Bác Simon qua QSVN tìm thấy được những người bạn chiến đấu (những người
ở chiến trường về) của người anh đã hi sinh. Có bài này em đọc thấy hay, xin phép bác Lixeta và các bác cho em post vào đây.
Ngày tôi ở chiến trường vềLao Động số 96-97-98 Ngày 30/04/2010 Cập nhật: 7:15 AM, 30/04/2010
http://www.laodong.com.vn/Home/Ngay-toi-o-chien-truong-ve/20104/182959.laodong(LĐ) - Ngày tôi ở chiến trường về... là nửa của một câu thơ trong trường ca "Đổ bóng xuống mặt trời", một câu thơ bình dị, bởi đấy là lời kể mào đầu của hầu như mọi người lính còn trở về sau chiến tranh, vậy mà được đọc một lần rồi nhiều năm sau tôi vẫn nhớ và chắc chắn là sẽ mãi nhớ.
Tôi không biết thơ là thế nào và thế nào là thơ, nhưng cũng như mọi người, chạm được vào một câu thơ hay thì tôi cảm nhận được ngay rằng đấy là thơ hay.
Ngày tôi ở chiến trường về hàng xóm quanh tôi/vui buồn nước mắt/Trưa mùa hè chẳng gió mà biển cả rền vang/Em gái tôi cười đẫm tà áo trắng.
Thơ thì của nhà thơ Trần Anh Thái, mà âm vang của những câu thơ ấy lại như là tiếng lòng tôi.
Trong thơ là ngày trở về của một người lính miền quê duyên hải, song cũng chính là cảnh trở về của những người lính Hà thành.
Hàng xóm khăn tang nép phía góc đường/Căn nhà cha tôi đêm ấy đông người/Câu chuyện rầm rì sau ngọn đèn vặn nhỏ/Chiếc đài bán dẫn anh mua bằng tiền xuất ngũ/Cha cho vào ngăn tủ lặng lẽ cất đi...***
Hồi đó, hai tháng sau ngày hoà bình, khi sư đoàn rời Tân Sơn Nhất về chốt ở Thủ Dầu Một thì tôi được “giải quyết chính sách”, có lẽ như vậy là thuộc diện trở ra Bắc sớm nhất trong toàn quân. Ra theo xe của 559, tới Vinh lên tàu hoả.
Năm năm trước đó, trên đường đi B, chúng tôi rời xe lửa xuống ga Vinh, cả một tiểu đoàn. Trong đó có đến năm mươi mốt người, già nửa đại đội là trai Hà thành, nhập ngũ cùng đợt, đều vào hết B3.
Mùa thu 1975, lên tàu ngược ra thì chỉ có một mình tôi, chỉ mình tôi mà thôi. Tâm trạng của chúng tôi, toán quân giải ngũ ấy vui hay buồn, thật khó tả. Lần lượt qua các ga Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định, Phủ Lý, anh em xuống vãn dần. Trước khi rời toa, chúng tôi lặng lẽ chia tay nhau, không lâm ly uỷ mị, nhưng cũng không rộn ràng cười nói, hầu như chẳng nói gì, chỉ siết chặt tay nhau, ôm lấy vai nhau, vậy thôi, lần chót.
Tôi xuống ga Hàng Cỏ buổi trưa, một ngày chủ nhật tháng 8, trời mưa lất phất. Mặc dù từ lâu đã biết việc ga Hàng Cỏ bị bom Mỹ phá huỷ, mà nhìn thấy đống đổ nát vẫn sững cả người, tôi phải ngồi lại một hồi lâu ở sân ke để định thần. Ngôi nhà ga cũ xưa, kiến trúc rất đẹp này có quá nhiều kỷ niệm sâu nặng đối với đời tôi, nhất là vào thuở ban đầu tuổi thanh niên, nỗi bịn rịn đầu tiên, cuộc chia ly đầu tiên...
Từ ga về nhà, tôi đi qua một chặng chừng non một cây số đường Nam Bộ. Đây là một trong những phường phố tấp nập nhất Hà Nội hồi đó, nhưng so với Sài Gòn mà tôi vừa từ giã thì vẫn thật là bình lặng, gần như êm ả. Trời mưa, nhưng tôi bỏ mũ cối ra, mở cúc áo ngực, hít thở, đón nhận căng tràn hương vị thành phố thân yêu. Tôi rảo bước theo nhịp tim đập dồn.
Qua chợ Cửa Nam, rồi vừa vượt chỗ chắn tàu, tôi khựng lại bởi nghe tên mình ai đó kêu rú gọi. Một người đàn bà từ sau quầy hiệu may nơi mặt tiền nhà 44 lao ra, chụp lấy quai ba lô của tôi: “Cháu về đấy à, cháu đã về đấy à, cháu ơi !...”. Rồi từ “cháu ơi”, bà kêu lên: “Kế ơi, Kế, con ơi, bạn con về rồi đây này, con ơi, Kế...”.
Tiếng khóc dữ dội, nhưng mà như là lặng ngất. Đấy là mẹ của Kế, - bạn học cùng lớp với tôi ở trường Bưởi. Tôi nhập ngũ trước nên không hề biết rằng Kế cũng đã vào bộ đội, càng không hề biết rằng Kế đã hy sinh... Nhiều người trong nhà chạy ra đỡ lấy bà mẹ. Tôi thì cứ đứng thần ra, không nói được lời nào, nào biết nói gì, nhưng cầm lòng không đậu, cơn thổn thức rát bỏng lồng ngực.
Nhà của tôi - số 43 Hàng Đẫy, một ngôi biệt thự Tây mà từ sau cải tạo tư sản năm 1959 đã thành một cái xóm với hơn chục gia đình. Chỉ nội một cái nhà 43 thôi cũng đã góp vào cho chiến tranh đến bốn chàng trai, cô gái sàn sàn tuổi tôi. Thốt nhiên tôi thấy sợ. Sau cơn “ nước mắt ngày gặp mặt” trước cửa nhà Kế, bao nhiêu hồi hộp và mừng vui dào dạt đã sững lại.
Không chừng cả ở đây vẫn chỉ là duy nhất một mình mình, chỉ một mình mình - mà thôi - trở về. Linh cảm đau xót ấy khiến lòng tôi se lại, khiến tôi chỉ dám hé cổng sắt ra, bước vào thật khẽ, rón chân đi qua sân. Buổi trưa, trong giấc thiu thiu, ngôi nhà lặng như tờ. Mẹ tôi, cha tôi không hề hay tin tôi về, đột ngột trông thấy tôi ở ngưỡng cửa, vậy mà không reo lên, không kêu lên. Tôi ôm lấy mẹ. Mẹ tôi lặng khóc. “Bảo nó chết rồi, vừa báo tử hôm kia” - đấy là lời đầu tiên mẹ tôi nói với tôi. “Hưởng thì báo tử năm ngoái...”.
Tối hôm ấy, mẹ tôi soạn một bữa cơm thịnh soạn đoàn tụ gia đình. Có thức ăn ngon, có bia hơi, nhưng... không khí rất trầm. Cửa sổ khép lại. Đèn tắt bớt ngọn. Ngay bên kia tường là tang tóc gia đình Bảo, bên kia sân là gia đình Hưởng...
Hàng xóm mái nhà sương rơi ướt đẫm/Bão không về sao áo gối nhàu ra/Hoa vô cớ rụng giữa ngày chẳng gió/Trăng sáng chi vằng vặc chỗ không người.Tối hôm đó và nhiều ngày sau đó, lặng lẽ những ông bố, bà mẹ, người chị, người vợ bộ đội trong khu phố đến mừng cho tôi còn sống trở về. Những ngày ấy tôi rộc đi vì khổ tâm. Nào biết nói gì đây, biết an ủi thế nào. Đã ba tháng rồi, những ai còn sống qua chiến dịch cuối cùng thì đều đã có tin, vì vậy người thân của họ chưa phải vội đến tìm tôi. Đến tìm tôi toàn là ruột thịt của những anh em hoặc đã có giấy báo tử từ lâu, hoặc đến bấy giờ vẫn biệt âm vô tín, mà tôi thầm hiểu như thế nghĩa là sao.
Tôi là lính của mặt trận B3, trận mạc chủ yếu ở địa bàn Tây Nguyên, mà các ngả đường của chiến tranh, những nơi anh em mình đã nằm xuống thì khôn xiết kể: Thạch Hãn, Khe Sanh, A Sầu, Thượng Đức, Bến Cát, U Minh, Kà Tum, Mimốt, Longchẹng, Xảm thông... “Cháu có hay tin gì của thằng Đức nhà bác không cháu, có hồi nghe đồn đơn vị nó chiến đấu ở cánh đồng Chum...” ... “Thư cuối anh trai em nói đang ở Long An, anh có từng qua vùng ấy không?”.
Bất kỳ ai trở về sau chiến tranh cũng đều gặp những câu hỏi như thế, chắc thông cảm được cho nỗi buồn đau hoà bình trong lòng tôi những ngày ấy.
Cũng là vì thuộc diện được ra Bắc sớm nhất, nên trong ba lô của tôi có nhiều thư và quà của anh em quê “đất thánh” cùng trung đoàn gửi cho gia đình. Đến thăm những gia đình này thật là vui, bởi tôi mang đến cho họ niềm hạnh phúc vô bờ. Nhưng đâu phải gia đình nào cũng được như thế.
Riêng tại Hà Nội cũng có tới sáu địa chỉ mà tôi phải lấy hết can đảm để tìm tới. Thú thực, tim tôi muốn ngừng đập khi đưa tay gõ cửa nhà những người bạn đồng ngũ đó. Nhất là trước cửa nhà Thường ở đê Tô Hoàng. Thường hy sinh sáng 30.4 trong trận công kích cuối cùng ở cửa số 5 sân bay Tân Sơn Nhất, vì vậy tôi biết gia đình anh chắc chắn chưa nhận giấy báo tử.
Nhưng đồng thời tôi cũng biết chắc rằng ngay trước khi vào chiến dịch Hồ Chí Minh, Thường đã kịp gửi một lá thư về nhà. Lá thư đó hẳn là đã tới tay cha mẹ anh, thậm chí là vừa mới tới cũng nên. Mà quả nhiên là như vậy...
Giấc ngủ tôi quay vào bóng tối/Những chiếc gai đinh găm phía đầu giường/ Có gì đó như đang vỡ/Tiếng bom rơi xé rít chân trời/Thằng Bàng, thằng Nhu, anh Thư như mây xa khuất/Tôi thiếp đi tiếng gọi lạc rừng...