@ LXT: Tôi giúp quê vậy!
Những lá thư này sẽ làm các quê hiểu thêm về quê Duyệt của tôi:
Thư từ vùng giáp ranh của chàng trai Hà NộiNăm 1972 là năm chiến tranh khốc liệt trên phạm vi cả nước. Ở miền Bắc, bộ đội hầu hết đi huấn luyện dã ngoại. Tình cờ, đơn vị tôi và đơn vị của Nguyễn Kim Duyệt trú quân trong cùng một xã (Mỹ Thủy - Lệ Thủy - Quảng Bình).
Hồi ấy, tôi làm Chủ nhiệm Quân y Sở Chỉ huy tiền phương (còn gọi là Đoàn 1, hay Trung đoàn 1-tiền thân của Trung đoàn 185 anh hùng), còn Duyệt ở đơn vị xe tăng, Quân đoàn 2…
Hằng ngày, cứ sau giờ sinh hoạt tối, Duyệt lại đến chỗ chúng tôi chơi. Ngày 29-12-1972, tôi đi nhận công tác mới. Sau Hiệp định Pa-ri được ký kết, Duyệt cùng đơn vị chuyển vào Quảng Trị để bảo vệ vùng giải phóng. Thế là, tôi và Duyệt xa nhau từ đấy. Tuy không cùng quê, cũng không cùng đơn vị, lại ở hai mặt trận khác nhau, cách nhau hàng trăm cây số, nhưng chúng tôi vẫn viết thư thăm hỏi và động viên nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao.
Trong lá thư đầu tiên gửi cho tôi, Duyệt viết:
“Phía Nam Cửa Việt, ngày 6-4-1973
Anh Thao rất mến!
Anh Thao! Anh rời khỏi đất Mỹ Sơn được độ một tháng thì xe của em cũng nổ máy lên đường. Ngày chia tay tại đó thật thắm thiết. Các lái xe và gia đình đều tổ chức liên hoan rất thân mật. Em chỉ tiếc rằng, anh không còn ở đó để anh em ta chia tay nhau trong ngày lên đường ấy. Qua những chặng đường gian khổ và vất vả, xe của em đã đến nơi đây-một vùng phía Nam Cửa Việt, sát ngay khu vực kiểm soát của địch, làm nhiệm vụ bảo vệ vùng giải phóng của ta. Trận đánh ngày 29-2 và trận đánh cháy tàu chiến của địch nống ra vừa rồi cũng có lực lượng của tiểu đoàn em tham gia và góp phần rất lớn vào đó, anh ạ! Từ đó đến nay, không thấy bọn chúng mò ra nữa. Thực tình, chỉ mong nó ra mà đánh thôi. Nhưng có lẽ chúng nó cũng đã biết điều rồi, anh ạ! Và cho đến bây giờ, em vẫn sẵn sàng chốt ở nơi này chờ chúng nó ra…”.
Gần ba tháng sau, Duyệt viết cho tôi:
“Cửa Việt, 20-6-1973
Anh Thao mến!
Ở nơi đây, những đêm thanh vắng, vẳng nghe tiếng sóng biển rì rào, những hàng phi lao tình tự, em lại nhớ tiếng đàn ghi-ta trong những đêm trăng sáng xưa kia và ngay cả ở nơi Quảng Bình “sỏi đá” nữa. Nghe tiếng gõ thuyền “côm cốp” em lại mường tượng ra những kiểu đệm đàn nhộn nhịp, vui tươi… Tiếng đàn nhỏ dần và mất đi trong tiếng sóng biển.
Ngày tháng qua đi với những chuỗi ngày không nghỉ để ổn định cuộc sống. Thế mà đã 4-5 tháng qua đi ở nơi đây rồi. Đến bây giờ thì có thể gọi là tạm được. Không ngờ, ở trong này lại đàng hoàng và chính qui hơn hồi ở ngoài đó, anh ạ!
Vất vả và phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu nên vẫn không thể gọi là hoà bình thực sự được. Đôi khi cũng buồn vì không có gì để giải trí. Nằm dài thì thật là chán. Em định ôn lại Nga văn nhưng lại không có sách. Anh cố gắng giúp em, tìm cho em một số sách tiếng Nga, gửi vào cho em. Hy vọng rất nhiều vào anh đấy.
Mong rằng sau này gặp anh, anh sẽ là một cây ghi-ta “kỳ cựu”, trẻ, đẹp trai, hạnh phúc nhiều trong cuộc sống”.
Hơn hai tháng trôi qua, từ miền Tây Quảng Trị, ngày 29-8-1973, Duyệt viết cho tôi bức thư khá dài.
“Anh thân mến!
Hôm nay, lên trung đoàn công tác, em lại nhận được thư anh từ người anh mà em hằng quý mến. Em rất mừng vì anh em ta vẫn nhận được thư của nhau thường xuyên, mặc dầu kẻ Nam, người Bắc xa xôi.
Trong cuộc sống gian nan và vất vả này, cũng như những lá thư khác, lá thư của anh đã đem lại cho em những niềm vui trong cuộc sống, giúp em thoát khỏi u buồn, cô quạnh trong những tháng, ngày qua. Rất cảm ơn anh!. Anh đã đem lại cho em-một người em, nguồn tình cảm chân thành nhất khiến em khâm phục và kính trọng…
Anh Thao! Biết nói gì với anh bây giờ nhỉ?
Ở cái vùng cát ven biển này, với cái hương vị “mặn mòi” của nước biển, với cái nắng cháy da, cháy thịt, cái gió Lào kinh khủng tràn xuống, con người ta khó mà giữ được cái vẻ bên ngoài của mình. Em đã đen đi khá nhiều. Tuy vậy, em vẫn khỏe và công tác đều đặn. Cái sức trẻ, khó có gì quật ngã, anh ạ... Gần đây, em cố tạo ra cho mình những gì để làm cho cuộc sống phong phú và có ý nghĩa thêm, ngoài nhiệm vụ được giao. Riêng Nga văn, em vẫn ôn một cách đều đặn với tất cả những kiến thức ngày trước mà em còn nhớ được…
Cuộc sống của dân vùng giáp ranh này được nâng lên rõ rệt. Mình chi vào đây khá nhiều công, của. Hàng nghìn ngôi nhà làm sẵn, ùn ùn chở vào. Rồi từ cái chum, cái vại, thước vải, bao thuốc (lá) đều được đưa vào cung cấp đầy đủ. Máy cày thì cứ cày cho ai cũng được. Nhà nào có mảnh đất nào, đều cày cho hết mà không lấy công chi cả… Một số gia đình ở vùng trong cũng trốn ra ngoài này.
Bên kia vùng giáp ranh, bọn địch còn ngoan cố lắm. Nên bọn em vẫn phải cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu; mấy lần định xuất xe choảng chúng rồi đấy. Hồi đầu tháng 7, một xe M.113 chạy sang vùng ta bị B.40 của ta “phụt” cháy ngay. Bọn chúng thôi không dám giở trò gì nữa. Vừa rồi, ta lại bắt được một chiếc tàu của nó vào Cửa Việt. 5 tên đi trên tàu bị tóm cả. Cho đến nay, tình hình đã trở lại yên ắng. Chỉ có máy bay trinh sát không người lái hoặc OV.10 bay ra lén lút thôi. Mình bắn vài phát là nó tháo chạy… Tất cả, đều đang chờ bọn nó. Nó mà sang thì chỉ có chết mà thôi. Bảo vệ vùng này, có một lực lượng khá mạnh, anh ạ! Không chỉ có binh chủng em mà còn nhiều binh chủng khác nữa”.
Một trong các lá thư của DuyệtTình hình luôn luôn biến chuyển. Vài ba tháng, chúng tôi mới tranh thủ biên thư cho nhau được. Ngày 5-12-1973, tại Cửa Việt, Duyệt viết cho tôi:
“Anh Thao!
Lâu lắm, đến hôm nay, em mới lại nhận được thư của anh. Em cứ tưởng rằng anh đã đi nơi khác rồi. Đọc thư anh, biết sơ qua một số tình hình của anh, em rất vui vì anh vẫn mạnh khỏe, vừa công tác lại vừa theo học tiếng Pháp - môn học mà bản thân em cũng rất thích tuy chưa có điều kiện, đành để sau này vậy.
Bây giờ đã là đầu tháng 12 rồi. Có lẽ là anh sắp đi phép. Anh hãy ghé qua nhà em nhé. Đến mà vào ngày Chủ nhật là hay nhất. Bởi vì ngày ấy, gia đình em đều có mặt ở nhà cả. Em chỉ ân hận một điều là chính tự tay em không được tiếp anh tại nhà. Hẹn tương lai sau này vậy, anh nhé. Còn cả cái ngày về thăm anh nữa…”.
Một trong những bức thư của đồng chí Nguyễn Kim Duyệt
Bẵng đi một thời gian đến gần một năm, không nhận được thư Duyệt, tôi cứ ngỡ Duyệt đã cùng đơn vị và các binh đoàn khác tiến sâu vào phía Nam rồi. Bất ngờ, ngày 5-9-1974, tôi nhận được thư Duyệt gửi ra từ Quảng Trị.
“Anh mến!
Vừa rồi, nhận được thư anh gửi từ Vĩnh Linh vào, em rất mừng. Thế là anh vẫn chưa quên em và còn nhớ đến em. Kể ra thì cũng gần một năm biệt tin rồi đấy. Những ký ức ngắn ngủi của những ngày anh em ta cùng sống trên đất Quảng Bình, bây giờ đang sống lại trong lòng em. Ngày ấy, nó trầm lặng làm sao, anh nhỉ!. Đêm âm u và những ngọn đèn dầu ma-dút tù mù được che đậy kín đáo trong một chiếc hộp con. Ấy mà cũng xấp xỉ 2 năm qua rồi.
Còn em, hai năm qua không có gì đáng gọi là thay đổi cả, vẫn ở đơn vị cũ. Về ngoại ngữ, em vẫn theo học tiếng Nga. Gần một năm, ôn được khá nhiều, anh ạ. Bây giờ, chủ yếu, em đang đi vào tập dịch. Ngoài ra, nếu có sách tiếng Anh, tiếng Pháp học nữa thì tốt. Anh giúp em được chăng? Sách ở đây bí quá, anh ạ. Người ra Bắc lại ít…
Anh Thao mến!
Em muốn kể cho anh nghe nhiều chuyện về vùng giáp ranh-điều mà anh muốn biết. Hẹn anh đến thư sau. Bây giờ, anh có còn ở Đồng Hới nữa không?
Chúc anh ở nơi ấy có một cuộc sống yên vui, thanh bình.
Em Nguyễn Kim Duyệt
Địa chỉ em vẫn như cũ:
HT 704 023 JB02
Sau lá thư này cho đến khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, nước nhà đã thống nhất, tôi vẫn không nhận được tin gì về Duyệt và cũng chưa có dịp nào ghé qua nhà Duyệt.
Ba mươi tư năm sau.
Ngày 9-11-2008, tình cờ, đi qua phố Đại La (Hà Nội), tôi chợt nhớ đến người bạn vong niên xưa (Duyệt kém tôi 14 tuổi) bèn rẽ vào số nhà 39. May quá, gia đình Duyệt vẫn cư ngụ tại đây. Mẹ Duyệt-cụ Trịnh Thị Thành đã 95 tuổi, tóc bạc phơ nhưng vẫn còn khỏe và minh mẫn. Nguyễn Kim Hải-anh cả của Duyệt-Hiệu trưởng một trường THCS đã nghỉ hưu ngỡ ngàng và xúc động về chuyến thăm bất ngờ của tôi...
Thì ra, cuối năm 1974, Duyệt chuyển đơn vị, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và đã hy sinh anh dũng trưa ngày 28-4-1975 tại căn cứ Nước Trong, quận Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Nguyễn Kim Duyệt sinh năm 1953 trong một gia đình có 7 anh chị em (5 trai, 2 gái). Duyệt là con thứ năm. Năm 1971, đang là sinh viên năm thứ hai-khóa 15-Trường Đại học Nông nghiệp I, Duyệt xung phong đi bộ đội. Ngày lên đường, bố đang nằm cấp cứu tại Bệnh viện Việt Nam - Cu-ba, Duyệt chỉ kịp chào bố một câu, rồi vội vã ra xe. Được nhận vào Binh chủng Tăng-Thiết giáp, làm lính Lữ đoàn 203, tuy thư sinh, gầy gò nhưng Duyệt không nề hà bất cứ nhiệm vụ nào; chịu khó, chịu khổ, ra sức rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt chức trách của người chiến sĩ cách mạng…
Duyệt đang an nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai - nơi anh đã ngã xuống.
LÊ HOÀI THAO
link gốc:
http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/89/70/78/78/78/89328/Default.aspx* PM: Chưa thấy Năng nhắn nhủ gì. Quê cho biết thời gian và địa điểm đi, tôi sẽ đến.