Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:55:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo  (Đọc 164988 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #230 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 01:36:54 pm »


PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1

Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ1

NGUYỄN TRƯỜNG CỬU

Ông Tộ là người Đoài Giáp, người ta gọi là Xã Đoài2, sinh ra bởi cha mẹ đạo cũ, chịu phép Rửa tội, đặt tên thánh Bảo Lộc. Khi lớn lên học vỡ lòng trong gia đình, rồi học với thầy Tú Giai là người Bùi Ngõa3. Sau lại học với thầy Cống Sinh tên là Hựu, ở xã Kim Khê4, song chỉ tìm những điều thực học mà thôi, hỏi thầy một đôi điều, thầy cắt nghĩa không xuôi, rồi xuống học với quan huyện Địa Linh5 ở làng Tân Lộc6. Khi ở những tràng học ấy, không vào nhà trong bao giờ, khát nước thì gọi người ta múc cho, không mấy khi làm bài. Khi nghe sách rồi, chỉ dọn riêng một quyển sách mà xem. Một kỳ kia hạch bài chung, thầy ra một bài phú “Xa Giá Tây Đô Tràng An”. Ông Tộ làm liền, rồi cậy người đem nộp, thầy chấm phê ưu. Sau thầy nói với các học trò rằng: Người này đáng tài Khôi Thám. Lần kia thầy và các học trò đi dạo trên Tú Lò7, các học trò thì nhẹ gót khắp mọi nơi. Ông Tộ đứng trông xem, rồi hỏi người bạn có đạo (là cả Thuần, người Tân Lộc) rằng anh ước từ Tú Lò cho đến Thuần Ngư8 xa nhau mấy tầm, Tú Lò cao mấy trượng, Thuần Ngư cao mấy tầm. Hỏi vậy mà thôi, đoạn thầy trò về. Đến sau hỏi thầy hai điều, thầy giải không được rồi thì thôi học, có thiết trường dạy học ở nhà, rồi ngồi dạy học chữ Hán ở trong Nhà chung Xã Đoài9.
________________________________________
1. Nguyễn Trường Cửu viết tiểu sử của thân sinh mình sau những năm 1925-1926, nghĩa là sau “Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử” của Lê Thước, đăng trên Nam Phong số 102, tháng 1-1926: Lê Thước đã được Nguyễn Trường Cửu cung cấp cho nhiều tư liệu truyền khẩu cũng như tư liệu viết, nhưng Lê Thước đã không tỏ ra dấu gì là đã trực tiếp sử dụng “Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ” trong bài viết của mình. “Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ” được viết bằng chữ Nôm và chưa được công bố ở đâu cả. Ông Phạm Đình Khiêm, trong Văn Đàn, bộ III, số 4, 30-11-1961, nói là đầu năm 1946 “Được ông Nguyễn Trường Võ lấy cho xem tập “Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ” bằng chữ Nôm, viết tay trên giấy bản, do thân phụ ông là Nguyễn Trường Cửu biên soạn. Ông có nhã ý cho chúng tôi mượn đem về Nam Định sao chép lại để có tài liệu tham khảo. Sau đó, chúng tôi đã gởi trả lại bản chính và hiện nay chúng tôi còn giữ lại được bản sao nguyên văn”.
    Bản chính hiện nay không biết ở đâu, chứ trong gia đình Nguyễn Trường Tộ ở Bùi Chu Hưng Nguyên, Nghệ An không còn cất giữ một tư liệu nào cả về Nguyễn Trường Tộ. Bản Việt ngữ của chúng tôi do ông Phạm Đình Khiêm cung cấp.
    Để viết “Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ”, Nguyễn Trường Cửu đã dựa trên một số chứng từ truyền khẩu và một số tư liệu viết được cất giữ trong gia đình; nhưng tất cả các tư liệu không được phối kiểm, nên có nhiều chỗ không chính xác. Nhưng phải nhìn nhận rằng đây là một tài liệu quý về Nguyễn Trường Tộ mà chúng ta hiện có được.

2. Về quê quán của Nguyễn Trường Tộ xin xem phần I.
3. Bùi Ngõa là làng bên cạnh Bùi Chu, nay cùng thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
4. Cống Hữu ở xã Kim Khê. Đinh Văn Chấp (Xem phụ lục III) nói. “Học với Đinh Trọng Thư (tức Cống Hữu)”.
    Xã Kim Khê thuộc huyện Châu Lộc, tức huyện Nghi Lộc ngày nay.

5. Quan huyện Địa Linh: Lê Thước (Xem phụ lục II) và Đinh Văn Chấp nói rõ: Quan huyện Địa Linh về hưu (nguyên Địa Linh huyện; Địa Linh huyện do doãn hưu trí mỗ). Tuy nhiên, trong “Các tổng trấn xã bị lãm”, không thấy có tên huyện Địa Linh mà chỉ có tổng hay xã Địa Linh ở Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, hoặc xứ Lạng Sơn mà thôi.
6. Làng Tân Lộc: Trong “Các tổng trấn xã bị lãm” không thấy có thôn (làng) hay xã Tân Lộc. Tân Lộc ở đây có lẽ là tên của một họ đạo thuộc hạt Cửa Lò, huyện Châu Lộc, tức huyện Nghi Lộc ngày nay.
7. Tú Lò: Lê Thước và Đinh Văn Chấp nói: Núi Lô (Lô Sơn); Đại Nam Nhất Thống Chí, tập 14, tỉnh Nghệ An, tập thượng, nói: Núi Lô ở xã Vạn Lộc, huyện Nghi Lộc.
8. Thuần Ngư: Lê Thước và Đinh Văn Chấp nói: đảo Song Ngư (Song Ngư đảo); Đại Nam nhất thống chí (tlđd) nói: Đảo Song Ngư ở ngoài biển cửa Hội, huyện Nghi Lộc.
9. Lê Thước nói: năm 1858 (?) Nhà thờ Xóm Mới (Tân ấp đạo đường) mời tiên sinh làm giáo sư dạy chữ Hán - Xem Phụ lục II.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #231 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 01:40:11 pm »


Đức cha Ngô Gia Hậu (Gauthier, 6 februaio 1842, Phó giám mục, 27 Martio 1846, Chánh giám mục, 3 décembre 1877 qua đời) thấy ông thông minh thì người dạy cho chữ Pháp, tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ, cùng các khoa kỹ nghệ. Ông dạy học và học được ít lâu, vừa bị cơn trích sáp1, nên Đức cha Hậu đưa ông Tộ, cụ Khang, cụ Điều (người An Phú, đang gọi là Sài Diên) cụ Huấn (người Trung Hậu, khi ấy ba ông chưa chịu chức Thầy Cả) sang Tây lánh sáp2. Đến tỉnh Quảng Đông có ở lại chờ tàu, thì đi chơi với người Ngô trên núi Quảng Đông làm bài thơ đăng sơn, rồi vào miếu Hạng Vũ làm câu đối đề vào tường rằng:

Tung hoành3 dụng vũ phi vô địa,
Chiến thủ thành công cái hữu thiên.

Bút tích hãy còn. Rồi vượt qua cửa biển hẹp, gọi là Tốn Tha Hải Hiệp (Cửa biển này tàu phương Tây sang phương Đông mà vào nước Xiêm La, nước Cao Miên, nước Việt Nam, nước Tàu, Nhật Bản, Cao Ly, tàu phương Đông sang phương Tây cũng qua đây) tức Détroit de la Sonde, có vào gò Gia Vải, vào chơi nhà Đông gia ông Vít Vồ đạo rối4 (Nhà Đông gia là nhà khi mùa Đông rét thì sang ở đó mà tránh rét cho được ấm). Ông Vít Vồ vợ chồng chào mừng, và thết đãi, nói chuyện rằng: Tôi sinh được con giai thì được thưởng nhiều hơn, vì được nối tôi mà làm Vít Vồ. Sinh con gái cũng được thưởng. Phô ông truyền dùng đí gì, hoặc vàng ngọc châu báu, sách vở, đồ vật gì, nơi đây không có thì tôi viết giấy đi các nơi mà liệu như ý phô ông, rồi thì xin gửi tới nơi, gọi là phô ông đã có lòng quá cố đến tôi. Song các ông chỉ xin mấy pho sách cần dùng thôi, thì ông Vít Vồ liệu giao cho đủ hết, đoạn thì giã nhau ra đi.

Khi vượt ra khơi bị quân cướp bể lấy hết.

Khi sang phương Tây qua biển Trung vào nước Y Đại Lợi Á (Italia) có vào thành Rôm (Rome) được vào chầu Đức Giáo Hoàng Pio IX5. Ông Tộ được hôn đầu gối Người, và Người ban cho một chữ tiền lớn hơn đồng bạc, một bên đúc chính hình tượng và tên Đức Giáo Hoàng, một bên đúc một tòa nhà sang trọng, chữ tiền ấy hãy còn6. Rồi sang nước Đại Pháp ở thành Balê (là kinh đô nước Đại Pháp - Paris), khi cùng đi du lịch xem chính trị học hành kỹ nghệ phong tục nước Đại Pháp.
________________________________________
1. Tức việc vua Tự Đức ra lệnh phân chia người Công giáo tháp nhập vào các làng không Công giáo, không cho sống tập trung, để dễ bề kiểm soát. Việc phân tháp có thể bắt đầu sau khi quân đội Pháp tấn công Đà Nẵng (tháng 9 - 1858). Có thể để tránh cho các thừa sai khỏi bị trả thù vì hành động xâm lược của Pháp và cũng có thể để thu nhập tin tức, Đô đốc Rigault de Genouilly, viên chỉ huy quân đội Pháp – Y đã cho tàu đi đón các thừa sai tới Đà Nẵng. Có thể là Giám mục Gauthier đã tới Đã Nẵng vào khoảng tháng 9-10-1858. (Xem phần I).
2. Sự thực là Giám mục Gauthier chỉ sang Hồng Kông và ở đó cho tới ngày trở lại Sài Gòn đầu năm 1861, chứ không về Pháp như nhiều tác giả xưa nay vẫn quả quyết (Xem phần I).
3. Nhiều bản chép là “anh hùng” thay vì “tung hoành”. Dịch nghĩa là:
        Tung hoành không phải không có đất dụng võ
        Thành công chiến thắng ắt do trời định đoạt.

4. Giám mục Anh giáo.
5. Vì Giám mục Gauthier không về Pháp, nên có thể là Nguyễn Trường Tộ cũng không sang châu Âu vào dịp này. Có thể là vào chuyến đi công vụ năm 1867, Nguyễn Trường Tộ mới cùng Giám mục Gauthier được Đức Pio IX tiếp kiến. Nếu Nguyễn Trường Tộ đi một mình thì không dễ gì được vào triều yết kiến (xem phần I).
6. Đầu năm 1946, tới thăm gia đình ông Nguyễn Trường Cửu, ông Phạm Đình Khiêm cũng đã thấy đồng tiền này (xem Văn Đàn, tldđ).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #232 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 01:42:03 pm »


Khi nghe lặng sáp, rồi thì Đức Cha Hậu lại đem ông Tộ và các cụ về Nhà chung Xã Đoài mà ở1. Bấy giờ trong Nhà chung, ngoài dân sự, tan tành tả tơi, chẳng còn gì nữa, thì ông Tộ ra mẫu và coi sóc làm nhà phòng cho Đức Cha Hậu ở2, có làm cái vọng lầu đề câu đối rằng:

Tây quốc cơ đồ... ( thiếu ba chữ )
Nam thiên vũ lộ túc niêm nhu.

Lại làm nhà hai tầng cho Cố giữ việc ở, và làm nhà tràng Latinh ba tầng, hình chữ thập gọi là nhà Tây, cho học trò Latinh ở và học, hãy còn đến rày, cùng làm nhà thờ Đức Bà riêng cho học trò, theo mẫu nhà thờ Đức Bà hiện ra ở thành Lộ Đức (Lourdes) đẹp lắm, và ở ngoài xây tường cài hoa lộng, giống các sắc hoa Tây, Nam rặc rỡ xanh tươi vui mắt lắm, rầy hư rồi3.

Đoạn tậu vườn làm nhà ở phía Bắc Nhà chung, làm tờ để lại, cúng cả nhà và vườn cho Nhà chung. Rồi vào Gia Định làm sở nhà Bà Phước cho các người nhà mụ Tây ở đến khi nước Pháp đã lấy Gia Định4, rồi thì ông Tộ ở trong ấy, mà rò xem việc hòa ra thế nào, song xem ra không thành, ông thư đi từ lại, vì bộ thì ưng hòa ước, song xin giả ba tỉnh Giang, Long, Hà5 lại cho Việt Nam, mà nước pháp thì hòa và giữ ba tỉnh ấy nữa.

Ông thấy sự thế ngán ngay, thì về Kinh mà dâng sớ, tâu xin vua Tự Đức đổi bỏ sự học hành cũ, mà làm sự học hành mới như bên phương Tây, việc Đạo, việc Thiên văn, Địa lý, việc đồn điền khai hoang, việc trên rừng, việc dưới biển, việc khai các mỏ, việc các nghề nghiệp, việc cơ khí, việc võ phương Đông, việc võ phương Tây, cùng vẽ hình thành quách hào lũy, việc tình thế nước Việt Nam bấy giờ, việc thông thương buôn bán cùng khắp hoàn cầu, việc vào Hội với Vạn Quốc, việc cho các nước vào thông thương vào nước mình, việc giao thiệp, việc hòa ước, việc mua tàu bè, sách vở đồ đệ cùng hết mọi việc v.v… các sớ ấy nhiều lắm, hãy còn để trong dinh Cổ học Viện ở Huế6.
________________________________________
1. Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ về Sài Gòn đầu năm 1861. Giám mục Gauthier sau Hòa ước 5-6-1862, dự tính về Xã Đoài, nhưng giữa năm 1863 cũng chỉ về được tới bên kia bờ sông Gianh và ở đó cho tới giữa năm 1866 mới về Xã Đoài được.
2. Nguyễn Trường Tộ xây dựng các cơ sở cho Nhà chung Xã Đoài từ giữa năm 1868 trở đi, sau chuyến đi công cán tại Pháp với Giám mục Gauthier và việc mở trường ở Huế thất bại.
3. Nguyễn Trường Tộ xây cất cơ sở cho dòng Saint Paul, số 4 đường Cường Để, tức đường Tôn Đức Thắng hiện nay, vào khoảng năm 1862-1864.
4. Nguyễn Trường Tộ ở Gia Định từ đầu năm 1861 cho tới đầu năm 1866. Ông còn vào Gia Định để chờ tàu đi Pháp từ khoảng tháng 9-1866 cho tới 10-1-1867. Sau đó hình như không lúc nào ông vào Gia Định, hay ít nữa có vào cũng không ở lâu.
5. Pháp chiếm ba tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên, tháng 6-1867.
6. Đại ý nội dung các văn bản của Nguyễn Trường Tộ gởi lên Triều đình Huế.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #233 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 01:44:04 pm »


Khi vua Tự Đức và Triều đình xem sớ đoạn thì vua Tự Đức vời ông Tộ vào nhà Tả Vu (Trong sân rồng có nhà Tả Vu là nhà các quan văn thần chầu vua, nhà Hữu Vu là nhà các vũ thần chầu vua) cho được bệ kiến (là để vua thấy mặt) và hỏi các điều các bậc, thì vua lấy làm ưng1. Đến năm Tự Đức 19 tháng 6, ngày 16, có chiếu hội quan Hoàng Tá Viêm, tiếp được từ trong Lễ bộ tư ra cho Đức cha Hậu, về việc ông Tộ đi thăm mỏ than2, thì đã cấp phái cho Nguyễn Long3, danh Lâu danh Hoằng, và phái tỉnh cùng đi nữa. Thì ông đã đi cùng phái viên thăm các hạng mỏ, và chỉ cho các phái viên làm máng sơn đen, để xúc cát và nước khe cùng vàng vào, để đãi cát đi mà lấy vàng cách lấy bạc và các bảo điểm, ông có đưa than mỏ về, cùng trong năm Tự Đức 19, tháng 10 ngày 124 thì ở trong Bộ có chiếu hội quan quản lý thương thuyền sự vụ đại thần Phan, phát ra cho ông Tộ về sự xin đi thăm mỏ các sơn phận Bắc Kỳ, vàng, bạc, đồng, v.v.. thì đi. Về sau nhưng đã lấy được than tỉnh Nghệ An và than tỉnh Hải Dương đều một cân, thì phong lại đem vào mà dâng xem, ông Tộ được chiếu hội thì đã đưa vào hai hạng than ấy và vàng lẫn với các đá tâu dâng.

Đoạn vua Tự Đức cho Đức cha Hậu và ông Tộ, cụ Nguyễn Hoằng cùng hai ông phái viên là ông Trần Văn Đạo, Nguyễn Tăng Doãn đi sứ bên nước Đại Pháp, và thuê người mua sách vở, tàu bè, vật liệu, v.v... Khi sang bên ấy, ông Tộ cũng đi các nước chung quanh đó hỏi han cho được biết việc, như qua sang nước Tây Ban Nha là nước Y Pha Nho (Espagne). Vào hỏi chính phủ, thì chính phủ giả nhời rằng sang cho được đòi nợ thôi.

Nguyên khi vua Gia Long phục quốc, thì Đức cha Phêrô5 coi sóc địa phận Gia Định giúp vua Gia Long khai quốc nên vua cậy Đức cha Phêrô đưa ông Đông cung Cảnh và các quan sang nước Đại Pháp sang đánh quân Tây Sơn cho được lấy nước lại, song việc không thành thì Đức cha Phêrô lại vay nước Y Pha Nho năm vạn bạc6 mua hai chiếc tàu hiệu là tàu Long và tàu Phượng, cùng mua súng ống thuốc đạn lương thực, và mọi người Tây có lòng giúp vua vào hai tàu ấy vượt sang nước Việt Nam. Bấy giờ vua, cùng Đức cha Phêrô và các người ấy đánh được Tây Sơn, giết được Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc7, lên làm vua cả nước Việt Nam là năm 1802, năm Nhâm Tuất, là Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế. Cho nên nước Y Pha Nho đòi năm vạn bạc ấy v.v...
________________________________________
1. Việc này xảy ra vào khoảng tháng 8-1866, trước lúc Nguyễn Trường Tộ cùng Giám mục Gauthier vào Sài Còn đi Pháp.
2. Theo Đại Nam Thực Lục thì tháng 5 Tự Đức 19 (tức tháng 6-1866) Triều đình có phái Hồ Văn Long cùng Nguyễn Trường Tộ đi tìm mỏ, nhưng có lẽ Nguyễn Trường Tộ chưa kịp đi, thì đã có chiếu gọi vào kinh để đi Pháp.
3. Hồ Văn Long chứ không phải là Nguyễn Long. Hồ Văn Long, người đã có mặt trong phái bộ Phan Thanh Giản đi Pháp năm 1863-1854.
4. Việc này chắc chắn không được thực hiện vào thời điểm này mà có thể ở vào khoảng sau tháng 4-1868, Nguyễn Trường Cửu có thể lẫn lộn, bởi vì vào lúc này Nguyễn Trường Tộ đang ở Sài Gòn chờ tàu đi Pháp.
5. Tức Giám mục Pierre (Phêrô) Pigneau de Béhaine, giám mục hiệu Tòa Adran, quen gọi là Giám mục Adran (Bá Đa Lộc).
6. Giám mục Bá Đa Lộc vay tiền của các thương gia người Pháp và người Anh(?)
7. Điều này cũng không đúng, Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc chết bệnh, trước khi quân của Nguyễn Ánh phản công.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #234 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 01:45:40 pm »


Lại ông Tộ đã giao hỏi Hội Khai mỏ Ngoại quốc, mà hội ấy cốt yếu ban điều này: 1

- Một là sai người liệu làm giúp việc cho người ta, dạy tập nghề nghiệp làm ăn, khai cống, đào sông, đắp đường, xây thành đồn, hàn cửa bể, làm cơ xưởng, đóng thuyền tàu, các việc lớn lao.

- Hai là đưa sản vật nước này sang nước khác mà giồng, tơ tằm v.v…

- Ba là buôn bán, sai người đi khắp các cửa biển, các phụ đầu, thăm hỏi giá hàng cao hạ, hoặc bán của mình hoặc mua của kẻ khác, hay là bán hộ, hay là nhận lấy hóa vật đưa đi mà bán, trừ phí tổn rồi, được lợi chia nhau, lại cho người đi thăm hỏi tìm các thứ mỏ trong nước ta như ngũ kim bát thạch, giúp cho làm nên việc mỏ. Nhưng mà giao hai điều này:

- Một là mình có mỏ, lại mình chịu công của đồ đệ hết mọi sự, hội cho một vài người Công sư xem hộ, khi làm nên mỏ rồi, trừ tổn được lợi, thì lo phần kẻ có mỏ được chín phần, Hội được một.

- Hai là mình có mỏ mà hội chịu công của đồ đệ hết mọi sự khi làm thành mỏ rồi, trừ tổn được lợi thì mười phần hội được chín phần, kẻ có mỏ một phần. Còn sự phí tổn tìm mỏ được hay là không thì hội không bắt chịu.

Bằng không ưng thuận điều nào thì hội cũng ưng người giúp cho, song phải chịu mỗi tháng mỗi người là 2.500 phật lăng là quan tiền Tây (Franc) trong ngoài và phí tổn đi lại nữa. Nếu lỡ việc tại ai thì kẻ ấy phải bồi tổn lại.

Ấy là dịch chính trong tờ đã giao ước. Nay xin gởi về tâu mau xin Triều đình hồi phú.

Vừa năm Tự Đức 20 tháng 6 ngày 222, thì quan Phan Thanh Giản gởi tờ chiếu hội cho Đức cha và ông Tộ, liệu thuê một vài người có lòng công liêm, vị thế hiển danh, đừng có yêu sách thái quá, để khi Triều đình hoặc dùng hoặc không cũng được, không tiếng tăm gì.

Khi được chiếu hội này thì Đức cha và ông Tộ xin được hai vị Tây linh mục là Cố Thông, Cố Đồng3.

Khi Triều đình thấy sớ tâu về, đã xin được hai ông linh mục thông minh lắm, để mà giúp nước Nam, thì cũng trong năm ấy tháng 9 ngày 20, quan Phan Thanh Giản lại gởi chiếu hội sang, tư cho Đức cha và ông Tộ đem hai cố về và phái viên cùng đồ đệ về nữa.

Khi được tin ấy thì Đức cha đem mọi người cùng đồ đệ đều về, liền vào Kinh tâu lại mọi việc, và Đức cha đem hai Cố vào chầu vua nữa. Thì vua ban cho Đức cha cùng ông Tộ tiền vàng long văn và mấy chữ tiền bạc, hiệu nhất nguyên, hiệu nhị nguyên cùng ban thưởng mọi người4.

Đức cha, ông Tộ có làm sớ dâng lên tạ ơn vua. Song sau không dùng, thì Cố Đồng địa phận Huế xin đi, Đức cha đem cố Thông về Xã Đoài, người sói đầu, thông thiên văn địa lý, kỹ nghệ, mọi khoa học hành, cùng đem nhiều đồ đệ về, như nước khí sinh, vàng cường thủy (vàng cường thủy, siêu cường thủy, diêm cường thủy, ba thứ nước họp làm một gọi là Vương thủy) các đồ nấu khí, thử khí, như dưỡng khí, thán khí, khinh khí, đạm khí, nhiệt khí, điện khí v.v... La kinh, ống dòm, trắc ảnh, thước thiên nghi, quả địa cầu, các bản đồ, các thứ đo lường v.v... để đầy hai gian nhà Tây.

Người đi xem rừng rú sông biển đồn điền nhiều nơi, đem về các thứ sắt mỏ, biên chữ vào kể mấy rương, và vẽ một cái địa đồ từ Biện Sơn Thanh Hóa cho đến tỉnh Đông Hải Quảng Bình, gọi là bản đồ Cố Thông. Người chết và táng ở Xã Đoài.

Khi đi sứ sắp về thì Bộ tư cho ông Tộ được đi dịch, mà thăm tìm mỏ mọi nơi, đến năm Tự Đức 19 Bính Dần ngũ nguyệt, Bộ sai quan Tổng đốc Nghệ An là ông Hoàng Tá Viêm ra đào Kênh Sắt. Người được chỉ ra trọ nơi xã Kim Khê, thì người viết thơ cậy ông Tộ đi khám xem hình đất thế đất, chỉ lối cho mà đào. Vì trước ông Cao Biền là quan vua Đường bên Tàu, sang làm quan Đô hộ ủy nước Nam, lại vua Quý Ly nhà Hồ, đã đào không xong, vì mắc nhiều đá cuội dưới đất. Ông Tộ đi xem nói rằng: Có một khúc vì nhiều đá nhớn, như bên Tây có cốt mìn thì phá đi, ta không có nên phải tránh. Ông cắm nêu một hồi buổi sớm vừa xong, dân phu cứ thế mà đào thì kênh hoàn thành. Ông Tộ có làm bài thơ mừng Kênh Sắt5. Đoạn sang lấy đất ở cho làng Xuân Mỹ (ở huyện Nghi Lộc, tổng Vân Trình) 6. Vì làng ấy khi ở nơi thì độc khí độc nước ở không được, ông Tộ lấy đất nên vườn, bảo làng lên ở nơi đang ở bây giờ, thì khỏe mạnh đông đúc giàu có...

Đến năm Tự Đức 21 tháng 2, ngày 19, có bằng cấp Lễ Bộ đòi ông Tộ, cụ Hoằng đi Tây, và ban cho 10 lạng bạc, 10 cổ sâm cao ly, cho mẹ già dưỡng lão.

Trong năm ấy, tháng 3 ngày 25, ông Tộ bị đau bệnh ở Kinh, thì Lễ Bộ phát bằng cấp cho về nhà uống thuốc, và ban cho năm lạng bạc ăn đường.

Năm ấy, tháng 3 ngày 26, Binh Bộ phát bằng cấp cho đi dịch về uống thuốc. Khi bệnh vừa giảm, đến năm Tự Đức 23 tháng 12 ngày 11, truyền trát quan Hộ Lý An Tĩnh Tổng đốc quan phòng Tôn Thất vâng lời Bộ tư ra, đòi ông Tộ vào Kinh để đem học sinh Việt Nam sang Tây mà học tập. Ông vào đến Kinh thì bệnh phát lại, xin về uống thuốc không lành, một lâu một thêm nặng, qua năm sau là năm Tự Đức 24 (1871) tháng 10 ngày mồng 10, ông Tộ làm một câu thơ rằng:

Nhất thất túc thành thiên cổ hận,

Tái hồi đầu thị bách niên cơ7.

Đoạn thì qua đời. Thọ 41 tuổi, táng ở địa phận Bùi Chu.

Tới nay, ở tỉnh Nghệ An, trong thành phố, có làm hai sở nhà tràng, gọi là Kiêm bị tiểu học tràng, Groupe I, Groupe II, để cho học trò Pháp Việt học. Quan Đốc học là ông Lê Thước (người tỉnh Hà Tĩnh, Xã Lạc Thiện), quan Kiểm giáo là ông Nguyễn Hiệt Chi, bẩm xin quan thượng Nghệ An, là ông Tôn Thất Đàn, lấy tên ông Tộ mà đặt tên cho trường ấy. Bộ y cho, nên ngày 14 tháng Juin 1925 thì lính tráng cờ trống rước quan Công sứ, quan Thượng, quan đốc học Tây và các quan, cùng các sở công nghệ, quan Cẩm, lính tập, con cháu ông Tộ, các học trò nam nữ, cùng mọi người đông lắm, hội trong tràng ấy mà đặt tên trường. Có hai cái biển một biển đề Nguyễn Trường Tộ Kiêm Bị Tiểu Học Tràng. Quan Đốc Thước mặc áo sấc rộng đứng đọc một bài chúc mừng, đọc rồi vỗ tay reo mừng, pháo nổ hương xông, trống đánh, bát âm thổi, các sắc cờ bay bướm, rất là vui vẻ, rồi ban phần thưởng cho học trò, cùng đi xem sở Thủ Công học trò làm, rất được lời khen, rồi thì giải tán.

Vừa nhân tứ tuần vua Khải Định trong Bộ ban đệ ra tỉnh Nghệ An một đạo Cáo văn ban và truy thụ cho ông Tộ được chức Gia Nghị Đại Phu Hàn Lâm Viện Trực Học Sĩ. Quan Bố quyền Tổng đốc đã gọi con ông Tộ vào lĩnh về nhà rồi vậy.
________________________________________
1. Xem di thảo số 25, về Hội nước ngoài.
2. Lúc này Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier đang ở Pháp.
3. Cố Thông: Montrouzies. Cố Đồng: Renauld.
4. Xem phụ lục số VI.
5. Xem di thảo.
6. Làng Xuân Mỹ, tổng Văn Trình, huyện Nghi Lộc. Ngày nay thuộc xã Nghi Đồng, huyện Nghi Lộc (xem phần I).
7. Theo ông Phạm Đình Khiêm, thì vì chép không rõ, nên có người đọc Cơ, có người đọc Thân. Bản khắc trên mộ của Nguyễn Trường Tộ là bách niên Cơ, trong lúc ông Đào Duy Anh đọc trong một cuốn sổ tay của Nguyễn Trường Tộ là bách niên Thân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #235 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 09:37:14 pm »

PHỤ LỤC II

Tiểu sử Nguyễn Trường Tộ tiên sinh*

NGHỆ AN - LÊ THƯỚC

Cách đây 98 năm nước Việt Nam ta xuất hiện một nhân vật đặc biệt tuyệt vời, người ấy ôm một học vấn lớn, kiến thức lớn, tư tưởng lớn, nghị luận lớn, thế mà đến đâu cũng không hợp, rốt cuộc phải uất ức mang theo chí hướng mà thác, đáng đau đáng giận biết chừng nào! Ôi người ấy là ai? Chính là tiên sinh Nguyễn Trường Tộ.

Tiên sinh sinh năm 1828 Tây lịch (tức năm Minh Mạng thứ 9) tại làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, còn bé đã thông minh dĩnh ngộ. Thân phụ là cụ Nguyễn Quốc Thư làm nghề thầy thuốc có tiếng. Mỗi khi thân phụ dạy đọc chữ gì, tiên sinh liền nhớ thuộc ngay. Làng Bùi Chu phía Đông có sông, phía Tây dựa lưng vào núi. Núi có mỏ sắt (Theo lệ xưa mỗi năm phải nộp 80 cân sắt ròng). Đây chính là trường học thiên nhiên khảo nghiệm khoáng học của tiên sinh thuở thiếu thời. Sau tiên sinh dời đến ở phía ngoài cổng trước nhà thờ Tân Ấp.

Đến năm 1846 (tức năm Thiệu Trị thứ 7) tiên sinh mới bắt đầu thụ nghiệp với một vị đỗ tú tài 5 khoa liền tên là Giai (không nhớ họ) ở làng Bùi Ngõa. Mỗi khi đọc một quyển sách nào, tiên sinh cũng suy cứu cùng cực, nghi điều gì là hỏi ngay, có nhiều chỗ thầy tú cũng không giải đáp được.

Năm 1852 (tức năm Tự Đức thứ 5), tiên sinh học với vị cống sinh tên Hựu (không nhớ họ) ở làng Kim Khê, ba năm rất khổ công chăm chỉ. Mỗi khi đi học về, tiên sinh thường ngồi yên một chỗ nghiền ngẫm nghĩa sách không đi đâu một bước. Thầy cống biết tiên sinh có tài lớn chí lớn nên khuyên đến thụ giáo với cựu tri huyện huyện Địa Linh (không nhớ họ tên).

Năm 1855 (tức năm Tự Đức thứ 8 ) quan huyện mở trường tại xã Tân Lộc. Tiên sinh đến học, mặc dầu bấy giờ tiên sinh đã chán lối học từ chương, muốn tìm chân lý. Lúc nào tiên sinh cũng có một quyển sách nhỏ bên mình mỗi khi suy tư điều gì, trông thấy điều gì đều ghi chép vào đó.

Một hôm quan huyện dắt học trò lên chơi núi Lô Sơn. Các học trò kẻ ngâm thơ người vịnh cảnh. Riêng một mình tiên sinh ngước nhìn lên cao, trầm ngâm nghĩ ngợi, chợt hỏi bạn rằng: “Núi này cao mấy thước, diện tích mấy tầm, cách Song Ngư mấy trượng?” Bạn không đáp được. Thụ học ba năm chỉ khảo thí một lần. Đề thi là làm bài phú nói về việc xe giá nhà vua đi Trường An, Tây Đô (Xa giá Tây Đô Trường An phú). Quan huyện bắt buộc lắm tiên sinh mới chịu làm. Đặt bút là thành bài ngay. Khi duyệt quyển, riêng bài của tiên sinh chiếm ưu hạng. Quan huyện khen lắm. Nhưng tiên sinh đã biết quá rõ cái học khoa cử không bổ ích gì cho thực dụng, nên tiên sinh chẳng bao giờ lưu tâm đến. Bấy giờ tiên sinh được 27 tuổi.

Năm 1858 (tức năm Tự Đức thứ 11) nhà thờ Tân Ấp mời tiên sinh làm giáo sư dạy chữ Hán. Giám mục Ngô Gia Hậu phục tiên sinh là người thông minh lanh lợi bèn dạy tiên sinh học tiếng Pháp, chữ Pháp và một vài môn khoa học phổ thông. Trong hai năm sức học tiến bộ rất nhiều.

Năm 1860 (tức năm Tự Đức thứ 13) vì có lệnh cấm dân theo đạo, Ngô Gia Hậu bèn đem tiên sinh đi Pháp, khi đi ngang qua Ý có đến yết kiến Giáo Hoàng La Mã, rồi đến Ba Lê lưu học. Trong vòng mấy năm, tiên sinh thu hoạch được rất nhiều, ngoài ra còn dùng thì giờ rảnh rỗi khảo cứu thêm chính trị, học thuật và kỹ nghệ nước Pháp. Sau đó tiên sinh lại về nước. Thuyền đến Hương Cảng, tiên sinh được gặp một giám mục người Anh. Hai bên ý tình khá hợp. Giám mục lưu tiên sinh ở lại mấy tháng. Lúc chia tay, giám mục tặng tiên sinh mấy trăm bộ sách nhưng trên đường về bị cướp biển cướp mất chỉ còn lại một vài quyển sách chữ Hán. Bấy giờ tiên sinh đã 33 tuổi.

Thời gian ở Hương Cảng tiên sinh có đề hai câu đối ở miếu thờ Hạng Võ như sau:

Anh hùng dụng võ phi vô địa,
Chiến thắng thành công tất hữu thiên.


Tạm dịch:

Anh hùng dụng võ hiềm không đất.
Chiến thắng thành công hẳn có trời.


Lại nhân cùng một người bạn, người Quảng Đông, lên núi dạo chơi, tiên sinh có làm một bài thơ nối vần như sau:

Thừa nhàn tỉ lý trực đăng sơn,
Túc hạ phong sinh chuyển giác hàn.
Hãn mạn dĩ cùng thương mãng ngoại,
Bồi hồi như tại bích vân đoan.
Tam hoàn thành thị phân minh khán,
Lưỡng Quảng giang sơn chỉ chưởng gian.
Vạn lý phù dao như khả tá,
Lăng không hồi quốc bất ưng nan.


Tạm dịch:

Nhân nhàn cất bước dạo non chơi,
Gió chuyển quanh chân lạnh toát người.
Đi khắp vùng xanh chừng thấm mệt,
Bàng hoàng như giữa đám mây trôi.
Ba vòng thành thị nào xa mấy,
Lưỡng Quảng trong bàn tay đấy thôi.
Muôn dạm mây trời như mượn được,
Ta về cố quốc khó gì đâu.

______________________________________________
*. Nguyên bản Hán văn trong Nam Phong số 102 trang 4-12.
    Bản văn này đã được sao chép lại trong Hv 189/4 tờ 81-98 và 634/4 tờ 15-29, với nhiều sai sót và tự ý sửa chữa và sắp xếp lại.
    Bản Nam Phong bắt đầu với mấy lời giới thiệu của Sở Cuồng (Lê Dư).

« Sửa lần cuối: 21 Tháng Hai, 2011, 10:02:08 pm gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #236 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 09:40:36 pm »


Năm 1863 (tức năm Tự Đức 16) vì làng Xuân Mỹ đất xấu, nhiều khí độc khiến dân ở đây hao mòn, tiên sinh bèn đi tìm một nơi đất tốt khác đưa dân chúng di cư đến ở. Xóm mới dời đến rộng chừng mấy mươi mẫu, bốn mặt ngoài có đường lớn, trong có nhiều đường nhỏ nối liền ngang dọc trông như bàn cờ, đặc biệt có tổ chức hàng quán theo phép tỉnh điền. Sau nhà thờ Tân Ấp mời tiên sinh làm đốc công cất nhà làm lễ, nhà ở cho giám mục và trường dạy tiếng Latinh gồm ba sở, tất cả đều xây cất theo phương Tây. Bởi vì ngoài các môn khoa học, tiên sinh còn chú tâm nghiên cứu rất nhiều về khoa học kiến trúc. Công trình xây cất ba sở này rất lớn, phải mất 18 tháng mới xong.

Năm 1864 (tức năm Tự Đức thứ 17), tiên sinh lại nhận lời mời của nhà thờ ở Sài Gòn. Vì sau khi xây dựng xong 3 sở ở Tân Ấp, tài năng và học thức của tiên sinh đã được các nhà truyền giáo biết đến. Khi Giáo hội trù tính xây cất một cơ sở làm nhà tu cho các nữ tu, họa đồ làm xong kỹ sư dự tính phải chi đến ba mươi vạn. Tiên sinh hoàn thành chỉ tốn có mười vạn (nay hãy còn), tục gọi là Nhà Trắng.

Năm 1866 (tức năm Tự Đức thứ 19), tổng đốc An Tĩnh Hoàng Tá Viêm viết thư nhờ tiên sinh về việc đào Thiết Cảng. Thư viết như sau:

“Nhân được phê chuẩn rằng: “Việc đào Thiết Cảng thật là công tư đều tiện lợi nhưng phải tốn nhiều công của. Người đảm đương việc này không thể nào không hết sức lưu tâm chú ý”.

“Tôi ngày đêm suy nghĩ rằng phải có kẻ trí thức hơn người mới có thể thành công mà giảm bớt phí tổn được. Trước đây theo hai vị Ngụy, Phan khen ngợi thì tài năng của ngài chắc chắn có thể giúp được việc. Vả đó cũng là ý nguyện tốt của ngài muốn tạo một phúc lợi cho nhân dân tỉnh hạt. Có điều chân ngài chưa được bình thường1 khiến gần đây tôi không được một bản góp ý nào của ngài cả. Nay tay thợ đã sẵn sàng, nếu ngài có lòng vì dân vì nước, xin hãy đến ngay tận nơi khám xét địa hình, chỉ bày những điều tiện lợi, để khả dĩ bớt công giảm phí, giúp nhân dân đỡ được phần nào và đồng thời cũng không phụ lòng mong mỏi của nhân dân.

“Niên hiệu Tự Đức, ngày 7 tháng 5 năm Bính Dần.

“Thư của Thự tổng đốc An Tĩnh họ Hoàng kính gởi Nguyễn Trường Tộ, quán sở Kim Khê, xã Đoài Giáp, huyện Hưng Nguyên.”

Được thư, tiên sinh liền ngồi cáng đến nơi khám xét, chỉ vẽ hình thế, dùng tre cắm tiêu vài mươi dặm đều theo đường thẳng. Chỉ có một đoạn hơi cong, tiên sinh nói: “Ở dưới có tảng đá lớn vài trăm thước. Gặp trường hợp này người Pháp sẽ dùng mìn phá. Ta không có máy móc thì tránh đi, cong cũng chẳng sao”. Tương truyền khi kênh này đào đến khoảng giữa Thiên Uy và Tây Yên thì gặp nhiều đá tảng lớn chắn lối khó đào vét vô cùng. Khi tiên sinh sửa tiêu cắm lại, đoạn đường này không đầy một tháng đã đào xong. Đó là vì khi đã giỏi về mỏ hẳn phải giỏi về địa chất.

Tháng 6 năm ấy, quan tỉnh cấp trạm dịch cho tiên sinh về Kinh và phái Nguyễn Long cùng tên Lâu tên Hoằng thay tiên sinh về việc tìm mỏ. Nguyên văn tờ chiếu hội của quan tỉnh như sau:

“Thự tổng đốc An Tĩnh họ Hoàng làm tờ chiếu hội.

“Nay tiếp văn thư của Bộ Lễ nói vâng phiến của Đình Thần đem phúc tư của tỉnh và kèm theo bẩm văn của quý chức và Nguyễn Trường Tộ về các khoản như sau:

“Về quý chức và Nguyễn Trường Tộ đã được phê chuẩn cho bản tỉnh cấp mười lượng bạc và trạm dịch về Kinh chờ ở Bộ Lễ.

“Trong phiến còn nói thêm rằng về khoản thăm dò mỏ than của Nguyễn Trường Tộ đã có tên Lâu tên Hoằng làm thay. Chỗ này có châu phê bên cạnh rằng: “Khoản này có Nguyễn Long chuyên trách cùng với hai tên do tỉnh phái người của tỉnh và chỉ sức thăm dò trong hạt mình mà thôi. Sự việc tiến hành ra sao phúc tâu rõ ràng. Khâm thử”. Nay trích tư cho biết để căn cứ theo đó mà thi hành. Ngày nào quý chức lên đường xin tư cho biết trước.

“Nay làm tờ chiếu hội chung, mong chiếu theo khoản Bộ tư mà thi hành sớm. Vậy làm tờ chiếu hội này cấp cho.

Quý chức Giám mục Ngô tuân hành.

Ngày 16 tháng 6 năm Tự Đức 19.”

Bấy giờ tiên sinh trên đường về Kinh qua Đèo Ngang có cảm đề bài thơ như sau:

Thử địa tích tằng Nam Bắc hận,
Hân kim nhất thống Bắc Nam bình.
Nguy quan túc tráng sơn hà sắc,
Tuyệt lãnh trung phân vũ trụ hình.
Chiến lũy dĩ tàn lưu cổ tích,
Ngự bi trường tại tác sơn linh.
Hành nhân mạc thán đăng lâm khổ,
Quá thử ưng tri cận đế thành.


Tạm dịch:

Này đất từng ghi Nam Bắc hận,
Mừng nay thống nhất cảnh thanh bình.
Nguy nga tráng lệ màu sông núi,
Tuyệt đỉnh chia đôi vũ trụ hình.
Chiến lũy đã tàn lưu cổ tích,
Ngự bia còn đó dấu uy linh.
Người đi xin chớ nề gian khổ,
Qua khỏi đây rồi thấy đế Kinh.

_______________________________________
1. Chú thích của Lê Thước.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #237 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 09:42:34 pm »


Tương truyền vua Dực Tôn triệu tiên sinh vào hội kiến ở nhà Tả Vu, những điều tiên sinh trình bày vua rất đẹp ý và ban cho khánh vàng, tiền vàng (Trừ các sớ văn đã dâng lên vua, tiên sinh còn nhiều điều trần, đối đáp hiện còn lưu lại một tập dày tại Viện Cổ học ở Huế, hẹn sẽ tiếp tục biên chép vào).

Đến tháng 8, vua đặc biệt sai tiên sinh cùng Giám mục Ngô Gia Hậu và đạo trưởng Nguyễn Điều đi Pháp thuê chuyên viên, mua máy móc. Khi đi, vua đặc ân ban cho 10 lạng bạc, 10 nhánh sâm Cao Ly để tiên sinh nuôi dưỡng mẹ già.

Ngày 25 tháng 7 tiên sinh đã điều trần thời sự như sau:

Thiết nghĩ: Kẻ khéo lo toan, biết thời cơ sắp xảy đến không thể đừng được thì sẽ thuận theo tình thế mà khai mở để tránh xảy ra tai hại. Ví như Hán Cao Tổ đến chịu phong ở Ba Thục. Nếu thế nước không thể bảo toàn trọn vẹn được thì bỏ cái viền cái rẻo để giữ nơi căn bản. Ví như Thạch Tấn bỏ Lự Long, Bình Vương bỏ Kỳ Phong vậy… Cũng có khi cứ để vậy chẳng nên tranh giành vội, dùng nó để ngăn chận mối hoạn nạn. Ví như Tống cứ để nước Liêu tồn tại mà chiếm cứ và bình định được các nước khác.

Cho nên người có trí thấy cơ sắp xảy đến, thấy việc sắp hình thành thì đón chận được nó từ ngoài muôn dậm, không để nó vào cửa ngõ nước mình, đuổi nó đi xa, không cho làm rối loạn mưu tính của mình, chia rẽ nó khiến nó đi theo đường trái, để ta chuyên ý lo toan việc phải, lôi kéo nó khiến nó vướng mắc kẻ địch ở bên ngoài, để ta được thung dung mưu tính việc bên trong. Cho nên người xưa có nói: Người có trí như cái vòng xoay tròn, không thể lấy một cái gì làm cố định để mà luận việc cả.

Vì vậy, người có trí xem việc xưa mưu việc nay, không dùng một mưu chước đã định sẵn mà chỉ mưu tính những gì có thể mưu tính được. Không theo một phương pháp đã đặt để sẵn mà theo phương pháp nào có thể thiết lập được. Từ đó có thể biến đổi tùy thời, thay đổi vị trí mà thành công, không thể cứ bám trụ một chỗ.

Xưa Khổng Minh không cần giành Kinh Châu, chủ trương hòa với Ngô là cốt để chủ tâm vào việc đánh phía Bắc. Bởi vì nếu đẩy lùi được giặc của Hán thì đất đai sẽ vào tay đâu phải chỉ có một Kinh Châu mà thôi? Nếu Nam Tống không hòa với Kim thì vương nghiệp cũng khó giữ yên được. Giả sử cứ nuôi dưỡng sức lực binh dân cho hùng hậu, biết tri túc để tự bảo vệ, không cần đánh chác làm gì cho suy yếu thì dòng Trường Giang hiểm trở kia cũng đủ hòa được với Nguyên rồi.

Ấy thế mà có người bình luận trách Khổng Minh không báo thù chủ cũ, trách Nam Tống không rửa nhục người xưa. Những hạng người đó chưa đủ trí khôn để hiểu được nỗi khổ tâm của người đương thời. Vũ Đế mở đường cho bọn man di phía Tây Nam mới chặt được cánh tay phải của Hung Nô. Sở dĩ thế là vì nghĩ rằng nếu không diệt rợ phương Bắc thì Triều đình nhà Hán không thể nào yên được. Vũ Đế lo xa thế ấy mà còn bình luận chê bai, thứ hỏi có đáng chê cười hay không? Bình Vương bỏ đất Kỳ Phong cho Tần, khiến Tần một mặt phải đương đầu với Tây Nhung, nhờ thế mà nhà Đông Chu mới duy trì được thiên hạ đến bốn trăm năm. Anh Cát Lợi bỏ Hợp Chủng Quốc để cho các nước phương Tây đều có quyền lợi ở Tây Châu, do đó mới khỏi bị chúng thọc tay vào mà một mình ôm trọn được Ấn Độ. Nếu Bình Vương kéo dài cuộc tranh giành cố đô thì chưa chắc giềng mối nhà Chu đã giữ được. Nếu người Anh không chịu từ bỏ cái hầm vàng kia để dụ người vào đó giành giật thì ngọc lụa Ấn Độ làm sao một mình có thể hưởng trọn làm của riêng?

Xưa Y Pha Nho bị Hồi Hồi cắt đất chiếm cứ 180 năm. Đây là một dân tộc giàu có thịnh vượng, dân số đến mấy mươi vạn. Khi Y Pha Nho quật khởi phục quốc đuổi hết bọn chúng ra miệt duyên hải phương Nam, nay là hang ổ bị người chà đạp, thì Y Pha Nho cũng vì thế mà trở nên yếu hèn một cách nhanh chóng.

Xưa Áo bị Hung Nô chiếm cứ một nửa nước. Dân Áo cứ để mặc chúng sống chung lộn. Sau Hung Nô dần dần thành Áo mà hợp lại làm một nước. Nhờ đó Áo lớn mạnh. Hai trường hợp trên chứng minh cho thấy cái lợi hại của sự đuổi hay không đuổi.

Ôi, tình hình thế giới thay đổi chứ không nhất định, được mất vô thường. Nhưng nói chung cái điều ta có thể dùng được là ở trong hai điều kiện sau đây. Một là nếu mình đã đủ sức tự củng cố thì không nên khiêu khích người để tổn thương sức mình. Hai là nếu mình chưa đủ sức tự vệ thì phải khéo léo mượn sức người làm sức mình. Cho nên thuyền lớn phải dùng mái chèo 7 thước mới có thể vượt qua hồ qua biển. Đó là nhờ cây gỗ giúp sức. Thánh Vương đem cái tài của một mình cá nhân mình mà gánh vác được cả thiên hạ. Đó là nhờ cái thế của dân chúng. Nay nước ta đang ở vào giữa con đường tranh giành của Đông Tây. Điều đó có hai cái lợi là Gia Định trong Nam và Tứ Xuyên ngoài Bắc. Nhưng cũng có ba cái hại là Vân Nam ở phía Bắc, nước địch ở trong Nam, còn ở giữa thì có những bọn sống ngoài vòng pháp luật chạy ra Bắc chạy lên Tây ẩn nấp chốn bụi bờ. Nay ta chưa thể dùng ngay thuật tung hoành để tạo lập cái thế rít trăm chân thì tưởng cũng nên tạm thời giao ước ngầm với người Pháp, tạm mượn sức họ để ngăn chặn ba cái hại, thu lấy cái lợi phía Tây, để rồi thong thả mưu đồ những kế sách về sau. Như thế họa may giúp ích cho thời cuộc được chăng?

Tiên sinh còn xin bãi bỏ khoa cử để rộng đường thu dụng nhân tài nhưng những ý kiến của tiên sinh đều không thấy được đưa ra thực hành.

Tiên sinh đi Pháp, dọc đường có đề vịnh khá nhiều. Như ngày mùng 9 tháng 8 dạo chơi chùa núi Ngũ Hành có đề thơ như sau:

Mộc lan nhất trạo phiến phàm khai,
Trực thượng Tu Di tả khoáng hoài.
Thảo thụ kí kinh xuân đại tạ,
Phong loan nhưng thị cổ ai hoài
Môn đương hỏa thụ thừa loan hạnh,
Hải nhiễu kim viên tống thủy hồi.
Vị báo Thích Ca như luyến thổ,
Tùy ngô Tây khứ hựu trùng lai.


Tạm dịch:

Chèo lan một mái nhẹ ra khơi,
Lên thẳng Tu Di rộng mấy trời.
Cây cỏ bao lần thay sắc lá,
Non sông còn đó bụi trần ai!
Cửa chiền nghiêng bóng mừng xa giá,
Biển bọc quanh sân gởi nước về.
Nhắn bảo Thích Ca như luyến nước
Cùng ta đi Pháp lại về thôi.



và

Ngật nhĩ xanh Nam cực,
Vọng chi đắc thiên nhiên.
Thạch kỳ nghi thị Phật
Nhân tĩnh tức vi tiên.
Tự ngoại gian vô địa,
Hồ trung biệt hữu thiên.
Ngự bi minh lãnh thượng,
Trường dữ thử sơn truyền.


Tạm dịch:

Vòi vọi ngất trời Nam.
Ơ kìa cảnh thiên nhiên.
Đá trông chừng tượng phật.
Người lặng lẽ như tiên.
Ngoài chùa còn chi nữa,
Trong hồ có trời riêng.
Ngự bia trên đỉnh núi,
Mãi mãi vẫn lưu truyền.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #238 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 09:43:53 pm »


*

ĐÊM ĐẬU THUYỀN Ở ĐÀ NẴNG

Vạn đại thiên trì thử phong cảnh,
Tây triều hà sự động binh đao.
Nhất triêu sát khí không lưu thủy,
Thiên cổ oan thanh thượng nộ đào
Giang tự Tây Nam song lệ hạ,
Môn khai Đông Bắc lưỡng sơn cao.
Như kim dĩ khánh kình ba tĩnh,
Phá lãng thừa phong khí tự hào.


Tạm dịch:

Thắng cảnh ao trời muôn thuở lưu,
Tây triều vô cớ động binh đao.
Một mai sát khí tràn sông nước,
Vạn đại hồn oan dậy sóng gào.
Hai nhánh Tây Nam sông đổ xuống,
Cửa nhìn Đông Bắc dựng non cao.
Mừng thay nếu thấy ba đào lặng,
Cỡi gió đè mây mới tự hào.




*

ĐÊM MƯA ĐI THUYỀN TRÊN BIỂN

Cửu long hà sự dạ tương tranh,
Giá vũ bài phong nhất trận hoành.
Thôn hợp hải thiên đô thị thủy,
Đích xao đào lãng bất phân thanh.
Thuyền khinh tự giác trào tam trượng.
Vân ám trường già nguyệt ngũ canh.
Hải diện cổ lai đa thị trứu,
Hiểu khan trang đắc lãng ngân bình.


Tạm dịch:

Chín rồng chi đến phải tương tranh,
Mưa gió đêm hôm nỗi bất bình,
Trời biển tiệp màu chung sắc nước,
Mưa rơi sóng vỗ khó phân minh.
Nhẹ thuyền sóng biếc cao ba trượng,
Mây ám vầng trăng suốt mấy canh.
Mặt biển xưa nay thường cau có,
Rạng ngày tươi đẹp một màu xanh.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #239 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 09:47:27 pm »


*

NHÂN CHUYẾN ĐI THUYỀN,
TIỄN QUAN VIÊN NGOẠI BỘ LỄ VỀ DƯỠNG BỆNH

Ngẫu nhân công cán nhất phùng quân,
Ngã khứ quân hồi trịnh trọng phân.
Mạc đạo hải trình phong khí thậm,
Cố giao vi dạng đại đồng nhân


Tạm dịch:

Tình cờ công cán gặp người đây,
Người về quê cũ tiễn tôi đi.
Chớ bảo trùng dương nhiều gió chướng,
Se mình những tưởng đỡ người thay.



*

NGẪU ĐỀ NÚI ĐÁ BIA

Phong bất năng dao vũ bất tồi,
Bi truyền vạn cổ tự thôi ngôi.
Cô viên như tước bài sơn lãnh,
Trác lập vô song trấn thủy ôi.
Tưởng thị bổ thiên tằng luyện quá,
Phi quan điền hải bị khu lai.
Nhược di chích trợ thành song trợ,
Địa tác bàn xan hải tác bôi.


Tạm dịch:

Gió chẳng lung lay mưa chẳng rơi,
Nguy nga bia đá tự muôn đời.
Đỉnh tròn trơ chóp đầu như trọc,
Sừng sững oai hùng trấn một nơi.
Đội đá vá trời xưa đã luyện,
Dời non lấp biển há còn ai?
Giá thêm một chiếc thành đôi đũa,
Hải vị sơn hào đánh chén thôi




*

ĐI THUYỀN GẶP TIẾT TRUNG THU

Hải trung vọng nguyệt sử nhân bi
Vọng đáo Song Ngư lệ ám thùy.
Gia lý khứ thu song đối ảnh,
Chu trung thử dạ độc tương tùy.
Dinh khuy thiên thượng nguyên vô dị,
Bi hỉ nhân gian tự hữu kỳ
Ký ngữ Hằng nga như giải muộn,
Bất ưng kim dạ nguyệt hành trì.


Tạm dịch:

Trung thu trên biển chạnh lòng ai,
Mờ lệ Song Ngư dạ cảm hoài.
Thu trước nhà xưa cùng đối bóng,
Thu nay trăng nước một mình tôi.
Khuyết tròn cung quảng không chi khác,
Nhân thế buồn vui có mấy khi.
Người hỡi Hằng Nga như muốn tỏ.
Đêm nay vàng lụa hãy lên ngôi.




*

Đi thuyền cùng viên biện lý, làm theo lối thơ cổ:

TẠI CỬA BIỂN CẦN GIỜ

Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền,
Bất kham hồi thủ tịch dương tiền.
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu,
Hựu cách giang sơn lộ kỷ thiên.


Tạm dịch:

Ghé bến Đông Ngô vạn dặm trường,
Quay đầu chẳng nỡ bóng tà dương.
Người ơi ly nữa cùng ta cạn,
Còn cách non sông mấy đoạn đường.




*

PHONG CẢNH CẦN GIỜ

Nhân gia lao lạc tạp Tây triền,
Nhất vọng bình lâm trấn hiểu yên.
Sơn khởi tam phong hồi hải ngạn,
Đăng cao nhất trụ dẫn dương thuyền.
Quan hà điện định nhưng y cựu,
Cảnh sắc thương mang dĩ bất tiền.
Như thử giang sơn thùy thị chủ?
Yếu tương tình sự vấn chi thiên.


Tạm dịch:

Nhà dân lác đác phía trời Tây,
Rừng thấp bạt ngàn tỏa khói mây.
Núi dựng ba tòa quanh bãi biển,
Đèn cao một ngọn dẫn tàu đi.
Nước non như cũ hồn sông núi,
Cảnh sắc rõ ràng đã đổi thay.
Đất nước sơn hà ai đấy chủ?
Biết đem tâm sự hỏi trời thôi!

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM