Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:49:31 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 3  (Đọc 110530 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #50 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 11:09:29 pm »


Trong dịp kỷ niệm ngày 1-5-1962, hàng vạn công nhân thuộc hàng trăm nghiệp đoàn mở đại hội, thông qua quyết nghị đòi tăng lương, chống sa thải, 5000 công nhân tắc xi, xích lô kéo xuống đường hô to khẩu hiệu “đả đảo Mỹ”, “đả đảo Ngô Đình Diệm”.

Nổi bật nhất là phong trào đấu tranh kéo dài trong nhiều tháng của sinh viên và học sinh chống vụ án Mỹ - Diệm xử các anh Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh cùng 10 thanh niên yêu nước khác. Bằng luật phát xít, ngày 23-5-1962, toà án quân sự đặc biệt Sài Gòn tuyên bố kết án các anh: bốn án tử hình, bốn án chung thân và bốn án tù từ năm đến 10 năm. Bốn người bị kết án tử hình là các anh Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Thành, Huỳnh Văn Chính bị chúng phát vãng ở Côn Đảo, chờ ngày hành quyết. Tại phiên toà, giáo sư Lê Quang Vịnh, người thanh niên 27 tuổi, nói thẳng vào mặt bọn cướp nước và bán nước: “Tôi tiếc là không giết được kẻ cầm đầu bọn xâm lược”, tất cả các anh đồng thanh hô to:

“Đả đảo pháp luật phát xít. Tinh thần bất khuất của sinh viên, học sinh muôn năm!”.

Vụ án tàn bạo nhằm sát hại những thanh niên yêu nước gây chấn động dư luận. Năm ngàn sinh viên, học sinh và bốn ngàn phụ huynh ở Chợ Lớn, Tân An họp mít tinh biểu tình dài năm, sáu ki-lô-mét phản đối vụ án này. Làn sóng phản đối mạnh mẽ liên tiếp dấy lên khắp trong nước và thế giới đòi xoá bản án đối với các chiến sĩ yêu nước. Sau này, trước sức ép của dư luận, bọn chúng phải giảm án các anh từ tử hình xuống khổ sai chung thân. Suốt 13 năm bị giam hãm trong nhà tù của Mỹ - Diệm, các anh vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng, đấu tranh chống lại bọn xâm lược và tay sai.

Các cuộc đấu tranh anh dũng chống chế độ tàn bạo của Mỹ - Diệm trong năm 1962 của đồng bào ta gắn chặt với chương trình hành động thiết thực, phù hợp với nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân. Thực hiện chủ trương của Đảng về việc củng cố và mở rộng mặt trận, từ ngày 16-2 đến 3-3-1962, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đã họp Đại hội lần thứ nhất, bầu ra Uỷ ban Trung ương chính thức của Mặt trận. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch và đồng chí Võ Chí Công, với danh nghĩa đại diện Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam được bầu làm Phó chủ tịch Mặt trận. Đại hội ra một bản tuyên bố quan trọng, trong đó khẳng định nhiệm vụ chung của Mặt trận là: “Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến tranh, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên minh dân tộc, dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới”.

Trên khắp các địa phương ở miền Nam, đồng bào ta đã tổ chức hàng ngàn cuộc mít tinh, biểu tình hoan nghênh kết quả Đại hội. Nhiều người thuộc nhiều tầng lớp trong nhân dân gửi kiến nghị đến Mặt trận, tỏ lòng tin tưởng, nguyện chấp hành đầy đủ các chủ trương, chính sách của Mặt trận. Ngày 24-5, Mặt trận ra lời kêu gọi đồng bào miền Nam, binh sĩ trong quân đội ngụy hãy vùng lên đấu tranh chống Mỹ và tay sai. Ngày 20-7, Uỷ ban Trung ương Mặt trận đề ra bốn chủ trương cứu nước khẩn cấp nhằm cô lập hơn nữa đế quốc Mỹ cùng bọn tay sai đầu sỏ ở miền Nam và tập hợp rộng rãi nhất các lực lượng chống Mỹ - Diệm1.

Để tăng cường tình đoàn kết và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã cử đoàn đại biểu do giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu đi thăm một số nước anh em và tham dự một số hội nghị quốc tế. Tháng 6, đoàn thăm Tiệp Khắc; tháng 7, thăm Liên Xô và dự lễ kỷ niệm 26-7 ở Cuba; tháng 8, thăm Hunggari; tháng 9, thăm Inđônêxia; tháng 10, thăm Trung Quốc, và dự lễ quốc khánh nước Angiêri; tháng 11, thăm Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên.

Những thắng lợi chính trị ở trong và ngoài nước làm cho uy tín của Mặt trận ngày càng tăng, tập hợp được sức mạnh đoàn kết của toàn dân, khoét sâu mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù, cô lập bọn hiếu chiến ngoan cố. Chính cuộc dội bom và bắn đại liên 20 ly vào Dinh Độc lập của hai máy bay thuộc không quân ngụy do Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử thực hiện ngày 27-2-19622, chứng tỏ mâu thuẫn giữa các phe phái ở miền Nam với chế độ độc tài gia đình trị của Diệm ngày càng phát triển. Chế độ càng mất ổn định.
_____________________________________
1. Bốn chủ trương:
    1. Đế quốc Mỹ phải đình chỉ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam,
    2. Giải toả toàn bộ ấp chiến lược,
    3. Thành lập ở miền Nam một chính phủ liên hiệp dân tộc,
    4. Thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình, trung lập.

2. Vào hồi 8 giền 15 phút ngày 27-2-1962, hai chiếc máy bay AD6 cất cánh từ sân bay Biên Hoà bay về Dinh Độc Lập, lượn xung quanh Dinh ba vòng. Vòng 1: lấy hướng, vòng 2: ném 8 quả bom (mỗi chiếc ném bốn quả, mỗi quả bom nặng 250 cân Anh). Vòng 3: bắn đại liên 20 ly vào trước Dinh.
    Kết quả: Bom rơi trúng nóc Dinh phía trên, bên trái, Ngô Đình Diệm ở tầng dưới nên thoát chết. Buồng bên phải, nơi vợ chồng Nhu ở bị sập; lúc đó họ đi vắng.
Sau khi oanh kích xong, một chiếc do Phạm Phú Quốc lái bay về hướng đông bị cao xạ của hải quân ngụy bắn cháy, Quốc nhảy dù ra bị bắt giam. Một chiếc do Nguyễn Văn Cử lái, chạy sang cư trú tại Campuchia. Sau đảo chính Diệm (11-1963), hai người này lại trở về phục vụ cho không quân ngụy.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #51 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2010, 11:10:18 pm »


Song song với đấu tranh quân sự, chính trị, cuộc đấu tranh chống gom dân, lập ấp và phá ấp chiến lược bằng các biện pháp kết hợp quân sự, chính trị, binh vận, kết hợp lực lượng bên trong và bên ngoài của nhân dân ta diễn ra liên tục trong năm 1962.

Để gom được dân vào ấp chiến lược, địch dùng mọi thủ đoạn: ném bom, bắn pháo, rải chất độc hoá học khai quang, cho xe cào ủi mồ mả, ruộng vườn, nhà cửa để buộc nhân dân phải rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn vào ở trong ấp chiến lược.

Không cam chịu sống trong cảnh giam hãm “cá chậu, chim lồng”, đồng bào ta kiên quyết bám đất, giữ làng, đấu tranh chống địch. Ta tổ chức những cuộc đấu tranh nhỏ, lẻ trực diện tại chỗ, kết hợp với những đợt đấu tranh quy mô lớn, có hàng trăm, hàng ngàn người tham gia, kéo đến gặp bọn cầm quyền địch đòi chúng không được bắn pháo bừa bãi vào thôn xóm, phải bồi thường thiệt hại cho những gia đình bị nạn. Khi giặc cho xe đến cào ủi, có cụ già cầm giáo mác sẵn sàng chém lại nếu chúng xông vào; nhiều mẹ, nhiều chị, bất chấp bom, đạn xông lên ngăn cản xe bọc thép, không cho chúng gây tội ác.

Tại ấp Bầu Mây (Trảng Bàng, Tây Ninh), cứ mỗi lần bảo an, dân vệ kéo đến cào nhà, gom dân, các mẹ, các chị trong ấp lại kéo ra đấu tranh ngăn chặn. Nhiều cụ già ôm chặt lấy cột không cho địch trèo lên tốc mái. Giặc châm lửa đốt nhà, một bà mẹ chạy đến chặn tay chúng: “Các chú khỏi đốt, tự tay tôi đốt cũng được, nhưng đi vô ấp chiến lược thì không”. Không gom được dân Bầu Mây, địch dùng lính cộng hoà đóng ở Trảng Bàng thay nhau vào cưỡng ép. Đồng bào lại kiên trì thuyết phục: “Ở đây đâu có Quân giải phóng, không phải chỗ các chú thi thố tài năng, chẳng lẽ đi đánh đàn bà, con gái”, “Nước có mất thì nhà mới tan, sao các chú nói nước mình đã là quốc gia độc lập, mà lại bắt dân dỡ nhà, bỏ đất”, “Ở đây làm không đủ ăn, vô ấp chiến lược, thì lấy gì mà ăn”…

Trước lý lẽ khôn khéo, có lý có tình của đồng bào, năm lần quân chủ lực địch vào Bầu Mây đều phải dừng tay không dám đàn áp. Khẩu hiệu “Một tấc không đi, một ly không lùi” xuất hiện trong cuộc đấu tranh này.

Nhân dân xã Vĩnh Lộc (Bình Tâm) đấu tranh giằng co với địch suốt năm 1962; nhà cửa bị chúng phá chỉ còn lại những cái chòi, những túp lều tạm bợ, nhưng địch vẫn không sao dồn được dân.

Xã Hồng Sơn thuộc căn cứ khu Lê Hồng Phong (Khu VI), chỉ trong sáu tháng, lính cộng hoà kết hợp với bảo an, dân vệ càn quét 18 lần. Mặc dù nhà cửa bị đốt cháy, xóm làng xơ xác, nhân dân vẫn bám trụ, quyết không vào nơi tập trung.

Tại Lâm Đồng, khi địch dồn dân vào các ấp chiến lược ở khu vực đường số 20, đồng bào ở bốn thôn Lú Nhù, Triêng Làng, Tố Nơ và Bà Giai kéo nhau vào sâu trong rừng lập căn cứ, nhất định không theo giặc vào ấp chiến lược. Nhiều tháng đồng bào phải ăn bột xà bu1, nhường bắp cho du kích ăn để đánh giặc.

Đấu tranh chống địch gom dân, lập ấp diễn ra phức tạp, ác liệt. Đấu tranh phá ấp chiến lược trở về làng cũ lại càng khó khăn dai dẳng, quyết liệt hơn. Bị bắt buộc vào sống trong ấp chiến lược, mọi quyền tự do của con người bị tước đoạt, tính mạng bị đe dọa hằng ngày, hằng giờ, đồng bào sáng tạo phương pháp đấu tranh phá ấp bằng mọi hình thức từ thấp đến cao. Hình thức phố biến là đòi cung cấp lương thực, thực phẩm đảm bảo đời sống, đòi tự do đi lại làm ăn, khéo léo vận động binh lính đừng gây tội ác, mang súng về chống giặc giữ làng. Hình thức cao là nổi dậy phá rào, phá bờ thành, lấp hố chông, đắp ụ đất phục kích diệt ác ôn.

Tại xã Thới Hoà (Bến Cát, Thủ Dầu Một), khi bị cưỡng bức vào ấp chiến lược, bà con cất nhà lộn xộn, không chịu cất từng lô theo quy định của địch. Chúng bắt dân đi họp đề lập tề, bà con nói chuyện riêng, trẻ con la khóc làm mất trật tự, không ai nhận làm việc cho chúng.

Ở ấp chiến lược Đông Hoà Hiệp (Cái Bè, Mỹ Tho), quần chúng nổi lên đánh trống mõ, phá 1.000 mét rào, kêu gọi binh sĩ ủng hộ, bọn lính làm ngơ bỏ về thị trấn. Sáng hôm sau gần 100 người đưa đơn lên kiến nghị với quận trưởng xin về làng cũ làm ăn, tên quận trưởng lúc đầu làm ngơ, quần chúng lại kéo đến đông hơn, buộc hắn phải chấp nhận đơn và hứa giải quyết.

Đồng bào hai xã Tân Hiệp và Tân Hoà (Châu Thành, Biên Hoà) bị địch dồn vào ấp chiến lược Hoà Nhật. Đêm 15-7-1962, du kích hoạt động từ bên ngoài, bắn vào lô cốt ở cổng ấp. 200 gia đình phá rào vượt ra khỏi ấp lúc trời chưa sáng. Đêm sau (16-7), lực lượng ta lại bắn vào đồn, cứ sau một loạt súng, đồng bào trong ấp lại hò reo, gọi loa kêu gọi binh lính địch “án binh bất động” hoặc ra hàng. Sáng 17-7, lại có thêm 107 gia đình phá rào, kéo ra ngoài. Kết quả, nhân dân đã san bằng ấp chiến lược Hoà Nhật.

Nhân dân bảy thôn Đất Sét, Khánh Xuân, Phú Cốc, Xuân Lâm, Cửu Sơn, Phước Lương, Lê Thạnh (Diên Khánh, Khánh Hoà), bị địch dồn xuống các ấp ở vùng trong, ba lần đồng bào nổi lên đấu tranh phá bỏ ấp trở về càng cũ.
_____________________________________
1. Xà bu là loại cây to mọc ở trong rừng, lõi cây giă thành bột có thể làm bánh, nấu cháo, hấp xôi. Số bột của một cây đủ nuôi một gia đình 3 - 4 người trong một tháng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #52 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:05:13 pm »


Tại Khu V, ở những ấp địch đã dồn được dân, đồng bào tìm cách kéo dài việc rào làng, lập ấp. Khi phải rào thì cắm lỏng cây, buộc lỏng dây để du kích dễ ra vào. Địch bắt dân một số nơi vào núi chặt cây về rào ấp, dân đem dao chặt cây nộp cho cán bộ, rồi về báo: “Việt cộng thu hết dao”. Cứ giằng co như vậy, có nơi tới nửa năm trời, địch vẫn không rào xong ấp.

Phong trào đấu tranh phá ấp chiến lược của quần chúng ngày càng lên cao thì địch cũng cố gắng tập trung mọi sức mạnh và không chịu chùn tay trước bất cứ tội ác nào. Chúng dùng mọi thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt uy hiếp, mua chuộc, bắt dân phải chịu mọi sự kiểm soát ở trong ấp. Ở mỗi ấp, địch tăng cường lực lượng bảo vệ chặt chẽ hơn. Trong ấp có lực lượng tề điệp, dân vệ canh gác, theo dõi, lực lượng bảo an đóng đồn cạnh ấp để uy hiếp, các đơn vị lính cộng hoà luân phiên đến đóng quân hỗ trợ lẫn nhau, vừa làm cho cán bộ, bộ đội ta không liên hệ, móc nối được với nhân dân trong ấp, vừa gây cho ta khó khăn trong tác chiến.

Về phía ta cũng chưa tìm ra phương thức chỉ đạo phá ấp chiến lược có hiệu quả. Chi bộ xã Tân Lý Tây (Châu Thành, Mỹ Tho) lãnh đạo nhân dân ban đêm ra phá rào, phá bờ tường bao, sáng hôm sau địch lại bắt dân làm lại chắc chắn hơn, tổ chức canh phòng cẩn mật, kiểm tra quần chúng chặt chẽ hơn, làm cho hoạt động của ta gặp khó khăn hơn nhiều.

Lúc đầu cán bộ ta có phần chủ quan, coi thường việc phá ấp chiến lược, dần dần thấy khó khăn, có bộ phận nẩy sinh tâm lý hoài nghi, bi quan. Không ít cấn bộ ở cơ sở lúng túng trong việc đối phó với những thủ đoạn nham hiểm của kẻ thù.

Trước tình hình nói trên, tháng 8-1962, Trung ương Cục họp phân tích tình hình và ra nghị quyết chỉ đạo phương thức phá ấp chiến lược. Nghị quyết chỉ rõ: phá ấp chiến lược phải là phong trào quần chúng tại chỗ nổi dậy, vì thế phải xây dựng đảng trong dân, bám trong ấp chiến lược; lực lượng chính trị quần chúng, lực lượng du kích, tự vệ mật tại chỗ kết hợp với lực lượng vũ trang và quần chúng bên ngoài, nhưng chủ yếu là lực lượng tại chỗ; phải phá bộ máy kìm kẹp kết hợp với phá hàng rào, bờ thành; kết hợp phá với đấu tranh chống làm lại; phá từ thấp đến cao, từ phá lỏng, phá banh đến phá dứt điểm là tiêu diệt đồn bốt, giải phóng hoàn toàn thôn xã.

Thường vụ Khu uỷ Sài Gòn - Gia Định họp hội nghị chuyên đề bàn về chống phá ấp chiến lược, quyết định phải “mang nắp hầm bí mật vào trong ấp chiến lược” để thực hiện phương châm “bám đất, bám dân”, kết hợp ba mũi giáp công, ngoài đánh vào, trong đánh ra và nổi dậy. Khu uỷ chỉ đạo các địa phương xây dựng kế hoạch phát triển lực lượng tại chỗ và lực lượng mật bên trong ấp. Nhiều cán bộ, đảng viên kiên trì ẩn nấp nhiều ngày ở các bờ bụi ngoài đồng mới tìm được cơ hội móc nối với những gia đình cơ sở cũ bị địch lùa vào trong ấp để hướng dẫn cách đào hầm bí mật. Khi có hầm, ta đưa người vào ở, tiếp tục gây cơ sở mới, tổ chức lực lượng tự vệ mật trong ấp rồi tùy theo so sánh lực lượng cụ thể phối họp giữa lực lượng trong và ngoài, tổ chức các hình thức phá ấp cho phù hợp.

Nhờ sự chỉ đạo thống nhất, phối hợp chặt chẽ, nhiều ấp ở huyện Thủ Đức, khi có lực lượng cách mạng vào ấp, hàng trăm đồng bào ở trong áp nổi mõ khua thùng, bí mật chỉ bắt tề điệp, ác ôn, cắt rào, nhổ cọc sắt, xé bỏ giấy kê khai gia đình, rồi lại tạo cớ kéo lên quận báo cáo: Việt cộng về cưỡng bức, các ông không giữ được an toàn cho ấp, chúng tôi phải trở về làng cũ. Bằng cách làm này, ở ấp chiến lược Mũi Châu (Củ Chi) du kích bên ngoài phối hợp với tự vệ mật bên trong đánh tan đội dân vệ và một bộ phận bảo an, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá ấp trở về làng cũ.

Theo sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ Bến Tre, những đảng viên bị lộ không bám được trong ấp chiến lược thì rút ra bên ngoài thành lập chi bộ “bất hợp pháp”. Những đang viên bí mật, sống công khai, hợp pháp chưa bị lộ ở lại trong ấp thành lập chi bộ hoặc tổ đảng có nhiệm vụ phát động quần chúng, xây dựng cơ sở, cung cấp tin tức cho bên ngoài, và khi có thời cơ phối hợp trong, ngoài cùng phá ấp. Xã Phú Lễ (Ba Tri) xây dựng được ba tiểu đội du kích mật, trang bị 27 súng, sống hợp pháp trong ấp và sáu tiểu đội tự vệ nằm trong tổ chức “thanh niên bảo vệ hương thôn” của địch. Du kích và tự vệ mật diệt ác ôn bằng mìn tự tạo và lựu đạn gài ở trong ấp. Nhiều xã có sáng kiến nuôi ong bò vẽ, luyện cho ong đánh giặc. Trên các rặng cây, bờ rào ở các xã ấp chiến đấu đều có “đội quân ong” canh giữ, sẵn sàng xông ra đốt địch. Năm 1962, nhân dân tỉnh Bến Tre phá lỏng, phá rã 100 ấp chiến lược. Có nhiều ấp bị ta phá đi phá lại đến 30, 40 lần.

Phá ấp chiến lược đi đôi với xây dựng làng, xã chiến đấu là nét nổi bật của chiến tranh nhân dân. Nhân dân xã Đông Phước (Cần Thơ), sau khi phá xong ấp chiến lược, chặt tre vót sáu triệu cây chông, đặt 29.460 hầm chông công khai, 13.000 hầm chông bí mật chung quanh xã, tổ chức phòng chống địch. Xã Tân Xuân (Hóc Môn), Tân Hòa, Tân Sơn (Tân Bình) là những xã có lực lượng cơ sở mạnh đã biến ấp chiến lược thành xã chiến đấu ở ngay ngoại ô Sài Gòn và sát ngay các trục lộ giao thông của địch. Nhân dân xã Ninh Phước (Khánh Hoà), sau khi nổi dậy xoá bỏ ách kìm kẹp, vận dụng có hiệu quả ba mũi giáp công đánh lui mọi cuộc lùng sục. Địch dùng biện pháp bao vây kinh tế, liên tiếp bắn pháo vào làng, 700 dân của làng kéo lên quận trực tiếp đấu tranh buộc địch phải nhượng bộ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #53 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:08:08 pm »


Nhân dân ba xã An Điền, An Tây, Phú An (vùng nam Bến Cát) đào hàng chục kilômét địa đạo kết hợp với ổ, ụ chiến đấu. Khi quân địch đến càn quét, từ dưới địa đạo, du kích triển khai lên các ổ, ụ chiến đấu, dùng các loại súng được trang bị đánh địch từ xa. Khi chúng vào gần thì dùng thủ pháo, lựu đạn tiêu diệt, rồi chuyển sang các ổ ụ khác đánh vào cạnh sườn địch. Đây là lối đánh “thoắt ấn, thoắt hiện” làm cho địch vừa bực tức vừa hoảng sợ, mà không tìm được du kích.

Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã sáng tạo ra nhiều loại chông như chông thụt, chông đòn, chông bay... Chông được bố trí kết hợp với các loại bẫy thò, bẫy tuyến. Bẫy thò tự động, một lần phóng ra từ 15 đến 20 mũi thò trên một đoạn đường uốn cong từ 80 đến 100 mét, có thể sát thương một lúc nhiều địch.

Quân và dân Bác Ái (Ninh Thuận) dùng các loại vũ khí thô sơ chống thú dữ1 và vũ khí thu được của địch để bố trí các tuyến phòng thủ bảo vệ làng xã chiến đấu2.

Nét nổi bật các làng xã chiến đấu là không chỉ bố phòng giữ làng, giữ đất, mà là tiến công. Việc củng cố tổ chức, xây dựng chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân làm cho họ giác ngộ về lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu được cấp uỷ đảng đặc biệt chú trọng. Sức mạnh của làng xã chiến đấu chính là sức mạnh của chính trị, tư tưởng, cho nên dù ác liệt, khó khăn, nhân dân vẫn bám trụ chiến đấu.

Sự phát triển của các làng xã chiến đấu cùng với sự trưởng thành của phong trào du kích góp phần tích cực vào việc chống phá kế hoạch gom dân, lập ấp chiến lược của địch.

Nhằm tổng kết kinh nghiệm phát động phong trào chiến tranh du kích, chống địch càn quét, phá ấp chiến lược, xây dựng làng, xã chiến đấu, tháng 11-1962, Trung ương Cục và Bộ chỉ huy quân sự Miền tổ chức Hội nghị quân du kích toàn Nam Bộ lần thứ nhất tại căn cứ Dương Minh Châu. Bác Ái ( Ninh Thuận), Thới Hoà, Bến Tường (Bình Dương), Phước Vĩnh An, Tân Xuân ( Gia Định), Tân Phú Trung (Mỹ Tho), Tân Thạnh, Khánh Thạnh Tân (Bến Tre), Hậu Mỹ (Long An), An Bình (Cần Thơ), Vĩnh Châu, Gia Hoà (Sóc Trăng) là những huyện, xã có phong trào du kích chiến tranh phát triển khá, được báo cáo kinh nghiệm tại hội nghị. Chị Út Tịch (Trà Vinh), Tạ Thị Kiều (Bến Tre)3 và nhiều chiến sĩ xuất sắc trong phong trào chiến tranh du kích của Nam Bộ đã được hội nghị biểu dương.

Qua các báo cáo kinh nghiệm của các địa phương hội nghị rút ra kết luận: Địch kìm kẹp, ta phá kìm kẹp, địch lại kìm kẹp, ta lại phá. Địch lập ấp chiến lược, ta lại phá ấp chiến lược, địch lại lập ấp, ta lại phá. Trong cuộc đấu tranh giằng co quyết liệt đó, mỗi ngày ta lại tiến thêm một bước, đẩy lùi địch một bước, ta lớn mạnh lên một bước, địch suy yếu đi một bước, tiến tới ta mạnh hẳn hơn địch và giành thắng lợi hoàn toàn. Muốn đánh bại địch, ta phải kết hợp chặt chẽ ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận. Riêng lực lượng chủ lực phải trụ lại chống càn, không tránh né, đánh cả máy bay trực thăng, xe tăng, thiết giáp. Lực lượng vũ trang có chủ động tiến công địch, thọc sâu, trụ lại mới hỗ trợ được cho nhân dân phá ấp chiến lược có hiệu quả.

Những kết luận của hội nghị nói lên tính chất quyết liệt giữa ta và địch trên mặt trận đấu tranh giành dân. Nhưng hội nghị chưa tổng kết được tư tưởng và cách đánh của chiến tranh du kích kết hợp với phong trào phá ấp chiến lược đang trong thời kỳ phát triển ở trình độ cao. Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền tiếp tục tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn, tìm ra phương thức đấu tranh có hiệu quả hơn.
_____________________________________
1. Các loại hầm chông, bãi chông, manh cung phóng ngang, phóng dọc, thò, tên bắn tự động, bẫy đá, bẫy đua, bẫy heo rừng, bẫy cọp... đều được nghiên cứu, cải tiến để sử dụng.
2. Bố trí ba tuyến:
    Tuyến 1 (tuyến trước): bố trí cố định các loại vũ khí thô sơ, đầu đạn và trái nổ kết hợp với các ổ phục kích. Tuyến này dày khoảng 200 – 400 mét, dài 2 - 5 km nối liền các địa phương với nhau.
    Tuyến 2 (tuyến giữa): cũng giống tuyến 1, có kết hợp rào ấp bằng cây, buộc địch phải trèo, chui qua và bị phục kích. Tuyến này cách tuyến 1 khoảng 1 - 2 km.
    Tuyến 3 (tuyến trong): gần dân, sử dụng các loại vũ khí thô sơ tổng hợp: bàn chông, đạp lôi, các loại bẫy gài, khi báo động, các ổ phục kích từng khu vực kết hợp với sung, ná tên thuốc độc.

3. - Chị Nguyễn Thị Út, còn có tên là Út Tịch, quê xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Chị vào bộ đội từ năm 17 tuổi, được giao nhiệm vụ làm liên lạc và trinh sát. Chị lập gia đinh với anh Hai Tịch là đội trưởng vũ trang. Chỉ thường nói: “Đánh giặc, còn cái lai quần cũng đánh”.
    - Chị Tạ Thị Kiều, quê An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Nữ chiến sĩ du kích đã lập chiến công: dùng mưu lấy súng diệt địch.
    Năm 1965, tại Đại hội thi đua của miền Nam, chị Út Tịch và Tạ Thị Kiều được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #54 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:08:54 pm »


Cuối năm 1962, ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, ta đã phá được 182 ấp chiến lược, chuyển 52 ấp thành ấp chiến đấu; phá lỏng, phá rã từng phần bộ máy kìm kẹp của địch ở 760 xã trong tổng số 902 xã với hơn 2 triệu dân. Ở Khu V, số dân vùng giải phóng là 652.000 (đồng bằng 400.000, miền núi 252.000) tăng hơn năm 1961 gần 20 vạn người.

Trên toàn miền Nam, đến cuối năm 1962 ta đã phá 2.665 ấp chiến lược, có 484 ấp phá hoàn toàn, 115 ấp xây dựng thành làng chiến đấu. Ta phá thế kìm kẹp ở 8.982 thôn, giải phóng hoàn toàn 4.441 thôn trong tổng số 17.162 thôn, giải thoát 6,5 triệu dân.

Vừa chiến đấu vừa xây dựng, trên cơ sở phong trào đấu tranh phát triển, thế làm chủ của ta được củng cố, lại có sự chi viện ngày càng tăng của Trung ương, lực lượng vũ trang ba thứ quân mở rộng hoạt động được trên cả ba vùng chiến lược, đồng đều giữa chiến trường Khu V và Nam Bộ. Năm 1962, toàn miền xây dựng được năm trung đoàn chủ lực, có 15.000 thanh niên nhập ngũ, đưa quân số của lực lượng vũ trang giải phóng tăng lên 1,25 lần so với năm 1961. Riêng khối chủ lực cơ động giữa ta và địch đã có sự thay đổi, năm 1961 tỷ lệ là 1/10, sang năm 1962 chỉ còn 1/7. Bộ đội địa phương mỗi tỉnh ở Nam Bộ có từ một đến hai đại đội, ở Khu V có từ ba đến bốn đại đội, riêng hai tỉnh Cà Mau, Bình Thuận có một tiểu đoàn chủ lực. Ở mỗi huyện có từ một đến hai trung đội, riêng tỉnh Kon Tum mỗi huyện có hai đại đội. Lực lượng du kích tăng lên đến 4,5 vạn; lực lượng dân quân phát triển với số lượng khoảng 12 vạn người1.

Về công tác bảo đảm đời sống cho lực lượng vũ trang vẫn còn nhiều khó khăn do điều kiện vật chất, tài chính ở chiến trường eo hẹp. Những vùng bị địch bao vây kinh tế càn quét dai dẳng càng gặp khó khăn hơn, có đơn vị nhiều tháng ròng thiếu gạo, nguồn sống chủ yếu dựa vào săn bắt thú, hái lượm cây, củ, rau rừng...

Để bảo đảm sức chiến đấu, các đơn vị đều coi trọng việc xây dựng căn cứ và sản xuất tự túc lương thực. Năm 1962 ở Khu V bộ đội chủ lực sản xuất tự túc được 50% nhu cầu lương thực, các đơn vị của Quân khu VI tự túc được số lương thực dùng trong ba tháng, căn cứ V 50 thuộc cục Hậu cần B2 tổ chức canh tác trên 1000 hécta thu 4.000 tấn thóc.

Ngoài sản xuất lương thực, thực phẩm, từ quân khu đến các tỉnh, huyện đều có cơ sở sửa chữa vũ khí, sản xuất các loại mìn, lựu đạn, thủ pháo; đồng thời, còn rèn xẻng, cuốc dao, rìu... phục vụ cho chiến đấu và bán, đổi cho dân tăng thêm nguồn thu.

Cũng trong năm 1962, cơ quan hậu cần và tài vụ ở các quân khu bước đầu xây dựng được một số tiêu chuẩn bảo đảm ăn ở và sinh hoạt phí. Bộ đội chủ lực ở chiến trường B2, mỗi người một tháng được cấp 30 lít (22 kg) gạo và 60 đồng tiền thức ăn (tiền ngụy Sài Gòn). Lúc đầu mọi người đều hưởng chung một tiêu chuẩn, sau đó, dần dần mới phân chia tiêu chuẩn của từng đối tượng cán bộ, chiến sĩ thương binh, bệnh binh. Tiêu chuẩn sinh hoạt phí hàng tháng cấp theo các đối tượng: chiến sĩ 40 đồng, cán bộ trung cấp 80 đồng, cao cấp 100 đồng. Ở Khu V, bộ đội chủ lực mỗi người một ngày được cấp 700 gam gạo và hai đồng thức ăn; thương, bệnh binh được tăng thêm tiền ăn từ ba đến bảy đồng. Tiêu chuẩn của bộ đội địa phương thấp hơn chủ lực một ít.

Bên cạnh việc sản xuất tự túc và cấp phát của cấp trên, các lực lượng vũ trang còn được sự giúp đỡ, đóng góp của nhân dân ở các địa phương. Tỉnh Bến Tre quyên góp, ủng hộ bộ đội mỗi năm một tăng, năm 1961: 18 triệu, 1962: 25 triệu, 1963: 30 triệu đồng. Đồng bào các dân tộc miền núi không những tổ chức tốt việc bố phòng đánh địch, đi dân công phục vụ chiến trường, mà còn ra sức sản xuất, đóng góp lương thực cho kháng chiến. Đồng bào tự nguyện góp công làm những “rẫy sắn cách mạng” dọc các đường hành lang, trong các khu căn cứ sâu. Đây là nguồn lương thực dự trữ cho các đoàn vận tải, các lực lượng di chuyển trên đường. Năm 1962, nhân dân vùng căn cứ Khu V, Khu VI sản xuất lương thực đạt bình quân 350 kg đầu người, đóng góp 8.000 tấn gạo, mua dự trữ 2.000 tấn muối cho bộ đội.

Đi đôi với các nguồn cung cấp nói trên, nhiều địa phương tổ chức cho một số cán bộ kinh, tài của cơ quan đảng, chính quyền và cán bộ hậu cần quân đội móc nối với các nhà buôn, sĩ quan, nhân viên nguỵ quyền gây cơ sở, thu mua lương thực, hàng hoá từ vùng địch ra, phục vụ bộ đội.

Đó là kết quả của việc xây dựng căn cứ, xây dựng hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam - một trong những chủ trương sáng tạo của Trung ương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hậu phương trực tiếp, căn cứ tại chỗ kết hợp chặt chẽ với hậu phương chiến lược miền Bắc, tạo nên sức mạnh cho cuộc cách mạng ở miền Nam, mà không một âm mưu, hành động nào của địch có thể chia cắt, ngăn chặn được sự phát triển của cách mạng.
_____________________________________
1. Theo Báo cáo của Quân uỷ Miền ngày 8-12-1962, lưu tại Viện lịch sử quân sự Việt Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #55 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:09:26 pm »


Trong thời gian này, cùng với việc khẩn trương mở đường vận tải chiến lược đông - tây Trường Sơn, trên đường vận tải biển, sau khi xác định được bến bãi và tổ chức thành công các chuyến đi thăm dò, nắm tình hình, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương thấy đã có đủ điều kiện, quyết định cho tàu chở vũ khí theo đường biển vào Nam Bộ.

Chuyến vận tải vũ khí đầu tiên được thực hiện bằng chiếc tàu vỏ gỗ mang mật danh “Phương Đông một” có trọng tải 30 tấn. Tàu do đồng chí Lê Văn Một và Bông Văn Dĩa chỉ huy cùng các thuỷ thủ: Huỳnh Văn Sao, Nguyễn Văn Bé, Võ Tấn Thành, Nguyễn Văn Luống, Nguyễn Xuân Lai, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Văn Khương, Ngô Văn Tấn, Nguyễn Văn Nhum và Sáu Rô. Ngày 11-10-1962, tàu rời bến Đồ Sơn, Hải Phòng. Sau gần một tuần lễ vật lộn với sóng gió biển Đông và mưu trí vượt qua sự kiểm soát của địch, tàu đã vào đến đích an toàn. Ngày 16-10-1962, bến Vàm Lũng (Cà Mau) được chứng kiến một sự kiện quan trọng, đón nhận chuyến tàu chở vũ khí đầu tiên, cùng đoàn thủy thủ từ miền Bắc vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Tuyến vận tải “đường mòn Hồ Chí Minh” trên biển Đông đã được khai thông là kết quả quyết tâm của lãnh đạo, tinh thần dũng cảm, tài sáng tạo, mưu trí của cán bộ, chiến sĩ vận tải biển và đồng bào ở các địa phương có bến bãi.

Tập thể con tàu “Phương Đông một” đã được Nhà nước tặng thưởng huân chương Quân công hạng hai. Đồng chí Bông Văn Dĩa - người đã hai lần ra Bắc vào Nam, được thưởng huân chương Quân công hạng ba và được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (17-9-1967).

Tiếp theo tàu Phương Đông một là các tàu Phương Đông hai, ba, bốn lần lượt lên đường. Trong vòng hai tháng, các tàu này đã vận chuyển được 111 tấn vũ khí cập các bến thuộc tỉnh Cà Mau an toàn. Khối lượng chưa nhiều nhưng là vốn quý góp phần tạo lực mới, thế mới cho nhân dân đồng bằng sông Cửu Long vượt qua những tháng năm khó khăn, tiến lên giành thắng lợi mới.

Tháng 9-1963, theo quyết định của cấp trên, một con tàu vỏ gỗ đi mở đường mới vào bến Lộc An ở Bà Rịa, chi viện vũ khí cho chiến trường miền Đông Nam Bộ, xuất phát. Ban chỉ huy tàu do Lê Văn Một, người đã cùng Bông Văn Dĩa đi chuyến mở đường vào Cà Mau làm thuyền trưởng, Đặng Văn Thanh làm chính trị viên, Huỳnh Văn Sao, máy trưởng. Các thuỷ thủ gồm: Ba Nhợ, Thắng Rô, Thương Nam, Thiện, Sơn, Ngọc, Hoa, Năm. Tất cả có 12 người.

Tàu nhổ neo rời cảng Bính Đông, Hải Phòng đêm 23-9-1963. Để nghi binh tránh mọi sự theo dõi của địch, ra tới phao “số 0”, tàu chạy ngược về phía bắc, nghỉ ở cảng Giáp Khẩu hai ngày rồi mới quay trở vào miền Nam. Tới gần vĩ tuyến 17 thì gặp sóng to, gió lớn. Thuỷ thủ phải bỏ màn vào nồi nấu cháo, cho nước đỡ sánh ra ngoài. Và cũng phải nấu từ năm đến sáu tiếng đồng hồ mới có cháo ăn. Khi chạy gần vào bến cũng là lúc nước bắt đầu rút, tàu bị mắc cạn. Cách đó không xa, địch ở trong đồn Phước Hải thường đi lùng sục. Con tàu rơi vào tình thế gay go. Thuyền trưởng Lê Văn Một đánh lái cho tàu xoay mũi về phía bờ để sáng ra bọn địch ở trên đồn nhìn xuống thấy thuyền bé đi. Ban chỉ huy tàu bàn bạc, chuẩn bị phương án dùng bộc phá huỷ tàu nếu bị lộ. Rất may, ngày hôm sau cả địch ở trên đồn và máy bay trinh sát cũng không phát hiện được. Chờ đến gần tối, nước bắt đầu lên, tàu nổi dần, vượt khỏi bãi cạn đi lẫn vào các tàu thuyền đánh cá của dân vào bến an toàn.

Chuyến đi mở đường, mở bến mới thành công. Chính số vũ khí của con tàu đem đến đã kịp thời trang bị cho lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ đánh thắng trận Bình Giã cuối năm 1964.

Để có thể vận chuyển vũ khí được nhanh và nhiều theo yêu cầu phát triển của chiến trường, tháng 8-1963, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định giao nhiệm vụ vận chuyển bằng đường biển cho hải quân phụ trách. Tháng 10-1963, Bộ Tổng tham mưu triệu tập cuộc họp để thực hiện chủ trương này. Thành phần cuộc họp có mặt các đồng chí đại diện Bộ Tổng tham mưu, Cục Hải quân và Đoàn 759. Cuộc họp bàn kỹ việc chuyển giao nhiệm vụ, các mối quan hệ công tác giữa trên và dưới, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ vận chuyển sau này.

Ngày 29-1-1964, Bộ quyết định thay phiên hiệu Đoàn 759 thành Đoàn 125 (tương đương cấp trung đoàn). Bộ tư lệnh Hải quân thành lập tháng 1-1964 phối hợp cùng các cơ quan, binh chủng bạn tập trung lực lượng, phương tiện, trang bị kỹ thuật và điều động bổ sung cho Đoàn 125 nhiều thuyền trưởng, thuỷ thủ ưu tú đã được đào tạo cơ bản, có sức khoẻ, có khả năng chịu đựng sóng gió tốt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #56 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:10:26 pm »


Vừa xây dựng vừa vận chuyển, Đoàn 125 ngày càng vững.mạnh và đạt nhiều thành tích. Chỉ tính từ tháng 1-1964 đến tháng 2-1965, Đoàn 125 huy động 20 chiếc tàu cả vỏ sắt và vỏ gỗ, tổ chức 88 chuyến đi tiếp tế cho chiến trường, kể cả những chuyến đưa các cán bộ cao cấp, trung cấp của Đảng và Quân đội1 vào miền Nam. Số vũ khí, trang bị mà đơn vị vận chuyển trong thời gian này gần bốn nghìn tấn. Để đưa được một khẩu súng, một viên đạn đến chiến trường, các đội tàu đã phải vượt qua muôn vàn gian khổ. Trang bị của ta còn rất thiếu thốn. Mỗi con tàu chỉ có một máy nổ, không có máy dự bị, vào bờ thì đo độ nước bằng sào tre, không có máy đo độ sâu bằng siêu âm. Nhưng với lòng dũng cảm và trí thông minh, các đội tàu của ta đã chiến thắng địch trên biển cả. Đó là các đội tàu 41, 42, 54, 55, 56... liên tục vận chuyển được nhiều chuyến thành công; là những cán bộ chỉ huy Nguyễn Phan Vinh, Hồ Đắc Thạnh, Nguyễn Văn Cứng, Lê Văn Thêm, Đinh Đạt, Phạm Vạn, Lê Quốc Thanh, Nguyễn Hữu Phước, Nguyễn Ngọc Ân, Đặng Văn Thanh, Trần Ngọc Ẩn, Hồ Đức Thắng, Trần Hoàng Chiến, Lê Hồng Phước, Tăng Văn Huyền, Ngô Văn Đức... đã nêu những tấm gương mẫu mực về chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trình độ hàng hải vững vàng, điều khiển con tàu vượt qua đá ngầm, sóng gió và sự ngăn chặn, phong toả của kẻ thù đưa hàng đến bến.

Cuối năm 1964, Bộ giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Hải quân nghiên cứu tuyến vận tải vào vùng biển khu V. Vận chuyển bằng đường biển vào các bến Khu V tuy cung đường được rút ngắn, nhưng có nhiều khó khăn vì địa hình ven biển trống trải, các cửa sông tàu có thể vào giao hàng thì địch đã đóng đồn bốt dày đặc. Việc tìm đặt bến bãi và tổ chức lực lượng để tiếp nhận hàng được nghiên cứu tỉ mỉ. Nhiều cán bộ, chiến sĩ anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ xây dựng bến bãi. Chỉ tính riêng đoàn công tác do đồng chí Huỳnh Kim chỉ huy có 11 người thì năm người hy sinh.

Sau một thời gian chuẩn bị, các bến Vũng Rô (Phú Yên), Lộ Giao (Bình Định), Đạm Thuỷ (Mộ Đức, Quảng Ngãi), Bình Đào (Quảng Nam) được xác định. Hải quân thông qua phương án vận chuyển của Đoàn 125. Bộ Tư lệnh quân chủng đã chỉ thị: Các tàu vào biển Khu V phải thật khôn khéo đánh lừa địch trên đường hành trình, táo bạo, bí mật thọc sâu vào bến. Nhanh chóng bốc dỡ hàng xong là rút ra ngay. Gặp trường hợp đặc biệt mới được ở lại ban ngày, nhưng phải chuẩn bị đầy đủ kế hoạch và phương án chiến đấu2.

Sau khi kiểm tra lần cuối việc chuẩn bị bến bãi và hành trình, tàu 401 được lệnh lên đường vào Khu V. Đội tàu gồm 12 cán bộ, chiến sĩ do Phạm Vạn làm thuyền trưởng, Đặng Văn Thanh, chính trị viên, Trần Phấn và Phạm Khanh, thuyền phó. Sau hai tuần ra khơi gặp gió mùa cấp bảy, tàu 401 buộc phải quay trở lại. Mãi đến ngày 26-10-1964, tàu lại xuất phát, tiến dần về vùng biển Bình Định. Đêm 31-10-1964 tàu vào đến bến Lộ Giao,bị cơn sóng lớn đẩy tàu nằm trên bãi cạn. Rất may, đội tàu gặp người của bến. Việc chuyển hàng được tiến hành khẩn trương, công việc gần xong thì trời đã sáng. Anh em quyết định cứ cho tiếp tục chuyển hàng. Mặc dù đồn địch đóng cách đó không xa, nhưng chúng không ngờ là ta có thể đưa vũ khí vào được nơi này cho nên không chú ý. Vũ khí được chuyển lên cất giàu an toàn. Chiếc tàu vỏ gỗ bị hỏng nặng, ta bí mật phá huỷ để che mắt địch.

Sau Lộ Giao các bến khác ở Trung Bộ và cực Nam Trung Bộ cũng được đón tàu, nhận hàng từ hậu phương lớn do các chiến. sĩ đoàn 125 chuyển vào (chỉ tính trong tháng 1-1965, các đội tàu của Đoàn 125 đã đưa được tám chuyến vũ khí vào các địa phương miền Nam). Các tàu 51, 210, 132, 154 đưa được bốn chuyến vào Cà Mau; các tàu 68, 187 đưa hai chuyến vào Bến Tre; Bà Rịa và Phú Yên, mỗi địa phương nhận được một chuyến do các tàu 56, 41 chuyển vào.

Ngày 1-2-1965, tàu 143 có trọng tải 100 tấn do thuyền trưởng Lê Văn Thêm, chính trị viên Phạm Văn Bảng chỉ huy nhận lệnh vào Nam. Sau 14 ngày vượt sóng gió, đêm 15-2-1965 tàu cập bến Vũng Rô (Phú Yên). Phần lớn số hàng được chuyển vào hang núi, thì trời vừa sáng, không còn đủ thời gian đưa tàu vượt qua tuyến kiểm soát của địch để ra khơi. Tàu phải đậu lại trong vịnh và được ngụy trang kỹ. Công tác vận chuyển đang thuận lợi, thì trưa hôm đó, máy bay trinh sát địch phát hiện chiếc tàu của ta. Lập tức máy bay chiến đấu của chúng kéo đến ném bom, bắn phá. Anh em nhận định tàu đã bị lộ. Đại bộ phận thuỷ thủ được lệnh phân tán lên bờ bố trí đánh địch. Riêng thuyền trưởng và một số chiến sĩ ở lại chiến đấu bảo vệ tàu. Cuộc oanh tạc của máy bay địch diễn ra liên tục, hầu hết số anh em ở lại đều bị thương vong. Số thuỷ thủ còn lại trên tàu đã cho nổ bộc phá gài sẵn phá huỷ tàu. Do bộc phá nổ không hết, chiếc tàu chìm lật nghiêng tại chỗ. Đêm đó, ta tổ chức cứu vớt thương binh và phân tán cất giấu vũ khí.
_____________________________________
1. Các đồng chí Nguyễn Thế Bôn, Trần Văn Phác, Bùi Phùng, Ung Răng... đã vào Nam bằng tàu của đoàn 125 - Hải Quân.
2. Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr.161.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #57 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:11:39 pm »


Ngày 17-2, một chiếc tàu đổ bộ của địch tiến vào nơi tàu chìm, bị các chiến sĩ ta trên bờ đánh trả, tàu địch phải chạy ra biển. Hai ngày sau, chúng huy động thêm hai tàu tuần tiễu, hai tiểu đoàn bộ binh, một đại đội lực lượng đặc biệt đánh vào Vũng Rô. Cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra đến chiều tối. Do lực lượng quá chênh lệch, ta rút khỏi vùng chiến sự để bảo toàn lực lượng. Sau khi phát hiện tàu 143 của ta ở Vũng Rô, ngày 14-3-1965 Mỹ, ngụy vạch kế hoạch chiến dịch phong toả mang tên Mátkét Taimơ nhằm rào chặt con đường trên biển. Trước tình hình địch phong toả gắt gao trên biển, theo chỉ thị của Bộ, Hải quân không thể tiếp tục vận chuyển theo phương thức cũ mà phải tổ chức nắm lại tình hình địch, tìm phương thức vận chuyển đi bằng hàng hải thiên văn - một phương thức vận chuyển mới, bảo đảm được bí mật, an toàn hơn.

Nhìn tổng quát, việc thực hiện kế hoạch Stalây - Taylo trên các mục tiêu chiến lược đề ra trong năm 1962, địch đều không thực hiện được. Riêng mục tiêu tăng cường quân ngụy mạnh được chúng rất cố gắng triển khai, sắp xếp tổ chức, biên chế, trang bị kỹ thuật, khả năng cơ động, năng lực tiến công của quân đội ngụy có được tăng lên hơn trước, nhưng lực lượng chủ lực vẫn phải bố trí có trọng điểm, nhiều nơi sơ hở, lực lượng dự bị và tổng trù bị chiến lược bị căng kéo khắp nơi, cho nên vừa thiếu lại vừa yếu. Tinh thần lính ngụy sa sút, đào rã ngũ nhiều. Mục tiêu đánh bại chiến tranh du kích, tiêu diệt chủ lực ta chẳng những chúng không làm được, trái lại, lực lượng vũ trang ta không ngừng lớn mạnh. Chính Oétmolen thú nhận: lực lượng vũ trang ta đã phát triển từ 5.500 năm 1960 lên 25.000 năm 1961, 33.000 năm 19621. Đối với mục tiêu bình định, địch dự định dồn 10 triệu nông dân vào 16.000 ấp chiến lược, thì đến giữa năm 1962, phải rút xuống còn 7.000 ấp. Đến cuối năm 1962 chỉ lập được 3.900 ấp, đạt tỉ lệ 31,7%. Đây là một trong những thất bại nặng nhất của Mỹ-ngụy đánh dấu sự sụp đổ về căn bản chương trình bình định trong vòng 18 tháng - thất bại bước đầu rất quan trọng của chiến lược chiến tranh đặc biệt. Tài liệu nghiên cứu của Lầu Năm Góc khẳng định rằng: về cơ bản, ấp chiến lược “đã thất bại thảm hại” giống như các chương trình trước kia của người Pháp và người Việt Nam, “vì nó bị chống đối kịch liệt” của người nông dân là người đứng lên chống lại việc cưỡng bức họ rời bỏ ruộng vườn và quê cha đất tổ2.

Đánh giá tình hình miền Nam trong năm 1962, Hội nghị Bộ Chính trị, họp từ ngày 6 đến 10-12-1962, nhận định: Việc Mỹ đưa một bộ phận quân chủ lực của chúng ở Thái Bình Dương vào miền Nam, thiết lập bộ chỉ huy quân sự của Mỹ ở Sài Gòn và tăng cường viện trợ cho Diệm cũng như việc Diệm tuyên bố chiến tranh và tổng động viên lực lượng để hòng đánh bại cách mạng là một sự chuyển hướng về chiến lược của chúng đã tạo nên một cục diện chiến tranh thật sự với quy mô khá lớn ở miền Nam. Nhưng dù có nhiều âm mưu và thủ đoạn mới, địch vẫn không thực hiện được kế hoạch Stalây-Taylo nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam trong 18 tháng mà còn bị thiệt hại nhiều hơn năm ngoái. Về phía ta, đã vượt qua những thử thách mới, từng lúc, từng nơi, tuy có bị động, nhưng vẫn bảo tồn và phát triển được lực lượng, giành những thắng lợi mới. Lực lượng của Đảng và quần chúng, nhất là lực lượng vũ trang, phát triển mau chóng. Ta đã giành được những thắng lợi lớn về đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, tiêu diệt và làm tan rã nhiều lực lượng quân sự của địch, phá được nhiều ấp chiến lược.

Kết thúc năm 1962, nhờ có chi viện ngày càng tăng của hậu phương lớn, các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam loại khỏi vòng chiến đấu 35.000 tên địch (có 400 tên Mỹ), làm rã ngũ 32.000 tên khác, lật đổ 18 đoàn tàu hoả, phá sập 312 cầu cống, bắn hỏng 12 tàu xuồng, đốt cháy các kho xăng Nha Trang, Tân Sơn Nhất.

Tuy vậy, lực lượng ta còn gặp nhiều khó khăn, quân số bổ sung còn thiếu so với yêu cầu, trang bị còn thô sơ, chưa có những trận đánh tiêu diệt có ý nghĩa làm chuyển biến cục diện rõ rệt, chưa phá được biện pháp chiến thuật cơ động bằng trực thăng và thiết giáp của địch. Trong khi đó, Mỹ lại tăng cường viện trợ tài chính, cố vấn quân sự và lực lượng đặc biệt cho chính quyền Sài Gòn, địch vẫn tiếp tục phản công quyết liệt, càn quét liên miên gây cho ta nhiều tổn thất. Chỉ tính chín tháng đầu năm 1962, lực lượng vũ trang ta đã có 1.187 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, 1.318 bị thương, 112 người bị bắt, bị mất 488 súng các loại. Năm 1962, địch giết hại 5.720 đồng bào ta, làm bị thương 1.680 người, bắt đi 7.284 người3.

Căn cứ vào tình hình thực tiễn đấu tranh giữa ta và địch, Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ sắp tới của cách mạng miền Nam là: “Động viên chính trị toàn dân tiến hành một cuộc chiến tranh toàn diện và trường kỳ, hết sức mở rộng lực lượng quân sự và chính trị, phát động du kích chiến tranh rộng khắp, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bẻ gãy kế hoạch lập ấp chiến lược của địch, trước mắt làm thất bại kế hoạch tiến công của địch trong năm 1963, giữ vững và phát triển lực lượng của ta, mở rộng vùng căn cứ và vùng giải phóng, luôn luôn súc tích lực lượng, sẵn sàng nắm vững thời cơ, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để đẩy mạnh cuộc cách mạng tiến lên, giành nhiều thắng lợi hơn trong tình hình gay go, phức tạp mới, cũng như trong tình hình có những chuyển biến mới của phong trào”.

Bộ Chính trị vạch ra phương hướng một số mặt công tác sắp tới như: phát triển chiến tranh du kích, phá ấp chiến lược, xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy mạnh công tác binh vận, tiến hành công tác mặt trận, công tác đô thị, xây dựng đảng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Bộ Chính trị nhấn mạnh: Toàn Đảng phải biết lãnh đạo, biết làm công tác quân sự. Tất cả các cơ quan phải tổ chức gọn nhẹ vả phải quân sự hoá. Tất cả công tác trong vùng căn cứ và vùng du kích phải chủ yếu phục vụ và xoay quanh yêu cầu phát triển du kích chiến tranh.

Những nhiệm vụ do Bộ Chính trị đề ra trên đây là phương hướng cơ bản cho việc chỉ đạo cách mạng miền Nam đưa cuộc kháng chiến tiến lên trong năm 1963.
_____________________________________
1. Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Viện Lịch sử quân sự xuất bản, Hà Nội, 1991, tr 79.
2. Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ, t. 1, tlđd, tr.105.
3. Theo báo cáo tổng kết năm 1962 của Ban Thống nhất Trung ương, lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #58 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:13:04 pm »


III. ẤP BẮC, TRẬN MỞ ĐẦU ĐÁNH BẠI CHIẾN THUẬT TRỰC THĂNG VẬN, THIẾT XA VẬN CỦA MỸ - NGỤY

Từ sau Hội nghị tổng kết kinh nghiệm phong trào du kích chiến tranh và phá ấp chiến lược lần thứ nhất (tháng 11-1962), lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương trên toàn miền Nam khẩn trương chuẩn bị về tinh thần vật chất và phương pháp chống địch càn quét, quyết tâm đánh bại các biện pháp chiến thuật dùng máy bay trực thăng và xe bọc thép của địch.

Chiến trường Quân khu VIII (miền Trung Nam Bộ) - địa bàn đã từng có phong trào đồng khởi mạnh mẽ và tiêu biểu vài năm trước, nay cũng là nơi phong trào du kích đang phát triển mạnh. Tại đây, với chiến thuật mới và phương tiện chiến tranh hiện đại, lúc đầu địch đã làm cho ta lúng túng, gây cho ta những thiệt hại đáng kể. Điển hình là tháng 2-1962, địch sử dụng máy bay trực thăng, xe M113 đánh trạm giao liên Hương Điền (huyện 8 ) Kiến Tường, một tiểu đội của ta hy sinh. Ngày 21-5, chúng lại đánh vào Tân Hoà - Vùng 4 - Kiến Tường - nơi đại đội 3 và 4 của tiểu đoàn 261 đang huấn luyện, phá huỷ và cướp đi của ta bốn khẩu súng 12,8 ly và một súng cối. Ngày 19-8-1962, địch lại bất ngờ chụp úp trường huấn luyện tân binh của Khu VIII ở vùng Tân Hoà Đông - Châu Thành - Mỹ Tho, bắt đi 105 người.

Cái giá phải trả cho những tổn thất ban đầu là khó tránh khỏi. Nhưng, qua thực tế chiến đấu, đã giúp cho quân và dân miền Nam, nhất là quân và dân Khu VIII, nhận dạng rõ hơn chỗ mạnh, chỗ yếu của địch, nhanh chóng tổng kết thành kinh nghiệm để phá cho được các biện pháp chiến thuật, phương tiện chiến tranh mới của địch.

Theo sự chỉ đạo của Quân khu uỷ và Bộ tư lệnh Quân khu VIII các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần cử nhiều cán bộ có kinh nghiệm xuống các đơn vị và địa phương phổ biến, huấn luyện về chiến thuật chống địch càn quét, cách bố trí trận địa phòng ngự và kỹ thuật bắn máy chiến đấu các loại, cách bắn xe bọc thép bằng hoả lực sẵn có trong tay.

Đối với máy bay trực thăng, địch dùng để cơ động nhanh lực lượng, tiến hành các hoạt động tác chiến càn quét, chụp úp lực lượng đối phương, giải vây, ứng cứu cho lực lượng của chúng. Máy bay của địch có nhiều loại, tuỳ theo tính năng và tác dụng của từng loại mà có cấu tạo khác nhau như máy bay trực thăng chở quân đổ bộ, máy bay vũ trang có trang bị đại liên, hoả tiễn, máy bay ném bom, máy bay trinh sát.

Để bắn rơi được các loại máy bay nói trên, bộ đội và du kích được huấn luyện theo kỹ thuật của thợ săn vịt trời gọi là bắn đón. Muốn cho viên đạn trúng mục tiêu đang bay thì phải ngắm bắn phía trước. Cách tính chiều dài để bắn đón là dựa theo góc tới và tốc độ máy bay. Góc tới càng lớn, tốc độ càng cao, độ bắn đón càng lớn. Đối với máy bay trực thăng chở quân đổ bộ, thì độ bắn đón nhỏ, nhưng đối với loại máy bay vũ trang và ném bom, thì độ bắn đón phải lớn hơn. Thời điểm tốt nhất để bắn máy bay chở quân đổ bộ là lúc nó sà xuống thấp chuẩn bị đổ quân. Thông thường, độ bắn đón đối với máy bay đang hạ cánh là hai phần ba của chiều dài thân máy bay. Còn khi máy bay trực thăng đang đậu để cho quân đổ bộ thì không cần phải bắn đón, mà phải tập trung hỏa lực bắn thẳng vào máy bay.

Để nắm vững được lý thuyết và tạo thành thói quen khi bắn, các đơn vị chủ lực và dân quân, du kích còn thực tập các bài bắn bằng đạn giả, bằng cách dùng những tấm bia vẽ hình từng loại máy bay kéo chạy trên sợi dây tượng trưng cho máy bay đang bay. Người bắn máy bay vừa tập di chuyển vừa bắn đón đầu.

Đối với xe bọc thép M113, do tính cơ động cao và hoả lực mạnh, lúc đầu chúng gây cho ta nhiều bất ngờ. M113 được trang bị súng đại liên 30, 50 và trung liên AR và MI gửi sang Việt Nam cùng với những sĩ quan Mỹ am hiểu lý thuyết “hoả lực cấp cao”. Xạ thủ đại liên 50 không có lá chắn bảo vệ vì họ nghĩ rằng chỉ cần vài viên đạn có thể đè bẹp đối phương. Tài xế lái M113 muốn được che chắn đầy đủ phải đóng nắp trước và nhìn qua tiềm vọng kính. Do vậy, tầm nhìn bị hạn chế, hiệp đồng với các xe khó khăn và tốc độ chạy chậm hơn. Mặt khác, tác chiến ở đồng bằng sông Cửu Long, chướng ngại vật duy nhất ngăn cản thiết giáp M113 là những con kênh, con rạch có bờ dốc. Đối với loại xe này, việc lội nước không có gì trở ngại, nhưng xích xe lại rất khó bám vào bùn nhão ở bờ bên kia để kéo khối sắt 10 tấn lên khỏi mặt nước.

Những điểm nói trên của thiết xa vận sẽ hoàn toàn bị khuất phục bởi lối đánh gần, tập trung hỏa lực của quân và dân ta, giống như cách đánh máy bay trực thăng của địch. Chỉ cần mỗi tiểu đội hoặc trung đội của ta tổ chức phục kích bí mật, chờ địch đến gần, chọn chiếc đi đầu, tập trung tất cả các loại vũ khí sẵn có để tiêu diệt. Khi một xe bị trúng đạn bốc cháy, sẽ làm cho tài xế và xạ thủ của các xe khác mất tinh thần, đội hình sẽ rối loạn, tạo điều kiện cho quân ta tiêu diệt tiếp các xe M113 khác.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #59 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 10:18:06 pm »


Biết được chỗ mạnh, chỗ yếu của xe M113, công tác huấn luyện cho bộ đội và du kích nhằm vào điểm yếu của xe thiết giáp để đánh, được tiến hành công phu, tỉ mỉ. Bên cạnh về kỹ thuật, chiến thuật, bộ đội, du kích được học tập, trau dồi ý chí quyết tâm cao. Đây chính là những yếu tố cơ bản giúp cho quân và dân Ấp Bắc giành thắng lợi giòn giã đánh bại chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của địch.

Ấp Bắc là một ấp nhỏ, có 600 dân thuộc xã Tân Phú Trung, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang), cách thị xã Mỹ Tho khoảng 16 km, cách lộ số 4 (bây giờ là quốc lộ số 1) khoảng 5 km.

Ấp Bắc và xã Tân Phú Trung là địa bàn lịch sử có truyền thống cách mạng. Nhân dân ở đây sớm đi theo Đảng tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chống Pháp (tháng 11-1940). Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, mảnh đất này luôn luôn là căn cứ địa, là một trong những lá cờ đầu của phong trào đấu tranh giành độc lập, tự do. Trong kháng chiến chống Mỹ, Ấp Bắc là vùng giải phóng của ta, là địa bàn đứng chân của lực lượng vũ trang để xây dựng củng cố, bổ sung trang bị kỹ thuật... sau mỗi đợt hoạt động.

Chung quanh Ấp Bắc có những cánh đồng bằng phẳng, có hệ thống đường đất rộng, kênh rạch ngang dọc (với chiều rộng 7 m, sâu 2 m, nước chảy êm) nối liền các xóm ngõ, việc đi lại thuỷ, bộ đều thuận tiện.

Dựa vào các vườn cây trái ven làng, những rặng cây trâm bầu xanh tốt quanh năm dọc các bờ kênh và hai bên lộ đất - đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long, tạo thế che khuất tốt, nhân dân xây dựng một hệ thống hầm hào, công sự, trận địa khá vững chắc được ngụy trang kín đáo bảo đảm cho lực lượng ta có thể cơ động bí mật, yểm trợ và phối hợp chiến đấu.

Ấp Bắc nối liền với ấp Tân Thới tạo thành thế vòng cung, với chiều dài độ 4km, rộng chừng 400m, phía trước là cánh đồng rộng 550m, rất tiện cho việc đổ quân và xe cơ giới cơ động. Phía trong ấp là nhà dân xen các vườn cây trái và những gò đống nhô ra, tạo điều kiện cho bộ đội, du kích bố trí các cụm hoả lực khống chế, ngăn chặn các mũi tiến công của quân địch1.

Sau khi đánh thắng các trận càn của địch ở Vĩnh Kim (ngày 23-9-1962), Mỹ Hạnh Trung (ngày 5-10-1962), tiểu đoàn 514 của Mỹ Tho, tiểu đoàn 261 của Quân khu VIII đang tập trung tại khu vực Ấp Bắc để huấn luyện cách đánh máy bay trực thăng, xe bọc thép, cách tổ chức, bố trí lực lượng, xây dựng hệ thống công sự trận địa trong làng, xã chiến đấu, đồng thời với ý định phối hợp với bộ đội địa phương và nhân dân huyện Châu Thành nghiên cứu tổ chức phá ấp chiến lược Giồng Dứa, xã Long Định, chuẩn bị kế hoạch đánh địch phản ứng và có thể nhử địch càn vào cầu Kinh Năng để tiêu diệt. Lúc này địch dồn lực lượng, phương tiện mở cuộc càn quét vào vùng giải phóng thuộc 2 huyện Cai Lậy, Châu Thành. Nhận được tin này, Khu uỷ Khu VIII, Tỉnh uỷ Mỹ Tho điều động đại đội 1 tiểu đoàn 261 (do đại đội trưởng Bảy Đen2 chỉ huy), đại đội 1 tiểu đoàn 514 (do đại đội trưởng Mười Điệp chỉ huy), một khẩu đội pháo cối 60 ly, trung đội bộ đội huyện Châu Thành, do đồng chí Hai Hoàng3 chỉ huy chung, khẩn trương chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng đánh thắng cuộc càn quét của địch vào Ấp Bắc.

Trên cơ sở một ấp chiến đấu có hệ thống công sự, trận địa đã được xây dựng từ trước, bộ đội và du kích đã củng cố và cải tạo hoàn thiện cho phù hợp với ý định bố trí lực lượng và cách đánh của mình4. Đồng thời, các phương án đánh máy bay, xe bọc thép, bộ binh địch, cũng được ban chỉ huy trận đánh dự kiến, đưa ra những biện pháp đối phó. Người già, phụ nữ, trẻ em trong thôn ấp đều được chuẩn bị nơi trú ẩn an toàn ở các khu vực kế cận khi trận đánh nổ ra.
_____________________________________
1. Neil Sheehan: Sự lừa dối hào nhoáng, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr.272 đã mô tả vị trí thuận lợi của địa hình nói trên: “víệc ngồi trong công sự trên đập để bắn qua cánh đồng chẳng khác nào ngồi trên hàng thứ tư của khán đài để bắn súng vào sân bóng”.
2. Đồng chí Bảy Đen tên thật là Đặng Minh Nhuận - cán bộ miền Nam tập kết ra miền Bắc năm 1954. Năm 1962, đồng chí được điều động trở lại chiến trường Khu VIII tiếp tục chiến đấu. Với chức vụ đại đội trưởng đại đội 1, tiểu đoàn 261 chủ lực Khu VIII, đồng chí đã chỉ huy đơn vị lập nhiều chiến công suất xắc, đặc biệt là trận Ấp Bắc ngày 2-1-1963. Chính đồng chí là người đề xuất ra phương châm hành dộng táo bạo: “Cắm cọc, chồng lưới, trụ lại bẻ lao” để đánh thắng chiến thuật “Bủa lưới phóng 1ao” của địch trong chiến tranh đặc biệt. Cuối tháng 8-1963, đồng chí anh dũng hy sinh trong khi chỉ huy đơn vị đánh đồn Thanh Nhựt - Cầu Ngang.
3. Đồng chí Hai Hoàng tên thật là Nguyễn Văn Điều, một cán bộ chỉ huy tiểu đoàn mưu trí, dũng cảm, đã từng chỉ huy đơn vị đánh thắng nhiều trận trong những năm tháng đánh Mỹ - ngụy ở miền Nam. Trong cuộc Tổng tiến công, nổi dậy mùa Xuân 1968, đồng chí anh dũng hy sinh khi chỉ huy mặt mũi xung phong tiêu diệt mục tiêu trong nội đô Sài Gòn. Ghi nhận công lao to lớn của đồng chí, Nhà nước đã truy tặng đồng chí danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
4. Mô tả việc xây dựng công sự bí mật của ta tại Ấp Bắc, Neil Sheehan trong cuốn Sự lừa dối hào nhoáng viết: “Học được kỹ thuật trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, các sĩ quan đã kiểm soát, hướng dẫn nông dân và chiến sĩ đào hố cá nhân mà không đụng đến tán lá chung quanh. Phần đất thừa được mang đi phân tán. Ở những nơi tán lá không đủ che, họ chặt những cành tươi cắm quanh hố cá nhân, ngay cả trực thăng và máy bay quan sát L19 bay thấp cũng không phát hiện được họ”.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM