Sắt thép rẻ đi thay cho đồng là chìa khóa của phát triển. .
Tiến bộ kỹ thuật phổ biến trong quân đội rất chậm.
Có lẽ, tiến bộ sâu sắc nhất là sắt. Cho đến Thế Kỷ 19, pháo vẫn được đúc bằng đồng là chủ yếu, nhưng pháo sắt các loại càng ngày càng có vị trí quan trọng. Chúng ta cũng cần nhớ rằng, tốc độ công nghiệp lúc đó rất chậm, một khẩu pháo sẽ được dùng trong nhiều trăm năm và một lực lượng pháo binh mạnh phải được có lẽ đến nửa châu Âu đúc trong 30-50 năm. Vì vậy, mỗi phát kiến được phổ biến rất chậm, và để xây dựng một lực lượng pháo binh mạnh cần rất nhiều nỗ lực cộng với thời gian lâu dài.
Đồng thì tồi.Chủ yếu pháo được dúc bằng đồng thau (đồng kẽm), nhưng không hiểu sao, HP quan sát thấy nhiều khẩu có màu đồng điếu (đồng thiếc)

? Có lẽ, do quặng từng nơi và kỹ thuật tồi, đắt nên người ta chấp nhận chuyện luyện không kỹ.
Đồng dễ nấu, nhưng nó có ít, nó không đủ để làm nhiều pháo và đặc biệt, khi lựu pháo xuất hiện thì cần đạn kim loại thay đạn đá, điều này thì

? rõ ràng, cần thứ nào đó nhiều hơn đồng. Sắt trở thành chìa khóa để có một lực lượng pháo binh mạnh vào đầu Thế Kỷ 19. Tuy vậy, trong thế kỷ 18, những bước tiến quan trọng với pháo sắt cũng diễn ra.
Sắt thì đắtSắt cùng được dùng với đồng ở châu Âu ngay từ những ngày đầu phát triển pháo. Nhưng sắt lúc đó còn rất xấu, chủ yếu là hợp kim gang xấu. Ta đã thấy, trong Thế Kỷ 18, Nga đã vượt lên sử dụng sắt trong các loại pháo cỡ lớn, động năng đầu đạn mạnh, các loại pháo thần cơ to, khối lượng nòng nhiều tấn. Sắt cũng là tiền đề quan trọng cho việc phổ biến súng, đặc biệt là súng trường: cần kỹ thuật khoan nòng, sắt chất lượng cao để làm cò, lò xo, đây thật sự là những loại thép chứ không còn là gang đúc nữa.
Rèn dập gang ra thép rất tốn côngThép có hàm lược carbon thấp hơn gang, cho đến đầu Thế Kỷ 18, thì thép ở Viễn Đông chỉ làm được bằng phương pháp rèn đập, năng suất rất thấp. Người ta luyện gang thành thép bằng cách nung nóng gang rồi đập dẹp, gập lại rồi lại đập dẹt, nguội lại nung nóng, gang nóng tiếp xúc với không khí sẽ cháy bớt carbon. Đây là phương pháp luyện kiếm Nhật, nó được truyền từ Xyria-Batư vùng Cận Đông qua Trung Á, đến Mông Cổ-Liêu-Thanh... (Người Nhật, Hàn, Mông Cổ liên hệ mật thiết với người Trung Á và Tạng về huyết thống). Phương pháp luyện thép đó có thể cho ra đời những thanh kiếm rất tốt, nhưng không thể đủ thép đúc pháo được (và chưa chắc loại thép đó đã đúc được, vì khi nấu chảy thì chúng thành cái gì đấy). Người Âu trong Thế Kỷ 18 đã có những biện pháp nấu ra thép nhưng năng suất vẫn còn rất thấp, còn những loại thép làm những chi tiết nhỏ như cò súng trường thì vẫn có thể rèn dập từ gang được. Điều đó cho chúng ta thấy, khẩu súng với máy thanh thép đuôi chuột đã trưng lên mấy trang trước, hồi đó là cả một gia tài, mặc dù chúng chỉ là loại thép phở nhất hiện nay "thép dụng cụ", mà lại còn xấu hơn cả thép phở vì thành phần không đều, giòn và chóng mỏi.
Thép Damascus tốt nhưng hiếm Một kiểu thép nữa là thép Damas mà ta thấy ở khẩu pháo lễ trang trước. Đây là phương pháp luyện bí truyển vùng Cận Đông, nó tốt và đồng đều hơn loại thép rèn dập, đúc tốt và không thay đổi tính chất khi đúc, dẻo, đàn hồi (làm lò xo tốt)và sắc. Nhưng nó cũng không giúp được gì cho sự phát triển, vì nó đắt đỏ. Thực chất, ưu thế của loại thép này chỉ nằm một phần ở sự bí truyền, phần đắt chủ yếu là do nó được luyện từ một loại quặng hiếm.
