Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:11:00 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lính Trường Sơn  (Đọc 105224 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #120 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2010, 05:41:19 pm »

Phòng khách của công an nhân dân huyện Krông Bách mở rộng cửa. Ilít bước vào. Trước mắt ông là Nai Gưt, hơn năm mươi tuổi, người Ê Đê, nguyên trung tướng Phun Rô đã trở về với gia đình, buôn làng và làm ăn sinh sống.

- Anh kể nghe chút. Vì sao tham gia Phun Rô?

- Tôi đi lính Pháp từ năm 1948 sau khi học xong cao đẳng tiểu học. Tôi đã tham gia phong trào Bagiaraca của bốn dân tộc lớn ở Tây Nguyên. Tôi chống Diệm. Tôi chống người Kinh. Tôi muốn Tây Nguyên là của các dân tộc Tây Nguyên.

- Nhưng bây giờ anh đã thấy nhiều người Kinh ở Tây nguyên và ngay cả huyện Krông Bách. Có ai xâm phạm tới nhà cửa, trâu bò, của cải hay vợ con của anh không?

- Không! Tôi đã lầm. Tôi đã nhận ra rằng người Kinh của Cụ Hồ lên đây không phải để đánh đuổi chém giết người Thượng như thời Mỹ - Diệm. Tôi lại càng hiểu các chiến sĩ con cháu Bác Hồ quý mến người Thượng chúng tôi như bà con một nhà.

Cùng với buổi nói chuyện lý thú ấy, Ilít Ivanôvít được đưa tới thăm trường Amphơranglơng con em các dân tộc phía Bắc thị xã. Rất đông các em kéo đến. Nhà khách rộng không còn chỗ ngồi. Các em đứng quanh cửa sổ. Người Ê Đê. Người Xê Đăng. Người Gia Lai. Người Phi. Người Lào. Người Chăm. Người Khơ Me. Người Kinh... Các dân tộc sống trên địa bàn Buôn Ma Thuột đều có con em học ở đây Các em líu ríu nói chuyện với khách nước ngoài. Các em vui vẻ và đoàn kết. Mọi thủ tục về nghi lễ không còn nữa. Người ta không kịp giới thiệu đầy đủ ban giám hiệu và thành phần đoàn khách.

- Thưa bác nhà văn! - Một em học sinh lên tiếng hỏi - Bác đã đến Tây Nguyên. Bác đã gặp bà con các dân tộc Tây Nguyên. Về Ba Lan bác sẽ viết những gì về Tây Nguyên của chúng cháu.

Ilít Ivanôvít mỉm cười. Câu trả lời lại là một câu hỏi.

- Cháu người dân tộc nào và buôn các cháu có đường Hồ Chí Minh chạy qua hay không?

Em học sinh thoáng đỏ mặt.

- Cháu người Xê Đăng ở huyện Lắc. Bố mẹ cháu đã tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bố cháu hy sinh. Nay cháu chỉ còn mẹ. Nhưng đường Hồ Chí Minh có chạy qua buôn hay không thì cháu không biết. Ngày ấy cháu còn bé. Năm nay cháu mới mười sáu tuổi đời.

Ilít Ivanôvít hỏi một cán bộ của ủy ban nhân dân tỉnh cùng dự. Một người mới từ Quân đoàn 3 - Tây Nguyên chuyển ngành và có mặt ở nơi đây từ chiến dịch Plây Me năm 1965.

- Tôi được biết đường Hồ Chí Minh đẻ nhánh chi chít trong suốt thời gian chiến tranh và tỏa khắp các địa bàn Đắc Lắc. Nhưng đầu mút cuối cùng của đường Hồ Chí Minh là ở đâu?

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #121 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2010, 05:41:54 pm »

Ở trong lòng người Đắc Lắc. Ở trong mỗi gia đình các dân tộc Tây Nguyên. Những tiếp liệu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa và của các nước anh em trong đó có nhân dân Ba Lan đã đi suốt đường Hồ Chí Minh để đến với chiến trường. Trường Sơn là biểu tượng cho sự trường tồn của đất nước chúng tôi. Đường Hồ Chí Minh là chiến công vĩnh viễn đi vào sử sách của nhân dân chúng tôi. Kẻ thù gây chia rẽ. Nhưng nhân dân các dân tộc một lòng một dạ sát cánh bên nhau.

Ilít Ivanôvít - có thấy dàn nhạc kia là biểu hiện tình đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên hay không? Đàn đinh tram, đàn tơ rưng, đàn tơ ray và em trai Nhác Lê Sa người Xê Đăng đệm ghi ta. Bản hòa tấu âm vang như tiếng vang của rừng, có lúc dồn dập như gió cuốn ào ào trên cao nguyên bát ngát, có lúc trứ tình đằm thắm như lòng thủy chung son sắt của các dân tộc Tây Nguyên. Đàn đinh tram đó... Nó tượng trưng cho phương thức sản xuất quá thô sơ của người Ê Đê. Những ống tre dựng thẳng, gõ vào kêu một tiếng ưng nhẹ nhàng. Người ta chọc đất để tra hạt đó.

Nhưng chỉ là những ngày hôm qua mới canh tác như thế mà thôi. Con cháu Cụ Hồ đã lên Tây Nguyên đem theo lối làm ăn mới. Người Nghĩa Bình. Người Quảng Nam. Người Hải Dương. Người Nghệ Tĩnh... Tất cả đã cùng với các dân tộc sống lâu trên đất Tây Nguyên trồng cà phê, trồng cao su, trồng đậu, trồng lạc và xây dựng buôn làng.

Lòng người trong trắng như bài dân ca Ê Đê Mingatungpi do em Võ Thị Thanh Nga, người Kinh, học sinh lớp 1 của trường vừa hát. Khách không hiểu lời bài hát đó vì em hát bằng tiếng Ê Đê, âm điệu cứ ngọt ngào như nước sông Krông Pắc hay ngọn nguồn sông Đắc Đam. Cây Mingatungpi sẵn trong rừng. Thân nó leo cao đón ánh mặt trời. Hoa màu tím và gặp nắng dường như bỗng đỏ chói lên tượng trưng cho lòng thủy chung bất tử.

Nước giải khát đem ra. Nâng ly cà phê sóng sánh, nhà văn Ba Lan cảm động. Dường như ông hiểu phần nào rằng đường Hồ Chí Minh mang trái tim lãnh tụ vào tận nơi đây. Đường Hồ Chí Minh đem lại ngày vui sum họp. Hôm nay người dân từ Hà Nội vào miền Nam chẳng còn phải đi trên con đường gian khổ ấy nữa. Cũng như Ilít đã đáp máy bay của hãng hàng không quốc gia Việt Nam vào tận nơi đây. Đường sá đang được mở mang. Nhà của đang được xây dựng. Công viên đang mọc lên. Nhà máy đang hình thành...

Đầu mút cuối cùng của đường Hố Chí Minh là Ivanôvít ơi! Thực ra con đường vĩ đại lãnh tụ của nhân dân Việt Nam vạch ra vời vợi đầu mút cuối cùng. Chúng tôi sẽ mang ngọn cờ của Người đi mãi, đi mãi, theo những ước mơ cao đẹp và đắm say.

Nhà văn thật vui khi tiếp xúc với bà con người Ê Đê của lâm trường Cương xã Cương huyện Iasúp. Những chiến sĩ đường mòn năm xưa có đông đủ ở nhà khách. Nhà văn thăm hỏi miệt mài. Chủ tịch xã ngồi đối diện với ông. Phía sau Chủ tịch là một cô gái mặc váy đen, sơ mi màu xanh và áo len đỏ khoác ngoài. Sao cô lại ngồi đây? Hòa bình thống nhất đã mười mấy năm. Thời gian cuối cùng của chiến tranh chắc em chưa thể là cô gái đã trưởng thành. Ngồi cùng hàng ghế sát tường với em toàn những ông già, bà cả - Những con người đã gửi năm tháng dài gian khổ cho Trường Sơn.

Lần đầu tiên nhà văn tiếp xúc với những chiến sĩ dũng cảm thuộc dân tộc ít người ở Tây Nguyên. Mắt ông ánh lên cái nhìn ký lạ. Khi đóng lon sĩ quan trù bị Quân đội nhân dân Ba Lan tham gia ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp định Pa ri về Việt Nam, máy bay Mỹ đưa ông lên đây. Nơi ở thường trực của phái toàn là nhà Bănggarô tồi tàn gần khu kho Mai Hắc Đế. Chính quyền Sài Gòn hết sức hạn chế việc đi lại của ông cũng như các thành viên trong đoàn.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #122 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2010, 05:42:48 pm »

Trước những người thân thiết giọng ông trầm trầm xúc động:

- Thưa ông Chủ tịch xã Cương. Thưa bà con. Năm 1973 tôi đã tới đây giữa ba bề bốn bên là giặc. Tôi đã ngước lên rừng xanh tìm bóng dáng con đường. Tôi đã cố mường tượng những người con ưu tú của Trường Sơn hùng vĩ. Giờ đây tôi chẳng còn phải ngước tìm nơi xa xăm đâu cả. Tất cả đang đứng trước mắt tôi. Tất cả chung quanh tôi. Cho phép tôi được tỏ lòng ngưỡng mộ và ôm hôn tất cả.

Nhà văn nhìn cô gái ngồi sau Chủ tịch xã như muốn nhắn nhủ điều gì. Em đấy ư? Rực rỡ như bông hoa trang điểm của làng. Đôi má cô gái hồng lên. Làn môi mấp máy, khuôn mặt dịu dàng, e thẹn. Nhà văn nhìn em cất giọng vui vẻ:

- Cháu tên gì? 

Chủ tịch xã trả lời thay em:

- Con tôi đó. Nó là H'nêm.

- Cháu bao nhiêu tuổi?

- Hai mươi ba .

- Vậy mười mấy năm trước cháu lên sao được Trường Sơn và làm được gì ở Trường Sơn.

- Cháu mang đạn. Cháu cõng hai quả đạn cối sáu mươi milimét đi một cung đường. Cháu đi với bố cháu - H'nêm trả lời. .

Cặp mắt nhà văn long lanh. Chung quanh ông, trước mắt ông, toàn là những anh hùng. Nhiều người ở châu Âu còn chưa biết tường tận như thế này, ông đã từng hoạt động bí mật, đã qua chiến tranh, đã bị bắt làm tù binh và bị giải sang Đức, ông đã chịu nhiều đau khổ cho nên giờ đây, giữa những người dân Ê Đê sẵn sàng hy sinh tất cả cho sự nghiệp vẻ vang, mặc dù không hiểu tiếng nói và đặc biệt rất xa nhau về địa lý, khá khác biệt về hoàn cảnh sống và truyền thống văn hóa, ông vẫn thấy đầm ấm biết bao. Nhà văn đứng lên và trân trọng phát biểu: 

- Quá khứ của các bạn vinh quang. Dân tộc Việt Nam thực vĩ đại. Trường Sơn của các bạn có con đường là kỳ công của mấy thập kỷ qua mang tên người con ưu tú nhất của nhân dân Việt Nam - Người bạn lớn của nhân dân Ba Lan chúng tôi - Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ở châu Âu và ngay ở Việt Nam nữa, tôi đã thấy xuất hiện khuynh hướng lao vào hiện tại mà chưa coi trọng đúng mức quá khứ. Nhất là trong thanh niên. Nói rằng họ sao lãng chiến công oanh liệt của cha ông e hơi quá chăng? Tôi hiểu mưa nguồn suối lũ nhiệt đới sẽ nhanh chóng xóa đi những dấu tích bom đạn, sẽ làm sập những căn hầm, làm sạt lở những ta luy, cây cối mọc lên, việc tìm hiểu hình bóng con đường sẽ gặp rất nhiều khó khăn nhưng tôi sẽ tiến tới với sự giúp đỡ hết lòng của các bạn.

Nhà văn lão thành lưu luyến, ông dùng dằng chưa muốn chia tay. Một nhánh của con đường dẫn tới nơi đây. Kẻ thù dùng không biết bao nhiêu bom đạn và những phương tiện chiến tranh hiện đại lùa bà con vào ấp tân sinh. Rồi ấp chiến lược. Song đều thất bại. Có lần chúng đổ xuống một trung đoàn, dồn mọi người lại, trong đó có gần hết số đảng viên đang hoạt động trong chi bộ bí mật, lùa lên máy bay, chở đi. Số đảng viên ấy tổ chức bắt liên lạc với bên ngoài và chẳng mấy lâu phối hợp với bộ đội đưa dân về buôn cũ. Nơi đây có vinh dự là căn cứ cách mạng suốt thời kỳ chống Mỹ. Nơi đây là địa bàn đặt Sở Chỉ huy mặt trận Tây Nguyên trong suốt chiến dịch giải phóng Buôn Ma Thuột và cả vùng Cao Nguyên bát ngát năm 1975.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #123 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2010, 05:43:32 pm »

Xe bon nhanh. Đường mười bốn tít tắp. Rừng Tây Nguyên mênh mông. Nông trường nối tiếp nông trường. Cà Phê nối tiếp cà phê. Đất ba dan tơi bở như son vù vù chạy quanh về phía sau và chân trời xa xoay quanh, xoay quanh. Mây trắng nhởn nhơ. Dấu tích chiến tranh còn vương lại ở chỗ này hay chỗ khác bởi những xe tăng vương vãi. Nhà văn bỗng cất tiếng nói phá tan sự im lặng bao trùm:

- Tôi có cảm giác chúng ta đi song song với con đường Hồ Chí Minh - ông chỉ về phía Tây. Đó! Gần lắm. Có đúng không? Tôi đã hiểu đâu phải chỉ có một mà là hệ thống đường. Các tuyến đường chính. Biết bao đường nhánh. Biết bao đường tránh. Chằng chịt. Chi chít. Bạt ngàn. Chẳng khác nào trận đồ bát quái như phương Tây đã miêu tả. Tôi vui mừng vì thấy như mình đã nắm bắt được cái gì. Nhưng tôi vẫn còn muốn đi, đi mãi cho tường tận. Các thế hệ mai sau còn mải mê tìm hiểu về con đường vĩ đại này và cần phải biết nhiều hơn về nó.

Nhà văn được các bạn Việt Nam đưa qua Đắc Tô, Tân Cảnh, Sa Thày. Ông đã đến Đắc Lây và lội xuống dòng sông Pô Cô nổi tiếng suốt những tháng ngày đánh Mỹ. Dòng sông xanh. Nước chảy xiết, hai bên bờ thăm thẳm những cánh rừng không biết đâu là cùng. Những năm dài biết bao đoàn quân đã qua đây. Biết bao chiến sĩ và đồng bào mãi mãi nằm xuống nơi đây. Chi khu quân sự Đắc Pét vẫn còn lại bao nhiêu dấu tích. Những cao điểm. Những hàng rào kẽm gai. Những bờ tường lô cốt.

Ilít lvanôvít đặc biệt phấn khởi được đi trên đoạn đường vòng tránh để chuyển quân vây đánh chi khu quân sự Đắc Pét một ngày tháng 5 năm 1974. Vách núi có nơi sụt lở. Mưa lũ đào rãnh chằng chịt trên mặt đường. Cây cối mọc ra lam nham. Nhà văn lấy máy ảnh, ông chụp, ông bước đi, ông lao ra bên bờ suối, ông hỏi chuyện, ông reo mừng khi phát hiện cái cầu khỉ cheo leo còn sót lại, ông cười lớn khi thấy căn hầm hàm ếch mọc rêu bên bờ tả luy, ông luồn vào ngồi thử, ông lui ra để chụp ảnh, ông bị vắt cắn. Máu cứ chảy mãi ướt một đám quần.

- Ồ? ông nói vui - Vậy là tôi đã đổ máu trên đường Trường Sơn. Tôi muốn các bạn tặng cho danh hiệu chiến sĩ Trường Sơn hay chiến sĩ đường Hồ Chí Minh.

Tại đây, ông đã gặp chiến sĩ lái xe, gặp người chỉ huy binh trạm, gặp chiến sĩ thồ hàng bằng xe đạp, gặp chiến sĩ cao xạ. Những con người đó hôm nay đang làm nhiệm vụ xây dựng một khu kinh tế và nâng cấp các con đường.

Sau đó không lâu ông được đưa tới nghĩa trang Trường Sơn nghiêng mình bên phần mộ những anh hùng. Mười ngàn năm trăm sáu mươi ngôi. Những lối bia chạy thẳng. Những con đường rải sỏi vòng quanh. Những hàng thông vi vu không bao giờ tắt. Nhà văn hiểu rằng đây chỉ là một số rất nhỏ những người đã nằm xuống chỉ riêng trên đường Trường Sơn. Nhà văn thấm hiểu sự hy sinh của chiến sĩ Trường Sơn đâu phải chỉ có vì dân tộc mình. Đôi bàn tay run run thắp những nén nhang và nước mắt chạy quanh.

Bốn năm sau, vào một ngày hè 1992, trung đội trưởng công binh mở đường qua đèo Phu Ắc năm xưa hay sĩ quan trẻ trên công trường thủy điện Đrây Hơ Linh mới rồi đã là trưởng phòng khoa học của một Viện Nghiên cứu ngồi trên con tàu tốc hành từ Minxk sang Vácxava. Tới thủ đô Ba Lan anh tìm đến Ilít Ivanôvít. Nhà văn giờ đây là một ông già hân hoan đón khách. Biến động của thời cuộc và lo toan hàng ngày không làm tình cảm ông đổi thay. Ông tặng Tâm quyển sách vừa viết về đường Trường Sơn với đề tựa: “Nhớ thương con đường tít tắp chân trời”. Rồi nhấn mạnh: “Con đường ấy tỏa sáng như vệt sao băng!”
TĐC
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #124 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2010, 05:44:57 pm »

LẤP LÁNH TRƯỜNG SƠN
NGUYỄN HỮU QUÝ


Nói đúng ra, anh với tôi không phải là người xa lạ. Cách đây năm, sáu năm lúc ấy anh là phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Đảng ủy Binh đoàn Trường Sơn, còn tôi là cán bộ chính trị ở một đơn vị cấp dưới, chúng tôi đã gặp nhau hay nói chính xác hơn đã làm việc với nhau. Lần ấy, anh và đoàn kiểm tra binh đoàn về giải quyết thư tố cáo của quần chúng đối với một số cán bộ trong đơn vị tôi có dấu hiệu tham ô. Theo đơn thư tố cáo những cán bộ ấy đã khai man giá cả trong mua bán vật tư xe máy để kiếm tiền bỏ vào túi mình.

Khi về làm việc ở đơn vị, anh đã để lại trong tôi những ấn tượng tất đẹp. Cách làm việc cẩn trọng, tỉ mỉ cùng với gương mặt phúc hậu và giọng nói chậm rãi nhẹ nhàng của anh đã gieo vào lòng tôi sự yêu mến, tin cậy. Khác hẳn với sự tưởng tượng của tôi trước đây về những ông kiểm tra phải có khuôn mặt sắt luôn luôn đăm đăm, nghiêm nghị. .

Trong các cuộc họp đảng ủy, ủy ban kiểm tra và cán bộ vẫn cách nói từ tốn, nhỏ nhẹ, anh phân tích lẽ đúng sai rõ ràng, rành mạch. Mọi chuyện sáng dần ra. Người vi phạm nhận rõ lỗi lầm. Một phó giám đốc phụ trách vật tư, một kế toán trưởng, ba trợ lý bị cảnh cáo. Trước đồng đội, khi phát biểu họ đã khóc. Những giọt nước mắt hối hận vì lỗi phạm và cảm động trước sự xử lý nghiêm minh nhưng rất công bằng và độ lượng của tập thể.

Trước khi ra Hà Nội, anh đến rủ tôi ra bờ sông Hiếu ngồi chơi. Đêm. Trời sao chi chít. Gió biển từ Cửa Việt thổi lên lồng lộng. Mặt sông yên tĩnh. Chỉ có tiếng sóng vỗ vào bờ ì oạp. Anh nói:

- Đêm mùa hè ở đây thích thật. Gió biển, nước sông hòa vào nhau thật mát mẻ. Chẳng bù cho Hà Nội, đêm mùa hạ nóng như om người. Cộng thêm khói, bụi, tiếng ồn của xe cộ làm cho người ta bã bướt ra. Quạt, máy điều hòa thì lắm sao sánh nổi với gió biển, gió trời. À, mà dạo này em vẫn làm thơ đấy chứ?

Tôi ngạc nhiên:

- Ơ tại sao anh biết em làm thơ?

Anh cười: 

- Em tưởng làm kiểm tra thì hồn khô như ngói, chẳng cần thơ ca nhạc họa chứ gì? Này "Cái vết thương xoàng mà đưa viện. Hàng còn đầy bến tiếng xe reo. Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến. Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo" có phải thơ của ông Phạm Tiến Duật, bộ đội Trường Sơn mình không? Còn "Ngỡ như được nói với em. Khúc Lăm - tơi ấy giữa đêm trăng Lào" là thơ của em in trên báo Trường Sơn, đúng không?

Tôi trầm trồ:

- Em chịu anh! Làm quan kiểm tra mà đọc thơ cứ vanh vách. Thơ bác Duật, anh nhớ là một nhẽ. Còn thơ xí nghiệp như bọn em mà anh cũng chịu đọc, chịu nhớ thì thật hạnh phúc cho những thằng tập tọe làm thơ như bọn em lắm.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #125 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2010, 05:45:46 pm »

Tôi nhớ, đêm ấy anh đã nói nhiều với tôi về việc giáo dục quản lý con người, nhất là cán bộ đảng viên, trong cơ chế kinh tế thị trường. Anh gọi đó là cơn lốc; nó có thể cuốn hết tất cả mọi người vào vòng quay nghiệt ngã. Anh tâm sự với tôi mà có vẻ như cùng nói với chính mình:

- Làm kinh tế là phải tính đến lợi nhuận em ạ. Nhưng theo anh không phải tất cả chỉ vì lợi nhuận, không phải chấp nhận trả mọi giá cho con dao hai lưỡi đó. Làm gì, chúng ta cũng phải nghĩ đến con người. Cán bộ đảng viên mình phần lớn đã được tôi luyện qua chiến tranh. Bom tấn, bom tạ, bom bi, bom na-pan, chất độc hóa học... họ đã từng chịu dựng. Đói, khát, ốm đau, nhớ mẹ thương cha ở giữa rừng sâu họ đã từng nếm trải. Anh em đã trụ vững được trong những năm chiến tranh ác liệt, đã dám sống chết với con đường Trường Sơn.

Nhưng giữa thời bình, trong cơ chế kinh tế thị trường, khi thiên hạ đổ xô hối hả, chen chúc nhau tìm cách làm giàu, người cán bộ đảng viên cũng dễ bị tha hóa lắm. Mình là cán bộ chính trị phải thật gần gũi với anh em, hiểu kỹ càng sâu sắc về họ, lấy cái tình đồng đội để đối xử với nhau, giúp họ tránh được cái xấu, phát hiện ngăn chặn kịp thời khi anh em có dấu hiệu vi phạm và thật công minh nhân hậu khi xử lý người mắc lỗi. Xử lý kỷ luật là mở đường cho anh em mình bước tiếp chứ không phải đóng sập cánh cửa lại trước mắt họ.

*
*   *

Sau đấy hai năm, anh lại vào thăm đơn vị tôi. Lúc này anh đã được giao cương vị mới: Bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh Binh đoàn 12. Xin nói rõ thêm: là đơn vị quân đội làm nhiệm vụ kinh tế - quốc phòng, Binh đoàn 12 (Trường Sơn) còn mang tên Tổng công ty xây dựng Trường Sơn. Vì thế, anh là Phó Tổng giám đốc về chính trị.

Tổng công ty trải dài từ Bắc vào Nam gồm nhiều công ty xí nghiệp tự hạch toán. Những người lính của Bính đoàn Trường Sơn thực sự là những người lính xây dựng lăn lộn ở khắp mọi miền đất nước từ tuyến đường 279 kéo dài gần 1.000 ki-lô-mét từ Quảng Ninh đến Tây Trang, Lai Châu, rồi xây dựng cơ bản tuyến đường Đông Trường Sơn dài gần 2.000 ki-lô-mét, lại có mặt ở những công trình như thủy điện Hòa Bình, thủy điện Đrây Linh, thủy điện Yali, thủy điện sông Hinh, đường dây 500KV; thi công những con đường đòi hỏi kỹ thuật rất cao như quốc lộ 5, đường Bắc Thăng Long - Nội Bài, rồi tham gia xây dựng tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên, Trường Sơn, Hàng Dương, Côn Đảo... Bàn tay người lính Trường Sơn lại khai khẩn những vùng đất hoang vu của Tây Nguyên Bazan khát thành nông trường cà phê rộng gần 400 héc-ta "trăng lên, trăng lặn cũng không ra ngoài"...

Nghe anh nói ý định lên thăm anh em các đội đang làm đường Sen Bụt - Cù Bai ở biên giới miền Tây Quảng Trị, chúng tôi hơi ái ngại. Mùa này, Tây Trường Sơn mưa tầm tã.

Mưa rừng Trường Sơn, ai đã một lần gặp khó lòng quên được. Ào ạt. Xối xả. Như thác đổ. Như lũ cuốn. Núi non cây cối, đường sá như bị xóa nhòa, chìm lấp sau làn nước bạc.

Từ đồn Sen Bụt vào Cù Bai đi theo đường 14. thuộc đất bạn Lào. Đường chiến lược thời chống Mỹ, gần hai mươi năm không ai sửa chữa duy tu sống trâu, ổ gà nối tiếp nhau lồi lõm, lắm chỗ lầy lội nhão nhoét như mặt ruộng. Lại còn đèo dốc chênh vênh. Nguy hiểm lắm! Chúng tôi bảo anh chờ dịp nào đó thời tiết đẹp hơn hãy đi. Anh cười:

- Anh em đi được thì mình cũng chẳng ngại. Lính Trường Sơn vốn trèo đèo lội suối quen rồi mà.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #126 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2010, 05:46:44 pm »

Tôi đi cùng anh lên Sen Bụt - Cù Bai, chuyến đó, trên chiếc xe Zin ba cầu chở gạo cơm, mắm muối, rau quả và cả mấy can rượu trắng nữa lên cho bộ đội. Mùa mưa, lên Cù Bai chỉ có anh Ba cầu cục mịch cổ lỗ này mới chịu được. Còn các cô cậu đẹp đẽ sang trọng bóng loáng hay đến cả chú U-oát vốn là con nhà binh thô tháp lầm lũi có hai cầu hẳn hoi cũng xin chào thua.

Từ Khe Sanh vào Sen Bụt là khúc dạo đầu êm ái. Đường đất, ít mấp mô lồi lõm nên xe chạy còn khá êm. Khúc dữ dội, ác liệt của cuộc hành trình được bắt đầu từ đồn biên phòng Sen Bụt đến đèo Tà Rùng (gần Cù Bai) nơi có hai đội làm đường của chúng tôi đóng quân. Càng đi, mưa càng thêm dày hạt. Chiếc gạt nước trên mặt kính xe không gạt kịp những dòng nước chảy xuống ào ào.

Trước mặt, hai bên trắng xóa, mù mịt. Con đường chỉ còn là một vệt trắng loang loáng hiện ra giữa màu sẫm hơn của cây cối, núi rừng. Đường gấp khúc, quanh co lắm cua, nhiều dốc. Chiếc xe như con trâu đất lấm lem, lầm lũi bò đi từng chặng từng chặng một. Chúng tôi cũng ướt át, lấm lem bùn đất. Bởi lẽ, đi được một chặng lại hò nhau xuống chống lầy. Lính trên thùng xe nhảy xuống, tôi và anh từ trong ca-bin bước ra đội trời, đội mưa khuân đá, chặt cây vứt xuống bánh xe.

Xe đến bản Tà Rùng thì trời đã đen đặc. Khoảng bốn cây số nữa sẽ đến lán của đội. Trước mặt chúng tôi, qua ánh đèn pha vàng ải dưới chân dốc hiện ra một con suối nước chảy loang loáng.

Lái xe bảo anh và tôi:

- Dốc này trơn lắm đấy thủ trưởng ạ. Khi xuống, phanh xe sẽ không có tác dụng nữa.

- Thế em định xử lý bằng cách nào? Anh ôn tồn hỏi.

- Thủ trưởng và các anh xuống xe, đứng ở trên dốc. Em sẽ lái xe xuống một mình trước. Cứ để cho nó lao xuống thôi. 

- Có đảm bảo an toàn không? Anh hỏi - Mà, phải dò độ sâu của suối em ạ?

- Dốc này không dài lắm, lại thẳng, phía dưới chân thì có suối chắn. Qua lại đây nhiều em biết mức nước suối như thế này chỉ sâu đến đùi, xe qua được thủ trưởng ạ.

- Nhất trí với cách xử lý của "chú tài". Nhưng, để anh ngồi trong cabin với em, được không?

- Ấy chết, thủ trưởng cứ tin tưởng vào tay lái của em. Không hổ danh là lính Trường Sơn thế hệ thứ hai đâu thủ trưởng ạ. Vả lại... em muốn buồng lái rộng rãi để dễ xử lý.

Anh mỉm cười, vỗ vai người lính trẻ:

- Ờ nhớ giữ tay lái cho chắc và thẳng. Bình tĩnh và thận trọng em nhé.

Đứng trên dốc, chúng tôi hồi hộp dõi theo chiếc Zin ba cầu ẩm ầm lao xuống dốc rồi đứng chững lại giữa dòng suối. Nước bắn lên tung tóe. Lái xe ới ới gọi với lên. May quá tất cả bình an vô sự. Chúng tôi bấm chân lọ mọ đi xuống dốc. Đường trơn như đổ mỡ. Có tiếng ngã oạch phía sau. Và, tiếng cười trêu của mấy chàng lính trẻ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #127 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2010, 05:47:33 pm »

Thế nhưng, khổ nạn vẫn còn đang đợi phía trước. Xuống dốc cực một thì lên dốc cực mười. Bởi đường trơn nhầy bánh xe không bám được. Chiếc Zin ba cầu leo lên rồi tụt xuống, bánh quay tít mù. Cây lá, cành củi vứt vào bánh cũng chẳng ăn thua gì. Người nào cũng mệt phờ. Đôi tiếng thở dài buông ra. "Kiểu này chắc chúng ta sẽ ngủ qua đêm ở đây mất". Tiếng ai đó kêu lên.

Anh hỏi:

- Các em có quen dân bản không? 

- Trưởng bản là người quen của đội em. Thỉnh thoảng chỉ huy đội và bọn em đến đó chơi. Dân bản mến bộ đội mình lắm thủ trưởng ạ? - Một anh lính trả lời.

- Em đi với anh vào bản nghe! - Anh chỉ vào người lính ấy và rủ luôn cả tôi cùng đi.

Ba người lò dò ngược lên dốc lấn đường vào bản. Đi được nửa đường thì gặp một tốp người từ trong bản đi ra, ánh đèn pin quét xuống mặt đường sóng sánh.

Té ra, trưởng bản khi nghe tiếng xe ù ù ngoài dốc đã rủ một số người đi ra "coi cái xe của bộ đội ra sao".

- May quá! Chúng con định vào bản nhờ giúp thì bố và các anh đã ra đây - Anh đến bắt tay trưởng bản, với mọi người đi theo và nói rõ sự việc.

Trưởng bản gật đầu rồi nói câu gì đó với người thanh niên đứng bên cạnh. Anh này quay lại bản, một lát sau có thêm vài chục người và thêm hai con trâu mộng vạm vỡ vai u, sừng cong cánh ná cùng nhập vào với tốp chúng tôi ra suối. Trâu kéo, người đẩy, xe nổ máy. Hì hà hì hục tới ba mươi phút xe mới bò lên dốc được.....

Khi chiếc xe đến lán Đội, bóp còi toe toe thì tiếng gà rừng đã vang lên bên kia sườn núi. Anh em bật dậy, hò reo vui như tết, đèn thắp lên, ánh sáng tỏa ầm dần nếp lán. Tôi chỉ vào anh:

- Giới thiệu với các đồng chí, thủ trưởng Nguyễn Bá Tòng, Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty từ Hà Nội vào lên thăm anh em ta.

Không ai bảo ai, tất cả ùa đến bên anh như những đứa em ùa đến bên người anh thân thiết. Giọng anh đội trưởng nghẹn lại: 

- Chao ôi, mưa gió thế này mà thủ trưởng cũng lên với chúng tôi... Vất vả quá!

Anh đứng lặng, trìu mến nhìn cán bộ chiến sĩ - những người đang chịu đựng nhiều gian khổ, bám trụ nơi xa mù heo hút Trường Sơn để xẻ núi, mở đường phục vụ cho cổng cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #128 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2010, 05:48:13 pm »

*
*   *

Với đại tá Nguyễn Bá Tòng dù mang tiếng đã quen và là cán bộ cấp dưới của anh nhưng thú thật tôi chưa biết chiến công của anh thời đánh Mỹ. Chỉ biết rằng anh là Anh hùng quân đội Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý ấy vào năm 1973. Từ trước tới nay tôi vẫn đinh ninh rằng anh là lái xe trên đường mòn Hồ Chí Minh những năm đảnh Mỹ và là người anh hùng đã bật đèn pha trong đêm tối hút máy bay địch về phía mình để cứu cả đoàn xe ở phía sau. Khi đã là phóng viên của Tạp chí Văn nghệ quân đội tôi tìm hiểu anh để viết bài nhân dịp kỷ niệm 40 năm Bộ đội Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh thì mới vỡ lẽ ra rằng: anh chưa có một ngày cầm vô lăng. 

Nghe tôi tuệch toạc giãi bày sự lầm lẫn của mình, anh cười, hóm hỉnh nói:

- Anh chỉ là anh hùng tháo bom, đánh mìn "hất xe xuống vực" thôi em ạ?

- Chà! Tháo bom, đánh mìn "hất xe xuống vực". Mới nghe anh nói, em đã thấy hay hay rồi đó. Anh kể cho em nghe đi.

- Ôi dào, chuyện cũ lắm rồi. Kể ra có người lại bảo các ông Khốt say sưa với quá khứ, thích đánh bóng lại huân chương.

- Anh cử kể đi, những kỷ niệm của anh ở Trường Sơn ấy. Chuyện tháo bom, đánh mìn ấy.

- Thôi, nể em, anh kể. Nhưng khi viết bài thì lựa lựa mà viết, ít thôi. Cấm bịa. Cấm tô hồng đánh phấn nhé!

Trường Sơn một thời bi tráng hiện dần lên trong câu chuyện của anh. Những con đường tả tơi vì bom đạn Mỹ vẫn bền bỉ vươn về phía Nam, tỏa lan ra hai phía Đông - Tây. Trước mắt tôi hiện lên Vạn - Lý - Trường - Sơn vĩ đại với 5 hệ thống đường trục dọc; 21 đường trục ngang vươn tới, các chiến trường với tổng chiều dài gần 2 vạn ki-lô-mét đường ô tô, 1.400 ki-lô-mét đường ống dẫn xăng dầu, 3.140 ki-lô-mét "đường kín" cho xe chạy ban ngày...

Giữa năm 1968, anh được điều về Trung đoàn 98 là một đơn vị được giao nhiệm vụ "thần tốc mở đường", lúc này đang đóng ở Quảng Bình. Đội bom đạn, xuyên rừng lội suối, trung đoàn hành quân vào Binh trạm 42. Anh còn nhớ cái Tết đầu tiên ở Trường Sơn đơn vị phát cho mỗi người hai chiếc kẹo Sô-cô-la, một điếu thuốc Tam Đảo và hai người một hộp mứt bí. Thế là sang! Lính Trường Sơn, có Tết tắc đường chỉ tai voi môn thục nấu cháo "liên hoan" với nhau, anh em đãi nhau những món ăn đặc sản ở quê nhà bằng cách kể ra cách chế biến và hương vị của nó. Vậy, mà rồi cũng chóp chép miệng tấm tắc khen ngon để đêm về ôm nhau ngủ cứ nôn nao nhớ xóm mạc, cửa nhà.

Mồng hai Tết, đơn vị được trên giao nhiệm vụ sau hai ngày phải mở xong con đường tránh dài hơn 10 cây số để thông xe vì địch đang tập trung đánh phá con đường chính rất dữ dội. Rừng ở nơi con đường tránh đi qua có rất nhiều cây to, nếu chỉ dùng cưa và dao để hạ cây thì sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ đúng thời gian quy định. Chỉ có cách dùng bộc phá để đánh cây, nhưng lượng thuốc nổ trong kho có hạn, biết giải quyết làm sao đây? Treo lơ lửng trước mắt mọi người câu hỏi ấy.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #129 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2010, 05:49:02 pm »

Trưa hôm ấy, anh tranh thủ vào rừng hái quả bứa cho tiểu đội nấu canh cá suối. Trèo trên cây nhìn xuống, anh bỗng giật thót mình một quả bom đen trũi to như con lợn độc nằm chình ình gần đây. Chết cha? Bom từ trường. Sống lưng lạnh ngắt như có luồng gió bấc trườn qua. Anh nhẹ nhàng tụt xuống, mắt dán chặt vào quả bom.

Hình như... không phải bom từ trường. Đúng rồi, hắn chỉ là một quả bom câm. Mạnh bạo hơn, anh rón rén bước đến gần, xem xét. Một quả bom 500 bảng Anh, thân bị vỡ nhưng đầu bom còn nguyên, nó vẫn còn có khả năng "gây sự". Một ý nghĩ lóe lên "sẽ lấy thuốc nổ ở quả bom này để làm bộc phá hạ cây".

Anh chạy vội về nhà, trình bày ý định ấy với mọi người. Mọi người ồ lên vui sướng. Anh và một đồng chí nữa được cử đi tháo bom, lấy thuốc nổ về. Thế là, thuốc nổ của Mỹ đã giúp bộ đội Trường Sơn mở đường đánh Mỹ. Đúng hai ngày, con đường tránh được làm xong. Xe nối đuôi nhau vào Nam, mặc cho lũ giặc trời trút bom đạn ầm ầm xuống con đường chính. Từ đó anh nổi tiếng ở trung đoàn là người tháo bom, đánh bộc phá lầm lì, cự phách.

Tới năm 1970 đơn vị anh chuyển vào Binh trạm 34. Trung đội của anh được giao nhiệm vụ bảo đảm giao thông mười cây số đường trong đó có trọng điểm dốc U Bò ở ngã ba La Hạc. Đây là một trọng điểm hết sức ác liệt không phải chỉ vì bom đạn giặc ngày đêm trút xuống mà còn ở sự hiểm trở của núi rừng. Đường đi qua La Hạc rất hẹp, có đoạn chỉ đủ cho một xe ô tô tải đi lọt. Con đường nham nhở dấu vết đạn bom như bị kẹp giữa một bên là vách núi cao, một bên là vực sâu.

Anh nhớ mãi cái đêm ấy. Hai giờ sáng anh đang ngồi trực chiến ở căn hầm dã chiến dưới chân dốc U Bò thì nhận được điện thoại của trung đội trưởng báo có một chiếc xe đang bị cháy ở đỉnh dốc làm tắc đường. Trong khi đó một đoàn xe hàng chục chiếc đầy ắp hàng vào đang nằm chờ thông đường để vượt trọng điểm ở phía bắc U Bò. Trời sắp sáng. Trung đội yêu cầu tổ trực chiến cử người mang bộc phá lên đánh xe cho rơi xuống vực để giải phóng đường.

Dặn dò hai đồng chí ở lại xong, anh lao lên dốc cùng với một gói bộc phá khá lớn. Máy bay địch vẫn gầm rú. Đèn dù treo lửng lơ trên đỉnh đầu. ánh chớp bom thỉnh thoảng lại bùng lên nhoáng nhoàng. Cách đỉnh dốc 30 mét anh dừng lại, quan sát chiếc xe đang bốc lửa đùng đùng. Nếu dùng một kíp nổ chưa chắc đã kích nổ được cả khối bộc phá lớn như thế này. Anh lấy cả hộp kíp buộc ốp vào khối thuốc nổ lớn bằng thùng lương khô BA70, trong đó có một chiếc kíp tra dây cháy chậm. Dây không có, anh xé chiếc áo lót mình đang mặc nối lại thành sợi dài để buộc.

Mọi việc đã làm xong, anh lao lên, cách chiếc xe cháy 10 mét dừng lại châm dây cháy chậm (anh đã tính toán cắt vừa một gang tay) rồi ném ào cầu sau của xe. Chạy lại được 10 mét, anh lăn xuống rệ đường cùng lúc với ánh chớp bùng lên dữ dội. Bụi khói mù mịt, đất đá rào rào. Mặt mũi tối sầm lại, ngực tức nghẹn anh chỉ còn nghe loáng thoáng bên tai tiếng gọi của đồng đội. Chiếc xe xấu số đã bị hất nhào xuống vực.

Hai phát AK nổ vang. Đường thông. Đoàn xe ì ầm vượt qua trọng điểm trước khi trời tang tảng sáng...

Đang đắm chìm trong dòng hồi tưởng về Trường Sơn của anh, tôi chợt nghe đại tá Nguyễn Bá Tòng nói:

- Thế thôi nhé! Bây giờ thì em hết tưởng tượng anh là lái xe Trường Sơn bật đèn pha hút địch về mình cứu đồng đội rồi chứ! Chiến công ấy là có thật, nhưng người lập nên là một người lính Trường Sơn khác. Trong những năm tháng ấy, nhiều người lính Trường Sơn có thể làm như vậy và những việc làm của anh cũng là những việc làm bình thường, ai trong hoàn cảnh đó cũng đều làm được. Theo anh, cái nổi bật nhất của chất lính Trường Sơn có thể nói gọn trong hai tiếng: xả thân. Xả thân cho nghĩa lớn, cho Đất Nước, cho Nhân dân. Tóm lại, nó là như vậy.

Tôi ngước lên, nhìn anh kỹ hơn và bỗng nhận ra trong đó lấp lánh những nét đẹp của người lính Trường Sơn thuở ấy, bây giờ.
15-3-1999
N.H.Q

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM