Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:03:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lính Trường Sơn  (Đọc 105222 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #70 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2010, 09:28:40 am »

Tôi gợi chuyện:

- Sống một mình, cảnh cơm niêu nước lọ, anh khỏng buồn à? 

- Lúc đầu thì buồn, thì nhớ. Con người chứ có phải đất đá đâu mà không buồn không nhớ hả ông. Nhưng dần dà khối điều phải lo, phải tính. Những lúc quân nhiều, những lúc mưa lũ, công việc cứ rối tinh rối mù lên, làm gì có thời gian để buồn. Nói cho đúng ra, cuộc sống của mình cũng có nhiều chuyện thú vị lắm, ông mới tới dây chưa hiểu hết đâu.

Ngồi trên con đò đuôi én, chúng tôi nhìn ra dòng sông miền rừng nước xanh màu lá cây. Sông không rộng, nếu đứng ở bên này, cầm một viên sỏi ném mạnh, viên sỏi sẽ bay sang bờ bên kia. Bắt nguồn từ đỉnh núi cao Trường Sơn, với sức mạnh tiềm tàng vốn có, dòng sông quanh năm nước sâu, chảy xiết như không biết mệt mỏi bao giờ.

Thanh hỏi tôi

- Chắc ông mới ở Bắc vào chứ chưa phải lính thổ công ở đây

- Vâng, nghe nói vùng này năm ngoái bom đạn dữ lắm?

- Thì ông cứ trông những hố bom chưa lấp, những vùng rừng cây mới xanh lá thì rõ. Hồi đó, có khi nó đánh bom suốt cả tuần đến đêm mình mới dám ra sông tắm giặt. Mấy con đò cứ phải giấu ở lèn đá suốt chứ đâu có được đậu trên bến như bây giờ. Thường thường vào lúc đêm khuya, thằng giặc trời đất đi ngủ, mình ôm quần áo lần tới một căn hầm đào sẵn ven sông. Quần áo sạch để trên bờ, quần áo bẩn cởi ra vò kỹ, giặt sạch. Ông tính người đang ngứa ngáy như xát lá han, đầu tóc đang hôi xì, nhớp nháp bụi đất, được bì bõm dưới sông hỏi còn gì sướng bằng. Cứ ngâm mình dưới nước cho thỏa thích, bom đánh bất ngờ thì nhảy tót vào hầm tránh bom, sợ cóc gì. Đêm khuya, dọc bờ sông, lính tráng mình ra tắm đông phải biết. Người đi lấy đạn, lấy gạo hoặc cáng thương binh về trạm phẫu, có dịp qua sông đều tranh thủ tắm giặt. Ở hầm, ở hào lên gặp sông không tắm chịu sao được.

Biết tôi vẫn đang chăm chú nghe, Thanh hào hứng nói tiếp.

- À mình quên chưa kể cho ông nghe vào một hôm. Khoảng 4 giờ sáng, mình dậy sớm vừa tắm giặt, thay quẩn áo xong thì máy bay ào tới thả bom. Mình vội vã cầm súng AK nhảy vào căn hầm gần đó. Bất thình lình có một bàn tay đẩy mạnh vào lưng mình rồi giọng nói léo xéo của con gái nổi lên: "ơ, cái anh này, định giờ trò gì thế”. Thật rắc rối, ai ngờ trong hầm có con gái. Mình vào hầm tránh bom, cô gái lại tưởng mình rình rập, trêu ghẹo, lúng túng giây lát mình định thần lại nói rằng: "Cô có quyền gì đuổi tôi". Cô ta nói giọng đanh đá: "Đây là hầm con gái. Mời anh ra cho". Mình ngang bướng: "Tôi cứ ở đây. Cô làm gì được tôi nào". Cứ thế hai người cãi vã nhau trong lúc bom nổ bên kia đồi.

Nhưng đến khi bom nổ gần, chớp lóe đầy mặt sông, nước và bụi đất bắn vào hầm rát rạt, mặt đất chao đảo thì mình thấy hai tay cô ta bíu vào vai mình như người say thuốc lào. Dứt loạt bom tọa độ, hai người chui ra khỏi hầm. Mình lấy giọng nghiêm trang hỏi cô ta: "Đồng chí đi đâu?". Cô ta đổi cách xưng hô, tiếng nói đến ngọt ngào: "Em đi ra kho lĩnh gạo về. Đêm hôm mệt quá, em rẽ vào đây, nghỉ tạm. Lúc nãy em lỡ lời thế, anh có giận không?". Thấy tay trái cô ta quấn băng trắng, mình kêu lên, giọng mềm đi: "Đồng chí bị thương à?". Cô gái lôi chiếc ba lô gạo từ trong hầm ra, cười khẽ. "Em bị mảnh pháo. Vết thương xoàng thôi".
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #71 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2010, 09:29:38 am »

Trời sáng dẩn, cô gái chào mình ra về. Mình đeo hộ cô ta ba lô gạo ra đến tận ngã ba mới chia tay. Cô gái bị thương nên mới rẽ vào căn hầm nơi bến đò mình nghỉ chờ. Giá không phải ở lại chờ khách, mình sẽ bỏ hẳn bến đò đưa cô gái về tận đơn vị. Nhìn cô ấy đeo ba lô, đi khuất dần vào cánh rừng ngổn ngang cây đổ, lỗ chỗ hố bom hố pháo, mình thấy thương quá. Thương cô ấy, mình lại tự trách mình, ừ, rõ thật lẩn thẩn, tên cô ấy là gì, ở đơn vị nào, lúc chia tay mình cũng chưa kịp hỏi.

- Họ và tên đơn vị của cô ấy chưa biết, làm sao anh tìm ra manh mối được?

- Cho đến hôm sau, khi giặt áo thấy có vết máu đọng ở vai áo mình mới bần thẩn cả người. Thì ra trong lúc bom nổ, cô ta đã đặt bàn tay bị thương lên vai áo mình, thế mà mình không hay biết gì cả. 

- Thật chẳng có thằng con trai nào vô tâm và khờ khạo như anh.

- Mình là người khôn ngoan mặt này nhưng vụng dại mặt khác, có rút kinh nghiệm cũng chẳng được.

Thanh phá lên cười vui vẻ, tôi cũng cười theo. Con đò đuôi én rung lên dập dềnh trên nước. Đang say sưa, chẳng đợi tôi khơi gợi gì thêm, Thanh lại tiếp tục câu chuyện bỏ dở.

Một đêm, nghe tiếng nước sông ầm ào dội vào giấc ngủ, Thanh choàng dậy chạy ra bến đò và chợt sửng sốt kêu lên như người giẫm phải lửa. Ba con đò của anh sao chỉ còn có hai? Nhìn chiếc cột cắm ven bờ sông chỉ còn trơ lại đoạn dây song, nhìn dòng nước hung dữ, Thanh hiểu ra tất cả. Nước lũ từ thượng nguồn đổ về, con đò thứ ba của anh đã tuột dây trôi theo dòng nước.

Lại vẫn con đò thứ ba - con đò đã bị chín vết bom bi hôm trước. Thanh thương nó đã bị mảnh bom còn bị nước cuốn. Thanh tự trách mình đêm nay trước lúc đi ngủ, không nhớ buộc dây cẩn thận. Nước cuốn con đò tới đâu? Liệu nó có bị đâm vào bờ đá không? Con đò, anh đã đi vào rừng chọn gỗ tốt để tạo nên thân thể chắc bền của nó, hôm nó bị bom bi, anh đã tìm vỏ cây hàn vá lại vết bom, thế mà bây giờ nó lại bị nước cuốn rồi sao?

Ngay đêm đó, Thanh. khoác súng đi dọc bờ sông tìm đò. Dòng sông gầm lên hung dữ, sóng chồm vào bờ đá gầm gào. Đêm tối và dòng sông như thách thức với con người. Ven bờ sông hoang vu không có đường. Bàn chân mang giày của Thanh bước trên có gai, lau lách và đá sắc. Đôi lúc giẫm phải rêu trơn hoặc vấp phải đoạn dây rừng, Thanh ngã, mồ hôi ướt đầm trên áo, sương đêm ướt đầm trên tóc. Lá lau sắc cưa vào tay, vào mặt anh lạnh buốt.

Cơn mỏi mệt xâm chiếm khắp cơ thể khiến anh phải ngồi bệt xuống đất, tựa lưng vào gốc cây mà thở. Hay là ngồi đây ngủ, đến sáng hãy đi tìm đò? Ý nghĩ đó ve vuốt Thanh, khiến anh nhắm mắt lại, ừ, bây giờ đã quá nửa đêm, anh chỉ cần tựa lưng vào gốc cây hoặc ngả đầu trên lớp cỏ là có thể ngủ được một giấc ngon lành.

Chợt tiếng sóng hung dữ của dòng sông đập vào bờ đá, đập vào giấc ngủ mơ màng của anh, trong tiếng sóng dội, anh nhận ra một điều hết sức đơn giản là: khi anh nằm ngủ, nước sông vẫn chảy, con đò vẫn trôi. Anh càng dừng lại ở đây lâu bao nhiêu, con đò của anh sẽ trôi xa bấy nhiêu. Anh mường tượng ra con đò đang trôi thì gặp một cây cổ thụ đổ, chắn ngang dòng sông. Nó bị sóng nước dềnh lên dập xuống, chao đảo, lúc quay vòng chới với như một người đuối sức, sắp chìm. Và đúng lúc đó anh đã lao ra dòng sông dìu được nó vào bờ... Hình ảnh con đò chập chờn trước mắt anh một niềm hy vọng. Anh đứng dậy vuốt lớp sương dày đọng trên đám lá, xoa lên mặt cho tan cơn buồn ngủ rồi đi tiếp.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #72 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2010, 09:31:49 am »

Trời sáng dần. Thanh vừa đi vừa đưa mắt nhìn xung quanh sông. Màn sương trắng trôi bồng bềnh trên đám cây cao, trên bờ lau và trên dải sông ồn ào tiếng sóng, tìm mãi không thấy đò, mỗi khi phóng tầm mắt nhìn dọc bờ sông, trong lòng Thanh rộn lên cảm giác vừa lo lắng vừa hồi hộp. Nước sông chảy xiết, bàn chân của anh phải đi nhanh mới đuổi kịp con đò.

Bỗng Thanh bước hụt một cái hố nhỏ và sâu. Anh ngã sấp người trên đất, báng súng AK đập vào hông đau điếng. Khi chống khuỷu tay đứng dậy, anh nhìn rõ quanh anh có rất nhiều hố nhỏ và sâu tương tự. Không phải hố pháo, hố bom mà là những hố củ mài. Vậy ra, ở quanh đây có người ở? Thanh cúi xuống nhặt lên một vài sợi dây củ mài bị chặt dứt lá đã ngả sang màu vàng.

Lúc này cánh rừng ven bờ sông lại hiện lên một con đường nhỏ. Con đường chạy ngoằn ngoèo men theo những hốc cây gờ đá, anh đi tiếp được một đoạn dài, đôi mắt nhìn quanh tìm kiếm, hy vọng. Chợt có tiếng quát gọn lỏn:

- Ai? 

Thanh sững lại trả lởi:

- Tôi ...

Thanh đưa mắt nhìn về phía bụi cây. Một cô gái mặc chiếc áo bộ đội bạc màu, mái tóc ướt sương, bàn tay lấm đất đang cầm chiếc xẻng. Bên cạnh cộ là chiếc gùi nhỏ và chiếc hố củ mài mới đào nông choèn. Không, Thanh không lầm, cô gái đứng kia chính là cô gái anh gập ở bến đò hôm nào: Chính là cô gái trong đêm khi máy bay đánh bom tọa độ, đã tựa cánh tay bị thương vào vai áo anh, mới nhận thấy. Từ mấy tháng nay anh vẫn tự hỏi thầm: cô ấy ở đâu, liệu có khi nào lại tới bến đò của anh nữa không? Giờ đây, cô ấy đứng trước anh, thân hình mảnh mai, nước da xanh tái, hình như so với lần đầu gặp anh, cô có gầy đi. Bốn mắt nhìn nhau và hai người cùng nhận ra nhau rất nhanh. Cô gái reo lên:

- Ồ anh có nhận ra em không?

Anh nén xúc động hỏi lại:

- Sao lâu rồi cô không lại bến đò?

- Dạo này có kho gạo mới đặt gần chỗ em, nên em chẳng có dịp qua đó. Anh nhớ dai thật.

- Sao cô đi đào củ mài sớm thế.

- Vì sáng nay em phải bận đón khách. Kỳ này quân vào đông bến đò của em lúc nào cũng phải người trực.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #73 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2010, 09:32:41 am »

Thanh sửng sốt:

- Vậy ra cô làm lính chèo đò ư? Thế mà tôi cứ ngỡ ở đoạn sông này không có bến đò nào khác nữa.

- Từ đây xuôi xuống vùng giáp ranh nhiều bến đò lắm. Anh đi tìm đò phải không?

Giọng Thanh lộ vẻ mừng rỡ.

- Đúng, đêm hôm qua con đò của tôi bị nước cuốn...

Cô gái cầm chiếc xẻng bỏ vào chiếc gùi không. 

- Nếu anh đi tìm đò thì theo em.

Nói đoạn cô gái đeo chiếc gùi không lên vai, nhanh nhẹn bước đi trước dẫn đường. Thanh xốc khẩu AK, bước gấp theo cô gái. Đi vòng vèo được một quãng, trước mắt anh hiện ra bến đò rừng. Gió mát từ khoảng trống dòng sông ùa lên lau khô mồ hôi trên vai áo anh. Nắng buổi sớm trào lên khuôn mặt đầy đặn và đôi môi sáng lấp lánh của cô gái. Ở đây cũng có một bến đó rừng như nơi anh ư? Anh ngỡ mình đang nằm mơ. Giọng cô gái trong trẻo.

- Sáng nay, em dậy sớm ra sông rửa mặt chợt thấy một con đò không người lái trôi qua. Đoán là đò của bến trên bị nước cuốn, em bèn chèo đò đuổi theo và ghìm được nó vào bờ. Anh thử xuống bến xem có phải con đò của anh không? 

Cô gái đặt chiếc gùi không trên vệ cỏ và đưa anh xuống mấy chiếc đò đang đậu. Anh nhận ngay ra con đò của mình, con đò mà suốt đêm qua anh đã đi tìm nó như tìm một người bạn và bây giờ nó hiện ra trước mắt anh. Nhưng điều làm anh ngạc nhiên hơn việc anh tìm thấy đò là ở nơi đây cũng có một bến đò rừng, cũng có một cô gái sống cuộc đời lặng thầm, gian khổ. ồ, thế mà từ trước tới giờ, sao anh không nghĩ ra, không tìm đến.

Thanh muốn nói một câu gì cám ơn mà không nói được.

Giọng Thanh bỗng vụng về:

- Giá không có cô, thì con đò của tôi sẽ trôi mất.

- Không có em, sẽ có người khác giữ hộ anh, lo gì...

Cô gái vuốt lại mái tóc lấm tấm sương, mái tóc màu đen cùng ánh nắng chảy tràn trên vai áo. Thanh dựa khẩu súng AK vào tảng đá, khỏa nước rửa sạch bàn tay đầy nhựa cây rừng. Khi ngước lên, anh chợt gặp đôi mắt của cô gái mở to nhìn mình.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #74 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2010, 09:33:39 am »

Biết Thanh phải về bến đò gấp, cô gái vội vã chạy vào bếp, dỡ những lát củ mài đã luộc sẵn, bọc vào tờ giấy báo đưa cho Thanh.

Thanh cầm gói củ mài, lên đò chèo ngược sông về bến cũ của mình. Cô gái đứng trên bờ sông nhìn theo. Vừa chèo, Thanh vừa ngoái đầu nhìn lại. Bóng cô gái khuất dần trong màn sương và rừng cây mờ ảo. Chèo được một đoạn dài, Thanh ghé đò vào một mỏm đá. Bàn tay anh mở gói giấy báo, mấy khúc củ mài vẫn còn nóng ấm. Bất giác Thanh lại thấy hình ảnh cô gái, hiện lên xâm chiếm tâm trí anh. Cũng như cô gái, những ngày thiếu gạo, anh vẫn thường ăn củ mài, măng lá. Nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên anh nhận ra cái vị ngọt khác lạ của củ mài.

Sau buổi gặp lạ lùng đó, Thanh nhớ cánh rừng đầy hố củ mài, nhớ đôi mắt màu đen nâu của cô gái. Cánh rừng nơi cô gái ở có khác gì cánh rừng nơi anh. Những cây củ mài mọc thành đám, lá rụng quanh gốc vàng rượi. Trận gió đi qua, lớp lá bay nghiêng, rộn rạo cả cánh rừng. Lá cây ngả màu vàng báo cho mọi người biết lớp củ dưới sâu đã mập. Người đào củ mài nhìn dây leo đủ biết độ sâu của lớp củ mọc chìm.

Cánh rừng in kín những hố sâu củ mài đã in dấu những tháng năm nhạt muối, thiếu gạo. Chắc đoạn đường từ chỗ cô gái tới chỗ kho gạo thường bị giặc rải bom, vướng nổ. Chắc bến đò nơi ấy quân đi rậm rịch suốt đêm ngày? Chắc cùng có nhiều cô gái ngồi bên dòng sông nhớ nhà, nhớ bè bạn? Những gian khổ, niềm vui nơi Thanh cùng với gian khổ niềm vui nơi ấy. Ý nghĩ đó làm cho anh thấy cái khoảng cách giữa anh và cô gần nhau hơn, mặc dù hai người vẫn ở cách nhau một đoạn đường dài...

Tôi hỏi Thanh:

- Từ đó đến giờ anh có gập cô gái lần nào không?

- Có một đôi lần thôi. Cô ấy cũng bận, mình cũng bận, đến với nhau luôn làm sao được. Đấy ông xem, hàng tháng mình và cô ấy đưa bao nhiêu người sang sông, có bao trai gái qua đây nên chồng nên vợ, còn hai đứa mình đến với nhau quả là khó.

- Nghĩa là, anh vẫn sống một mình nhưng luôn luôn thấy có một người khác bên cạnh? 

- Đúng thế, từ hồi quen biết cô ta, mình có những nỗi lo, niềm vui hoàn toàn khác trước. Nhiều đêm nước từ thượng nguồn đổ về, mình lo không biết bến đò của cô ta có làm sao không. Rồi những buổi trưa, buổi chiều, nghe tiếng bom nổ ầm ầm phía ấy, ruột gan mình cứ nóng như lửa đốt... ừ, mình phải kể thế nào cho ông hiểu được. Tiếc quá, cô ta mới viết thư hẹn mình ngày kia cô ta sẽ đến đây, giá ông ở lại thêm một ngày nữa, thể nào cũng gặp

- Làm sao cô ấy gửi thư cho anh được? 

- Thư gửi mình, cô ấy nhờ bạn bè đi vận tải chuyển giúp. Cô ta kể cánh rừng cũ bây giờ đã vãn củ mài rồi, bến đò dưới đó mùa khô này công binh sẽ về bắc cầu...

- Biết đâu cô ấy chẳng ở đó làm chân gác cầu cho xe pháo qua lại - Tôi nói phụ họa.

- Ở đó bắc cầu thì cô ta sẽ chuyển đến bến đò khác. Sông này có cầu nhưng vẫn phải cần đò như trong trận đánh có xe tăng, đại bác vẫn phải dùng đến B40, B41... phải không ông?

- Hồi chưa vào Trường Sơn, tôi không thể ngờ được ở giữa chốn rừng sâu heo hút này lại có một bến đò rừng... 

- Đò chở người, chở gạo, chở đạn, đò ngang, đò dọc, thôi thì đủ cả. Ở Trường Sơn đâu có sông thì ở đấy có đò .

- À cô bạn mình biết lái đò từ lúc bé con đấy. Quê cô ấy ở vùng quan họ Hà Bắc, ông đã tới đó lần nào chưa?...

Nghe Thanh nói, tôi chợt thấy cô lái đò quen thuộc quá như tôi đã gặp ở đâu rồi. Tôi là người bạn đường của Thanh, tôi chưa hề quen biết cô gái. Nhưng giữa ba chúng tôi đều có những đồng cảm với nhau, nó như một sợi dây vô hình nối được những khoảng cách xa xăm gần lại. Ngày kia cô gái đến thăm Thanh ư? Tôi không có niềm vui được hò hẹn nhưng tôi có niềm vui do chính Thanh và cô gái chưa quen mang đến.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #75 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2010, 09:34:28 am »

Trời đã về chiều. Hàng cây, bờ lau đang được rắc một lớp bột nhẹ và mỏng như khói. Dòng sông sau bao nhiêu ồn ào chợt lắng xuống, thì thầm. Chúng tôi rời khỏi con đò đuôi én. Thanh giục tôi đi nghỉ ngơi và anh vào rừng hái rau, lo liệu bữa cơm chiều.

Đêm hôm đó, chúng tôi nằm nói chuyện tới khuya mới đi ngủ. Sáng ra, khi tôi tỉnh dậy đã thấy một chú hoẵng chừng ba bốn ki-lô-gam, bê bết máu đặt trước cửa hầm. Thì ra lừa lúc tôi ngủ say, Thanh đã khoác súng, đeo đèn săn vào rừng... tìm món ăn cho "khách".

Ngày hôm sau, để chuẩn bị đón sư đoàn vượt sông, Thanh lấy cuốc xẻng lấp hố bom cũ, sửa lại con đường xuống bến và buộc lại bơi chèo, tát nước ở ba con đò, kê lại ván ngồi, căng lại dây cáp. Theo sự hướng dẫn của Thanh, tôi nấu hết nồi nước này tới nồi nước khác. Củi rừng thả sức đun, chè rừng do Thanh hái dự trữ vẫn còn, nước sôi được đựng vào thùng phuy, khách đi qua, xin mời cứ việc thoải mái đổ đầy vào bi đông, hoặc giải khát tại chỗ.

Khoảng 9 giờ đêm, đội hình sư đoàn lần lượt sang sông. Đêm tối den, dăm đốm đèn pin nhỏ bằng hạt đỗ lóe lên như bầy đom đóm di động. Trong màn đêm dày đặc không ai nhìn rõ mặt Thanh. Họ chỉ nghe thấy tiếng anh vui vẻ giục người xuống đò và nói chuyện với mấy anh bạn đồng hương. Phải, bao nhiêu người khách đến đây thoáng chốc đi ngay, nào ai đã biết, đã hiểu được cuộc sống của một người lái đò. Bao nhiêu ngày, bao nhiêu đêm, Thanh phải sống một mình, nghĩa là ngoài anh ra không có ai là người chia sẻ những vui buồn chợt đến, ấy thế mà nhìn dáng vẻ vui nhộn của anh, ít người biết được

Khi cả đội hình của sư đoàn vượt sông hết, tôi và Thanh chia tay nhau. Bao giờ chúng tôi gặp lại nhau, thật khó mà biết được. Có thể ngày tôi trở về đây, con đường nhỏ đã mở thành con đường lớn, bến đò cũ đã bắc cầu Thanh và cô gái đã chuyển đi nơi khác. Nhưng tôi biết, dù có ở đâu, có xa nhau hai người vẫn nhớ về bến đò cũ gắn liền với kỷ niệm của tuổi trẻ, vẫn nghe được tiếng nói của dòng sông trò chuyện với mình.

Chợt nhớ ra, tôi hỏi Thanh: 

- Địa chỉ của anh thế nào? 

- Mình ở tổ công tác lẻ, lại di chuyển luôn nên không có hòm thư. Nếu có ai ở tuyến trong ra, ông cứ gửi thư tay đề ngoài phong bì là "Thanh lái đò, K5” là mình nhận được

- Lâu nay, anh chưa nhận được thư gia đình?

- Ừ ba năm rồi, vào trong đó ông nhớ biên thư kể chuyện đánh đấm cho mình nghe nhé.

Thanh cười to, chiếc đèn pin ở tay anh rung lên những vệt sáng trong suất. Tôi chào Thanh rồi vác súng chạy theo đội hình hành quân. Đi được một quãng, nhìn lại bến đò, tôi chỉ thấy một màu cây rừng đen thẫm và tôi bỗng nghe tiếng sóng rì rầm vọng lại. Chợt từ phía nóc rừng đột ngột hiện ra vầng trăng mỏng, vầng trăng giống con đò một mình nằm gối đầu trên bãi lau chờ khách...
N.Đ.M
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #76 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2010, 08:28:59 am »

CẦU CHA KY PHÌN NGÀY ẤY...
HOÀNG THU HÀ


Ngày...

Hôm nay, đã là ngày thứ 4 tạm biệt Trao để về Cha Ky Phìn. Thật bất ngờ, mình gặp lại Hương, thằng bạn cùng học trung cấp Giao thông xa nhau từ năm 1962. Tháng 5 năm ngoái, trên đường về Quảng Đà, cũng tại dốc Con Mèo này, khoảng 12 giờ đêm mình gặp Hương đang dẫn đoàn máy ủi vào tuyến. Và hôm nay...

- 30 tuổi rồi đấy, ông Phúc ạ, mình vẫn phòng không. - Hương vừa đi vừa nói.

- Lo gì, con gái ở quê bây giờ nhiều lắm. Bộ đội về làng tranh thủ mấy ngày phép là bị "vây" kín ngay, phương châm là: tấn công, dứt điểm mục tiêu.

Cả hai cùng cười. Vui quá. ước gì sau ngày giải phóng, cả hai thằng cùng khoác ba lô về làng, rồi cùng lấy vợ...".

Ngày...

Trời lại mưa, mưa như trút nước, những hạt mưa như những chiếc roi quất chéo qua mặt. Mọi người phải tháo dép, chân đi tất, mặc quần đùi mà đi, mà leo dốc ì ạch. Trong người, mồ hôi vã ra như tắm, quần áo ẩm ướt, đi một đoạn lại đứng nghỉ. Người mệt lả, ruột đói mềm. Bao tượng gạo teo đi chỉ còn một dúm. Đến chỗ nghỉ, mọi người dồn gạo lại nấu cháo. Thằng Tuyên còn trêu:

- Cháo Thái Bình nhà anh còn lâu mới ngon bằng nhé?

Mọi người vừa cười, vừa húp sì sụp. Sáng hôm sau, mỗi người được thêm thanh lương khô 701 lót dạ, cả đoàn lại tiếp tục lên đường ..." .

Đó chỉ là một trong hàng trăm trang nhật ký của đại tá Trần Văn Phúc, ngày ấy là trợ lý Ban Tác chiến của Trung đoàn 98. Dẫu chiến tranh đã qua lâu rồi, mà kỷ niệm buồn vui thời bình Trường Sơn năm nào vẫn chập chờn trước mắt ông... .

Dạo ấy, khoảng tháng 8 năm 1972, Trung đoàn 98 được lệnh hành quân gấp từ Trao qua A Sầu, A Lưới, qua Khe Sanh, vòng về Cha Ky Phìn để nhận nhiệm vụ mới ở khu vực Bản Đông. Theo lệnh của trung đoàn trưởng Tô Đa Mạn, chúng tôi phải lợi dụng lúc máy bay địch ngừng đánh phá để hành quân, thường là 4 giờ chiều đến 12 giờ đêm lại nghỉ. Khi đi tránh đường tuyến, phải theo đường mòn mà đi. Lính trinh sát đi trước dẫn dường, đến ngã ba, ngã tư có cành lá mới dấp là đường cấm. Đặc biệt, phải dè chừng thằng AC 130 bay cao, sục sạo suốt đêm, chỉ có pháo 57 mới vít được cổ nó. Với khí tài ngắm bắn súng bằng tia hồng ngoại, hàng chục xe trên đường đã bị nó vồ trúng.

Ngày thứ ba, chúng tôi tới đèo Bò Lạch. Đây là ngọn núi cao trên 1.000 mét, thuộc đất Lào. Từ đỉnh đèo nhìn xuống thung lũng A Sầu, A Lưới; cả một vùng hút mắt, cây cối khẳng khiu, khô khốc, đen nhẻm, như những cánh tay gầy guộc còn sót lại đang giơ lên trời kêu cứu và tố cáo giặc Mỹ rải chất độc hóa học, cướp đi cả sự sống và màu xanh của lá rừng.

Sân bay A Sầu của Mỹ - ngụy bị ta phá hủy từ những năm trước; nhưng OV 10 rồi AC 130, B52... lùng sục bắn phá suốt ngày đêm nhằm ngăn chặn quân ta tiến công qua đường này. Vì đường qua Bò Lạch như một cửa khẩu đi vào chiến trường Quảng Đà, Khu 5... Theo lệnh, mọi người phải ngụy trang thật kỹ, đèn pin bịt lại chỉ để một lỗ nhỏ bằng hạt đỗ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #77 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2010, 08:29:48 am »

Đêm khuya, sương xuống nhiều, mùi khét của cây rừng bị cháy càng bốc lên. Cả đoàn khẩn trương, vượt qua đèo theo đường mòn, nếu chệch một ly, sẽ vấp bom bi hoặc mìn vướng . ngay. Bỗng phía trước, những ánh chớp lóe lên liên tục, rồi tiếng nổ ầm ầm, sau mới nghe thấy tiếng xé không khí của B52 vọng lại. Mọi người đã tản ra, nằm ép vào các mô đất, gốc cây và hầm chữ A từ lúc nào. Lát sau, cả đoàn lại hành quân.

Hôm nay, mới 3 giờ chiều, chúng tôi đã nhận được lệnh: "Đêm nay, phải hành quân đúng 30km, chú ý đội hình qua dốc Con Mèo...". Dốc Con Mèo cũng là một trọng điểm đánh phá của địch. Mới 9 giờ đêm mà từng chùm pháo sáng đã lục bục nổ trên đầu, rồi tiếng "cắc bùm, cắc bùm..." của thằng AC130 cầm canh dai dẳng... Một khẩu lệnh nhỏ và khô khốc trong đêm: "Ngụy trang kín, cự ly 30 mét, giữ vừng đội hình tiến...".

Cả đoàn người bước đi trong im lặng. Sau khi thoát khỏi chặng đường nguy hiểm, ai cũng thấm mệt, chân tay rã rời. Tới bãi nghỉ, nhiều người không kịp mắc võng đã nằm lăn ra thảm cỏ ngủ ngon lành.

Gần 5 giờ sáng, đã có người thức dậy, rồi tiếng thì thầm. Thằng Dần trinh sát nói: "Sắp tới là ngầm Li Tôn, rồi phải vượt đèo Giăng Gió đấy ông ạ!". Tiếng thằng Hoan nhỏ nhẹ: "ông chỉ khéo bịa, làm gì có đèo Giăng Gió...". “Đấy ông không tin thì thôi... à cho tạm ứng điếu thuốc rê trước vậy”. “Xì...”, cả hai bụm miệng cười.

Rất hiếm có buổi sáng nào như hôm nay, yên lành quá, tiếng chim 'kêu thánh thót, có cả mùi hương của cỏ, mùi thơm của hoa rừng, xen lẫn mùi khói bếp củi và như thoảng đâu đây vị nồng của quê hương... "Giờ này em đã dậy chưa? Chuẩn bị đi làm phải không? Anh sẽ gửi cho em miếng dù hoa để ngụy trang khi trực chiến nhé!... Em có thích không?...". Mải nghĩ, anh Toàn đến lúc nào không biết hích vào tôi: "Đúng 8 giờ đến chỗ tôi hội ý nhé?". Tôi khẽ giật mình, hình như... em đang ở bên tôi...

Chúng tôi lại hành quân, trời trong gió mát, trăng sáng vằng vặc, cậu Hùng trinh sát vừa đi, ngẫu hứng:

“Vầng trăng ai xẻ làm đôi .
Nửa in gối chiếc... nửa soi dặm đường... “ .

- Thôi ông ạ, bi đát vừa chứ, ông trăng đang soi đường cho chúng ta đến Tà Cơn đây này. Hoan vừa nói, vừa nhìn Hùng, nhưng thấy Hùng im lặng, Hoan cũng khẽ thở dài...

Nhìn sân bay Tà Cơn còn ngổn ngang dấu vết xác xe, xác súng, ghi sắt... nằm gãy chỏng chơ. Cạnh đường băng còn cả xác máy bay trực thăng bị nát vụn. Đi gần hết đường băng, chúng tôi phát hiện một căn hầm ngầm, hình như cho bọn phi công trực chiến thì phải. Có phản nằm và cả bể nước con. Thật lý tưởng, vừa kín đáo nấu ăn được, vừa có chỗ nằm...

Cả sáu đứa quây một nồi chè lương khô căng bụng rồi đánh một giấc đến sáng. Lệnh tập trung, chúng tôi lao ra bể nước rửa mặt, nhưng... cả sáu cái mồm há hốc, sáu đôi mắt tròn vo, hết nhìn nhau lại nhìn cái bể nước đen ngòm, chứa đầy cung quăng và nòng nọc.

Cách cửa hầm vài mét còn cả chiếc giầy đen to sụ và.. một khúc xương ống chân vàng nhợt đang cắm trong giày. Vậy mà, tối hôm qua cả bọn đã múc nước nấu chè, ăn uống ngon lành. Bây giờ, có muốn móc họng nôn chè ra cũng không được nữa rồi, chỉ tại cái tội tham ăn, ẩu đoảng ấy, để một lần "may mắn" được ăn lương khô nấu với con cung quáng, bọ gậy và nòng nọc...

Mấy hôm sau, cả trung đoàn đã có mặt đầy đủ tại ki-lô-mét 19 đường 14 cũ, đây là dãy lán cũ của một đơn vị thuộc Binh trạm 27 đã rời đi từ lâu. Lệnh dừng lại để bổ sung khí tài, lương thực thực phẩm rồi tổng kết và học tập chính trị trước khi nhận nhiệm vụ mới...
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #78 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2010, 08:30:26 am »

Chúng tôi không bao giờ quên được buổi sáng ngày 1 tháng 1 năm 1972. Hôm ấy, trời trong xanh, gió nhè nhẹ thổi, từng tia nắng rọi qua tán lá cây, tiếng chim líu lo hót vang rừng. Bỗng... ầm ầm ì ì, trời đất tối sầm lại, đất đá váng rào rào chát chúa, căn hầm rung chuyển... Tiếng ai đó kêu thất thanh: "B52... B52". Như có làn sóng vô hình, xô chúng tôi vào chân tường, rồi lại bật tung lên nóc hầm.

Mùi khói bom khét lẹt, sặc sụa ùa vào căn hầm. Chúng tôi cố nín thở, không gian lặng dần, mọi người lao lên khỏi hầm. Cây cối đổ gãy xác xơ, nhựa vẫn đang chảy ứ tràn xuống thân cây. Có mấy hầm bị sập, mọi người xúm vào đào, bới kéo anh em lên... Cán bộ các cấp được phân công, tỏa đi các đơn vị nắm tình hình thiệt hại. Đến 13 giờ 30, lại một trận B52 nữa, nhưng xa hơn một chút. Đường dây thông tin vừa nối xong lại đứt. Bỗng có hai lính thông tin chạy băng vào hầm trực ban, miệng lắp bắp: "Báo cáo... d1,. d3.. dính B52 rồi... Số người chết... Số bị thương" ...

Và từng cáng thương binh ở các tiểu đoàn nhanh chóng được đưa về trạm xá. Bác sĩ Kỷ kiểm tra từng trường hợp, bác sĩ Tuấn phải mổ hết ca này, ca khác đến tận sáng. Cả đêm, chúng tôi trằn trọc không ngủ được, thầm cầu mong... Thế nhưng, điều gì đến vẫn đến: 9 đồng chí đã vĩnh viễn nằm lại nơi đây.

Chúng tôi ghép quan tài bằng ván thùng hàng, bằng tre rừng, gỗ mảnh thành hình tam giác để tiễn biệt các anh, cùng những bó hoa rừng và nén hương duy nhất. Cầu cho các anh hãy ngủ yên bình, chúng tôi nguyện sẽ tiếp bước các anh và làm nốt những gì còn dang dở... Mắt ai cũng đỏ hoe, những giọt nước mắt không cầm nổi cứ lăn dài trên má.

Cuộc hành quân tiếp tục, chúng tôi bước đi trong lặng lẽ nỗi buồn như nén lại. "Biến căm thù thành hành động để trả thù cho đồng đội" là mục tiêu hành động của trung đoàn lúc này.

Cha Ky Phìn, một bản của người Lào thuộc huyện Sê pôn ở khu vực Bản Đông. Dấu tích cuộc hành quân Lam Sơn 79 của Mỹ - ngụy bị thất bại còn đầy ắp trên đường 9. Nói là bản nhưng chỉ có vài nhà có người ở. Những rẫy sắn nương ngô xanh tươi, những khu vườn sum sê cây ăn quả, dân bản sẵn sàng cho bộ dội Việt Nam làm đường đánh American... chúng tôi càng thấm sâu câu nói của Bác Hồ:

"Việt Lào hai nước chúng ta
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long...”.

Thủ trưởng Mạn, thủ trưởng Yêm (Cục phó Cục Tham mưu công binh) dẫn đẩu đi kiểm tra thực địa. Đứng bên này bờ, nhìn con sông Sê-pôn đục ngầu, lững lờ trôi về phía tây. Chưa kịp thả mình xuống dòng sông mát lạnh sau một chặng đường dài. Thì chúng tôi nhận được bức điện của Bộ tư lệnh Trường Sơn:

"Lệnh Trung đoàn 98, khẩn trương làm đường và bắc cầu vượt sông Sêpôn, nối đường 9 với đường đi Dốc Thơm. Ngày... tháng..., phải hoàn thành.
Đồng Sĩ Nguyên”.

Ngay lập tức, chúng tôi gói quần áo vào ni lon làm phao bơi, đi khảo sát bên đoạn sông dài hơn 500 mét. Cuối cùng thì cũng tìm được vị trí bắc cầu thích hợp, được cụ Mạn, cụ Yêm gật đầu... Anh Toàn chỉ đạo các cán bộ tác huấn ngay đêm thiết kế nào trụ, nào dầm, búa đóng cọc trụ, di chuyển chân giá ra giữa dòng, cách ngụy trang... bao nhiêu tình huống xảy ra đều phải được tính đến... .
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #79 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2010, 08:31:04 am »

Các bè gỗ của c3, c5, d3... cập bến tấp nập. Bãi gia công trụ cọc, bãi xẻ gỗ lao vào thi công thông ca, tối mịt mới thôi. Chúng tôi đóng thử một trụ độ sâu 2,5 mét từ đáy sông xuống cho chắc ăn. Nhưng gay nhất vẫn là trụ cầu ở giữa lòng sông, nước sâu gần 4 mét. .Theo ý kiến của anh Đoàn Ngọc Lập, tiểu đoàn trưởng d3, làm giây quá giang để giữ phà chở chân trụ, rồi thả xuống đóng cọc...

Thật không may, cái phà 12 tấn của c11, Binh trạm 27 vừa đưa xuống hôm trước đã bị chìm nghỉm ngay do nước dò vào. Anh Toàn đề xuất phương án mới: dùng tre luồng, ghép lại thành bè thay cho phà... Ba tuần sau, 25 trụ cầu đã hoàn thành, còn mặt cầu thì khỏi lo.

Riêng tôi, thật buồn quá vì đúng lúc ấy bị cơn sốt rét hành hạ quyết liệt, anh Nguyễn Đình Xường, Phó Tham mưu trưởng bắt tôi phải đi nằm trạm xá. Người rét run, ba bốn cái chăn đắp cũng không đủ ấm, người nóng trên 39oC. Y tá Cam mỗi ngày một lần đè tôi ra chích thuốc vào mông. Tôi sợ thọt chân nên giao hẹn với ông Cam là khi nào tôi co chân lên mới được bơm thuốc. Ông Cam cười: "Nếu sao, tôi sẽ đền bà chị gái ở quê cho cậu, được chưa?". 

Một buổi chiều, tôi thấy trong người không còn mệt mỏi, cơn sốt đã dứt, tôi vùng dậy lao ra công trường. Đồng đội vẫn đang hối hả thi công, c11 tiếp tục chở ván đến, d3 khẩn trương lao dầm, lát ván... Cây cầu sắp hoàn thành. Cán bộ chính trị, tham mưu... tất bật chuẩn bị cho buổi cắt băng khánh thành.

Đúng 19 giờ ngày 2 tháng 11 năm 1972, Chính ủy Nguyễn Sĩ Chía đọc diễn văn khánh thành cầu, biểu dương và khen thưởng cá nhân, đơn vị đã có thành tích trong đợt thi đua vừa qua... Sau đó là lễ diễu hành: xe con của trung đoàn trưởng Tô Đa Mạn đi đầu, theo sau là 7 xe Zin 157 mới toanh đầy ắp hàng của Sư 473, rồi lại 5 xe Zin 130 đi qua... Nhịp cầu rung lên nhè nhẹ, xen lẫn tiếng vỗ tay; tiếng hò hét của chúng tôi và mấy người dân bản.

Trong niềm hân hoan tột độ của người lính, hình như ai cũng xúc động nhớ tới những đồng đội đã nằm xuống tại ki-lô-mét 19. Hùng ơi, Yên ơi, Thành ơi... bọn anh đã hoàn thành một phần việc các em để lại... Và trung đoàn cũng đã thực hiện được lời hứa với tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên: Cây cầu hoàn thành trước 5 ngày.

Để giữ bí mật, ban ngày các ván và dầm cầu được tháo ra sơ tán, đêm đến lại mang ra lao, lắp, yêu cầu 7 phút phải xong một nhịp... để đón những đoàn xe ra trận và đón thời cơ lớn khi hiệp định Pa-ri được ký kết.

Mãi đến hôm nay, mỗi lần nhớ đến giây phút "đăng quang" của cây cầu Cha Ky Phìn ngày ấy, lại một lần niềm tự hào của Trung đoàn 98 ùa vào tâm trí chúng tôi. Dẫu biết rằng, chỉ sau đó vài tháng, cầu bị đánh phá rất ác liệt... Sau này, theo lệnh của Bộ tư lệnh Trường Sơn, nơi ấy - cầu treo Bản Đông đã được xây dựng vào cuối năm 1974, cách cầu Cha Ky Phìn về hạ lưu khoảng 5km. Nhưng tôi tin, cầu Cha Ky Phìn sẽ còn mãi, còn mãi như dòng sông Sê-pôn chảy vào dòng đời và chảy mãi trong lòng mỗi người lính Trường Sơn hôm nay.

Ghi theo lời kể của đại tá TRẦN VĂN PHÚC
Hà Nội tháng 3 năm 1999
HTH

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM