SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #140 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2010, 05:05:46 pm » |
|
* * * Câu hát xưa đã đưa tôi đến với Tổng công ty xây dựng Trường Sơn. Thiếu tướng Đỗ Xuân Diễn, Tổng Giám đốc công ty cho hay, các nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên, sân bay Mường Thanh, Hồ thủy lợi Phe Luông, Hồng Sạt, mở đường vào khu kinh tế mới Trà Nưa, mở đường đầu nguồn sông Mã, đều do cán bộ chiến sĩ thuộc xí nghiệp 4 Công ty tư vấn khảo sát thiết kế Tổng công ty xây dựng Trường Sơn và Công ty 344 thuộc Tổng công ty xây dựng. Xong các công trình ở Lai Châu Điện Biên vùng đất lịch sử họ lại đến với nhiều công trình mới, xí nghiệp 4 đang xây dựng nghĩa trang Hàng Dương (Côn Đảo), còn Công ty 344 đang tham gia thi công nâng cấp đường 1, đường 51, v.v.. Tuy rải quân khắp nơi làm nhiều công trình như xí nghiệp 4 cũng có trụ sở ở Hà Nội, còn Công ty 344 thì đại bản doanh lại đóng tại đất Phong Châu quê hương các Vua Hùng. Theo giới thiệu của thiếu tướng Đỗ Xuân Diễn, tôi tìm đến xí nghiệp 4, trung tá Nguyễn Văn An Bí thư Đảng ủy Công ty tư vấn khảo sát thiết kế và trung tá Nguyễn Minh Tuấn Giám đốc xí nghiệp 4 tiếp tôi niềm nở như đón người thân về nhà. Tuy không cùng đơn vị cũ, nhưng gặp nhau chúng tôi đều tự hào là chiến sĩ Trường Sơn và cùng ôn lại những năm tháng hào hùng gian khổ ở chiến trường. Theo Bí thư Đảng ủy Công ty Nguyễn Văn An, năm nay Bộ đội Trường Sơn long trọng kỷ niệm 40 năm ngày thành lập và công ty của các anh (tiền thân là Viện Khảo sát thiết kế Trường Sơn) cũng đã qua 33 năm xây dựng. Còn nhớ những năm tháng chống Mỹ, trên đường mòn Hồ Chí Minh, nhiệm vụ của Viện chủ yếu khảo sát thiết kế, mở đường phục vụ cho yêu cấu chiến đấu của 3 chiến trường Việt - Lào - Campuchia. Viện đã cùng các lực lượng công binh, giao thông vận tải xây dựng một hệ thống đường vận tải quân sự quan trọng dài gần 16 ngàn km, (trong đó có gần 1 ngàn km xây dựng cơ bản) gồm 5 hệ thống trục dọc, 21 trục ngang trên dãy Trường Sơn và hàng ngàn km đường tránh trọng điểm. Viện đã khảo sát thiết kế 3140 km đường kín phục vụ cho xe vận tải chạy giữa ban ngày địch không phát hiện được. Kết thúc chiến tranh, bộ đội khảo sát thiết kế Trường Sơn đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng 9 Huân chương các loại và 16 Huân chương Chiến công, Đại đội 1 tiền thân của Viện Khảo sát thiết kế được Nhà nước tuyên dương Đơn vị Anh hùng các lực lượng vũ trang năm 1976. Sau chiến tranh Viện Khảo sát thiết kế Trường Sơn trở thành Công ty tư vấn thiết kế xây dựng thuộc Tổng công ty xây dựng Trường Sơn, vẫn làm nhiệm vụ khảo sát thiết kế những con đường quân sự trọng điểm biên giới phía bắc và nước bạn Lào. Tham gia thiết kế, xây dựng đường cao tốc Thăng Long Nội Bài, đường 5, đường Láng Trung - Hòa Lạc, đường 51 Biên Hòa - Vũng Tàu, đường 6 Hà Đông - Hòa Bình, Quốc lộ 14C, đường 20, 34, đường 1, đường Lai Châu - Mường Tè và đặc biệt là tổng B khảo sát thiết kế xa lộ Bắc - Nam đoạn Vĩnh Kê (Quảng Trị) đến Thạch Mỹ (Đà Nẵng) dài 300 km.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #141 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2010, 05:06:13 pm » |
|
Ngoài nhiệm vụ khảo sát thiết kế, công ty còn tham gia đấu thầu xây dựng các công trình mới các lực lượng chủ yếu là cán bộ chiến sĩ xí nghiệp 4. Xí nghiệp này đã tham gia xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, nghĩa trang liệt sĩ A1 ở Điện Biên và đang xây dựng nghĩa trang Hàng Dương (Côn Đảo). Giám đốc xí nghiệp 4 Nguyễn Minh Tuấn kể về những tháng ngày gian khổ đơn vị anh thi công nghĩa trang liệt sĩ đồi A1. Anh nói:
- Tôi nhớ đúng ngày 2-9-1993 chúng tôi khởi công xây dựng nghĩa trang hệt sĩ đồi A1 và khánh thành vào ngày 27-4-1994 kịp bàn giao cho địa phương kỷ niệm 40 năm giải phóng Điện Biên. Đây là công trình thi công thời gian rất gấp, chúng tôi phải chuyển quân, vật liệu xây dựng, sắt thép xi măng từ Hà Nội lên. Gạch chuyên dùng phải lấy từ Giếng Đáy (Quảng Ninh) đá granít đen, gỗ lim lấy ở (Quảng Bình), đá xẻ ở Thanh Hóa, ngói lưu ly ở Hà Bắc, v.v.
Chúng tôi đã chuyển vật liệu trên hàng ngàn chuyến xe vượt đường tây bắc an toàn. Nghĩa trang A1 tuy phần mộ liệt sĩ không lớn như nghĩa trang Độc Lập. Him Lam nhưng được xây dựng quy mô hoành tráng, bề thế phần trong là phần mộ, nghĩa trang, phần ngoài là lễ dài, quảng trường mít tinh hội họp.
Khi xây dựng chúng tôi rất tôn trọng lịch sử, xây theo đúng hiện trạng phần mộ chỉ nâng cấp xây cao hơn cũ. Hôm sắp khánh thành chúng tôi được đón tiếp gia đình Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót từ Can Lộc (Hà Tĩnh) ra viếng thăm. Người yêu của anh Phan Đình Giót mái tóc đã hoa râm thắp nén hương trên mộ liệt sĩ và xúc động nói với chúng tôi lời cảm ơn chân thành khi nhìn mộ chí người Anh hùng và mộ liệt sĩ được xây dựng khang trang với tấm lòng biết ơn của hậu thế.
Nghĩa trang liệt sĩ A1 tổng kinh phí xây dựng gần 16 tỷ đồng, nhưng tấm lòng của những người chiến sĩ Trường Sơn xây dựng nghĩa trang này lại không thể tính bằng tiền triệu, tiền tỷ. Các anh đã xây dựng công trình với cả tấm lòng thành kính biết ơn những người đã hy sinh vì nước, để có một nghĩa trang trang nghiêm hoành tráng, một ngôi nhà trong cõi tâm linh cho các liệt sĩ ngàn thu yên nghỉ cõi vĩnh hằng.
Sau nghĩa trang liệt sĩ A1, cán bộ chiến sĩ xí nghiệp 4 lại đến với rất nhiều công trình xây dựng trên khắp các nẻo đường đất nước và một vinh dự lại dành cho họ, tín nhiệm họ xây dựng nghĩa trang Hàng Dương (Côn Đảo) giữa bão táp phong ba, giữa mênh mông biển cả. Giám đốc xí nghiệp 4 nói rằng: "Dù ở đâu, xây dựng công trình dân sự hay quân sự, làm đường giao thông, di tích lịch sử, dựng xây cung văn hóa mới hay xây dựng nghĩa trang... cán bộ chiến sĩ xí nghiệp 4 vẫn tự hào mang phong cách của người chiến sĩ Trường Sơn, thế hệ cũ và lưới đan xen cùng tự hào tiến bước".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #142 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2010, 05:06:50 pm » |
|
* * * Nói đến bộ đội Trường Sơn tham gia xây dựng các công trình kinh tế văn hóa lớn ở Điện Biên - Lai Châu mà không kể đến Công ty 344 thì quả là thiếu sót. Xin được bắt đầu từ các hồ thủy lợi, công ty góp phần xây dựng. Điện Biên có 4 hồ lớn Pha Khoang, Buổi Pha, Phe Luông, Hồng Sạt thì Công ty 344 tham gia xây dựng và sửa chữa 3 hồ (trừ Buổi Pha). Theo ông Ngô Lâm Bách Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn Lai Châu, người Điện Biên vẫn tự hào có cánh đồng Mường Thanh lớn nhất miền Tây Bắc. Nhưng khi chưa có các hồ thủy lợi, thì hàng ngàn héc-ta mầu mỡ nơi đây cây lúa vẫn khát khô, dân Điện Biên đói, dân Lai Châu đói tháng tháng, năm năm vẫn trông chờ lúa gạo của nhà nước cứu tế. Giờ thì 4 hồ nước mênh mông đã cho Điện Biên đổi đời, cánh đồng Mường Thanh nên bờ xôi bãi mật, vựa thóc của miền Tây Bắc, dân đủ gạo ăn còn bán cho miền xuôi. Có được kết quả này không thể không nói tới công sức mồ hôi của bao chiến sĩ Công ty 344 tham gia xây hồ thủy lợi ở Điện Biên. Thượng tá Nguyễn Văn Thái Bí thư Đảng ủy Công ty 344 nguyên là chiến sĩ của các binh trạm 9, 27, 28, 33, từng tham gia vận tải đường sông thả những bao gạo Trung Quốc trôi trên sông Sê Pôn, Sê Băng Hiêng tiếp gạo cho các binh trạm những năm đầu thập kỷ 70 sau đó lại tham gia mở đường 14. Anh ở Trường Sơn liên tục 7 năm tới ngày giải phóng mới theo học trường quản lý kinh tế rồi lại tham gia bộ đội làm kinh tế sau chiến tranh. Trường Sơn kỷ niệm 40 năm thành lập thì thượng tá Nguyễn Văn Thái cũng tròn 30 năm là người lính Trường Sơn. Hơn 20 năm xây dựng gia đình, anh vẫn xa vợ con sống cùng đồng đội vẫn nay đây mai đó theo bao công trình. Từ núi rừng Trường Sơn sau chiến tranh anh theo đơn vị làm đường lên thủy điện Hòa Bình, mở đường trên vùng than Đông Bắc, đi trồng rừng cho Nhà máy giấy Bãi Bằng, tham gia xây dựng khu công nghiệp Apatít Lào Cai, mở đường 279 biên giới phía bắc, làm đường giao thông nông thôn Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, nâng cấp đường 5, đường 1. Xây dựng thủy điện ở vùng cao miền núi, mở đường ở đầu nguồn sông Đà, sông Mã, xây dựng nghĩa trang Điện Biên, sân bay Mường Thanh... bấy nhiêu năm, bấy nhiêu công trình người chiến sĩ Trường Sơn năm xưa đã đi qua và góp công xây dựng. Ở Điện Biên có 4 hồ thủy lợi thì Công ty 344 của anh Thái xây dựng và sửa chữa 3; Điện Biên có ba nghĩa trang liệt sĩ lớn thì Công ty 344 cũng tham gia xây dựng cả ba. Điện Biên duy nhất có sân bay Mường Thanh, 344 cũng lại vinh dự là đơn vị duy nhất tham gia xây dựng. Tỉnh Lai Châu có khu kinh tế mới Trà Nưa thì Công ty 344 cũng tham gia mở đường - đoạn đường gian khó nhất. Thượng tá Nguyễn Văn Thái kể rằng - sân bay Mương Thanh nguyên là sân bay quân sự của Pháp đường băng đất lát ghi. Trước năm 1992 sân bay không hoạt động, không có cầu hàng không thương mại. Cuối năm 1993 Tổng thống pháp Mitterand sang thăm Việt Nam trở lại Điện Biên chiến trường năm xưa người Pháp đã thua trận, lúc này ngành hàng không mới đem những tấm ghi làm đường băng tạm để máy bay hạ cánh. Cuối năm 1993 Công ty 344 được giao thi công nâng cấp sân bay Mường Thanh giai đoạn 1. Công trình được khởi công đầu năm 1994 và bàn giao vào tháng 3-1995 đưa vào sử dụng 1400m đường băng hạ cánh, sân đỗ và sân ga. Cầu hàng không Điện Biên - Hà Nội được thiết lập với lịch bay một tuần hai chuyến. Chuẩn bị kỷ niệm 45 năm chiến thắng Điện Biên, du khách trở lại chiến trường xưa đông hơn, kinh tế miền Tây Bắc cũng đã phát triển, đòi hỏi nhu cầu giao lưu với miền xuôi. Vì thế ngành hàng không phải tiếp tục nâng cấp sân bay giai đoạn 2, trọng trách ấy lại được giao cho những người chiến sĩ Công ty 344 và họ đã thi công xong 430m đường băng hạ cánh, cắt băng khánh thành vào cuối năm 1998. Giờ đây Điện Biên miền đất lịch sử, thủ phủ của tỉnh Lai Châu đã gần gũi hơn với Thủ đô Hà Nội qua cầu hàng không mỗi ngày một chuyến bay. Vậy là từng con đường qua bản Mường Luông nơi đầu nguồn sông Mã, ánh điện sáng trên công trình thủy điện Nậm Chim, dòng nước mát hồ thủy lợi Pha Khoang, Phe Luông, Hồng Sạt đến với cánh đồng Mường Thanh, nghĩa trang liệt sĩ A1, Độc Lập, Him Lam, rồi những cánh bay hàng không trên sân bay Điện Biên đều có công sức của cán bộ chiến sĩ Công ty 344 góp phần xây dựng. Các anh đã đóng góp sức mình xây dựng Lai Châu, Điện Biên chiến trường lịch sử năm xưa thêm giàu đẹp. Các anh cũng góp phần rút ngắn con đường từ miền núi Tây Bắc về xuôi trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn. Vẫn mang sắc phục xanh người lính, vẫn tự hào là người chiến sĩ Trường Sơn, các anh lại đến với bao cỏng trình mới trên mọi ngả đường Tổ quốc hôm nay. Theo những chuyến xe du lịch tốc hành, những chuyến bay đưa du khách lên với Điện Biên ngày kỷ niệm 45 năm chiến thắng mùng 7 tháng 5 đang đến gần, trong đoàn du khách ấy các anh có trở về không? Qua nghĩa trang Điện Biên, qua hồ xanh thủy lợi, qua những con đường mới mở, đâu đâu cũng ghi đầy kỷ niệm của người dân Lai Châu Điện Biên với những người chiến sĩ Trường Sơn. Ân tình đất này sâu nặng, người Điện Biên vẫn nhớ ơn, vẫn mong đợi các anh lại về. N.T. H
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #143 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2010, 05:08:29 pm » |
|
CÓ MỘT TRƯỜNG SƠN HÔM NAY SƯƠNG NGUYỆT MINH Chiến tranh đã lùi xa hơn 20 năm, đau thương vẫn còn thổn thức, nhưng đã dịu đi và lắng lại. Những ngầm nước xiết có những người con gái đứng thay hàng cọc tiêu cho xe qua; những cua trọng điểm bị bom địch cày xới tơi bời, lở loét, những trảng rừng trụi lá cây, những bãi khách bị bom cháy nham nhở; những con đường mòn, lối nhỏ qua trăm ngàn nẻo suốt dọc dài Trường Sơn... đã lẫn vào màu xanh bạt ngàn, trùng điệp của núi rừng. Nhưng vẫn còn một con đường huyền thoại, đường Hồ Chí Minh. Bất tử... mãi mãi trong tim người ra trận và cháu con của họ. Vẫn còn một binh đoàn đang đi tiếp con đường năm xưa của người ra trận. Binh đoàn của những người lính xây dựng mang tên Trường Sơn. Tôi viết văn, làm báo, không được may mắn làm lính Trường Sơn xưa, nhưng lại từng dọc ngang khắp nẻo theo dấu chân binh đoàn Trường Sơn bây giờ. Tôi cũng nghiệm ra rằng: Thật chẳng dễ làm người lính Trường Sơn hôm nay? Lâu không trở lại binh đoàn, lần này đi công trường với An - bạn tôi là kỹ sư cầu đường, anh bảo: - Này Minh, viết về người lính xây dựng Trường Sơn! Không dễ dâu nhá - vẫn cái giọng bỗ bã, oang oang - cậu đi nhiều, viết khỏe nhưng chỉ dặt một loại tin, bài phản ánh đặc xệt chất thông tấn như báo cáo tổng kết năm của bọn tớ khô như ngói. Đọc chán. Cậu thử dựng hộ chân dung bọn tớ xem? - Chịu. Bọn các anh "sừng sững" thế, em tài hèn sức mọn kham chẳng nổi. Nói vậy nhưng tôi cứ canh cánh trong lòng muốn viết một cái gì đó cho ra hồn, để hình hài, diện mạo người lính xây đựng Trường Sơn hôm nay hiện ra. An bảo: - Cậu còn nhớ ngày mới vào Đrây H'linh không? Nhớ hả. Thủy điện đầu tiên của Tây Nguyên ấy. Lòng tôi chợt lắng lại. Mới đó mà đã mười lăm năm. Ngày ấy, tôi và An còn trẻ lắm. Dường như chúng tôi ăn không biết no, sống không biết khổ, chưa biết yêu nhưng có cái lãng mạn, say mê của tuổi trẻ. Tôi lặn lội về sư đoàn 470, vừa để viết bài vừa để thăm An. Cuối mùa mưa, sông Sê Rê Pốc vẫn còn nhiều nước. Đứng từ xa nhìn thác Đrây H'linh đổ xuống mềm như một dải lụa bạc, phơi giữa nền xanh ngàn ngạt của trời cao, của núi rừng Tây Nguyên. Mặt trời lên hơi cao, nắng không gắt lắm, ánh nắng xiên xiên chiếu vào khoảng bụi nước đang mù mịt bốc lên ở đáy thác. Ấy là lúc cầu vồng Cửu Sắc hiện ra: Đỏ, trắng, da cam, lục, lam, chàm, tím... Lung linh. Huyền ảo. "Người Ê Đê kể rằng: Ngày xưa, có một người con gái tên là H'linh ở bên này sông yêu một chàng trai bên kia sông. Người Ê Đê ở hai bờ sông vốn sẵn mối bất hòa nên cha mẹ hai người ngăn cản mối tình của họ. Mùa khô nàng H'linh thường trốn nhà vượt thác sang với người yêu, mùa mưa họ chỉ biết đứng ở đôi bờ nhìn sang nhau vời vợi. Một lần cha chàng trai bắt gặp con mình đứng bên bờ thác, ông tức giận nhốt chàng trai ở nhà. Nàng H'linh cứ đứng chờ ngày này qua ngày khác mà không thấy người yêu. Nhớ nhung khắc khoải, thương yêu cháy lòng, nàng không chịu được, vượt thác sang bờ bên kia. Thác dữ gầm gào, kêu muốn nuốt chửng và cuốn nàng H'linh xuống vực. Chàng trai đau đớn, thương tiếc người yêu và căm thù thác dữ. Cứ ngày ngày, chàng bạt đá, phá thác, lấp vực. Một ngày kia, đỉnh thác bằng như cái sân lớn, thác nước không gầm gào, dữ dằn mà êm dịu. Thác đổ dài mềm mại như suối tóc nàng H'linh xinh đẹp. Bất chợt chàng thấy nàng xõa tóc dài dưới thác nước, cất tiếng gọi: "Chàng ơi!" Chàng đã lao xuống với người yêu. Ân hận, tiếc thương mối tình của đôi trai gái. Dân làng Ê Đê hai bờ sông không thù hận nhau nũa. Họ lấy tên nàng H'linh đặt tên cho thác. Chuyện kể nhuốm màu huyền thoại, lính binh đoàn Trường Sơn ai cũng thuộc. Câu chuyện huyền thoại này đã giúp họ mót phần vượt qua những tháng ngày nhọc nhằn gian khó.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #144 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2010, 05:09:32 pm » |
|
Đrây H'linh chỉ có một nhà máy thủy điện nhỏ 500KW, cách xa thác, xây từ thời Pháp. Thành phố Buôn Ma Thuột lớn nhất Tây Nguyên sập sùi, heo hắt đang cần điện. Vẫn lại cuốc, xẻng, xà beng.thuốc nổ... như thuở Trưởng Sơn, rồi máy khoan hơi, xe xúc cùng người lính "vào trận".
Lúc ấy, An mới tốt nghiệp trường trung học cầu dường. Một đôi dép đúc còn giữ lại từ hồi vượt sông Bạc, một chiếc ba lô tòng teng sau lưng, một quyển sổ tay ghi nhật ký, chép dăm bài thơ làm dang dở, chữa choe choẹt. Lính trung đoàn 4 đêm ngủ lán, ngày ra hiện trường đào hố móng, xây nhà máy thủy điện trên nền đá cứng. Cũng là đá, nhưng hình như đá ở Đrây H'linh cứng hơn đá nơi khác. Đá màu gan gà, lỳ, chối và sắc như lưỡi dao. Mỗi khi nhớ lại cái hố móng phải đào sâu hơn 20m, rộng 40m, chu vi nửa cây số là tôi lại thấy kinh sợ với sức làm việc của những người lính binh đoàn.
Làm Đrây H'linh cái thiếu đầu tiên là cát. Cát mà chở từ đồng bằng lên thì "tiền cá quá tiền cơm", "một tiền gà ba tiền thóc", giá thành rất cao: Thôi thì đành cử mấy đại đội lên đầu nguồn sông Sê Rê Pốc, trằn mình dưới nước vét từng vốc cát một. "Cái khó cũng ló cái khôn"; họ đóng cọc sát bờ, buộc cây luồng con vào kiểu như "cần giã gạo", như cần cẩu. Lính tráng ngụp lặn vét từng vốc cát một bỏ vào thúng treo ở ngọn cây luồng cho người ở trên bờ ấn gốc đẩy “cần giã gạo", cẩu thùng cát lên bờ. Ròng rã suốt 2000 ngày đêm giữa rừng già, đào đá, moi cát, lắp máy; cuối cùng cũng xây dựng xong nhà máy thủy điện đầu tiên ở Tây Nguyên.
Lúc mới đến thì âm u, heo hút, đêm đốt đuốc, thắp đèn, đến lúc điện bùng sáng thì lính tráng lại khăn gói đi đến những công trình mới. An bảo tôi: "Vẫn vui". Gọn lỏn và chắc nịch, giọng nói không hề than vãn, tiếc nuối.
Rồi An lại kể: "Đêm đầu tiên đến đã kịp làm lán đâu, võng cũng không có, đành bảo nhau trải lá cây rừng nằm tạm. Đứa gối đầu tay, thằng kê ba lô bẹp dưới gáy. Đi đường mệt quá ngủ li bì. Nửa đêm về sáng thấy lành lạnh, nhồn nhột ở gáy, rồi cứ thấy như có vật gì mềm mềm gia giá kê gáy, nâng đầu lên. Cầm đèn pin bật, soi. Trời đất ơi? Một con trăn to bằng bắp chân đang luồn dưới gáy ba thằng mà vẫn ngáy. Hét toáng lên. Hoảng hồn, khúc đuôi ở ba cái gáy, khúc đầu ở ba cái cổ. Rồi vặn mình quấn luôn ba cái cổ lại và ... rút, thì có khác gì cả lũ cùng thắt cổ chung một thòng lọng tự tủ. Lúc hoàn hồn thì nó đã chuồn đi mất. Chỉ còn lại là đêm đen hoang sơ, rộn ngợp của rừng già nguyên sinh.
Vậy đó lính Binh đoàn Trường Sơn đã sống như thế, đã làm việc như thế. Không còn nàng H'linh xinh đẹp chết vì thác dữ nữa. Mà còn lại một nhà máy thủy điện bề thế sừng sửng như tượng đài do người lính xây dựng Trường Sơn tạc vào Tây Nguyên xanh, thắp sáng cả vùng Buôn Mê Thuột, đẹp rực rỡ như nàng H'linh huyền thoại.
Nghĩ đến lính Sư đoàn 470 của An làm thủy điện Đrây H'linh có lúc tôi cảm thấy ớn lạnh, vừa cảm phục vừa tin yêu. Nhưng Đoàn 565 đào đường hầm ở thủy điện sông Đà cũng ghê gớm. Dạo ấy, tôi bảo An: "Em vừa đi sông Đà tháng trước. Lính ở đó vất vả nhưng kiên cường lắm". An thoáng một chút trầm tư: "Lính binh đoàn này ở đâu cũng thế thôi. Đoàn 565 còn vào cuộc trước cả bọn tớ. Từ năm 1976 các hắn đã thi công đường hầm rồi".
Tôi kể cho An rằng: Khi lính của An đào hố móng ở Đrây H'linh thì lính 565 cũng đã chui sâu vào đường hầm. "Chà" Thắng cùng học với An, trước ở d392 đã về d đường hầm rồi. Anh Vĩnh cũng đã lên e phó kỹ thuật nhá. Gặp Thắng khiếp, không nhận ra nữa. Hắn vừa chui ra khỏi miệng cửa đường hầm. Mặt mày xám ngoét, bụi xi măng đậu vào lông mày, lông mũi, lông mi và đầu tóc bạc trắng chỉ còn hai con mắt nhắm mở, nhắm mở.
Trong đường hầm thay nhau bốn ký một ngày cũng không chịu được. Ở đây dưỡng khí thiếu, rất khó thở. Tiếng ồn cho máy cào, xúc, tiếng rít ghê răng của máy khoan, tiếng chát chúa của búa đập, rồi chất độc, khói thuốc nổ, độ ẩm ướt.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #145 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2010, 05:10:15 pm » |
|
Dù đầu óc có sức tưởng tượng bay bổng bao la đến đâu An cũng không hình dung nổi công việc ở đường hầm sông Đà. Người ta ví thi công đường hầm như là người trần làm việc dưới âm phủ vậy. An không thể thấy người lính cong người ngửa mặt tay cầm máy phun vữa bê tông vào đá làm vỏ vòm hầm. Những hạt bụi vữa xi măng li ti như sương mù bay vào kẽ đá nứt và cũng sẽ bay vào mắt, mũi, vào phổi.
Rồi người lính phải treo mình chênh vênh trên vòm đá làm cốt thép đổ khung cho vòm hầm. Rất có thể bất chợt đá cựa mình, sụt cả mảng lớn lấp kín một đoạn đường hầm vừa mới khoan. Sự sống và cái chết dường như gang tấc, còn ghẻ lở, hắc lào, đau mắt hột, thấp khớp, các bệnh về phổi, hoành hành nữa chứ.
An nghe kể gật đầu, tấm tắc khen: "Kiên cường! Kiên cường thật". Tôi bảo: "ấy là cái chất của Trường Sơn xưa hun đúc dồn vào lính Trường Sơn hôm nay". Dạo đó người ta phải gào" lên: "Cao độ 81 hay là chết???". Mà chết thật, chết không phải một người mà hàng vạn người. Đỉnh lũ cao vào khoảng tháng 8 âm lịch, nếu không vượt quá cao độ 81, nước thượng nguồn đổ về 9 tỷ m3 đầy ắp lòng hồ. “Nhất thủy, nhì hỏa", nước tràn qua cuốn tung con đập đang oằn mình dang dở ấy thì cả đồng bằng Bắc Bộ trôi ra biển Đông. Thế cho nên hối hả, gấp gáp, cả đoàn 565 cả công trình thủy diện sông Đà không có đêm, chỉ có ngày, không ngưng nghỉ, dừng lại.
- Cậu đã đến Khau Co chưa - An đột ngột hỏi tôi.
- Lính 391 làm chứ gì. Cái "cửa gió ấy" em đã ở cả tháng.
An bảo:
- Tớ bái phục lính Sư đoàn 391. Ròng rã 7 năm trời xẻ đèo Khau Co.
Tôi biết làm tuyến đường 279 (Biểu Nghi, Quảng Ninh - Tây Trang, Lai Châu) dài gần 1000 cây số còn có các Sư đoàn 473, 344, 334, 472 và lữ 38 nữa.
Đầu đông năm 1987, tôi theo nhà biên kịch quân đội Minh Lợi lên Khau Co làm bộ phim “Mười năm vì Tổ quốc”. Khau Co có nghĩa là "Cửa gió". Đó là cái hẻm núi và cũng là đỉnh đèo đi xuống chân đèo hai bên là những đường rích rắc dài gần 20 cây số vắt qua dãy Hoàng Liên Sơn có ngọn Phan Xi Păng hùng vĩ.
Mùa hè cũng như mùa đông, Khau Co quanh năm heo hắt, hun hút gió và xa vắng bóng người. Người Thái Tây Bắc bảo: Chỉ có đàn ông to khỏe lực lưỡng mới dám trèo sang chân đèo phía Đông Bắc lấy bông lau về làm đệm. Lúc chúng tôi đến, công trường xẻ đèo Khau Co đang thời cao điểm. Đứng trên đỉnh đèo nhìn về phía Đông Bắc, gió mùa đang về cuồn cuộn dưới chân đèo như bão. Nhưng sườn phía Tây Bắc nắng vẫn còn dát vàng như mật ong. Đôi khi ánh nắng chiếu qua những kẽ hổng của đám mây tạo thành những hoa nắng đẹp, rực rỡ hoặc các hình thù rất kỳ dị ngay dưới chân đêm Đông Bắc.
Lán trại của lính binh đoàn dường như không che nổi cái giá lạnh của mùa đông. Con gái thì đội mũ biên phòng sùm sụp, con trai thì đất lửa. Họ vừa sưởi vừa làm đường. Có đoạn vách ta luy phải bạt cao đến gần 40m, trông ngược lên chóng cả mặt.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #146 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2010, 05:11:19 pm » |
|
Xẻ đèo Khau Co phải làm từ chân đèo làm lên theo các đường rích rắc. Khi làm đoạn trên, đất đá lại lăn xuống đoạn dưới đã làm, nhiều lần phải xúc, dọn tốn công sức vô kể. Nhưng khủng khiếp nhất ở Khau Co là khi làm ở "Cửa gió" đúng lúc gió mùa Đông Bắc tràn về. Dường như bức tường thành đá núi Hoàng Liên Sơn chặn đứng gió mùa Đông Bắc che chắn cho cả một vùng Tây Bắc mênh mông. Không lối thoát, gió góp lại to như bão thoát qua "Cửa gió". Gió lạnh quật vào đá sàn sụt mài mòn cả đá núi.
Lính xây dựng Trường Sơn làm ở “cửa gió" không dám đứng ngược chiều gió thổi, bởi mở mắt ra gió thổi vào là đứt kẹ, chảy máu mắt. Đêm, chúng tôi ngủ lại lán bộ đội ngay dưới chân đèo, thỉnh thoảng lại nghe thấy tiếng đá nứt, lở, lăn từ đỉnh đèo xuống mà tim cứ thon thót đập. Sáng ngủ dậy, cả đại dội giọng khản đặc không nói được với nhau, phải ra hiệu.
Làm Khau Co 7 năm trời mới xong được 17 cây số đường đạo thì cũng mất 17 người lính can trường nằm lại nơi Cửa gió. Và Khau Co chỉ là một trong hàng chục "trọng điểm" trên tuyến đường Biểu Nghi, Quảng Ninh - Tây Trang, Lai Châu để người lính binh đoàn Trường Sơn tôi luyện, thử thách giữa thời bình.
"Dường như các công trình ở vùng sâu, vùng xa, nơi núi rừng heo hắt "khó khăn" như: đập thủy lợi Phe Luông, Nậm Công, hồ chứa nước Sông Dinh, đường Na Lung - Trượng Lâm, Đồng Biến, Nhường Phèn... là đều in dấu chân người lính Binh đoàn. Những nơi heo hút "ma thiêng, rừng xanh nước độc” đó các công ty xây dựng ở thành phố lảng tránh, sợ lỗ, có khi làm rồi còn bỏ, là lại đến tay người lính xây dựng Binh đoàn Trường Sơn.
Tôi có xem một bức ảnh của nhà nhiếp ảnh quân đội Hoàng Như Thính chụp người lính Công ty 99 mặt rạng rỡ dính mồ hôi và bùn đất. Bức ảnh được giải vàng quốc tế ấy là cái lúc các anh làm đường Bắc Thăng Long - Nội Bài ở đoạn gian khó nhất: đến Vân Trì. Anh Mai Duy Chịng, Nguyễn Vãn Khéo, Nguyễn Trọng Sinh trực tiếp chỉ huy thi công ở đấy.
Theo thiết kế, cứ đổ cát xuống đầm làm nền đường, cát sẽ đẩy bùn ra. Song thực tế đẩy làm sao hết bùn. Nếu cứ làm thế cũng chẳng sao. Nhưng lòng dằn vặt, chất lượng công trình thấp sẽ ảnh hưởng đến uy tín binh đoàn. Dù có khó khăn lớn, tốn sức hơn vẫn tát cạn nước, vét sạch bùn. Đầm nước đã cạn rồi còn toàn bùn lầy có chỗ sâu tới một mét.
Mênh mông bùn, chỉ nhìn thì cũng thấy rợn người. Lính tráng làm không kịp thì thuê thêm dân, thêm bộ đội, càng đông càng tốt, lấy sức người đông múc từng vốc, từng xô bùn. Lính Công ty 99 gọi đùa là "chiến dịch ruồi bâu” trên đầm lầy. Mùa đông lạnh, chiều 29 tết rồi, tôi đi qua mà vẫn còn thấy bộ đội ngụp lặn ở dưới đầm vét bùn.
Anh Khéo lúc đó là trung đoàn phó, sau này nói chuyện với tôi, anh bảo: "Tết nhất đến nơi rồi vần còn cúi mặt xuống đầm, ngẩng lên nhìn trên đường trai gái mặc áo quần rực rỡ về quê đón xuân. Rồi người, rồi hoa đào, quất cảnh nối đuôi nhau về nội thành, lòng cứ thấy nao nao. Mình đã thế, còn anh em lính trẻ. Thương lắm. - Nhưng khi công trình hoàn thành Nhà nước cấp bằng chứng nhận chất lượng vàng thì mới cảm thấy ý nghĩa của những ngày trằn mình vét bùn là sáng suốt".
Thiếu tướng Đỗ Xuân Diễn, tư lệnh binh đoàn vốn là lính cũ của Đoàn 559, ông có mặt ở Trường Sơn từ năm 1963, cái thời ấy còn "đi không dấu, nấu không khói", "tránh dân lánh địch" mà đi rồi gắn bó với binh đoàn suốt từ dó đến nay.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #147 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2010, 05:11:58 pm » |
|
Cuộc đời binh nghiệp và xây dựng các công trình của ông gắn với những bước thăng trầm của binh đoàn. Năm 1989, khi ông mới lên làm tư lệnh, binh đoàn hạch toán toàn phần và còn được là Tổng công ty xây dựng Trường Sơn. Họ biết lính quân đội chỉ quen làm đường chiến tranh, quen được "nuông chiều” thời bao cấp. Giờ đối mặt với cạnh tranh, với cơ chế thị trường, chịu sao nổi. Anh đừng nhận, ông chăm chú nghe, lặng lẽ học, lặng lẽ làm bây giờ gặp tôi đi công trường với An, ông "kéo tuột" tôi đi thăm Bảo tàng đường Hồ Chí Minh. Tôi bị cuốn hút bởi kiến trúc lạ, độc đáo của Bảo tàng. Những tranh ảnh, hiện vật... một thời không xa như có hồn làm sống động lại một Trường Sơn xưa. Và tôi cũng hình dung được những dấu chân binh đoàn sau chiến tranh làm các công trình ở mọi miền Tổ quốc.
60 công trình trọng điểm. Vậy 60 tượng đài hùng vĩ mà người lính xây dựng Trường Sơn đã tạo lên mình Tổ quốc trong 20 năm qua. Còn những công trình vừa, nhỏ lẻ khác thì không thể nào thống kê hết. Tôi hỏi tướng Đỗ Xuân Diễn:
- Thưa tư lệnh! Từ thời bao cấp sang cơ chế thị trường tôi biết binh đoàn rất lao đao. Nhưng không hiểu có phép nhiệm màu kỳ diệu nào mà binh đoàn đứng vững và phát triển được.
Ông nhíu mày, một thoáng ưu tư rồi thong thả nói:
- Không phải chỉ chúng tôi lao đao mà các doanh nghiệp của cả nước cũng lao đao. Nhưng khi đã hòa nhập, nắm bắt được thì cứ thế mà tiến. Chúng tôi tồn tại, phát triển được như bây giờ là bởi còn có tấm lòng, lương tâm của người lính, bởi chất lượng công trình và uy tín của binh đoàn.
Có thể còn nhiều bí quyết nữa mà ông không tiện nói ra. Tôi biết sau chiến tranh, người lính Trường Sơn lại làm tiếp các công trình bằng gia tài vật chất, bằng dụng cụ: cuốc, xẻng, xà beng, thuốc nổ... cao hơn nữa là máy ủi từ thời mở đường Trường Sơn, và sống bằng đồng phụ cấp quân đội. Đất nước công nghiệp hóa - hiện đại hóa, các doanh nghiệp, tham gia cơ chế thị trường thì cần phải có "cuộc đại cách mạng" về kỹ thuật, quản lý thi công và cơ sở vật chất, trang bị... Nhưng với người lính thì làm kinh tế trong cơ chế thị trường còn khó khăn hơn, chọn những gánh nặng cực nhọc hơn.
Đại tá, Nguyễn Bá Tòng, Bí thư Đảng ủy binh đoàn nói với tôi bằng một câu rất gợi, đầy hình tượng, anh bảo: "Doanh nghiệp quân đội cạnh tranh với doanh nghiệp bên ngoài như một cuộc chạy ma ra tông, cùng điểm xuất phát, cùng cự ly. Nhưng trong cuộc thi này người lính xây dựng kinh tế quân đội còn phải đeo thêm một cái ba lô nữa".
Tôi ngẫm lời anh Tòng mà thấy chí lý quá: Cái ba lô ấy là giờ giấc, kỷ luật thép quân đội, là nhiệm vụ xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, là dù Tổng công ty không tìm được việc làm, bộ đội vẫn phải được trả lương trả phụ cấp, là chính sách xã hội...". Ví như Sư đoàn 384 ở Lào về, làm xong thủy điện Tà Lam là hết việc làm, nhưng có để bộ đội không lương đâu. Binh đoàn lấy lương dự trữ ra bổ sung, anh em không nhận còn bảo: "Chúng tôi cũng là đơn vị xây dựng kinh tế, đơn vị khác làm ăn được, chúng tôi cũng làm được". Thế là cùng nhau tự đi bằng đôi chân của mình, bằng cả danh dự của người lính nữa.
Tôi đã nhiều lần đi lại trên đường 5, gặp lính Tổng công ty xây dựng Trường Sơn trúng thầu thi công đoạn km 30 km 47 và km 47 - km 62 theo tiêu chuẩn quốc tế AASHTO. Tôi đã giật mình tự nghĩ: Ghê gớm thật? Lính binh đoàn làm được cả những việc này sao. Làm với tư bản chẳng thể lơ mơ được, không khéo vỡ nợ như chơi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #148 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2010, 05:12:40 pm » |
|
Hôm làm việc với đại tá, kỹ sư Phạm Văn Sang, Phó Tổng giám đốc thì càng thấy những điều mình nghĩ là có cơ sở và cũng nhận ra được tầm vóc binh đoàn hiện nay. Anh Sang quẳng cho tôi hồ sơ thầu làm đường 5 toàn tập 5 quyển dày cộp, mỗi quyển đều 400 trang, chi chít tiếng Anh và những ký hiệu mà người ngoài nghề nhìn vào choáng ngợp như đi trong rừng rậm, anh bảo: - Đó. Muốn trúng thầu quốc tế, trước hết phải đọc cả 5 quyển này, hỏi và đi thực địa rồi sau đó mới về làm hồ sơ thầu. Nghe anh Sang kể về "cái sự đấu thầu quốc tế”, tôi toát cả mồ hôi hột. Gian truân lắm. Làm ra "đồng tiền bát gạo", bằng bàn tay trí óc của mình thật chẳng dễ. Tôi hỏi: - Cái khó nhất khi đấu thầu quốc tế là gì? - Là xác định giá hợp lý (sát giá) để làm được. Tính toán phải thật giỏi. Đấu thầu rẻ quá là không có cơ sở khoa học. Ai tin? Trượt là cái chắc. Nếu có trúng, làm không đủ tiền trả lương, khấu hao máy móc... Đấu thầu đắt quá là cũng trượt... Tôi cũng biết ngay cả khi đã trúng thầu sát giá rồi thì lại phải lo quản lý, điều hành thi công cho đúng tiến độ đạt chất lượng... không bị phạt. Phạt mãi thì cũng lỗ. Vỡ nợ. Lúc cao điểm, binh đoàn phải huy động lực lượng tối đa. Ví như công trình đường 5 cần thì điều ngay máy móc, trang bị, con người từ Tây Nguyên, Nam Bộ ra, từ Lào về, từ Quảng Ninh xuống. Đó là kỷ luật sức mạnh quân đội, là chất lượng công trình là uy tín của binh đoàn, cứ làm đã tiền nong tính toán với nhau sau. Chứ doanh nghiệp ở bên ngoài, cùng Tổng công ty đấy nhưng điều máy móc, con người lúc gấp gáp, cao điểm còn thương lượng, bàn bạc chán. Có lẽ chỉ người lính và kỷ luật quân đội mới có tác phong làm kinh tế nhanh thế. Cuối năm 1996, tôi đi trại viết văn Đồ Sơn về, thấy lính binh đoàn cắm cọc bấc thấm xuống nền đường trắng xóa. Hỏi ra mới biết các anh xử lý nền đất yếu theo kỹ thuật mới, cứ một m2 cắm 4 cọc bấc thấm, mỗi cọc sâu khoảng 20m để thấm nước giữ kết cấu nền đường. Yêu cầu kỹ thuật cao thì những binh đoàn đâu có máy cắm cọc bấc thấm, hỏi mua lại máy cũ của Đài Loan đang nằm nghỉ chềnh ềnh ở bên họ đòi những 142.000 đô la, trả đến 135.000 đô la vẫn lắc đầu. "Cái khó ló cái khôn", mới bàn nhau mua hẳn máy xúc KOBECO của Nhật chỉ có 72.000 đô la. Rồi đặt gia công đầu cắm trong nước. Tháo gầu xúc ra, dùng lực của máy xúc ấn xuống. Một công đôi việc, khi không cắm bấc nữa thì máy xúc lại làm công việc của máy xúc, vừa rẻ, tiết kiệm được bao nhiêu tiền của mà vẫn bảo đảm kỹ thuật, tiến độ thi công, làm đường 5 theo tiêu chuẩn quốc tế (AASHTO) rất cao. Tổng công ty phải thành lập một Ban Quản lý điều hành riêng đoạn km 30 - km 47 do đại tá kỹ sư Mai Duy Chinh làm Giám đốc. Kỹ sư Trương Đức Giới bảo tôi: - Không đơn giản là đổ đất, đầm lu dâu, anh ạ. Đất đá cát phải đạt độ ẩm tiêu chuẩn, hơi ướt một tí là càng lu mặt đường càng dập dềnh như cao su. Đang làm gặp mưa là khốn nạn, sẽ phải càng lên phơi hoặc xúc đi thay vật liệu đủ độ ẩm vào làm lại. Còn chuyện giải phóng mặt bằng mới cơ cực làm sao. Công việc ấy là của chủ đầu tư (PMU5) cơ. Mặt bằng đã giải phóng chỉ là trên giấy tờ, khi bắt đầu làm thì vẫn còn đường dây cao thế đứng ngạo nghễ như thách đố, đường dây thông tin cáp quang, đường ống nước chui ngầm trong lòng đất. Còn lúa đang sắp vào vụ gặt, nỡ lòng nào bộ đội phá lúa của dân. Nhưng bất ngờ nhất là đào nền đường bắt gặp 230 mộ vô chủ nằm có hàng, có lối ngay ngắn chìm sâu trong lòng đất, chẳng biết chôn cất từ đời nào mà dân địa phương cũng không hay. Thế là lại phải cất bốc, hương hoa. Loay hoay mãi nửa tháng là hơn 200 hài cốt vô danh vẫn phải nằm nơi dương thế. Lính binh đoàn phải phủ vải địa kỹ thuật trắng xóa, che ánh mặt trời và đêm đêm thức trông nom những linh hồn đã khuất. Sấp ngửa chạy đi, chạy lại mãi mới lo xong thủ tục mới mua được đất làm nghĩa địa đưa 230 tiểu sành về với đất. Lính, Tổng công ty xây dựng Trường Sơn là vậy. Đại tá Thái Sầm, chủ nhiệm chính trị nói rằng: "Còn nhiều việc tương tự như thế mà người lính chúng tôi đã làm. Lúc ấy là lương tâm, là nghĩa tình, là đạo lý chớ phải đâu tiền bạc bán mua?". Tôi ngẫm lời anh Sầm mà càng thấy sâu xa. Phải chăng tầm vóc Tổng công ty "sừng sững" như hôm nay có một phần do lương tâm người thợ lính mà nên. Bây giờ thì công trình đường 5 làm theo tiêu chuẩn quốc tế đã xong, 6 công trình đấu thầu quốc tế nữa cũng đã hoàn thành. Những tháng ngày gian khó nhọc nhằn, có mất mát hy sinh, có cả sự khốc liệt "dấn thân" vào cơ chế thị trường nữa, họ sẽ không quên. Đi trên con đường lớn, đứng trên công trình trọng điểm lớn tự mình làm ra mới sung sướng làm sao, tự hào làm sao. Những người lính Binh đoàn 12 (Tổng công ty Trường Sơn) lại nhớ về một thuở Trường Sơn xưa... và họ sẽ lại bước tiếp trên con đường mới với một Trường Sơn hôm nay. Tháng 3 năm 1999 Trại viết văn Binh đoàn Trường Sơn S N.M
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #149 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2010, 05:14:24 pm » |
|
NHÀ VĂN TRÊN ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH HỒNG DIỆU Đến với đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh Lịch sử - có một đội quân khá đặc biệt, mà chiến sĩ là những người hoạt động văn học nghệ thuật nói chung, các nhà văn nói riêng (ta hiểu, nhà văn gồm cả người viết văn xuôi, người làm thơ...). Họ thuộc đủ các thế hệ, từ những người sáng tác trước Cách mạng tháng Tám, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đến những người viết trẻ trưởng thành ngay trong khói lửa của những năm kháng chiến chống Mỹ. Họ là những nhà văn đủ các lứa tuổi, đánh giặc bằng cây bút là chủ yếu, hoặc cũng có thể là người lính chiến thực thụ được thực tiễn kháng chiến đào tạo, trở thành nhà văn ngay từ trong công việc chiến đấu và phục vụ chiến đấu của họ, trên con đường ấy. Ta có thể nhìn lại và thấy rất rõ những nhà văn - chiến sĩ này. Làm thơ từ gần bốn chục năm về trước, đến 1973, trong một chuyến đi trên đường Hồ Chí Minh, nhà thơ Tố Hữu có bài thơ dài “Nước non ngàn dặm”. Ở đó, khí phách hiên ngang của con đường, dũng khí của những người lính, sức mạnh của kháng chiến hiện ra với nhiều cung bậc, nhiều sắc thái. Chính ở đây đã nảy sinh những ý thơ, những câu thơ vào loại hay nhất trong kháng chiến chống Mỹ, và cũng là những ý thơ, những câu thơ vào loại hay nhất của Tố Hữu. Thơ mộng và đẹp như cảnh: Trường Sơn mây núi lô xô Quân đi, sóng lượn nhấp nhô bụi hồng. Hồn nhiên và lạc quan như cảnh: Mấy chàng lính trẻ măng tơ Nghêu ngao gõ bát hát chờ cơm sôi. Dữ dội và tự hào như cảnh: Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương lai. Nhà thơ Huy Cận, trong nhiều bài thơ, nhìn đường Hồ Chí Minh từ những góc độ khác nhau, và có lần đặc tả cây cối Trường Sơn trong cảnh bom đạn tàn phá - mà ở đây cây không chỉ là cây, cây còn là hình ảnh tượng trưng cho con người, cho kháng chiến: Xương của rừng già, cây cháy rang Ngang thân bom chém vẫn nguyên hàng Vỏ xanh bong hết, còn trơ lõi. Cành trụi càng cao giữa nắng chang . Nhà thơ Tế Hanh, đầu năm 1975 mới có một chuyến đi lâu ngày trên đường Hồ Chí Minh, đã để cảm xúc của mình đi theo "mùa xuân" của người chiến sĩ ở đây, với “trăng rừng" và cây cối, cỏ hoa ở đây, với những em học sinh trong một trường học và những người lính ở khu kinh tế vùng mới giải phóng, và với cả những liệt sĩ ở một "nghĩa trang giữa rừng". Nhà thơ đã dùng một thứ thơ nhật ký cốt ghi lại cảnh và người lần đầu được gặp chiến trường. Chẳng hạn, một trạm đón tiếp "dựng giữa rừng sâu - Cạnh dòng con suối lớn" mà ở đó "các đoàn vào đoàn ra - Được chăm nom từng bữa - Người ốm yếu tuổi già - Nước đun sôi tắm rửa". Cán bộ, chiến sĩ gái trai ở đây thì: Mỗi người một tâm sự Kẻ nhớ vợ nhớ con Người mong tin cha mẹ... Nhưng cùng chung lý tưởng Quyết phục vụ chiến trường Đến bao giờ hết giặc. Trở về với quê hương
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|