Thép chỉ bắt đầu có nhiều vào đầu Thế Kỷ 19, khi có các lò luyện công nghiệp, nấu gang ở 1500-1800 độ, khi đó cho ra nhiều "gang trắng", không làm đồ được nhưng để luyện thành thép. Nhiệt độ thấp chỉ nhỉnh hơn nhiệt độ chảy của gang chỉ cho ra thứ gang xấu, loại gang xám tệ nhất trong các loại gáng xám, giòn và rỗ khuôn khủng khiếp, việc tăng dần nhiệt độ nấu của lò cao cho dần dần những thứ gang tốt hơn. Nhiệt độ cao hơn chút và có kỹ thuật đặc biệt, cho ra loại gang cầu được dùng rất nhiều trong Thế Kỷ 19.
Trước đây, nhà Minh đã đạt sản lượng gang rất cao, thời đỉnh điểm đến 10kg/đầu người/năm, đây là con số rất lớn lúc đó, càng khủng hơn khi sản lượng này tập trung quanh những thành phố lớn. Lượng thép nấu được cũng kha khá, bằng những lò lớn và những phụ gia đến nay thất truyền. Điều này đảm bảo nhà Minh có một lượng súng pháo khổng lồ và nền công nghiệp tập trung quy mô xuất hiện từ thời Hồ Nguyên Trừng. Tuy nhiên, bọn hủ nho đã làm nhà Minh suy đồi như tất cả các triều đình Tầu khác, Tầu bị phá hoại khủng khiếp trong chiến tranh của quân Thanh và pháo Tầu chìm nghỉm.
Tăng chất lượng gang bằng tăng nhiệt độ nấu.Tuy thép còn rất ít, nhưng bù lại, chất lượng gang tăng lên. Các mỏ sắt lớn của Scandinavi thuộc về Thụy Điển và Nga trong Thế Kỷ 18 đã nhanh chóng cho ra một lượng lớn loại gang tốt hơn và ở trang trước, chúng ta đã thấy Piotr cho đúc hàng loạt các pháo lớn từ những năm 171x trở đi. Lúc này, gang đã nâng cao chất lượng sau khi chiếm được St. Petecbur và miền xung quanh mà nay là Phần Lan. Trước đó, ở đây đã có nhiều người Nga trốn chế độ nô nệ (thừa kế từ thời Mông Cổ), ra đây đào và luyện sắt. Chiếm eo đất và xây thành Petecbur và tiếp theo là Riga là chìa khóa để Nga phát triển. Riga là điểm trung chuyển thương mại lớn lúc đó nối vùng Biển Đen và Bắc Âu bao gồm Anh. Piốtr đã phát triển lợi điểm này bằng cách chiến nốt Biển Đen phụ thuộc Thổ (Tartar) và cho xây hàng loại các kênh nối các con sông, thông thuyền từ biển đen sang Baltic, chở được nhiều và hàng lớn hơn là đường bộ.
Việc tổ chức sản xuất quy mô lớn là chìa khóa để tăng nhiệt độ nấu gang. Chỉ có những lò cao đến chục khối và hơn nữa mới có thể cho ra thứ gang xám tốt ăn khuôn được nấu ở nhiệt độ cao, và tiếp theo là thứ gang trắng tốt. Sản lượng gang tăng đến lượt nó lại tăng nhiệt độ nấu các lò sau, vì tỷ lệ dùng gang thép làm vật liệu lò tăng lên. Sản lượng gang, chất lượng gang tăng tạo điều kiện tăng sản lượng đồng, nhưng điều đó diễn ra rất chậm so với gang thép do quặng không nhiều thư sắt.
Phát triển súng pháo. .
Pháo phát triển theo công nghiệpNhìn từ nòng pháo mà ra thì thấy rõ, nếu như Thế Kỷ 17, Pháo Nga chỉ yếu là loại pháo Thần Cơ đồng nòng dài hoa văn rất đẹp của Riga, thì chớm đầu thời 17xx, khi có Petecbur, pháo Nga đã hoàn toàn khác. Đến cuối thời Piotr Đại Đế và suốt Thế Kỷ 18, Nga đã đi tiên phong trong việc phát triển Lựu Pháo các loại, loại pháo này dần trở thành loại pháo quan trọng nhất và đến đầu Thế Kỷ 19, nó đã thống lĩnh chiến trường.
Một điểm mà các nhà sử học ít chú ý, Công Quốc Riga, (thật ra là một nước cộng hòa độc lập, tước Công là nhận của nước ngoài phong cho yên chuyện), trở thành một trung tâm đúc súng Thế Kỷ 17 không chỉ vì phục vụ Thụy Điển và Ba Lan đang đánh nhau, mà còn vì nguồn nguyên liệu diêm sinh khoáng được chở từ các mỏ Trung Á, qua Biển Đen, đi đường bộ đến Riga và đi dang Thụy Điển, Đan Mạch, Anh, Nga...Nguồn cũng này dĩ nhiên từ đó rơi vào tay Nga.
Tân Bán Nhà và Bồ Đào Nhà vẫn thống trị con đường dang Á, Phi, Viễn Đông. Nhưng họ chỉ mang về diêm sinh bên cạnh hạt tiêu. Kỹ thuật luyện kim của các nước Nam Âu tụt lại và pháo của họ cũng vậy.
Một điểm đáng chú ý là pháo Riga không chỉ đẹp mà còn nòng rất dài, dĩ nhiên là nó sẽ nặng và cồng kềnh, nhưng tất nhiên là rất mạnh. Pháo Riga cũng nhồi rất nhiều, (thường thì liều nhồi hoặc lọai pháo được ghi trên nòng đúc), nhưng sang Thế Kỷ 18, chất lượng thuốc nổ châu Âu tiến bộ rất mạnh, nguyên nhân của chuyện này còn phải bàn nhiều.
Lựu Pháo phần đông vẫn làm bằng đồng, nhưng chìa khóa của nó là gang sắt, để làm đạn. Một khẩu pháo chỉ nặng vài trăm cân, nhưng chỉ một trận đánh nhỏ, nó xơi nhiều tấn hay đến chục tấn gang.
Thép rẻ đi cũng làm cho súng cá nhân mà quan trọng nhất là súng trường phổ biến. Thế kỷ 18 là thế kỷ bản lề mà súng thay thế cho dao kiếm.
Trình độ phát triển của các nước châu Âu không đều.
Piôtr đại đế đưa nước Nga lên hàng Siêu Cường của châu Âu, nhưng rõ ràng, ông chưa được dùng nhiều những cỗ pháo mạnh, mà chỉ đến sau đó, nước Nga mới phát triển việc đúc súng pháo (như đã nói, xây dựng một lực lượng pháo binh mạnh lúc đó cần huy động đến nửa châu Âu trong 30-50 năm). Đến cuối Thế Kỷ 18 thì Nã Phá Luân và nhiều người khác chứng minh Pháo là hỏa lực quan trọng nhất của Lục Quân.
Thế Kỷ 17 thì vùng Pre-Baltic ngày nay, Ba Lan là những trung tâm đúc pháo quan trọng, như những phẩu pháo Riga rất đẹp trang trước. Rõ ràng, cùng một cỡ nòng những pháo Thế Kỷ 18 xấu hơn, dầy hơn, ngắn hơn và nhẹ hơn nhiều. Đồng thời, Triều đại Ogust của Ba Lan suy đồi đã làm thị trường Pháo ở đây giảm sút. Nga trước cũng có pháo giống ở đây, kể cả pháo mua và tự đúc. Nhưng từ Piôtr đại đế thì pháo Nga tiến bộ khác hẳn, pháo châu Âu cũng vậy, và ta có thể hiểu được rằg, Piôtr đại đế đã thu thập nhiều hướng, phát triển nhiều kỹ thuật pháo và đẩy cấu tạo pháo đi qua những bước tiến dài.
Đáng tiếc, không có ảnh những khẩu pháo Tây Ban Nha thời này-có bốt sau vậy, chúng mỏng yếu như lựu pháo Nga nhưng lại bắn đạn rắn như thần cơ Nga. Trừ Nga, Thụy Điển (cùng trang giành bờ biển Baltic với Piôtr đại đế), Anh (quan hệ gần gũi với Thụy Điển) thì pháo còn lại ở châu Âu tụt hậu. Cuối Thế Kỷ 18, khi Cách Mạng cởi gông xiềng, kỹ thuật đúc pháo Phát mới đại tiến vọt. Đầu Thế Kỷ 18, ảnh hưởng của việc Piôtr đại đế đuổi người Thụy Điển, Ba Lan suy đồi, Đức nổi lên dần trở thành một cường quốc, dần dần súng pháo Đức cũng trở nên tiên tiến, nhưng phải nửa sau Thế Kỷ 19 (thậm chí gần đầu Thế Kỷ 20) thì súng pháo Đức mới bước vào thời hoành tráng.