Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:35:12 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự lừa dối hào nhoáng  (Đọc 166227 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #90 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2008, 11:28:17 am »

Ấp Bắc là một bảng tổng kết lớn làm mất giá trị của họ. Vì vậy chúng tôi ra sức khai thác trận đánh và khi Vann giận dữ, ngấm ngầm liên minh với chúng tôi, chúng tôi vội vã nắm lấy cơ hội. Vann không làm việc đó mà không suy nghĩ chín chắn. Trước khi sang Việt Nam, anh không quan hệ thường xuyên với báo chí và trong điều kiện của thể chế, chỉ dùng những thông tin có lợi cho cấp trên chứ không phải chống lại họ. Anh không hiểu nội dung báo cáo của anh và lời bình của Porter chỉ lướt nhanh qua tâm trí các tướng trong phái đoàn Lầu Năm Góc như một trận mưa rào trên mái nhà dốc. Nhưng qua những nguồn tin của anh trong ban tham mưu Sài Gòn, anh đã biết Harkins nói với Washington như thế nào và anh quyết định cản trở ông ta. Để báo động với các nhà cầm quyền và tránh thảm họa, anh quyết tâm vượt qua đầu vị tướng tổng chỉ huy, sử dụng các nhà báo làm người phát ngôn.

Các cố vấn Mỹ khác và những người Việt Nam cho chúng tôi biết nhiều về cuộc chiến tranh này nhưng người quan trọng nhất là Vann. Anh cho chúng tôi kinh nghiệm còn thiếu và những điều xác thực đưa lại trọng lượng cho những bài viết. Anh cho phép chúng tôi tuần tự nêu lên thái độ chủ quan chính thống với những điểm cụ thể mỗi lúc càng tỉ mỉ. Anh biến chúng tôi thành một đoàn phóng viên phục vụ cho luận điểm của anh.

Vann có năng khiếu tự nhiên là giảng dạy và anh thích điều đó. Thực tế, anh khó mà không chia sẻ những gì anh biết được với những người khác khi biết họ quan tâm. Trước trận ấp Bắc, anh đã khai tâm cho chúng tôi “ những dữ kiện cơ bản của chiến tranh du kích “. Một trong những châm ngôn nổi tiếng nhất của anh, sau này được nhắc lại nhiều lân, là định nghĩa “ Đấy là một cuộc chiến tranh chính trị. Vậy người ta phải giết có phân tích. Vũ khí tổ nhất là con dao nhưng tôi sợ không tiện lắm. Tệ hại nhất là máy bay và trọng pháo. Không có dao, vũ khí tốt nhất là khẩu súng. Như thế ít nhất người ta cũng biết được người ta giết ai “.

Người học sinh giỏi nhất của trường học chiến tranh ấy của Vann là David Halberstam, phóng viên NEW YORK TIMES. Nhờ anh mà Vann va chạm được nhiều nhất trong giai đoạn chiến tranh này. Và cũng nhờ học được ở Vann mà Halberstam trở thành một trong những nhà báo nổi tiếng nhất thời ấy. Đến lượt mình, anh tạo dựng huyền thoại về Vann với chân dung anh viết năm 1964 trong tạp chí ESQUIRE rồi trong cuốn sách MAKING OF A QUAGMIRE.

Hai người cùng chung nguồn gốc và bản tính đặc biệt. Nhưng không phải tình cờ Vann chọn Halberstam : những bài báo của anh là cách chắc chắn nhất với tới tổng thống và những gì đáng kể ở Washington. Trong giới báo chí một mặt có các nhà báo, mặt khác có phóng viên NEW YORK TIMES, tờ báo nổi tiếng trên thế giới vào thời kỳ lẫy lừng ấy của đế quốc Mỹ. Tổng thống Kennedy đọc những bài phóng sự của Halberstam cũng cẩn thận như những bức điện của Nolting và Harkins. Ông không hy vọng tìm được sự thật hơn ở đấy vì ông tin tưởng ở đại sứ và viên tướng của ông. Nhưng ông biết câu ngạn ngữ dân gian “ sớm hay muộn mọi việc đều đăng ở NEW YORK TIMES “, ở đấy các phóng viên và tổng biên tập cố gắng đạt đến tính trung thực và không dễ bị chi phối. Phần lớn độc giả đều xác nhận những gì báo này in ra là sự thật hoặc dù sao cũng tương đối đúng đắn. Vì vậy, những bài báo của Halberstam có một ảnh hưởng lớn đến dư luận quần chúng Mỹ và quốc tế. Không một chính phủ nào cho phép mình không biết điều đó.

Tình bạn giữa Halberstam và Vann phát triển nhanh chóng. Cả hai đều là người lạ trong xã hội ngự trị bởi nền văn hóa Tin lành da trắng Ăng-glô Xắc-xông bở biển phía đông và cố gắng chấp nhận nó. Vann ý thức được nguồn gốc một kẻ khốn khổ da trắng ở Norfolk. Halberstam là con trai một bác sĩ Do Thái, sinh ở New York, không phải ở đảo Manhattan như những đồng nghiệp giàu của bố mà ở ngoại ô tồi tàn Bronx. Rồi anh sống với người mẹ làm nghề dạy học, một mình nuôi hai đứa con trai sau khi chồng chết sớm vì bệnh tim, lúc anh 16 tuổi. Anh vẫn giữ ý nghĩa sâu sắc về nguồn gốc Do Thái của anh, không thể quên chỉ mới hai thế hệ ra khỏi những khu cách ly ở Ba Lan và Lituania. Cũng như Vann, anh cần được biết đến và khẳng định tính cách của mình.

Trước khi sang Việt Nam, Halberstam đã viết trong 14 tháng về cuộc chiến tranh Congo và Katanga, giữa Lumumba và Mobutu, với sự hiện diện của quân Mũ nồi xanh của Liên Hợp Quốc. Anh đã trải qua mọi nguy hiểm ở đó để cố nêu lên một ý nghĩ cho vụ rắc rối này và được báo TIMES tặng giải thưởng Pulitzer – một công nhận về nghề nghiệp được đánh giá cao nhất trong giới báo chí - cuối cùng khi anh trở về, người cao niên trong các nhà xã luận, Walter Lippmann, đem lại vinh dự cho Halberstam bằng cách mời anh đi ăn trưa để trao đổi với anh về châu Phi. Sau bước đầu hứa hẹn ấy, Halberstam hiểu Việt Nam sẽ tạo cơ may cho anh để khẳng định mình hơn trong nghề nghiệp.

Thân hình Halberstam trái ngược hẳn với Vann : cao một mét tám mươi, nặng 90 ki –lô, không hề béo. Các đồng sự kinh ngạc về khả năng ăn uống và sức mạnh của anh. Bữa ăn trưa, anh có thể ngốn súp, hai miếng bít tết, khoai tây rán, xà lách, bánh mứt kem và sau đó đốt cháy tất cả những calories ấy trong hoạt động kiên trì dưới ánh nắng nhiệt đới buổi chiều. Đôi cánh tay dài, bàn tay to, vai rộng hơi gù và bước đi nhảy nhót làm anh giống một võ sĩ quyền Anh hoặc cầu thủ bóng đá với chiếc cằm vuông, sống mũi cao. Không bao giờ anh cạo râu kỹ, mái tóc đen cắt ngắn theo kiểu lính, đôi kính gọng to, mày dày che đôi mắt nâu đậm thướng có vẻ chế diễu.

Bàn tay, cánh tay và vai lúc nào cũng hoạt động khi anh nói, thể hiện trí tuệ sối nổi, chỉ ngón tay để nhấn mạnh quan điểm, nếu phát hiện ra điều gì đó hoặc thỏa mãn về lối trình bày của mình anh thường vừa cười vừa đấm bàn tay phải vào lòng bàn tay trái. Khi phải giải thích một vấn đề phức tạp, anh vung cánh tay như một chiếc máy bay lượn và bổ nhào xuống. Người ta có cảm tưởng anh đấu quyền với tư duy khi nói để tự thuyết phục lý lẽ của mình và đánh bật những ý nghĩ sai trái.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #91 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2008, 04:42:29 pm »

Anh là một nhà báo hiếm hoi để lại dấu ấn trong dư luận công chúng đương thời vì anh không bao giờ bỏ qua những sự việc sốt dẻo. Thế giới đối với anh có hai màu đen, trắng, xen lẫn một ít màu xám. Một trong những động cơ chính của anh là phẫn nộ chống bất công và điều xấu, đã lôi cuốn anh qua năm năm, ngay sau khi tốt nghiệp trường Harvard năm 1955, làm việc với báo chí miền Nam Hoa Kỳ, đặc biệt về phong trào quyền công dân. Những bài báo anh viết trên REPORTER , một tạp chí cố gắng tổng hợp giữa bảo vệ tự do cá nhân và chống cộng sản theo mốt thời đại, rồi được nhà xã luận James Reston, trưởng phòng ở Washington đưa vào làm việc cho NEW YORK TIMES.

Nhưng Halberstam cũng có thể tàn bạo ghê gớm. Ngay ở Harvard, anh đã đụng độ dữ dội với một trong những người bạn để nắm lấy việc chỉ đạo tờ báo của trường đại học, tờ CRIMSON. Anh bị thương về việc đó nhưng đã thắng. Khi người ta hỏi vì sao anh đánh nhau đến mức hạ nhục một người bạn, anh suy nghĩ một lúc rồi kết luận “ Tôi nghĩ tôi là một kẻ giết người “. Anh bất công với bản thân mình, thường giúp đỡ và thân thiết với những người khác nhưng cũng tùy vào từng lúc. Sự cứng rắn ấy thể hiện ở văn phong và phép  ẩn dụ anh đã mượn trong chiến tranh và trên đấu trường như các võ sĩ thời trước. Anh nói “ Một phóng viên tốt cần nắm lấy cổ họng “, phải tìm điều cần thiết, tranh thủ lòng tin cậy của người đọc rồi khi có dịp , đè bẹp họ bằng một loạt thông tin như một tràng trọng pháo bắn chặn.

Thế hệ David Halberstam của những năm 50 tiếp xúc chủ yếu với “ chiến tranh lạnh “ là thế hệ cuối cùng đối mặt với thế giớ một cách ngây ngô. Người ta mất đi sự vô tư trong chiến tranh và ý thức được những hậu quả khi đã tỉnh mộng. Đó là điều Halberstam nêu lên năm 1972 trong cuốn sách bán chạy nhất của anh : THE BEST AND THE BRIGHTEST . Người ta đã nói họ là những người tốt nhất và thông minh nhất khi anh tố cáo sai lầm của những Robert Mc Namara, Maxwell Taylor, Dean Rusk, Mc George Bundy và Walt Rostow mà anh đã xúc động nhìn nhận như mọi người vào thời kỳ đầ chiến tranh Việt Nam cùng Vann. Năm 1963, anh lập luận như Vann, một người lính bộ binh của hệ thống quân đội Mỹ. Cả hai và nhiều người khác nữa là những điển hình của tài năng xã hộ Ănglô- Xắc xông bờ biển phía Đông, chấp nhận tài năng và tính trung thực của những người sống bên lề xã hội. Một xã hội đã cho  những người quê mùa một vị trí đáng kính trong hàng ngũ sĩ quan quân đội, cho cháu người bán rong Do Thái nhập cư một nền giáo dục ở trường Harvard và một chỗ làm ở NEW YORK TIMES, chỉ có thể là tốt đẹp , không thể mang cái xấu đến những nước khác. Thời kỳ ấy cả hai đều đầy lòng biết ơn và muốn phổ biến rộng những việc làm tốt của xã hội mình.

Dần dần hai người nhận rõ được mình hơn qua những tháng, những tuần lễ sau trận ấp Bắc. Halberstam nhận thấy sự nghiệp của Vann đầy hứa hẹn mà anh ta rất ít quan tâm đến. Ba mươi tuổi anh tương đối trẻ so với cấp bậc và vị trí hiện có. Tất cả chỉ rõ anh sẽ tiến xa. Trong chân dung viết về anh trên tờ ESQUIRE mùa thu năm 1964, Halberstam đã viết “ Vann rất chóng trở thành đại tá và có nhiều cơ may một ngày nào đó sẽ được thăng cấp tướng … Rõ ràng một người trong lứa tuổi 30 không bao lâu sẽ vượt khỏi những người đồng lứa. Việc anh không quan tâm đến điều đó càng phân biệt anh với những người đồng cấp. Chính ở điểm này mà một sĩ quan rập khuôn theo nghề nghiệp, có nhiều nguy cơ nhất nếu thằng thắn với báo chí. Phần lớn các trung tá, cố vấn tám sư đoàn khác, có lẽ chia sẻ từng phần những lời chỉ trích Vann nhưng họ nói kín đáo. Ví dụ như Fred Ladd ở Sư đoàn 21 có quan điểm gần nhất nhưng rất dè dặt đối với chúng tôi. Vann hình như dễ mất hơn những người khác, là người duy nhất không kể đến hậu quả nghề nghiệp bởi sự thẳng thắn của mình.

Ít lâu sau trận ấp Bắc, có dư luận Vann là nguồn thông tin chính về những chỉ trích gay gắt của báo chí.  Dĩ nhiên, Vann lớn tiếng chối nhưng cũng không giấu giếm trò chơi của mình. Ban tham mưu của Harkins càng giận dữ, anh càng dễ tiếp xúc với các nhà báo. Đến mức Halberstam bắt đầu cảm thấy mình có lỗi về những hậu quả có thể xảy ra trong sự nghiệp của anh. Nhưng Vann bảo đừng quan tâm và cứ tiếp tục. Hình như anh tìm kiếm một sự đối mặt với Harkins. Halberstam không thấy cách giải thích nào khác về cách xử sự của anh ngoài tinh thần dũng cảm. Vả lại, đấy là điều anh nói vói chúng tôi và chúng tôi kết luận : anh cương quyết hy sinh sự nghiệp để cảnh báo quốc gia về mối nguy thất bại.

Halberstam hiểu rõ thái độ của Vann hơn khi so sánh với thái độ của bố anh trong Thế chiến thứ hai.. Charles Halberstam , bác sĩ trong khu bình dân Bronx, tình nguyện ra trận năm 1941 để trở về  năm 1946, là trung tá Quân y. Bốn năm sau, ông chết vì bệnh tim. Cả gia đình đau đớn cho lòng yêu nước của ông bố nhưng ông rất tự hào. Khi là người Do Thái, con trai bác sĩ, xã hội Mỹ không mở các cánh cửa cho anh nhưng có một người cha là trung tá trong quân đội Hoa Kỳ lại là chuyện khác. David nhận xét thái độ của Vann dưới ánh sáng bố anh đã làm : lòng yêu nước và sự hy sinh bản thân.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #92 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2008, 11:28:28 am »

Halberstam trở nên chắc chắn rằng Vann, tuy phân tích tinh tế, thực ra, là một con người đơn giản mà sự trọn vẹn nghề nghiệp có tính cứng rắn của kim cương và tinh thần dũng cảm không lay chuyển đến mức không chấp nhận thỏa hiệp. Một hôm anh giải thích trở ngại của thỏa hiệp là lẫn lộn cái tốt và cái xấu đến nỗi cuối cùng không phân biệt được chúng nữa. Vann nói chiến tranh là một việc quá nghiêm trọng. Trong nhiệm vụ đưa lại chiến thắng , thậm chí anh tỏ ra nguyên tắc đến ngạc nhiên. Trong những lần đi kiểm tra bằng xe Jeep hoặc máy bay, anh có thói quen ngủ qua đêm ở nhà một tỉnh trưởng. Trong bữa ăn và chuyện trò buổi tối , anh có dịp biết rõ họ hơn. Trong lúc hạ cánh, Vann nói với anh bằng sự súc tích của mỗi lần giảng bài :

“ Anh biết không, Halberstam, mỗi lần tôi ngủ qua đêm ở nhà một tỉnh trưởng, họ đề nghị đưa đàn bà đến cho tôi. Tôi luôn từ chối. Điều ấy hạ uy tín của chúng ta. Họ thử tranh thủ lợi thế đối với chúng ta. Có quá nhiều người Mỹ ngủ với phụ nữ Việt Nam trên đất nước này. Như vậy, không tốt cho hình ảnh của chúng ta. Người Việt Nam không thích điều đó, nó làm tăng mối hận thù của họ “.

Làm việc với báo chí, không vì thế mà Vann bỏ nguyên tắc cấp bậc. Gần 20 năm trong quân đội dạy cho anh tính bướng bỉnh. Hàng tháng, Drummond, sĩ quan thông tin của anh gửi cho Harkins một báo cáo về sự cân bằng giữa những vùng Việt cộng kiểm soát và những vùng thuộc chính quyền Sài Gòn. Nó gồm một bản can maù và một báo cáo về những con đường an toàn hoặc nguy hiểm theo các giờ trong ngày. Bản can tô lực lượng Sài Gòn màu xanh và Việt cộng màu đỏ. Drummond gửi báo cáo vào đầu tháng Hai. Mấy ngày sau, một thiếu tá trong ban tham mưu của Harkins gọi bảo có quá nhiều màu đỏ trên bản đồ. Viên thiếu tá nói qua những thông tin khác nhau nhận được cho thấy những vùng màu đỏ thực tế lại dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn. Phải làm lại một báo cáo khác. Harkins không muốn Washington nhận thấy tình hình xấu đi vì luôn có nhiều màu đỏ. Trong một báo cáo trước, Drummond đề nghị viên thiếu tá cho biết cụ thể những vùng tranh chấp. Anh đến đấy và phát hiện ra Đạm không bao giờ phiêu lưu tới vùng ấy dưới một tiểu đoàn. Anh bèn bay trên vùng ấy bằng một chiếc máy bay thám thính. Anh trở về với thân máy bay lỗ chỗ đạn. Anh thông báo với tổng hành dinh những vùng ấy có lẽ chỉ an toàn cho một số người chứ không phải những vùng bảo đảm. Qua một số quan hệ ở ban tham mưu, anh được biết báo cáo của anh bị hủy bỏ vì anh không muốn làm giảm nhẹ tình hình. Báo cáo thay thế gửi đi Washington rất nhiều màu xanh.

Việt cộng ngày càng táo tợn, bắt đầu tấn công cả ban ngày, đặc biêt vào những đồn tiền tiêu mà cho đến lúc đó họ chỉ dám tập kích ban đêm. Hai cố vấn đi xe ban ngày từ Tân Hiệp trở về suýt bị giết bởi một nông dân bình tĩnh chờ trên bờ đường gần chỗ họ ở. Họ may mắn kịp nhận thấy người hiếu kỳ ấy giấu khẩu tiểu liên và nhảy nằm xuống đất trong lúc thanh chắn trước xe bay tung lên. Một trưởng ấp bên cạnh không may như thế, bị đặc công bắn hạ. Trong báo cáo về trận ấp Bắc, Việt cộng đã chỉ trích “ sự thụ động trước kẻ địch “ và nhấn mạnh cần thiết phải phối hợp tốt hơn giữa các đơn vị để biến vùng này thành một địa ngục cho những kẻ đối kháng. Drummond đã có thể nhận thấy hiệu quả của việc tự phê bình ấy, đặc biệt giữa Mỹ Tho và Sài Gòn trên quốc lộ 4, con đường chính cung cấp chính yếu cho thủ đô.

Sau chỉ thị của viên thiếu tá về báo cáo của anh đầu tháng Hai, Drummond liên hệ với tất cả các đại úy cố vấn trong sư đoàn, hỏi họ có muốn giảm nhẹ những gì họ đã nói với anh không. Họ đều từ chối và một số bảo họ đã báo cáo bớt đi về sự phát triển của du kích. Được Vann cho phép, anh họp tất cả các sĩ quan thông tin của tỉnh cùng với Bình, sĩ quan thông tin Việt Nam tại Mỹ Tho. Sau cuộc họp ấy, bản đồ tình hình còn đỏ hơn lần trước và báo cáo viết còn ảm đạm hơn.

Vann quyết định đến lượt mình phải can thiệp. Ngày mồng 8 tháng Hai năm 1963, anh gửi một giác thư mật ba trang cho Porter theo nguyên tắc, đồng thời anh gửi một “ bản bao báo cáo “ thẳng vào Sài Gòn để Harkins biết được ngay. Anh hy vọng bức giác thư và bản can mới của Drummond cuối cùng sẽ làm cho Harkins sửng sốt và kích động ông chấp nhận sự thất. Anh thông báo trong thư rằng Drummond và Bình có  những thông tin tin cậy được cho phép xác định 10 chỗ khác nhau do những đại đội chủ lực hoặc quân địa phương Việt cộng chiếm đóng và 35 chỗ khác quân số cỡ một trung đội. Anh cố thuyết phục Đạm tấn công nhưng chắc theo lệnh Cao, Đạm từ chối lại gần. Ngược lại, bắt chước những màn kịch của thủ trưởng mình mùa thu trước, ông ta tổ chức một cuộc hành quân lớn huy động đến 3000 người vào những vùng người ta đã biết không có một Việt cộng nào. Vann đề nghị cho Drummond phối hợp với sĩ quan tình báo của Porter, lên bảng kê những mục tiêu ưu tiên để Harkins chuyển cho Bộ tổng tham mưu ra lệnh cho Đạm tấn công.

Bức giác thư lôi Harkins vào một cơn giận dữ mới. Ông ra lệnh cho trưởng ban tình báo của ông, đại tá không quân James Winterrbottom cùng một nhóm đi Mỹ Tho để hỏi Vann và  Drummond, so sánh tài liệu của họ và của Sư đoàn 7 với giác thư. Nếu không phù hợp, ông sẽ trừng phạt Vann.

Sĩ quan tình báo của Harkins là một phi công, tệ quan liêu của thể chế quân sự dẫn đến thu xếp giữa các binh chủng để loại nào cũng tham gia hoạt động. Winterrbottom chuyên về phân tích ảnh, không phải là môn tham khảo đặc biệt cho chiến tranh chống du kích. Tuy thế và vì làm việc trực tiếp cho Harkins, Winterrbottom tỏ ra nghiêm chỉnh, sẵn sàng lắng nghe. Cùng nhóm của mình, ông ở lại Mỹ Tho 8 tiếng đồng hồ để trao đổi với Drummond và Vann, nghiên cứu những tài liệu của họ. Kết quả thật đáng khích lệ.

Vann và Drummondc có đầy đủ lý do để hy vọng họ đưa được một ít sự thật thâm nhập vào trong hệ thống. Ngoài ra, Vann nghĩ Porter cũng tác động theo hướng đó. Ông ta phải chuyển cho Harkins báo cáo cuối cùng của ông về trách nhiệm các cố vấn quân sự trước ngày 17 tháng Hai, ngày ông trở về Texas chờ hưu trí. Vann biết rõ ông sẽ  nêu lên vấn đề chủ yếu gì, vì họ đã cùng trao đổi với nhau, cả với Fred Ladd, trước khi bắt đầu viết. Porter muốn bản báo cáo này làm ông rời Việt Nam, sau đó rới quân đội với lương tâm thanh thản.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #93 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2008, 01:56:19 pm »

Báo cáo cuối cùng của Porter còn đáng hãi hùng hơn lời bình luận ông kèm theo báo cáo của Vann về trận ấp Bắc. Ông mô tả tất cả những sai lầm trong cố gắng chiến tranh Mỹ - Việt trên toàn bộ vùng đồng bằng và những đồn điền cao su ở bắc Sài Gòn. Ông không bỏ sót điều gì, nhấn mạnh về ảo tưởng chương trình “ ấp chiến lược “, nhằm cách ly nhân dân nông thôn với du kích. Ông mong báo cáo không chỉ được xem như quan điểm riêng của Dan Porter, bảo vệ những kết luận của mình với những bằng chứng không chỉ của Vann và Ladd mà của tất cả những người hợp tác trong ban tham mưu của cố vấn Sư đoàn 5 phía bắc Sài Gòn và mọi sĩ quan Mỹ trong hàng ngũ các trung đoàn. Ông nhấn mạnh rằng những kết luận ông trình bày xuất phát từ sự đồng tâm nhất trí của tất cả các cố vấn. Điều đó, theo lối nói của Thế chiến thứ hai, có nghĩa là đại đa số các chỉ huy dưới quyền Harkins trong vùng khủng hoảng này của mặt trận cảnh báo ông ta về sự đánh giá tình hình của ông chỉ là một giấc mơ hão huyền.

Vốn là bạn thân và ông biết bạn sẽ cảm thấy ra sao, Porter đưa báo cáo của mình cho tướng York xem và hỏi có tàn ác quá không. Bob York nói với ông mỗi lần muốn tác động tới Harkins, ông đã đụng phải một bức tường bê tông nhưng Porter nói đó là quyền một người đã trải qua một năm ở đất nước này và là kết quả của một sự đồng tâm nhất trí.  Không, Porter không quá tàn ác.

Harkins bề ngoài tỏ ra thân mật khi Porter đến gặp ông chào từ biệt. Vị tướng tổng chỉ huy cho ông biết đã đề  nghị thưởng huân chương cho ông qua một năm phục vụ nhưng không nói gì về bản báo cáo. Các thành viên trong ban tham mưu dù sao cũng không che giấu, đã báo trước với Porter trước khi ông đi gặp Harkins là vị tướng rất xót xa và xem ông là thành viên bất nghĩa trong ê kíp ông ta. Porter cảm thấy sự căng thẳng dưới bề ngoài lịch sự ấy. Ông biết Harkins nghĩ “ Tay đại tá dự bị nông dân đần độn này nghĩ mình là gì mà bảo mình nên chỉ đạo cuộc chiến tranh này như thế nào ? “. Bình thường đứng trước một tướng bốn sai Porter hơi dễ bị xúc động, kể cả khi Harkins thân mật với ông như thế vào những lúc khác. Lần này, ông hoàn toàn bình tĩnh. Lần đầu tiên sau gần 31 năm được gắn lon trung úy, Porter không quan tâm đến sự cổ vũ của một vị tướng. Nếu phải làm cho Harkins giận điên lên để thấy sự thật thì cũng mặc. Ông đã làm nhiệm vụ và bây giờ về nhà.

Tính thật thà của Porter làm ông mất đi bản báo cáo ông xem như lá bùa hộ mệnh của mình. Ông rất sợ có người trao đổi nó với báo chí nên đánh máy bản cuối cùng, hủy bỏ mọi bản nháp, nhờ Winterrbottom đóng dấy “ tuyệt mật “ và đích thân đưa cho trưởng ban tham mưu của Harkins. Ông cẩn thận không giữ cho mình một bản sao như những sĩ quan khác đã làm. Khi ông rời Việt Nam rồi, Harkins kiểm tra lại thấy chỉ mình có một bản độc  nhất, báo với ban tham mưu phải xem lại, sửa chữa rồi chuyển về Washington. Như vậy là bản báo cáo biến mất vĩnh viễn. Porter không được triệu tập đến Lầu Năm Góc để báo cáo về kinh nghiệm của mình ở Việt Nam như trường hợp chung của những sĩ quan cao cấp khác. Harkins đã chú ý tới điều đó.

Trong một cuộc họp ban tham mưu, Winterrbottom bảo vệ trung thực bức giác thư ngày mồng 8 tháng Hai của Vann, nói với vị tướng tổng chỉ huy :

“ Điều duy nhất không ổn trong bản báo cáo này là mọi cái ở đấy đều đúng “.

Ông nói thêm đã có đủ bằng chứng để xác minh bản đồ bi quan của Drummond chỉ rõ sự suy thoái tình hình ở miền Bắc vùng đồng bằng. Thông tin này không lay chuyển được Harkins, người vẫn muốn rũ bỏ Vann. Lần này, thiếu tướng Gerald Kelleher, trưởng ban hành quân của ban tham mưu, bảo vệ Vann. Ông này khó tính và bi hạn chế về nhiều vấn đề nhưng Vann vừa chuyển hóa được. York cũng nâng đỡ Vann. Timmes cố gắng đề nghị kéo dài thời hạn thuyên chuyển Vann, lại khuyên nên kiên trì để tránh vụ bê bối. Harkins ngả theo.

Nhưng sự bất hòa phát triển ở các cấp trung gian trong ban tham mưu của Harkins và Phái đoàn viện trợ quân sự của Timmes. Chẳng bao lâu, Vann biết được số phận bản báo cáo của Porter và kết quả chuyến đi Mỹ Tho của Winterrbottom. Một nguồn thông tin của Drummond cho anh biết Winterrbottom đồng ý nhìn nhận sự kiểm soát của Sài Gòn trong vùng  bị suy thoái “ nhưng không phải đã được báo cáo về Washington “. Harkins buộc Winterrbottom hủy bỏ bản can của Drummond để thay thế một bản khác nhiều màu xanh, ít màu đỏ hơn nhiều. Trong qui cách quân sự Mỹ thời đó, như vậy không gọi là một báo cáo sai mà một báo cáo “ có chỉ đạo “. Như vậy, người tổng chỉ huy nhận trách nhiệm về việc đó, giải phóng cho thuộc hạ liên quan về trách nhiệm tinh thần.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #94 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2008, 02:38:48 pm »

 Khác với Porter, Vann biết điều chỉnh hợp lý hành động của mình theo yêu cầu của hoàn cảnh. Vì Harkins muốn anh ngừng rung chuông báo động thì Hallberstam sẽ là công cụ của anh. Cuối tháng Hai, khi Hallberstam trở lại chủng viện, Vann dẫn anh vào phòng hành quân, khép cửa cẩn thận và ngồi trước tấm bản đồ phủ cả bức tướng. Anh nói :

“Hallberstam, tôi là sĩ quan quân đội Hoa Kỳ và như thế, tôi đã tuyên thệ không để lộ những thông tin bí mật. Nhưng tôi cũng là một công dân Mỹ, tôi phải có nghĩa vụ đối với đất nước. Bay giờ, anh nghẽ rõ tôi đây “.

Anh nói ra những gì có trong báo cáo của anh ngày 8 tháng Hai, chỉ trên bản đồ những chỗ có Việt cộng để chứng minh Cao và Đạm sử dụng những thông tin của Drummond để tấn công đúng vào nơi không có quân địch. Anh giải thích mọi cố gắng của anh đều vô ích. Harkins từ chối gặp mặt Diệm để buộc ông này đảo ngược lại đường lối tự hủy diệt và nổi khùng lên khi có ai thử làm ông có thể nhìn thẳng vào sự thật. Anh kể chi tiết việc Winterrbottom đến Mỹ Tho và ở Sài Gòn người ta đã tiếp tục nhận báo cáo đúng sự thực của anh như thế nào. Không thể để tình hình chệch hướng như vậy, anh nói. Việt cộng mỗi ngày mỗi đáng sợ. Nếu không làm gì, Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam sẽ trả giá đắt cho sự hèn hạ ấy.

“ Nhân danh Chúa, tôi nắm được một trong những câu chuyện này rồi !” Hallberstam kêu lên khi bước vào gian phòng tạm bợ của chúng tôi trong nhà tôi ở Sài Gòn. Thực ra, chúng tôi cùng một ê kép. Bài báo anh fax về để in trên NEW YORK TIMES ngày mồng 1 tháng Ba năm 1963 bắt đầu tố cáo những sĩ quan cao cấp Quân lực Sài Gòn sử dụng cơ quan tình báo để hành quân bịp bợm, tránh đối mặt với du kích trong vùng từ phía bắc thủ đô đến phía nam vùng đồng bằng sông Cửu Long. Anh nêu những chi tiết chính xác từ những thông tin mật của chủng viện. Hallberstam kể số lượng đúng các đơn vị Việt cộng, trung hoặc đại đội mà Vann đã ghi trong báo cáo mật. Anh giải thích người Mỹ không thể làm sao để quan đội Diệm tấn công “ thậm chí với lợi thế bảy chọi một , đôi khi hơn “. Anh mô tả cuộc tấn công bịa đặt mới đây trong vùng của Vann “ Một cuộc hành quân được tổ chức tuần trước với hai nghìn lính Việt Nam. Kết quả : một Việt cộng bị giết, một phụ nữa và một trẻ em chết vì máy bay tấn công, một phụ nữ và trẻ em bị thương nặng !”.

Hallberstam tiếp tục : “ Một trong những cố vấn Mỹ thấy trò hề tội lỗi ấy quá đáng đến mức gửi về Sài Gòn một báo cáo chỉ trích rất nghiêm khắc “. Báo cáo ấy gây nhiều “ bàn cãi “, phải tổ chức một cuộc điều tra. Hallberstam bèn đọc lại từng chữ câu trả lời của Winterrbottom với Harkins “ Điều duy nhất không ổn trong bản báo cáo này là mọi cái đều đúng “. Anh kết luận bài báo nhắc lại lời kết tội của Vann : vị tổng chỉ huy thực ra quan tâm giữ mối quan hệ tốt với Diệm và gia đình hơn là thắng trong cuộc chiến tranh này.

Vann đáng lẽ bị cách chức ngay nếu tính cách bình thường của anh không cứu anh một lần nữa. Đề nghị của Porter thưởng huân chương vì anh dũng bay quan sát trong trận ấp Bắc được Washington duyệt vào cuối tháng Hai. Hai ngày trước khi Hallberstam gửi bài báo của mình, Timmes găm trước huân chương lên áo sơ mi kaki của Vann trong một buổi lễ. Sai thải ngay sau khi tặng thưởng anh đỡ được phiền phức và tránh được một vụ bê bối lớn hơn đối với báo chí. Do Timmes tiếp tục hãm ông lại, Harkins đã sai lầm chờ thời một lần nữa.

Dù thoát nạn, Vann vẫn không thay đổi kế hoạch của mình. Trong tháng còn lại ở Việt Nam, anh không để mất thì giờ. Anh tiếp tục thực hiện vai trò chỉ trích qua trung gian các nhà báo, chỉ dẫn cho chúng tôi, hướng các bài báo và chúng tôi càng khâm phục tinh thần dũng cảm của anh. Để anh khỏi bất bình, Timmes mềm dẻo áp dụng giải pháp đã đề nghị với Harkins, cử Vann lên cao nguyên và ra các tỉnh ven biển với lý do anh cần đánh giá tình hình. Vann hân hoan có dịp nhận xét về chiến tranh ở phần còn lại của đất nước này. Sau đó, Timmes cử anh đi Malaysia hai ngày. Trở về, anh kể lại đã tham gia một cuộc hành quân với người Gourkhas – Nepal rất ghê gớm. Anh nói thêm, để biết rõ chiến tranh du kích, người Mỹ nên mướn một số người Gourkhas làm cố vấn.

Nhưng anh cũng dành thì giờ làm một việc phụ đã có kế hoạch trong tháng cuối cùng ở Việt Nam. Anh muốn sắp xếp lại những sự việc dự định tường trình ở Lầu Năm Góc để thuyết phục từng viên tướng nghe anh rằng Harkins sai lầm trong chỉ đạo và phải thay đổi căn bản về đường lối để tránh thất bại. Giữa tháng Tám năm 1963, anh phải theo một chương trình 10 tháng ở Trường công nghệ các lực lượng quân đội ở Washington. Trong lúc chờ đợi, từ tháng Năm đến tháng Tám được điều động về Lầu Năm Góc ở Ban điều hành những cuộc hành quân đặc biết, anh dự định trong thời gian đó sẽ thực hiện ý đồ riêng của mình.

Về những vấn đề cần nêu, anh tóm tắt quan điểm của mình vào một tài liệu bốn trang rưỡi đồng thời là báo cáo cuối cùng của anh lên Harkins, cố vấn cao hơn cấp sư đoàn. Nó là sự tấn công rất cụ thể, thường dí dỏm, về đường lối và thái độ lạc quan của chính quyền. Anh so sánh sự cố gắng trong chiến tranh của chế độ Diệm với mức độ có thể đạt được nếu đánh nhau nghiêm chỉnh “ Sự cố gắng chống nổi dậy trong vùng chiến thuật này chỉ khoảng 10 đến 20% mức hợp lý dựa vào quân số và nguồn lực “. Để chứng minh điều đó, một tài liệu kèm theo nêu một loạt con số chỉ rõ việc bố trí các đội quân chủ lực và địa phương ở bảy tỉnh phía bắc vùng đồng bằng không phù hợp chút nào với địa dư, kinh tế và sự đe dọa của địch. Ngược lại, sử dụng quân đội, đúng hơn là “ sử dụng sai “ đơn thuần do nỗi ám ảnh của Diệm về một cuộc đảo chính và những quan hệ riêng của ông ta với các tỉnh trưởng. Vann cũng mang theo tất cả hồ sơ báo cáo trước đây trong đó có cả chuyện kể trận ấp Bắc và lời bình luận của Porter cùng những tài liệu anh nhận được của các cố vấn quân sự khác. Anh có ý định một ngày nào đó dùng những tài liệu ấy viết luận án tiến sĩ về quản lý hành chính, một dự kiến anh không bao giờ có thì giờ thực hiện.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #95 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2008, 03:07:45 pm »

 Sáng ngày mồng 1 tháng Tư năm 1963, ngày cuối cùng của năm đầu tiên Vann ở Việt Nam, anh bàn giao cho người kế nhiệm chỉ huy phái đoàn cố vấn cũng theo cách anh đã tiếp nhận, nghĩa là không có lễ nghi gì. Anh bước qua cánh cổng chủng viện, lên Sài Gòn ở lại ít ngày trước khi bay về Hoa Kỳ. Hôm trước đó , anh đến thăm bắt tay từ biệt Đạm và các sĩ quan của sư đoàn 7. Giữa tháng Ba, anh đã gửi một bức thư từ biệt Sư đoàn, dịch ra tiếng Việt phân phối cho tất cả các sĩ quan và tỉnh trưởng. Trong đó không một ám chỉ hoặc trách cứ gì về những trao đổi chua cay trước đây. Một bức thư bốn trang , nhiệt tình và gần gũi, cũng cảm động vì anh thể hiện sự gắn bó tình cảm với đất nước và dân tộc này. Anh muốn chia tay họ trong không khí thân mật và hy vọng. Anh nói “ Tôi tự hào chia sẻ với các ông, dù với mức độ ít ỏi, gánh nặng cuộc đấu tranh của các ông để ngăn chặn và đẩy lùi sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản “. Anh nói về “ tuổi trẻ tuyệt vời ấy “ và khẳng định một ngày nào đó, họ sẽ được hưởng “ hòa bình thịnh vượng và tự do ". Một bản sao tiếng Anh chuyển đến tất cả các cố vấn như một tài liệu phải cố gắng truyền dạy. Mười năm sau trên vùng cao nguyên, một trung tá vào thời kỳ đó còn là đại úy và bây giờ đi kèm một toán biệt kích của Quân lực Việt Nam, lấy trong túi áo một bản đã rách và bẩn bức thư Vann. Năm 1963 khi nhận được, anh cảm động đến mức cứ giữ lại và định kỳ đọc lại để nhắc nhở mình.

Đầu buổi chiều ngày mồng 3 tháng Tư, một nhóm người tập trung ở quán ăn tầng hai sân bay Tân Sơn Nhất. Có một số đại úy của Mỹ Tho, các sĩ quan và phi công các đại đội trực thăng, Halberstam , tôi và vài thành viên báo chí khác. Chúng tôi tự hào về con người này, về những gì anh cố gắng thực hiện nhưng cũng buồn về việc anh phải trả giá. Halbersatm đề nghị tặng anh một kỷ niệm thể hiện sự biết ơn về những gì anh cho chúng tôi biết và khâm phục tinh thần dũng cảm, lòng trung thực nghề nghiệp của anh. Chúng tôi góp nhau mua tặng anh một hộp đựng thuốc lá rất đẹp, khắc tên chúng tôi dưới hàng chữ :

Mến tặng trung tá John Paul Vann
Người lính tốt, người bạn tốt
Những người khâm phục anh trong hàng ngũ báo chí Mỹ


Mọi người đưa Vann ra tận máy bay. Tôi có may mắn cùng trở về với Vann đến tận San Francisco. Đã 3 năm tôi không gặp gia đình và đã xin nghỉ một tháng. Hai chúng tôi không ai nghĩ đem theo một cuốn sách và không có việc gì làm ngoài nói chuyện và ngủ. Vann không có vẻ lo ngại gì cho tương lai. Anh đã cố gắng làm hết sức mình, học hỏi được nhiều và không để bị đánh bại về những gì xảy ra ở vùng đồng bằng. Quân đội là cuộc sống của anh, anh không để bị Harkins trục xuất ra khỏi đó. Anh nghĩ thời gian và sự kiện sẽ chứng minh cho thái độ của anh. Trong lúc chờ đợi anh cố cải hóa các tướng lĩnh theo luận điểm của anh mong có những đồng minh cấp cao để làm Harkins mất tín nhiệm.

Tháng Hai năm 1963, anh nghỉ sáu tuần lễ ở El Paso chờ những đứa con hoàn thành năm học. Rồi Mary Jane và anh bán nhà, gói ghém đồ đạc đi Washington. Gia đình lúc đầu ở Mc Lean, ngoại ô Whasington , trong nhà một mục sư Tin lành Vann quen biết từ thời trẻ. Rồi họ chen chúc trong một căn nhà ở Alexandria cho đến khi Vann thuê được một ngôi nhà ở vịnh Chesapeake, cách thủ đô 40 cây số về phía đông. Như vậy là xa Lầu Năm Góc nhưng tiền thuê nhà rẻ, có nhiều không gian cho trẻ con chơi và có thể đi câu cá, bắt cua trong vùng gần như nông thôn này
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #96 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2008, 04:00:31 pm »

Tôi trở lại Việt Nam đúng lúc được tham dự vào cuộc nổi dậy dữ dội do chế độ gây ra trong các thành phố, cũng với những lạm dụng và kiêu căng như trước đây. Ngày mồng 8 tháng Năm năm 1963, họ Ngô Đình trải qua cuộc khủng hoảng Phật giáo. Một đại đội lính bảo an do một sĩ quan thiên chúa giáo chỉ huy, giết 9 người gồm cả trẻ con và làm bị thương 14 người ở cố đô Huế. Đám đông tập hợp ở đấy để phản kháng đạo dụ mới cấm treo cờ Phật trong lễ kỷ niệm 2.587 năm Phật giáo. Quyết định ấy do anh cả của Diệm gợi ý, Thục, Tổng giám mục Huế và thời kỳ ấy là giám mục quan trọng nhất của Thiên chúa giáo miền Nam. Mấy tuần trước đó, Thục tổ chức kỷ niệm năm thứ 25 ngày được thụ phong giám mục. Những giáo dân Huế giương cờ Vatican khắp thành phố của họ Ngô Đình. Nhưng cũng việc làm ấy của Phật giáo bị cấm. Sau cuộc tàn sát, Diệm và gia đình xử sự như người ta vẫn thấy. Họ không làm dịu các nhà sư vốn đã căm thù trong 9 năm phân biệt đối xử, họ hành quân đàn áp như đã làm đối với Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên năm 1955.

Tín đồ Phật giáo đáp lại theo cách Việt Nam. Sáng ngày 11 tháng Sáu, một nhà sư 73 tuổi, sư Quảng Đức, ngồi giữa một ngã tư đường Sài gòn, gần nhà ở của đại sứ Nolting. Ông thong thả xếp chéo chân theo tư thế thiền kiểu hoa se còn một người khác dội vào đầu ông một bình xăng thấm ướt chiếc áo dài màu da cam. Đôi tay nhà sư già giơ lên, quẹt nhanh một que diêm biến người ông thành một lò lửa, biểu tượng của sự giận dữ và hy sinh, thổi lên ngọn lửa hận thù trong mọi thành phố miền Nam.

Phong trào Phật giáo trở thành điểm tập hợp tất cả những căm hờn chồng chất đối với gia đình Diệm. Trong lúc các nhà sư áo dài màu da cam huy động được dư luận quần chúng chống thiểu số Thiên chúa giáo ngoại lai theo một phản xạ tự nhiên của xã hội Việt Nam, họ Ngô Đình tỏ ra đáng ghét đến mức một số Thiên chúa giáo bí mật ủng hộ các nhà lãnh đạo Phật giáo. Bức ảnh tự thiêu của Quảng Đức do Malcolom Browne của Hội báo chí chụp, làm sửng sốt dân chúng Mỹ, dư luận quốc tế và làm chính quyền Kennedy bối rối.

Họ Ngô Đình sử dụng dùi cui, bom hơi cay và cố gắng cách lý các chùa bằng dây thép gai bao quanh. Họ khinh khi bác bỏ những lời kêu gọi thỏa hiệp của đại sứ Nolting rút ngắn kỳ nghỉ ở châu Âu để cố đưa Diệm trở lại lẽ phải. Họ từ chối cả Kennedy.

Cuối một bữa ăn tối với Nolting và các nhân vật Mỹ, Nhu nói “ Nếu giới Phật giáo muốn làm một lò lửa mới, tôi vui vẻ cung cấp họ xăng và diêm “.

Bà Nhu tuyên bố với báo chí tất cả các nhà sư đều là cộng sản và những người biểu tình “ phải bị đánh mạnh hơn mười lần “ bởi cảnh sát. Bà nói thêm “ Lần tự thiêu sau tôi sẽ vỗ cả hai tay “. Bà tiến trước Richard Nixon mười năm khi dùng một lời nói làm ông này nổi tiếng : gia đình bà được “ số đông thầm lặng bảo vệ “. Họ Ngô Đình đi từ nguyên lý cuối cùng người Mỹ phải đồng ý tiêu diệt các nhà lãnh đạo Phật giáo như Washington đã làm năm 1955 với các giáo phái và Bình Xuyên. Cảnh sát ngày càng khắt khe vung dùi cui như Bà Nhu mong muốn, càng dùng nhiều hơi cay và rào chắn thêm nhiều cây số dây thép gai. Các nhà sư hiến sinh đông hơn, nỗi căm hờn gia đình Diệm tăng lên và những cuộc biểu tình mở rộng ra các thành phố nhỏ.


Ngày 24 tháng Ba năm 1963, mấy ngày sau khi Vann trình diện để nhận nhiệm vụ ở Ban điều hành các hoạt động đặc biệt, anh tiến hành chiến dịch của mình ở Lầu Năm Góc. Anh đến gặp sĩ quan phụ trách thu thập bằng chứng của các cố vấn ở Việt Nam về, đề nghị được thẩm vấn. Viên sĩ quan trả lời “ Sài Gòn mong “ người ta không lấy bằng chứng của anh. Vann đã chờ đợi điều đó : việc cũng xảy ra như thế đối với Kelleher, cấp trên của anh trong ban tham mưu Harkins mà anh đã cải hóa được. Ông này trở về tháng Tư để nghỉ hưu và cũng không được hỏi “ theo yêu cầu của Sài Gòn “. Vann bèn tự chứng minh một mình. Trước hết, anh nói chuyện với các đồng sự sĩ quan, đưa ra những bản sao thông báo ngày mồng 8 tháng Hai, câu chuyện trận ấp Bắc và tài liệu cần thiết làm chỗ dựa cho lập luận của mình. Anh có đủ thì giờ vì công việc chính thức của anh là hình dung trình tự mới để tài trợ và cung cấp cho các phái đoàn lực lượng đặc biệt chống nổi dậy, một nhiệm vụ dễ dàng đối với một người đã học quản lý tài chính. Anh bố trí những lúc rảnh dành tâm huyết cho công việc thực sự của mình. Trong tháng tiếp đó, anh lần lên các cấp trên trong quân đội, nói chuyện với các sĩ quan cao cấp và ban tham mưu của họ với những bản thống kê, bản đồ trên phim dương bản và những mẩu chuyện cá nhân về tính xác thực và con người. Như vậy, anh trao lại những lập luận của mình mà không vận động người nghe đứng về phía mình. Họ bị hấp dẫn vì có nhiều điều để nói vào thời kỳ ấy. Một sĩ quan quân đội Hoa Kỳ ở Washington luôn xem cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một việc của nước ngoài, nhìn nhận hiệu năng của lực lượng Sài Gòn mà không cảm thấy mình trực tiếp liên quan vì nó rất xa và đó không phải là quân đội của mình.

Đến cuối tháng Sáu, Vann đã trình bày những luận điểm của mình với mấy trăm sĩ quan của Lầu Năm Góc, hầu hết tất cả ở bộ binh và gần một tá các vị tướng giữ những chức vụ quan trọng. Trong số họ có một trung tướng không quân tên Lansdale. Đây là lần đầu tiên Vann gặp người hùng của mình. Lansdale lắng nghe anh nhưng không hành động : bị thất sủng trong vòng khép kín những người có thế lực, ông không muốn làm gì thì làm được nữa. Những kẻ thù của ông trong hệ thống quan liêu đã phá bỏ việc cử ông làm đại sứ ở miền Nam Việt Nam vào cuối năm 1961 theo đề nghị của Diệm và được Kennedy đồng ý. Lần này tổng thống giao cho ông một chương trình tuyệt mật sau thất bại nhục nhã ở vịnh Con Lợn ( Năm 1960, chính quyền Eisenhower và CIA đã chuẩn bị cuộc tấn công đưa 1.600 người Cuba lưu vong, xuất phát từ Florida và Guatemala, nhằm chống Castro. Tổng thống mới nhậm chức ngày 6.1.1961 Kennedy  đã không ngần ngại ra lệnh bắt đầu chiến dịch. Cuộc đổ bộ dựa vào Hải quân Mỹ diễn ra ngày 16.4.1961 thất bại hoàn toàn ) : công trình “MANGOUSTE “. Mục đích là rũ bỏ con rắn Fidel Castro đang đe dọa kéo theo những con rắn cộng sản khác ở Caraibes và châu Mỹ la tinh, bằng khơi dậy một cuộc nổi dậy chống đối hoặc bằng mọi cách trực tiếp nào khác. Tổng thống và người em Robert ít quan tâm đến lễ nghi và muốn có kết quả, nhất là sau cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba tháng Mười năm 1962. Lansdale đã không ngang tầm với tiếng tăm là phù thủy của những hoạt động bí mật, chấp nhận một kế hoạch hoàn toàn không thực tiễn để rũ bỏ con rắn hổ mang của La Havana. Bây giờ, ông chờ về hưu. Người bạn thân Philippines của ông, Ramon Magsaysay bị chết sớm trong một tai nạn máy bay năm 1957, trước khi có thể thực hiện những cải cách xã hội và kinh tế đưa lại nền hòa bình lâu dài cho đất nước.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #97 vào lúc: 02 Tháng Sáu, 2008, 04:57:01 pm »

 Cuối tháng Sáu, Vann tiếp xúc được với tướng Barksdale Hamlett, tham mưu phó, xúc động về sự trình bày của Vann đến mức lên kế họach để anh trình bày trước hội đồng tham mưu trưởng các binh chủng vào ngày mồng 8 tháng Bảy. Vann vừa vui mừng vừa dè dặt với ý nghĩ bây giờ anh đã gần đến thắng lợi của cuộc đấu tranh làm cho những người cầm quyền biết rõ sự thât. Phản ứng của Hamlett càng củng cố lòng tin của anh đã có ở Việt Nam rằng Harkins là một sự lệch lạc, rằng chiến lược sai lầm là hậu quả của sự ngu dốt, những ý đồ không đúng, và cuối cùng phương pháp của anh đã dựa vào lý lẽ đúng.

Nhưng Vann lại một lần nữa gặp Victor Krulak trên đường đi của mình . Sau một tuần lễ giám sát mới ở Việt Nam, Krulak vừa trở về đầu tháng Bảy, báo cáo ngay với Mc Namara và Maxwell Taylor. Báo cáo 129 trang của ông được phân phối rộng trong giới cao cấp của Washington qua trung gian McGeorge Bundy, trợ lý đặc biệt của Kennedy về an ninh quốc gia và đặc biệt là người hâm mộ Robert Kennedy.

“ Con thú “Krulak thông báo “ Cuộc chiến tranh nóng đã đạt đến đỉnh cao “. Theo kế hoạch 3 năm của Mc Namara, “tướng Harkins đánh giá ngay từ hôm nay, quân số có thể giảm xuống 1.000 người mà không ảnh hưởng đến việc chỉ đạo chiến tranh “. Nếu báo cáo không được xếp loại mật do những thông tin về việc Hà Nội sử dụng Campuchia và những cuộc hành quân chớp nhoáng vào Lào, người ta có thể làm ngay một thông cáo báo chí. Krulak tự mình viết 15 trang mở đầu. Phần còn lại là những câu hỏi và trả lời với thiếu tướng Richard Stiwell, thay thế Kelleher làm trưởng ban tác chiến ở Sài Gòn vào tháng Tư. Lòng tin tưởng tuyệt đối vào quyền lực dẫn ông cổ vũ cho những quan điểm của tổng chỉ huy và làm dịu những cuộc tranh cãi trong ban tham mưu. Krulak vận dụng tất cả những câu trả lời của Stiwell , tô vẽ thêm với nhiệt tình của bài mở đầu.

Việt cộng không biến hóa để trở thành một kẻ địch đáng sợ như Vann nói. Ngược lại, chiến lược hủy diệt của Harkins đã đánh trúng họ “ Những tài liệu bắt được cho thấy nhiều Việt cộng sống với khẩu phần hạn chế và đau đớn vì rất thiếu thuốc … Tù binh chiến tranh cũng xác nhận sự thiếu thốn hậu cần và quần chúng thiếu nâng đỡ làm suy sụp tinh thần Việt cộng “, một trong những câu trả lời của Stiwell là như vậy. Những tin tức cuối cùng chỉ rõ tổng số những người cộng sản nổi dậy trong nước giảm từ 124.000 vào tháng Giêng năm 1963 xuống con số ước lượng “đáng tin” là 102.000 vào tháng Sáu.

Và cái gì làm du kích cộng sản thiệt hại đến thế ? Dĩ nhiên là chương trình “ Ấp chiến lược “, “trái tim của chiến thuật chống nổi dậy “,Krulak khẳng định như vậy. Giữa tháng Sáu năm 1963, 67% nhân dân miền Nam sống trong 6.800 ấp xây dựng từ tháng Tư năm 1962. Đa số nhân dân “ có vẻ được bố trí thuận lợi “ qua chương trình này. Đến cuối năm 1963, khi Hoa Kỳ và chế độ Diệm hoàn thành xây dựng 11.246 ấp dự kiến ở miền Nam, Việt cộng sẽ hoàn toàn bị cô lập. Tuy Hoa Kỳ khuyến dụ Diệm thiết lập một chương trình ân xá cho những người nổi dậy, số lượng người đào ngũ giảm đi một cách kỳ lạ “ vì không còn nhiều người để lôi kéo nữa “.

Tuy vậy, báo cáo của Krulak có một số thông tin quan trọng. Trong những vùng rừng nhiệt đới phía bắc Sài Gòn Việt cộng thành lập những trung đoàn dưới dạng hạt nhân. Những “chuyên gia trọng pháo” bây giờ tập hợp thành “ những tiểu đoàn vũ khí hạng nặng “. Những thông tin khác cho biết Việt cộng đã nhận được ca nông 75 không giật và súng phòng không 12,7 ly “ về nguyên tắc phải giữ kín cho đến lúc sử dụng thuận lợi “. Nhưng cả Krulak và Stilwell đều không hiểu tầm quan trọng của những chi tiết này vì họ nhìn bề ngoài như Harkins, đơn vị cỡ trung đoàn sẽ là những tấm bia lớn hơn, dễ bắn trúng hơn.

Mấy ngày trước mồng 8 tháng Bảy, người phó của Krulak bắt đầu đòi ở Ban điều hành những hoạt động đặc biệt một bản sao báo cáo của Vann. Điện đài của Lầu Năm Góc xem ra đã báo động Krulak về chiến dịch của Vann nhằm làm mất uy tín cách điều hành chiến tranh của Harkins. Vì Vann chứng minh trước Ban tham mưu liên quân, không được có một mạo hiểm nào. Vann chuẩn bị một bài can thiệp với phim dương bản, đồ thị và bản đồ chiếu lên màn ảnh của “ TANK “, bí danh quen thuộc của phòng họp lớn ở Lầu Năm Góc. Anh tập dượt bài nói trước đồng sự, sửa chữa theo gợi ý của họ để lôi cuốn được sự chú ý của cử tọa tôn nghiêm, cũng không tỏ ra quá khích hoặc tấn công cá nhân Harkins.

Một sĩ quan ngưỡng mộ Harkins và mơ hồ về ông chỉ có thể xem báo cáo của Vann như một việc làm không xứng đáng. Ngược lại, câu chuyện 12 trang giấy của anh và những tài liệu kèm theo có thể tác động đến một người nghe không định kiến, sẽ thấy ở đó sự trình bày khôn khéo và đầy tài năng về chiến tranh của một người trải qua gần một năm giữa lòng cuộc chiến ở phía bắc vùng đồng bằng. Vann tự nguyện hạn chế trình bày theo kinh nghiệm bản thân về những vùng đặc thù, về trách nhiệm mà không ai nghi ngờ được những hiểu biết của anh
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #98 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2008, 03:54:35 pm »

 Chóp bu quân sự của đất nước trước hết thấy trên màn ảnh một bản đồ miền Nam Việt Nam với miền bắc vùng đồng bằng rất rõ nét. Rồi anh giải thích về dân số, địa dư và những nguồn lợi kinh tế của phần nửa vựa lúa này ảnh hưởng trực tiếp đến Sài Gòn. Anh chiếu lên một số thống kê cố gắng làm tiêu tan những huyền thoại và nhắc lại “ những nguyên tắc cơ bản của chiến tranh du kích “ như anh đã học được và sau đó truyền lại cho các nhà báo. Ví dụ anh chỉ ra một biểu đồ nêu lên 9.700 Việt cộng được “ tính là bị giết chết “ ở vùng Sư đoàn 7 trong 10 tháng anh làm cố vấn. Thực tế, anh nói, con số chính thức này hoàn toàn lừa gạt. Với 200 cố vấn tại chỗ, chúng tôi ước lượng, tôi nói cụ thể đây chỉ là ước lượng, con số người bị giết không đến hai phần ba con số công bố. Ngoài ra, chúng tôi cho là khoảng 30 đến 40% nạn nhân là những người ngoài cuộc không may lúc đó có mặt ở vùng đánh nhau … Những thông tin chúng tôi có được không xác minh việc máy bay ném bom mở màn, trọng pháo hoặc súng cối. Về vũ khí, người ta dùng đến súng trường sau cùng. “ Rồi thính giả theo dõi một vòng các đồn tiền tiêu mà những người gác bị “ bắn hạ trên giường “; họ nghe về chiến dịch của Cao mùa thu năm 1962 “ bố trí khôn khéo đến mức chúng tôi chỉ có 3 người chết “. Tiếp đó, Vann chỉ trên màn ảnh bức vẽ trận đánh ấp Bắc tô maù và tóm tắt những hậu quả thảm hại những ảo tưởng bề ngoài cuộc chiến tranh có thể đưa tới.

John Vann không có ý định kết thúc bản tường trình của mình bằng một nhận xét bi thảm. Anh biết đấy không phải cách tốt lành đối với các viên tướng này, hơn nữa dù sao anh cũng không tin chắc thế. Vẫn còn thời gian để chiến thắng nếu người ta có những sửa chữa cần thiết. Nếu thay đổi đường lối và nếu những người có trách nhiệm ở Sài Gòn buộc phải theo lời khuyên của Mỹ, cũng có thể “ bẻ gãy lưng những lực lượng quân sự Việt cộng miền Bắc vùng đồng bằng trong 67 tháng “. Việc bình định hoàn toàn vùng này phải nhiều năm nhưng một cố gắng chiến đấu sử dụng triệt để tiềm năng của Sài Gòn trong 6 tháng của một chiến dịch thật khắt khe giảm thiểu “ năng lực quân sự Việt cộng buộc phải chuyển từ những cuộc hành quân cấp tiểu đoàn chủ lực xuống những trung đội tan tác của du kích địa phương “.

Vann đã yêu cầu Mary Jane gửi cho mình bộ đồng phục mặc vào ngày thứ hai này. Sau này chị nhớ lại “ không có một nếp nhăn “. Anh đến Lầu Năm Góc thật sớm tuy đã được báo trước sẽ trình bày vào lúc 14 giờ, chờ rất lâu để chuyển cho Krulak một bản sao bài của mình bốn giờ trước khi nói. Rồi anh vào trong tiền sảnh của tướng Earle Wheeler, trưởng ban tham mưu quân đội, chờ xem có ai hỏi gì vào phút chót. Anh cũng đưa cho họ một bản sao bài can thiệp của mình.

Lúc 11 giờ sáng, sau khi Vann gửi bài cho Krulak một tiếng đồng hồ, điện thoại reo ở văn phòng một người giúp việc Wheeler. Anh nghe ông này hỏi :

“ Ai muốn rút vấn đề này khỏi kế hoạch ?”

Câu trả lời có vẻ không rõ vì ông ta gặng hỏi :

“ Có phải ông bộ trưởng Quốc phòng hay văn phòng Bộ tổng tham mưu ?”.

Ông lại muốn cụ thể hơn :

“ Đây là mệnh lệnh hay một đề nghị ?”

Sau khi người đối thoại giải thích, người giúp việc tóm tắt lại để xem có đúng không :

“ Chúng ta nói rõ với nhau. Đây là tổng tham mưu trưởng đề nghị vấn đề phải rút khỏi kế hoạch “.

Rồi người giúp việc nói ông sẽ đi truyền đạt yêu cầu của Maxwell Taylor với thủ trưởng của mình, sẽ gọi lại sau rồi ông bỏ máy. Ông ta bảo Vann :

“ Anh bạn , tôi có cảm tưởng hôm nay anh không trình bày được đâu “.

Ông vào phòng Wheeler, một lúc sau trở ra gọi điện thoại cho người ở văn phòng Taylor.

“ Thủ trưởng đồng ý hủy bỏ vấn đề này “.


Krulak báo động ngay với Taylor khi đọc bản tường trình của Vann. Taylor đã kịp thời hành động. Ông ta không dễ dàng chịu đựng ý kiến ngược lại trong nghề nghiệp và rất chóng nổi nóng khi gặp một sự chống đối về những vấn đề quân sự. Ông không nghĩ hơn Krulak rằng Vann có thể nói đúng. Đây nhất định là một hành động bất mãn của một anh trung tá hãnh tiến và kiêu căng. Nhưng có những lý do khác ngăn chặn họ. Họ không muốn toàn ban tham mưu liên quân biết vì sự bất đồng tầm cỡ ấy sẽ được ghi vào biên bản. Tấn công Harkins trước hết là đánh vào Krulak, một người trong hàng ngũ tinh hoa của Washington đã đứng về phía Harkins. Nhưng cũng là đánh vào Maxwell Taylor, người luôn luôn lạc quan trong các báo cáo với Mc Namara và tổng thống. Hơn nữa, ông này lại chịu trách nhiệm tạo thành công cho người mình bảo vệ ở Sài Gòn. Tháng Mười hai năm 1961, khi đặt vấn đề cử một tướng chỉ uy mới ở Việt Nam, Kennedy không muốn phó thác cuộc chiến tranh này cho Harkins mà ông cho là quá bảo thủ, đã mong tìm một người trẻ hơn, quá khứ ít bảo thủ và nhiều tưởng tượng hơn. Nhưng Taylor đã thuyết phục ông chấp nhận Harkins, bảo đảm ông ta có đúng những đức tính theo yêu cầu.

Chắc chắn không phải Wheeler kiên quyết chống đối buộc Vann im lặng. Chính ông, vị đại tướng lãnh đạo phái đoàn Bộ tổng tham mưu đi Sài Gòn ngày 18 tháng Giêng trước đây, ngưới chỉ đạo phái đoàn điều tra quan trọng nhất về cuộc chiến tranh, đã để người có vấn đề, Harkins, đư đi dạo như một du khách và nghe người bảo vệ ông ta nhất, Krulak. Mặt khác, Wheeler là người cũng được Taylor che chở, đã được đề nghị tổng thống cử làm tham mưu trưởng quân đội. Wheeler là một người thanh mảnh, lịch sự như Taylor. Nhưng ông không xa cách như Taylor, được đồng cấp mến mộ vì thái độ thân mật trong quan hệ nghề nghiệp. Wheeler là sĩ quan tham mưu có khả năng hoàn hảo với điều kiện trên ông có một người biết suy nghĩ. Khi để cho ông một mình, người ta thấy ngay những giới hạn của người lính bàn giấy này trong việc phản ứng việc tôn trọng tính chính thống, cả tin theo bản năng vào mọi tài liệu “ tuyệt mật “ và những gì bất kể ai khoác sao và lon vàng nói.

Trong tức giận và thất vọng, Vann quy trách nhiệm cho Krulak và Taylor làm anh thất bại nhưng cũng tự trách mình. Cuối cùng, anh giúp Harkins tạo ra huyền thoại chiến thắng sắp tới cho các tướng và quan chức Washington khi nêu lên những khoa trương dối trá của một tướng Cao bắt chước Lansdale muốn làm “ con hùm “ của Việt Nam và trang bị của ông ta để đánh bại Việt cộng. Hai tuần sau khi thất bại, anh nói riêng với một sử gia quân đội đã hỏi anh “ Chúng ta cũng có một trong những chuyện bịa đặt xuất sắc trong cuộc chiến tranh này “. Cuộc phỏng vấn được xếp loại “ tuyệt mật “ và băng hình, lời chú thích của anh biến mất trong một ngăn khóa kín.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #99 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2008, 10:14:57 am »

 Nhưng họ không đẩy anh vào im lặng được. Những học viên anh để lại Việt Nam nói thay cho anh. Anh không cần nhắc chúng tôi qua điện thoại đường dài phải nỏi gì. Chúng tôi đã thấm nhuần những bài học của anh đến mức không cần đến anh nữa. Trong tháng Bảy, Vann viết thư cho chúng tôi, khen ngợi lòng dũng cảm đã chỉ trích chế độ qua cuộc khủng hoảng Phật giáo. Halberstam trả lời anh : “ Đây là lúc có nguy cơ vào tù và rút máy vì nhiều người đang rình mò .. Chúng tôi nói về anh luôn và thường khi viết, chúng tôi nghĩ về anh. Nhưng điều quan trọng nhất là những gì chúng tôi biết được ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và làm chúng tôi đánh dấu cho tương lai. Thực tế bây giờ không thể nhồi sọ, chúng tôi biết rõ phải tìm kiếm gì và đâu là trung tâm của vấn đề. Đối mặt với sự cố gắng bọn họ làm để vuốt ve, tinh thần chúng tôi đã được bọc thép “.

Chúng tôi được thông tin về tầm quan trọng của việc tăng cường lực lượng Việt cộng trong vùng đồng bằng vào đầu tháng Tám. Đáng lẽ biết sớm hơn nhưng tất cả chúng tôi bị kẹt lại Sài Gòn để viết về những cuộc biểu tình Phật giáo và khả năng có một cuộc tự thiêu khác. Mert Perry của tạp chí TIMES nghe nói trong tháng Bảy có những cuộc đánh nhau dữ dội ở tỉnh Kiến Hòa, trong quá trình đó 11 trực thăng bị bắn trúng. Tôi quen viên đại úy cố vấn tiểu đoàn  trận ấy vì có thời gian lội ruộng với anh. Anh đến Sài Gòn đầu tháng Tám nghỉ phép một tuần và tình cờ tôi gặp anh trên đường, Việt cộng mà đơn vị anh đã chống chọi không còn là những tiểu đoàn mà anh đụng độ cho đến lúc ấy. Họ có vẻ nhiều hơn quân số 300 của bên anh và nhất là hỏa lực mạnh hơn. Chưa bao giờ anh nghe tiếng súng rền của vũ khí tự động như thế. Việt cộng chôn chân ngay quân đội Sài Gòn tại chỗ, giữ binh lính địch cho đến lúc họ thôi bắn và biến mất trong đêm mặc dù những chiếc Huey tấn công bằng súng máy, đạn rốc két và sáu đợt máy bay ném bom. Nếu họ ra khỏi hàng cây ẩn nấp thì chắc chắn họ đã tàn sát tất cả hoặc một phần tiểu đoàn của tôi, viên đại úy nói.

Trong khoảng thời gian đó, một đại tá Quân lực Cộng hòa mà chúng tôi đều kính trọng, Phạm Văn Đồng, trùng tên với thủ tướng Hà Nội, trở về báo động sau một đợt đi thị sát vùng đồng bằng : Việt cộng làm lại vòng hành quân Việt Minh đã vận dụng chống Pháp. Đại tá Đồng biết rõ điều ông nói. Ông là một người dân tộc thiểu số miền Bắc, được gắn lon trong quân đội Pháp và là một trong hai sĩ quan Quân lực Cộng hòa chỉ huy một đơn vị cỡ lữ đoàn trong đội quân viễn chinh Pháp. Harkins làm gián đoạn sự nghiệp của ông khi đề nghị Đạm thăng lên thiếu tướng không đúng lúc. Khi biết việc ấy, ông bình luận “ Bây giờ tôi chắc chắn Diệm sẽ trừng phạt tôi. Ông ta nghĩ người Mỹ thích tôi đến mức ấy vì họ sẽ sử dụng tôi để làm một cuộc đảo chính !”. Hai tuần lễ sau đó, Diệm bổ nhiệm Đồng làm thanh tra “ các ấp chiến lược “.

Những điềm báo trước thảm hại của Đồng đáng tiến hành một cuộc điều tra. Do cuộc khủng hoảng Phật giáo chiếm nhiều thời gian và nghị lực của chúng tôi, Halberstam và tôi quyết định cùng làm việc thành nhóm với Perry của báo TIMES. Đại tá Đồng là một trong những nguồn thông tin quý báu của chúng tôi. Ông nhận được số liệu và những điều cụ thể ở một viên tướng ở ban tham mưu hỗn hợp Sài Gòn trong cuộc chiến tranh Pháp Việt phục vụ dưới quyền ông. Tôi ở nhà ông một buổi tối ghi lại những dữ kiện, phát hiện thấy mặc dù Cao nói dối, các sĩ quan tình báo Việt Nam ở vùng đồng bằng cũng đưa ra những thông tin có giá trị nhưng không chuyển lên Phủ tổng thống vì sẽ không được chấp nhận. Ở chỗ người Mỹ, thông tin cũng không lên đến ban tham mưu của Harkins vì lý do ấy. Người ta cảm thấy một cảm giác lạ lùng về sự so sánh của đại tá Đồng giữa những gì xảy ra hiện tại với cuộc chiến tranh Pháp Việt. Giữa những năm 1949 và 1950, trong lúc tướng Giáp chuyển những đơn vị Việt Minh đầu tiên lên các sư đoàn đầy đủ quân số, gây ra cuộc tàn sát trên đường số 4 và sự thất bại ở Điện Biên Phủ, bộ chỉ huy cấp cao của Pháp cũng chế diễu những báo cáo báo hiệu sự ra đời của một Việt Minh có thể đương đầu với quân đội họ.

Chúng tôi chỉnh sửa, bổ sung những thông tin ấy với các nguồn tài liệu Mỹ và Việt Nam khác. Halberstam đến chủng viện trao đổi với nhiều đại úy chứng kiến được những đổi thay ở vùng đồng bằng. Người của CIA và Cơ quan phát triển kiểm tra chương trùnh “ ấp chiến lược “ tỏ ra thật thà hơn. Việt cộng bắt đầu phá hủy có hệ thống những trại giam giữ đáng xấu hổ. Chiến thuật của họ là tiêu diệt các đồn tiền tiêu của đội tự về dù ở trong hay bên cạnh các ấp. Lần lượt cảnh sát bị tước vũ khí hoặc bị đập tan hoặc tự bộc lộ điều từ trước tới nay những người nổi dậy bí mật vẫn làm. Nông dân được thông báo tự do trở về nguyên quán. Khi đi họ mang theo những tấm tôn để lợp lại nhà của họ. Nếu chính quyền Sài Gòn thiếu tôn, buộc họ dùng rạ, cán bộ Việt cộng vận động họ phá hủy trước khi đi để nhà không ở được nữa. Họ cũng cắt dây thép gai ( những loại “ mì que Mỹ “ như một số người bỡn cợt ở Sài Gòn gọi ), chặt ra từng đoạn nhỏ sau dùng làm tạc đạn hoặc những bẫy nổ. Tất cả những việc làm ấy có một ý nghĩa tâm lý : chứng minh tận mắt đường lối của Hồ Chí Minh chiến thắng kế hoạch do Mỹ và những đồng lõa Việt Nam xây dựng.

Ngày 15 tháng Tám năm 1963, năm tuần lễ sau thất bại của Vann ở Lầu Năm Góc, một bài báo nêu lại những nhận định của anh về cuộc chiến tranh trên trang đầu tờ NEW YORK TIMES ký tên Halberstam. Anh này không ngại tuyên bố thẳng thừng Việt cộng đang thắng trận : anh biết các tổng biên tập ở New York đã sợ hãi vì những bài viết của anh. Một sự khẳng định rõ ràng như vậy càng kích thích họ hơn việc từ chối không in với lý do ý kiến chủ quan. Tiêu đề bài báo là “ Quân đỏ Việt Nam mở rộng địa bàn ở những vùng chủ yếu “.

“ Tình hình quân sự miền Nam Việt Nam trong vùng chủ yếu của đồng bằng sông Cửu Long suy sụp trong năm và quan chức chính quyền nhận thấy những dấu hiệu đáng lo ngại. Sau lời mở đầu ấy, Halberstam tập hợp những sự việc lại như một loạt trọng pháo bắn chặn để mô tả những tiến bộ của cộng sản. Một năm trước đây tổ chức du kích không quá 250 người. Ngày nay họ tấn công bằng những toán quân 600, thậm chí 1000. Một năm trước, Việt cộng tránh đối đầu với Quân lực Cộng hòa, chỉ tập trung vào quân Bảo an và cảnh sát. Ngày nay, do “ lực lượng mới nhờ vào vũ khí Mỹ chiếm được “, họ tìm đánh nhau với những đội quân thường trực Sài Gòn. “ Bây giờ họ có một trong những chỗ dựa ấy rồi !” theo lời của một cố vấn Mỹ anh không nêu tên trong bài báo. Các chỉ huy của Sài Gòn “ phát hiện ra trong vùng mình những tiểu đoàn mà họ không xác định được ‘. Halberstam tiếp tục “ Nhưng điều đáng lo ngại nhất là Việt cộng đang xây dựng những tiểu đoàn tiêu chuẩn, mỗi tiểu đoàn 400 người gồm ba đại đội bộ binh trang bị vũ khí hạng nặng … Vũ khí và đạn dược do cộng sản sản xuất đưa bí mật vào miền Nam ngày càng nhiều… Trang bị điện đài không ngừng cải tiến “. Mục tiêu cuối cùng của những chuẩn bị đó còn đáng báo động hơn nữa  : một “ chuyên gia đáng tin cậy “ đã cảnh báo Hà Nội chuẩn bị một “ cuộc chiến tranh cơ động, nhanh và dữ dội “ để đập tan Quân lực cộng hòa.

Bài báo xuất hiện như một quả bom nổ giữa Washington, dù sao cũng quét đi những ảo tưởng ngông cuồng như chúng tôi hy vọng. Kennedy hỏi có đôi điều sự thật trong câu chuyện này không. Krulak báo động cho Harkins, Stilwell gửi một giác thư dài bác bỏ từng điểm trong bài báo. Nhờ Stilwell, Krulak và suy đoán của họ Kennedy,  phần lớn những người có trách nhiệm cao giữ được lòng tin vào các tướng. Dean Rusk thậm chí vượt cả vai trò của mình tố cáo bài báo của Halberstam là một sự nói dối trong một cuộc họp báo ở bộ Ngoại giao sau hôm nó được in ra.

Vai trò Krulak luôn giữ ảo ảnh của Harkins là một sự trớ trêu của số mệnh. Uy tín của ông quá lớn không thể phán xét lâu cuộc tranh chấp ở Việt Nam với một sự ngu dại như vậy. Trong hai năm, ông phát hiện ra sự ngốc nghếch của chiến lược hủy diệt đã ám ảnh các tướng lĩnh Hoa Kỳ. Ông bèn cố gắng làm cho hệ thống ông phục vụ hành động một cách hợp lý hơn và lúc đó đến lượt ông cũng có những lo lắng như Vann.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM