Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:08:02 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo  (Đọc 164598 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #210 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:59:28 pm »


Xưa Lý Doãn trồng nhiều loại cây gai góc, nhờ đó châu Thương thêm phần hiểm trở. Dư Giới lập thành Ngư Sơn, nhờ đó cửa khẩu đất Thục được liên lạc. Ngoài ra những việc tương tự như thế không thể kể xiết. Cho nên người làm việc nước, đối với việc binh phải dự bị ngay lúc bình thời, chắc chắn không thể đợi đến lúc binh đao gần kề và sự thắng bại đã thấy rõ ràng trước mắt. Trước đây trong điều nói về Tu võ bị trong tập Tế cấp bát điều và sau này trong tập Tái tu võ bị cũng có nhiều điều có thể áp dụng được, nhưng vẫn chưa thấy được đem ra thực hành. Người xưa nói: Việc sửa trị không phải nhiều lời, mà phải cố sức làm. Quả thật phương Tây đã học được ý nghĩa câu nói này. Cái sở học về binh gia của tôi không phải chỉ có chừng ấy, nhưng trước tiên tôi chỉ nêu những điều cấp bách mà thôi.

Nay tôi lại xin bàn đến khoản làm sao nâng cao tinh thần binh sĩ. Bởi vì nếu ngày nay không chịu cải cách thì không làm sao khơi dậy được tinh thần binh sĩ vốn đã lâu hèn yếu. Thường thường sau lúc binh thời thì quan và binh phân cách (Binh lính phương Tây không có sự phân cách này) không có sự thống thuộc lâu dài. Cho nên lúc bình thời quan chẳng làm được một cái ơn gì cho lính, thì khi lâm sự sẽ không có cái oai để điều khiển họ (Trừ khi xáp trận, quan không có quyền giết một tên lính). Làm quan không có ân dày đối với lính mà vội sử dụng oai quyền thì lính sẽ không thân, không quy phục. Không quen thân nhau lâu mà còn cách điệu thì khó được cảm tình. Hơn nữa quản đội, suất đội, phần nhiều xưa cũng là người cùng trong đội ngũ với lính. Con nhà tướng ra cửa nhà tướng mà thôi chứ không có biệt tài gì đáng trọng vọng để cho binh lính tâm phục. Sống lâu ra lão làng được chức lớn thì tâm lý binh lính sẽ nghĩ rằng sĩ quan cũng chỉ là người như bọn họ. Họ kính sợ chăng là kính sợ quyền chức, chứ đâu phải nhân phẩm người ấy. Đã từng có một hai lãnh binh, đề đốc chỉ biết viết hai chữ “tuân phụng” thế mà ở trên người ta, thì làm sao có thể chỉ huy điều khiển được ai? Tôi thấy người Tây chưa có ai không thông sách vở mà có thể cai quản một trăm người trở lên, huống chi làm đến chức quản lãnh. Vì vậy trong bài nói về Tu võ bị trước đây tôi đã đề nghị các võ quan cần phải biết chữ, phải thông thuộc các sách binh thư. (Các nước người ta đều lo tu chính biên soạn binh thư, còn nước ta chỉ biết lo dùi mài văn chương. Việc đáng làm gấp lại trễ nải). Nay sao ta không khiến các cử nhân, tú tài có sức lực hãy bỏ văn theo võ, đọc thuộc các sách binh thư, rồi cho làm các chức quản, đội trở xuống, cho học tập bổ túc về quân sự ba năm, sau đó đem ứng dụng, như thế còn tốt hơn là lính ở lâu năm được thăng lên quan. Sao lại cứ để họ rỗi rảnh ở nhà, xen vào việc dân cho thêm rắc rối. Xưa nay trong hàng danh tướng có phân nửa là người ít học, đó là do người ta không chuộng thứ hủ nho, chứ đâu đến nỗi như ngày nay, quản đội mà chỉ biết được có hai chữ. Đại phàm bản tính con người ta, nếu đem so sánh một con người chỉ dựa vào tư chất tốt của mình mà không có học thức, với một người bình thường mà học nhiều, thì sự hiểu biết của người sau hơn người trước rất xa. Huống chi làm tướng mà không học được sao? Binh lính quý ở dũng cảm, sĩ quan quý ở mưu cơ. Sĩ quan như mắt, binh lính như tay chân. Chưa có chuyện mắt mù mà sai khiến được tay chân bao giờ. Nay trong việc binh của ta phần nhiều giống như thế, cho nên binh lính bất bình, đó là một điều tối kỵ.

Binh lính có thể cả năm không dùng đến, nhưng không thể một ngày không tập luyện. Các quốc gia có tinh thần thượng võ lúc bình thời vẫn tuyển binh tập trận. Còn nước ta lúc bình thời tuyển binh để sai vặt. Công việc hàng ngày của một người lính ở nơi quan, không khác gì những việc hàng ngày ở nơi nhà. Thế thì nên gọi là người phục dịch không nên gọi là lính (Lính phục dịch nhà quan như kẻ qua đường với nhau, khi có việc, quan sẽ không có người tay chân giúp đỡ, vì không có tình cảm sâu nặng lâu ngày khiến họ có thể đồng sinh đồng tử với nhau được. Ngàn vàng dễ được, một tướng khó tìm. Làm quan mà không có người tâm phúc giúp đỡ là quốc gia đành mất kẻ có tài. Nếu đem số lượng của binh lính tạp dịch, xét phần mỗi quan cần được bao nhiêu lính hầu, rồi giao số lượng ấy cho quan được tự do tuyển chọn thủ hạ hoặc gia nhân, để giúp việc lúc bình thường cũng như khi khẩn cấp. Thường thường các phủ huyện viên, mỗi khi có việc gì bất trắc xảy ra, những thủ hạ tạp dịch của họ đã lo chạy trước, chỉ còn một mình quan mà thôi, cũng vì lý do đó). Lẽ nào có chuyện không biết nghề binh mà dám mạo nhận là binh, cũng như không biết bút nghiên mà gọi là kẻ sĩ được sao? Đại phàm con người ta có tập tành nghề gì mới có thể nuôi dưỡng tinh thần nghề nghiệp đó. Nay binh lính mà thường chẳng tập luyện thì làm sao nuôi dưỡng được dũng khí, đó là hai điều tối kỵ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #211 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 09:59:56 pm »


Ngô Khởi nói: Đạo dùng binh trước hết phải làm cho giàu có của cải sau mới dùng đến sức lực. Các nước dùng quan để nuôi dưỡng binh lính, còn ta thì dùng binh lính nuôi dưỡng quan. Quan cũng như ruột rà, binh lính như tay chân. Tay chân khỏe mạnh mới bảo vệ được ruột rà. Nay cắt tay chặt chân để nuôi dưỡng ruột rà thì liệu ruột rà có thể tự đi đứng được không? Lúc bình thường ăn ở với nhau thì ban ơn bằng roi vọt, nuôi dưỡng bằng khổ nhục, đến khi lâm trận thì bảo nhảy vào nước lửa để bảo vệ che chở cho mình. Thử hỏi có tên lính nào không phải là người hay sao mà phản tính tự nhiên chịu làm như vậy được? Do đó cho nên trên sổ bộ có đến trăm vạn mà chẳng có được một người hy sinh, hoặc có chăng cũng chỉ vì thất cơ mà chết chứ chẳng phải hy sinh vì việc nghĩa. Tinh thần binh sĩ đã từng sa sút như vậy, đó là ba điều tối kỵ.

Là binh lính, ngày thường không có lòng yêu mến sĩ quan, trong quân ngũ sĩ quan không có mệnh lệnh cứng rắn, không có quyền chuyên sát, đến khi ra trận tên nào quay đầu mới có quyền giết. Lúc bấy giờ binh lính chạy sĩ quan cũng chạy thôi có rảnh đâu mà ngoảnh lại thực thi quyền chuyên sát để giữ luật lệnh? Một mệnh lệnh cứng rắn, hơn ba ngàn tinh binh. Xưa Dương Tố mỗi khi ra trận trước tiên cho hai trăm quân lâm trận, nếu thoái lui thì giết sạch, rồi sai một đội sau, nếu thoái lui cũng giết sạch như cánh quân trước, làm thế sau không còn một tên quân nào dám rút lui bỏ chạy. Làm được như thế là chỉ khi nào có ơn nặng đối với binh sĩ trước, sau mới có thể ra oai một cách nhất luật được để tạo nên khí thế như vậy. Cũng là binh Tống mà khi Đồng Quán làm tướng thì yếu như gái góa, Nhạc Phi làm tướng thì đứng vững như núi Thái Sơn. Đó là mệnh lệnh cứng rắn mới quyết định được khí thế binh sĩ. Khí thế binh sĩ đâu phải lúc nào cũng như lúc nào, mà do ở chỗ có chiếu cố vận dụng được hay không mà thôi. Hiền từ thì không thể cầm quân, lời xưa đã nói như vậy. Lúc bình thường phải biết dưỡng quân bằng ơn huệ, khi lâm trận phải biết ra oai, phải như hai con người hoàn toàn khác hẳn nhau vậy. Binh lính mà không có lòng quyết tử thì làm sao đối chọi được với quân địch? Xưa nay người làm tướng có khả năng điều khiển binh, không phải là người cứ giết nhiều quân sĩ để thực hành nghiêm lệnh, mà chỉ làm cho tất cả quân sĩ đều biết rằng mình có cái oai dám giết. Sở dĩ quân sĩ biết rõ cái oai như thế, là vì rõ ràng họ đã thấy một người khó giết mà chủ tướng đã giết, thì biết rằng đối với bọn họ đứa nào chẳng có sẵn một bản án tử hình nếu trái lệnh. Người làm tướng thời nay có ai đã dám giết một người khó giết như xưa kia Lê Văn Duyệt đã từng làm để thi hành quân lệnh không? Hiền từ và nhu nhược là hai điều làm sa sút dũng khí của ba quân. Có ai đã làm được như Khuông Thừa Nghiệp bái nhận chức tể tướng mà chém quan tể tướng, như Sài Khắc Khoan làm chức khu mật mà chém quan khu mật? Nếu không được như vậy mà cứ để binh sĩ nhân lúc bình thời, ngày một trở nên hèn yếu, thì chưa bao giờ thấy binh tướng như thế có thể thắng được địch. Chính vì thế mà xưa nay trải qua thời gian thái bình lâu ngày, một khi có giặc nổi lên thường thường lúc đầu không thắng được giặc, phải đợi đến khi quá loạn binh lính dần dần mạnh lên mới dẹp được, đó là bốn điều tối kỵ.

Binh lính đối với quản đội, quản đội đối với tướng soái khác nào như cánh tay với ngón tay, cánh tay với thân thể, hợp làm một mới vận động được. Tay chân lười biếng thân thể làm sao linh hoạt được? Cho nên nói rằng quân đội có kỷ luật dù tướng không có tài năng, cũng không thể đánh bại được. Như binh lính Nhật, cá nhân đều có thể tự tác chiến, không phải đợi kết thành trận thế mới giết được địch. Tại sao họ được như thế? Còn ta thì ai đốc thúc được binh sĩ xông pha trước trận mạc, thế nhưng đến quan luận công thì tướng tá có công trước, bọn võ biền ở sau. Như thế ai chịu đem thân xông vào địch để lập công cho người khác? Nếu khéo nịnh bợ cấp trên, hành quân lâu ngày cũng được kể công, hà tất phải đem thân nhảy vào trận tuyến để khi về lại phải mất nhiều cách cầu cạnh nịnh bợ mới được kể công. Như thế kẻ hào kiệt lấy làm sỉ nhục.

Xưa Địch Thanh nói: Có tiền ngồi đó mua được một thủ cấp cũng được thưởng rồi. Thế thì sắm tiền mua công còn hơn xông pha nguy hiểm để giết địch. Thời Địch khu mật cũng đã có tệ này huống gì ngày nay. Lý Uyên nói: Nơi đầu tên mũi đạn, cái chết nào có phân biệt là quan hay lính. Thế thì khi phong thưởng sao lại phân chia kẻ quý người hèn? Nay thấy người ta đồn rằng có nhiều quan viên, trên giấy tờ nói là do có tài nên được chức vị, nhưng kỳ thật là do gặp may mà được công. Cho nên ngày nay người ta hay nói có phước tướng. Bởi vì nơi quân thứ cũng như chốn trường văn, phần nhiều do gặp may hay không gặp may mà thôi. Làm quản binh đã không do liều chết mà được công, còn kẻ làm lính thì phải hết lòng hết sức bảo vệ quản binh để mong được nhẹ nhàng quân lệnh. Như thế kẻ làm tướng chỉ có một tay không, có làm được gì đâu, không chạy cũng chết uổng mạng mà chẳng ích gì cho việc nước, đó là năm điều tối kỵ.

Hiện nay chính sách binh bị nước ta còn nhiều tồi tệ, nhưng cái làm cho binh lực ta suy yếu lâu ngày phần nhiều do bởi năm điều tối kỵ này. Trừ bốn điều kiện lớn như đạo làm tướng, trận pháp, thành đồn và khí giới. Nếu ta chấn chỉnh được năm điều tối kỵ trên thì khí thế binh sĩ ngày một cường tráng, biết được khả năng chiến đấu, mới gọi là thắng được một nửa, còn như làm sao cho lòng người chuộng việc nghĩa, được như Phổ, Pháp, nhà nào cũng có một khoản tiền đóng góp vào quân nhu, khi cất binh thì cả nước hân hoan nhảy nhót như điên, điều đó tùy thuộc vào việc học thuật và giáo hóa chứ không thể đem uy lực ra bắt buộc được. Như binh thư đã nói: Đường lối đúng đắn là làm sao cho trên quan dưới dân đều cùng một lòng. Vậy mới có thể cùng sống cùng chết chẳng sợ hiểm nguy. Lại nói: Trăm họ đều là dân của vua ta, nào phải dân nước làng giềng. Thử xem ngày nay khắp thiên hạ chỉ một số nước phương Tây có được binh pháp này mà thôi. Còn Trung Quốc, Hung Nô và các nước Hồi giáo làm gì nắm được binh pháp này. Có đánh nhau chẳng qua chỉ lấy số đông hay ít mà cho là mạnh hay yếu. Đâu có thể đề huề mọi người như một, binh sĩ thân nhau như tình cha con? Cho nên hết sức to lớn như cả thế giới mà không địch nổi hai nước Pháp, Anh, để cho họ đến đâu cứ như vào chỗ không người! Nay ta có muốn thực hành chính sách binh bị như vậy ư, xin hãy chiếu cố đến những điều tôi đã nói (Tôi thầm nghĩ rằng nếu đem sự hậu đãi đối với nhà quan mà đối đãi với tướng sĩ ta, lấy sở phí cung phụng cho nhà quan ấy mà nuôi dưỡng quân lính ta, được thế cũng đã khá rồi. Lẽ nào ta chẳng có được một dũng sĩ nào? Tại sao nước ta đông như vậy mà không được một người như họ Đào họ Lỗ? Mặt mũi họ như thế nào? Hay phải chăng vì uất ức như người chết đuối trên cạn mà chẳng chịu thử xuất đầu lộ diện cũng nên?) Tôi có một số ý kiến như thế chẳng biết nên hay không, kính bẩm Cơ Mật Viện đại thần cùng liệt vị đại nhân soi xét.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #212 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:02:12 pm »


DI THẢO SỐ 51

Cần nắm vững tình hình chính trị ở Pháp*

(Khoảng nửa cuối tháng 5 năm 1871)

Kính bẩm,

Nước ta hiện nay cần gấp phải đi Tây, một là để làm những việc trước nay chưa làm xong, hai là để sắp đặt cách thế làm sao sau này công hay thủ được tốt. Hai việc này đều phát sinh từ thời cơ hôm nay, như vậy không thể không nhanh chóng ra tay, thật đã đến lúc không thể đứng im được nữa. Tuy nhiên điều cốt yếu phải biết rõ tình trạng trị loạn của nước họ là tạm bợ hay lâu dài, rồi từ đó nghĩ đến việc nên dùng sức hay dùng mưu. Hai việc này quan hệ rất lớn, cần phải xem cho thật đích xác mới có thể buông cung bắn một phát trúng ngay, không thể bắn được phát thứ hai. Nếu cho rằng thời cuộc hiện nay đã thay đổi, Triều đình nên nán đợi một vài tháng cũng được. Bởi vì nhân trước đây vua nước họ bị cầm giữ, tứ phía bao vây cho nên các bậc công khanh đại phu nước họ đều oán hận. Còn đảng nghịch thì đang ngấp nghé, chưa dám công nhiên hành động. Nay quân Phổ đã sợ việc bình đao muốn tạm nghỉ vai, trong khi nước Pháp lở loét khắp nơi hết sức mong muốn nghỉ ngơi điều dưỡng. Vì vậy, đảng nghịch mới dám ló đầu ra.

Nếu không may quan binh nước họ thế bại, đảng nghịch được tạm nắm quyền, thì ta cũng có thể có chỗ lợi dụng vào mà được việc. Còn nếu hai bên thắng bại bất phân, vương bá chưa rõ sẽ thuộc bên nào thì sự phân loạn hãy còn kéo dài không thể lấy năm tháng mà chờ đợi được. Điều thứ nhất, nếu muốn tìm người giúp đỡ, dùng sức mà tranh thủ, thì cơ hội này cũng có thể tạo được. Điều thứ hai, giả sử đảng nghịch tiêu tan, việc lập vua có thể thành tựu thì ta chỉ đến thẳng với họ dùng mưu kế thu hồi. Việc này cũng phải chụp ngay lấy thời cơ không thể chậm trễ. Điều thứ ba, ta chỉ sợ việc nội chính họ đã yên mà chuyên vào việc xâm lược phương xa mà thôi (Giám mục Hòa chỉ chú ý đến vấn đề làm sao dùng cho được cơ hội. Giám mục cũng nghĩ rằng việc tìm đường lối để cầu giúp đỡ là đúng. Nhân năm trước, khi sứ bộ đi Tây xin trả ba tỉnh, tôi cũng đã nhờ Giám mục viết thư yêu cầu linh mục Định ngóng xem họ bàn mật với nhau như thể nào báo trước cho vị bồi sứ biết. Điều này tưởng khi Hộ bộ Phạm đại nhân ở Tây cũng có biết. Cho nên giám mục cũng nói phải hết sức tìm kiếm đường lối mới là đúng).

Những sự lý này độ trong vòng vài ba tháng mới có thể phân biệt được. Bấy giờ Triều đình phải bàn định gấp, trong khi bên nước họ hai bên chưa quyết định được bên nào sự thế hãy còn kéo dài, hoặc trong lúc đảng nghịch nắm được quyền, hai bên phải có một bên thắng. Nếu nay đang lúc đảng nghịch chiếm cứ, Triều đình họ còn lo toan chưa rảnh, thanh giáo và uy quyền Triều đình còn đang cách trở mà ta vội vã sang bên ấy thì trong khi sứ bộ ta còn đang trên đường đi ở bên nước họ, Triều đình họ khó bảo vệ cho sứ bộ ta được, lỡ gặp đảng nghịch, chúng giận cá chém thớt thì ta biết làm sao? Trước đây khi Phổ Pháp xung đột nhau, nếu sứ bộ ta sang Pháp đường đi ngang qua nước Phổ mà nếu Phổ minh bạch cho phép ta qua thì bảo đảm không có gì trở ngại còn nếu họ không nói cho phép một cách rõ ràng thì cũng chỉ coi ta như người đi đường thôi, không bắt lý làm nhục ta. Đó là thông lệ của phương Tây. Còn nếu là đảng nghịch thì chẳng kể gì luật lệ thông thường cả.
______________________________________
*. Bản chữ Hán: Hv 634/4 tờ 160 - 167.
    Không ghi rõ ngày tháng, nhưng có lẽ nào cuối tháng 5 năm Tự Đức 24, lúc Giám mục Hòa sắp về trở lại Quảng Bình.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #213 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:02:41 pm »


Sở dĩ tôi nói hay là hãy hoãn chờ một vài tháng là vì vậy. Nếu như ta muốn gấp thực hành kế liên hoành mà muốn đi sang nước khác thì lấy danh nghĩa đi thăm viếng phong cảnh các nước trước rồi thong thả chờ xem. Nếu thấy tình thế nước họ rơi vào một trong ba điều tôi đã nói ở trên thì có thể đến ngay nước họ mà mưu bàn công việc. Nếu thấy đích xác việc phân loạn bên nước họ còn kéo dài và ta định tìm người giúp đỡ thì sứ bộ của ta hiện đang ở phương Tây cũng dễ làm công việc ấy. Như nay ta hoặc có thể ở trong nước chờ đợi vài ba tháng, hoặc có thể khởi hành đi chu du các nước để chờ đợi tình thế bên ấy. Hai lối ấy nên dùng lối nào xin do Triều đình xét định (Nếu chưa được tin tức gì về cuộc nội loạn bên ấy mà sứ thần còn đang trên đường đi thì tư cho quan họ biết sứ bộ sẽ chuyển sang nước Y trước rồi sẽ đến nước họ sau cũng được. Đến nước Y nếu thấy có thể thừa cơ hội được thì như tờ bẩm trước tôi đã nói cũng phải làm gấp. Nếu Y không đủ sức thì chỉ làm việc với Y thôi. Xong việc ở nước Y mà loạn ở Pháp chưa yên thì lại tư cho quan họ biết sứ bộ ta hãy chuyển sang nước Anh hoặc các nước thăm viếng phong cảnh, đợi nước họ công việc bình yên mới đến chúc mừng cũng được. Việc phải làm như vậy là vì sứ bộ của ta đã đi khó trở về. Cho nên trước đến các nước rồi sau mới đến nước họ, điều đó cũng chẳng ngại gì. Nay ta chưa đi nhưng nếu được tin tức nội loạn thì nên chậm lại chờ đợi một tí, khi sự thế phân biệt rõ ràng thì tùy theo đó mà dùng mưu hay dùng sức cũng được. Nếu lấy cớ đi sang nước Y trước để giải quyết một vài sự bất bình, thì trên đường đi nghe ngóng tình hình tâu về đầy đủ. Nếu đến các nước mà thấy loạn bên ấy còn kéo dài, tìm được người giúp đỡ chắc chắn có thể dùng sức được thì tâu rõ gấp về Triều đình xin quyết định được hay không rồi cứ ở phương Tây chờ làm công việc cũng được. Nếu tình thế khó tiến hành việc dùng sức thì quyết định dùng kế sách giao thông cũng được. Khi thấy nước họ vừa tạm yên thì liền đến chúc mừng ngay cũng được. Những điều nói trên đều là những sự cơ có thể làm được cách này hay cách khác). Còn nếu đợi cho vua bên ấy được lập lên rồi lấy danh nghĩa sang chúc mừng mà đến, thì việc đi của ta chính đại quang minh, nguyên soái của họ chắc chắn phái hộ tống đi về, ta lại khỏi tiền phí tổn dọc đường.

Khoảng tháng 10 năm ngoái tôi có bẩm một tập về vấn đề biết trước tình hình địch để thi hành mưu kế thì chỉ ở nơi lãnh sự của họ mới có thể biết trước được. Nếu nay muốn biết tình thế của họ ra sao thì chỉ có cách là viện cớ khác sai Nguyễn Hoằng đi trước (Nguyên trước đây Giám mục Hậu có mua cho ta các hàng hóa, một nửa hãy còn gởi lại Gia Định chưa đưa về. Nay nghe tin các hàng hóa ấy thất lạc nên Nguyễn Hoằng tự đi vào gom lại nếu tiện sẽ đưa về). Khi vào Nguyễn Hoằng sẽ ở tại Viện Truyền Giáo, người Tây sẽ không nghi. Sau đó sẽ tìm người tâm phúc ngầm thăm dò việc bí mật. Nếu có tin điện từ phương Tây đến, y sẽ viết giấy báo về cho biết. Nếu có báo tin điện hoặc báo của thuyền nhật trình, y liền xin Tây soái cho phát về xem sẽ biết sự tình ngay. Nếu y không ở đó thì có khi ở Gia Định đã có tin mà đến khi nước ta hay thì đã trải qua ba, bốn tháng, tình thế thay đổi mất rồi. Nguyễn Hoằng đi chỉ lấy lý do là để làm việc đạo giáo. Nếu được tin mật thì bí mật viết ra bằng quốc ngữ cho vào phong bì đề gởi tên Giám mục Hậu. Nhưng tại Bộ thì định trước một ám hiệu là tất cả những phong bì nào trên chữ giám mục có một dấu hiệu nhỏ tức trong thư đó là tờ mật bẩm. Bộ cứ việc mở ra xem. Nếu phong bì nào không có ám hiệu, đó là thư riêng của giám mục, Bộ sẽ chuyển thư ấy cho giám mục. Chỉ có như vậy nguyên soái của họ mới chịu phát đi mà không nghi ngờ. Nếu sự thế ngoắt nghéo lắm nhưng cũng có thể phân biệt được, y sẽ về gấp bẩm rõ cũng được. Vả lại trong lúc nhàn rỗi, y sẽ đi khắp các xứ đạo mượn tiếng là viếng thăm các linh mục để bí mật nghe ngóng tình hình dân chúng sáu tỉnh ra sao hoặc có thể tình cờ nghe được gì hoặc đồn đãi như thế nào để có thể biết được dân tình, do đó có thể thi hành được mưu kế phản gián khiến Tây Nam nghi ngờ nhau, như tôi đã nói trong tờ bẩm trước. Về kế phản gián chắc chắn Nguyễn Hoằng không có khả năng làm điều đó, chỉ có thể biết qua dân tình như thế nào thôi. Dù y có hỏi han hay nói năng như thế nào Tây cũng không nghi. Nếu loạn của họ còn kéo dài thì bí mật xem quan của họ có mật nghị gì không. Những điều như thế báo chí không thể đăng tải mà tin điện cũng không báo, chỉ khéo thám thính mới biết mà thôi. Hơn nữa chỉ có thân với họ mới có thể biết được một hai điều mà thôi.

Theo những ý trên đây, nếu tôi cùng đi với y thì rất tốt. Có điều là hiện nay tôi còn đang điều dưỡng khó bề bôn tẩu trọ ngụ nơi này nơi khác, vậy chỉ sai y đi một mình cũng được (Điều này rất khẩn cấp) đến ở lâu tại Gia Định mới có thể thám thính được chính xác. Về phần Giám mục Hòa thì giám mục biết rõ ràng là Triều đình muốn lập vua (Thâm tâm giám mục cũng rất mong như vậy) để tiến hành gấp. Hơn nữa giám mục cũng muốn Nguyễn Hoằng đi. Còn ngoài ra có ý riêng gì không thì không biết, ngay Nguyễn Hoằng cũng không biết được. Nếu muốn thực hành điều này thì nên quyết định sai Nguyễn Hoằng vào Nam ngay khi giám mục chưa về để rõ không có ý gì riêng khác. Về việc học sinh nên nhờ gấp người khác dạy dỗ không nên gián đoạn (Nếu gián đoạn một hai tháng học lực sẽ sút rất nhiều. Tình trạng này tôi biết rõ chứ không phải như lối học Nho). Nhân vì tinh thần muốn học gấp rút để dùng làm thông ngôn mới khỏi bị người ta bàn xen kia nọ.

Tôi có một số ý kiến như thế không biết có nên chăng. Xin kính bẩm. (Từ chỗ biết dân tình như thế nào tức cũng có thể biết được ít nhiều những điều tôi đã bẩm trong hai tập trước. Tình thế bất đắc dĩ nên phải làm điều bất đắc dĩ. Nếu như đánh úp để mong vãn hồi cơ nghi thì chỉ có một chuyến đi Tây này mới có thể thấy rõ định cuộc được hay mất. Triều đình lao khổ mưu nghị cũng chỉ có một cơ hội này nữa mà thôi).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #214 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:06:54 pm »


DI THẢO SỐ 52

Canh tân và mở rộng quan hệ ngoại giao*

(Đầu tháng 8 năm Tự Đức 24, tức 15 - 20-9-1871)

Kính bẩm,

Cuối tháng 5 năm nay nước Pháp có tin truyền qua, trong đó nói rằng nước họ hãy còn chia làm hai đảng, đúng như hồi tháng 5 trước khi tôi ở Kinh đã bẩm. Lại còn nghe Nga La Tư mật nghị cùng Phổ Lỗ Sĩ chưa biết sẽ thi thố điều gì đây. Nhưng tôi đem sự thế phương Tây và binh gia cơ quyền mà suy nghiệm thì nhiều khi cũng đúng. Người Nga từ chiến cuộc ở Ngô Hải đến nay đã mười lăm năm dưỡng uy súc nhuệ, trong lòng họ chưa một ngày nào quên đất trung nguyên. Chỉ vì từ trước đến nay thế lực của Pháp còn mạnh, nước Anh thì hòa hiếu, Áo Phổ ở chen vào giữa, hai bên chưa hợp thì con đường của Nga hãy còn chưa suôn sẻ. Nay Pháp đã bại hoại, Áo mất minh chủ mà có cơ bị Phổ thôn tính dần dần, Anh thì bơ vơ, việc ngoại giao của Áo chưa thành. Nước lớn còn chưa dám làm gì trước, nói gì đến nước nhỏ. Ý Đại Lợi, Thổ Nhĩ Ký sắp có loạn, Y Hoa Nho, Liên Quốc1 thì chỉ lo tự vệ ngồi chờ xem. Như thế thì cái phép liên hoành để cân bằng thế lực sắp thay đổi. Người Nga nếu không lo thu vén binh pháp để bôn tẩu về phía Tây thì còn đợi lúc nào nữa? Tưởng họ cũng phải hợp sức với Phổ giúp Phổ phóng tay phía Tây Bắc còn bản thân thì dẫm vào mặt Tây Nam. Đến khi thế lực người Pháp đã phục hồi, hợp cùng với người Anh thì con đường khai thác lợi nhuận của họ đã khai thông rồi, Anh Pháp cũng chẳng làm gì được. Nếu quả như vậy thì nên thừa lúc tình thế Pháp đang bối rối mà mưu tính việc của ta, gấp rút sang các nước phương Tây tùy cơ tìm bạn để trấn phục.

Vả lại người Pháp một nửa cũng muốn lập vua mới, một nửa muốn lập Cộng hòa. Nếu đảng nào đang nắm quyền thì nguyên soái Gia Định cũng do đảng ấy chỉ lệnh. Nếu vậy mà ta biết khéo dùng lời lẽ thương lượng cùng y, xin y đổi đất mà về thì dù cuộc diện sau này có thay đổi họ muốn sửa đổi lại minh ước của đảng trước thì ta cứ thong thả qua lại viện dẫn những lý lẽ trước cũng dễ điều đình kéo dài để cầu người giúp. Nếu vậy thì việc đi Tây không nên chậm trễ trước khi tình thế bên ấy ổn định. Tôi vì tình thế khẩn cấp của quốc gia từ nay về sau mà hết sức suy nghĩ kỹ thì thấy cũng còn cơ may có thể lo liệu được. Bởi vì hiện nay thiên hạ bôn tẩu như điên chỉ gấp rút tranh thế mạnh yếu và lợi nhuận, đường lối xưa vĩnh viễn không còn thấy lại nữa. Khắp thế giới chỗ nào sinh sống được, chỗ nào canh tác được người Tây đã tìm kiếm hết rồi. Khắp các duyên hải đều có sở thuộc, có ranh giới giới hạn, có nơi tự giữ được, có nơi phải dựa vào người, có nơi bị lệ thuộc, hoặc không có lợi lớn, hoặc có nơi còn cộng tác khai thác, người Tây đều đã thấy rõ và đều đã chia nhau. Nếu người ta đã mưu đồ trước sau thì ta cũng khó lật lại được. Cho nên người Pháp người Y đều chuyên tâm nhắm vào ta mà thôi. Bởi chúng cho rằng ta chưa thể canh tân chưa thể giao thiệp rộng rãi thì chúng dễ gây sự mà vồ lấy. Đó là cái lý cái thế chắc chắn phải xảy đến như vậy.

Nay việc khẩn cấp nhất của ta là trước hết phải giữ cho được cái gì chưa mất còn việc mưu thu hồi sáu tỉnh là việc sau. Muốn giữ cái chưa mất thì phải gấp rút giao thiệp rộng, muốn mưu thu hồi sáu tỉnh thì phải gấp rút thừa cơ, mà canh tân chính là căn bản để mưu thu hồi và gìn giữ. Nếu không canh tân để tiến bộ thì dù có tạm thu hồi được, vá hôm nay ngày mai lại rách, rốt cuộc cũng không thể không có chuyện xảy ra. Nếu nhất luật canh tân để tiến bộ thì việc giữ không khó mà việc mưu thu hồi không chóng thì chầy cũng có thể hy vọng được. Cho nên về khoản đi Tây, phải làm như các nước Nhật Bản, Xiêm La vậy. Không nên chỉ chăm chăm vào một việc, cũng không nên lấy năm tháng làm kỳ hạn. Không được cái này thì được cái khác, bất luận việc trong ý định hay ngoài ý định hễ thấy có lợi thì cứ tiến tới. Muốn gìn giữ được thì một mặt phải dập tắt cái hy vọng của người Pháp người Y. Mà như thế thì chỉ có giao thiệp rộng mới dập tắt được. Muốn mưu đồ thu hồi nhưng nay hãy còn dài dòng chưa làm được việc thì phải chuyên lo cái phần căn bản, gấp rút vào việc canh tân tiến bộ còn sáu tỉnh thì hãy cứ gởi đó. Đó là cơ hội quyết định sự mạnh yếu tiến thoái. Nay là lúc gặp cơ hội có thể ra sức làm được, lẽ nào lại cứ an nhàn buông trôi theo ngày tháng mà xong việc được sao? Hãy xem vua Xiêm gởi nước mà đi châu du các nơi thông thương buôn bán ở vùng Đông Nam là ý muốn làm gì? Trung Quốc thì cộng tác với người phương Tây để hưởng lợi chung, nhờ đó mà tài nguyên khoáng sản phát đạt thịnh vượng, nơi nào cũng nổi như bông. Họ là người gì, ta là người gì? Cũng là nhân dân vùng đất đai này thôi mà ngày nay cái thuật làm cho giàu mạnh thấy rõ ràng như xem lòng bàn tay. Đó không phải do nói nhiều, do cố sức làm mà thôi.

Nếu cứ nói suông không làm thì ngày lại ngày qua, năm này sang năm khác, ta ngồi một chỗ còn người thì tiến nhanh, mọi người đều canh tân chỉ ta thủ cựu thì biết làm sao? Từ năm Tự Đức thứ 19 đến nay tôi tưởng đã một lần canh tân chứ không còn thủ cựu. Hãy xem phương Tây bất luận nước nào tuy gặp tao loạn hư hại lớn, nhưng không đầy mười năm sau giàu mạnh còn hơn xưa. Còn ta đất có đấy, dân có đấy mà y nhiên xưa sao nay vậy. Xưa Mạnh Tứ sở dĩ khuyên Tề Tuyên Vương thi hành việc chính trị vì nhà vua không thể chế ngự được. Còn ngày nay Triều đình ta cũng chẳng phải hiếu sắc ham chơi như Tề Tuyên thế mà lại hôn mê không tiến được? Theo tôi tính toán thì từ nay về sau trong khoảng hai mươi năm, nước ta chắc chắn có một kỳ thái bình thịnh trị (Đó là lý thế vận hội sinh ra như vậy. Lý do rất dài dòng khó có thể nói rõ. Không phải như thầy bói, trong bụng chẳng biết gì, chỉ cầu xu nịnh trước mặt mà nói láo chuyện họa phước). Cho nên tôi cực lực cầu làm thử để được một lần trông thấy đó là cái mưu kế suốt đời tôi, để đáp tạ những nỗi khổ phong trần của thời niên thiếu. Vì thế mà trong đoạn cuối bài Tế cấp bát điều trước đây tôi có nói: Khổng Minh trong những lúc nằm mơ chưa bao giờ không lập kế đánh Ngụy. Tôi tuy thiếu tài ấy nhưng thừa tâm huyết, không có bổn phận ấy nhưng có chí ấy.

Tất cả những điều mắt thấy đều còn có thể làm được. Cho nên không biết rằng những việc đó không phải phận sự của mình mà cứ liều lĩnh nói dài dòng. Chỉ vì từ trước đến nay chỉ thấy Triều đình cứ yên phận theo lối cũ nên tấm lòng của tôi cuối cùng phải mai một mà trước đây trong bài Lục lợi từ tôi có nói: Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành trăm năm cũng chưa hết. Thế mà bảy tám năm nay chưa thấy thực hành tý nào, chả lẽ đợi đến trăm năm sau mới thực hành được sao? Nay có thể làm được rồi, thời đã đến, thế đã có, mở rộng giao thông để đem của cải thiên hạ đến, chấn hưng phương pháp mới để làm hưng thịnh nguồn lợi trong nước. Tiến hành cả hai thì mọi cái hỗ trợ cho nhau, lợi ích sẽ ùn ùn đưa đến. Tôi tính toán cái thời hạn hai mươi năm chỉ một ngày có thể hy vọng được. Nay kính bẩm.

(Tôi hiện đang bệnh chưa khỏi, hãy còn ba bốn tập xin đợi tháng sau sẽ bẩm lên).
______________________________________
*. Bản văn chữ Hán 634/4 tờ 167-174
    Không ghi rõ ngày tháng, nhưng trong tờ tấu của Viện Cơ Mật ngày 10 tháng 8 năm Tự Đức 24 có nói là “Ngày 6 tháng này có tiếp được một tờ tấu của Nguyễn Trường Tộ, trong đó có nói: “Cuối tháng 5 có tin truyền qua...” (Xem phụ lục VIII)

1. Liên Quốc tức Đan Mạch.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #215 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:09:01 pm »


DI THẢO SỐ 53

Về chính sách nông nghiệp*

(Ngày 20 tháng 8 năm Tự Đức 24, tức ngày 4 tháng 10 năm 1871)

Tôi giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ kính bẩm.

Tôi thiết nghĩ trong ngũ phúc, phú đứng đầu, triệu dân trước tiên lo ăn. Sách Luận Ngữ nói: Làm cho giàu có rồi mới giáo dục. Kinh Thi nói: Làm cho giàu thóc lúa. Sách Đại Học bàn về việc làm cho sinh ra của cải. Cửu Kinh có nói đến việc làm cho sung túc của cải. Sách Mạnh Tử khi trình bày về đường lối chân chính có nói đến hằng sản hằng tâm. Sách Vương Chế nói về nước phải chứa của cải đủ dùng trong ba năm, chín năm. Trong chín sự dự trù thì sự dự trù lương thực hàng hóa đứng đầu. Chín phủ kho hàng vải đầy la liệt trong đó. Ngô Khởi nói về việc dùng binh bào trước phải làm cho dồi dào của cải rồi sau mới dùng sức. Triều Thố khi bàn về việc phòng bị biên cương nói rằng: Nhiều lúa thóc dư của cải thì làm việc gì chẳng thành. Đủ thấy những người nắm đường lối chính trị, không ai không sớm lo giàu có.

Trời sinh ra con người không phải chỉ sinh con người trơ trụi mà trước tiên sinh vạn vật để đủ cho con người sinh sống. Mở đầu sách Cựu ước của Đạo (Công) giáo có nói đến đoạn này. Như Kinh Dịch cũng nói: Có muôn vật rồi sau mới có nam nữ. Đó chính là điều khẩn thiết trước nhất đối với con người.

Trời còn sinh ra mặt trời để ấm áp, gió để mát mẻ, mưa để thấm ướt, đất để nuôi dưỡng, nước để tưới nhuần. Biết bao nhiêu đức tính trời đã sinh ra trùng trùng lớp lớp, tác động qua lại mà thành ra nguồn gốc ấm no cho thế gian. Đủ thấy rằng đạo trời cũng rất nhiều cách cốt làm ra của cải vật dụng cho con người.

Nhân dân đối với đất nước như con cái đối với cha mẹ. Mối tương quan hết sức gắn bó. Như trước đây, trong Tế cấp bát điều tôi đã nói: Một nước ví như một thân thể. Đó là cái lý thế liên lạc tương quan hết sức mật thiết mà đạo trời đã định ra như vậy, tuyệt không có một người nào đó có thể ở ngoài lý thế ấy (Người nào thấu hiểu sâu xa lý lẽ này thì sẽ thấy rằng tất cả những ai không trung với nước tức là không trung với chính mình. Muốn trình bày rõ lý lẽ này cũng phải viết đến một tập dày.)

Cha mẹ đối với con cái, trước tiên là sinh ra, nuôi lớn lên, tiếp đến là dạy dỗ nghề nghiệp để sinh sống, nên người, thì mới có thể trông mong lúc tuổi già. Đất nước là cha mẹ của muôn dân. Nếu không thể dạy tập cho dân giàu có mà chỉ lo thu thuế, không lo được cho dân ăn học mà chỉ thôi thúc cung đốn các khoản thì sao gọi là cha mẹ được?
_____________________________________
*. Bản Hán văn:    
    N.P số 121 trang 31-39
    Hv 135 trang 1-29
    Hv 634/1 trang 117-148

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #216 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:11:43 pm »


Mọi việc trên đời hễ việc gì có công dụng lớn thì rất khó làm. Công việc của con người không gì lớn hơn là làm cho ra của cải để nuôi sống. Vậy thì làm được việc ấy đâu phải dễ. Tây Môn Báo có nói: Vua cốt làm cho dân giàu. Sách Gia Ngữ nói: Làm chính trị phải gấp rút làm cho dân giàu. Những lời nói ấy đâu phải nói suông. Xưa Phục Hy làm vua mà dạy dân cày ruộng đánh lưới cá để mở mang mọi việc. Hậu Tắc dạy dân cày cấy lấy việc nông làm cho nước giàu. Thế mà bảo là nghề hèn mọn được sao? Kinh Thư nói về công tu phủ trị. Sách Chu Lễ nói thưởng nghệ phạt hoang. Vậy tu trị như Kinh Thư nói nghĩa là gì? Tức là trước thì tuân theo thời tiết, sau thì khuyến khích sức dân, sau nữa thì khai thác hết nguồn lợi đất đai. Như thế để dạy dỗ dân tất cả phải hết sức mình cho sinh kế. Những nơi đồi núi cheo leo không trồng được lúa đậu thì trồng cây trồng tre. Mùa xuân chặt tỉa cây khô mục, mùa hạ hái quả, mùa thu trồng rau ráng, mùa đông hái củi để điều tiết dân sinh. Theo phép ấy thì săn thú không săn thú bầy, không bắt thú con, bắt cá không tát cạn đầm ao, không đốt rừng để săn thú, sói chưa tế thú1 không được săn, rái chưa tế cá2 không được thả lưới, chim cắt chưa báo tin thì bẫy lưới không được chăng gài nơi khe suối, cây cỏ chưa rụng lá, thợ rừng không được vào núi rừng chặt hái, côn trùng chưa đến kỳ sinh nở không được đốt ruộng nương, không giết vật có thai, không phá tổ hốt trứng, không bắt cá chưa đủ thước tấc, không giết heo chưa đúng kỳ. Mây bốn bề kéo tới thì chỉnh đốn biên cương. Ếch kêu én liệng thì sửa sang đường sá. Nước đổ xuống suối thì lo sửa cầu cống. Còn rất nhiều việc nữa, phải theo thời tiết mà tu bổ sửa chữa, cốt tự người trên phải thân hành đốc suất. Như chủ nhà đối với người giúp việc. Sáng có công việc buổi sáng, chiều có công việc buổi chiều. Có việc thì có công, do đó người thời cố sống được nuôi dưỡng đầy đủ, chết chôn không có gì oán hận. Được như vậy rồi sau mới biết thế nào là lễ tiết vinh nhục mà sinh tấm lòng yêu chuộng việc nghĩa, sốt sắng việc chung. Còn nếu như cứ bị cái nghèo đeo đuổi thì đến cha con cũng không bao bọc nhau được còn hơi đâu nghĩ đến lễ nghĩa phong tục.

Phàm tình đời có dư mới nhượng, không đủ thì tranh. Nhượng là nền móng của sự thịnh trị. Tranh là đầu mối của loạn ly. Vì thế có đủ ăn mới giữ được chữ tín, cùng thì sinh gian dối. Xưa nay chưa từng nghe dân nghèo mà nước thịnh bao giờ cả.

Nay chẳng cần nhìn sự việc xa xôi của đời thượng cổ mấy ngàn năm làm gì, chỉ dẫn những việc trước mắt thời nay cũng thấy được là thiên hạ sở dĩ giàu mạnh là do chuyên về nghề thực dụng, với một phương thức đầy đủ hơn xưa bội phần. Hãy xem phương Tây và hai nước châu Mỹ, tất cả vua chúa đều đốc suất việc làm lợi làm giàu trước hết, còn sách vở luật lệ xử lý công việc thì để sau. Bởi vì Hình là để trừng trị dân sau khi đã có tội. Binh là để đối phó với dân sau khi đã sinh bạo loạn mới giết. Lễ là để lập ra các nghi tiết để trang sức cái vẻ mỹ quan trong thời bình. Công là để sửa sang vật dụng dụng cụ. Hộ là để kê tra tiền bạc của cải xuất nhập, nhân số nhiều ít mà thôi. Tất cả những công việc trên đây trước hết phải có sự thật vật thật, sau mới tùy theo đó mà gìn giữ sửa trị để làm cân bằng cái công dụng của nó. Tất cả đều xảy ra sau khi đã có sự vật mà khéo trù liệu xử trí để hưởng dụng chứ thực tế tất cả đó không thể sinh được lợi lộc gì cả. Nói trị nghĩa là dùng luật pháp duy trì trật tự. Và như vậy thì trước tiên phải có cái gì đó đã rồi mới có pháp luật. Như nấu canh thì phải có muối, mỡ, cá, thịt thì mới nấu được. Vì thế đối với các nước ấy, những người làm quan bất luận quan bộ nào, chức vụ gì, trong lúc ở công đường cũng như lúc tiệc tùng yến hội, bốn chữ làm lợi trừ hại không ngớt miệng nói, không dám buông lời nói chuyện gì khác sợ bạn đồng liêu chê là vô tâm đối với dân. Còn như phân xử những chuyện bất bình lặt vặt, mỗi ngày không quá bốn tiếng đồng hồ, chẳng cần thâm qua đêm, coi đó như thừa sức mà học văn chương vậy thôi. Tất cả trong dân hễ có nghề nghiệp gì làm ra của cải được thì đều đặt chức quan để huấn luyện dạy dỗ. Pháp lệnh được thi hành đều khắp từ thành thị đến rừng sâu. Hãy xem các đầu nguồn ở Gia Định, tất cả nơi nào có rừng ở mỗi công trường làm gỗ nếu chặt hạ bao nhiêu cây thì phải trồng một cây con bên cạnh, và dân chúng thi hành một cách tự nhiên như thành thói quen. Nước ta hai bên đường cái quan có trồng cây mà phần nhiều bị chặt phá (Đó là điều chính mắt tôi trông thấy). Trải từ thời Minh Mạng đến nay cứ ngã cây này trồng cây khác mà vẫn không thành công là vì sao? Chỉ một việc rất nhỏ nhặt, rất dễ dàng mà còn thế, huống gì là việc lớn?
_____________________________________
1. Sói chưa tế thú: Thiên Nguyệt Lệnh trang Kinh Lễ nói tháng cuối thu giống sói bắt được thú vật bày ra la liệt như cúng tế gọi là “tế thú “ - Ý nói khi chưa cuối thu, thú vật chưa sinh sôi nảy nở nhiều thì chưa cho phép săn bắt.
2. Rái chưa tế cá: Cũng Thiên Nguyệt Lệnh trong Kinh Lễ nói vào tháng đầu xuân giống rái bắt cá bày la liệt như cúng tế gọi là “tế ngư” - Ý nói chưa sang xuân ấm áp cá chưa sinh sản nhiều thì chưa cho phép đánh bắt.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #217 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:12:30 pm »


Các nước người ta dạy dỗ dân thì như thiên văn, địa, lý, nông chính, hầm mỏ, khai thác nguồn lợi biển, nguồn lợi núi, nguồn lợi sông hồ, thủy cục, đường sá, cầu cống, thương mại, giao thông, toán pháp, y tế, cây trồng, cắt may, thực phẩm, nhà cửa, phố xá, cho đến nuôi dạy trẻ, không ngành nghề nào không có thức quan quản thủ, mà tất cả việc gì cũng đều hợp lòng người, không trái nguyện vọng của dân. Nếu muốn trình bày hết những cái hay đẹp phải đến một tập sách lớn cũng chưa thể nói hết được.

Nay hãy nêu một vấn đề căn bản hết sức trọng đại khẩn thiết đó là vấn đề nông chính mà nói để thấy rằng mọi vấn đề cũng đều như thế cả. Chỉ thưởng thức một miếng cũng đủ biết toàn thể mùi vị.

Đối với vấn đề nông nghiệp các nước chú trọng mở khoa thi để chọn người. Muốn thi đậu để ra làm quan nông chính, thí sinh trước hết phải học sơ qua về thiên văn để biết các lớp khí quyển khô ẩm của mặt đất. Đại khái có chín mục như sau:

1 - Khí nóng mặt trời tác động vào gió

2 - Khí nóng ở trong đất

3 - Độ cao thấp giữa mặt đất và mặt biển.

4 - Hình thái mặt đất.

5 - Hướng xiên của đất gò.

6 - Bề mặt bề lưng cách biển gần xa.

7 - Tính chất các lớp đất.

8 - Ruộng canh tác, ruộng hoang và mật độ dân số. (Vấn đề này cơ bản ở điểm đất có sinh khí hay không. Lý lẽ này rất sâu chứ không phải chỉ thống kê ít hay nhiều).

9 - Gió thường xuyên của bốn mùa.

Biết các hướng của các khí thì biết được sự thích nghi của động vật thực vật.

Tiếp đến phải học địa lý để phân biệt tính chất đất đai (Địa lý này khác với ngành địa lý tương đối với thiên văn mà nói, cũng không phải địa lý áp dụng trong ngành khoáng chất). Tất cả các loại ngũ cốc rau cỏ đều có thích nghi riêng đối với chất vị của đất, nếu hợp thì được nuôi dưỡng (Ngành học này rất phiền toái, tất cả đều quy về khoa thực vật học nhưng tách riêng ra một phân ngành để cho những người về ngành nông chính học sơ qua mà thôi) nếu không hợp thì không được tốt tươi. Điểm này do ở chỗ mặt đất cao thấp không đồng nhau mà ra. Như núi gò hồ ao đồng bằng, cao thấp một thước một tấc là có sự khác nhau rồi. Đất đai lại toàn có một sắc hoặc nhiều sắc xen lộn. Như sách Vũ Cống có nói đến năm loại đất, Quản Tứ cũng nói năm lớp đất, tức là lấy sắc đất mà phân biệt đất ấy tốt xấu chất vị khác nhau thế nào để biết thích nghi với loại cây trồng nào.

Tiếp đến phải học về tích chất của loại thực vật và cách gieo cấy trồng tỉa bảo quản chúng. Tất cả các loài ngũ cốc, hoa quả, rau khoai, cỏ cây, tự bên trong cũng như đối với môi trường bên ngoài, mỗi thứ đều có bản tính riêng có thể chia ra loại cay ngọt, đắng, chát, ôn hay mát, hàn hay nhiệt.

Sau đó phải học các loại điền thổ trong nước, cho đến ao vườn trang trại trong dân, năm được mùa thế nào năm mất mùa thế nào, để quyết định sự tăng giảm số thuế. Lại phải học về địa văn, thời tiết gió sấm, mây mưa sương móc băng tuyết, cho đến sự chênh lệch lạnh nóng giữa ngày đêm, gặp gió mưa nóng lạnh nơi nào nên cày nơi nào nên bừa, nơi nào nên gieo để phù hợp với khí trời đang phủ xuống, khí đất đang bốc lên. Về ruộng đất có loại mặt đất nào phù hợp với thời tiết gì đều sưu tập thành sách. Vấn đề khó nhất là gió mưa nhiều ít và sự vận khí mỗi năm đều có thay đổi chút ít. Dĩ nhiên đó là do ở trời, nhưng cũng phải biết tùy theo thời tiết mà đoán định. Rồi mau tham chiếu phối hợp với lịch pháp trong năm và theo dõi những trường hợp bất đồng trong mỗi lúc mà gia giảm để quyết định thời điểm canh tác sớm hoặc muộn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #218 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:13:01 pm »


Các khoản trên đây mới chỉ nêu sơ lược các tổng mục mà thôi. Về quan hệ thứ tự đối với người học còn rất nhiều phiền phức gấp bội sách vở kinh sử của học trò thi nước ta. Tôi thường nói với người ta rằng học nghề nông khó lắm và bị mọi người cho là nói khoác. Họ đâu biết rằng học nông như thế đâu phải dễ. Những người thi đậu sẽ được phân bổ mỗi huyện một người. Công việc của họ là đi xem xét ruộng nương còn quá hơn là người nông phu đi thăm ruộng. Lấy một xã ra mà nói thì thí dụ như một xã nào đó có bao nhiêu ruộng đất, ranh giới như thế nào cùng các nghiệp chủ có ruộng tọa lạc tại đâu nông quan sẽ căn cứ vào khí hậu thời tiết đám ruộng nào, tên gì, gởi trát đến cho lý trưởng truyền cho biết nghiệp chủ tên gì có ruộng tại đâu ngày nào vỡ đất, ngày nào xuống giống, dùng giống lúa gì, hàng gieo cấy cách nhau bao nhiêu, mấy lần cày, mấy lần bừa, bao giờ bừa cỏ, tưới tiêu như thế nào, nhất nhất phải làm đúng theo pháp tắc quan nông chính đã định. Nếu ai làm sai ngày giờ sẽ phạt không tha, như người bị tử tội vậy. Đã đi tuần lúc xuống gieo để quan sát cách canh tác lại còn căn cứ theo mỗi thời kỳ đi tuần xem từ khi lúa mọc đến vàng gié rồi biên rõ vào trong sách. Khi lúa chín phải đợi quan nông chính biên nghiệm xong mới được gặt. Đối với ruộng hạ đẳng, vốn lời tương đương nhau thì được trừ thuế. Ruộng trung đẳng và thượng đẳng cũng làm theo cách như vậy. Ví dụ như trừ ngoại mười quan tiền xuất vốn canh tác, rồi mới chiếu cứ mười quan lợi bao nhiêu thì phải nộp thuế bao nhiêu. Mỗi nghiệp chủ có bao nhiêu ruộng loại nào, tính chung số lợi thu đắc thuộc vào hạng nào, liệt kê trên là ruộng dưới là thuế, cộng chung phải nạp bao nhiêu quan. Đến khi mở điểm thu thuế trước hết gởi trát đến bộ thuế nơi lý trưởng hẹn ngày giờ nào quan viên sẽ thân hành đến cho lý trưởng ngồi thâu. Nếu chủ ruộng không đem nạp đúng thời hạn đã định, đến khi quan về nhà rồi mà cũng không đem đến nộp thì sẽ gởi trát lần thứ hai hối thúc một lần nữa, sau lần này sẽ phát mãi tài sản để trừ đủ số thuế, nhất định không sai như mặt trăng thay ánh sáng mặt trời vậy. Họ làm thế cho nên chưa bao giờ thuế bị trì hoãn hay thất thu như ở nước ta. Vì nhà nước chỉ thu thuế trên số lợi mà không hề xâm phạm đến số tiền vốn mà dân bỏ ra canh tác, nên không có nạn khai gian trốn thuế, tiền thuế phù hợp với lợi tức thu đắc, đúng đạo công bình tuyệt đối không tư vị, nhờ đó tránh dược cái tệ thủ lợi riêng, dân ai nấy đều được công bình. Đối với vườn tược trang trại đất núi đất rừng cũng vậy. Phàm trồng cây gì có thể dùng để lấy gỗ hay cây gì ăn được đều phải nhất định theo phép quan mà làm. Quan nông chính sẽ thân hành cắm tiêu làm dấu phạm vi trồng, thích hợp trồng cây gì và chỉ vẽ các cách ươm trồng vun xới. Đến khi cây mọc tốt thì hằng năm vào mùa thu quan nông chính lại đi tuần xem chỉ vẽ cây nào nên cắt bỏ nhánh nào hướng nào. Khi cây đã đúng kỳ dùng được hoặc cây nào bị trùng đục cần phải chặt bỏ thì cho hạ xuống mà dùng rồi lại trồng một cây con bên cạnh. Nghiệp chủ tuyệt đối không dám cắt bỏ một nhánh con theo ý mình. Hãy xem phương Tây, ở đồng bằng mà người ta cũng đều trồng cây nơi bờ ruộng ngay hàng thẳng lối xanh mát đẹp đẽ chứ không chỉ ở núi rừng mà thôi.

Làm như thế không phải chỉ đặc biệt để có của cải sử dụng mà còn quan hệ rất lớn.

Châu Mỹ ngày xưa hoang vu chưa khai thác, sầm uất cũng như Gia Định ta thời cổ: Sau đó người Anh, Pháp, Y Pha Nho, Hà Lan v.v… những người không nghề nghiệp đổ xô tới tha hồ khai phá chặt chém đạp hết xuống mà làm đồn điền nông trại. Khi họ mới đến, mưa gió thuận thời tiết. Nhưng sau khi bụi bờ gai góc đã chặt, đường sá đã nối liền, đồng ruộng bạt ngàn, lúa mè xanh tốt, thì lượng mưa giảm dần. Cho đến lúc đất đai được khai thác gần hết thì mưa ít hạn hán nhiều, chẳng biết vì sao. Mãi gần một trăm năm có một người giỏi về thời tiết khí hậu mới suy ra rằng cây cối hút khí ẩm trong đất khi mặt trời hun đốt thì nhả khí ấy ra tản mạn rồi bốc lên thành mây mưa xuống. Hãy xem ở núi cao nơi cây mọc rậm rạp, ở đó mưa nhiều gấp bội những nơi đồng trống. Đó là chứng minh. Từ đó người ta mới trồng cây khắp các bờ ruộng ở đồng bằng và các cồn cát, mới nhìn tưởng như rừng. Mười năm sau, gió mưa mới phục hồi lại như thời cổ. Cho nên đến nay người phương Tây quan tâm trồng cây ở đồng bằng cũng vì thế.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #219 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 10:13:39 pm »


Hãy xem tỉnh Nghệ về mùa hạ miền trên mưa nhiều, còn miền dưới thì núi thấp đồng trống ví dụ như hai huyện Hưng Nguyên và Châu Lộc mưa rất ít. Nếu có mưa nhiều thì phần lớn đó là mưa từ trên di chuyển xuống, hoặc từ Hồng Lĩnh tản ra bốn phía. Đó là một chứng minh. Xem thế mới biết cái gì trời sinh ra là có lý rất nhiệm màu. Không có đất đai nào mà chẳng có cây cối, đó là để tiếp hòa khí đất, thích hợp cho vật cho người. Công dụng của nó rất lớn. Thế mà con người chẳng biết quý trọng, muốn chặt phá là chặt phá, bò dê phá dẫm đạp. Thậm chí mùa khô nắng, một đóm lửa cũng đủ cháy lan một giải núi lớn, tấc cỏ chẳng còn, nói gì đến cây cối nữa. Như miền dưới, núi Đại Quắc giáp giới Đông Thành, Hưng Nguyên, Lương Sơn, núi Đại Huệ ở Nam Đàn, núi Thiên Nhận ở Thanh Chương đã trơ trọc mất hẳn tính núi. Tôi đã từng hỏi dân chúng ở gần đó vì sao mà đốt phá tổn hại quá lớn như vậy? Người ta lấy làm quái lạ cho câu hỏi của tôi. Vì luật pháp có cấm đâu! Xem đấy, đối với dân không thể để cùng nhau tự lo như lúc sơ khai là thế. Bởi vì thiên hạ chỉ biết sợ pháp luật nhà nước chế tài họ. Có pháp luật mới răm rắp làm theo mà giữ gìn. Còn để tự nhiên thì ai cũng vậy, tội gì một mình mình giữ gìn cho thiên hạ xài? Do đó ở phương Tây hai bên ven rừng ven núi đều được phân giới hạn chia cho dân địa phương ở đó nhận phần làm nghiệp chủ mà giữ gìn. Nếu người ở đó không đủ sức thì cho dân nơi khác đến chiếu nhận giữ gìn hưởng hoa lợi, không để một nơi nào vô chủ mà phải trả về cho Triều đình. Vì vậy người ta nói giang sơn có chủ là vì thế.

Không như nước ta, bỏ mặc không hỏi đến. Trừ các núi lớn vùng thượng bạn không đủ sức kiểm soát không nói làm gì, còn các núi vùng hạ bạn như núi đệ nhị đẳng, núi đệ tam đẳng ở các huyện tuy giới cận hai bên phù hợp tiện lợi, thế mà ngàn đời vẫn bỏ hoang, muốn đốt phá lúc nào thì đốt phá nỡ làm cho tuyệt diệt. Đạo trời là cái đức lớn sinh thành vậy mà chặt chém đi làm mất cái nguồn nước mưa tưới nhuận cho đồng bằng, làm mất cái nguồn cung cấp củi than cây gỗ, làm mất nguồn nuôi sống. Lý do không có gì khác hơn là vì không có pháp luật để giữ gìn mà thôi. Xưa cấm vào rừng. Tại sao nay lại không làm được như thế? Trời sinh ra rừng rú có công dụng rất lớn, thế mà người khinh bỏ không biết coi trọng cho nên không đạt được cái dụng của nó cũng phải. Nếu biết rõ được nhiệm ý của tạo vật làm cho đất đội lên thành núi để tạo ra cái công dụng lớn cho loài người thì mới biết quý trọng, biết chăm sóc, không đến nỗi để cho anh linh núi rừng phải bị giễu cợt mỉa mai. Kìa, trời sinh thời tiết, đất sinh nguồn lợi, các nước phương Tây tuân theo thời tiết, khai thác nguồn lợi, chia ra xướng xuất để khuyên dân ra sức làm việc để khỏi cái thói biếng nhác ăn chơi, giúp cho việc tạo thành phong tục thuần phác.

Sở dĩ nhân dân các nước phương Tây được giàu có phần nhiều do nhờ ở nghề nông. Cho nên có đặt ra một Bộ do một vị đại quan cầm đầu coi sóc. Còn để giúp thêm vào việc khích lệ thì mở các cuộc hội chợ đấu xảo, từ đó dân mới biết trách nhiệm chú trọng đến điều căn bản. Cho nên ai cũng hết sức đeo đuổi. Vì lẽ nghề nông chẳng phải là nghề sang cả gì mà được ơn Triều đình khen thưởng hậu đãi. Tâm lý con người ta đã được lợi ích thiết thực cho mình, lại được Triều đình ban thưởng, khiến trong nước đều biết tên mình, vậy ai chẳng gắng sức. Bởi vì thí dụ như có một người nào đó suy nghĩ ra được một phương pháp mới rất hay, thí dụ như trồng được mía tốt hơn bình thường, nấu ra đường cũng nhiều hơn các mía khác. Quan nông chính liền thân hành đến nơi xét nghiệm và khen thưởng. Rồi sau đó khiến khai rõ phương pháp tài bồi như thế nào, đem phổ biến cho tất cả mọi người khiến mọi người bắt chước theo phương pháp đó, chẳng bao lâu mà tiếng tăm lan tràn khắp nước. Tất cả việc gì cũng thế. Hãy xem ở Gia Định mỗi năm đều có đấu xảo. Đó là họ mới thí nghiệm chính sách lúc đầu của họ. Thế mà biết đâu dưới dân đã có ít nhiều người trổi khá. Nước ta vấn đề ranh giới ruộng đất chưa được đúng, còn nhiều sơ sót, dân gian sinh nhiều tệ đoan, đất nước chưa được lợi một cách rõ ràng. Nguyên do của nó rối như tơ, giờ đây ra làm gặp muôn điều khó nói hết được. Trước đây trong điều “Tế cấp chính kinh giới” tôi đã nói đại lược các tệ hại, nhưng chưa nói đến những phương pháp bổ cứu làm cho tốt, bởi vì Triều đình lúc bấy giờ chưa để ý đến. Núi, sông, đồng ruộng, biên ải của một nước cũng giống như ruộng đất vườn ao của một gia đình. Nếu là chủ nhà mà không biết hết gia nghiệp của mình có những gì, bao nhiêu, thế là rất thiếu sót đối với gia đạo. Triều đình đối với nhà dân, quy mô còn tuyệt vời hơn nữa, thế thì sự sắp đặt càng phải rõ ràng sáng suốt hơn mới hợp thể thống.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM