Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:39:46 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự lừa dối hào nhoáng  (Đọc 166257 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #100 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2008, 11:53:04 am »

 Câu chuyện những phóng viên trẻ ở mặt trận bịa đặt trở thành bằng chứng thất bại hoàn toàn thảm bại vào cuối mùa hè năm 1963. Bây giờ là những nhà báo được thừa nhận mà phần lớn họ nhận xét chiến tranh cùng một cách như chúng tôi.

Nhưng đối mặt với các phóng viên ấy, có những người khác ở Hoa Kỳ lo công nhận và bảo vệ luận điểm của chính quyền. Trước đây chưa từng có thất bại về đường lối chính trị, quân sự trong nước và họ không thể chấp nhận nó. Một nhà báo nổi tiếng có bề dày nghề nghiệp hơn Halberstam, Margueritr Higgins của tờ NEW YORK HERALD TRIBUTE là một ví dụ. Cô đạt giải thưởng PULITZER năm 1951 với những bài phóng sự ở Triều Tiên, can đảm kể lại sự tan vỡ của bước đầu chiến tranh. Bộ tổng tham mưu đề nghị “ những nhà báo có độ chín và ý thức trách nhiệm “ được cử sang Việt Nam để chỉnh sửa lại những câu chuyện thần kinh của các phóng viên địa phương. Theo yêu cầu của Lầu Năm Góc, Higgins tới Sài Gòn vào tháng Tám. Cô ở lại bốn tuần lễ ở miền Nam Việt Nam, gửi về một loạt bài tóm tắt, viết  cuộc khủng hoảng Phật giáo là một sáng kiến của những nhà sư thủ đoạn và của những phóng viên cả tin, rằng tướng Harkins và chế độ Diệm đang đánh thắng Việt cộng và “ những phóng viên địa phương thích thấy chúng ta thua trận để chứng minh họ nói đúng “.

Joseph Alsop, chưa gặp Vann vào năm 1963 và chưa tán thành anh, tháng Chín sang để kết tội chúng tôi bôi nhọ Diệm như một số phóng viên trong Thế chiến thứ hai ở Trung Quốc đã làm suy yếu Tưởng Giới Thạch khi nhấn mạnh chế độ của ông này rời rạc và không có khả năng. Anh viết “ Sức ép thường xuyên của chiến dịch báo chí chống chính phủ góp phần rộng rãi biến Diệm, một nhà lãnh đạo dân tộc can đảm và hoàn toàn phù hợp thành một người tiêm nhiễm thói quen truy bức nhìn vào đâu cũng thấy âm mưu và do đó, không thể có một sự phán xét đúng đắn “. Alsop cũng áp dụng đường kẻ của Krulak – Harkins , công nhận nếu cuộc khủng hoảng Phật giáo gây ra một biến động nào đó ở thành phố thì vẫn không ảnh hưởng gì đến cuộc chiến tranh ở nông thôn. Theo anh, chúng tôi đã vẽ lên “ một hình ảnh đen tối và không xứng đáng “ của tình hình quân sự. Anh gợi ý chúng tôi bớt dành thì giờ cho những cuộc  biểu tình tự sát và đi nhiều hơn “ trên con đường mặt trận “ . Halberstam nhận thấy câu nói này thật buồn cười đối với cuộc chiến tranh chúng tôi đã biết rõ.

Nhưng Halberstam có nhiều vấn đề với các tổng biên tập của anh ở New York. Anh đấu tranh cho nghề nghiệp cũng như để thắng trong cuộc chiến tranh. Báo NEW YORK TIMES không tin vào giới báo chí vận động cải cách. Và nếu Halberstam thuyết phục được một số người đọc, anh không được như vậy với cấp trên. Dĩ nhiên không hề có ý định thấy tờ báo làm diễn đàn tuyên truyền cho chính phủ, họ tán thành thỉnh thoảng có một cuộc tranh cãi với quan chức nắm chính quyền. Nhưng Halberstam buộc họ ở vào tình thế đối đầu với chính quyền Kennedy. Mười năm chiến tranh ở Việt Nam đưa những người có trách nhiệm ở tờ báo, sau này trở thành những người bảo vệ một nền báo chí tuyệt đối độc lập và tấn công nhưng năm 1963, vai trò chống đối còn tương đối mới và họ không muốn thế. Hơn nữa, vào đầu tháng Chín, tờ NEW YORK JOURNAL AMERICAN và những xuất bản khác phái hữu của báo chí Hearst bắt đầu lên án Halberstam ngây thơ về chủ nghĩa cộng sản và dọn đường cho một Fidel Castro Việt Nam.

Ở các cấp dưới của tờ báo, bực bội thêm vào nghi ngờ. Nhưng sức mạnh nghề nghiệp của Halberstam là ở chỗ tổng hợp thời gian và nghị lực, trọng lượng và chất lượng những thông tin của anh cùng tốc độ viết trong thì giờ gò bó. Tình hình phức tạp hơn vào tháng Tám, tháng Chín, ba tuần lễ chế độ cấm chúng tôi sử dụng điện tín bằng áp đặt việc kiểm duyệt và chỉ dành nó cho tuyên truyền. Chúng tôi phải gửi tất cả các bản tin theo đường hàng không thương mại để đánh đi từ các nước khác của Đông Nam Á. Một buổi sáng Halberstam gõ máy 4000 chữ của bốn bài báo khác nhau, phải sẵn sàng gửi theo chuyến bay buổi trưa ở Tân Sơn Nhất. Trong những điều kiện như vậy, sếp của anh ở New York, vốn chưa bao giờ là phóng viên, chưa bao giờ rời bàn giấy và tất nhiên không biết đến những trở ngại trong công việc của chúng tôi, có chiều hướng chỉ nhìn vào những sai sót : câu không đứt, cú pháp chỉ gần đúng và bài quá dài. Các biên tập viên phải vất vả mỗi buổi chiều để sắp xếp lại và kịp thời đưa in.

Khi Margerite Higgins bắt đầu nói ngược lại tất cả những gì Halberstam đã viết, bộ phận đối ngoại của NEW YORK TIMES dội cho anh những bức điện cho biết có lẽ cô ấy nói đúng và anh phải làm dịu bớt hoặc chữa lại bài viết của mình. Halberstam bực tức, nao lòng về sau bao nhiêu tháng như vậy, cấp trên không tin tưởng ở mình nữa. Anh thực sự nổi giận và điện trả lời “ Nếu các ông còn nêu tên người đàn bà ấy một lần nữa, tôi sẽ từ chức. Xin nhắc lại, tôi từ chức. Và nghiêm chỉnh đấy. Xin nhắc lại, nghiêm chỉnh đấy “. Những người có trách nhiệm ở tòa báo không hề có ý định chuyển Halberstam đi chỗ khác, cũng không muốn thấy anh từ chức, sẽ bị mang tiếng tinh thần hèn kém. Họ thôi không nói với anh về Higgins nữa nhưng vẫn còn nghi ngại.

Còn một bằng chứng nữa vào cuối tháng Tám khi chế độ Diệm tiến hành những cuộc bắt bớ hàng loạt. Đại sứ quán Hoa Kỳ và CIA viết một bài hoàn toàn tương phản với bài của Halberstam. Các tổng biên tập ở New York muốn in bài của chính quyền lên trang đầu và xếp câu chuyện của Halberstam vào giữa tờ báo. Nhưng sếp trực tiếp của anh, người đã vận động anh về làm voệc , James Reston, lúc đó là trưởng phòng ở Washington, vừa là nhà xuất bản, ngăn cản họ. Ông chống đỡ rằng họ không nên phủ nhận phóng viên của mình trên mặt báo, thuyết phục họ đăng cả hai bài bên cạnh nhau trên trang nhất cùng một tiêu đề kèm theo chỉ dẫn về sự không thống nhất giữa hai bài viết “ Phản ánh tình hình không minh bạch ở miền Nam Việt Nam “. Tờ báo chưa bao giờ làm điều ấy. Ba ngày sau đó, những sự kiện khác buộc Bộ Ngoại Giao phải thừa nhận bài viết của chính quyền không phản ánh sự thật.

Thái độ cá nhân của Halberstam cũng giải thích một phần việc bất đồng của anh với những người có trách nhiệm ở tờ báo. Họ được báo động về những lời phàn nàn của các nhân vật chức quyền ở Bộ Ngoại giao và Lầu Năm Góc. Anh không xử sự như đại diện một cơ quan đáng kính như NEW YORK TIMES phải làm. Báo NEW YORK TIMES không can thiệp vào đời tư của phóng viên nhưng cũng đồi hỏi họ phải xử sự đúng đắn trước công chúng, không như tính cách mãnh liệt của Halberstam.

Chúng tôi đều coi khinh Harkins nhưng chúng tôi cư xử với ông ta lịch sự, tôn trọng, còn Halberstam khinh bỉ ra mặt. Trong buổi chiêu đãi của Đại sứ quán nhân ngày lễ quốc khánh mồng 4 tháng bảy, anh công khai từ chối bắt tay vị tướng trong một không khí người ta cần che đậy tình cảm của mình.

Richard Holbrooke, 14 năm sau chiếm một vị trí quan trọng trong chính phủ Carter, nhớ lại bữa ăn tối với chúng tôi vào tối mùa hè năm 1963 ở một nhà hàng Pháp ở Sài Gòn. Lúc ấy, anh là viên chức trẻ Bộ Ngoại Giao, cố vấn cho công việc bình định ở một tỉnh phái nam vùng đồng bằng. Halberstam bắt đầu đả kích nặng nề vào con vật Harkins giả mạo báo cáo không kể đến việc phung phí tính mạng của những người Mỹ và Việt Nam. Càng nói anh càng phấn khích và giọng càng gay gắt. Anh giơ nắm tay to, đấm mạnh xuống bàn hét lên kết luận lời buộc tội của mình :

“ Phải đưa Paul D. Harkins ra tòa án quân sự và xử bắn !”.

Holbrooke  kín đáo nhìn xung quanh để xem có người nào ở bàn khác nhận ra anh chàng.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #101 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2008, 07:50:58 pm »

 Không có luật nào hạn chế chúng tôi đối mặt với chế độ. Họ Ngô Đình muốn đàn áp các nhà sư và những người đi theo họ trong những cuộc biểu tình mà không ai thấy. Các nhà báo nước ngoài có mặt làm những người có trách nhiệm trong Phật giáo hy vọng nếu họ tiếp tục chiến dịch, các sĩ quan có cảm tình trong Quân lực Cộng hòa có lẽ sẽ hoạt động chống chế độ hoặc dư luận quốc tế sẽ thúc đẩy chính quyền Kennedy khuyến khích một cuộc đảo chính. Họ biết hòa bình với gia đình Diệm luôn luôn khó khăn , nay đã hoàn toàn không thể và, nếu trật tự lập lại, tất cả bọn họ sẽ bị cho vào tù. Những người Phật giáo và hội viên ngày càng đông của họ dù sao cũng sẵn sàng chết để lật đổ chế độ. Một nhà sư, phong thái cổ lỗ như những người anh em của mình, nhanh chóng thích nghi với phương tiện liên lạc hiện đại gồm cả máy sao in truyền đơn đả kích, hét lên trong một chiếc loa mang theo “ Đã có máu trên những cà sa của chúng tôi !”.

Họ Ngô không hiểu mỗi hành động đàn áp càng làm tăng nhanh số người cảm tình với Phật giáo. Họ thực sự không biết những phim ảnh và chuyện kể của báo chí về ngược đãi, tự sát là việc phổ biến tai hại cho họ. Trong một cuộc biểu tình, các nhà sư, bà vãi và Phật tử quỳ xuống tụng kinh trên hè phố. Các đại đội cảnh sát đặc biệt, mũ và đồng phục ngụy trang, được CIA trang bị vũ khí và luyện tập để đuổi đánh Việt cộng trong thôn ấp, nhào vào đám đông đang quỳ đánh túi bụi. Họ nắm lấy tóc dài của phụ nữ, dùng dùi cui và báng súng đánh vào mặt trước khi vứt họ lên xe đưa đến nhà tù. Gia đình Diệm ngâng ngại không trục xuất chúng tôi, sợ tiếng la ó phản đối ở hội nghị Washington sẽ làm mất sự giúp đỡ về kinh tế và quân sự mà miền Nam đang cần, và sẽ xẩy ra một cuộc đảo chính của các sĩ quan Quân lực Cộng hòa. Họ quyết định làm chúng tôi sợ không đến gần những cuộc tập hợp.

Sáng ngày 7 tháng Bảy, chúng tôi đang chờ một cuộc biểu tình bắt đầu, dự kiến gần một ngôi chùa nhỏ trong thành phố thì bỗng nửa tá cảnh sát mặt thường phục của An ninh quốc gia xông vào Peter Arnett của Hội báo chí. Chỗ này lý tưởng cho một cuộc phục kích vì chúng tôi đứng chen nhau trên một ngõ hẹp từ đường phố vào chùa. Cảnh sát xô nhào Arnett xuống đất, đá vào bụng anh với những đôi giàu mũi nhọn theo mốt thời kỳ ấy. Nhưng trước khi họ có thể làm anh bị thương nghiêm trọng, Halberstam rống lên xông vào. Anh vứt ra xa người Việt Nam nhỏ thó đứng gần nhất, với thân hình gấu đứng bên Arnett, đưa nắm tay to lớn ra phía trước hét to “ Ra sau ! Lùi lại ! Bọn vô lại, hoặc tao đập  nát cả lũ như một cục phân !”. Chúng tôi giúp Arnettr đứng dậy còn Malcom Browne chụp một bức ảnh. Một cảnh sát luồn lại phía sau anh, đập hỏng chiếc máy nhưng không hủy được cuộn phim bên trong. Các cảnh sát viên mặc thường phục rút lui dần. Chắc họ được lệnh không sử dụng dùi cui và cảm thấy tay không họ không thể đọ sức với Halberstam. Cảnh sát đồng phục không can thiệp để bảo vệ chúng tôi. Arnett bình yên với vài cú đòn.

Hôm sau anh được triệu tập cùng Browne đến Sở cảnh sát bị thẩm vấn bốn tiếng đồng hồ trước khi được thả ra. Họ kết tội các nhà báo là đã “ tấn công “ người của Sở An ninh. Những người gần gũi chế độ giải thích là gia đình Diệm định khai thác sự cố ấy để bắt Arnett và Browne, đưa họ ra xét xử. CIA cũng được cảnh sát xác nhận việc ấy. Chúng tôi bèn gửi một bức điện phản kháng lên tổng thống Kennedy. Ông cử ngay Robert Manning, một nhà báo cũ bây giờ làm việc ở văn phòng Tổng thống đến gặp chúng tôi. Con người kiên nhẫn và thân mật này lắng nghe những lời kêu ca, than phiền các mặt của chúng tôi rồi thuyết phục Diệm không truy cứu nữa.

Gia đình Diệm tạm thời không đụng chạm đến các nhà báo và thử chiến thuật vô cùng ghê rợn hơn là dọa giết chết. Với họ Ngô Đình, đặc biệt Nhu và vợ, người ta không bao giờ chắc chắn được họ đánh đòn tâm lý hoặc họ thực sự làm nó. Ít lâu sau, bà Nhu nói với một phóng viên người Anh :

“ Halberstam phải bị đưa vào lò thiêu; tôi sẽ sung sướng cung cấp chất đốt và diêm “.

Nghe bà nói, dù sao người ta cũng có thể chắc chắn bà mong muốn thật lòng.

Chính cảnh sát báo động với chúng tôi đầu tiên. Sự bất bình lan nhanh trong cánh bàn giấy cũng ảnh hưởng tới một số cảnh sát. Họ tiếp tục làm theo lệnh của Phủ tổng thống để giữ việc làm nhưng bắt đầu lo về tương lai và dù có đồng lõa và suy đốn đạo đức, họ cũng tự cảm thấy có tội. Cuối tháng Bảy, trong một cuộc biểu tình một thanh tra mặc thường phục lại gần người quay phim Việt Nam làm việc cho tôi và hãng UPI Movietone News

“ Nói với chủ anh ban đêm ra ngoài phải khôn ngoan. Có lẽ chúng tôi sẽ nhận được lệnh giết ông ta và làm người ta tưởng đó là nạn nhân của Việt cộng “.

Thời kỳ ấy, Nguyễn Ngọc Rao, phóng viên Việt Nam làm việc ở văn phòng UPI có quan hệ rất tốt với cảnh sát. Họ cho anh biết bọn Nhu lên một bản danh sách những người sẽ bị ám sát gồm một số nhà báo, những sĩ quan Quân lực Cộng hòa, những nhân vật dân sự Việt Nam được xem là phản bội và có thể làm đảo chính. . Bọn Nhu làm nghiêm chỉnh đấy, cảnh sát nói gặng. Đây có lẽ là những người sẽ nhận lệnh đi giết họ. Halberstam và tôi có tên trong danh sách. Do bản thân không có gì chống đối chúng tôi, các viên chức an ninh khuyên Rao dặn chúng tôi cần đề phòng. Một số nhân viên CIA xác nhận với chúng tôi thông tin đó, nói cụ thể một số người của họ cũng nằm trong danh sách, vẫn cùng một lý do : âm mưu đảo chính.

Halberstam và tôi vẫn khó tin việc đe dọa biến thành sự thật cho đến lúc một sĩ quan tình báo Việt Nam có tên trong danh sách khẳng định điều đó với chúng tôi. Ông ta sống độc thân và chạy theo đàn bà, thường xuyên đến hộp đêm, nơi ẩn náu của một số tên cướp ở Sài Gòn. Chúng cho biết quân của Nhu thuê chúng tiến hành một loạt ám sát và ông ta là một trong những mục tiêu, chúng bảo ông cần thận trọng. Chúng xem ông như một người bạn và sẽ rất buồn nếu phải giết ông.

Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #102 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2008, 08:38:51 pm »

 Trong tháng Bảy, Nhà Trắng thông báo Henry Cabot Lodge sẽ thay thế Frederick Nolting làm đại sứ vào cuối mùa hè. Nolting ra đi giữ tháng Tám và tiếng đồn khắp các quán rượu trên đường phố báo trước Lodge sang có nghĩa là kết thúc sự nâng đỡ của Hoa Kỳ đối với chế độ Diệm. Nhà sư phát ngôn viên của các nhà lãnh đạo Phật giáo hóm hỉnh nói với Halberstam : “ Tôi nghĩ ông “ Cabologe” không phù hợp với sở thích của tổng thống Diệm “. Ngày hôm sau, 18 tháng Tám, họ làm một cuộc diễu hành lực lượng lớn mạnh như muốn tác động đến vị đại sứ tương lai qua báo chí. Mười lăm nghìn người, một trong những đám đông quan trọng nhất và nhiệt tình nhất tập hợp trước chùa Xá Lợi để nghe trong nhiều giờ diễn văn của các nhà sư tố cáo nền độc tài của chế độ và sự lăng nhục đối với Phật giáo Việt Nam. Những đợt cầu kinh xen lẫn những bài nói quan trọng. Từng thời gian đều đặn các nhà sư làm giảm bớt không khí căng thẳng bằng một màn xen kẽ được ưa thích : lời đùa cợt bỉ ổi về bà Nhu. Lần này, phủ tổng thống không ra lệnh cho cảnh sát can thiệp mặc dù có sự khiêu khích và cuộc biểu tình kết thúc trong bình lặng.

Sự ôn hòa đó là điềm chẳng lành. Hai đêm sau, quá nửa đêm ngày 20 tháng Tám, Diệm và Nhu làm một cú tàn ác để kết thúc cuộc khủng hoảng Phật giáo, đặt chính quyền Kennedy và “ Ông Cabologe “ trước sự việc đã rồi. Quân lực Cộng hòa lần lượt tấn công tất cả các chùa ở Sài Gòn, Huế và những thành phố khác có lực lượng Phật giáo. Nhờ có người báo tin, Mert Perry biết tiếng Pháp, Halberstam và tôi đến ngôi chùa Xá Lợi cùng lúc với những người tấn công.

Cuộc đột kích vào Xá Lợi cũng như các nhà chùa khác ở miền Nam Việt Nam được thực hiện triệt để. Tôi có cảm tưởng đang xem lại cuốn phim Pháp về cuộc kháng chiến khi bọn Gestapo bao vây một ngôi  nhà. Trong lúc đoàn xe có xe chúng tôi dừng lại dọc chùa, hai đoàn xe khác tiến đến từ hai hướng đối diện nhau. Cảnh sát và binh lính nhảy xuống nền đường. Các sĩ quan hô mệnh lệnh , tập hợp các đơn vị. Chuông trên gác chùa vang lên báo động, các nhà sư đánh vào xoong chảo càng làm ầm ĩ thêm. Cảnh sát phá cửa chùa, những toán lực lượng đặc biệt mặc quân phục ra trận ngụy trang và mũ nồi súng máy đưa ngang thắt lưng, tập hợp trước cổng chùa để tấn công.

Lực lượng đặc biệt của Quân lực Cộng hòa là một sáng tạo khác của Mỹ mà họ Ngô Đình chuyển sang sử dụng riêng cho mình. Đơn vị siêu đẳng này được CIA trang bị và huấn luyện để tiến hành những cuộc tập kích vào quân du kích và đột nhập vào Lào hoặc miền Bắc Việt Nam. Nhưng Ngô Đình có ý nghĩ riêng : lực lượng đặc biệt không bao giờ ra khỏi đất Sài Gòn; họ bị biến thành một đội bảo vệ pháp đình. Họ chú trọng tuyển mộ trong các gia đình giáo dân miền Trung và miền Bắc, giao cho một người hoàn tòan tin cậy chỉ huy : trung tá Lê Quang Tung, cũng là giáo dân miền Trung.

Quang cảnh trước chùa đủ sáng vì những trụ đèn và đèn pha ô tô nên Halberstam và tôi có thể thấy cầu vai các toán quân. Không một người lính nào thuộc quân thường trực hoặc quân dù. Tất cả đều là người của Tung. Diệm và Nhu không tin vào Quân lực Cộng hòa trong việc giải quyết nội bộ. Phải là người phục vụ họ , đúng trường hợp cuả Tung, đầt tớ trong gia đình Ngô Đình trước khi trở thành hạ sĩ quan của quân đội Pháp.

Một sĩ quan ra lệnh và toán đầu bắn qua cổng vào chùa, tiếp theo là những toán quân khác và cảnh sát. Nghe tiếng kính vỡ, tiếng cánh cửa bung ra vì gót chân hoặc báng súng. Súng nổ xen lẫn tiếng kêu la của các nhà sư bị kéo ra khỏi phòng ngủ. Những tràng vũ khí tự động từ phía sau chùa cho thấy Lực lượng đặc biêt ngăn cản những người Phật giáo chạy trốn qua tường bao. Xe ô tô bọc vải bạt xanh che vật chở bên trong đến xếp hàng trước cổng. Cảnh sát vứt các nhà tu hành lên đấy để dẫn đi nhà tù Chí Hòa ở Sài Gòn.

Bị kịch kéo dài hai tiếng đồng hồ vì một số nhà sư dùng bàn ghế chận cửa ở lại trong phòng ngủ. Hai người vượt được qua tường trong làn đạn súng tự động, chạy vào trốn trong tòa nhà Hoa Kỳ gần đấy, trụ sở chính của cơ quan phát triển quốc tế. Người năng động nhất trong các nhà lãnh đạo Phật giáo, Thích Trí Quang, đã tổ chức cuộc biểu tình đầu tiên ở Huế, biết mình bị kết án tử hình dã trốn đi cùng hai nhà sư khác trước cuộc vây ráp. Khoảng 1.400 nam nữ tu sĩ của Xá Lợi, và những chùa khác ở Nam Việt Nam bị bắt trong đêm ấy cùng một số tín đồ ngoài giáo và bảy người mất tích. Chắc họ bị giết và bị bí mật đem đi chôn. Những cuộc vây ráp ở Huế còn tang thương hơn, 30 nhà sư và học viên bị bắn hạ hoặc bị đánh đến chết. Bức tượng Phật lớn trong chùa Từ Đàm ở Huế bị phá hủy.

Diệm ra lệnh thiết quân luật, đặt Sài Gòn dưới quyền thiếu tướng Tôn Thất Đính, một lính dù Pháp cũ, rất thích rượu Whisky và trung thành với gia đình Diệm. Từ sau giờ giới nghiêm qui định vào 21 giờ, các toán quân và cảnh sát được lệnh bắn vào bất cứ ai trên đường phố không có giấy thông hành và cố chạy trốn. Dựa vào lệnh giới nghiêm và ban đêm, cảnh sát lục soát các nhà, các căn hộ và bắt những người tình nghi khác. Viên sĩ quan tình báo không phục tùng được bọn cướp báo động, bỏ trốn : một trong những bạn bè cùng học trung học có nhiều tàu hàng đã bí mật đưa ông đi Yokoham với chiếc tàu chở phân bón.

Halberstam và tôi không dám ngủ ở nhà nữa. Chúng tôi được John Mecklin, trưởng phòng thông tin US cho trú ngụ ba tuần. Nguyễn Ngọc Rao đã can đảm từ chối không đi ẩn náu, mặc dù gia đình anh khẩn cầu. Ngôi nhà của Mecklin không được quyền miễn trừ ngoại giao nhưng là một tài sản của Hoa Kỳ nên chúng tôi cho là có thể bình yên trong đêm. Trần Văn Chương, bố của bà Nhu, đại sứ miền Nam Việt Nam ở Washington, tuyên bố không có “ một phần trăm cơ may chiến thắng “ cộng sản chừng nào con gái ông, chồng và anh chồng bà còn nắm chính quyền . Mẹ bà Nhu, quan sát viên chính thức ở Liên Hiệp Quốc cũng từ chức cùng hầu hết nhân viên Đại sứ quán.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao có thói quen không bao giờ nói gì đã gọi điện thoại, bị kích thích cao độ. Bộ trưởng, một nhân vật lu mờ và cam chịu, tên là Vũ Văn Mậu, cũng từ chức, cạo trọc đầu như nhà sư và xin phép Diệm đi hành hương ở Ấn Độ. Diệm đồng ý. Báo chí và cả đoàn ngoại giao tập hợp ở Tân Sơn Nhất để thấy ông ta ra đi nhưng ông không bao giờ đến được Ấn Độ. Nhu đã cho Đính bắt giữ ông trên đường ra sân bay. Một viên tướng khác thuyết phục Đính giam ông ta tại nhà chứ không đưa vào nhà tù và để lại hộ chiếu cho ông. Rồi viên tướng nói thêm :

“ Ngày mai có lẽ ông sẽ bắt tôi. Lúc ấy nên tử tế chứ ? Tìm cho tôi một phòng giam dễ chịu và cho một cô gái đẹp vào đấy “.

Sinh viên trường đại học Sài Gòn nổi dậy. Hàng trăm người bị đánh và bắt giữ. Diệm đóng cửa trường đại học như đã làm thế ở Huế với những lý do như vậy. Thế là đến lượt học sinh trung học, phần lớn là con các viên chức dân sự và sĩ quan.

Ở trường nữ trung học Trưng Vương, cảnh sát đối mặt với những hàng thiếu nữ bận đồng phục áo dài xanh lơ. Họ nắm lấy tay nhau hô to “ Đả đảo Ngô Đình Diệm ! Đả đảo Ngô Đình Nhu ! Đả đảo Trần Lệ Xuân !’ ( tên con gái của bà Nhu ). Đám con trai dữ dội hơn : dùng ghế đập vỡ cửa sổ và treo lên mặt tường những băng rôn bêu xấu bà Nhu.

Với sự kiên nhẫn đáng lưu ý, họ Ngô ĐÌnh cho bắt con cái những người đang quản lý đất nước cho họ. Một buổi sáng, xe ô tô chở hơn 1000 học sinh trung học vào các nhà tù. Và, trong lúc cảnh sát nhộn nhịp trong sân, các sĩ quan hấp tấp đến, nhảy xuống từ xe Jeep cố cứu con cái họ. Việc tự sát không dứt ấy của triều đại do Lansdale dựng lên kết thúc bằng màn hề khó tin. Một buổi sáng, có viên thanh tra cảnh sát mặc thường phục vừa đánh vừa đẩy một cậu con trai lên xe ôtô. Một sĩ quan cảnh sát mặc đồng phục tùm lấy viên thanh tra và nện dùi cui vào đầu ông ta.

Dĩ nhiên, Diệm đóng cửa tất cả các trường trung học.

Tướng Đính khoe những chiến công của mình bằng tiếng Pháp với Lou Conein, đồng lõa cũ của ông ta trong CIA “

“ Tôi, Đính, là một anh hùng dân tộc đã đánh bại người Mỹ “ Cabologe “. Ông ta đến đây để tổ chức một cuộc đảo chính nhưng tôi, Đính , người anh hùng, tôi đã làm ông ta thất bại !”.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #103 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2008, 11:20:15 am »

 “Cabologe” đến Tân Sơn Nhất dưới trời mưa phùn, hai đêm sau vụ vây ráp các chùa. Ông có vẻ hoàn toàn không hợp thời khi cửa máy bay mở ra, xuất hiện trước ánh sáng đèn chiếu với chiếc mũ rơm trong tay. Xuống cầu thang ông vươn thân hình cao, gầy và góc cạnh một mét chín mươi với chiếc cằm cương nghị, mũi rộng hơi khoằm, hình ảnh truyền thống của người Mỹ ở một nước Anh mới. Đã 61 tuổi, vai tròn, cổ và đầu chúc về phía trước, tóc đã bạc nhiều. Nhưng người ta nhận rõ viên nghị sĩ trẻ của Massachusetts năm 1963, trung tá của Thế chiến thứ hai,  nghị sĩ Cộng hòa sau chiến tranh, nhà chiến lược chính trị đã thuyết phục Eisenhower ứng cử tổng thống và hướng dẫn cuộc vận đông năm 1952, người đại diện thường trực ở Liên Hiệp Quốc vào thời điểm vị trí ấy cũng quan trọng như bộ trưởng Ngoại giao, người mà Eisenhower đề nghị tháp tùng Nikita Khrusev trong chuyến đi lịch sử của ông này sang Hoa Kỳ năm 1959, nhà chính trị người ta nghĩ đã hết thời sau khi Nixon mà ông sẽ là phó tổng thống, bị Kennedy đánh bại năm 1960.

Chiếc mũ rơm và sự lỗi thời ở một người có tính cách ở Mỹ năm 1960, xuất thân từ gia đình cổ nhưng hoàn toàn độc lập về chính trị. Ông giống tính cách của ông nội mà ông mang tên họ, Henry Cabot Lodge, 31 năm là nghị sĩ của Massachusetts, bạn thân và người hợp tác của Theodore Roosevelt, là một trong những sáng lập viên đế quốc Mỹ sau khi chiếm Philippines. Một mỉa mai nữa trong cuộc chiến tranh Việt Nam là, sáu mươi lăm năm sau những khởi đầu thắng lợi ấy, người cháu của một trong những sáng lập viên được cử sang Sài Gòn để giải quyết ở bên kia đại dương, một cuộc khủng hoảng lớn có liên quan đến vai trò của Mỹ mà người ông tạo ra và người cháu góp phần hướng dẫn.

Halberstam, những phóng viên khác và tôi sẽ cảm thấy đỡ thất vọng nếu chúng tôi biết được những cuộc tranh cãi bí mật ở Washington. Chúng tôi không hình dung những điện tín và bài báo của chúng tôi trao vũ khí cho Averell Harriman, bây giờ là thứ trưởng Bộ Ngoại giao về những vấn đề chính trị và Roger Hilsman thay thế ông ở Cục Viễn Đông, để họ cố gắng thuyết phục Kennedy rũ bỏ Diệm và gia đình ông ta. Và chúng tôi càng được khuyến khích hơn nếu chúng tôi biết những gì chúng tôi viết, cái nhìn của Vann về cuộc chiến tranh mà chúng tôi phản ánh đã góp phần đến mức nào hình thành sự phán xét của con người đang xuống khỏi máy bay và trong vài tuần nữa sẽ nắm lấy quyền lực của Hoa Kỳ ở Việt Nam và thực hiện ý đồ của mình.

Ít lâu sau khi đại sứ mới đến, Halberstam, Browne và tôi được mời riêng rẽ đến ăn trưa với đại sứ và vợ, Emilu, xuất thân từ một gia đình lớn ở Boston, đáng ngạc nhiên về trí tuệ. Chúng tôi được báo việc mời ăn là riêng tư và ông Lodge muốn biết “ ý kiến “ của chúng tôi. Đến lượt tôi, ông hỏi về chế độ, cuộc khủng hoảng Phật giáo, về cuộc chiến tranh hơn một tiếng đồng hồ ở bàn ăn rồi lúc uống cà phê ở phòng khách. Ông nêu những câu hỏi thẳng thắn. Tôi theo rõi nét mặt ông thử xem ông nghĩ gì về những câu trả lời : nó vẫn dễ mến nhưng không thể đoán được. Tóm tắt lại tôi nói với ông, họ Ngô Đình điên khùng và bị căm ghét đến mức không thể lãnh đạo được đất nước, Việt cộng đang lấn đất và nếu, Diệm và gia đình vẫn nắm quyền, chắc chắn cuộc chiến sẽ thất bại. Nếu thay thế họ bằng một chính phủ quân sự, không có một đảm bảo nào sẽ tốt hơn nhưng ít  nhất cũng có thể hy vọng. Còn với họ Ngô, triển vọng duy nhất là thua trận.

Người ta báo trước với chúng tôi chính Lodge sẽ hỏi và chúng tôi không khai thác gì được ở ông. Nhưng tôi không muốn về không được gì, nên lúc cáo biệt, tôi thăm dò :

“ Thế cảm tưởng của ông ra sao, thưa đại sứ ?”

Ông ngồi trên ghế tựa dài bên cạnh bà vợ ông đang khoác vai, đôi chân dài vẫn bắt chéo. Ông mỉm cười :

“ Cũng gần như cảm tưởng của ông “.

Sự thật thà ấy làm tôi hoài nghi. Tôi tự nhủ phải chăng chỉ là sự phỉnh phờ khi hỏi “ ý kiến “ những nhà báo trẻ chứ không là lòng thành thực trong việc hỏi tin.

Tôi đã lầm khi còn ngờ vực và chẳng bao lâu sau đó, trao đổi ý kiến với những nhà báo khác. Thái độ công khai của Lodge và những bức điện ông gửi đi mà người ta biết khi công bố những “ hồ sơ của Lầu Năm Góc “ chứng tỏ quan điểm của ông đã xác định trước khi sang đây. Ông nói với Kennedy trong một điện tín “ tuyệt mật “ đúng một tuần sau khi xuống máy bay trong mưa và trước những bữa ăn hỏi tin tức của chúng tôi  “ Chúng tôi chỉ có một hương đi : lật đổ chính phủ Diệm “. Ông trình bày với tổng thống lý do “ cơ bản “ của đường lối áp lực ấy “ Theo ý kiến tôi, không một khả năng nào có thể thắng trong cuộc chiến tranh dưới chính quyền Diệm “.

Có lẽ những bài báo của chúng tôi và công sức của Vann không có hiệu quả đối với phần lớn những nhà chức trách của Chính phủ Hoa Kỳ. Nhưng những cố gắng của chúng tôi không uổng công đối với Cabot Lodge . Sự giải thích không chỉ do thời trẻ ông có một thời gian làm báo. Nó ở tính cách phức tạp của con người này : tính tự chủ của nhà quý tộc, sự nhạy cảm của nhà chính trị, quan niệm về các nhà lãnh đạo quân sự những năm 60 rất xa trước Thế chiến thứ hai. Khác với Kennedy, Mc Namara, Rusk, ông không đánh giá những viên tướng ấy nhận xét về chiến tranh phù hợp hơn ông. Taylor và Harkins là những người cùng thời với ông trong quân đội. Ông theo truyền thống thượng võ của gia đình, là sĩ quan kỵ binh dự bị từ 1923, mỗi mùa hè đi hành quân và theo dõi sự tiến bộ của kỹ thuật, chuyển từ kỵ binh sang thiết giáp năm 1941. Ông đã là người đầu tiên trong chiến tranh lên một chiếc tăng khi các tướng Marshall và Eisenhower cử ông sang Libye bên cạnh đoàn quân thứ 8 của Anh và khi Rommel tấn ông. Bộ trưởng chiến tranh, Henry Stimson, giữ ông lại Thượng nghị viện làm đại diện không chính thức cho quân đội cho đến năm 1944. Nhưng cuộc chiến tranh ở châu Âu đến gần, Lodge không cưỡng lại được. Ông từ chức nghị viện để tòng quân với cấp bậc trung tá, là điều chưa từng thấy từ cuộc nội chiến đến nay. Từ đó ông không ngừng quan tâm đến những vấn đề quân sự và năm 1963 ông là trung tướng dự bị.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #104 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2008, 03:46:17 pm »

Trong những cuộc họp mở đầu ở Lầu Năm Góc và ở tổng hành dinh Viễn Đông Honolulu, người ta đã nói rõ với ông là các nhà báo bịa ra những câu chuyện về sai lầm của các lực lượng Sài Gòn và tiến bộ của Việt cộng. Nhưng ông xét không thể hình dung tập thể các nhà báo lại đồng nhất về sự tưởng tượng dối trá đến thế. Ông cũng nhận thấy một chế độ thô lỗ trong thái độ chính trị như của Diệm không thể thắng trong cuộc chiến tranh. Ông đã biết những buổi mời ăn trưa làm chúng tôi phấn khởi : ông muốn có giới báo chí bên cạnh mình. Nhưng ông cũng hỏi để biết rõ chúng tôi và xem có ích gì cho việc ông sắp làm không.

Ông dành hai tháng để tiến hành công việc có kết quả. Công khai, ông cách ly Diệm và gia đình, làm cho họ dễ bị đảo chính bằng cách thể hiện qua lời nói và thái độ. Hoa Kỳ thông qua cá nhân Cabot Lodge, không mong gì hơn trông thấy Diệm bị lật đổ. Sáng hôm sau, khi đến, ông công khai chửi rủa họ Ngô Đình bằng cách đến thẳng ngôi nhà Cơ quan phát triển quốc tế nơi có hai nhà sư trốn ở đấy, hoan nghênh họ và ra lệnh hàng ngày cung cấp rau tươi cho các nhà sư ấy. Khi nhà lãnh đạo Trí Quang và hai nhà sư khác cùng trốn khỏi chùa Xá Lợi ngay trước khi cuộc tấn công đến Đại sứ quan Mỹ xin trú ngụ. Lodge tiếp họ ngay và dành cho họ gian phòng họp báo chí để ở tạm.

Ông bí mật giao cho Lou Conein quan hệ mật thiết với ba viên tướng bất phục tùng của Quân lực Cộng hòa. Lodge dùng những sĩ quan cao cấp ấy mà Conein đã cùng làm việc dưới sự chỉ đạo của Lansdale năm 1955 lúc họ còn là đại tá để rũ bỏ Ngô Đình và đưa họ lên nắm quyền. Diệm đã phong tướng cho họ để gắn bó với họ nhưng sau đó không còn cảm tình nữa. Họ thuộc bộ phận xuất sắc ít ỏi thời Pháp – Việt do hệ thống thực dâ tạo dựng và có quốc tịch Pháp cho đến năm 1955. Đáng lẽ họ đã rời bỏ Đông Dương với đội quân viễn chinh Pháp nếu người Mỹ, quyền lực, tiền bạc và đặc biệt nếu những người như Lansdale, Conein không khuyến khích họ ở lại miền Nam để cứu vãn xã hội thuộc địa đã sinh ra họ.

Người lãnh đạo nhóm này chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong Quân lực Cộng hòa, trung tướng Dương Văn Minh, 47 tuổi, được mệnh danh là “ Minh lớn “ vì cao đến một mét tám mươi. Ông sinh ra trong một gia đình khá giả ở miền Nam, học trường trung học Pháp tốt nhất ở Sài Gòn mà hoàng thân Norodom Sihanoul của Campuchia cũng thường đến học. Ngoài thân hình cao lớn, vai rộng, ông còn một dấu hiệu khác biệt khác. Hai chiếc răng cửa hàm trên bị đánh gãy trong một cuộc thẩm vấn của Kempeital, tổ chức hiến binh Nhật đáng sợ lúc quân đội Thiên Hoàng tước vũ khí của các toán quân Vichy Pháp năm 1945. Từ đó ông không bao giờ mang răng giả. Đầu năm 1955, ông giúp Diệm , chỉ huy quân bảo vệ Sài Gòn đánh Bình Xuyên trên đường phố, sau đó được giao trách nhiệm đập tan quân đội Hòa Hảo ở vùng đồng bằng. Năm 1963, Diệm gạt bỏ ông bằng bổ nhiệm chức danh giả định, cố vấn quân sự của tổng thống. Một trong những đồng sự của ông bình luận “ Do tổng thống không chấp nhận một lời khuyên nào, ông rất rảnh việc !”.

Một trong những đồng mưu của ông, cũng bảo vệ Diệm năm 1955, theo lệnh của Lansdale - Conein và vẫn giữ được tín nhiệm của ông ta : trung tướng Trần Văn Đôn, 46 tuổi, con trai rất quyến rũ của một gia đình quý phái. Ông sinh ở Pháp, gần Bordeaux và học ở Paris trước khi sung vào quân đội Pháp.

Người em rể của ông, thiếu tướng Lê Văn Kim, 45 tuổi, là thành viên thứ ba của cuộc âm mưu. Ông không được bổ nhiệm đã ba năm sau khi bị Diệm đuổi ra khỏi ban lãnh đạo Học viện quân sự vì nghi đồng lõa trong cuộc đảo chính không thành của quân dù năm 1960. Ông học toán và triết học ở Marseille, vào quân đội Pháp năm 1939 và đã đánh nhau với quân Đức. Thái độ chuyên cần làm ông ta được xem là người trí thức trong quân đội.

Lodge có tài chọn thuộc hạ đặc biệt phù hợp với những nhiệm vụ cụ thể. Conein là nhân viên liên lạc tuyệt hảo với những người trong âm mưu. Họ tin tưởng vào ông ta hơn bất cứ một nhân viên CIA nào khác. Ông là một phần trong thế giới của họ, là một người bạn cũ và ngoài ra còn có nguồn gốc Pháp. Ông chú ý làm rõ phần người Pháp của mình vì ông thuộc về hai nền văn hóa và biết điều đó làm họ yên tâm. Ông đã sốt ruột trong nhiều năm làm cố vấn bình định ở Bộ Nội vụ và bây giờ sẽ hoạt động với việc làm quan trọng hơn năm 1955 nhiều. Ít nhân viên mật có may mắn tôn vinh sự nghiệp mình với nhiệm vụ cao cả là lật đổ một chính phủ. Conein là sợi dây chuyền của quyền lực Mỹ, buộc những viên tướng ấy nghe theo lệnh mình. Những cuộc họp bí mật, việc truyền đạt những thông tin mật giữa Lodge và các viên tướng, việc đặt điều kiện để các tướng tin tưởng, tất cả những cái ấy tạo ra một không khí hào hứng đầy kích thích. Những cuộc đời được thử thách trong đó có cuộc đời của Conein nhưng là để thay đổi số phận của cả hai đất nước.

Harkins chống việc đảo chính. Ông ta không muốn xét lại cuộc chiến tranh mà ông nghĩ là đang thắng. Ông xem Diệm như một người lãnh đạo hoàn hảo của Việt Nam và cuộc khủng hoảng Phật giáo chỉ là mưu mô nhất thời. Những đợt tập kích vào các chùa là hành động nóng nảy không đúng lúc do bọn Nhu chịu trách nhiệm. Đến một lúc nào đó, có thể thuyết phục Diệm tách rời bọn họ ra. Harkins có những đồng minh ở Washington : Taylor, Mc Namara và Rusk cũng đánh giá tình hình như ông ta.

Lodge biết mình sẽ thất bại nếu đánh thẳng vào Harkins và hệ thống của ông ta, cho dù tiếng tăm về khả năng độc lập chính trị làm ông có trọng lượng bên cạnh Kennedy. Vậy là ông tác động với vị tướng tổng chỉ huy bằng những con đường quanh co , Harkins tự coi mình là bậc thầy trong những mưu đồ hậu trường cảm thấy có thể vượt qua trò chơi ấy. Lodge luôn luôn rất lịch sự trong những báo cáo riêng với ông ta và bao giờ trong những bức điện cũng nói về ông ta như “ một vị tướng đáng kính và một ông bạn cũ của mình “. Nhưng ông giấu Harkins những bức điện mật về các cuộc họp của Conein và các viên tướng có âm mưu, chuyển đi bằng con đường liên lạc nội bộ của CIA để đảm bảo an toàn. Minh và Đôn giúp ông lừa Harkins bằng cách nói dối, thề với vị tướng không chuẩn bị đảo chính, sợ ông ta nói lại với Diệm. Lodge cũng bác bỏ những nhận xét của Harkins về cuộc chiến tranh. Ông gửi cho Kennedy sự đánh giá riêng của mình, không cho vị tướng biết, nói ngược lại quan điểm lạc lõng của Harkins. Trường hợp này Lodge cũng tránh đánh trực diện. Ông không dữ dội  khẳng định cuộc chiến sẽ bị thất bại, chỉ gợi lên bằng những tin xấu đưa vào báo cáo mà Harkins đã che giấu và để những người khác nói thay ông. Ỏ điểm này, các viên tướng có âm mưu cũng đưa thuận lợi lại cho ông. Những viên tướng Sài Gòn này biết họ đang thất bại. Thêm một lý do nữa để rũ bỏ họ Ngô Đình. Ngày 19 tháng Chín, Lodge có một bức điện tối mật, gửi “ đích thân tổng thống “ trong đó ông lấy lại quan điểm của Minh :

“ … Việt cộng đều đặn thắng lợi về lực lượng : được nhiều người ủng hộ trong dân chúng hơn Chính phủ Nam Việt Nam; những cuộc bắt bớ vẫn tiếp tục và các nhà tù đầy ắp; ngày càng nhiều sinh viên theo Việt cộng; chính quyền suy sụp toàn bộ; quân đội không để tâm vào chiến tranh ( Chữ KHÔNG do Lodge gạch đít ) “.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #105 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2008, 04:32:12 pm »

 Nhận xét đó của vị tướng số một của Việt Nam ( Minh được người Mỹ trong đó có Harkins xem là người giỏi về nghề nghiệp nhất trong các tướng của Sài Gòn ) có tiếng vang trong tuyên bố của bộ trưởng Quốc phòng trung thành với Diệm, Nguyễn Đình Thuần, “ đã tỏ ra có nguyện vọng rời bỏ đất nước “, Lodge giải thích với Kennedy như vậy. Trong những bức điện khác, Lodge cũng bác bỏ ý kiến của Harkins cho rằng Diệm là nạn nhân của Nhu và có thể thuyết phục ông ta rũ bỏ người em. Theo đại sứ, anh em họ nhận định thế giới cùng một cách  như nhau và Diệm đã xác định cần sự nhanh nhảu của người em trong điều hành cảnh sát và cơ quan tình báo để nắm chắc được quân đội. Diệm “ mong muốn nhiều hơn Nhu chứ không kém hơn “, Lodge đã nói cụ thể thế.

Kennedy lưỡng lự. Ông không hiểu cuộc cách mạng chính trị và xã hội đang phát triển ở châu Á hiện đại và những thực tế về chiến tranh du kích. Ông sợ một làn sóng nổi dậy do cộng sản khơi dậy rộng ở các nước kém phát triển và quyết định đập tan đi những thiếu hiểu biết về những vấn đề ấy. Nếu nhạy cảm, ông đã cấm Harkins và Anthis không được tiếp tục ném bom và bắn giết nông dân Việt Nam. Ông không ngừng gửi cho quân đội những chỉ thị và gợi ý tiến hành cuộc chiến tranh chống nổi dậy. Nhưng những ý nghĩ của ông không vượt quá việc sử dụng những lực lượng đặc biệt, có tên “ Mũ nồi xanh “. Những gợi ý của ông không vượt qua giai đoạn phiêu lưu huyền hoặc với những phương tiện kỹ thuật mới và những mưu mô trong tiểu thuyết của James Bond, nhân vật mà ông yêu thích.

Ở cuộc họp Hội đồng an ninh quốc gia tại Nhà Trắng ngày thứ sáu mồng 6 tháng Chín 1963, ông chấp thuận sự gợi ý của Mc Namara cử Krulak sang Sài Gòn một lần nữa để “ tập hợp sự kiện “ báo cáo với Hội đồng lần họp sau, ngày thứ ba tiếp đó, Roger Hilsman, phụ trách những vấn đề Viễn Đông, cố đề nghị có một đại diện Bộ Ngoại giao cùng đi để có một tầm nhìn độc lập. Kennedy đồng ý . Mc Namara muốn để Krulak đi ngay sau khi họp xong nhưng Hilsman điện giữ máy bat lại chờ đại diện của mình, Joseph Mendenhall, nguyên cố vấn chính trị của Đại sứ quán, có thì giờ đến căn cứ quân sự Andrews gần Washington. Máy bay là một chiếc Boeing 707 không cửa sổ đóng kín, chuyển thành phương tiện chuyên chở các nhân vật quan trọng, có bàn giấy và phòng ngủ. Người ta gọi nó là “ Đặc biệt cho Mc Namara “ vì bộ trưởng Quốc phòng rất thích loại vận chuyển chớp nhoáng này. Bốn ngày sau như dự kiến và sau một cuộc du lịch vòng quanh 32.000 cây số, Krulak và Mendenhall đọc hai báo cáo hoàn toàn tương phản trước cuộc họp mới của Hội đồng an ninh quốc gia ở Nhà Trắng. Kennedy hỏi :

-   Cả hai ông có chắc chắn đã thấy cùng một đất nước ấy không ?
-   Dễ giải thích thôi, thưa tổng thống, Krulak trả lời : Ông Mendenhall đi các thành phố, còn tôi, tôi đã xuống vùng nông thôn, chỗ đã có chiến tranh.
-   Tôi sẽ gặp ông ngay sau đây tại văn phòng, Kennedy nói với Krulak.

Mc Namara cùng đi với Krulak vào phòng bầu dục khi vừa họp xong. Tổng thống đã nghiên cứu tập tài liệu, ngước mắt lên nói với Krulak :

“ Tôi chỉ muốn ông biết tôi hiểu ông “.

Ông không nói điều gì khác nữa. Hai người đi ra. Trong chiếc xe con đưa họ về Lầu Năm Góc, Mc Namara và Taylor thỏa mãn. Họ suy ra nhận xét của Kennedy như là “ tôi hiểu điều gì xảy ra và tôi thống nhất ý kiến với các ông”. Krulak cũng rất hài lòng. Ông cũng hiểu lời của tổng thống với ý nghĩa ấy.

Đồng ý hay không với Krulak, hai tuần lễ sau đó tổng thống vẫn cử Mc Namara và Taylor sang Việt Nam vì nhiều “ sự việc “ hơn. Có lẽ những báo cáo của Lodge đã kích thích ông làm việc đó, đặc biệt là quan điểm báo động của Minh. Cuối tháng Chín khi máy bay cất cánh từ Tân Sơn Nhất với một báo cáo cho Kennedy , người nào đi con đường Mỹ Tho đã có thể thấy  những bóng ma “ ấp chiến lược “ dọc trên đường. Những hàng cột sắt lủng lẳng, các mẩu dây thép gai rách nát chỉ rõ ai kiểm soát con đường chính này của vùng đồng bằng. Nhìn từ trực thăng, cảm giác sức mạnh của du kích còn lớn hơn và nhìn những thôn ấp ma này càng lạ lùng hơn. Những dãy lều không mái gợi lên việc xây dựng dường như của trẻ con này vừa mới bắt đầu đã nhanh chóng bỏ đi.

Mc Namara và Taylor cam đoan với Kennedy “ chiến dịch quân sự có những tiến bộ lớn, tiếp tục phát triển thuận lợi mặc dù tình hình chính trị căng thẳng nghiêm trọng ở Sài Gòn và chiến tranh vẫn có thể thắng vào cuối năm 1965. Thậm chí, Harkins có thể đập tan Việt cộng cuối năm 1964 ở các vùng cao su, cao nguyên và các tỉnh bở biển phía bắc Sài Gòn, họ đã viết trong nhật ký tuyệt mật ngày 2 tháng Mười như thế. Ở vùng đồng bằng tiến bộ chậm hơn, việc làm thất bại quân du kích vùng nam thủ đô lùi lại đến cuối năm 1965. “ Đến lúc đó có thể rút bộ phận lớn nhất các lực lượng Mỹ “. Họ đề nghị đưa về nước 1000 lính Mỹ vào cuối năm 1963 để chứng tỏ thắng lợi đã đến mức nào. Nhà Trắng công bố sắp tới sẽ rút một nghìn người.

Tuy thế, tổng thống không thấy yên tâm. Các nhà phân tích của CIA cho ông biết tình hình quân sự của Sài Gòn suy thoái, Văn phòng tình báo và nghiên cứu của Bộ Ngoại giao thông báo với ông “ cán cân quân sự nghiêng xuống bất lợi “ từ tháng Bảy và chế độ Diệm cũng có những vấn đề trong nước dù không có cuộc khủng hoảng Phật giáo.

Kennedy tỏ ra bối rối đồng thời giận dữ đối với nguồn thông báo những tin xấu gây trở ngại rất nhiều vào ngày 22 tháng Mười khi ông tiếp chuyến thăm xã giao của Arthur Sulzberger vừa nắm quyền lãnh đạo tở NEW YORK TIMES. Sau vài câu trao đổi thông thường, Kennedy tấn công :

“ Ông nghĩ thế nào về anh nhà báo trẻ của ông ở Sài Gòn ?”.

Sulzberger trả lời Halberstam nắm vấn đề rất tốt.

-   Ông không nghĩ anh ta quá bám chặt vào các sự kiên ?
-   Không, không tí nào.

Kennedy đã gặng hỏi : Tòa báo không bao giờ có dự định chuyển anh ta đi – Không, chổ khác ư ? Chưa bao giờ đặt vấn đề ấy, ông giám đốc trả lời.

Nếu Kennedy không bối rối, ông không tàn nhẫn như thế. Sulzberger áp dụng ngay thái độ bảo vệ như mọi giám đốc những tờ báo khi phóng viên của họ bị công kích.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #106 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2008, 05:09:49 pm »

Họ Ngô Đình đã rất gần với mong mỏi của tổng thống. Halberstam không biết Kennedy đích thân đề nghị thuyên chuyển anh, ngày 29 tháng Mười viết thư cho Vann nói anh sợ sẽ bị trục xuất. Hộ chiếu của anh giữa tháng Mười một hết hạn, anh không nghĩ sẽ được kéo dài thêm. Anh viết cho Vann cám ơn đã bảo vệ những bài báo của chúng tôi trong những bức thư Vann gửi cho các tạp chí : NEWSWEEK đăng trong số ngày 21 tháng Mười nhưng TIMES đã từ chối. Halberstam viết “ Chúng tôi luôn luôn thiếu anh; anh là từ điển thường xuyên của chúng tôi. Không phải kỳ cục khi chạy theo  những sự kiện có một ý nghĩa u ám như thế đối với đất nước chúng ta. Điểm sáng duy nhất là Lodge mà hiệu năng cho đến nay gần như hoàn hảo. Ông vững chắc, thông minh và ít ảo tưởng về tình hình ; không muốn thấy Hoa Kỳ bị đẩy đi và đánh giá họ Ngô không đáng giá một cái đinh “. Vũ khí và lực lượng tấn công của các tiểu đoàn Việt cộng ở vùng đồng bằng “ không ngừng cải tiến và trở thành đáng lo ngại .. Thật là một kinh nghiệm cay đắng thấy một quốc gia dựa vào cảnh sát để hoạt động đặc biệt lại do chúng ta tài trợ. Nhưng tôi nghĩ chúng ta còn có một cơ hội và tôi thích cách hành động của Lodge “.

Chính cách nhận xét của Lodge cuối cùng làm anh thắng thế. Anh khai thác được ở Mc Namara và Taylor điều anh cần. Họ phải công nhận trong bản ghi nhớ gửi Kennedy “ những hành động đàn áp mới của Diệm – Nhu có thể làm giảm bớt xu hướng quân sự có lợi hiện nay “. Họ đề nghị hủy bỏ sự viện trợ kinh tế, giúp đỡ quân sự và CIA cho lực lượng đặc biệt của Tung để gây sức ép giải hòa và cải tổ. Lodge đã đòi hỏi hai biện pháp ấy dùng “ bật đèn xanh “ cho các viên tướng bất phục tùng. Ngày 5 tháng Mười, Kennedy quyết định để Lodge hành động theo ý ông ta. Những âm mưu đã đóng ngoặc, lại được tiến hành. Kennedy chỉ đòi hỏi Lodge đảm bảo với ông sự thành công để khỏi phải chịu sự nhục nhã như sự kiện vịnh Con Lợn. Lodge không muốn lạm dụng tổng thống. Ông nói ông nghĩ cuộc đảo chính sẽ thành công nhưng không thể có một đảm bảo nào. Ông điện cho tổng thống “ Nếu thất bại, chúng ta chỉ việc nhặt nhạnh những mảng vỡ tốt nhất chúng ta có thể có “.

Diệm và Nhu cũng tự dựng đoạn đầu đài cho mình. Cuối tháng Mười, họ phát hiện ra âm mưu của Lodge và quyết định sử dụng việc đó có lợi cho mình. Họ triệu tập về Phủ tổng thống tướng Đính đang nắm Sài Gòn dưới quyền của mình sau vụ vây hãm các chùa. Hai anh em ra lệnh cho ông ta huy động quân làm một cuộc “ đảo chính giả “.

Mục tiêu chính của họ là làm cho người Mỹ sợ và can ngăn họ can thiệp bằng cách để lầm tưởng cuộc đảo chính xuất phát từ phía “ trung lập “. Từ cuộc đảo chính của thiếu tá dù Kong Le ở Lào năm 1960, Washington sợ một hoạt động tương tự xảy ra ở Sài Gòn do một nhóm chống đối hoặc cơ hội chủ nghĩa xúi giục tẩy chay người Mỹ. Một việc làm như thế sẽ đưa vị thế của Hoa Kỳ trở thành trò cười, trong khi họ xác định ở lại Việt Nam theo yêu cầu của chính phủ để bảo vệ miền Nam chống lại một “ cuộc xâm lược từ bên ngoài “. Vả lại, Mặt trận giải phóng dân tộc đòi phải thay thế họ Ngô ĐÌnh bằng một liên minh trung lập và tổng thống Charles De Gaulle khuyến cáo một giải pháp loại ấy. Nhưng chính quyền Kennedy xét thấy theo đúng nghĩa, công thức ấy là một cách vớt vát danh dự, để cho Hồ Chí Minh chiếm lấy miền Nam. Nhu đã làm nảy sinh ở người Mỹ một số lo sợ khi làm như điều đình với Hà Nội qua trung gian Manel, đại diện Ba Lan trong Phái đoàn quốc tế và đại sứ Pháp. Ông ta cũng gợi lên khả năng đề nghị người Mỹ ra đi để tạo ra miền Nam Việt Nam một Nam Tư mới được cả các quốc gia cộng sản và không cộng sản giúp đỡ.

Nhưng Nhu xem nền độc lập thực ra chỉ là việc nới lỏng các dây quan hệ. Ông ta không hiểu mưu mô của ông ta chỉ góp phần vào cuộc chơi của Lodge khi báo động với Kennedy. Khi anh em họ tấn công các chùa, họ tìm cách rũ tội bằng việc cho đài Sài Gòn và báo chí chính phủ loan báo những vụ tập kích do quân đội tiến hành và các tướng đòi hỏi Diệm tuyên bố lệnh giới nghiêm. Với cuộc “ đảo chính giả “, họ cũng cho thông báo việc hình thành một liên minh trung lập và sẽ đề nghị người Mỹ rút đi. Rồi họ cho Đính và các đội quân , xe bọc thép chiếm đóng các đường phố, các công sở để sau đó có thể tuyên bố họ đã đập tan âm mưu trung lập, cứu nước Việt Nam.

Họ lợi dụng tình trạng lộn xộn lúc đó để thực hiện mục tiêu thứ hai cấp thiết hơn của cuộc đảo chính giả ấy : một cuộc tắm máu nhỏ. Lực lượng đặc biệt của Tung và những tên cướp phục vụ Nhu đi tàn sát Minh, Đôn, Kim, một số tướng khác và sĩ quan cao cấp nghi có tham gia vào âm mưu, những đồng lõa dân sự như phó tổng thống của Diệm, Nguyễn Ngọc Thơ và một số người Mỹ. Sau đó, họ đổ trách nhiệm giết người ấy cho “ các phần tử trung lập và ủng hộ cộng sản”. Người ta không biết chính xác sẽ có bao nhiêu nạn nhân người Mỹ. Về nguyên tắc, Lodge phải nằm trong danh sách. Conein cũng không thoát khỏi vì Diệm, Nhu biết phần việc của ông này trong âm mưu. Hành động ấy được Nhu đặt tên là “ Hoan hô số 1 “.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #107 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2008, 11:07:53 am »

 Nhưng Diệm, Nhu khi ra lệnh các đội quân hoạt động cho “ Hoan hô số 1 “ không hiểu rằng thực tế Đính cho người và xe tăng vào Sài Gòn cho cuộc hành quân “ Hoan hô số 2 “. Trừ Cao ở Cần Thơ không biết việc gì, Diệm và Nhu thiếu các viên tướng kinh khủng. Hơn thế, Đính, bề tôi trung thành của họ ( người “ anh hùng dân tộc” khoe với Conein đã đánh bại “ Cabologe”) đã phản bội họ. Minh và Đôn đã khéo tác động : họ không ngớt nói rằng Đính thực sự là một anh hùng dân tộc, phải đề nghị Diệm cám ơn, bổ nhiệm làm vị trí bộ trưởng Nội vụ. Diệm đã thưởng cho ông ta một số tiền lớn, nhưng từ chối đề bạt. Đính cảm thấy bị xúc phạm và những người âm mưu đã lợi dụng để nắm lấy ông ta, hứa một vị trí trong chính phủ của họ. Để an toàn hơn, họ lôi kéo cả những sĩ quan dưới quyền của ông ta để có thể đánh bại ông và nắm lấy quyền chỉ huy các toán quân và xe bọc thép nếu ông ta đổi ý vào phút chót. “ Hoan hô số 2 “ bắt đầu lúc 13 giờ 30 phút ngày 1 tháng Mười một năm 1963, do một tiểu đoàn Hải quân Sài Gòn chiếm lấy tổng nha cảnh sát. Ba giờ sau đó, Diệm gọi điện cho Lodge từ Phủ tổng thống. Qua tiếng gọi được ghi âm, Diệm cho biết khá nhiều để hiểu rằng tình hình của mình không có lối thoát. Lực lượng nổi dậy đã chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và tất cả các cộng sở trừ Phủ tổng thống và trại lính bảo vệ Phủ tổng thống. Diệm cũng biết Đính đã phản bội ông ta và các trụ cột khác, Tung bị mưu trí kéo đến Tổng nha cảnh sát và bị đánh bại tại đó. Cao thì bị bao vây ở Cần Thơ cùng những toán quân của mình không đến cứu được. Minh, Đôn điện thoại cho Diệm và Nhu bảo nếu hàng và từ chức, họ sẽ được đưa ra nước ngoài an toàn. Để Diệm hiểu mọi kháng cự đều vô ích, tất cả các viên tướng trong âm mưu lần lượt gọi điện thoại. Đề nghị của họ đối với ông cũng được loan báo trên đài Sài Gòn. Cũng có thể là một cạm bẫy. Nếu anh em họ đầu hàng, có lẽ họ sẽ bị giết. Nhưng ít nhất cũng cứu sống được số lính bảo vệ Phủ tổng thống. Diệm hỏi Lodge :

-   Một số đơn vị nổi dậy và tôi muốn biết thái độ của Hoa Kỳ ?
-   Tôi lo lắng cho sự an toàn của ông, vị đại sứ nói, khéo léo lẩn tránh câu trả lời bằng cách nêu ra một câu hoi : Tôi nghe nói những người chủ yếu của hành động này sẵn sàng đưa ông và em ông ra khỏi đất nước an toàn nếu các ông từ chức. Ông có biết việc đó không ?

Lodge được các tướng hứa điều ấy để tránh dư luận không hay về một cuộc mưu sát. Thực ra câu hỏi của Lodge chứa đựng một câu trả lời mà Diệm phải hiểu sau chín năm sát cánh với các quan chức Mỹ. Nêu lên câu hỏi về việc đưa ra nước ngoài an toàn trong những hoàn cảnh ấy có nghĩa ông ta đảm bảo không có cạm bẫy. Đại sứ Hoa Kỳ muốn nói với Diệm, chính phủ ông sẽ di tản ông bằng máy bay ra khỏi đất nước hết sức an toàn nếu ông ta rời bỏ quyền lực.

Diệm trả lời với ẩn ý mẫu mực của ngôn ngữ những chính trị gia muống người ta hiều không cần nói ra.

-   Không, Diệm nói, tôi không nghe nói đến việc để ra đi tự do.

Lodge cẩn thận để có sự lựa chọn chưa nói ra trong trường hợp Diệm đổi ý :

-   Nếu tôi có thể làm điều gì đó đảm bảo an toàn cho ông, xin đừng ngần ngại gọi tôi.
-   Tôi sẽ cố gắng lập lại trật tự, Diệm kết luận và không gọi lại được nữa.

Cuối cùng, ông ta lại như lúc ban đầu : một kẻ ương ngạnh lỗi thời, một quan lại cứng đầu, đắm mình trong những giấc mơ của một quá khứ tưởng tượng. Chừng nào còn sống, ông không bao giờ từ chức và không từ bỏ vai trò hoàng đế mà Lansdale đã giúp ông nhận được. Mở đầu câu chuyện điện thoại với Lodge, ông nói “ Dù thế nào , là người lãnh đạo quốc gia, tôi phải làm nhiệm vụ của mình. Đối với tôi, nhiệm vụ quan trọng hơn tất cả “.

Trại lính bảo vệ Phủ tổng thống bị một tiểu đoàn quân dù tấn công chiếm lấy trước nửa đêm. Phủ tổng thống bị chiếm lúc bình minh. Diệm và Nhu đang đêm thoát ra trốn ở nhà một người Trung Hoa ở Chợ Lớn làm giàu nhờ ân huệ của họ. Chợ Lớn ở về phía nam Sài Gòn, hai anh em hẳn nghĩ Cao còn có thể từ vùng đồng bằng đến cứu. Quân bảo vệ chiến đấu trong thành để giữ kín Phủ tổng thống phát hiện ra họ đang chết cho một chiếc vỏ rỗng. Phủ tổng thống mất, biểu tượng quyền lực của Diệm tan biến , không cần thiết có sự từ chức nữa.

Tuy vậy, sáng ngày mồng 2 tháng Mười một Diệm điện thoại cho Minh nói sẽ gặp ông ở Phủ tổng thống để ký kết đầu hàng và từ chức. Tất cả đã sẵn sàng cho buổi lễ từ hôm trước ở tổng hành dinh : một chiếc bàn phủ dạ phớt xanh bố trí ở phòng họp. Một chiếc ghế trống chờ Diệm ngồi ký. Nhưng Diệm không bao giờ đến. Cuối buổi sáng người ta tìm thấy dấu vết hai anh em trong một nhà thờ ở Chợ Lớn, nơi họ đến đọc kinh. Họ bị bắt tại đây.

Minh đã nhận đủ những dối trá của Diệm và ông sợ con cáo sống. Đối với ông, việc đưa đi an toàn nhất là cái chết của hai anh em. Ông chỉ định người phó của ông, một thiếu tá làm đao phủ. Viên thiếu tá hạ sát cả hai bằng súng ngắn, trong chiếc xe bọc thép dẫn họ, tay bị trói, đi đến tổng hành dinh. Binh lính ào tới đâm lưỡi lê vào người họ.

Lần đầu tiên trong lịch sử cuộc chiến tranh này, dân chúng Sài Gòn hoan nghênh binh lính Quân lực Cộng hòa. Các cô gái tặng hoa, đàn ông mang tới cho họ bia và sô đa. Đàn bà cung cấp nước chè, thức ăn tại các công viên và nhà trường nơi họ đóng quân.

Bà Nhu thoát khỏi cuộc sát hại vì lúc đó bà sang Hoa Kỳ làm một chuyến công du lớn tuyên truyền cho chế độ. Không đạt kết quả gì. Việc thăm dò dư luận cho thấy công chúng không tán thành bà 13 trên 1. Lodge chú ý đến những đứa con của bà, lúc đảo chính đang ở biệt thự gia đình trên đồi ở Đà Lạt, được yên ổn và cho máy bay chở sang Rome, nơi bà lẩn tránh.

Anh cả của Diệm, tổng giám mục Thục cũng thoát được. Vatican gọi ông sang Rome để tách riêng nhà thờ Thiên chúa giáo với hành động của chế độ chống Phật giáo.

Cẩn, người em út chịu trách nhiệm miền Trung Việt Nam, thành viên duy nhất trong gia đình khuyên can không được việc hòa giải với các nhà sư, cũng không gặp may. Ông ta trốn tránh trong lãnh sự quán Mỹ ở Huế với một va ly đầy vàng và đô la. Lodge đưa ông ra lên một chiếc máy bay Mỹ đi Philippines. Nhưng máy bay tạm hạ cánh ở Tân Sơn Nhất. Cẩn bị bắt giao nộp cho các tướng ; họ đưa ông ta ra hành hình. Cao nghĩ ông ta cũng sẽ bị giết nhưng ông chỉ bị đuổi ra khỏi quân đội.

Cuối cùng, Lodge không tiếc là Diệm không được an toàn ra nước ngoài. Ông nó với Halberstam :” Nếu họ còn sống, người ta sẽ làm gì họ ? Bất cứ loại phản động tồi tệ nào trên thế giới cũng sử dụng họ “.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #108 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2008, 02:27:03 pm »

 Việc lật đổ họ Ngô Đình xẩy ra quá chậm, không cứu được vùng đồng bằng và tránh thảm họa Vann đã lo ngại. Việt cộng tổ chức một đợt tấn công khắp phía bắc vùng đồng bằng và trong các đồn điền cao su. Cũng có những cuộc tập kích nặng nề vào phần nửa phía nam nhưng người ta ít để ý hơn vì những người cộng sản Việt Nam đã nắm hầu hết đất đai ở đó. Sự thiếu vắng tạm thời của chính quyền Sài Gòn dĩ nhiên tạo điều kiện cho cuộc tấn công dễ dàng hơn nhưng hai việc dù sao cũng độc lập với nhau. Thực vậy, ông Hồ Chí Minh đã bắt đầu chiến dịch này từ mười tháng trước, ngay từ chiến thắng ấp Bắc, không lệ thuộc gì chính quyền hiện hữu ở Sài Gòn. Mặt trân giải phóng dân tộc gọi cuộc tấn công ấy là đợt hai của “ phong trào thi đua với ấp Bắc “. Khi những tiểu đoàn mới của Việt cộng ra quân một tuần lễ sau đó, chế độ ngụy quyền đã như một cột gỗ bị mối ăn; một sức ép nhỏ đủ bẻ gãy nó làm hai và đận tan thành bụi.

Cuộc chiến dữ dội đột ngột nổ ra và tiếp tục không ngớt. Những đồn tiền tiêu bị tấn công khắp nơi, không một cây số đường nào có vẻ an toàn, luôn luôn bị những tay súng lẻ bắn tỉa và khi chạy xe, vấn đề chẳng phải có thể vấp phải mìn hay không mà là chiếc ô tô hoặc xe jeep nào đổ.

Các đồn tiền tiêu lần lượt bị hạ. Trong tỉnh Mỹ Tho, 25 đồn bị tiêu diệt trong một tháng, phần lớn là những đồn mạnh có từ 40 đến 50 người. Buổi sáng, người ta có thể thấy kết quả gặt mùa ban đêm trên đồng ruộng khi đếm những cột khói Việt cộng đốt các đồn bốt. Không thể ngủ ở chủng viện được nữa vì súng cối gầm suốt đêm và máy bay ném bom không ngừng theo yêu cầu vô vọng của những đồn bốt sợ hãi.

Chủng viện cũng đóng chặt như một pháo đài. Không ai được ra ngoài buổi tối để tới trung tâm cách đấy 400 mét. Cuối tháng, Việt cộng táo bạo đến mức tấn công đồn tiền tiêu cả ban ngày. Một buổi chiều tháng Mười một, tôi đang ở chỗ câu lạc bộ chủng viện để hỏi các cố vấn thì máy bay bắt đầu ném bom gần chỗ chúng tôi đến nỗi những viên đá đụng nhau trong cốc. Du kích thậm chí chẳng quan tâm đến những tiền đồn và các đợt lùng sục. Quân lính canh gác đã bỏ chạy và những người còn sót lại ở đó được Việt cộng dùng làm cho công việc quản lý. Giá tiền chuẩn để sống một tháng là 10.000 viên đạn Lính cảnh sát mất tinh thần nộp cho họ và đòi Sài Gòn 10.000 viên đạn khác để sống thêm một tháng nữa.

Khắp phía bắc vùng đồng bằng và ở những tỉnh bắc Sài Gòn đều diễn ra tình trạng như vậy. Phần lớn những “ ấp chiến lược “ mà Harkins tính tỉ mỉ không còn tồn tại. Đến cuối năm, trừ một số làng Thiên chúa giáo hoặc những cộng đồng biệt lập vẫn còn chiến đấu với Việt cộng, chế độ Sài Gòn chỉ còn nắm được những trung tâm huyện và các thị xã. Quân đội Sài Gòn chỉ phiêu lưu về nông thôn với những phương tiện đáng kể mà sức ép của Việt cộng làm tăng lên không ngừng. Những vùng trước đây Quân lực Cộng hòa đi một đại đội nay cần thiết phải có một tiểu đoàn được tăng cường xe bọc thép, có trọng pháo và máy bay yểm trợ. Gần như mỗi buổi sáng, con đường lớn của Mỹ Tho giữa vùng đồng bằng bị cắt đứt và mở lại việc lưu thông; tìm kiếm từng quả mìn, đắp lại các đường hào đào ngang đường trong đêm. Công việc buổi sáng ấy rất quen thuộc đối với những người đã cùng đánh nhau với người Pháp, được gọi là “ mở đường “. Đằng sau tấm chắn ấy do người du kích xây dựng mỗi đêm, cán bộ Việt cộng có thể bình tĩnh tập hợp tầng lớp nông dân cho giai đoạn kết thúc cuộc cách mạng ở miền Nam.

Cơ quan chỉ huy Mỹ , hoặc ban tham mưu của Harkins hay CIA đã tiếp tay cho ông Hồ Chí Minh với những qui mô không tưởng tượng được. Gần 300.000 vũ khí Mỹ phân phối cho quân bảo an tự vệ và cảnh sát. Khó nói chính xác được chuyển sang quân địch bao nhiêu nhưng quân du kích có đủ để tổ chức tấn công. Tháng Mười một, Hà Nội dốc kho vũ khí đến hàng chục nghìn. Trong 6 tháng đầu năm 1964, các nguồn tin được phép cho biết những người cộng sản Việt Nam nhận được khoảng 200.000 vũ khí Mỹ. Trừ những chuyên gia về vũ khí hạng nặng, Chính phủ Hoa Kỳ thực tế trang bị vũ khí cho chiến binh cộng sản đến từng đơn vị nhỏ ở địa phương. Những khẩu súng chế tạo lặt vặt lúc đầu chỉ còn là những vật cổ dành cho người thu thập. Hà Nội đã bắt đầu hạn chế việc phân phối vũ khí có nguồn gốc Xô viết. Họ không cần đến nữa nhưng nhất là muốn đơn giản vấn đề quản lý, chỉ hạn chế trong việc sử dụng vũ khí Mỹ tiêu chuẩn.

Phản ứng của Washington là tăng cường sức ép. Ngày 20 tháng Mười một ở Honolulu có một cuộc họp để xác định chiến lược và trình lên tổng thống kế hoạch của Krulak về một cuộc chiến tranh bí mật qui mô lớn chống miền Bắc. Colby đã cố tạo dựng một cuộc chiến tranh du kích trong nội địa bằng những đội quân xâm nhập Việt Nam do CIA đào tạo. Nhưng chính ông ta cũng đã công nhận sự thất bại. Tất cả các toán ông cho nhảy dù xuống miền Bắc hoặc bằng tàu biển lén lút đưa vào bờ ít lâu sau đều mất liên lạc điện đài hoặc bị cầm tù. Một, hai toán được những người bắt được cho “ trở về “ đưa tin, kéo theo những toán khác đi vào bẫy. Mc Namara đòi hỏi cho thêm người và tập trung vào những toán gây rối ấy. Chúng lần lượt bị tiêu diệt hết. Colby kết luận những hoạt động bí mật loại ấy, theo lối  biệt kích của Thế chiến thứ hai hoàn toàn vô ích. Ông ta nói điều đó với Mc Namara và sau này nhớ lại “ Ông lạnh lùng nhìn tôi và bỏ ngoài tai ý kiến của tôi “. Krulak muốn hoạt động trở lại nhưng với qui mô thật lớn. Người Mỹ tiếp tục cho rằng chiến tranh ở miền Nam có thể kiểm soát và “ hạn chế “ được nếu thực hiện một sức ép quân sự và tâm lý lên miền Bắc. Những người có trách nhiệm về dân sự và quân sự những năm 60 coi sức mạnh như một phương thuốc trị bách bệnh và nghĩ rằng dự trữ quyền lực của họ không có giới hạn. Họ tưởng có thể làm cho những người nông dân sợ phải bỏ rơi Việt cộng. Một khi việc thâm nhập và giúp đỡ của miền Bắc không còn, thì bạo lực ở miền Nam sẽ giảm đáng kể. Không ai thấy rằng sự nổi dậy khai thác từ bản chất của chính phủ Sài Gòn và người Mỹ.
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Sáu, 2008, 04:38:13 pm gửi bởi TraitimdungcamHP » Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #109 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2008, 04:40:13 pm »

 Mc Namara bị quyến rũ bởi khẳng định của Krulak cho rằng Colby thất bại vì quá dè dặt, một hoạt động lớn của phía quân sự sẽ thành công. Mặt khác, ông biết Kennedy muốn thử kế hoạch của Krulak, thoả mãn được nhận thức lãng mạn của ông ta về những hoạt động bí mật . Mc Namara một lần nữa đóng vai trò hình nộm của tổng thống. Ở Honolulu ông tác động những cấp thẩm qyuền quân sự cao nhất đến hỗ trợ để có một quyết định.

Hai ngày sau hội nghị Honolulu, John F. Kennedy bị một người bệnh tâm thần tên là Lee Harvey Oswald ám sát ở Dallas..

Cuộc chiến tranh Lyndon Johnson thừa kế đối với nước Mỹ không là bao nhiêu so với quá trình tiếp theo. Chỉ có 17.000 quân lính ở miền Nam. Không tới 120 người chết và số bị thương nằm ở bệnh viên không đến 250. Nhưng dù sao cũng là một cuộc chiến tranh của nước Mỹ. John Kennedy đã phất lên lá cờ đầy sao, đổ máu và đặt dưới sự bảo vệ của Hoa Kỳ nửa đất nước Việt Nam phía nam vĩ tuyến 17 mà Hiệp định Geneve năm 1954 gọi là “ vùng trung lập “ nhưng người Mỹ tuyên bố “ Nước có chủ quyền tên là miền Nam Việt Nam “. Lyndon Johnson không có ý định như Kennedy trở thành tổng thống đầu tiên thua trận. Vả lại nếu năm 1960 ông được bầu vào chỗ của Kennedy, chắc ông sẽ không chỉ đạo cuộc chiến tranh này khác hơn. Bốn ngày sau khi Kennedy chết, ông chính thức xác nhận trong một bản ghi nhớ tuyệt mật về an ninh quốc gia ý định tiếp tục cuộc chiến và chấp nhận những kết luận của Hội nghị Honolulu tung ra một hoạt động bí mật qui mô lớn chống miền Bắc.

Mc Namara trở lại Việt Nam vào cuối tháng Chạp. Trong báo cáo gửi Johnson, ông đổ lỗi cho họ Ngô ĐÌnh và những kẻ cuồng tín như Cao. “ Tình hình trong nước suy sụp từ tháng Bảy nặng hơn chúng ta hình dung nhiều vì những báo cáo sai sự thật “, ông đã viết thế. Mốc tháng Bảy là bước đầu suy thoái cộng nhận sự phân tích của Cơ quan tình báo của Bộ ngoại giao là đúng. Nhưng không ai cố gắng tìm kiếm trước ngày ấy, xem lại các báo cáo của Vann, Porter, Ladd và những cố vấn đã đặt vấn đề trước đó lâu hơn nhiều.

Không người nào trong hệ thống chóp bu có thể cho phép tiến hành một cuộc điều tra về Harkins vì Mc Namara và Taylor cũng có tội như ông ta. Ông ta không bị bãi chức và cho về vườn, cũng không bị khiển trách chính thức. Mc Namara và Taylor chỉ đành quở trách riêng, không bảo vệ ông ta trước sự chế riễu của quần chúng và cuối cùng hạ nhục bằng cách không mời ông ta đến hội nghị chiến lược ở Honolulu mà triệu tập người phó mới, William Westmoreland họ bổ nhiệm trong tháng Giêng 1964. Thậm chí họ không thuyên chuyển, vẫn để ông ta làm tổng chỉ huy ở Việt Nam sau cuộc đảo chính tám tháng nữa. Tháng Sáu năm 1964, khi trở về ông được đưa tới Nhà Trắng, tổng thống tặng Huy chương phục vụ đặc biệt để “ nhân danh đất nước", “ hoan nghênh"  một người phục vụ tốt và trung thành.

Kế hoạch về chiến dịch lật đổ bí mật miền Bắc Việt Nam mang mật danh “ kế hoạch hành quân 34A “ do Krulak đệ trình lên tổng thống tháng Giêng năm 1964. Những cuộc tập kích dự kiến là những “ hoạt động phá hoại “ nhằm đánh vào công nghiệp và kinh tế miền Bắc, được ban tham mưu của Harkins chuẩn bị và kiểm soát chứ không do lực lượng Sài Gòn. Sau khi được Johnson chuẩn y, những cuộc tấn công bắt đầu ngày mồng 1 tháng Hai với những lính đánh thuê Việt Nam, Trung Hoa và Philippines. Tàu phóng ngư lôi dội bom vào những địa điểm ra-đa và những căn cứ bố trí ven biển. Lính biệt kích được chở từ biển vào làm nổ tung đường sắt và cầu cống. Những toán phá hoại nhảy dù trong nội địa tiêu hủy các mục tiêu. Những toán người Việt Nam được huần luyện về chiến tranh tâm lý thâm nhập ban đêm cố lung lạc lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ Hà Nội. Tàu đánh cá của miền Bắc bị bắt đưa vào Nam thẩm vấn rồi thả về ngoài khơi bở biển miền Bắc.

Trong thời gian đó, ở Sài Gòn, Lodge vất vả bơi trong một biển mưu mô phức tạp hơn ông nghĩ. Tình hình chắc không cứu vãn được đối với một chính phủ bất kỳ ở miền Nam nhưng “ Minh Lớn “ tỏ ra âm mưu tốt hơn lãnh đạo. Ông ta thiếu quyết đoán, không làm gì để phối hợp một sự cố gắng rời rạc về chiến tranh. Với ba thành viên khác trong nhóm nổi dậy, Đôn, Kim và Đính mà họ hứa sẽ dành cho chức bộ trưởng Nội vụ, họ không cắm rễ trong nhân dân và có những lỗi lầm của các quan lại bảo thủ.

Henry Cobot Lodge cũng không nghĩ như Vann rằng Hoa Kỳ phải nắm lấy việc lãnh đạo chiến tranh. Ông đã biết rõ hệ thống những nước “ được bảo trợ “, đã thấy họ thành công và nghĩ rằng chính quyền Sài Gòn phải giữ lấy việc chỉ huy các lực lượng vũ trang và phải cố gắng trong chiến tranh. Như ông đã giải thích trước cuộc đảo chính, ông mong có một chế độ ít nhất cũng ngang mức “ những chính phủ rất vô vọng mà chúng ta đã làm mọi cách có kết quả để những nước ấy khá mạnh tự đứng vững được “. Nhưng ông không đạt được điều tổi thiểu ở chính phủ nổi dậy của Minh. Vậy là ông để ông ta bị lật đổ vào cuối tháng Giêng năm 1964 bằng một cuộc đảo chính thứ hai bởi một tướng nhiều tham vọng hơn, Nguyễn Khánh , lãnh đạo, 36 tuổi, cũng là thành phần thuộc nhóm ưu tú Pháp – Việt.

Khánh, thường đội mũ nồi đỏ, học ở trường nhảy dù Pau số 1 quân đội Bảo Đại năm 1949. Tuy bước đầu sáng sủa, ông ta mau chóng tỏ ra cũng thiếu quyết đoán và không lãnh đạo được như những người đi trước. Tất cả sức lực ông dành cho những mưu kế chống các tướng tá muốn chiếm chỗ của ông như ông đã chiếm của Minh. Conein chán nản nói “ Mỗi người trong những kẻ tồi tệ ấy vào Phủ tổng thống tự hỏi có thể làm thế nào cho tốt để ở đấy với tinh thần “.

Về phía Mỹ, cũng không còn sự gắn bó chặt chẽ nữa. Lodge và Harkins không nói chuyện với nhau vì hiềm thù chồng chất sau cuộc đảo chính và bởi Harkins tắm mình trong những giấc mơ thắng lợi mới trong lúc Việt cộng tiếp tục gặm nhấm đất nước.

Cao nguyên miền Trung cũng bắt đầu chịu số phận của phía bắc vùng đồng bằng và những đồn điền cao su. Công việc của CIA và những cố gắng của lực lượng đặc biệt trong những người miền núi không có hiệu quả vì Diệm đã từ chối để các dân tộc thiểu số tự trị. Ông ta cố “ đồng hóa “ họ, điều mà những người miền núi không muốn. Đầu năm 1964, Việt cộng bí mật kiểm soát vùng này và công khai khẳng định mình trên đồng ruộng vùng ven biển vốn là một căn cứ Việt Minh thời chống Pháp. Lodge có thể lừa gạt vị tổng chỉ huy để tổ chức riêng một cuộc đảo chính nhưng ông cần ông ấy để tổ chức những nhân tố Mỹ cho cố gắng chiến tranh. Khi William Westmoreland đến nhậm chức phó, Lodge đề nghị dành cho ông một văn phòng trong Đại sứ quán để họ có thể làm việc với nhau. Ngạc nhiên, Westmoreland trả lời , ông là lính và thủ trưởng của ông là Harkins.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM