có thể mô tả gần đúng những súng yếu thời cổ nhồi thuốc nổ đen, chỉ cần tính toán đơn giản. Tiếp theo, đầu thế kỷ 20, người ta đã biết cắt lớp khối khí thuốc và mô tả dược tốc độ cháy, điều này chứng minh được áp suất và tốc độ khí thuốc không đồng đều trong nòng, đặc biệt quan trọng khi lượng thuốc nhồi tăng, lớn gấp nhiều lần khối lượng đầu đạn. Mức thuật phóng này cũng đã mô tả được gần đúng ống phóng không giật và cho ra đời các súng chống tăng phản lực như B-41, ĐKZ, mô tả được biến đổi áp suất và tốc độ khí thuốc không đồng đều ở các đoạn khác nhau trong nòng.
Ban đầu, thuật phóng được mô tả thành các bài toán song song, cho hàng nhiều người tính thủ công một lúc, người Nga có nhưng đơn vị tính toán lớn. Giai đoạn 3, hiện nay chạy được trên máy tính, băm nhỏ khí thuốc ra thành những phần tử nhỏ. Điều này mô tả được các hiện tượng cuộn, thắt dòng và những hiện tượng khác liên quan đến áp suất và tốc độ không đồng đều trên mặt cắt nòng, chứng minh được ảnh hưởng của kết cấu buồng nổ, đưa ra những phương án nòng hay ống phóng ưu việt nhất.
Hiện nay (2007), khoa học về súng tại Việt Nam rất hạn chế, chỉ có một số sách vở dịch hướng dẫn những nguyên lý cơ bản từ tiếng Nga hay tiếng Trung chủ yếu phục vụ việc sửa chữa và sử dụng. Ho hạn chế kiến thức của người dịch, sách có nhiều sai lầm. Nhìn chung, các nhà khoa học Việt Nam chưa thể mô tả quá trình bắn bằng toán học, những nhà chế súng Việt Nam thiếu kiến thức về toán và máy tính. Các phương pháp tính toán vẫn dựa trên giả thuyết áp suất đồng đều. Việc phát triển và sản xuất vũ khí hiện tại ít được những người đóng thuế quan tâm dẫn tới phân tán, lãng phí kinh phí.
Trong lịch sử, ngoài việc Hồ Nguyên Trừng làm dạng danh đại bác Việt Nam thì năm 1947, ông Trần Đại Nghĩa cũng chế dược bazooka kiểu 1944 Mỹ, góp phần quan trọng đánh Pháp.
Trong Khởi nghĩa Ba Đình hồi cuối thế kỷ 19, ông Cao Thắng cũng chế được súng trường, tuy nhiên chưa có khương tuyến (rãnh xoắn).
Đầu thế kỷ 19
Việc phổ biến súng rất chậm. Ban đầu súng được chế tạo ít. Các súng bộ binh đầu tiên được làm trong cán thương, nên có tên gọi "Hỏa Thương". Lúc đó, lưỡi thương có tác dụng như lê bây giờ, nhưng do súng yếu, nên lê quan trọng hơn súng. Những súng bộ binh đầu tiên gọi là "Hỏa Mai" do vẫn dùng ngòi lửa. Súng có cò kích nổ ban đầu goi là súng kíp, kíp nổ là đá lửa.
Đến đầu thế kỷ 19, ở châu Âu, súng bộ binh đã được dùng phổ biến, phần lê đã ít tác dụng hơn nên làm nhỏ đi. Tốc độ bắn khoảng vài phút/phát. Khả năng trúng mục tiêu người thật ở 50 mét khoảng vài phần trăm. Lúc này ở châu Âu cũng đã có những súng cối và đại bác bắn thẳng. Súng cối là các súng có tỷ lệ chiều dài nòng/đường kính trong nòng rất nhỏ, hiện nay tỷ lệ này của súng cối khoảng 10. Súng cối không cần giá càng phức tạp nhiều, vì đặt trên đế để đẩy phản lực xuống đất, do đó súng cối nhẹ mà bắn được đạn nặng đi xa. Nhưng súng cối bắn không chính xác nên chỉ dùng bắn đạn trái phá theo diện tích.
Cho đến đầu thế kỷ 20, súng cối vẫn rất nặng nề, thuộc nhóm súng cố định. Còn đại bác bắn thẳng (howitzer) ngày đó là tổ tiên của lựu pháo ngày nay, tỷ lệ chiều dài nòng/đường kính nòng khoảng 20-30.



(Howitzer là tên đặt cho loại pháo nhồi ít thuốc nổ thời cận đại, bắn đạn "đập đất", tức đạn chạm đất nẩy lên. Trái với pháo bắn thẳng chống tăng ngày nay thường nhồi nhiều thuốc. Tác dụng trên chiến trường của howitzer cũng giống pháo bắn thẳng và lựu pháo nòng ngắn ngày nay, bắn các mục tiêu nhìn thấy. Lúc đó, để bắn trái phá góc thấp không thể nhồi nhiều thuốc đẩy, sẽ làm đạn vỡ nổ ngoài ý muốn).
Tỷ lệ chiều dài nòng/cỡ nòng nay gọi là cal hoặc L. Cấu tạo pháo bắn thẳng ngày đó rất đơn giản, chả giá pháo ngõng ngáng khối lùi gì hết, nòng-giá liên kết thành một khối đặt trên bánh, ngày nay còn gọi là "pháo giá cứng". Mỗi lần bắn, súng lùi về sau, pháo thủ lại đẩy về trước. Đạn và thuốc nhồi từ miệng nòng. Đạn bi gang dùng để công thành, sau trận đánh, khi đã chiếm được thành, người ta đi nhặt các viên đạn này dùng lại. Đạn ria đặt trong các hộp, nhồi cả hộp vào nòng, đạn ria là các mảnh gang sát thương.
Thế kỷ 19 đánh dấu việc dùng nòng gang, thép thay thế cho nòng đồng và mồi lửa hạt nổ thay thế dần cho mồi lửa ngòi châm. Súng vẫn được sản xuất thủ công, đơn chiếc và dùng thuốc nổ đen.
Từ thế kỷ 18 đã có súng trường nạp đạn sau. Nhưng đây là đoạn buồng đốt của nòng có thể lật lên đươc để nạp thuốc nổ rời và đạn.
Patrick Ferguson chế ra khẩu súng nạp đạn sau năm 1772, nhưng trong trận đầu tiên loại súng này tham chiến, Brandywine, ông bị bắt và hết chuyện, súng ông mồi đá lửa. Đên năm 1811, John H. Hall, chế ra khẩu "M1819 Hall" bản vẽ xuất hiện vào ngày 21 tháng 5. Đến năm 1819, được đưa vào trang bị. Khẩu M1819 giống hệt Ferguson, nhưng sau đó được cải tiến để dùng mồi hạt nổ.
Khẩu Kammerlader-1842 của Na Uy có một núm dưới bụng buồng đốt để đặt hạt nổ, lửa dẫn qua ống nhỏ.
 
Nạp đạn khẩu Kammerlader-1842, Na-Uy
Kammerlader-1842 Na-Uy. 1 Chuẩn bị mở khóa. 2 Quay cần quay, mở buồng dốt. 3 Đặt hạt nổ. 4 Đổ thuốc nổ từ đấu đong vào. 5 Đặt đầu đạn. 6 Quay buồng đốt, khóa nòng, súng đã sẵn sàng.

Khẩu súng trường của Phổ kiểu 1848 Dreyse có vỏ đạn giấy, vỏ đạn dựng thuốc và đầu đạn rời nhau. Kim hỏa cắm xuyên qua vỏ đạn, thuốc nổ vào hạt nổ trên đầu đạn. Vỏ đạn đồng thử nghiệm từ đầu những năm 1840. Đến khoảng giữa thế kỷ 19, đạn có vỏ đồng mềm, hạt nổ ở tâm đáy vỏ, vỏ gắn chặt với đầu đạn đã được bán. Sau đó ở Mỹ đã có súng lắp nhiều đạn ổ quay, vỏ giấy.

Khẩu Antoine Alphonse Chassepot, tên trong biên chế quân đội Pháp "Fusil modèle 1866", có cấu trúc khóa nòng và đạn như các súng trường đầu thế kỷ 20. Khóa nòng quay có tay nắm. Đạn có vỏ giấy chứa đầu đạn+thuốc nổ+hạt nổ, vị trí hạt nổ tâm đáy vỏ đạn. Súng gặp nhiều phiền toái do tắc giấy, sau này người Pháp dùng khẩu vỏ đạn kim loại 1874, do viên sỹ quan Basile Gras cải tiến. Vào năm 1866, đây là khẩu súng hiện đại, nhồi nhiều thuốc, sơ tốc lớn trên 400 mét/s. Tuy vậy, giai đoạn này do dùng đạn chì, độ chính xác rất kém, nhưng cũng vượt xa hồi đầu thế kỷ 19.
Khẩu Martini-Henry 1871 (Anh) đã có đầu đạn vỏ đồng, gờ móc vỏ đạn. Đây là những súng trường bắn phát một đầu tiên. Lúc này ở Mỹ cũng đã có súng băng đạn tròn dài, đạn xếp nối đuôi. Cũng đã có súng gập nòng xuống nạp đạn. Súng trường trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 sử dụng các cỡ nòng khoảng 15 mm, 11 mm.

Logged
snowangel_2saw
Thành viên
*
Bài viết: 13


« Trả lời #2 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2008, 09:10:42 pm »

Súng ngắn (1835)
Súng lục (còn gọi là súng sáu) là loại súng cá nhân, kích thước nhỏ, nhẹ, có hộp đạn nằm trong báng súng, chứa 6-12 viên, dùng để sát thương ở cự li ngắn (50-70m).


Lịch sử
Súng ngắn loại bắn liên tục bằng ổ quay có nguồn gốc cổ bởi vì người ta có thể tìm thấy dấu vết của nó cùng với loại súng kiểu cần bật bông bằng đồng thanh có vào khoảng năm 1680, được lưu giữ ở Tower London và thuộc J.Dafte, một nhà chế tạo vũ khí London. Một loại súng cabin có thiết kế rất tương tự cũng đã được lưu lại và tìm thấy ở Viện bảo tàng công cộng Milwaukee (Mỹ).
Năm 1814, một thương gia ở Islington, gần London là J.Thomson đã đăng ký phát minh loại súng lục dùng đá lửa chứa một cơ cấu quay tiếp đạn 9 viên và chỉ một nòng. Năm 1818, một người Mỹ là E.Collier (có sự trợ giúp của đại úy A.Weeler và của C.Coolidge), đã tiếp tục với súng săn và một súng lục năm phát, nhờ một khóa nòng xoay. Tiếp sau họ là Devisme rồi Rissac (Pari) và một số nhà phát minh trước khi anh thanh niên S.Colt, 21 tuổi, mà tên tuổi sau này đã lưu vào hậu thế, nhận được giấy phép phát minh ngày 22 tháng 10 năm 1835.
Hiện nay tồn tại rất nhiều loại súng lục, mà nổi tiếng nhất chắc chắn là những sản phẩm của Mỹ như súng Colt (1836), Rugger hoặc Smith & Wesson.
Súng Colt (1836): Ngoài là nhà phát minh ra súng lục, S.Colt (1814-1862), người Mỹ, còn là nguời phổ biến nó nhờ sự hoàn thiện mà ông đem lại cho nó. Ngày 25 tháng 2 năm 1838 ông đã nhận bằng phát minh Mỹ, trong khi ông đã có bằng đó ở Pháp và Anh. Mặc dù có chất lượng tốt song loại súng lục đầu tiên đó bán được ít và khiến cho doanh nghiệp của ông bị phá sản. Phải mãi từ năm 1850 loại súng này mới trở nên phổ biến trên toàn thế giới.

Nguyên lý súng lục- Click chuột vào cò súng để bắn


Theo đặc điểm

Súng lục tự động (1895): Được đại tá quân đội Anh là G.V.Fosberry phát minh và đăng ký ngày 16 tháng 8 năm 1895, nó sử dụng lực giật lùi khi bắn để kéo búa kim hỏa lại và xoay ổ đạn một nấc. Súng được tung ra thị trường năm 1901 dưới tên gọi Webley-Fosberry, với cỡ theo quy chế Anh .455" hoặc .38" Colt Automatic.

Súng lục hai nòng (1856): Loại súng này có một trong các nòng dùng loại đạn bình thường và nòng kia cho đạn đi săn bằng chì, ngoài ra còn tọa thành trục của ổ đạn, đã được F.E.Le Mat, một người Pháp ở New Orleans phát minh ra; nó đã được đăng ký vào năm 1856 và được sử dụng trong suốt cuộc chiến tranh ly khai ở Mỹ. Việc chế tạo nó được tiếp tục với những sự may rủi khác nhau cho tới khoảng năm 1875.
Súng trường
Súng trường (tiếng Anh: rifle) là loại súng chiến đấu cá nhân, kích thước dài, nòng có rãnh xoắn, dùng để tiêu diệt sinh lực địch ở cự li gần bằng hỏa lực, báng súng hoặc bằng lưỡi lê lắp ở đầu nòng.
Phân loại theo tên gọi
Súng trường Winchester (1866): Ban đầu nó có tên là súng Henry nhưng sau đó vào năm 1866, hãng đổi tên thành Winchester do vậy nó đã mang tên mới. Những mẫu đầu tiên có thân kim loại màu vàng (đồng thau) thường được gọi là yellow boy (cậu bé vàng). Đó chính là loại súng hầu như gắn bó với lịch sử miền Viễn Tây (Mỹ).


Súng trường Mauser (1817): Sau Chiến tranh Pháp-Phổ 1870 súng trường của Paul von Mauser, người Đức, đã thay thế súng trường Dreyse. Năm 1898, lợi dụng những công trình khác nhau về súng bắn liên thanh và phát minh thuốc súng không khói, Mauser đã chế tạo ra loại Gewehr 98 nổi tiếng của mình mà ổ đạn 5 viên cỡ 7,92 mm. Nó vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay.

Súng trường Lebel (1887): Được một nhóm các sĩ quan thuộc Ủy ban về súng bắn liên thanh phát minh ra, súng trường mẫu 1886 đã chính thức được Pháp chấp nhận ngày 22 tháng 4 năm 1887 và được biết với tên là Lebel (súng Lơben), theo tên của đại tá tư lệnh trường bắn Châlons, vốn đã lãnh đạo việc thử nghiệm nó trong suốt năm. Loại súng được sản xuất hàng loạt vào thời đó đã tham gia hai cuộc chiến tranh thế giới mặc dù đã trở nên cũ vào năm 1914. Người ta vẫn còn tìm thấy nó ở Đông Dương cũng như ở Algérie.

Theo đặc điểm
Súng trường bán tự động (khoảng 1890): Những súng trường bán tự động đầu tiên, có cơ cấu bắn liên thanh hoặc nhờ lực giật lùi hoặc nhờ khí đốt, đã xuất hiện vào cuối thế kỷ 14. Đây là phát minh của tướng Mondragon, người Mexico, sau đó được sử dụng lại và cải tiến bởi anh em Clair, những người chế tạo vũ khí ở St-Étienne (Pháp), vốn đã nhận được giấy phép, nhất là đích thân thử nghiệm loại súng đó. Nhiều súng này đã được chế tạo ở Pháp từ năm 1890 tới 1914, ở những cơ sở khác nhau, như ban kỹ thuật của quân chủng pháo binh Pháp cũng như ở Đức (Mauser). Mặc dù vài loại súng này đã được sử dụng hạn chế trong Thế chiến thứ I (súng trường Meunier hoặc A6, súng R.S.C Model 17 và 18, cabin tự động Mauser của không quân) và một số loại súng thuần túy dân sự (Winchester .35"SL hoặc .401"SL của không quân), song phải mãi sau này với loại súng Pedersen, rồi nhất là với loại súng John Garand xuất hiện ở Mỹ thì kiểu súng này mới được sử dụng nhiều (1932).


Súng trường bắn các góc (thế kỷ 14): Nguời ta không biết ai phát minh ra loại súng trường bắn các góc. Có thể một người đi săn nào đó đã uốn cong nòng súng của mình. Ít nhất là từ thế kỷ 14 người ta đã thấy loại súng này ở miền Tây nước Pháp. Nó cho phép bắn thú săn mà không cần phải lộ ra. Trong Thế chiến thứ II, người Đức đã dựa theo hệ thống để biến đổi nòng súng bắn chặn của họ (Sturmgewhr 44) để nã các góc chết của xe thiết giáp.
Súng máy
Súng máy (tiếng Anh: machine gun), còn gọi là súng liên thanh, là một loại hỏa khí tự động vừa và nhỏ, có khả năng bắn thành loạt dài. Năng lượng để vận hành súng máy lấy từ lực giật của đạn hoặc khí thuốc sản sinh ra sau mỗi phát bắn. Do bắn liên tục nên nòng súng được làm mát bằng nước hoặc không khí. Đạn được tiếp từ băng bằng kim loại, vải hoặc hộp tiếp đạn.
Súng máy được dùng để tiêu diệt hoặc chế áp các mục tiêu trên đất, trên không, trên biển có cự ly dưới 2000 mét.
Từ thế kỷ 16 đã xuất hiện những mẫu súng liên thanh đầu tiên, trong đó có một số mẫu do Leonardo da Vinci thiết kế. Ban đầu chúng gồm nhiều nòng súng được ghép song song với nhau. Đến cuối thế kỷ 16 nó nhanh chóng rơi vào quên lãng do quá cồng kềnh và tốn nhiều thời gian nạp đạn.

Năm 1850, súng máy có hoặc một nòng duy nhất mà phía trước là một cơ cấu quay maniven đẩy một viên đạn và bắn; hoặc là một loạt nòng được lắp đạn và bắn nòng nọ sau nòng kia liên tiếp rất nhanh.
Nhờ sự xuất hiện của đạn có vỏ kim loại sản xuất hàng loạt đã tạo điều kiện cho việc chế tạo súng máy. Năm 1862 xuất hiện mẫu súng máy đầu tiên và cũng là mẫu phổ biến nhất do Richard Jordan Gatling (1818-1903), người Mỹ, sáng chế. Đây là dạng súng nòng quay có thể đạt nhịp bắn 3000 phát một phút với 10 nòng súng và động cơ điện đi kèm. (Nguyên lý của loại súng này được sử dụng ở loại pháo Vulcan có một môtơ điện cho phép bắn tới 6000 viên trái phá 20 mm trong một phút). Song do mới ra đời, súng máy Gatling vẫn còn nhiều hạn chế như vẫn phải tiến hành các thao tác cơ bản khi sử dụng như nạp đạn, lên cò bấm,... nên súng máy Gatling cũng không được sản xuất đại trà sau này.
Năm 1892 John Browning, người Mỹ, đã sáng chế ra súng máy hoạt động nhờ khí thuốc đầu tiên.
Súng máy hạng nhẹ (trung liên) lần đầu tiên ra đời năm 1902 do Madsen sáng chế. Khẩu súng này được trang bị cho quân đội nhiều nước từ đầu thế kỷ 20 và trong Thế chiến thứ I. Theo ước tính đến 92% số thương vong trong Thế chiến thứ I là do súng máy gây nên.
Súng máy cỡ nòng lớn (trọng liên) lần đầu tiên xuất hiện tại Đức năm 1918. Sau Thế chiến thứ I, trọng liên được trang bị cho cả ba quân chủng hải, lục, không quân của nhiều nước. Thời điểm này cũng đã xuất hiện nhiều súng máy cỡ nòng trên 15 mm trang bị trên máy bay, xe chiến đấu, hạm tàu, ...

Một số loại súng máy

Súng máy tự động (1884)
Hiram Stevens Maxim (1840-1916), người Anh gốc Mỹ, vào năm 1884 đã phát minh ra loại súng máy tự động đầu tiên bắn liên tục, hoạt động nhờ hiệu ứng giật lùi. Được sửa cho thích hợp với thuốc súng không khói vào năm 1884, nó đã tỏ ra có chất lượng tốt và nguyên lý của Maxim vẫn được duy trì trong phần lớn các loại súng máy ngày nay.

Xuất phát từ phát minh đó, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các phương án hoạt động. Vì vậy John Browning (1855-1926), người Mỹ, vào năm 1892 đã chế tạo ra loại súng máy đầu tiên hoạt động nhờ sự trích khí nổ. Năm 1893, đại úy Odkolek von Augeza, một sĩ quan cũ của quân đội Áo-Hung đã đăng ký một phát minh rất giống như vậy mà ông đã nhượng lại quyền cho hãng Hotchkiss et Cie.. Hãng này do một người Mỹ sống ở Pháp tên là Benjamin B. Hotchkiss (1828-1885) thành lập, đã trở nên nổi danh với loại pháo bắn bắn nhanh của hãng. Từ đầu thế kỷ, hãng đã chế tạo ra ra một số các mẫu mà đỉnh cao là loại súng máy nổi tiếng Model 1914 trang bị cho không chỉ quân đội Pháp mà cho cả quân đội của nhiều nước khác.
Súng trung liên (1902)
Năm 1902, Madsen, người Đan Mạch, đã giới thiệu một loại súng máy nhỏ, có thể xoay được và một người có thể di chuyển được. Những mẫu khác đã ra đời tiếp ở những hãng khác. Thực ra, rất nhanh sau đó đã có một sự khác nhau trong các loại súng máy nhỏ, dễ di chuyển nhưng cần nhiều người điều khiển như những loại nổi tiếng MG 34 và MG 42 trong Thế chiến thứ II, cũng tồn tại phương án "súng máy nặng" và khái niệm súng tập thể do một hoặc hai người sử dụng, nghĩa là súng trung liên (FM).

Loại súng trung liên đầu tiên xứng với tên gọi đó đã được đưa vào sử dụng chắc chắn là loại FM 15 của quân đội Pháp, cũng còn được gọi là CSRG theo tên của những người phát minh (Louis Chauchat, Charles Sutter và Paul Ribeyrolles) cũng như của cơ sở đã chế tạo các nguyên mẫu (hãng Gladiator). Đó là loại súng thô và khả năng vận hành kém nhưng được chế tạo với số lượng lớn và cũng được chấp nhận, do không có điều kiện hơn nữa, bởi quân đội Mỹ từ năm 1917.
Ngoài ra, còn các loại súng trung liên "Bar" của John Browning, ZB 26 Tiệp của anh em Holek (Vaclav, Emanuel và Frantisek Holek) và loại dẫn xuất từ nó của Anh, loại Bren Gun nổi tiếng, loại Lewis Anh bộ lắp đạn tròn, cuối cùng là loại FM Pháp Model 1924 M.29, được một nhóm dưới sự chỉ đạo của đại tá Reibel thiết kế ra.
Súng tự động

Súng tự động là loại súng có cơ cấu trích một phần năng lượng khi bắn đẩy vỏ đạn đã sử dụng ra ngoài, và nạp một viên đạn mới. Thuật ngữ này có thể dùng để chỉ các loại súng bán tự động, chỉ bắn một viên mỗi lần bóp cò, hay các loại súng hoàn toàn tự động, tiếp tục nạp đạn và bắn khi cò súng (hay một thiết bị kích hoạt nào khác) vẫn còn bị giữ hay đến khi hết đạn. Nghĩa được sử dụng của thuật ngữ vì thế tuỳ theo từng tình huống. "Súng lục tự động" hay "súng săn tự động" thường để chỉ một mẫu súng bán tự động, trong khi "súng trường tự động" lại thường mang nghĩa các kiểu súng hoàn toàn tự động hay một kiểu súng có thiết kế lựa chọn giữa bán tự động và tự động.
Tại đa số các quốc gia, thông thường chỉ nhân viên quân đội và cảnh sát được sử dụng các loại vũ khí hoàn toàn tự động. Tại Hoa Kỳ, súng máy đăng ký sau năm 1986 đã bị loại khỏi thị trường công cộng sau Luật bảo vệ người sở hữu vũ khí năm 1986.


Logged
snowangel_2saw
Thành viên
*
Bài viết: 13


« Trả lời #3 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2008, 09:12:29 pm »

 
 
Súng chống tăng B-40 hay súng phóng lựu chống tăng B-40 là loại ống phóng rocket (rốc két) chống tăng cá nhân xách tay đầu tiên trên thế giới được thiết kế bởi Liên Xô với tên RPG-2 (tiếng Nga: РПГ-2 Ручной Противотанковый Гранатомёт-2: Súng phóng lựu chống tăng xách tay phiên bản 2) bắn đầu đạn rocket PG-2 theo nguyên tắc đầu đạn phản lực.

Ưu điểm nổi bật của loại súng phóng lựu chống tăng này là rất đơn giản tiện dụng, dễ thao tác, bền, "nồi đồng cối đá" không cần kỹ thuật bảo dưỡng gì phức tạp, dễ chế tạo, rẻ... nhưng hiệu quả chiến đấu rất cao, uy lực lớn. Trong các năm 1960-1970 ngoài Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và các đồng minh khác của khối Cộng sản như Bắc Triều Tiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Ai Cập, Iraq, Syria đặc biệt là Trung Quốc cũng sản xuất loại súng chống tăng này với số lượng rất lớn, tại Việt nam nó được nổi tiếng với tên B-40 phần nhiều do Trung Quốc cung cấp và được sử dụng rất rộng rãi trong chiến tranh Việt Nam và được đánh giá là loại hoả lực đa năng đánh gần rất hiệu quả của bộ binh.







Súng chống tăng B-40, cũng như B-41 là phiên bản cải tiến của nó sau này có thể được thao tác bắn dễ dàng chỉ bằng một xạ thủ, và là vũ khí hoả lực cấp tiểu đội trong Quân đội Xô Viết, nhưng trong thực tế chiến đấu trên chiến trường Việt Nam nó thường được sử dụng như vũ khí nhóm của tổ ba người một xạ thủ mang súng phóng lựu với giỏ 3 quả đạn, hai chiến sỹ yểm hộ và dự bị mang tiểu liên và mang lượng đầu đạn dự bị khoảng 5-10 quả.

Phát triển
Súng phóng lựu B-40 có phiên bản tiền thân của nó là RPG-1 là ống phóng chống tăng Panzerfaust của Đức Quốc xã được triển khai năm 1944 trong thế chiến II và đã phát huy tác dụng rất tốt hạ được rất nhiều xe tăng của Liên Xô trong trận đánh chiếm Berlin của quân đội Xô viết tháng 4 năm 1945. Nhưng khác với Panzerfaust là loại theo nguyên tắc súng không giật (nhiều người hiểu chưa đúng là loại rocket phản lực) còn RPG-2 (B-40) thực sự là ống phóng rocket trên nguyên tắc phản lực và là loại ống phóng lựu phản lực cá nhân đầu tiên trên thế giới. Nó được sản xuất hàng loạt năm 1947 và vũ trang cho các lực lượng vũ trang Xô viết vào năm 1949.






Năm 1961 Liên Xô chấm dứt sản xuất và thay thế loại RPG-2 này bằng RPG-7 trong các lực lượng vũ trang Xô viết, loại cải tiến này được biết đến ở Việt nam với cái tên B-41. Nhưng B-40 vẫn được sản xuất ở các nước khác nhất là Trung Quốc tiếp tục sản xuất B-40 với số lượng lớn và cung cấp cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho nhu cầu chiến tranh và Liên Xô cung cấp cho Việt Nam số B-40 tồn kho của mình. Trên chiến trường Việt nam dùng lẫn lộn cả B-40 và B-41 chỉ đến năm 1973 thì tại chiến trường Việt Nam B-40 mới bị B-41 thay thế hoàn toàn. Và có lẽ chiến trường Việt Nam là nơi sử dụng nhiều nhất loại vũ khí này và là nơi B-40 thể hiện toàn diện được các phẩm chất và nhược điểm của mình để cải tiến cho các thế hệ súng phóng lựu chống tăng đời sau.






Cấu tạo
B-40 có kết cấu rất đơn giản là một ống thép 40 mm để phóng đầu đạn rocket 82 mm PG-2. Phần trung tâm của súng có ốp gỗ để cách nhiệt cho vai xạ thủ. Chiều dài cả súng đã lắp đạn là 120 mm và nặng 4,48 kg. Súng B-40 không trang bị kính ngắm quang học chỉ có khe ngắm gập được bằng khung sắt rất thô sơ và độ chính xác chưa cao: để bắn mục tiêu cố định tầm bắn chính xác của nó là 150 m và đối với mục tiêu di động tầm chính xác là đến 100 m.

Đầu đạn chống tăng B-40
Loại súng này chỉ bắn một loại đầu đạn chống tăng PG-2 (loại B-41 bắn nhiều loại đầu đạn) liều thuốc phóng là thuốc cháy đen được nén trong ống bìa được xạ thủ lắp vào quả đạn ngay trước khi bắn, khi đó quả đạn có ống đuôi dài và đuôi đó được đút vào nòng súng từ phía trước với phần đầu đạn ở bên ngoài.

Đầu đạn chống tăng có sức công phá lớn theo nguyên tắc đầu đạn lõm chuyển động bằng phản lực nhờ liều thuốc cháy đằng đuôi. Khi bay có cánh đuôi được mở ra để định hướng.
Vì là loại rocket có tốc độ và xung lực không cao độ chính xác của B-40 và cả B-41 phụ thuộc nhiều vào sức gió và kinh nghiệm của xạ thủ.

Một điểm yếu lớn của B-40 là tiếng rít phóng đầu đạn rất to có tần số cao có thể làm chảy máu tai xạ thủ, trong Quân đội Xô viết xạ thủ được trang bị mũ bảo vệ tai như của lính xe tăng, nhưng trong các điều kiện chiến đấu nhất là của các cuộc chiến tranh du kích, chiến tranh nổi dậy thì xạ thủ thường không có mũ chụp tai. Theo lời các cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, nếu bắn trên ba quả đạn trong khoảng thời gian ngắn xạ thủ có thể bị điếc.






Lưới B-40
Trong chiến tranh Việt Nam để chống lại hoả lực B-40, B-41 của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam phía Quân đội Hoa Kỳ và Quân lực Việt nam Cộng hoà thường dùng lưới chống B-40 làm hàng rào để bảo vệ cho các mục tiêu cố định như chân cầu, trại lính, bồn nhiên liệu. Đó là lưới thép "mắt cáo" có thể cuộn lại được, kích thước các mắt khoảng 40-50 mm rào xung quanh mục tiêu. Đầu đạn B-40, B-41 là loại phản lực nên có vận tốc thấp, xung lực yếu không thể xuyên qua hàng rào bị mắc lại ở các "mắt cáo" lưới thép đàn hồi làm đạn không thể nổ khi va chạm và nếu có nổ cũng không gây hại cho mục tiêu, đạn khi bị mắc vào lưới cháy hết thuốc phóng và nằm lại đây. Hiện nay (2006) loại lưới này vẫn đang có nhu cầu sử dụng rất rộng rãi tại Việt nam để làm hàng rào các công trình xây dựng và để quây các bãi đất trống và vẫn được gọi theo tên cũ là "hàng rào B-40" hay "lưới B-40".

Các phiên bản B-40
• RPG-2: phiên bản của Liên Xô.
• Loại 56: phiên bản copy của Trung Quốc.
• PG-7: Phiên bản Ai Cập.
• B-40: Phiên bản Việt Nam.


(Theo wikipedia)
Logged
ChienV
Đại tá
*
Bài viết: 453


« Trả lời #4 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2008, 07:57:31 pm »

Bạn lưu ý việc copy từ các nguồn khác trong phần thảo luận chỉ cho phép khi chứng minh hoặc làm cơ sở cho luận điểm của mình. Việc copy nguyên xi từ wiki như bạn đang làm sẽ làm tốn thời gian người đọc, tài nguyên diễn đàn và không được coi là thảo luận. Vì vậy các bài copy nguyên xi này, nếu trong thời gian tới bạn không có kế họach làm nguồn tham khảo cho luận điểm, ý kiến của bạn thì sẽ được xóa đi. Tôi sẽ để lại cái link nơi bạn copy về là đủ!

Mong bạn lưu ý!

Chú thích: trên wiki có nhiều kiến thức lộ cộ và sai, bạn để ý mà xem!
Logged
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #5 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2008, 03:54:25 pm »

snowangel_2saw chép một số đoạn của mình từ wiki sang đây, nhưng lại không nắm được ý mình. http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=S%C3%BAng&diff=1154747&oldid=1154498. Sau này, bọn nó sửa chữa lung tung, rồi mình cũng không đi lại gì với cái đống rác ấy nữa. Nhìn chung, mình thấy mấy acc hiểu biết một chút đều như vậy, chỉ còn mấy chú chuyển lửa về quê lộ cộ, dưng cơ mà mấy chú ấy ngu si khủng khiếp.
Cái đoạn định nghĩ vầ tầu thiết giáp Battléhip của mình cơ, chúng cố nhét bằng đường ỹ của chúng. cãi nhau loạn tùng bậy, rồi đến đoạn Iowa BB-61=tầu buồm = tầu sân bay = ship of the line... [http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:Thi%E1%BA%BFt_gi%C3%A1p_h%E1%BA%A1m/L%C6%B0u_1] [http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:Thi%E1%BA%BFt_gi%C3%A1p_h%E1%BA%A1m]

Súng đã phát triển như thế nào. Huh? Topic này nói về súng.

Súng đã phát triển như thế nào. Huh? Topic này nói về súng.

Chúng ta tự hào có Hồ Nguyên Trừng, có thể nói, ông là người có công lớn nhất trong việc chế súng. Qua thời của ông, súng từ một vũ khí chơi bời dọa là chính trở thành vũ khí chủ lực của loài người cho đến nay.

Hồ Nguyên Trừng là Tướng Quốc, phụ trách đắp thành đống chuyền chế Vũ khí của nhà Hồ. Hồ Nguyên Trừng bị bắt 1407 và đem về Nam Kinh cùng 17 ngàn tù nhân Việt Nam. Ông dâng cách chế súng để cứu cha em và nhiều người trong số tù binh. Ông được phong "Chủ sự", đứng đầu ngành chế súng nhưng sau gần 20 năm không nôpk lý lịch, như một hành động phản đối. Năm 1420, ông theo cuộc thiên đô về Bắc Kinh. Năm 1426, ông chấp nhận nộp lý lịch, một biểu hiẹn đống ý làm quan với Tầu, khi mà cuộc khánh chiến của vua Lê đã coi như thành công.  Ở Bắc Kinh, Hồ Nguyên Trừng lên Tả Thị Lang (thứ trưởng) bộ công rồi lên làm Thượng Thư (bộ trưởng). Nhờ ông, nhiều từ binh lập được nghiệp nơi phương xa, ngày nay vẫn còn những ngõ như "An Nam Doanh", "Giao Chỉ", "Đại An Nam Doanh" và "Tiểu An Nam Doanh", hoặc di chỉ còn lại như "Hỏa khí doanh" ở ngoại thành (gầm khu vực trước đây có mộ Hồ Nguyên Trừng). Con ông làm đến Hữu Thị Lang, cháu ông có thời làm Xá Nhân.

Một ông đặt tại nơi có Tên đất ngày nay là thôn Nam An Hà, xã Bắc An Hà (xã=hương), khu Hải Điện, Thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc. Không hiểu hiện tại thế nào.

Về cuối đời, Hồ Nguyên Trừng đón một đám sư tăng do nhà sư Trí Thâm họ Trần chỉ trì, từ Việt nam sang, lập chùa Tú Phong (秀峰寺). Rồi ông tâu xin nhà vua Tầu ban Sắc Chỉ, liệt vào danh thắng năm 1443, ngày 8/4 âm lịch cùng năm, Lê Trừng đã sọan văn bia nói về việc xây chùa này. Toàn văn thác bản văn bia hiện lưu trữ tại Thư viện Bắc Kinh, phần đầu đề: "Sắc tứ Tú Phong tự bi, Chính nghị đại phu, Tư trị doãn, Công Bộ tả thị lang-Giao Nam Lê Trừng sọan, Quý Thuần viết chữ chính văn, Tưởng Khâm viết chữ triện, Chu Hưng khắc, Trí Thâm pháp sư đốc tạo". Bia có kích thước 156 x 78 cm, hiện còn tại chùa Tú Phong. Xem toàn văn văn bia theo ảnh chụp tại trang web của Thư viện Bắc Kinh: res2.nlc.gov.cn, ký hiệu bản chụp 8377. Chùa nay vẫn là một danh thắng nổi tiếng ở ngoại thành Bắc Kinh.

Văn học[/b]
Về mặt kha học xã hội. Hồ Nguyên Trừng cũng có viết văn, Trong thời gian ở Trung Quốc, ông đã viết tác phẩm "Nam Ông Mộng Lục" (Ghi lại những điều trong trí nhớ của Nam Ông (Hồ Nguyên Trừng)) năm 1438, đây cũng là tác phẩm duy nhất của ông còn lại đến ngày nay. Trong 31 thiên truyện, Hồ Nguyên Trừng dành 4 thiên để ghi về vua Trần Nhân Tông (Trúc Lâm thị tịch (số 2), Tổ linh định mệnh (số 3), Cảm kích đồ hành (số 17) và Thi ý thanh tân (số 19)).
Tác phẩn được đích danh Hồ Huỳnh, Thượng Thư Bộ Lễ Minh Triều (đứng đầu ngành xuất bản) đề từ năm 1440, có cả hậu tự năm 1442 của Tống Chương. Hồ Huỳnh viết: "Văn họ Hồ ngắn gọn mà nghiêm trang, cẩn mật, cao nhã mà uyên bác, theo tình kể lại, theo nghĩa đặt lời... Ca ngợi sự tiết nghĩa thì bừng bừng cảm khái, có thể uốn nắn phong tục, biểu dương trước thuật thì siêu thoát, thanh tân, có thể nuôi dưỡng tính tình...".
Ở lời nói đầu, Hồ Nguyên Trừng viết: "Trong xóm mười nhà thể nào cũng có người tín nghĩa như Khổng Tử, huống hồ nhân vật nước Nam không kể hết. Thời gian và chiến tranh làm sách vở tiêu tán hết, nên ông phải viết lưu lại cho đời".
Ông giải thích chữ mộng: Những nhân vật trong sách, một thời phồn hoa, rồi thời cuộc biến đổi không còn để lại vết tích, chỉ còn một mình tôi biết được và kể ra, như vậy chẳng phải mộng là gì!.

Tấm gương Việt Kiều vĩ đại[/b]
Hồ Nguyên Trừng là một tấm gương sáng ngời cho các Việt Kiều. Thân làm nô lệ tha hương mà kẻ thù phải tôn thờ kính trọng. Một lòng hướng về cố quốc, ở nơi đất khách làm rạng danh cố quốc.

Suốt thời gian cuộc kháng chiến của chúng ta chưa thành công, ông không nộp lý lịch, một hình thức "chưa công nhận" cái chính quyền mà ông phải phục vụ để đổi lấy mạng sống của cha, em, đồng bào. Chỉ đến 1926, khi cuộc kháng chiến của vua Lê coi như đã thành công, ông mới làm việc đó. Làm quan rất to (tạm, nhị phẩm) nhưng Hồ Nguyên Trừng vẫn nghèo, một mặt là phải lo cho rất đông đồng bào cùng đoàn tù binh, một mặt gốc rễ của ông ở xã hội mới vẫn nông, nhờ khối xã hội Việt Nam nho nhỏ này của ông mà nhiều tù binh đã sống sót và lập nghiệp được nơi đất khách với nghề nghiệp vững vàng.

Cuối đời, có chút bổng lộc thì ông đón sư tăng, lập ngôi chùa Việt, dựng bia ký, tâu xin sắc... một lòng thờ cố quốc.

Ngày nay, giới Việt Kiều thường bị bọn chính trị cơ hội hải ngoại bơm vá chọc ngoáy, và nhìn chung, có trình độ-đẳng cấp chính trị rất thấp. Hơn 2 triệu người Việt Nam ở Mỹ chẳng hạn, không có lấy một ông nghị liên bang, mà đúng theo tỷ lệ phải có 3-4 ông. Cũng như vậy, đúng ra phải có hàng trăm ông nghị tiểu bang và hàng ngàn ông chính quyền quận hạt, thay cho việc hầu như không có. Thiếu đại diện trong giới cầm quyền, người Việt Ở Mỹ đa phần làm những công việc lớp dưới và cũng ở đẳng cấp thấp nhất về quyền lợi chính trị. Thử hỏi, đến bao giờ người Việt Hải Ngoại mới có một ông bộ, ông thủ... ở một quốc gia đứng đầu thế giới như Hồ Nguyên Trừng.


Tài liệu cổ về Hồ Nguyên Trừng và Súng. Mình thiếu những thứ này quá, bạn nào bốt lên tiếp nhé.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tư, 2008, 06:33:36 pm gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #6 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2008, 03:56:50 pm »

Ở đây chỉ dẫn Chính Sử.

Họ Hồ quê ở Đại Lại, phủ Thanh Hoa (nay là Kim Mâu, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá. Khi Hồ Quý Ly làm vua, Hồ Nguyên Trừng nhường ngôi vị thái tử cho em là Hồ Hán Thương. Ông chế tạo thành công súng thần cơ, đóng thuyền lớn 2 tầng, tầng dưới để chèo thuyền, tầng trên để chiến đấu, giống các Quy Giáp Thuyền xuất hiện ở Triều Tiên sau đó. Các giàn tên lửa bắn liên tiếp cũng xuất hiện ở Triều Tiên sau này từ mẫu Trung Quốc, là sản phẩm của Hồ Nguyên Trừng. Các vũ khí này đóng góp nhiều công vào các chiến tranh với Chiêm và Minh.

Các khí tương tự xuất hiện đồng loạt ở Viễn Đông. Ví dụ, Quy Giáp Thuyền của Tiều Tiên hay Hỏa Xa, xe bắn tên lửa nhiều nòng, cũng của Triều Tiên.

Một điều rất đáng tiếng là sau chiến tranh xâm lược của nhà Minh, thợ thuyền và sách vở mất rất nhiều. Thợ thuyền sang bên Tầu dùng trí nhớ mà làm việc, còn sách vở thất tán hầu hết, nên cấu tạo chi tiết những thứ này chỉ còn lại ở sách Tầu, ví dụ phần viết thêm của Hỏa Long Kinh hoặc Thần Cơ Thương Pháo Pháp.

Tài liệu trong sử còn về Hồ Nguyên Trừng không nhiều. Người đọc rất khó vì Minh Sử ghi ông và con cháu có họ Lê, đây là họ của Lê Huấn, cha nuôi Hồ Quý Ly. Tất cả chỉ là những mẩu tin rải rác, văn bia... thất tán ở nhiều điạ điểm và thư viện.

Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH Hà Nội 1993 nói lần đầu đến Hồ Nguyên Trừng tháng 11/1394, phong chức Phán sư trong triều Thái Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông. Tháng 6/1399 Hồ Nguyên Trừng lãnh chức Tư Đồ. Tháng 2/1400 Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần.

Hồ Quý Ly trong lòng muốn lập con thứ Hồ Hán Thương (là cháu ngoại Trần Minh Tông) làm Thái tử, bèn thăm dò ý Hồ Nguyên trừng bằng cách ra câu đối: "Thử nhất quyển kỳ thạch, hữu thì vi vân vũ dĩ nhuận sinh dân" (Hòn đá lạ bằng nắm tay này, có lúc làm mây làm mưa để nhuần thấm sinh dân). Nguyên Trừng khiêm tốn trả lời, ý nói không màng ngôi cao, chỉ mong được phụng sự đất nước: "Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương dĩ phù xã tắc". (Cây thông nhỏ mới ba tấc kia, ngày sau làm rường cột để chống nâng xã tắc). Tháng 12 năm 1400 Hồ Quý Ly tự xưng Thái Thượng Hoàng và nhường ngôi cho Hồ Hán Thương. Hồ Nguyên Trừng lãnh chức Tả Tướng Quốc.

Cuối năm 1405, nguy cơ xâm lăng của nhà Minh ngày càng rõ rệt. Khi nghị bàn quốc sự các quan trong triều chia thành hai phái đánh và hòa. Hòa tức là chấp nhận sức ép của Bắc triều, cắt đất, cống nộp từ con người đến sản vật. Hồ Nguyên Trừng nói: "Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo thôi". Hồ Quý Ly rất tâm đắc ý chí của Hồ Nguyên Trừng nên đã thưởng cho Trừng chiếc hộp đựng trầu bằng vàng.

Giữa năm 1406 Hồ Nguyên Trừng thống lĩnh binh mã cự 10 vạn quân Minh từ Quảng Tây đánh sang. Trận đầu ông thất bại ở khu vực Đáp Cầu Bắc Ninh ngày nay, vì khinh quân địch ít. Sau đó ông cũng đuổi được chúng ra khỏi bờ cõi. Cuối năm 1406, đợt xâm lược mới của nhà Minh có quân số lên tới 80 vạn. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng chỉ huy một cánh quân tiên phong dọc sông Cái. Ông chỉ huy chiến đấu ở cửa Giao Thuỷ-Nam Định và cửa Hàm Tử. Tháng 6/1407, ông bị bắt ở cửa biển Kỳ La-Kỳ Anh-Hà Tĩnh, toàn bộ gia tộc bị bắt về Minh bị giải sang Kim Lăng (Nam Kinh - Trung Quốc).

Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH Hà Nội 1993, ghi thêm, 1411 Hồ Ngạn Thần theo lệnh vua Trùng Quang Trần Quí Khoáng đến Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay) để cầu phong. Vua Minh sai Hồ Nguyên Trừng gặp Hồ Ngạn Thần thu thập tin tức Giao Chỉ.

Đánh giá về thời này, các nhà xã hội học đều thống nhất, cuộc xâm lược của nhà Minh đã làm tụt hậu mặt bằng phát triển xã hội hành trăm năm, phá vỡ những cải cách hành chính, kinh tế mạnh mẽ chớm phát triển thời nhà Hồ.

« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tư, 2008, 04:07:12 pm gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #7 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2008, 04:06:23 pm »

Theo các tài liệu nước ngoài thì ông cùng 17 ngàn người giỏi được đem đến Nam Kinh. Năm 1421, ông theo cuộc dời đô về Bắc Kinh. Cha ông, Vua Hồ Quý Ly không rõ cuối đời thế nào, cải táng ở núi Chung Sơn, Nam Kinh. (Dã Ký, tập thượng, Chúc Doãn Minh, viết theo lời kể của con cháu Hồ Nguyên Trừng). Cũng theo lời sách này thì năm 1426, em ông là Hồ Hán Thương đã được thả từ lâu.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục, NXB Hà Nội 1998, ngoài nội dung cũ, liên quan đến Hồ Nguyên Trừng còn có các chi tiết: Vua nhà Minh ngự điện nhận tù binh và hỏi Hồ Quý Ly rằng: "Giết vua, cướp nước, như thế có phải là đạo người bầy tôi không?". Hồ Quý Ly không trả lời được, bèn giao cả xuống giam vào ngục tù, chỉ tha cho con là Trừng, cháu là Nhuế. Sau, Quý Ly ở trong ngục được tha ra, bắt đi thú thủ ở Quảng Tây; Trừng vì lành nghề chế binh khí, dâng phép chế súng lên vua Minh, nên được tha ra để dùng.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng chép lại việc nghi ngờ và chú thích lại sử cũ viết về việc vua Hồ Quý Ly bị giết trên đường đi thú. Minh Sử thì chỉ viết nhiều về Hồ Nguyên Trừng thời làm quan bên Tầu, tuy nhiên, viết kiểu ngắn gọn kiểu chính sử, nên thông tin không nhiều. Nhưng đoạn trong ngoặc đơn và dấu chấm phẩy sau đây là thêm vào cho dễ hiểu.

Theo Minh Sử: Vào thời Minh Thành tổ, Giao Chỉ được bình định, (kỹ thuật chế tạo) Thần cơ thương pháo được thu dung, thành lập và huấn luyện một binh đoàn trang bị súng thần cơ. Binh đoàn này rất nổi tiếng, đây là lần đầu tiên trên thế giới có một đơn bị bộ binh dùng súng làm vũ khí chính. Kỹ thuật này cũng được chép trong đoạn chép thêm của Hỏa Long Kinh.

Có thể phỏng đoán ông được Triều Đình và Quân Đội tầu tin dùng và đặc cách nâng đỡ-bất chấp một số thế lực khác chẳng mấy vui vẻ. Sự việc rõ ràng là, đến cả việc nộp lý lịch ông cũng xù. Nhưng có lẽ, trong khoảng 20 năm đầu tiên, ông làm quan chức bé và vẫn chưa an tâm về cha với em, nên chưa đóng góp gì nhiều. Sau khi chuyển về Bắc Kinh, Triều Đình trọng dụng ông cả về kỹ thuật và tài tổ chức công nghiệp, cùng kinh nghiệm chiến sự, nâng chức quan to và ông đã thực hiện cả cuộc cách mạng súng ống. Ông cũng chỉ lên đến tam phẩm (Thị Lang) và nhị phẩm (Thương Thư) trong thời gian 20 năm cuối đời.

Cũng có thể phỏng đoán rằng, ước mơ về đất cũ của ông và đại đa số tù binh sau cuộc thiên đô đã tắt, đồng thời, một xã hội mới đã mở ra một cơ hội mới với đám tù binh. Các tù binh Việt Nam xây dựng một cuộc sống mới. Họ để lại nhiều địa danh cũng như công trình, ví dụ, Thiên An Môn của Nguyễn An.

Cũng có thể phỏng đoán rằng, 20 năm đó cuộc kháng chiến của chúng ta chưa thắng lợi, một người luôn hướng về cố quốc như ông không thể nào đem tài năng của mình và đồng đội đi cùng cống hiến hết cho giặc được, ngoài cái mức giữ được bản mạng. Sau năm 1427, khi Triều Minh đã công nhận Triều Lê, ông mới đàng hoàng mà ngẩng đầu được.

Có thể phỏng đoán rằng, việc ông không nộp ký lịch, bất chấp đó là tội lớn, khi cuộc kháng chiến của chúng ta chưa chấm dứt, là tỏ ý không công nhận chính cái chức quan mà ông buộc phải làm để cứu cha, cứu em và các đồng hương.

Cũng có thể phóng đoán ông chỉ huy và đem theo rất nhiều người trong số 17 ngàn tù binh đó, cùng họ lập nghiệp ở xứ sở mới. Nhiều người trong số đó cũng có công to, như Nguyễn An, người đã thiết kế Thiên An Môn. Nhìn chung, triều Minh được xây dựng nên từ tầng lớp hạ lưu, những tàn dư của tầng lớp thượng lưu ngóc đầu dậy là bên ngoại Kiến Văn Đế thì đã cháy theo cung điện ở Nam Kinh, nên những người xuất thân hạ đẳng như đám tù binh An Nam dễ sinh sống hơn. Đây là một hiện tượng khá phổ biến, ví dụ, Trịnh Hòa cũng là một tù binh-nô lệ mà trưởng thành. Có lẽ, cần tìm hiểu nhiều thêm về 3 con người này, đặc biệt là Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn An là hai nhân vật có vai trò quan trọng trong bộ Công. Những đoạn trích dưới đây cho thấy ông hòa hợp với đám hoạn quan thế lực ngày đó và con ông vẫn làm quan lớn kể cả khi đám hoạn quan hết thời.

Cũng có thể phỏng đoán rằng ông đã dâng cách chế súng để cứu cha và em, lại đảm bảo lập nghiệp cho một phần trong số 17 ngàn tù binh người Việt đó. Một số sử cũ ghi rằng, nhiều người làm quan trong số họ, được tha chết, ăn yến ban rồi trúng độc chết. Có lẽ, ý này mô tả một cách khéo léo cái cách mà Hồ Nguyên Trừng đã cứu đám tù binh, những người làm quan cũ không chế súng đắp thành được đều được tha để đổi lấy súng, nhưng rồi bị khéo léo giết đi.

Theo Minh Sử: Tuyên Đức nguyên niên, tam nguyệt, thập thất nhật (ngày 24/4/1426). Viên chủ sự Doanh thiện Thanh lại ty thuộc Bộ Công tại Nam Kinh (hành tại) là Lê Trừng đã đủ thời gian để sát hạch. Bộ Lại dâng biếu hặc tội Lê Trừng, cho rằng lần sát hạch trước y đã không nộp cho Bộ bản Lý lịch sự vụ sau khi kết thúc chín năm làm việc. Nay đến kỳ sát hạch này y mới chịu nộp bản lý lịch, như thế là vi phạm quy định. Hoàng thượng phán: Trừng khi còn tại An Nam đã phạm trọng tội, hoàng tổ (ông nội) ta đã đặc xá và dùng y, nay việc y vi phạm là không lớn, vậy có thể bỏ qua. ( Minh Tuyên Tông thực lục quyển 16, trang 0409, Trung ương nghiên cứu viện (Đài Loan) xuất bản năm 1985).

Minh Sử. Sau đoạn trên: Lệnh phát lương tháng toàn bằng gạo cho viên hữu thị lang Lê Trừng thuộc bộ Công tại Nam Kinh (hành tại). Trừng là anh của tên đầu sỏ ngụy An Nam Lê Thương trước dây, y bị bắt đến kinh đô, Thái Tông Văn Hoàng-đế tha và dùng y; khởi đầu giao cho chức chủ sự ở bộ Công, Hoàng thượng tức vị, y được thăng Lang trung. Nội thần tâu y nghèo, bèn thăng chức Thị lang; đến nay lại ra lệnh cấp bổng hàng tháng toàn bằng gạo. ( Minh Tuyên Tông thực lục, quyển 35, trang 0875, Trung ương nghiên cứu viện (Đài Loan) xuất bản năm 1985). Đoạn này cũng cho thấy, ông có vẻ sống hóa hợp phe cánh với đám hoạn quan đang làm mưa gió ở triều.

Theo Minh Sử. Ban đầu khi làm quan (khoảng 1407 hay một hai năm sau đó), ông được phong đứng đầu Binh trượng cục (Cục chế tạo vũ khí, một cục trong Công Bộ), Công Bộ Tả Thị Lang rồi Công Bộ Thượng Thư (năm 1445). Lên Thượng Thư được một năm thì Hồ Nguyên Trừng mất, thọ 73 tuổi. con ông Lê Thúc Lâm đã thay ông tiếp tục chế tạo vũ khí cho nhà Minh đến khi về hưu năm 1470 ở tuổi 70. Cháu nội Hồ Nguyên Trừng là Hồ Thế Vinh, năm 1469 cũng được tuyển làm Trung Thư Xá Nhân tại Công Bộ.

Nguyên văn Minh Sử: Năm thứ 10 (Chính Thống), Kỷ Sửu (đúng ra là Ất Sửu 1445), Lê Trừng, vương tử An Nam, nhậm chức (Công bộ thương thư) vào tháng 6, chuyên lo cung cấp các thứ đồ dùng cho nội phủ. Bính Dần, năm thứ 11, tháng 7, Trừng chết. Minh sử tân hiệu, Academia Sinica, Đài Loan, Quyển 111, Biểu 12, Thất Khanh niên biểu, bảng 3418-3419: Công Bộ Thượng thư. Đoạn sử này tôn trọng nói là vương tử An Nam, khác hẳn bọn Tầu ô dốt nát cực kỳ ghen tức nhà Hồ, gọi ông bằng nhứng đoạn lằng nhằng đại khái là họ hàng bọn đầu sổ giặc. Cũng khác hắn cách gọi khinh miệt trước đây của chính sử Tầu.

Minh sử cảo (sách hệ thống lại Minh Sử): Chính Thống năm thứ 8 (1443), Trừng 70 tuổi, theo lệ phải về hưu, nhưng dâng sớ xin lưu dụng, hoàng thượng xét thương hoàn cảnh ông ta là người từ Giao Chỉ xa xôi đến, nên thuận cho. Trương Tú Dân- Minh đại Giao Chỉ nhân tại Trung Quốc chi cống hiến-Đài Bắc, 1992.

Vẫn sách đó: Thúc Lâm đủ thời gian sát hạch sau chín năm làm việc, bèn làm đơn trình bày đã 70 tuổi, theo lệ phải trí sĩ, nhưng quê tại Giao Chỉ xa xôi, không còn thân thuộc để về, xin tiếp tục làm việc, để báo đáp ân sủng, Hoàng Thượng (vua Thành Hóa) chấp thuận.

Minh Hiến Tông thực lục: Thành Hóa ngũ niên, tứ nguyệt, giáp tý ( ngày 21 tháng 5 năm 1469). Lấy con của viên Công bộ hữu thị lang Lê Thúc Lâm là Thế Vinh làm Trung thư xá nhân. Thúc Lâm là người Giao Chỉ, cha tên Trừng, là em của con (Lê) Quý Ly là (Lê) Thương, vốn là tù binh bị bắt về (Trung Quốc). Thái Tông Văn Hoàng Đế tha tội cho y (Trừng) và dùng làm quan, chuyên coi sóc việc chế tạo súng, đạn, thuốc nổ tại Binh trượng cục, cuối cùng làm đến Công bộ thượng thư. Thúc Lâm kế nghịệp cha, tiếp tục giám đốc việc chế tạo quân khí. Đến nay (Lê Thúc Lâm) xin cho con của y là Thế Vinh làm quan tại kinh đô để tiện cho việc chăm sóc. Hoàng đế nghĩ đến hoàn cảnh người từ phương xa đến, nên rủ lòng chấp thuận đề nghị ấy. Minh Hiến Tông thực lục, quyển 66, tờ 4.A (trang 1329), Trung ương nghiên cứu viện, Đài Loan, xuất bản năm 1985. Hồ (Lê) Thế Vinh có tên tự là Mạnh Nhân (孟仁), trước đó đang làm Chuyển vận sứ ở Diêm vận ty tỉnh Sơn Đông.

Lê Trừng, Lê Thúc Lâm, Lê Thế Vinh đều được an táng tại thôn Nam An Hà.

Hoàng Minh dị điển thuật: Thượng thư Bộ Công Lê Trừng, con là Thị lang Lê Thúc Lâm, vốn là tù binh người di. Trừng là em (đúng ra là anh) của vua ngụy Đại Ngu Lê Thương. Khi còn ở bản quốc (Giao Chỉ) làm quan đến Thiên Trường đẳng lộ Đại đô đốc, đặc tiến, khai phủ nghi đồng tam ty, nhập nội kiểm hiệu, tả tướng quốc, bình chương quân quốc sự, Thượng trụ quốc, tứ Tử kim ngư đại, Vệ Quốc Đại vương (lược một đọan trong cái tên quan tước của Lê Trừng dài dằng dặc đến 81 chữ, Vương Thế Trinh cố ý nhắc lại để nhấn mạnh Trừng cũng là ngụy đầu sỏ!). Trừng đã may không bị hành tội, mà do giỏi chế tạo súng thần thương nên cha con làm quan đến bát tòa (nhị phẩm), ăn lộc đến gần 50 năm, thọ hơn 80 tuổi (thực ra không đến); con y cũng thọ gần 80, có thể nói là hiếm có vậy! Hoàng Minh dị điển thuật, tập 5. Vương Thế Trinh (1570-1633). Đoạn này cho thấy lũ Tầu ô dốt ghen tị gia đình ông thế nào. Nguyên văn tiếng Trung trên nét

Theo Minh sử cảo, Triều Minh khi tế Thần Súng cũng thường hiến cúng Hồ Nguyên Trừng.

Các sách vở về Kỹ Thuật cũng chép giống như các sách vở về Xã Hội-Chính Trị. Ví dụ, phần viết thêm về sau của Hỏa Long Kinh có: Tháng sáu, năm Chính Thống thứ 10 (1445) thăng (Hồ Nguyên Trừng) làm Thượng Thư Bộ Công, giữ việc nội phủ, tháng 7 năm sau mất, hưởng thọ 73 tuổi. an táng tại vùng Bắc Kinh, mỏm Tây Sơn, dãy Ngọc Đài, thôn Nam An Hà. (Khảo biện "Hỏa long kinh", thuộc chủ đề Trung Quốc lịch sử văn vật, tác giả Lý Bân, Đại học Thanh Hoa xuất bản 1/1/2002. Phần trên nét. )

Có rất nhiều địa danh Việt Nam vẫn còn ở Bắc Kinh từ thời đó, cho thấy các tù binh ban đầu được đem về Nam Kinh, rồi sau đưa lên Bắc Kinh, đóng góp khá nhiều cho nhà Minh. Ví dụ, Tử Cấm Thành và Nguyễn An.

Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #8 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2008, 04:11:23 pm »

Vẫn còn quá thiếu những điểm này.

Người Tầu tập hợp các công nghệ chế súng của ông viết thành sách binh thư Thần cơ thương pháo pháp, như một kinh điển chế súng. Trong đó có cả những phép chế tạo và sử dụng Thần thương (súng, viết tắt của "thần cơ thương pháo"), Thần thương tiễn (giàn phóng tên lửa bắn liên tiếp), Thần cơ hỏa thương (súng phun lửa). Tiến bộ lớn nhất trong đó vẫn là Thần thương.

Súng của Hồ Nguyên Trừng được đem lên mặt trận phía Bắc chống nhà Nguyên, mỗi đồn vạn quân chỉ có 2 khẩu và chỉ được bắn khi nguy cấp. Sau đó, những súng trên được thu hồi về bảo vệ kinh thành và tránh rơi vào tay quân Nguyên.

Theo chân các đoàn thuyền Trung Quốc của Trịnh Hòa đến Ấn Độ, Ba Tư, kiểu súng lớn tân tiến này được truyền vào Trung Đông rồi phương Tây.

Năm Vĩnh Lạc (永乐, niên hiệu của Minh Thành Tổ, 1403-1424), triều đình nhà Minh lập ra Thần cơ doanh 神机营 chuyên cho ông nghiên cứu và chế tạo súng.

Đồ dùng thuốc nổ có ưu thế được đánh dấu bằng trận đánh trên hồ Bà Dương, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đánh Trần Hữu Lượng. Khi Yên Vương Chu Lệ (con thứ Chu Nguyên Chương) đánh cháu mình là Kiến Văn Đế (建文帝, cháu trưởng Minh Thái Thổ, kế ngôi chính thức), thì vũ khí cộng đồng chính đã là hỏa khí (Tầu cổ, Hỏa dược bao gồm các thuốc cháy và thuốc nổ, hỏa khí bao gồm súng và lửa). Việc Súng thay Hỏa Hổ diễn ra cỡ vài năm sau đó trên đoàn thuyền của Trịnh Hòa. Trận câu pháo tầm xa ỏ rõ uy thế của Thần Cơ Thương Pháo là Trịnh Hòa đánh Srilanka, pháo từ tầu câu vào cung điện cách 2km, buộc triều đình hòa nghị.


Về thân súng, thân súng có tỷ lệ chiều dài tăng-nòng dầy so với các ống cũ, có tay nắm điều chỉnh tầm hướng, có ngáng để lắp vào ngõng trên giá pháo, hình dáng này được giữ ở khắp Đông-Tây đến giữa Thế kỷ 19. Gang và Thép được dùng thay cho Đồng, nguyên liệu nguồn gốc Ba Tư, kể cả diêm sinh hay thép, đều được coi trọng như thứ nguyên liệu quý nhất. (Sắt Ba Tư-Sắt Tây Vực theo cách nói hồi đó, có thể hiểu là thép, còn sắt thường hồi đó phần lớn là gang xấu). Từ đó, ở Viễn Đông, pháo lớn đều làm từ sắt trong khi hỏa hổ vẫn có thể dùng đồng. Súng đồng chỉ còn lại ở châu Âu cho đến Thế kỷ 18 đầu Thế kỷ 19.

Đặc biệt tránh mưa ẩm, đảm bảo chiến đấu mọi thời tiết. Súng có lỗ ngòi rất đặc trưng, di chuyển về phía sau. Lỗ ngòi và thuốc nổ được bịt kín tránh mưa ẩm bằng gỗ mềm, ngăn cách không khí và đạn với thuốc. (Tài liệu của Tầu viết là dùng gỗ mục mã tử, không biết là gỗ gì). Cơ cấu dẫn lửa của ngòi đã có cốc mồi (flash pan), ống dẫn nhỏ dài loằng ngoằng chống phụt được dùng cho các súng hỏa mai đến giữa Thế kỷ 19 (tất nhiên là ở khắp Á Âu).

Thuốc nổ đen thì tiến vọt nhờ diêm sinh gốc khoáng mang về từ Ba Tư. Diêm sinh khoáng có nhiều trong vùng Trung Á, thay thế cho thứ diêm sinh tồi tệ lọc từ phân dơi của Viễn Đông. Sau nhiều thử nghiệm, Hồ Nguyên Trừng đã tìm ra các thành phần thích hợp nhất cho súng.

Đạn cầu được chọn lựa thay cho dòng lửa phụt lẫn với đạn là mảnh than củi cháy dở. Đạn cầu đá hay gang được dùng công thành, uy lực vượt trội máy bắn đá, lại gọn nhẹ thuận tiện hơn và dễ chế tạo nhiều hơn. Súng cá nhân còn thiếu nhưng khả năng sát thương bằng đạn ria, đạn mẫu tử vượt trội cả về tầm và sức so với các giàn tên liên châu nỗ.

Kiểu súng lớn này có một số đặc điểm ưu thế hơn so với các súng trước:

Công phá mạnh hơn, có thể đập vỡ thành.
Sát thương mạnh hơn.
Tầm xa hơn và dễ thay đổi tầm hướng.
Chịu được thời tiết xấu.
Sức công phá của đạn đã cao hơn các máy bắn đã, sức sát thương cạnh tranh với hỏa hổ và từ đây, súng trở thành vũ khí cộng đồng chính. Súng thời này thay thế và làm mất giống các máy bắn đá, máy phóng tên lớn và nỏ bắn nhiều tên liên châu nỗ. Súng vẫn chưa thay được hỏa đồng-hỏa hổ trong hải chiến-đốt các tầu gỗ, tuy nhiên, sức sát thương của súng trội lên. Từ đây, người ta không còn làm thứ đa năng lai hỏa đồng-Súng dùng sát thương nữa, mà chỉ làm các hỏa đồng nhẹ để đốt lửa thôi.
Đến cuối Thế kỷ 18, từ phương Tây, súng trở thành vũ khí cá nhân chính. Thuốc nổ tốt ở viễn Đông hiếm, tuy nhiên, những đơn vị đặc biệt tinh nhuệ vẫn dùng súng thay đao kiếm trong vai trò vũ khí chủ lực.

Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #9 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2008, 10:25:28 pm »

Định nghĩa.
Thuốc nổ đen là một loại thuốc nổ. Nó là thuốc nổ đầu tiên do con người chế tạo ra, thuốc nổ đen được dùng làm thuốc nổ, thuốc súng, nhiên liệu cho tên lửa (rocket) và thuốc cháy chủ yếu (nếu không muốn nói là duy nhát) cho đến tận giữa thế kỷ 19.

Thời trung cổ, thuốc nổ đen ở Trung Quốc có tên hỏa dược (火藥, nghĩa là "thuốc cháy"), ở châu Âu nhiều người gọi là "black powder" (thuốc nổ đen), "meal powder" (thuốc bột) cũng có người gọi là "gunpowder" (thuốc súng). Nhiều cách gọi như thế vì trước đây chỉ có mỗi thuốc nổ đen vừa làm thuốc nổ vừa làm thuốc súng và vừa làm thuốc cháy. Từ gunpowder ngày nay vẫn dùng mặc dù thuốc súng đã đổi khác nhiều.

Trong các ngôn ngữ phương Đông cổ, hay dùng từ "thuốc" (Hán-Việt là "dược", 藥) để chỉ các hỗn hợp có chức năng nào đó được sử dụng gần như hóa tính ngày nay. Thuốc nổ đen ban đầu dùng làm thuốc cháy và tiếng Trung vẫn còn tên thủa ấy.


Lý-Hóa tính.
Thuốc nổ đen dạng bột mịn, màu đen xám của bột than, có thể có ánh kim của bột nhôm, mùi khó ngửi của lưu huỳnh. Ngoài ra, còn một số phụ gia khác như hồng hoàng để bắt cháy chẳng hạn.

Thuốc nổ đen dễ hút ẩm do đặc điểm của nitrat kali giã mịn. Thuốc nổ đen có thành phần bột nhôm rất nhanh chóng biến chất khi tiếp xúc với không khí.

Đặc tính cháy nổ.
So với các thuốc nổ khác, thuốc nổ đen dễ bắt cháy, tốc độ nổ không cao nhưng không thể kiểm soát được, năng lượng nổ yếu, sản phẩm cháy nhiều phần rắn gây hỏng thiết bị (như nòng). Nhiệt độ bắt cháy của thuốc nổ đen chỉ hơn 200°C, thời cổ, những loại thuốc cháy chứa muối thủy ngân và nhiều lưu huỳnh có nhiệt độ bắt cháy thấp hơn, chỉ 160°C, nhiệt độ bắt cháy cũng giảm khi sử dụng nguyên liệu tồi như phân dơi. Nhiệt độ bắt cháy không ổn định khi thành phần thuốc không chính xác. Các súng dùng thuốc nổ đen làm thuốc súng thường ngắn, nặng, yếu. Loại súng mạnh nhất được thiết kế để dùng thuốc nổ đen là hải pháo.

Thành phần hóa học.
Thuốc nổ đen là hỗn hợp nitrat kali (KNO3), bột than củi giã mịn. Một số loại thuốc nổ đen có thêm lưu huỳnh (dùng cho các vũ khí mạnh), bột nhôm (phát sáng cho pháo, tăng năng lượng cháy cho bom), hồng hoàng (muối thủy ngân, kích nổ).

Nitrat kali, thời cổ gọi là "diêm sinh", được lấy trong các mỏ tự nhiên. Diêm sinh cũng được lấy bằng cách hòa đất lẫn phân dơi trong hang với nước, lọc, cô đặc, sấy khô. Các thành phần hỗn hợp được để riêng, giã mịn, rồi mới trộn với nhau. Carbon của bột than củi là chất khử, diêm sinh là chất ôxy hóa. Các súng phun lửa hay hỗn hợp cháy trộn dư chất khử, để chúng tiếp tục cháy lâu. Thuốc có thể trộn thêm các thành phần khác, như chất độc, chất tạo khói, chất gây cay, mảnh sát thương... Các thành phần có thể để riêng rồi rắc lẫn lên vật gây cháy (rơm củi dầu), không cần trộn, ngay trước khi sử dụng, để dẫn lửa[1][2].

Phản ứng cháy của hỗn hợp rất phức tạp, đơn giản có thể viết:

2 KNO3 + S + 3 C → K2S + N2 + 3 CO2
Một cách viết phức tạp hơn, nhưng vẫn chưa mô tả được hết phản ứng[3]:

10 KNO3 + 3 S + 8 C → 2 K2CO3 + 3 K2SO4 + 6 CO2 + 5 N2
Chính xác, hỗn hợp có thành phần khối lượng như sau: 74,64% nitrat kali, 13,51% bột carbon, 11,85% lưu huỳnh. Trước đây, các thành phần hỗn hợp thành phần rất tồi, nên tỷ lệ khó chính xác, ảnh hưởng nhiều đến khả năng bắt cháy, tốc dộ cháy, năng lượng cháy. Giữa thế kỷ 18 ở châu Âu trộn hỗn hợp theo tỷ lệ 75% diêm sinh, 15% bột than củi, 10% lưu huỳnh[1].

Trong Binh Thư Yếu Lược có quy định rõ thành phần, loại cây lấy than, cách giã, số lượng chầy giã...

Lịch sử.
Người phương Tây thường cho rằng, các đạo sĩ ở Trung Quốc thế kỷ thứ 9, trong khi luyện đan, đã tình cờ phát hiện ra phản ứng cháy của hỗn hợp có diêm sinh. Người Trung Quốc khảo cứu các tài liệu từ thời nhà Tần và thế kỷ thứ 7. Tuy nhiên, nhiều người tin rằng người Trung Á, nơi có những mỏ diêm sinh tự nhiên, đã phát hiện ra tính dễ gây cháy của chất ôxy hóa khá mạnh này, rồi mới truyền vào Trung Hoa.

Nhiều tài liệu lịch sử cho thấy, Assyria đã có những chiến thuyền đốt chuyên nghiệp như các hỏa thuyền của tầu. Chất đốt có thể là dầu lửa trộn với diêm sinh, lưu hoàng. Hy Lạp nhận được kỹ thuật hỏa thuyền muộn hơn, nhưng chất đốt lại chỉ còn là dầu mỡ thông dụng, không thấy nói đến diêm sinh. Kinh truyện cổ nhất của đạo Thiên chúa (bao gồm Do Thái giáo, Ki-tô giáo, Hồi giáo) cũng đề cập đến ánh lửa diêm sinh nhưng không rõ đời sau viết thêm vào hay là có từ trước. Những bằng chứng trên cho thấy, thời trong thiên niên kỷ liền trước Công nguyên đã dùng hỏa dược, chủ yếu ở Trung Đông. Nhiều người đọc dã sử Tam Quốc Diễn Nghĩa thường cho rằng Hoàng Cái dùng Hỏa Thuyền có diêm sinh-lưu hoàng đốt Tào Tháo trong trận đánh Xích Bích. Nhưng theo những thứ tin cậy, như Tam Quốc Chí, thì trận này Chu Du đã dùng các thuyền buồm chở rơm cỏ khô, phía sau có thuyền nhỏ đẻ tổ lái rút lui, các thuyền này áp sát các Mông Xung thuyền (蒙衝) của Tào Tháo, được ghi chép nhiều trong binh thư, tên Mẫu Tử thuyền[9].

Trong cuốn binh thư Võ kinh tổng yếu (武经总要), xuất bản thế kỷ 11, đã mô tả thành phần gần đúng của thuốc nổ và thuốc cháy dùng cho đạn của máy bắn đá (hồi đó gọi là sơn pháo).

Thuốc nổ 1: 48,5% diêm sinh, 25,5% lưu huỳnh, 21,5% thành phần khác;
Thuốc nổ 2: 50% diêm sinh, 25% lưu huỳnh, 6,5% bột than, 18,75% thành phần khác;
Thuốc cháy: 38,5% diêm sinh, 19% lưu huỳnh, 6,4% bột than, 35,85% thành phần khác;

Các thuốc nổ, thuốc cháy này sau được nhồi cho các súng lệnh và hỏa khí. Súng lệnh là súng rất giống ngày nay, nhưng không có đạn mà chỉ lấy lá khô hoặc gỗ chèn chống ẩm, dùng đốt lấy tiếng nổ to làm hiệu. Súng lệnh thừa kế chức năng của pháo lệnh trước đây, là gói thuốc nổ hay ống tre nhồi.

Các công thức thuốc nổ được chính xác rất chậm chạp, năng lực nổ bao gồm tốc độ cháy và năng lượng nổ cũng vì thế mà tăng rất chậm. Có sách viết rằng năm 904 người Trung Quốc đã bắn tên bằng thuốc nổ, giàn phóng tên lửa gồm nhiều ống phóng tre được người Triều Tiên học từ Trung Quốc cuối thế kỷ 14. Các tên lửa và súng được chế tạo trong thời nhà Tống, nhưng súng rất yếu, chủ yếu dùng thứ súng phun lửa có tên "hỏa hổ". Mãi đến thế kỷ 15, súng bắn đạn cầu mới mạnh mẽ và phổ biến, do công của Hồ Nguyên Trừng. Cũng thế kỷ 15, các trái phá "bóng nổ" xuất hiện, ban đầu dùng như lựu đạn. Thuốc nổ truyền vào châu Âu theo chiến tranh của người Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn. Năm 1453, Thổ Nhĩ Kỳ đánh thành Constantinople đã có súng 900 mm, bắn đạn 320 kg đi xa 1,6 km.

Thế kỷ 14-15, thuốc nổ đen phát triển mạnh mẽ. Bái Hỏa giáo, còn gọi là Minh giáo, đẩy lui ngựa của Mông Cổ từ Ba Tư, về đến Trunng Hoa rồi về tận Mông Cổ, đã đem theo kỹ thuật sử dụng hỏa dược chất lượng cao. Loại diêm sinh và sắt quý ở vùng này kết hợp với kỹ thuật miền Viễn Đông dã cho ra đời súng bởi công Hồ Nguyên Trừng, góp phần lập ra triều đại nhà Minh. Kể từ đây, súng thoát thai khỏi hỏa hổ và trở thành súng cộng đồng chính, thay thế máy bắn đá, máy phóng tên, nỏ bắn nhiều tên, liên châu nỗ. Súng này nhanh chóng phổ biến ra khắp thế giới theo chuyến đi của Trịnh Hòa.

Hỏa khí, cục thể hơn là các tên lửa, chất tăng sức cháy, súng phun lửa, đồ dùng dẫn cháy và đánh lửa... trở thành vũ khí cộng đồng chính trên thuyền từ khi Chu Nguyên Chương đánh Trần Hữu Lượng, lừng danh với trận đánh Hồ Bà Dương. Hỏa khí trở thành vũ khí cộng đồng chính trên bộ trong chiến tranh chống Kiến Văn Đế (con thứ Chu Nguyên Chương đánh cháu trưởng của ông). Sau khi chiếm được Việt Nam (1407) thì loại súng mới có sức bắn đạn cứng mạnh trở thành vũ khí cộng đồng chính, được chế tạo khẩn cấp và ứng dụng trong cuộc chiến với nhà Nguyên sau đó. Các phương pháp chế súng Việt Nam được nhà Minh chép thành cuốn binh thư Thần cơ thương pháo pháp (nghĩa là "cách làm súng đạn có nguyên lý máy móc của thần").

Súng nhỏ, dùng cá nhân phổ biến chậm hơn súng lớn. Nhà Minh lập ra những đội quân dùng toàn súng đầu tiên. Tuy vậy, việc phổ biến các súng nhỏ ở Viễn Đông rất chậm do thiếu công nghệ luyện sắt Trung Đông và quan trọng hơn là thiếu nguồn diêm sinh, lưu huỳnh chất lượng cao, nguồn gốc khoáng vật, có nhiều ở Trung Đông, Châu Phi và Mỹ. Nguồn diêm sinh có nguồn gốc phân dơi là nguồn cung chủ yếu ở Viễn Đông, bán với giá rẻ nhưng rất tồi.

Thuốc nổ đen dùng cho súng, súng phun lửa, trái phá đến đầu thế kỷ 20. Có nhiều loại thuốc nổ khác sinh ra trong thế kỷ 19, nhưng ứng dụng rất chậm chạp. Nitrôglyxêrin, nitrôcellulose (bông thuốc súng) đến đầu thế kỷ 20 đã thay thế thuốc nổ đen trong súng, trinitrôtôluen (TNT) thay trong trái phá. Các thuốc nổ đó dễ kiểm soát tốc độ, điều kiện cháy hơn, tỏa nhiều năng lượng và nhiều đặc tính tốt hơn

Sử dụng này nay.
Đầu Thế kỷ 20, thuốc nổ đen dược thay thế bởi các thuốc mới. Những lý do chính như sau:

Lý do đầu tiên là dễ sản xuất quy mô lớn, nitrôglyxêrin là thuốc gốc của những thuốc nổ công nghiệp đầu tiên. CHúng không phụ thuộc vào nguồn diêm sinh nhập khẩu hay thuộc địa, mà không phải nước nào cũng sẵn.
Năng lượng nổ mạnh. Nitrôglyxêrin có năng lượng nổ cao. RDX, HMX, PENT có tốc độ nổ cao.
Điều khiển được phản ứng cháy để làm đạn xuyên phá và đại bác nòng dài. Như TNT và nitrôcellulose (bông thuốc súng) đúc.
Dễ sử dụng, bao gồm các tính năng ổn định, mạnh, dễ nặn, dễ đúc nhồi...
Rẻ. Hỗn hợp nitrat amôni (NH4NO3) và bột nhôm rất rẻ và có năng lượng nổ cao. Nhược điểm của nó là nhiệt độ và áp suất kích nổ cao là nó văng đi rất nhiều nếu liều nhỏ nổ tự do.
Thuốc nổ đen hiện nay vẫn dùng trong các kíp nổ, ngòi nổ do chúng dễ bắt cháy. Ngày nay, người ta hay sử dụng hỗn hợp nitrat amôni và bột nhôm, gần giống thuốc nổ đen trong bom lớn, thuốc nổ công nghiệp.

Loại thuốc nổ gồm nitrat amôni, hoặc nitrat kali và bột than, rất dễ kiếm vì nitrat amôni, nitrat kali được dùng làm phân bón, điều này đã gây ra nhiều vụ nổ trái pháp luật.

Sử dụng dân sự.
Thuốc nổ dùng để phá đá, xây đường và đào mỏ. Thuốc nổ dùng trong đào mỏ từ thế kỷ 15[10], ghi chép sớm nhất còn lại về đào mỏ thuốc nổ là Hungary năm 1627[10]. Kỹ thuật này đem đến Anh năm 1638 bởi thợ mỏ Đức. William Bickford đưa ra kíp nổ an toàn, trước đó dùng rất nguy hiểm. Một lý do nguy hiểm nữa là khói bốc dày đặc và có thể kích nổ khí hầm lò. Công trình đầu tiên dùng một lượng lớn thuốc nổ là kênh Canal du Midi miền nam nước Pháp. Kênh này hoàn thành năm 1681 nối Địa Trung Hải và Vịnh Biscay, kênh dài 240 km và có 100 cửa cống. Một công trình khác dùng nhiều thuốc nổ đen là kênh Erie ở tiểu bang New York, dài 585 km, làm 8 năm, bắt đầu năm 1817. Trước nổ đen dùng rất nhiều trong xây dựng đường sắt. Ban đầu các đường sắt đi ngoằng nghèo leo qua núi, đi qua chỗ trũng bằng cầu. Nhưng sau này đường sắt hay cắt qua núi bằng đường xẻ và đường hầm. Đoạn 800 mét kéo dài của đường hầm hộp trên tuyến đường sắt Great Western nối London và Bristol ngốn 1 tấn thuốc nổ đen một tuần trong 2 năm. 12,9 km chiều dài của đường hầm Mont Cenisl hoàn thành trong 13 năm bắt đầu từ 1857, khoan khí nén và nổ thuốc nổ đen chỉ cho tốc độ 25 cm một ngày. Lúc này, phương pháp khoan nổ đã thịnh thành trong việc xây dựng đường hầm, hầm mỏ.

Đóng góp cho các công trình của thuốc nổ đen chỉ kéo dài đến khoảng già nửa thế kỷ 19. "hồ nổ" (blasting gelatine) của Alfred Nobel xuất hiện dưới dạng đóng chai, sau đó là dynamit cũng của ông được bán rộng rãi, là những thuốc nổ mới thay thế thuốc nổ đen đầu tiên.

http://www.musketeer.ch/blackpowder/history.html
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tư, 2008, 08:54:53 pm gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM