NGÀY NÀY 35 NĂM TRƯỚC- 26.3.1975Chúng tôi tiếp tục trụ lại ở bên phía nam phà Thuận an. Ngày hôm nay, dân chúng Huế vẫn lũ lượt kéo về thành phố. Chúng tôi được biết có đến 2 phần 3 dân Huế đã rời thành phố "dạt" về đây. Qua trò chuyện với họ chúng tôi được biết họ chạy khỏi thành phố không phải vì "sợ" Việt cộng mà do họ sợ sẽ bị Mỹ đánh phá như hồi Mậu Thân 68 mà thôi. Đã nghe nhiều về người Huế nên những ngày này cũng là dịp để cánh lính trẻ chúng tôi để ý xem giữa tiếng đồn và sự thật có giống nhau không?. Quả thật, đằng sau những bộ quần áo tồi tàn, đằng sau cái vẻ lam lũ của những ngày ăn ở tạm bợ và nỗi vất vả lo toan- cái "chất Huế" dịu dàng, sâu lắng vẫn hiện ra trong từng câu nói, từng dáng vẻ. Nhưng nói cho công bằng, gương mặt và nước da con gái Huế không đẹp cho lắm

.
Tranh thủ lúc rỗi rãi bọn tôi bắt đầu khám phá các thứ xung quanh. Nơi đầu tiên mà tôi để ý là trạm viễn thông. Lần đầu tiên tôi thấy một cái ăn ten cao như vậy, theo ước lượng của tôi nó phải cao hơn trăm mét. Để cho nó đứng vững người ta phải dùng rất nhiều dây néo. Một con đê rộng độ 3 mét được đắp thành một vòng tròn đường kính gần 1 km. Trên đó, cứ cách 1 quãng lại có 1 trụ bê tông to như cái lô cốt. Từ những trụ này là bó dây cáp để chằng néo cái cột kia. Ngay gần lề đường là một cái nhà xây khá đẹp theo kiểu nhà sàn đứng trên các cột bê tôn- đó chính là nơi trực máy thì phải. Chúng tôi phá cửa vào và hoa mắt lên vì các loại máy móc và cả… ảnh khỏa thân của gái Mỹ dán đầy tường

. Trong ngăn những cái tủ sắt là cơ man đèn bán dẫn. Những cái đèn bán dẫn dự phòng còn sáng bóng, ba- bốn chân vàng óng còn dài nguyên được đựng trong những hộp nhựa dẹt bằng hai ngón tay. Chẳng biết công suất nó thế nào nhưng mấy thằng bọn tôi đều làm một vốc đút túi (về để lắp đài )
(Năm 2005 quay lại Thuận an, ngôi nhà và bờ đê thì vẫn còn nhưng cột ăn ten thì không còn nữa).
Chiều hôm đó chúng tôi tranh thủ kiểm kê số phương tiện chiến tranh địch bỏ lại trên đầu bến phà. Thật không thể tưởng tượng nổi- chỉ riêng xe tăng, xe bọc thép đã 54 cái; ngoài ra còn hàng chục xe kéo pháo, xe tải, xe con các loại. Lực lượng này mà quyết tâm chống trả thì 4 cái xe T59 và 20 tay súng bộ binh kia có "bõ bèn" gì.
Với máu mê con nhà kỹ thuật, chúng tôi mày mò tìm hiểu về xe tăng Mỹ. Quả thật xe của chúng có rất nhiều ưu điểm so với xe tăng ta- nhất là về hệ thống điều khiển. Cái xe M48 nặng đến gần 50 tấn nhưng được điều khiển bằng vô- lăng nhẹ nhàng như lái ô- tô; chả bù cho cần lái của chúng tôi lúc nào cũng 40, 50 cân kéo rã cả cánh tay. Tuy nhiên sức mạnh hoả lực của nó lại kém- to xác như vậy nhưng chỉ lắp pháo 90 ly, thua hẳn anh pháo 100 ly của bọn tôi về mọi mặt.
Trong số xe pháo địch bỏ lại có một số xe hậu cần. Thế là chúng tôi có thêm vô số gạo sấy, thịt hộp… để dùng. Có cả thuốc lá Ruby Queen và Cotab. Chỉ xót ruột vì bói cũng không ra rau. Vụ này chắc quê PQ bên bờ Bắc đỡ hơn vì có dân

Buổi tối hôm đó, trên đầu bến phà người dân đi lại cũng đã ít hơn, bọn tôi ngồi trên tháp pháo tán gẫu. Ngay bên cạnh xe là mấy con chó đang tranh giành nhau một cái gì đó. Thằng Trực cao hứng: “Lâu lắm không được ăn thịt chó, bắn một con đi!”. Thọ hưởng ứng ngay nhưng TX Luông gạt đi: “Mấy hôm nay quanh đây chắc khối xác lính chết. Ai biết được bọn nó ăn cái gì. Kinh bỏ mẹ đi ấy”. Nghe Luông nói cũng phải, vả lại chúng tôi cũng đang ê hề thực phẩm nên chẳng tay nào sốt sắng với ý định thịt chó nữa. Ngứa mồm, tôi đột nhiên huýt lên một tiếng sáo miệng. Thật bất ngờ, một con chó đen trũi, to như con bê con nhảy phốc lên đầu xe ngoe nguẩy đuôi mừng rỡ. Cả xe tôi tròn mắt ngạc nhiên. Tôi lấy một thanh lương khô cho nó ăn. Nó ăn ngon lành, chứng tỏ nó đã đói khát mấy ngày rồi. Tôi đưa tay vuốt ve nó, nó để yên và chỉ ngoe nguẩy đuôi. Thế là cả xe tôi xúm vào đùa với nó, nó tỏ ra rất thân thiện. Bọn tôi kết luận đây là một con chó của lính xe tăng ngụy. Đêm hôm đó nó nằm luôn trên cái bạt phía sau tháp pháo. Từ hôm ấy, xe tôi thêm một thành viên mới. Chắc Trời thương bọn tôi nên cho nó đến thế chân con Gấu

.