Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 11:52:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo  (Đọc 165040 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #200 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:44:00 pm »


Nay nhân dân nước ta tuy đã biết dùng những cơ xảo để giúp sức người. Cơ xảo xứ ta còn nhiều khuyết điểm cái đó chưa nói, chỉ nói những điều nhỏ và dễ làm mà khuyết điểm còn chan chan. Xin lược kể như dưới:

NHỮNG KHUYẾT ĐIỂM VỀ VIỆC NHỎ (QUANH ĐÔ THÀNH HUẾ ) CÓ THỂ CẢI CÁCH ĐƯỢC

Kinh thành là một nơi tụ hội cả thanh danh văn vật và oai nghi lễ phép từ đó mà ra. Vậy mà trừ các nơi cung phủ ra, có lắm điều thô lỗ quê mùa không sao nói xiết. Thánh như Khổng Tử, từ cư xử, ăn uống, cử động, tới lui, việc nhỏ mọn ấy, học trò đều ghi chép để làm gương cho người sau. Vì xem người, xem điều nhỏ mà có thể biết được điều lớn.

Nói riêng về một sự ở. Nhà cách trí có nói: Người đời sinh bệnh nhưng bệnh đó từ lỗ mũi mà vào; những nơi uế độc, nhân khí nặng nề mà chưng lên, lẫn trong không khí, theo gió bay ra khắp nơi, nếu người nào hớp vào phổi thì khí độc ấy theo mạch máu mà đặt vào phủ tạng và chi thể mà sinh ra bệnh tật, đến huyết trong thân người hư hỏng mà chết. Đó là lý rất đích xác. Xem mùa nắng nhiều người cảm bệnh mà nhiễm bệnh ôn dịch thì rõ.

Nay trong Kinh thành, con đường lục bộ cho đến đường các nha thự chợ quán tường hào, vườn hoa và các bến sông chỗ nào cũng có uế khí, thậm chí có kẻ trước mặt công chúng mà đi tiểu đại không biết xấu hổ; các cầu dọc theo sông, không luận ngày đêm đàn ông, đàn bà cứ ra nơi ấy mà phóng uế, quen lấy làm thường. Người lo sửa mình đối với bóng đèn nệm gối, còn lấy làm hổ thẹn, xây lưng với người gọi là vô lễ, trần mình đối khách gọi là khinh mạn. Huống Kinh đó là nơi tôn nghiêm, trên các đường quan quân qua lại, sĩ thứ tới lui mà còn để có những chuyện “bất nhã” như trên sao? Ở phương Tây phàm những người nào bỏ rác làm nhơ đường đều bị phạt cả vì việc ấy bất nhã mà có mối hại chung. Ta cũng là người như họ, lại không biết xấu hổ sao?

Đến như gạch vỡ ngói hư, cây nhành khô lá rụng đổ rác và tro than các nhà loại ra người nước khác thu nhặt làm đồ vật hữu dụng, tăng tấn nguồn giàu cho nước... mà người mình thì vứt ra cùng đường, ném xuống ao vũng, hoặc đổ ra ngoài hào quanh thành, chất đầy cả bến sông, có nơi đến chất đống, người ta nhân đó có thể vượt hào sang bến được. Tôi từng thấy nhà người ta cứ mang đồ ra tới nơi lan can các hào cửa thành mà đổ xuống thường lắm.

Người Tây phàm đường sông quanh thành và thông vào thành nếu như có người nào bỏ vật gì xuống thì bắt phạt là phòng lâu ngày đường sông ấy bị chất chứa mà thành cạn. Nay hào sông quanh thành ta nước cạn không lút đầu gối, hai cảng Đông Ba, Bạch Hổ cát bồi gần lấp bờ. Lúc đầu tiên đào những hào và sông ấy là đặt nơi hiểm yếu, mà nay gần như đất bằng là vì sao? Hiện dọc hai bờ hào quanh thành bờ đã có những nơi gần đổ sụp những vôi cát đã hủng hỉu, thấy người ta thường vịn theo nơi hang bờ đá, ở dưới hào mà leo lên bờ, dưới hào lại cỏ tốt, sen lên dễ ẩn núp được... Những điều đó đều phạm đến kiêng kỵ của nhà binh.

QUAN THỰ

Dinh thự các quan, tường vách xiêu đổ; đến các quan giải, trống dưới dột trên, ngoài đường thì bùn lầy, vườn tược thì rác bẩn; trước sân quan nha thì cỏ mọc; trước cửa dinh quan nơi tụ ngõ mà đổ rác thành đống; ngoài hào thì nơi lồi nơi hủng, các nhà trong thành, hai bên đường gần nhà cứ quét dọn ra giữa đường như chia giới hạn vậy. Những đường bên vách tường đó, mùi hơi hôi thối, người đi qua phải che mũi đi mau... Cửa thành gọi là “quốc môn” lại gọi là “tượng khuyết” đời xưa phàm có truyền hiệu thì lệnh đều treo yết nơi cửa đô thành, người đi qua phải nghiêng lọng xuống ngựa để tỏ lòng tôn kính, mà nay lại công nhiên làm nhơ bẩn, như thế thì lòng tu ố ở đâu. Không phải là tiết mạn hay sao? Sao gọi là người nước biết giữ lễ nghĩa?

NHƠ BẨN CÓ HẠI ĐƯỜNG VỆ SINH

Những mối tệ như trên không sao kể xiết. Phàm những khí uế độc đều ở xứ này mà theo luồng gió lại bay sang xứ khác; huống chi là ở trong một đô thành. Tuy có một vài quan thự dọn dẹp sắp đặt cũng sạch sẽ chỉnh đốn; song nước gáo không thể cứu được lửa xe, cả đời đều đục mà trong riêng một mình thành ra nhiều người sinh bệnh, quân lính hay sinh lở chân... đã hại thân thể người và kém phần nhân đạo, như thế không cho là việc nhỏ được.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #201 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:45:46 pm »


VIỆC ĂN Ở

Các dinh quan như sáu bộ đường, bốn phía thềm ủm thủm, chỗ lủng, chỗ sứt, trông nó so le, xiêu quẹo như hình rắn đi. Trong nhà mò tối cửa vách đen mò, khói bay mờ mắt, giường chõng mục rệu, cánh cửa lung gãy, có lẽ giống nhà ông Nguyễn Hiến thời xưa1. Đến đồ dùng trong nhà đều khí cụ thô vụng cũ rích đời nào, tưởng đâu các quan ta có tính ham đồ xưa. Ván kê sát đất không thông khí gió, trải qua ba mươi, bốn mươi năm loài rệp mối tụ họp thành ổ cắn người thành ghẻ, thán khí chất chứa không tan, cảm xúc là sinh bệnh. Thường nhà người trong buồng sâu phòng kín, không khí không thông, hễ một lần quét là thán khí bung ra, người vào đấy phải nhức đầu nghẹt mũi. Đó là thực chứng; huống rắn rết chuột muỗi dùng những nơi dưới hầm thấp buồng kín làm hang làm ổ truyền đời này sang đời kia, những đồ nhơ bẩn chung quanh đều dồn chứa vào đấy, cái khí độc thật không nói hết!

Tôi thường thấy quan viên ở dãy hai bên, và gia thuộc sai lính đi tìm thầy thuốc mà những quan và gia thuộc đó trông hình vóc ốm yếu như người ở trong rừng sâu, trọn ngày làm việc khó nhọc khí uất trí ngăn, thì làm sao cho mình được thanh sảng, chí khí được khỏe khoắn mà làm việc cho tinh tường được?

Thầy Mạnh Tử nói: “Sự ở thay đổi được chí khí, sự nuôi thay đổi được thân thể”. Thật thế, người không có ăn mặc thì đạo vua tôi cũng dứt. Đó là điều đích xác và nhân đạo. Tôi thấy phần nhiều quan viên ăn uống sơ sài không bằng nhà trung sản trong dân gian. Họ thì trả lời rằng không phải không biết đồ tư dưỡng nên phong hậu, chỉ khổ không có tiền chu cấp nên phải thế... Chính dưới nhà bếp không mấy khi có thịt thừa, cơm thừa. Đó là mắt tôi từng thấy mà không khi nào quên. Như thế là cố làm cái giả dối để câu cái dạng sao?

Năm trước sứ bộ ta sang Tây, người Tây thấy sự ăn uống của sứ bộ quá đơn giản, họ nói: “ăn uống như thế mà có sức để bổ vào phần trí dũng thật không sao hiểu được”. Đến trước mặt người nước ngoài mà không dám dọn bữa ăn cho sang không rõ là ý gì? Tôi rất lấy làm đau lòng, nên không thể không nói, sợ làm trò cười cho người ngoài không phải là việc không quan hệ.

Bộ đường là nơi nguồn gốc chính trị, nền tảng cường thịnh trong nước, quan hệ đến phong hóa và quốc thể, nhân dân chiêm ngưỡng, người nước ngoài trông vào mà sự ăn như đã thuật trên không những không biểu thị khí tượng hùng tráng của nước nhà, mà ở trong không khí ẩm thấp thì người càng mê mỏi, tâm trí còn có lúc nào khỏe khoắn mà làm việc gắng sức chịu nhọc với phận sự? Tôi ở nơi chái tây quan Hiệp biện đại thần mà sinh bệnh lười biếng mệt nhọc, không có việc gì mà còn thế, huống chi các đại nhân công việc nhiều thì sao?

Hiện nay có lệnh cấm “người nước ngoài không được vào trong thành” vẫn là theo thời thế. Song ngày sau cùng các nước giao thông mà bỏ lệ cấm trên, người nước ngoài vào thành bước chân vào các bộ đường mà so sánh với cách cư xử của họ thật không khác gì một trời một vực, nhục đến quốc thể biết bao! Mà đã nhục đến quốc thể tức là bày chỗ hèn yếu cho thế giới cùng nhìn thấy, không xem như là việc nhỏ được.

KHOẢN TIÊU DÙNG CỦA QUAN VIÊN

Về các khoản ăn dùng chi tiêu của các quan viên không bằng sự tiêu dùng của một nhà khá giả trong dân gian. Tôi hỏi vì sao, thì họ trả lời: “ăn tiêu như thế mà người ta gọi là quá xa xỉ rồi đó”. Có viên hàm Hàn lâm trước tác, ra chợ mua một xâu cá một xấp thuốc, mang về tự nấu lấy, hỏi thì họ nói: “Không có tiền thuê đứa nấu bếp” (!).

Chức phận dầu nhỏ cũng là quan của Triều đình, mà khổ nhục đến thế, thì dân bảo thế nào? (Đoạn này kể nhiều đến điều mắt thấy vào thời ấy, như nhà quan chức lớn mà ăn uống thô hèn, công tử mà bận áo rách v.v... xin lược).

Thường thấy nhiều vị quan viên tiêu dùng một quan tiền như nhà buôn giàu xài một trăm quan...

Những cách hiểu đó, chính là con ma nghèo đeo đuổi trìu mến mà không rời vậy. Sao không làm văn mà trục nó đi? (Quan há bấy giờ không tiền mà lương ít thì lấy đâu mà xài? Tiên sinh chỉ nói đến hiện tượng mà không xét đến nguyên nhân, nên lúc ấy dư luận không phục ).

Ở phương Tây một vị quan nhà nước, nếu làm không đúng cái thể quan, mà có đê hèn đôi chút đã bị cách chức vì đã làm vết xấu trên danh dự quan trường. Cho đến hạng dân nghèo không được đi đến nơi đó hội phồn hoa đều là để tôn trọng quốc thể vậy.

Còn như quan ta, nếu bảo rằng che giấu sự giàu mà biểu thị cái nghèo ra, thì cũng vô lý hết sức. Vì ăn dùng như vậy có người làm quan trọn đời mà cũng như vậy. Lại có ông quan thăng trật cải lỵ mà dân dám đón đường đòi nợ như đám dân nguyện lưu. Vậy để tiền làm gì? Giả dối đến thế là cùng. Phải chăng để dành tiền đặng dùng sau lúc mình chết? Tôi chính mắt thấy có ông quan già về hưu mà còn sống nhờ vay nợ, phải chăng để dành tiền bạc di chúc cho con cháu trả nợ cho mình được sạch tiếng chăng?
__________________________________________
1. Nguyễn Hiến: Bậc cao đệ của Khổng Tử có cảnh nhà trên dột, dưới thì ướt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #202 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:48:39 pm »


SAO GỌI LÀ LIÊM?

Gọi rằng “liêm” vẫn tiếng tốt, song tại lương tâm mình chứ không phải dùng vật. Nay có người giữ theo tính riêng của mình khác với mọi người, như người xưa có anh say mê người con gái một mắt, xem người đời đều thừa một con mắt, mà cho là người đời không có người hoàn toàn; hay thấy người nào dùng một vật gì tốt mà xúm tay chỉ trỏ, làm cho người kia mang tiếng này nọ. Lấy cái tính quyến giới trái thường của mình mà đạc chừng sự tham mạo của kẻ khác xem người đời như ruồi hút máu, mà đem cái nết con trùn để buộc vào tính người (loài giun ăn đất) để so sánh chỗ mình khác người, đó há phải người bình tình nên làm sao?

Tôi thấy quan viên phương Tây gặp có vị quan nào cùng túng thì bạn đồng nghiệp, đồng liêu quyên giúp đặng mua đồ khí dụng tinh hoa, trần thiết cho có vẻ đẹp. Nhà nước đối với quan viên ngoài bổng lộc lại có tiền phụ cấp, cho xứng với chức quan và thể diện quan. Vì một người có điều xấu hổ như lá đổ xuống nước mương rãnh và dạy quan học thói tham vậy.

Nhà nước vẫn cầu cho quan được giàu sang và ghét quan tham ô. Làm quan tham ô nhục đến thể diện, ăn của đút lót, hình luật có phạt. Song có bổng dưỡng liêm mà sau tránh phạt kẻ không liêm, mới mong tránh khỏi mối tệ nói trên. Nếu ngăn phòng sự tham ô mà lại ghét ganh kẻ giàu sang, nào có khác gì nhân nghẹn mà bỏ ăn?

Vậy, trừ việc “hiếp người trái phép mà lấy của” đáng bắt tội ra, ngoài ra, theo việc thông thường mà làm nên giàu không hại cho ai mà dân được nhờ, cũng lại là đáng khoan, lại giúp thêm việc thịnh lợi cho nước. Tức như thầy Mạnh đã nói: “Trị người thì được người nuôi”.

Vả chăng tài hóa cần phải lưu thông, có tụ lại thì có tan ra, là lẽ tự nhiên, không lấy gì làm phương hại, Tiên Triết có nói: “Quan tham mà có phần trung hậu, hại dân chưa lắm. Quan liêm mà quá ư thâm khắc, dân chịu cái hại ngấm ngầm không ít, mà hao tốn đến quốc mạch”. Vì đã cần cho được tiếng “liêm” thì việc gì cũng thẳng tay, không chịu xét theo nhân tình. Đạo trời cũng thế, nên chỉ thi hành cái lệnh “túc sái” mùa thu, tội gì cũng tuyệt trừ đi, thì người và vật có lẽ đến ngày nay không còn.

Đời Đường, ông Hàn Dũ làm việc tể tướng, thấy có ai bới lông tìm vết, chỉ vạch điều lỗi của kẻ khác, ông bảo: “Trên đời, vua thánh như trời mùa xuân, sanh trưởng muôn vật; thứ tốt loài xấu đều bao dung cả. Sao lại tìm móc điều lỗi nhỏ của kẻ khác để giam cầm người ta giữa đời thịnh trị?”

Trương Tuấn, tôi đời Tống, một ngày nọ bắt được một đảng ngụy chở ba mươi vạn quan tiền, muốn kết án tử hình. Triệu Khai xin lấy cái ấn “Tuyên vũ sứ” đóng lên trên số tiền ấy, kêu tội “kềnh” (chạm chữ vào trán) bắt bọn chúng làm công việc đúc tiền... chỉ xoay một cái đã được ba chục vạn tiền, lại thoát tội tử hình cho năm mươi người, đời sau khen Triệu Khai là tay “đại thủ đoạn kinh tế”.

Tào Tham, danh tướng đời Hán, ủy thác cho người thay chức mình nói không nên làm rối chợ ngục. Quản Trọng, danh tướng nước Tề nói Bảo Thúc Nha không thể làm chính trị vì thấy người nào có lỗi thì trọn đời không quên (Không có độ lượng làm tướng quốc v.v... )

Trên, nói “liêm cũng có hại” là vì thế. Bằng như nói kẻ giàu sang lại tham ô, thì sao không trị tội một cách minh bạch công nhiên, mà chỉ lấy lời nói làm phòng hại người cùng cách bó buộc ăn ở để phòng hại đến quốc thể?

(Bài này cốt châm mối tệ đời Tự Đức, nên cực lực bác cái đức “liêm” giả dối đó. Đời nay thì dầu người liêm giả dối cũng đỡ cho dân).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #203 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:49:30 pm »


KHÔNG DÙNG ĐỒ TỐT ĐẸP KHÔNG PHẢI LÀ LIÊM

Âu Tây thì khác thế: Không luận là quan hay dân, đều cần cho được giàu thịnh, vì quan dân trong nước mà có được nhiều cái tốt đẹp đều có quan hệ với quốc gia Triều đình. Nghiệm ở Triều và ở thôn quê mà biết nhà vua tôn quý là thế nào. Vào một nhà nào mà thấy bọn đầy tớ ăn mặc chỉnh tề, thì biết chủ nhà là giàu sang; làm con cái mà lập được cơ nghiệp tốt đẹp, đó là lẽ đương nhiên. Nay ở nước ta lại cố ý làm cho thô vụng xấu xa và có tục ngăn cấm sự ham đồ tốt đẹp, như có nhà nào dùng một vài đồ ngoại quốc thì nghi là tư giao, ngấm ngầm kiếm cách để làm hại, cho đến người đời lấy sự “tốt đẹp” làm kỵ húy. Từ quan đến dân, đua nhau làm những nghề tinh xảo ngày một tiêu mòn, dùng những đồ vụng rồi thể thống càng hèn, người giàu cũng như người nghèo, kẻ sang cũng như kẻ hèn, có cái thế đáng ham muốn mà không có sự đáng kính, không có cái vinh hoa phô với người. Văn vật ngày càng suy, áo xiêm càng xấu, không có vẻ tốt đẹp. Như nói lấy lễ mà tiết chế kẻo sợ người nước tập thói xa xỉ thì trên thế giới các nước đều lấy sự giàu mạnh mà khoe với nhau là ngu dại cả hay sao?

Trời sinh ra những vật tốt đẹp cho người sử dụng, mà nay lại ném bỏ đi, ấy là bạo khí của trời. Như thế thì việc thông thương mại, khuyên trăm thợ, không cần nói đến, giàu nước đủ dân cũng là sự đáng chê, lợi dụng hậu sinh, không có nghĩa gì, mà đặt ra trường học và xưởng công nghệ, cũng là việc không cần cả. Đồ khí dụng tốt đẹp, tạo ra mà không được dùng, lại kiêng sự dùng, khinh rẻ kẻ dùng, ai dùng lại bị chê cười nữa, thì dùng đồ tốt đẹp đó trở thành làm nhơ kẻ hiền đạt, nhục đến thân danh, rước lấy điều ghen ghét lại bị dòm xét này nọ, thì có khác gì làm cái hầm trong nước cho người nước xỉa chân vào hay sao?

Thánh nhân đời xưa không quý chuộng vật lạ là những thứ vô ích vô dụng mà khêu lòng dâm đãng kia. Nay như cái đồng hồ, cây đèn cùng cả đồ tinh xảo thường dùng trong nhà, cần thiết với nhân sinh thì dùng lại càng tốt. Vậy mà tôi đã hỏi nhiều vị quan sao không mua đồ ấy mà dùng cho tiện lợi, thì thảy cả đều trả lời “chết! chết!”. Không rõ có cái gì cảm hóa mà ngấm ngầm khiến cho người ta làm theo, như là luật hình nghiêm khắc đối với giặc bí mật.

Theo thông tánh loài người, ai cũng có tính ưa thích cái đẹp; nếu trái với cái tính ấy thì trăm việc không việc gì nên, mà trái với tính trời đã phú cho người. Duy dùng có tiết độ, vừa phải, ấy tức là lễ chớ đâu phải buộc cả mỗi người đều trốn đời tu hành mới gọi là “liêm” hay sao? Liêm như ông Trần Trọng Tử ở Ô Lăng (không ăn của anh, ở riêng một mình) mà thấy Mạnh Tử mạt sát, Tề Oai Hậu cho là đem dân vào đường vô dụng mà đòi giết đi.

TRỊ ĐỜI PHẢI XÉT TÍNH NGƯỜI

Thánh nhân trị thiên hạ, phàm việc gì bất cận nhân tình như kẻ trốn đời, tuy có kính trọng, mà không thể đem khuôn kiểu ấy ra dạy người đời. Sáng mắt như Lý Lâu, thấy cây kim trong buồng tối, nhưng cũng phải dùng thước, cân, lượng mà chuẩn, vì không lấy cái “sáng” đó mà buộc cho người thường được.

Vua Hoàn Công nước Tề háo sắc, mà Quản Trọng cho là không hại gì nghiệp bá. Vua Tuyên Vương nước Tề háo hóa mà thầy Mạnh cho là nên suy ra thành vương chánh... Từ xưa những vị vua anh hùng khai cơ dựng nghiệp, đều lấy sự “bảo trợ giàu sang, chung cùng lợi lộc” thề với những truy tùy với mình. Nếu mỗi người đều thành như Bá Di, tín như Hiếu Kỷ thì cùng ai mà tóm thâu thiên hạ làm nên nghiệp vương được? Và như các vị công thần, bỏ nhà cửa, lìa bà con, trông ngày sau được phong tước hưởng lộc đó, đều cho là hạng người bất trung và tham tâm cả sao? Như chỉ hứa bằng miệng suông mà không có thực lợi giàu sang đi theo sau thì mục “cửu kinh” trong sách Trung dung, có hai chữ “trọng lộc” cũng nên cạo bỏ đi cả.

Phải biết hai chữ “danh lợi” cùng đi đôi với nhau. Nay đã gánh phần lo cho thiên hạ mà không được hưởng niềm vui trong thiên hạ, thì ai còn khổ gì mà phải làm quan? Xưa vợ Trần Trọng Tử can chồng nếu chịu lãnh tước lộc thì phải gánh việc nước, e có điều nguy đến tánh mạng... người đời cho là hiền, vì trọng tính mạng mà xem nhẹ tước lộc. Nay đã bắt lo toan việc nước là việc nặng mà lại không được hưởng cái nhẹ kia, thì làm sao mà bảo trọng được?

Đời xưa vua đãi với tôi, như vua Nghiêu sắm đủ kho đụn để phụng vua Thuấn, vua Chiêu Công định phong Thơ xã cho Khổng Tử, có phải là đem cái mồi giàu sang mà dụ người đâu?... (lược) Đã là quốc gia phàm việc gì cũng gốc theo nhân tình và thông tính trời phú cho người, dầu thánh hiền cũng không khỏi. Nay lại mất cả người trong thiên hạ mà làm cùng khốn quê hèn, không phải là trái với tính người sao? Như vậy thì trông mong cho nhà nước giàu mạnh thịnh lợi để dùng làm việc gì mà lo toan cho mệt nhọc?
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #204 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:51:20 pm »


VẬT CHẤT CÓ QUAN HỆ VỚI TINH THẦN

Người xưa đến một nước nào, vào trong nước mà trông thấy đô thành tráng lệ, lâu đài phố xá chỉnh tề sạch sẽ, đô thị có ngăn nắp, nhà cửa có hàng ngũ, đồ mặc đồ dùng có vẻ chỉnh sức, không khí trong sạch... thì biết là nước ấy có cái cảnh tượng hùng thịnh tấn tới, trái lại nếu trông thấy nhân vật quê mùa hèn hạ, phong cảnh u sầu, ăn ở tệ lậu, trông phong sắc có dạng buồn rầu cực khổ thì tương lai của cái vận nước ấy không đợi nói mà ai cũng hiểu được; điều quan hệ đó, đâu phải là việc quan hệ nhỏ (Thuyết này rất đúng, không rõ Triều Tự Đức có quan cảm thế nào?)

Nói riêng ở chỗ Kinh thành đây, cái ao trong ngoài thành để cỏ mọc um tùm, chung quanh thì làm nơi chứa những rác rến dơ bẩn chất thành từng đống, có nhiều hơi độc. Nhà cách trí có nói: Phàm những nơi ẩm thấp đồ dơ bẩn của người và vật, chấm ngấm trong bùn đất, đến mùa nắng khí độc xông lên, người ta gặp phải sinh tật bệnh cảm nhiễm đến chết. Xem hôm nào trời động trên mặt nước có cái sắc khác với ngày thường, đó là chứng thực rõ ràng. Bằng như nói sợ động đất không nên đụng chạm đến các ao đó, thì trước kia đào những ao đó làm gì? Mà đã vô dụng thì lấp bằng đi, sao lại để cao không cao, thấp không thấp, ao không phải ao, ruộng không thành ruộng, làm những khoảng đất trống vô dụng làm mối hại lâu dài ngấm ngầm cho người đời? Nay như nhận những cái cũ sẵn có đó mà chỉnh đốn cho thành mới, nuôi cá phải phép thì mỗi ao trong một năm có thể lợi được hai ba ngàn quan tiền, lại được những điều ích hơn là phong cảnh vui đẹp, có lợi dùng nước để tưới vào hoa quả và tuyệt khí độc sinh bệnh hoạn. Như thế vì cớ gì mà không làm được?

Tôi lại thấy các nước trên thế giới, phàm những dấu tích của các vị đế vương đời trước còn lưu lại, bất kỳ thứ gì có mồ hôi tay và miệng của tiên triều, không luận cái lớn hay nhỏ, đều bảo tồn một cách rất cẩn thận, cho đến lâu đài quan phủ cũ đều chăm sóc chỉnh đốn cho mới thêm, khiến cho người sau trông thấy huân nghiệp hùng vĩ, biết là cội gốc sâu xa mà sinh lòng yêu mến sùng bái cũng lâu dài. Điều quan hệ không phải nhỏ, chỉ xét về mặt trái thì biết. Song đó là điều kỵ húy không dám nói rõ.

ĐI XE VÀ ĐI GIẦY

Xa chính (trong nước dùng xe để đi và vận tải) có lẽ nước ta bỏ đã lâu mà không tu chỉnh lại. Trên thế giới từ nước hạng nhất đến nước hạng ba không nước nào không lấy xa chính làm việc trọng đại, vì giúp cho sức người rất nhiều công việc. Xưa nay trên sử sách nói về xa chính đều có minh chứng không đợi nói nhiều.

Trời sinh vật để giúp cho người dùng và thay sự khó nhọc cho người nữa, dùng trâu ngựa kéo xe chở đồ nặng, trên đời thường dùng ít mà thu công nhiều. Nếu dùng sức một, hai người mà mang gánh không phải phụ cái ý “trời sinh vật cho người dùng” hay sao? Đến xe cộ dùng vào việc binh, công dụng rất lớn, không nói hết được. Đã có xa chánh (có xe phải nuôi ngựa), mà nghề mục súc cần phải mở mang, không phải là việc lớn trong quốc chính sao?

Tôi thấy những người phu kéo xe và đẩy xe chở vật hạng trên đường cái quan, nếu có người nào quá nhọc mệt mà ngồi lên trên xe thì kẻ hạch hỏi và bắt phạt tội, không rõ có điều nghiêm cấm ấy không mà họ làm như thế? Nếu như nhận thứ xe làm đồ phẩm dụng quan dụng thì phân biệt bằng quy chế để chỉ rõ từng đẳng cấp (xe quan dùng, xe dân dùng, có dấu hiệu v..v...) không tiện sao? Sao lại không chỉ rõ đẳng cấp, mà cứ để mù mờ để hẳn một việc dùng lớn trong nước? (Trong dân không có xe). Có tiện lợi cho việc dùng mà sau dân được phong hậu, tức là ích cho nước. Các nước thế giới đều nhận việc xe cộ vận tải làm mối lợi giàu mạnh trong nước, quan hệ cả công tư, không phải là việc nhỏ. Việc dùng thế nào không đợi nói nhiều.

Thứ giày là việc hèn không đáng nói. Người sở dĩ khác với loài vật là biết ăn thịt nó, dùng da nó để giữ thân mình cho tròn vẹn, cha mẹ sinh thế nào thì bảo tồn thế ấy, không làm hại đến có vết tích, ấy gọi là hiếu. Nay người mình đem cái chân cha mẹ sinh thành mà không từ gai góc, không tránh sạn sỏi, nhơ bẩn và trùng độc, cứ đạp bừa mà đi. Vì thế người mình thường sinh bệnh lở chân, lở cẳng (ghẻ chùm bao và dạn v.v...) nhiều hơn nước ngoài.

Trời sinh loài thú ban cho nào nanh, nào móng, lại có da dày rất bền, đâm không thủng gai không đâm được. Nên loài vật không cần đi giày cũng có đồ tự vệ. Đến loài người da chân rất mỏng, có cái gì chạm là lủng, đã không có da dày như loài thú để giữ cái chân, lại không dám mang giày, người không giống người, vật không giống vật không phải một điều khổ sao?

Các nước thế giới không nước nào dùng thứ giày làm vật phẩm quan dụng (Quan dân có tiền thì sắm mà mang), vì nó là vật hèn. Như nước ta nhận lầm là vật phẩm dụng (Dùng để phân biệt với người có quan phẩm) thì trên đôi giầy mang một dấu hoa hay vẽ gì đó để phân biệt quan dân cũng được, cần chi phải cấm thứ “giày” hèn đó khiến cho dân gian không ai dám đi giầy để cho người ngoài cười mình là dân dã man? Chưa nói người mình cần giầy thì thêm được một nghề cho người có việc làm, đó là điều ích. Chứ như không mang giầy mà chân bị thương thì toàn thân đều không dung. Người xưa lúc ra trận bị đâm nhằm vật nhọn, bị té ngã mà toàn quân bị thua, chứng rằng “giày”, vật tuy hèn mà công dụng rất lớn vậy.

(Dân gian đi giày không có minh văn lệnh cấm đời nào. Song xem đời Nguyễn Trường Tộ tiên sinh thì đời Tự Đức có lẽ theo tục lệ, quan thấy dân đi giày thì quở phạt. Hiện nay một vài nơi phủ huyện học trò và dân đi giày, guốc có nơi bị quở đánh, thì tục lệ vẫn chưa dứt hẳn. Một điều lạ là phương Đông như nước Tàu mà mắng người thường dùng tiếng “lão không giầy” (vô lũ chi lão). Còn người Nhật toàn đi guốc cả nên có tiếng là nước guốc gỗ. Duy có nước ta dân gian không đi giầy, đến ngày nay dân quê còn thế, đó là cái chứng nghèo chăng?)

Trời sinh loài người khiến biết tạo các vật dụng để phân biệt với loài vật, để toàn đạo làm người, là vì lẽ gì? Nói nhường riêng một thứ giày đó để quan dùng cho trọng sự tôn kính, thì giày ở dưới chân vẫn là đồ khinh, còn áo mặc mới là trọng, sao không cấm thứ trọng để quan được mặc áo, hưởng sự quan trọng đó? Mà bắt dân gian làm “nước ở trần trụi” không được mặc áo, không cần trồng dâu để nuôi tằm, không dễ dàng hơn sao?

Thánh nhân chế lễ, gồm cả việc nghi văn để bày tỏ là có lễ có văn mới gọi là lễ; nếu như trần vai truồng mình thì gọi là khinh mạn. Nay ở trường ca xướng hát bội thì bọn hát được đội mũ đi giày, thì ra lấy trường hát bội làm trọng, mà khinh rẻ nhà công đường sao? Tôi không rõ từ đâu mà sinh ra cái tục đó, rất trái với bản ý lễ của thánh nhân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #205 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:52:14 pm »


MỘT VÀI TỤC XẤU CỦA PHỤ NỮ

Đến như phụ nữ ta, lại có lắm điều vô lễ; tôi thấy trên thế giới người đàn bà đã 50 tuổi mà không khi nào lộ nửa thân thể ở trần bao giờ. Tuy dân Mã Lai là dân bậc chót, đàn ông nửa mình trên đều ở trần, mà con gái thì bận kín. Đến người nước Tiểu Tây (Thổ Nhĩ Kỳ) thì con gái, đàn bà chỉ để lộ hai con mắt, mặt mũi đều che kín cả. Người ta làm thế là để phòng nhàn sự phi lễ.

Nay đàn bà xứ ta, thường thấy nửa thân trên ở trần (ở Kinh thành cũng có thế) mà trước mặt công chúng đông người xắn quần đến trên đầu gối, như đàn ông bận khố, trông như vị hòa thượng không mang một sợi tơ... Đời xưa nói “mẹ chín con” nay hẳn thấy thế, quê xấu biết bao? Sao không biết hổ đến thế. (Đoạn này nói ở trần đi tắm và giỡn cợt nhau... Xin lược).

CHỬI RỦA

Đến trong ngôn ngữ giao tế với nhau lại lắm điều không thể đặt tên được:

Nước ta những nơi thành phố chợ búa không luận đàn bà trẻ con ngu dốt không biết gì đến người có học có biết chữ mà mở miệng là nói tiếng mắng chửi và lời thô bỉ nói luôn đầu môi. Tập thành thói quen, những tiếng “mắng cha chửi mẹ” cùng tục tĩu, người nghe đến nhơ cả lỗ tai mà tự người nói lại lấy làm khoái, cho đến dạy câu mắng, học bài chửi, đọc ra có cung, có điều, nếu như người nào mắng chửi cả ngày mà không trùng lặp, thì người ta xem như Tô Tần, Trương Nghi trong khoa mắng chửi, chiếm giải quán quân vì miệng chửi như nước chảy không khi nào cản vậy!

Đến lúc diễn ra cái bộ dạng mắng chửi, tiếng như mõ rao, chân như múa hát, lên tay, xuống ngón, mặt như sơn đổ, tóc như tơ vò, nước miếng như bọt giải, tay cầm đất lia, chân đi cà xiểng không khác gì người điên... Những thói xấu đó thật là ba phần giống người bảy phần giống ma quỷ. Trước đây lúc người Tây mới đến Gia Định (Nam kỳ) một lần thấy hai người Nam đang mắng chửi nhau, lên tay xuống ngón, múa men v.v... họ xúm lại xem cho người Nam làm trò. Sau họ biết rõ hễ thấy đám mắng chửi nhau, thì dùng “ba toong” giải tán ngay.

Lại còn một điều xấu nữa, hễ có điều bất bình với ai thì phát thệ và nguyện rủa chúc dữ rất nặng. Thường ngày cùng giao du với nhau mà đến ghét bỏ nhau, chất chứa điều bất bình lâu thì khi yêu nhân đó mà sinh ra. Như cho là vô hại thì trong luật có điều “cấm nguyền rủa” làm gì? Đời Hán, Giả Nghị lấy gương nhà Tần làm răn, không phải là vô cớ. Vì đối với đồng bạn mà nguyền rủa minh bạch thì đối với người trên, há không nguyền rủa âm thầm hay sao?

(Có dẫn vài chuyện “rủa” làm chứng, xin lược).

“Không nên nói điều phi lễ” thánh nhân có dạy: “Mắng chửi bị án xuy mười roi”, luật có điều ấy rõ ràng. Nay thói ấy đầy cả thành thị mà cứ để như vậy thì còn dùng sách và vật làm gì? Việc nhỏ như thế mà không lấy lễ phép chỉnh tề sửa đổi lại, huống chi việc lớn. Ngoài ra như “đầy miệng điều láo, một ngày bán được ba gánh giả, đến đâu cũng dối, ba ngày không mua được một điều thiệt”. Thật là không còn chút lễ nghĩa liêm sỉ nào. Cái phong tục khiêu bạc đến thế là cùng! Thế giới chưa có nước nào như xứ mình. Phép nước mà không làm cho người nước đổi ngoài mặt thì còn nói đến chuyện hóa thành tục mỹ được?

Trên mấy khoản là tựa chỗ gần mà thường thấy, nên chỉ trực tự như thế mà không nói đến phương cải cách. Vì việc cải cách đó rất dễ...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #206 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:55:49 pm »


DI THẢO SỐ 48

Thương lượng với Giám mục Croc*

(22 tháng 5 năm Tự Đức 24, tức ngày 11-5-1871)

Kính bẩm,

Từ khi giám mục Hòa đến, tôi hằng đêm suy nghĩ kỹ tình thế hiện tại, biết rõ rằng hiện nay tình thế bên nước họ cũng chưa ổn định. Tuy muốn giao hảo trở lại với Phổ mà chấm dứt xung đột nhưng Phổ đòi giá quá cao nên họ không gánh nổi, một nửa cũng muốn sống mái một phen, một nửa lại muốn chịu nhục nộp tiền bồi thường. Cả hai đều chưa dứt khoát. Lại nữa nước họ một nửa những người có quyền muốn lập Cộng hòa chấp chính để giúp cho phe nhóm của mình. Còn những người mưu việc chính trị ở Viện Thứ Dân thì muốn lập dòng dõi của vua trước lên (là người chính thống từ xưa nay) để đổi mới nền chính trị. Những người đương cầm quyền thì hết 8, 9 phần 10 đều là người kiêu căng khoe khoang chuyên chế tính khí bất thường. Cho nên họ bàn việc thì phát ngôn bừa bãi chăng nghĩ gì đến việc lợi hại. Vì vậy giám mục có nói riêng với tôi rằng: Việc mà Triều đình muốn, nếu thương thuyết với đảng của họ thì có thể được một cách thình lình hoặc cũng có thể sinh sự một cách bất chợt, chưa thể nào chắc chắn. Bởi vì họ vui giận bất thường. Bọn họ là những người đem nghĩa lý cất kỹ trên gác cao. Những người chính nhân quân tử đều chán ghét họ lắm. Cho nên giám mục suy nghĩ kỹ việc này thấy không có manh mối gì cả thành thử không dám nói chắc (Đó là những ý mà giám mục bàn định riêng với tôi về việc được hay thất bại chứ không phải nói ở chỗ công sở). Nay đảng của họ lại muốn thu lấy nhiều của cải ở sáu tỉnh cho nên việc thông thương lợi ích họ còn rất trì hoãn không để ý.

Như tờ bẩm trước tôi đã nói thay đổi thời cuộc còn khó là vì vậy. Nay người con cháu nhà vua thật là người tốt, mà những người đứng đầu ủng hộ việc lập con cháu nhà vua cũng có nhiều hảo tâm. Còn người con cháu nhà vua, giám mục cũng có biết qua, những người đứng đầu chủ trương việc suy tôn nhiều người ở gần làng với giám mục và giám mục có quen biết một hai người. Nếu may ra người con cháu nhà vua được lập lên và sứ bộ đi Tây mà Triều đình chẳng chê bỏ kẻ hèn mọn thì giám mục vui lòng gắng sức làm công việc sai bảo này. Như vậy giám mục mới bằng lòng. Có điều là những người ấy phần nhiều là những người lương thiện, họ không theo bọn loạn nghịch nhưng mà cứng mạnh đối địch lại bọn kia thì cũng khó ra tay. Do đó việc rước người con cháu nhà vua để suy tôn cũng chưa rõ ràng. Ngày trước giám mục gặp vị nguyên soái trước (Vị này đã về Tây, nguyên soái nay đến thay, y không phải thuộc dòng dõi nhà vua, trước đây vì nghe lầm mà nói) nói rằng: Triều đình có gửi thư cho giám mục ý nói sơ lược về việc ký thác việc đất đai mà về. Nhưng phương lược chưa được sử dụng hết, cho nên giám mục chưa vội thương thuyết. Giám mục nói: Nếu như trong khoảng tháng 7 tháng 8 tháng 9 năm ngoái mà Triều đình tìm ra đường lối thì việc đổi đất gởi đất tưởng cũng dễ có cách. Nhưng nay thì khó nói rồi. Lại có một lần giám mục ngẫu nhiên nói với tôi (Đó là thốt nhiên lộ ra với tôi một câu thôi, nhưng ở trước mặt đại nhân thì chắc chắn không dám lộ ra) rằng: “Hai con cọp giành ăn, đó là cái kế thiên hạ cũng đã dùng nhiều. Có điều là nếu không giỏi về thuật tung hoành thì không thể làm được. Nước Nam cũng đang có cái thế ấy”. Giám mục nói đến đây chợt khựng lại. Thấy vậy tôi bèn nói lảng sang chuyện khác, không dám hỏi lại, coi như lời nói vô ý vậy thôi. Còn về khoản đổi đất, giám mục nói rằng: Quan bố chánh Ngụy đại nhân cũng có lộ cho biết, Giám mục cho rằng thế cũng tốt. Nhưng nghĩ rằng đảng của họ không cho là quan trọng vì không đem lại lợi ích cấp thiết cho dân họ.

Chung quy giám mục nói rằng: Việc đời biến hóa vô thường. Bủa lưới bắt chim hồng chẳng phải vì khó bắt được mà không làm. Tùy thời mưu sự, cùng đường thì kêu trời, đó cũng là thế gian thường tình, chẳng nên vì thành bại mà thở than. Giám mục bàn chuyện với tôi tựa hồ thật chẳng giấu giếm tránh né gì cả, nhưng trước mặt liệt vị đại nhân thì lời lẽ phần nhiều úp mở dè dặt vì sợ thêm nặng nề mà không cất nên nổi. Có điều là giám mục đối với nước ta cũng có được sáu, bảy phần tình cảm tốt đẹp chứ không thiên lệch bênh vực cho nước của người như những người khác. Còn tôi trong khi nói năng thì dùng lời lẽ khéo léo tách bạch ra, thăm dò những chỗ khúc mắc xem như thế nào chứ không dám lộ bày sự thật, mục đích để thử xem đối với thời cuộc như vậy thì giám mục tính toán ra làm sao. Cho nên sự thế ấy cũng chưa nói hết. Trước đấy khi giám mục ở tại Bộ Hình có nói câu “Dùng sức dùng mưu”. Khi về, tôi trách rằng: Triều đình muốn đem tình nghĩa thủy chung ra đối đãi nhau chứ nào có ý dùng sức dùng mưu chi đâu? Giám mục nói: Câu nói gởi đất mà về, tuy không rõ ràng là dùng sức, nhưng tận dụng mưu kế ấy tức là trong âm thầm dùng sức mà bức lấy. Điều đó thiên hạ đã làm nhiều rồi. Có điều là Triều đình thi hành muộn đấy thôi. Nói dùng sức không có nghĩa là nói Triều đình đem binh lực ra chống chọi lại.

Kính bẩm.


(Giám mục nói: “Nghe nói Triều đình muốn sang nước Y. Tôi cũng không hỏi giám mục xem giám mục đã nghe ai nói thế. Tôi chỉ hỏi rằng: Nếu đi có ngại gì không? Giám mục nói: Nước Y xưa nay chỉ vì nước Pháp mà duy trì không dám vội gây sự gì khó khăn. Nay nước Pháp có việc, phải tự lo liệu không được rảnh rang. Nếu người Y tự gây hiềm khích mà đem binh ở Lữ Tống đến quấy nhiễu thì nước Nam lại sinh thêm một kẻ địch nữa. Nếu đi Tây mà yêu cầu nước Y nói khéo giùm cho, mới là khéo xử sự tình thế hiện tại. Những lời giám mục nói, đại lược cũng một vài điều tương tự với tờ bẩm trước của tôi).
______________________________________
*. Bản Hán văn Hv 634/4 tờ 155-160.
    Không ghi ngày tháng. Nhưng di thảo số 48 nói tờ bẩm “22 tháng này”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #207 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:57:12 pm »


DI THẢO SỐ 49

Tình hình chính trị nước Pháp với công xã Paris*

(Giữa tháng 5-1871)

Kính bẩm,

Nay vâng Cơ Mật Viện đại thần liệt vị đại nhân mật hỏi về việc những điều trước đây tôi đã trình bày về sự thế với những điều giám mục nói hôm nay có chỗ trái nghịch nhau là vì lý do gì? Tôi xin trả lời như sau.

Theo các tờ bẩm trước tôi đã trình bày là nên thừa cơ hội trong lúc việc chấp chính bên nước họ đang bấp bênh mà liệu định công việc của mình (Từ tháng mười năm ngoái trở về sau việc chấp chính hãy còn hợp nhất. Nếu tình hình còn kéo dài như thế thì cũng dễ liệu tính công việc. Đến tháng hai năm nay thì những người nắm quyền chấp chính có thể nhập vào đảng tôn vương, hoặc về vườn, hoặc hợp nhập với loạn đảng). Đó là tôi nghe được tình hình lúc mới khởi loạn mà tiên liệu tình thế như vậy. Nếu cuộc diện quả đúng như các tờ bẩm trước mà không xảy ra biến cố gì thì có thể tìm được mối manh (Như tờ bẩm trước tôi đã nói: Quốc trưởng bên nước họ mới tính việc lập đảng để củng cố nội bộ, như thế thì mười phần họ không để ý đến việc xâm lược phương xa). Nhưng sự thế thay đổi bất thường. Nay theo chỗ giám mục thấy thì đảng ấy quá rời rạc không có hệ thống gì cả khó đề đạt được gì. Đó là trên đường về giám mục nghe thấy thêm như vậy (Khi giám mục về Kinh đến Bình Chánh được nghe tình thế lại xảy có biến cố. Khi giám mục ở tại Bộ Hình, những điều giám mục nói là tình hình nghe được từ tháng giêng đến hạ tuần tháng ba năm nay, mà nói chung như vậy). Cũng như những sự lý tôi trình bày trong tờ bẩm ngày 22 tháng này cùng với các tờ bẩm trước hơi có chỗ bất đồng đó là căn cứ theo chỗ bí mật thương nghị giữa giám mục với tôi mà nói. Những điều nói ra không có gì tránh né ẩn giấu cả. Nếu trước mặt liệt vị đại nhân giám mục nói có vẻ sơ lược và không đi sâu. Đó là thể thống cách nói năng phải như vậy chứ không phải có ý thoái thác gì đâu. So với những gì tôi mới trình bày thì cũng thống nhất, chỉ hơi khác là nói cạn và nói sâu mà thôi.

Ngày nay tờ bẩm của tôi có nói: May mà nước họ chấm dứt kẻ địch bên ngoài thì nội loạn sẽ lại khởi lên. Bởi vì nước họ xưa nay truyền nhau theo hệ thống chứ không có phong tục thừa hưởng lâu dài theo lối tập nhượng như các nước. Cho nên khó tạm lập thủ lãnh và như thế chưa chắc sẽ không có sự gì xảy ra. Như năm trước, khi đông cung thái tử ở bên Tây, nước ấy sau đó có loạn lớn mấy năm cũng giống như tình hình hiện nay. Nay mới được tin báo chí nói rằng (Tin này từ Gia Định gởi đến Bộ Lễ trao cho giám mục mở xem. Sự thế bên nước họ từ trung tuần tháng ba trở lại do tin điện truyền đến Gia Định in vào báo tiếng Tây cho người Tây xem chứ không phải nói sơ lược như tờ Gia Định báo. Còn các tin tức do thuyền nhật trình thì chưa đến. Tin tức theo tin điện nói như sau): Hiện nay Phổ Pháp đã tạm nói chuyện hòa nhưng yêu sách chín khoản quá nặng nên chưa ký kết, trong khi dân Pháp phần đông xôn xao như muốn quyết một phen sống mái (Loạn đảng của họ cũng chủ trương không hòa với Phổ để mượn kế lôi kéo dân tâm về với họ mà chống lại các quan quân chủ hòa) như vậy hòa hay chiến tưởng cũng chưa quyết định. Lại nữa hiện nay trong nội thành Ba Lê Tư loạn đảng chiếm cứ, thành Mã Sai, thành Lê Ông và các thành khác phần nhiều có loạn đảng tiếp ứng nhau hoặc lén đến thành Ba Lê Tư hợp với loạn đảng, hoặc tiếp ứng ở ngoài quấy phá bốn mặt. Đảng quan quân hãy còn chống nhau với loạn chúng thắng hay bại chưa chắc. Tháng trước quan binh đã đánh một trận lớn với bọn loạn ở thành Ba Lê Tư, bọn loạn chết đến một vạn rưỡi, nhưng thế lực của chúng còn mạnh, chưa thể một sớm tiêu diệt sạch được. Vì thế tuy việc bàn lập vua đã thành nhưng chưa cử hành được là do loạn quân.

Nay quan quân có nhiều người tốt, trong đó có đại tướng Mạch Mã Hàn. Cho nên giám mục hy vọng việc lập vua có thể thành tựu được. Cứ theo sự cuộc này thì đúng thật không sai. Nếu quả vậy thì sứ bộ ta chắc chắn không thể đi được vì đường sá bế tắc mà loạn đảng thì muốn nắm quyền. Nếu ta chí cầu quan binh nhưng lỡ gặp loạn đảng thì chắc chắn sẽ bị nhục thêm là vì ta không đến cầu họ mà lại đến cầu quan binh. Tháng trước (Khi giám mục chưa đến) tôi cũng đã bẩm miệng với Phan đại nhân rằng: Nếu chỉ đến bàn với nước họ thôi thì nán lại một ít đợi nước họ lập vua xong hãy đi. Đó cũng là một kế sách. Bởi vì việc đi đứng như vậy rất quang minh chính đại và việc đi đứng của ta sẽ được nguyên soái của họ bảo hộ đưa tiễn trọng vọng. Bấy giờ ta đã khỏi tốn sở phí mà công việc cũng dễ nói. Nếu chờ sau một vài tháng có tin mới chắc sẽ biết rõ cuộc diện nước họ ra sao (Dù chưa bình định xong nhưng cũng đã biết đàng nào ra sao). Nếu quan binh thua nhiều thì chắc chắn nước họ sẽ loạn lâu, như 40 năm về trước. Bấy giờ Triều đình muốn quyết định lựa chọn như thế nào (Tức là đến nước họ dùng kế nhỏ nhẹ đấu dịu để thảo luận xin sáu tỉnh) mới có thể quyết định được. Còn nếu muốn đi khắp thiên hạ để thi hành mưu kế của ta thì đã có các tờ bẩm trước nói rõ rồi. Đó là tình hình mới nắm được từ sau hạ tuần tháng này như vậy. Tôi ngày nay tinh thần phiền loạn chưa dám nói nhiều sợ có điều lầm lẫn. Nhưng việc ấy hãy còn nhiều ngọn ngành, xin để trình bẩm sau.

Nay kính bẩm.
______________________________________
*. Bản hán văn 634/4 tờ 154-155.
    Không ghi ngày tháng, có lẽ viết liền sau bản 22 tháng 3 năm Tự Đức 24, tức khoảng giữa tháng 5 năm 1871.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #208 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:58:29 pm »


DI THẢO SỐ 50

Về việc chỉnh đốn quân đội và quốc phòng*

(Tu võ bị)

(Ngày 2 tháng 5 năm Tự Đức 24, tức ngày 19 tháng 6 năm 1871)

Kính bẩm rõ về việc tu chỉnh võ bị.

Tôi xem phép chinh chiến xưa và nay thấy có chỗ bất đồng rất lớn. Việc khó nhất, quan trọng nhất không gì hơn việc binh. Đâu có thể nào cứ giữ như tình thế lúc bình thường mà đối phó được sự biến bất thường. Những vật dụng thời xưa, nay xem lại đã thấy thô sơ xấu xí không dùng được, huống chi là việc binh, ngày nay có thể áp dụng theo phép xưa được sao? Tôi đã xem nhiều nước phương Đông từ xưa đến nay, những điều mà tất cả những nhà binh pháp thi hành ứng dụng và các danh tướng bài binh bố trận, từ mưu lược cho đến trận pháp, thành đồn, khí giới, binh lính ra sao, tướng lãnh thế nào, làm sao mà thắng, vì sao phải bại, nhất nhất tôi đều lãnh hội vận dụng khéo léo, mới biết rằng binh thế biến đổi tùy theo mỗi thời, và đến nay hầu như đã thay đổi hẳn. Tôi cũng quan sát các nước phương Tây từ xưa đến nay, vấn đề phải biến đổi tùy theo thời cuộc, cũng giống như ta mà thôi. Tôi có xem viện bảo tàng ở phương Tây, trong đó trưng bày la liệt đủ thứ binh khí cổ, tôi cũng đi xem các thành lũy xưa hiện còn di tích, rồi đem so sánh với ngày nay, thì thật cách xa nhau như trời với vực. Các nước phương Đông, giỏi dùng binh nhất là Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản (Tôi đã đọc nhiều sách Nhật Bản). Các nước Trung Quốc, Mông Cổ, Ấn Độ, Ba Tư đều chỉ theo chính sách tự vệ. Còn các nước hạng ba như nước ta, Cao Ly, Xiêm La, Miến Điện v.v… chỉ được xếp vào loại ngoài ngõ ngoài hè mà thôi. Nói về tài mưu lược, người thời nay cũng khá hơn so với thời xưa. Bởi vì vận đời càng sa sút thì mưu trí con người càng tăng, lòng dối trá cũng ngày một tinh xảo. Mọi việc đều như thế cả, không riêng gì một việc binh.

Người xưa chế tạo vật dụng để thích ứng với công việc. Họ tạo ra mô dạng như vậy là ứng dụng đúng vào thời thế lúc ấy. Làm sao lại có thể cứ giữ mãi một thứ khí cụ chế tạo từ thời thượng cổ đến nay mà không cải biến? Binh gia cũng vậy. Tất cả khí giới trận pháp, thành đồn, nếu sống ở thời buổi này mà cứ trở lại theo xưa, thì rõ ràng không ứng dụng hợp thời được. Như thế những gì tiền nhân chế tạo để lại, nay tùy thời canh cải, rõ không phải phản bội người xưa, mà để ứng dụng cho hợp thời thế mà thôi. Đâu có thể cứ dùng mãi một phương pháp nhất định đến hàng trăm năm được sao? Sở dĩ năm trước trong bài Tu võ bị tôi xin cho soạn lại binh thư và chế tạo lại những thứ khí giới không còn hiệu nghiệm, chính vì lý do đó. Hãy xem Kim thang tá trợ, cũng là sách mới đây, trong đó Đột môn là phương pháp hay nhất, thế mà nay cũng không dùng được, huống nữa là những thứ khác. Nước ta hiện nay, các phương pháp binh gia đều theo lối cổ, thế mà sự cư xử giữa tướng đối với binh, binh đối với tướng thì lại theo mới hết. Điều đáng dẹp bỏ lại để, điều đáng giữ lại dẹp bỏ. Như thế đâu phải là thay đổi trong binh gia? Phép dùng binh của phương Tây ngày nay, về trận pháp, thành đồn, khí giới đã hoàn toàn lột xác. Riêng về đạo làm tướng như các đức tính nhân, tín, dũng, nghiêm, cho đến yêu lính như con, thận trọng khi gặp việc, họ còn gìn giữ tốt hơn xưa. Như vậy mới thật là khéo biến hóa.
______________________________________
*. Bản văn chữ Hán 634/1 tờ 66 - 85
    Không ghi ngày tháng, nhưng Trần Hữu Huyên trong bản dịch trên VĂN ĐÀN số 35, tháng 7-1962, nói: “Ngày 2 tháng 5 năm Tự Đức 24”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #209 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:58:59 pm »


Trước đây, khoảng năm Tự Đức thứ 22, tôi có bẩm một tập về Tái tu võ bị trong đó tôi có nói đến trường hợp tỉnh Nghệ, từ thành nội đến thành ngoại, cho đến doanh trại đồn lũy chợ búa bốn chung quanh, phần nhiều phạm vào điểm kiêng kỵ của binh gia. Nói thế không phải dám chê người xưa là vì thời xưa bố trí được như thế đã khéo lắm rồi. Lấy hình thế binh pháp ngày nay mà quan sát, hơn nữa là người đã học cả pháp xưa lẫn pháp nay như tôi, mới biết như thế không còn thích nghi vớii binh pháp thời nay nữa. Trong tập, trừ các khoản đã đề cập, nay không bàn đến, còn như trồng cây, lập các đồn nhỏ ngoài thành là những khoản có công dụng rất lớn mà binh pháp xưa cũng đã nói nhiều. Về khoản xin lập đồn ở ngoại thành, tuy xuất phát từ phương pháp phương Tây nhưng phép bố trí của tôi còn hay hơn một bậc. Điểm này quả thật tôi không dám nói phóng đại. Năm xưa khi ở Gia Định có người Tây đã từng khen rằng người như tôi việc gì chẳng làm được (Người này đã từng xây dựng doanh trại lớn và đã đến hỏi tôi một vài lần bởi biết rõ tôi có tài này. Có điều là tôi cũng không để cho họ dùng cái tài của tôi ). Còn đối với ta, Triều đình chưa biết tài tôi, bởi người ta xem thường mà cũng có chút ít nghi ngờ nên chưa dùng. Cho nên nếu y theo binh pháp của tôi rồi lại xem hết các binh pháp phương Tây ngày nay, hơn nữa phải là người giỏi về địa lý binh pháp, mới thất được chỗ hay hơn của binh pháp của tôi.

Hãy xem trận chiến giữa Phổ Pháp, cũng có thể nghiệm được lời tôi nói. Có một lần quân Pháp đóng ở đồng bằng, quân Phổ đóng ở rừng cây, quân Pháp thua một trận lớn, tử vong rất nhiều là vì chỗ đóng quân của Pháp không có cây cối che đỡ. Sau có vị đại tướng Pháp xin chặt hết cây nhưng vua Pháp không nỡ cho chặt. Lại có một lần vua Pháp muốn tiến vào một thành nhỏ nhưng vị tướng Pháp cho rằng bốn bên chung quanh thành không có đồn để làm thế ỷ dốc, không thể cố thủ được, do đó không dám tiến đóng. Lại có một lần vua pháp bị hãm trong thành, tuy ngoài thành bốn mặt đều có đồi cao, đồn lũy, nhưng đã bị quân Phổ chiếm hết. Quân Phổ từ trên cao đổ xuống vững như tường dựng. Quân Phổ thắng nhờ chiếm được các đồn trên cao ở ngoài thành. Quân Pháp thua vì mất địa lợi. Binh như Tây binh mà một khi mất địa lợi còn không thể giữ được, đủ biết địa lợi đối với binh gia quan trọng đến bậc nào. Xem thế thì thấy lời nói của tôi nghiệm đúng. Chỉ vì người ta khinh rẻ cho là lời nói làm bẩn tai, cho nên triều đình chẳng thèm để ý.

Giá như Khổng Minh sống lại mà chép tập này, dù có một hai điều không đúng người ta cũng không dám bàn. Bởi vì tên tuổi có thể bịt được miệng người. Cũng như các trạng nguyên, bảng nhãn, văn chương của họ đâu phải chữ nào chữ nấy đều là châu ngọc? Nếu có một hai câu không thông suốt lắm bọn học hành thấp kém lại cho rằng mình chưa đủ trình độ để phê phán. Suy ra mọi việc ở đời cũng thế thôi. Điều mà tôi nói phương pháp của tôi vượt trội hơn đó, nếu Triều đình đã biết sơ qua phương pháp của phương Tây, hoặc có một quan lớn nào đó cùng đi với tôi tôi sẽ chỉ cho thấy phương pháp phương Tây như thế này, như thế kia, đến khi về xem lại những điều tôi nói trong tập bẩm trước, mới thấy chỗ đặc biệt của phương pháp của tôi. Còn những chỗ khéo léo trong việc áp dụng thi hành thì nhiều lắm, một tập một quyển không thể trình bày được. Nếu ngày nào tình thế có thể thi hành được, tôi sẽ đến ngay tại mỗi địa thế trù liệu tính toán, chỉ rõ phương pháp xây cất, đồng thời chỉ rõ phương pháp ứng dụng phù hợp với địa thế trong trường hợp địch công ta thủ như thế nào, sau đó mới biết được cái hay của nó. Còn nếu cứ nói suông trên giấy chẳng khác nào vẽ trăng, vẽ khéo đến đâu cũng không phải mặt trăng thật.

Lại như Kinh thành sự đặt định hợp với địa thế ra sao, đó là điều húy kỵ tôi không dám nói. Còn như đối với các tỉnh, tất cả những nơi nào tôi đã thấy đều đáng nói hết cả. Lẽ nào ngàn lời suy nghĩ không đúng được một hay sao? Trước đây trong điều nói về Tu võ bị tôi đã bẩm rằng con người đã có tài trí để giúp cho người vận dụng, lại còn phải có khí cụ tinh xảo để giúp cho con người bảo vệ lấy mình. Như vậy mới yên tâm vững chí thi hành kỹ năng của mình được. Nếu tay không đánh cọp, dầu thắng cũng chỉ là gặp may mà thôi. Huống chi địa hình giúp cho nhà binh, thành lũy là nơi lòng dân tin cậy, là chỗ hết sức hiểm yếu của quốc gia, là điểm mà kẻ địch cố đánh, là tính mạng của binh lính ta vậy. Quan trọng như thế mà cứ an nhiên dùng mãi phương pháp cũ kỹ hàng trăm năm, không chịu tùy thời học hỏi nghiên cứu được sao? Dựa vào chỗ hiểm yếu cố nhiên phải kiếm được người tài sức, mà lập được chỗ hiểm yếu thì phải biết dự liệu. Trong thiên hạ chưa bao giờ bởi vô tài hoặc vội vã mà được. Hơn nữa thành đồn lại không thể vội vã mà làm được.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM