Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:49:31 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự lừa dối hào nhoáng  (Đọc 166207 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #120 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2008, 11:19:36 am »

 Ở nhà cậu chẳng có gì thay đổi. Thực ra tình hình còn tồi tệ hơn. Myrtlr say mê một lái xe taxi nghiện rượu, tiêu pha tất cả số tiền của mình và của Frank cho anh bạn mới này, thậm chí đưa anh ta về nhà và đuổi Frank Vann sang ngủ ở một phòng khác. John đề phòng mẹ có thể trốn đi vào mỗi mùa thu nên tìm cách tự lo cho mình trong suốt mùa hè. Johnny Spry bây giờ có một việc làm kiếm được tiền : phụ trách công việc giao hàng cho xưởng bánh, ông ta đưa cậu vào giúp chạy xe. John và người bố chính thức trở thành bạn tốt của nhau.

Hopkins đảm bảo thương nhân cấp học bổng cho Vann sẽ lại cung cấp vào mỗi tháng Chín. Năm 1940, trong mùa hè đầu tiên John về nhà. Hopkins dạy cho cậu chương trình lịch sử châu Âu và văn học Anh để cậu có thể nhảy vượt một lớp. Ông tìm chương trình của Ferrum để John học và cho thi học kỳ ở tu viện gần chỗ nhà cậu. Ông cho người mình bảo trợ những điểm rất tốt và chứng nhận trong một bức thư gửi Ferrum là John đạt kết quả trong hai môn chính với điểm 19 môn sử và 18 môn Anh văn. Frank được Ferrum cấp bằng vào tháng Sáu năm 1941 và bắt đầu mùa thu vào trường.

Tháng Sáu năm 1942, hai tuần lễ trước khi John 18 tuổi, cuối cùng Myrtle cho phép Frank Vann nhận cậu làm con nuôi. Như vậy,. John Paul LeGay trở thành John Paul Vann theo quyết định của tòa án Norfolk. John đã nói trước với mẹ nếu bà chống lại thủ tục nhận con nuôi ấy, anh sẽ tự thay đổi họ lúc trưởng thành. Myrtle bây giờ đã có thể khá tự hào về con trai mình để chấp nhận đề nghị của anh. Bà kể với bà chị Mollie chính bà nhận được khoản học bổng cho con học ở Ferrum. Hai mươi tám năm sau con trai của Myrtle phải ghi việc nhận mình làm con nuôi ấy vào một mẩu giấy tờ chính thức. Anh đổi ngày thực tế, đưa lên sớm hơn 10 năm, vào 1932.

John không muốn học xong trường trung học sau khi quân Nhật đánh Trân Châu Cảng tháng 12 năm 1941 nhưng hình như Garland Hopkins thuyết phục anh phải hoàn thành nó. John muốn đi đánh nhau ngay. Anh không biết có ai hối tiếc việc Nhật cho Hoa Kỳ một lý do để tham chiến không.

Vào cuối năm 1942, giữa năm thứ hai ở trường trung học Ferrum. Vann quyết định không chờ nữa. Một số bạn cùng lớp đã ra mặt trận. Họ cho rằng Tổ quốc đang lâm nguy và họ không chần chừ lâu hơn được. Những người đã 18 tuổi, được gọi nhập ngũ như Vann trong năm 1942 mà chưa mặc đồng phục bắt đầu cảm thấy xấu hổ. Vann chờ để gia nhập hàng ngũ quân đội vì anh muốn là phi công máy bay ném bom và Hopkins có vẻ đã thuyết phục được nếu anh học xong trung học, anh sẽ có cơ may lựa chọn tốt hơn.

Trở thành hiệp sĩ trên không là giấc mơ Vann chia sẻ với nhiều thanh niên thế hệ anh. Những gương mặt huyền thoại của Chiến tranh thế giới thứ nhất là những phi công và cũng là hình ảnh lãng mạn trong cuộc chiến tranh mới này. Vann thấy họ trong phim thời sự : những anh hùng bất tử của lực lượng không quân hoàng gia với dải băng trắng và áo blu dông da cừu, bước lên chiếc máy bay Spitfire để làm im tiếng máy bay Luftwaffe kiêu ngạo. Lái máy bay có nghĩa là chiến đấu trong số người ưu tú. Nhưng niềm say mê Vann cảm nhận vượt qua hình ảnh sùng bái thường tình. Mollie thấy trong ý thích đó cũng là việc tìm kiếm tự do như Vann thể hiện trong bước nhảy nguy hiểm từ mái hiên xuống. Khi kiếm được vài xu, anh không tiêu cho cái ăn mà mua một mẩu nhỏ máy bay tháo rời. Anh gọt những mảnh gỗ nhẹ, dán lại với nhau, cẩn thận theo lời chỉ dẫn sơn màu và đó là biểu tượng của một trong những máy bay đơn giản mà các anh hùng phi công của Thế chiến thứ nhất chiến đấu tay đôi. Những khuôn mẫu ấy là đồ chơi duy nhất anh không san sẻ với các em và Gene.

Anh mơ được trở thành một trong những phi công tươi cười ấy, ngón tay cái chỉ lên trời anh thấy trong phim thời sự trong lúc động cơ máy bay của họ rú lên trên cầu hàng không mẫu hạm để rồi vút lên trên bầu trời Thái Bình Dương và đụng đầu với máy bay tiêm kích Nhật. Anh về nhà nghỉ Noel năm 1942 với một bức thư giới thiệu của chủ tịch Ferrum gửi lực lượng không quân. John có vẻ thất vọng vì câu trả lời của văn phòng tuyển mộ Norfolk. Anh trở lại Ferrum tiếp tục học để nhà trường chiếu cố thời chiến tổng kết cho anh hai năm đầy đủ dù anh gia nhập quân đội trước khi kết thúc học kỳ. Tháng Ba, anh lên tàu hỏa đi Richmond đến gặp người tuyển quân vào hàng không. Lần này câu trả lời không làm anh thất vọng. Có quá nhiều anh hùng tiềm tàng để quân đội hứa hẹn nhưng John sẽ là một thí sinh xuất sắc vào trường Không quân. Có lẽ để có cớ nói với Myrtle vốn sợ anh chết, thúc dục anh tìm một việc làm dân sự. John để người ta phiên chế tân binh nhưng với điều kiện vào không quân.

Sáng sớm ngày 10 tháng Ba năm 1943, John lại lên tàu hỏa từ Richmond đi khám sức khỏe. Anh đã 18 năm 8 tháng tuổi. Hồ sơ quân đội ghi John Vann cao một mét sáu mươi tám , nặng năm mươi sáu ki lô. Một bác sĩ ghi « Nước da hung ». John xếp hàng nhiều giờ cùng những thanh niên khác cũng như anh, chỉ mặc quần đùi trả lời những câu hỏi liên quan đến sức khỏe, sở thích về rượu, ; đọc chữ kích thước khác nhau để thử tầm nhìn ; cúi xuống để người ta chọc một ngón tay đeo găng cao su vào lỗ đít ; chích thử máu ( John thuộc nhóm A) và chụp phổi phát hiện bệnh lao ( John âm tính). Rồi họ mặc quần áo, tập trung trong một gian phòng rộng thề vâng theo lệnh cấp trên. John nhận một chiếc vé tàu hỏ trở về Nofolk và một lệnh tập trung ở Trại Lee ở Virginia sau đó một tuần. Trung tâm tuyển chọn cũng đưa cho anh một ngân phiếu mua vé từ Norfolk đến Trại Lee. Tuần cuối cùng của cuộc sống dân sự, John án bánh kẹp thịt và nước giải khát ở quán của Mollie, dành dụm tiền cần thiết cho sau này. Năm 1943, lương của anh lính binh nhì chỉ được 50 đô la mỗi tháng.

Đến Trại Lee, anh ký tên « Johnny Vann » vào một bản xác nhận tình trạng sức khỏe vẫn như một tuần trước đây đã kiểm tra. Tuổi trẻ của anh kết thúc ở bước đầu cuộc sống quân đội. Từ nay, trên mọi giấy tờ anh ký là « John P. Vann ».

Trong năm ngày đầu ở Trại Lee, quân đội tác động mạnh để làm anh không ổn định về tâm lý và bắt đầu từ số không để dễ dàng biến chuyển sang một thanh niên chiến đấu. Anh phải bỏ quần áo thường kể cả khăn tắm, mặc đồng phục kaki vải xanh ô liu của quân đội. Người ta cắt tóc ngắn cho anh, lại qua một đợt khám sức khỏe mới kiểm tra kết quả khám lần đầu, được tiêm phòng đậu mùa , thương hàn và uốn ván.

Một trung sĩ hét lên để tân binh ra khỏi những căn lều sắp hàng điểm danh rồi chửi rủa, làm cho họ bước đi theo hàng cho đến nhà ăn tập thể. Quân đội cũng quan tâm đến trình độ văn hóa của từng người. John và các bạn trải qua một loạt bài kiểm tra để có thể sử dụng tốt nhất khả năng của họ ; anh đạt 19 điểm về lái máy bay với nhận xét «  Đủ tư cách để chỉ định làm học viên lái máy bay ». Viên thư ký cũng ghi John đã được giải trình về đạo đức giới tính sau hôm đến Trại Lee.

Mặc dù được điểm tốt trong kiểm tra năng khiếu và báo cáo của trung tâm tuyển chọn Norfolk đính kèm hồ sơ ghi rõ anh tình nguyện vào không quân, con đường còn lại đi đến vị trí phi công còn dài. John phát hiện ra điều làm nguyện vọng của anh khó thực hiện được : trại Lee là trung tâm chính huấn luyện quản lý hậu cần của quân đội trong Thế chiến thứ hai. John được điều về đấy trong đội phục vụ quân đội, triển vọng nhằm sửa chữa các loại xe cho đến hết chiến tranh. Ngày 22 tháng Ba năm 1943, anh được gửi đến học ở kho Atlanta rồi người ta cho anh theo những lớp nhập môn về máy móc ô tô.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #121 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2008, 04:36:28 pm »

Vann viết một bức thư cho Ferrum để xin những thư giới thiệu khác và gửi thêm một đơn xin chuyển về trường lái máy bay. Nhờ những thư ấy và đơn tình nguyện mới , anh được triệu tập gặp các sĩ quan của Trung tâm đào tạo phi công Atlanta. Bà cố vấn sư phạm đã cho anh làm trợ lý giảng dạy tuyên bố trước hội đồng bà hy vọng vào « những kết quả xuất sắc nhất » của John Vann. Bà viết trong báo cáo « Tôi chờ đợi anh ấy sẽ vượt qua những nhiệm vụ qui định ».

Ngày 19 tháng Sáu năm 1943, khoảng ba tháng sau khi đến Atlanta, tiểu đoàn 139 nhận được một bức thư của thiếu úy, thư ký Hội đồng Trung tâm đào tạo không quân. Ông này nói trong thư :

« Chúng tôi hân hạnh thông báo, anh đã thỏa mãn mọi cuộc thi cần thiết để được nhận vào trại huấn luyện không quân ». Ông cũng cho biết sắp tới Vann sẽ được thuyên chuyển.

Đối với quân đội « sắp tới » có nghĩa là một tháng ở Atlanta và hai tháng nữa ở một trung tâm quan sát trước khi John nhận được điều anh mong muốn : lệnh điều động đến phân đội 51 huấn luyện không quân ở Rochester bang New York. Trung tâm đặt ở những ngôi nhà của Học viện thương mại, dạy những lý thuyết cơ bản về hàng không cho những người tập sự. Những ai đạt kết quả trong giai đoạn đầu này sẽ được học tập chi tiết hơn và đào tạo thực sự về lái máy bay.

Vann đến Rochester ngày 18 tháng Chín 1943 và ngay từ đầu đã đạt kết quả rất tốt. Các thầy nhận ra ngay ở anh khả năng dìu dắt người khác, có thể là một trong những học viên sĩ quan của phân đội. Tháng Sáu, anh nhận bằng tốt nghiệp của Ferrum, trong đó có một ảnh học sinh và một câu nhận xét. Bên cạnh ảnh là một John Vann tươi cười, người ta đọc được :

Thông minh, sáng suốt – ai có đức tính đó
Sẽ là môn đồ của nền tự do

Họ gặp nhau trong một phòng trà vào ngày chủ nhật trước lễ Noel 1943. Đã khoảng 3 giờ chiều, Mary Jane và bạn cô, Nancy thường đến đây uống một cốc nước đá sau khi xem phim. Là những cô gái được giáo dục tốt, họ ngồi trong một lô hai người. Anh ngồi trước mặt với năm học viên sĩ quan. Cô nghe anh gọi một bánh kem mứt táo người ta không bán ở chỗ này, mẹ Mary Jane lại làm món này ngon đặc biệt. Rồi anh quay lại nói chuyện với cô. Anh bảo đã chú ý đến cô chiều thứ bảy tuần trước khi đi trên hè đường trong lúc anh đang diễu hành đi đầu đơn vị.

Tuy nhớ ngay ra anh vì cô cũng chú ý đến anh, cô vẫn im lặng một lúc. Cho đến lúc đó, cô chưa bao giờ trả lời một người lạ về một loại chuyện như vậy chỗ đông người. Cô 16 tuổi, đã học xong năm cuối trường trung học. Giọng mũi vùng Virginia cô thấy dễ nghe nhưng không phải đấy là đặc điểm duy nhất khác với những chàng trai khác ở trường cô thường cùng đi chơi. Mái tóc vàng của anh chải ra phía sau theo mốt. Bộ đồng phục xanh đậm của học viên sĩ quan có dáng rất đẹp với những cánh nhỏ bằng bạc ở ve áo và may vào ống tay áo trái là phù hiệu tròn của những phi công, trình bày một cánh và chong chóng.

Anh tươi cười , nghiêng người về phía trước khi nói chuyện. Cô có cảm giác anh hiểu rõ đàn bà hơn cô biết về đàn ông. Anh xứng đáng là người cô có thể nói với các bạn mình đó là « một con sói trẻ ». Tất cả những gì người ta nói phải đề phòng ở một đàn ông cô đều thấy thích ở anh. Cô vi phạm lời hứa với mẹ và trả lời anh vào chiều thứ bảy trước cô đi trên hè phố và bây giờ cô nhận ra anh. Cô quên hết phần còn lại của câu chuyện trừ việc anh hẹn gặp. Cô từ chối, nói mẹ cô không cho phép đi ra ngoài với một người lạ.

Chiều hôm sau, anh đến chỗ cửa hàng lớn cô bán hàng sau giờ học. Anh lấy cớ mua hàng để mời cô đi ra ngoài cùng anh. Cô trả lời không thể nhưng nếu anh gặp bố mẹ cô thì có lẽ bà sẽ cho phép. Sao anh không đến ăn bữa đêm Noel cùng một người bạn giới thiệu với bạn cô ? Cô đề nghị như vậy. Thay câu trả lời, cô thấy trên mặt anh nở một nụ cười mà cô thích đến thế. Vậy thì cô ở đâu và phải đến lúc mấy giờ ?
Anh đến theo giờ hẹn, đi cùng một người bạn. Anh làm bố mẹ cô xúc động vì lễ phép, thật thà và những hiểu biết anh trả lời về việc tập luyện của học viên sĩ quan, khác hẳn những thanh niên mười chín tuổi khác mà họ biết. Mẹ Mary Jane chiêu đãi anh món kem mứt táo mà con gái bà đề nghị. Sau bữa ăn, bố mẹ để bốn thanh niên trang trí cây thông. Họ nói chuyện, cười nhiều và liếc nhau một ít. Lúc ra về, anh nói với mẹ Mary Jane anh vừa trải qua đêm lễ Noel đẹp nhất trong đời. Chị cả Mary Jane đề nghị tiễn các chàng trai về tận nhà. Anh còn liếc nhìn Mary Jane một ít nữa trong xe.

Họ không gặp lại nhau trong hơn một năm. Anh đã dự xong lớp huấn luyện ở Rochester và qua Noel trên con tàu đưa anh đến Trung tâm đào tạo Nashville. Ngay sáng hôm ấy , anh điện thoại tạm biệt Mary Jane, gọi cô là « em thân yêu » và nói những lời âu yếm.

Ở Nashiville, anh thực hiện chuyến bay đầu tiên trong một máy bay liên lạc nhỏ. Anh gửi cho cô một bức thư tình với bức ảnh như hình ảnh huyền thoại anh mong ước : đứng bên cạnh chiếc máy bay, mặc áo blu dông da cừu, chiếc dù mang sau lưng, bàn tay phải đeo găng đặt trên một thanh ngang máy bay. Chiếc mũ cát két đội ngang và mái tóc lượn sóng rủ trên trán. Anh ký vào bức anh như đã ký dưới thư «  Love, Johnny ».
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #122 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2008, 03:03:15 pm »

 Thư trả lời của Mary Jane không làm anh thất vọng và bản tình ca của họ nảy nở qua những bức thư, ảnh trong những tháng tiếp theo. Đối với cô, anh là sức sống năng động, lòng nhiệt tình, sự phiêu lưu trong suốt cuộc đời bình lặng cô chưa hề biết. Đối với anh, cô không chỉ có ngoại hình hấp dẫn mà còn đại diện cho giới tư sản, của tình yêu gia đình, không biết đến sự xấu hổ mà anh ước mơ khi dạo qua những khu giàu có của Norfolk, chắc chắn cuộc sống người ta trong đó cũng phải tuyệt vời như mặt ngoài. Cô tên họ là Mary Jane Allen, đã biết rõ những gì anh không có như một cô bé mẫu mực. Bố cô có một địa vị khiêm tốn nhưng danh giá ở Rochester, là thư ký hạng nhất của toàn án thành phố và thư ký hiệp hội luật sư. Justus Smith Allen, mà vợ và bạn bè gọi ông là « Jess » niềm nở, nhỏ người và thấp đậm, tính tình trầm lặng nhưng có nghị lực. Mỗi buổi chiều, ông về nhà lúc năm giờ rưỡi đúng để đọc báo trước khi ăn tối.

Mẹ Mary Jane là Mary Andrews, con gái những người nhập cư Rumani, hòa đồng nhanh chóng với cuộc sống Mỹ bằng thay đổi họ và chuyển theo giáo phải trưởng lão. Như con gái, Mary gặp người đàn ông của đời mình lúc 16 tuổi. Ông đã 27 vào thời kỳ ấy, làm thư ký ở xưởng Genereal Motors. Vào mùa thu, cưới nhau rồi, Mary và Jess đến ở Rochester khi Jess tìm được việc làm ở tòa án. Ông nghĩ nghề này quan trọng hơn và vững chắc hơn.

Jess có lý cả hai mặt. Cơn điên phạm tội và việc kiện tụng tách rời cuộc khủng hoảng kinh tế. Hoàn cảnh vững chắc của ông đảm bảo cho gia đình tránh được cảnh nghèo khổ mà hàng triệu gia đình khác trong nước phải gánh chịu sau năm 1929. Lúc Mary Jane còn học tiểu học và sự suy thoái lên đến cùng cực, gia đình Allen chuyển từ căn nhà khiêm tốn ở ngoại ô đến một ngôi nhà sang trọng trong thành phố. Nhà của gia đình Allen cũng như các nhà bên cạnh đứng sừng sững sau những bụi cây được cắt xén , đầu một thảm cỏ rộng.

Có bốn phòng ngủ ở tầng hai và một mái hiên rộng có thể ngủ ở đấy trong mùa hè. Phòng ăn ở tầng trệt có kèo giả, cửa kính, trang trí chiếc đèn nhiều ngọn ở giữa phòng. Jess bố trí căn hầm làm phòng chơi bài với một máy hát quay tay và một chiếc bàn ping pong. Tuy mùa hè ở Rochester không quá nóng, những tháng Bảy, Tám năm nào gia đình cũng thuê một căn nhà một tầng bên bờ hồ Conesus phía bắc bang New York, cách Rochester một giờ đi đường. Cuối tháng sáu Mary Allen đưa con đến đó, mỗi đợt nghỉ cuối tuần, Jess đi xe đến, rồi cùng nghỉ hè với gia đình. Ông bà Allen chỉ có hai đứa con, mỗi đứa có một phòng và một phòng dành cho bạn bè. Mary Jane , cô con gái thứ hai sinh ngày 11 tháng Tám năm 1927. Cô không khờ dại nhưng thiếu tò mò trong học vấn nên không phải là một học sinh xuất sắc. Cô thích những việc trong nhà và giống một phụ nữ truyền thống chơi búp bê, may và, dọn dẹp nhà cửa.

Lúc bé, Mary rất ngọt ngào , tươi cười, tóc lượn sóng , lễ phép và có những chiếc áo dài theo mốt. Mary Jane được giáo dục tôn trọng giá trị gia đình, Nhà thờ và Tổ quốc mà không bao giờ cô đặt lại vấn đề. Bà nội cô có ảnh hưởng lớn đối với cô trong lĩnh vực này. Vả lại , hai bà cháu hình như có những điểm tương đồng. Mỗi lần bà nội, một người đàn bà nhỏ, đến thăm gia đình Allen ở Rochester hoặc ở căn nhà ven hồ vào mùa hè, Mary Jane muốn ở bên bà suốt ngày. Bà dạy cho cháu may, đan và kể những chuyện quá khứ của bà. Hai trong mười người con bà chết bởi dịch cúm và Jess mất bố từ khi còn rất bé. Trong nhà không có nhiều tiền và bà phải nuôi dưỡng gia đình rất khó khăn. Bà tự hào mình đã làm tròn trách nhiệm với Jess và bảy anh chị em khác đến lúc trưởng thành. Bà nói với Mary Jane, một người đàn bà phải kiêu hãnh trong vai trò người mẹ. Nếu người đàn ông phải đảm bảo những điều cần thiết cho gia đình thì giáo dưỡng là trách nhiệm của người đàn bà. Trong thời kỳ khó khăn, một người mẹ phải hy sinh cho các con, cho chúng ở bên cạnh mình và tiếp tục học hành cho đến khi trưởng thành. Nếu một người đàn bà làm tốt bổn phận của người mẹ, bà ấy cũng làm tròn nghĩa vụ đối với Chúa trời và đất nước vì, bà nói, không có gia đình thì Nhà Thờ, Tổ quốc cũng không thể tồn tại.

Mary Jane đã bắt đầu chuẩn bị hành trang ngày cưới mà cô ước mơ ngay trước khi gặp Vann, từ khi cô có việc làm ngoài giờ ở cửa hàng. Cô mua vải trải giường, khăn, những chiếc gạt tàn đẹp và những vật linh tinh khác. Bà mẹ không bao giờ chống đối vì Mary Jane có khiếu thẩm mỹ bẩm sinh. Sau khi gặp John, vấn đề ai sẽ là người đàn ông trong đời cô đã được giải quyết. Trừ buổi vũ hội sau lễ phát bằng tốt nghiệp, cô đi cùng một cậu con trai trong lớp học mà cô quen biết từ nhỏ, Mary Jane không lui tới với người nào trong 16 tháng cho đến khi gặp lại John. Thật thơ mộng khi là người yêu của một người lính chiến đấu hoặc chuẩn bị bước vào cuộc chiến tranh cứu vớt cả nhân loại. Không có tuần nào không có ảnh « một người vợ chưa cưới thời chiến tranh » xuất hiện trên  chuyên mục thời thượng của báo chí Rochester. Buổi lễ phát bằng tốt nghiệp thấm đượm tinh thần ấy. Một học sinh đọc bản tiểu luận « Tôi chiến đấu vì điều gì ». Một nữ sinh cũng đọc luận thuyết của mình « Chắp tay trên biển cả ». Một cô khác hát « Lời cầu nguyện của trẻ em nước Anh ».

Ở trung tâm tuyển dụng Nashville, Tennessee, Vann được may mắn chọn vào lớp huấn luyện phi công lái tuy qua những đợt thử năng khiếu anh đạt những kết quả tốt nhất về ném bom và hoa tiêu. Mùa đông xuân và hè năm 1944, anh đi khắp miền Nam, từ trại huấn luyện này đến trại huấn luyện khác. Ở Bainbridge, Georgia, anh bay lần đầu tiên một mình chỉ sau tám đến mười giờ học. Sau đó, anh đến Maxwell tập bay theo đội hình. Cuối cùng, anh về Trường đại học hàng không ở Florida.

Sự thỏa mãn và yêu thích bay tự do từ đầu lôi kéo anh đến với hàng không nay lại là nguyên nhân cản trở anh thực hiện ước mơ trở thành phi công lái. Một ngày tháng Tám, anh lao vào những động tác nhào lộn trên chiếc máy bay huấn luyện. Để trừng phạt , anh bị đuổi ra khỏi trường. Trong văn bản chính thức, người ta giấu bản chất của sự việc khi viết « Gạch tên khỏi tập luyện vì yếu sức trầm trọng ». Chán nản vì hình phạt ấy, anh nói dối Gene, đứa em thần tượng hóa anh, là các nhà phẫu thuật quân đội phát hiện ra một dấu vết trên phổi bị ho lao từ thời thơ ấu (John thổ lộ sự thật với Mary Jane mấy năm sau đó). Tuy vậy, các giáo viên vẫn nhận xét thái độ của anh là mẫu mực ( Anh nhận được Huy chương hạnh kiểm tốt ở Maxwell ) và giới thiệu anh về Trường phi hành đoàn San Marcos ở Texas. John được biên chế vào Tháng Mười, tốt nghiệp Tháng Giêng năm 1945 và giữa tháng Hai nhận đội cánh phi hành đoàn với cấp bậc thiếu úy.

John gửi cho Mary Jane một bức ảnh của mình trong bộ đồng phục sĩ quan mới : chiếc bludông ngắn thắt chặt ngang mình người ta gọi là blu dông Ike vì là kiểu mặc tướng Eisenhower ưa thích nhất, nổi lên trước một tấm vải vẽ trời và mây. Anh bẻ gãy bờ mũ cát két để có vẻ thích chiến đấu, để một tay vào háng, đầu nghiêng về một bên nhìn ra xa, hướng về số phận của  mình. Anh ghi vào sau lưng bức ảnh « Anh xin thề, em yêu, chính tay thợ ảnh bốn xu ở hội chợ buộc anh đứng ở tư thế này – nhìn xa về bầu trời chuyển động – và có Chúa biết vì sao ».
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #123 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2008, 04:22:54 pm »

 John điện thoại cho Mary Jane vào tháng Tư. Anh có một đợt nghỉ phép ngắn trước khi chuyển về Nebraska và anh đến thăm cô lần đầu sau bữa ăn đêm Noel. Sau nhiều đợt thư từ, anh đến Rochester ngày 12 tháng Tư năm 1945, Mary Jane nhớ ngày ấy vì là hôm Franklin Roosevelt chết và bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống của Harry Truman. John và Mary cùng đi phố, anh mua cho cô một chiếc nhẫn cưới. Anh không đề nghị cưới cô và cô cũng không nói đến trước khi có chiếc nhẫn. Giữa hai người chỉ ngầm ý họ sẽ cưới nhau.

Mẹ của Mary Jane bắt họ phải chờ hai năm nữa. Chàng trai này tuy lâu ngày họ không gặp, đã có một ấn tượng tốt đối với gia đình Allen nhưng họ muốn biết nhiều hơn trước khi cho anh con gái họ. Bà mẹ cho gia đình rất quan trọng nên muốn biết gia đình Vann có phù hợp không. Bà cũng mong con gái có nền học vấn cao hơn nghĩa là phải vào đại học ít nhất hai năm trước khi lấy chồng. Sau khi học xong trung học, Mary Jane theo những lớp thư ký trong một trường thương nghiệp, học đánh máy chữ và tìm được một việc làm thư ký. Mẹ cô đã để dành tiền cho Mary Jane được vào trường đại học Rochester từ mùa thu 1945.

Lần đầu tiên trong đời Mary Jane chống lại mẹ. Mùa hè năm ấy, John điện thoại cho cô từ Nouveau – Mexique,nơi anh được cử đến một lớp huấn luyện đặc biệt về ra đa trên siêu pháo đài bay B-29, máy bay ném bom bốn động cơ lớn nhất trong Thế chiến thứ hai. John đề nghị cô đi tàu hỏa đến gặp anh. Cô  nhận lời ngay không xin phép bố mẹ lúc ấy đang đi du lịch. Mary Jane thuyết phục chị, Doris, đi kèm . John thu xếp để hai cố ở trong một nhà trọ của căn cứ không quân và tìm một người bạn cho Doris. Hai chị em trải qua những ngày tuyệt vời trong bể bơi và dự các dạ hội. Tháng Tám , Mary Jane ép mẹ thông báo ngày cưới. Giấy báo hỷ xuất hiện ngày 18 tháng Tám năm 1945 in trên báo Rochester buổi chiều với một bức ảnh của cô.

Tháng Chín, John lại gọi điện thoại. Anh được biên chế vào một phi đội B-29 ở Kansas. Tuy nước Nhật đã đầu hàng ngày 14 tháng Tám, thời gian phục vụ của anh bị kéo dài vô thời hạn vì anh không phục vụ ở nước ngoài ( Thời kỳ ấy quân đội cho giải ngũ theo chế độ dựa vào thời gian ở hải ngoại và tham dự chiến đấu ). John có thể được nghỉ phép hai tuần vào đầu tháng Mười và sẽ tới Rochester ngày mồng 3. Như vậy, họ có thể cưới nhau khi có giấy phép và Mary Jane theo anh đến Kansas, họ sẽ ở trong một căn hộ gần căn cứ. Mary Jane trả lời đồng ý ngay. Cô xin mẹ số tiền dành cho cô học đại học dùng vào hôn lễ. Bà mẹ nêu lên những lý do biện bác nhưng Mary Jane tuyên bố nếu bà từ chối không cho cô thành hôn với John ở Rochester, cô sẽ lên tàu hỏa tới Kansas làm lễ cưới ở căn cứ không quân. Đã 18 tuổi, Mary Jane không cần bố mẹ cho phép nữa và John lúc ấy 21 tuổi. Mẹ cô cho rằng trong một thời gian ngắn, họ không đủ thì giờ tổ chức đàng hoàng. Mary Jane trả lời phải cố gắng làm tốt nhất. Bà mẹ cuối cùng chấp nhận vì không có sự lựa chọn nào khác. Buổi lễ ấn định vào ngày mồng sáu tháng Mười một ,buổi chiều thứ bảy để theo truyền thống, bạn bè có thể đến tham dự. Mary Jane điện thoại cho John trao đổi về ngày đã chọn. Anh trả lời sẽ đến đúng giờ.

John rất xúc động về giấy thông báo lễ thành hôn, in chữ gôtic mà anh đưa cho Mary Jane một danh sách những người không đến tham dự được nhưng anh vẫn muốn gửi vì tự hào. Một trong những người đó là ân nhân của anh, Garland Hopkins, lúc ấy là cha tuyên úy trong quân đội ở Đông Nam Á. Ba thành viên trong gia đình anh đến dự hôn lễ : bà dì Mollie cùng con trai trưởng của bà, Joe Raby, người John đề nghị làm phù rể và Myrtle. John không muốn gây nghi ngờ cho gia đình Allen nếu không mời người trong gia đình mình đến và tìm cớ cáo lỗi cho Frank Vann, buộc phải ở lại Norfolk vì thiếu tiền.

John nói dứt khoát với dì Mollie  “Cháu ủy thác mẹ cho dì. Dì phải trông chừng bá và chú ý đừng cho bà uống rượu”. Anh sợ rượu vào  bà nói lung tung. Mollie nhớ lại “ Khi đã say dì ấy kể bất cứ chuyện gì. Rất có thể sẽ nói “ Các ông bà biết không, họ đích thực của nó không phải là Vann ..”. Loại chuyện  như vậy, dì ấy có thể thả ra khi quá chén “.

Mollie ngăn cản cô em không say nhưng lối kiêu căng của Myrtle gây nên một khủng hoảng nhỏ. Bà lên tàu hỏa từ Norfolk đến New York rồi đi xe con cùng Mollie và Joe Raby đến Rochester hôm trước buổi lễ. Mary Allen cố mời Mollie và Myrtle ở lại nhà họ còn John và Joe qua đêm ở khách sạn. Chiều hôm sau lúc Myrtle, Mollie và Mary Allen đi xe đến nhà thờ dự lễ ấn định vào bốn giờ rưỡi, Myrtlre bỗng thấy chiếc tất của mình tuột ra :

-   Tôi không vào đâu, bà nói với Mollie. Tất của tôi bị rách.
-   Dì phải vào, Mollie trả lời. Giờ này không tìm được tất nữa đâu. Hôn lễ sắp bắt đầu rồi. Mọi người đã có mặt. Phải vào thôi.
-   Tôi không vào nhà thờ với một chiếc tất bị tuột, Myrtle khăng khăng nói.
-   Nhưng không ai nhận thấy đâu. Mọi người nhìn vào cô dâu và không ai để ý đến dì.

Myrtle vẫn không đổi ý. Mary Allen có ý kiến can thiệp.

“Bà đừng lo, bà Vann. Chúng tôi sẽ tìm một đôi tất đâu đó. Bà cứ bình tâm”.

Không ai nhớ Mary Allen đã tìm bằng cách nào, họ dừng lại trước một cửa hàng hoặc bà trở về nhà lấy. và Myrtle vẫn có một đôi tất thay nhanh trước khi vào nhà thờ.

Chính John làm buổi lễ chậm nửa tiếng đồng hồ. Anh lạc đường khi lái chiếc xe của Mollie đi cùng với Joe Raby. Nhà nguyện Divinity School, một kiến trúc kiểu Gôtic mới có một vẻ đẹp thơ mộng nên, cũng như nhiều cô dâu của Rochester, Mary Jane đã chọn chỗ này thay vì nhà thờ cô vẫn đi lễ. Mục sư giáo phái trưởng lão của nhà thờ gia đình Allen, chủ trì, trấn an khách mà không trấn an được mình khi thông báo phải chờ một lúc vì chàng rể đến chậm. Mary Jane nhớ lại hình như chỉ duy nhất cô không lo lắng. Cô đã chắc chắn John và cô là của nhau, anh ấy sẽ đến và cưới cô. Đối với một người lạ, nhà nguyện ở bên ngoài thành phố không dễ tìm. Vann chỉ biết trung tâm Rochester và hôm trước buổi tập dượt lễ thành hôn làm ở nhà thờ của gia đình Allen. John đã hỏi đường một viên cảnh sát đi mô tô và thế là chàng rể đến nhà nguyện chậm nhưng được ngoạn mục thông báo bằng một hồi còi cảnh sát.

Tuy vội vã vì điều kiện của chàng rể tương lai, ông bà Allen chuẩn bị cho đám cưới của con gái không giống những gì sẽ tiến hành ở Norfolk hoặc thành phố Atlantic. Bàn thờ sáng choang vì những cây nến với hai bình khổng lồ hoa lay ơn hồng và trắng trên nền những cành lá cọ. Mary Jane mặc chiếc áo dài sa tanh trắng, ống tay dài cô chọn ở cửa hàng áo cưới. Phần hở cổ được trang điểm một chuỗi ngọc trai. Chiếc váy kéo dài với tấm viền một chuỗi hoa cam. Doris, cô phù dâu, mặc lụa trơn màu hồng. Ba cô bạn của Mary Jane đi kèm theo cô với những bó hoa hồng, cúc trắng, hoa mõm sói. Jess Allen mặc lễ phục, cà vạt sọc bạc và một bông hoa cẩm chướng ở ve áo, dẫn con gái lại bàn lễ.

Những người lính tham dự đưa lại buổi lễ một không khí chiến tranh vì tuy nước Nhật đã đầu hàng, việc tranh chấp vẫn còn tồn tại. John rất lịch sự trong bộ đồng phục sĩ quan mà người ta gọi là “hồng và xanh lá cây” : áo dài xanh thẫm với thắt lưng và quần màu be hồng. Mary Jane nhận thấy John nóng lòng trong buổi lễ cũng như quá trình đón tiếp sau đó khi họ cắt chiếc bánh cưới. Những bức ảnh do một thợ ảnh chuyên nghiệp gia đình Allen thuê chụp cho người ta đoán được nỗi băn khoăn của John. Có lẽ anh rụt rè vì buổi lễ giàu có với hoa, sa tanh và bận tâm không biết Mollie có kiềm chế được Myrtle không. Nhưng những bức ảnh cũng lộ rõ một chàng trai rất hạnh phúc, ý thức được phần thưởng qua người đàn bà trẻ. Mary Jane đáng giá phải bỏ công. Đây là một người vợ mới cưới rất đẹp. Cô tô môi đỏ thắm theo mốt những năm 40 làm nổi lên khuôn miệng có đôi môi cân đối và hàm răng đều đặn. Mái tóc nâu lượn sóng của cô làm tăng giá trị đôi mắt nâu hung ánh lên phù hợp với chiếc áo dài sa tanh.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #124 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2008, 10:05:44 am »

 John Vann đã học được nhiều sau hai năm rưỡi trong quân đội, nhất là khi mặc đồng phục anh thành một người khác hẳn. Trong bộ quần áo này, anh không còn là cậu bé Johnny Vann hoặc LeGay hay bất cứ họ nào, đứa con hoang của người đàn bà ăn uống lu bù, thường bám vào đầu quầy một quán rượu. Anh là trung úy John Paul Vann của quân đội Hoa Kỳ. Quân đội và chiến tranh đã giải phóng anh hơn cả Ferrum, khỏi căn nhà đáng khinh ở Norfolk mà anh không bao giờ quay trở lại. Cho dù anh có thể làm được gì ở đó, kể cả trở thành giàu có hơn nhà tỷ phú buôn hàu đã mua cho anh những bộ quần áo chỉnh tề đầu tiên, anh không bao giờ có được sự kính trọng anh cảm thấy như lúc là thiếu úy. Ở Norfolk luôn luôn có ai đó làm anh nhớ lại gốc rễ của mình. Với bộ đồng phục này thì không thể được. Anh mặc vào càng lâu thì anh sẽ không có gì khác với những người tử tế.

Chứng cớ rõ nhất là người đàn bà anh vừa cưới. Bố mẹ Mary Jane đã chấp nhận vì anh là sĩ quan. Họ sẽ không bao giờ bằng lòng cuộc hôn nhân này nếu họ thấy được điều gì ẩn náu sau bộ đồng phục, thực sự anh là ai và từ đâu tới. Thực ra sau này, Mary Allen phát hiện ra gia đình John không phù hợp với những người trong môi trường của bà. Nhưng Jess đã giấu bà nhiều chi tiết. Một hôm gia đình Allen đi qua Norfolk, Jess tới sở cảnh sát và nhờ chức vụ nghề nghiệp, ông có được mọi thông tin về John và gia đình. Ông choáng váng về điều mình biết và không nói lại với Mary. Xem ra cảnh sát không dè sẻn nói cụ thể về Myrtle. Tuy vậy, Jess và Mary không bao giờ khe khắt với John về những việc trước đây; họ theo chiều hướng khen ngợi anh đã thoát khỏi gia đình một cách thành đạt như thế.

John có ý định đi xa hơn và thấy quân đội là chỗ lý tưởng để phát triển. Anh cũng phát hiện ra qua hai năm rưỡi ấy , anh thông minh hơn phần lớn các bạn, cũng bền bỉ hơn, có thể làm việc căng thẳng gấp hai lần họ thậm chí gấp ba lần nếu cần. Anh có thể trở thành một trong những đại tá đáng sợ với đôi cánh trên vai áo, nắm giữ một quyền lực tuyệt đối với người và máy móc. Và tại sao không, một ngày nào đó kiêu hãnh mang trên người những ngôi sao cấp tướng. Một cuộc phiêu lưu tuyệt diệu như vậy có vẻ khó đến với anh nhưng anh có thể luôn hy vọng.

Spry đã hiểu quân đội có ý nghĩa như thế nào đối với Vann. Sau khi mua nhẫn cưới vào tháng Tư năm 1945, Vann trở về Norfolk với một cuộc viếng thăm đắc thắng. Anh đến nhà Spry, mặc bộ “hồng và xanh lá cây” để tôn giá trị những gạch thiếu úy và đôi cánh phi hành đoàn của anh. Spry đã được điều động vào đội bảo vệ bờ biển trong Thế chiến thứ nhất nhưng chưa bao giờ vượt quá cấp bậc binh nhì. Kể chuyện lại cuộc viếng thăm của John với một trong những con trai cũng đang ở quân đội và có ý định trở về Norfolk sau chiến tranh, Spry nói “ Từ nay, người ta không gặp Johnny nhiều ở đây nữa”.

John mới cưới vợ mấy tháng thì được thuyên chuyển về đảo Guam để đi thu hồi những máy bay B-29 ở các cơ sở Thái Bình Dương đưa về Hoa Kỳ và Hawaii. Mary Jane về nhà bố mẹ ở Rochester cho đến khi anh về. Mùa xuân 1946 từ Guam anh viết thư cho vợ nói đã quyết định theo đuổi sự nghiệp trong quân đội và sẽ qua một kỳ thi để trở thành sĩ quan chuyên nghiệp. Cho đến nay, anh vẫn có trong danh sách dự bị, có thể giải ngũ bất cứ lúc nào. Anh giải thích mình có thể học xong đại học miễn phí, được chính phủ đài thọ và sau này nếu đổi ý anh vẫn có thể xin giải ngũ.

Thời gian đó Mary Jane mang thai đứa con đầu lòng Patricia. John không hỏi ý kiến chị trước khi quyết định. Lúc đầu chị ngạc nhiên. Phần lớn những người chị biết đều cho rằng sự nghiệp quân đội không phải là một cách kiếm sống và nuôi dưỡng gia đình tốt nhưng chị nghĩ chính anh ấy phải chọn nghề của mình và chị muốn anh làm gì đó theo sở thích của anh. Chị không thấy quân đội là một trở ngại cho cuộc sống gia đình mà chị xem là một xuất phát tự nhiên của hôn nhân. Chị có thể quen dần với những xa cách tạm thời như chị đã làm. Tháng Bảy năm 1946, Vann nhận được chứng chỉ sĩ quan trong quân đội thường trực, thắng lợi đầu tiên trên con đường anh đã xác định.

Trình độ đại học rất quan trọng đối với một sĩ quan có tham vọng. Vann được nhận vào trường đại học Rutgers ở New Jersey vào mùa thu năm 1946 theo một chương trình về kinh tế trong hai năm dành cho những sĩ quan chuyên nghiệp. Mary Jane cố gắng hết sức mình đảm bảo việc gia đình ở một trong những khu tập thể nhỏ nhà trường dành cho sinh viên có vợ.

Tháng Năm 1947, John bỗng tuyên bố bỏ học và xin chuyển sang bộ binh. Không quân cho đến lúc đó gắn vào mỗi binh chủng được xây dựng thành một lực lượng tự trị theo sắc lệnh của Hội đồng an ninh quốc gia năm 1947. Vann là một trong số ít sĩ quan không quân được chọn ở lại quân đội. Anh đoán, đúng phi công lái chứ không phải nhân viên phi hành đoàn sẽ là những nhân vật chóp bu của lực lượng Không quân độc lập và hy vọng đề bạt sẽ lớn hơn trong bộ binh. Có một khoảng rộng về hành quân và chỉ huy người trên mặt đất là một thách thức hấp dẫn hơn lái máy bay trên không. Ngoài ra trường hợp một cuộc chiến tranh  mới nổ ra, bộ binh đối đấu với nhiều nguy hiểm hơn do đó cho phép cán bộ quân chủng này được phân biệt khác hơn và thăng cấp nhanh hơn.

Tháng Sáu, John và Mary bán chiếc xe đầu tiên của họ, một chiếc Chervolet hai chỗ ngồi John mua 200 đô la. Máy luôn luôn nóng, không đi xa được. Anh mua một chiếc Ford mới hơn. Mary Jane đặt Patricia, mới 8 tháng, trong một chiếc nôi di động trên ghế sau và cả gia đình lên đường đến Fort Benning ở Georgia, chỗ có trường bộ binh John theo một lớp huấn luyện ba tháng, tập chỉ huy một trung đội và hướng dẫn một đại đội chiến đấu. John cũng quyết định dự lớp đào tạo lính dù để sau đó có thể chỉ huy những toán không vận.

Lần này nữa, anh không hỏi ý kiến vợ và Mary Jane lại không chống đối quyết định của anh. Chị không chờ đợ ở John một cuộc sống bình thường mà là một cuộc phiêu lưu. Cho đến nay mọi việc đều diễn biến tốt.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #125 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2008, 11:45:26 am »

Chị ngạc nhiên về mùi cá phơi trên hàng nghìn tấm liếp gỗ dọc bến tàu. Trong lúc con tàu tiến dần vào cảng Yokohama vào tháng Tư năm 1949, chị chưa bao giờ cảm thấy mùi vị lạ lùng , tanh như thế và cũng chưa bao giờ thấy màu đỏ, màu da cam chói chang như vậy lúc mặt trời lặn ở phía bên kia hải cảng. John chờ chị ở đó để lại lo cho cuộc sống của chị, ôm hôn chị và đưa tay xiết chặt các con. Anh đã đề nghị chị đến với anh ở Nhật Bản sau khi được điều động sang Triều Tiên trong vòng 9 tháng để biên chế vào lực lượng chiếm đóng Mỹ. Trừ vài trường hợp ngoại lệ, gia đình binh sĩ không được đến Triều Tiên kể cả khi không có chiến tranh.

Sự nghiệp sĩ quan bộ binh của Vann bắt đầu không được thuận lợi. Huấn luyện viên của anh ở Fort Benning có ấn tượng tốt về Vann, giới thiệu để anh được cử làm phân đội trưởng một đơn vị nhảy dù nhưng các sĩ quan Lầu Năm Góc quyết định khác hẳn. Họ cử anh sang Triều Tiên trong những công tác đặc biệt, nghĩa là chịu trách nhiệm về các câu lạc bộ và những địa điểm vui chơi của quân nhân. Mặt khác, vị trí của anh ở Nhật Bản cũng không phải chỗ một sĩ quan bộ binh có tham vọng lựa chọn cho dù cuộc sống ở đây thật dễ chịu. Anh lo việc mua và hợp đồng ở tổng hành dinh sư đoàn 25 bộ binh đóng tại Osaka cách Tokyo 370 cây số về phía tây nam. Nhiệm vụ của anh là nhận cung cấp hậu cần qua cơ quan Nhật Bản phục vụ lực lượng chiếm đóng , quản lý những cơ sở đã trưng dụng và nhà cửa Sư đoàn chiếm đóng.

Mary Jane cho là mình may mắn đã không biết chuyến đi khó chịu nổi đến mức nào nếu không, chắc là chị không dám đến. Cuối những năm 40, quân đội xem tiện nghi là một quyền lợi dành cho các sĩ quan nhưng việc di chuyển gia đình họ là một việc phức tạp vô ích. Khi John lên tàu đi Triều Tiên, anh ở một phòng cùng một sĩ quan khác. Hai người để suốt thời gian chơi bài và đọc sách báo. Ngược lại, Mary Jane chờ ba tuần lễ ở Seattle trước lúc lên một chuyến tàu chở quân sau khi đã đi tàu hỏa qua suốt nước Mỹ cùng Patricia, hai tuổi rưỡi và John Allen sinh buổi sáng Noel năm 1947 ở bệnh viện Fort Benning. Chị là người vợ sĩ quan duy nhất trong hành trình, không được một đặc ân gì, trải qua ba tuần lễ ở Seattle trong một nhà trọ lụp xụp cùng những vợ con binh lính khác. Trẻ con thoát được bệnh dịch sởi ở đó nhưng John Allen bị đau tai và viêm họng.

Trên tàu thủy, họ cùng sống trong phòng ngủ cùng nhiều gia đình. Cánh cửa thép nặng ở phòng vệ sinh chung đóng sập lại khi tàu tròng trành. Một đứa trẻ đứt mất một ngón tay ở đấ và Mary Jane luôn luôn sợ con mình cũng bị thương theo cách đó. Chị một tay ôm John Allen, 14 tháng tuổi và giữ Patricia đầu một sợi dây. Cậu con trai không ngớt bị sốt và kiết lỵ. Mary Jane lúc thì ở phòng bệnh với nó, lúc thì sắp hàng để vào đó.

Nỗi giận hờn qua thử thách biến mất khi chị ngạc nhiên thấy quang cảnh, những mùi vị và dân cư ở Nhật. Chị nghĩ sẽ gặp những quái vật nhỏ dữ tợn và căm ghét người Mỹ. Ngược lại, chị thấy dân chúng vui vẻ lao động; những công nhân khuân vác trên bến cảng , tươi cười với trẻ con, khiêng hành lý đến tận taxi John thuê để đưa gia đình ra ga, lên tàu hỏa đến Osaka và nhà mới của họ.

John đưa vợ con vào một ngôi nhà như thiên đường dưới chân một ngọn đồi ngoại ô phía nam Osaka. Mary Jane lúc đầu khó hình dung mình sẽ là bà chủ của một chỗ ở như vậy. Chị hạn chế ước mơ của mình vào cỡ một xe lăn du lịch rồi một ngôi  nhà nhỏ của một nông dân nghèo gần Fort Benning chưa hiểu là người Mỹ ở Nhật Bản những năm chiếm đóng ấy tương đương với một vị chúa nhỏ. Một trung úy bình thường có quyền ở một ngôi nhà lớn bằng cách đuổi đi một điền chủ Nhật Bản. Thực ra , ngôi nhà kia cấp cho một sĩ quan không có trẻ con. Chỉ ở với vợ, anh thấy rộng quá và nhường cho John để nhận một ngôi nhà nhỏ hơn.

Ngôi nhà có vườn bao quanh, màu trắng , ở chân một quả đồi. Khi John mở cửa, Mary Jane dừng lại , sửng sốt vì hình mẫu đẹp đặc biệt của người Nhật. Những người đầy tớ, đặc ân của một người đi chinh phục, đã bố trí một lọ đầy cây cảnh nhiều màu để đón tiếp bà chủ mới. Trên tường, phía sau lọ cây cảnh treo một tấm vải vẽ nhiều ký hiệu. Màu đỏ tươi của hoa tương phản  với mực đen chữ Trung Hoa trên một tấm vải úa vàng.

Bên trong ngôi nhà hình chữ U, cánh phải bố trí theo kiểu phương Tây, gồm một phòng ăn, một phòng khách trải thảm và các phòng ngủ trên tầng , có phòng tắm kiểu châu Âu. Cánh trái nhà là bếp theo truyền thống Nhật, mặt đất phủ thảm đan cành liễu. Giữa hai cánh có một khoảng trống làm sân trong nhà. Mary Jane phấn khởi vì là lần đầu tiên từ khi cưới nhau, chị cảm thấy có một ngôi nhà có thể tiếp khách.

Nước Nhật khai tâm cho Mary Jane cuộc sống đồn trú cùng lúc chị gia nhập nhóm mà quân đội gọi một cách kỳ lạ “cán bộ gia đình” nghĩa là nhóm vợ sĩ quan. Chị thấy thích cuộc sống này, nó thuộc về một môi trường khép kín cũng như chị đã thích giữa tầng lớp tư sản ở Rochester. Trật tự và không gian đặc biệt này được cấu tọ một cách năng động đã hấp dẫn chị, cho chị cảm giác yên ổn và có một vị trí cụ thể trong xã hội. Vợ các sĩ quan nghĩ họ thuộc về một đơn vị đặc biệt mà theo truyền thống họ có trách nhiệm về hầu hết các hoạt động xã hội trong khu đồn trú và  cộng đồng. Họ thích hoàn cảnh này vì nó đưa lại cho họ một uy lực cùng một công việc làm. Quân đội hoan nghênh điều đó vì như vậy chính phủ tranh thủ được tài năng và việc làm của những người đàn bà này mà không phải trả công.

Giữa nhóm này trật tự được sắp xếp song song với cấp bậc của người chồng. Vợ viên tướng chỉ huy dĩ nhiên phải đứng đầu. Các bà vợ sĩ quan cap cấp xử sự như mẹ đỡ đầu với các bà trẻ hơn, khuyên bảo họ như những sĩ quan lớn tuổi đối với cấp dưới. Mary Jane thấy vợ của viên thiếu tá và vợ trung tá, cấp trên trực tiếp của John rất nhiệt tình, chú ý đến mình và chị đáp ứng thái độ của họ. Chị cũng tham vọng cho John và muốn giúp cho sự nghiệp của anh. Chị cũng gắng “ sẵn sàng, tự nguyện và thành thạo “ để tổ chức những buổi tiệc đứng, bữa ăn tối, vũ hội , những tối chơi bài brit và tham gia những hoạt động tự nguyện của hội chữ thập đỏ . Tóm lại, phải đạt hiệu quả như John trong nhiệm vụ quân sự. Chị mua ở Fort Benning một cuốn NGƯỜI VỢ SĨ QUAN , nghiên cứu kỹ để chắc chắn xử sự đúng.

Mary Jane cho rằng không có cơ sở khi ngờ vực quân đội không phải là nơi lý tưởng cho một gia đình. Những đòi hỏi cho tổ ấm và những hoạt động xã hội trong khu đồn trú chiếm hết thì giờ của chị cả ngày lẫn đêm. Dịp may được quan sát đât nước đáng chú ý này và những người dân trong hoàn cảnh được chiếu cố tạo cho chị một tính chất đặc thù không bao giờ có được ở Hoa Kỳ. Dưới con mắt chị, quân đội là một loại ngân hàng quốc tế hoặc một xã hội lớn với những chân rết trên toàn thế giới. Chồng chị từng thời kỳ phải làm việc ở nước ngoài và khi về, gia đình được bù lại bằng một cuộc sống đầy phiêu lưu và thoải mái. Một trong những người đàn bà Mỹ Mary Jane kết bạn ở Nhật Bản là vợ người đại diện hãng Coca Cola. Ông ta gần cùng tuổi với John và sống cũng đầy đủ như gia đình Vann. John thu xếp công việc và tập chơi cầu gôn. Vào Noel năm 1949, Mary Jane mang thai đứa con thứ ba, Jesse.

Dù sao, hình như thiên đường ở quá xa xôi. Ngôi nhà trên đồi đầy dán, rết và chuột. Kỹ thuật viên tẩy uế của quân đội đã bơm thuốc trừ côn trùng và Mary Jane đành chung sống với những con còn lại. Khó chịu đựng nhất là chuột. Chuột coi thường những cố gắng của các chuyên gia quân đội, chơi với cả bẫy và thuốc độc. Mary Jane cố gắng không lưu ý vì không muốn rời bỏ ngôi nhà, nhưng chúng quấy rầy tâm trí chị. Chị khó khăn nghe chúng chạy trên tường giữa ban ngày và chú ý ban đêm hoặc lúc bình minh thức dậy trông chừng Patricia và John Allen khỏi bị chuột cắn.

Mùa xuân 1950, một trong những người hầu Nhật Bản nung chảy xi trên bếp điện làm cháy nhà. Tuy thợ chữa cháy Nhật và quân đội đến kịp thời nhưng phần lớn ngôi nhà bị phá hủy vì nước và lửa. Gia đình Vann được bố trí ở trong một ngôi nhà khác gần trung tâm Osaka hơn. Ngôi  nhà này hai tầng, sang trọng hơn nhà trước. Tường ốp ván gỗ, bồn tắm lát men xanh, có thể chứa luôn 4 người và nhà bếp hoàn toàn lát gạch vuông kể cả trần nhà, trong vườn có bể bơi nhoe. Ngôi nhà phong lưu làm Mary Jane không phàn nàn gì được nhưng chị không thích kiểu kiến trúc và bên trong thiếu ánh sáng. Cây cảnh, ánh sáng và vẻ đẹp của ngôi nhà trước ở đây không có.

Rồi đột ngột, một hôm vào đúng nửa đêm, John ra mặt trận. 90.000 lính Bắc Triều Tiên với xe tăng Xô viết vượt qua vĩ tuyến 38 xâm chiếm Nam Triều Tiên vào ngày chủ nhật 25 tháng Sáu năm 1950. Patricia lúc ấy đã đủ lớn để nhớ lại mẹ cô đánh thức dậy cùng em trai John Allen để chào tạm biệt bố. Bố đội một chiếc mũ, súng ngắn mang ở thắt lưng. Mẹ khóc. Bố cúi xuống bế các con lên hôn, bảo phải đi vắng một thời gian. Patricia cười, sung sướng thấy bố đi vì như thế có nghĩa hình ảnh uy quyền của bố không còn đấy nữa. Mẹ hỏi vì sao cười, Patricia không trả lời. Nhiều năm sau, khi hiểu ra bố có thể không bao giờ trở về nữa, cô cảm thấy có một cảm giác hối hận.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #126 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2008, 05:37:13 pm »

 Suốt những tuần lễ đầu khi có lệnh sư đoàn bộ binh 25 phải sang Triều Tiên càng nhanh càng tốt, những chuyến vận chuyển bằng tàu hỏa, tàu thủy là nỗi bận rộn chính của John Vann. Sư đoàn phải đến với lực lượng của tướng Douglas MacArthur , nhằm chặn bước tiến của quân Bắc Triều Tiên trên bán đảo. Trung úy Vann chịu trách nhiệm mọi vấn đề vận chuyển : phối hợp giờ tàu hỏa và tàu thủy gửi đi 15.000 sĩ quan và binh lính, trọng pháo, xe tải, xe tăng, xe bọc thép, đạn dược và lương thực để ít nhất cũng tự chủ được trong những ngày đầu chiến đấu. Anh lợi dụng khả năng ngủ ít của mình vì suốt hai tháng tiếp đó anh chỉ ngủ mỗi đêm một, hai tiếng đồng hồ. Cần phải có 80 chuyến tàu hỏa để chuyên chở ba trung đoàn bộ binh từ những căn cứ miền Nam đảo Honshu đến những tàu thủy đi từ Yokohama. Sang đến eo biển Triều Tiên bên kia, Vann phải trông chừng việc đổ bộ trật tự lên hải cảng đầu mũi bán đảo Triều Tiên. Tất cả đều gấp gáp và bất ngờ vì không quan chức nào ở tổng hành dinh MacArthur hoặc ở Tokyo hay Washington có dự kiến về sự xâm chiếm của quân Bắc Triều Tiên.

Trong những điều kiện như vậy, trách nhiệm của Vann còn bận rộn hơn nhiều việc chỉ huy đại đội như anh vẫn mong muốn. Dù anh biết sau chiến tranh một vị trí quản lý  như anh sẽ ít có ấn tượng trong hồ sơ, dù nó là chủ chốt.

Quân đội Mỹ phải bố trí ở Nam Triều Tiên để có thể còn cứu vãn tình hình được. Phó của MacArthur, đại tướng Walton Walker , tranh thủ tốc độ với hàng ngũ Bắc Triều Tiên, cho xe tăng đi trước, cố tổ chức một vành đai phòng thủ phía trên Pusan trước khi quân địch chiếm được toàn bộ Triều Tiên. Vann được thưởng huy chương đầu tiên, ngôi sao bằng đồng, vì sáng kiến và uy quyền được thể hiện qua việc đẩy nhanh các đội quân lên xuống tàu, mau chóng tung ra mặt trận trong những tuần đầu quyết định. Sư đoàn 25 bộ binh nhận lệnh khởi hành ngày 30 tháng Sáu, sau ngày MacArthur đến Triều Tiên tuyên bố với Washington quân đội Nam Triều Tiên đang trong tình trạng tan rã. Dù sao cũng phải mất một tuần lễ để Vann có thể gửi chuyến tàu hỏa đầu tiên đi Yokoham và hai tuần nữa để các đội quân cuối cùng đổ bộ lên Pusan ngày 19 tháng Bảy. Quân đội Bắc Triều Tiên lúc ấy đã đến Taejon, nửa đường của Nam Triều Tiên từ vĩ tuyến 38 đi xuống.

Cuộc chiến tranh Triều Tiên đã giết chết 54.240 người Mỹ, hàng triệu người Trung Hoa và Triều Tiên; chỉ trong năm đầu chiến tranh đã chết 120.000 dân thường. Vì kiêu ngạo, các chính trị gia Mỹ không muốn giữ Nam Triều Tiên cho đến khi họ hiểu ra đang bị mất nó. Họ cũng góp phần gây nên cuộc chiến tranh này bằng cách tỏ ra mất quyền lợi trước một kẻ địch mà họ không hiểu.

Tất cả bắt đầu từ việc chia cắt đất nước , thuộc địa cũ của Nhật sau Chiến tranh thế giới thứ hai : vĩ tuyến 38 ngăn cách hai vùng chiếm đóng Xô viết và Mỹ. Người Nga bố trí ở miền Bắc Kim II Sung, chiến đấu du kích chống người Nhật và đứng vào hàng ngũ cộng sản vì người Trung Hoa và Xô viết đã là đồng minh tự nhiên của ông. Hoa Kỳ đặt ở miền Nam Syungman Rhee, một nhà ái quốc Triều Tiên phái hữu, tổ chức kháng chiến cùng Hawaii và Hoa Kỳ. Rhee và Kim đi hai đường về quan điểm chính trị nhưng cả hai đều là những người quốc gia nhiệt tình phấn đấu cho nước nhà thống nhất. Họ luôn đối đầu nhau, tổ chức đủ loại âm mưu và cuộc nội chiến là lối thoát sẽ xác định lãnh tụ của nước Triều Tiên thống nhất.

Tất cả bi kịch về Triều Tiên xuất phát từ vị trí địa lý của đất nước này giữa quần đảo Nhật Bản và lục địa châu Á của Trung Quốc và nước Nga. Tiếp giáp Triều Tiên là căn cứ hải quân Vladivostok có tầm quan trọng chiến lược lớn đối với Stalin. Ngược lại, chính quyền Truman xem Nam Triều Tiên là một trong những vùng hiếm hoi ngoài lề “khối Xô viết” mà Hoa Kỳ không bảo vệ. Người Mỹ cho rằng lực lượng không quân và hải quân của họ đủ để bảo vệ Nhật Bản và Nam Triều Tiên, một “ điểm chiến lược ít quan trọng”. Kết quả, MacArthur đặt Nam Triều Tiên ra ngoài phạm vi bảo vệ của Mỹ trong một cuộc phỏng vấn năm 1949.

Các đội quân chiếm đóng của Mỹ rút đi giữa năm 1949 và quân đội Nam Triều Tiên bị bỏ rơi với trang bị vũ khí lỗi thời và 482 cố vấn quân sự Mỹ. Rhee đề nghị Hoa Kỳ cung cấp trọng pháo , xe tăng và máy bay ném bom hiện đại như người Xô viết đã trang bị cho quân đội Bắc Triều Tiên. Đề nghị của ông bị bác bỏ. Ông cố gắng nhận của Hoa Kỳ lời bảo đảm đến cứu Nam Triều Tiên nếu bị xâm chiếm. Câu trả lời lại cũng không. Các chỉ huy trong ban tham mưu viết một báo cáo mật được tổng thống phê duyệt, dự kiến mọi đội quân Mỹ sẽ rút hết trong trường hợp Nam Triều Tiên bị tấn công. Tổng hành dinh của MacArthur, nơi tập trung những thông tin mật, không chú ý đến những đụng độ ngày càng tăng giữa Nam và Bắc trong mùa xuân hoặc sự tập trung quân đội và xe tăng Bắc Triều Tiên trên vĩ tuyến 38.

Khi xảy ra cuộc xâm chiếm, Truman và Acheson không chú ý đến sự đối địch của quốc gia là nguồn gốc cuộc tranh chấp này. Cuộc tấn công trên vĩ tuyến 38 trở thành “mấu chốt của việc đối đầu của chúng ta với đối thủ Xô viết”, Acheson đã viết trong Hồi ký như vậy. Kim chỉ là một kẻ đánh thuê cho kế hoạch rộng lớn của Stalin chinh phục thế giới. Ông còn viết :

“ Lùi trước sự thách thức ấy, dựa vào khả năng đối đầu của chúng ta sẽ có tác hại tiêu hủy sức mạnh và uy tín của nước Mỹ. Với “uy tín” một cái bóng có sức mạnh tôi cho là có sức răn đe mạnh hơn”. Như những sự kiện đã làm sáng tỏ, việc biến “cái bóng” thành sự thực không đúng như Acheson hình dung. Trong thời gian đó, binh lính chiến đấu bù vào khoảng cách giữa thiếu chuẩn bị và khả năng trả lời thách thức.

Cuối tháng tám, Kim II Sung và các tướng miền Bắc ào ạt tiến vào vành đai Pusan, chiến thắng họ cảm thấy đã rất gần nhưng bây giờ có nguy cơ đột nhiên mất đi. Họ không biết MacArthur sẽ đổ bộ phân tán tấn công vào chỗ nào và không dự đoán ở Inchon. Nhưng họ biết viên tướng này sẽ phản công theo cách ấy vì đã khoe khoang với báo chí ở Tokyo. Quân đội Bắc Triều Tiên không đủ người đề phòng tất cả những chỗ MacArthur có thể đổ quân vừa tiếp tục tấn công vành đai. Vậy là họ tập trung ở đây, bắn từng viên đạn, lựu đạn, đạn súng cối vào ô tô và tàu hỏa có thể chở tới, vào những tàu đánh cá ven biển, từ những người nông dân hoặc phụ nữ cho đến các chiến sĩ. Lần này họ có ý định tiếp tục tấn công cho đến khi các toán quân của Walker rút lui
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #127 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2008, 09:27:16 pm »

 Cuộc tấn công bắt đầu lúc 23 giờ 30 phút ngày 31 tháng Tám năm 1950 vào những vị trí Trung đoàn 35 bộ binh chiếm giữ, ở đông bắc thành phố Masan, bằng trọng pháo và súng cối bắn dày đặc chưa từng có trong cuộc chiến tranh này. Rồi hàng nhiều nghìn binh lính ào vào vị trí Mỹ. Đến rạng sáng ngày mồng 1 tháng Chín, khoảng 3000 lính Triều Tiên vượt qua những đồn phía trước trên đỉnh đồi, vào sâu trong đường vành đai 10 cây số. Hôm ấy, chỉ riêng người của trung đoàn 35 đã ngăn cản quân Bắc Triều Tiên tổ chức lại và lại tiến lên. Người Mỹ chống cự ngoan cố ngang bằng với sự dũng cảm vô vọng của đối thủ. Pháo thủ chuyển thành lính bộ binh, chỉnh nòng đại bác bắn thẳng như một khẩu súng trường và gọi các đội pháo khác bắn chặn để bảo vệ họ. Ở nhiều chỗ , các đối thủ đánh nhau xáp lá cà với lựu đạn và lưỡi lê.

Lúc đầu , binh lính Trung đoàn 35 không tán thành lệnh của Walker “giữ vững hay là chết” mà họ xuyên tạc thành “giữ vững và chết”. Nhưng rồi họ nhanh chóng trở thành những người chín chắn, hiểu ra sự khôn ngoan của lệnh ấy và chiến đấu với tinh thần đó. Họ đã biết khi lính Bắc Triều Tiên bao vây gây hoang mang cho họ thì giải pháp tệ hại nhất là vừa đánh vừa rút lui. Rất ít may mắn thoát ra được. Nhưng nếu họ chống cự cho đến khi có đội quân tăng cường đến, một số bị chết nhưng những người khác sẽ sống sót, tránh khỏi cảnh bỏ lại các bạn bị thương chắc chắn sẽ chết, tàn tật vì binh lính Bắc Triều Tiên hành hạ. Không may, tướng chỉ huy chẳng có cách nào gửi quân tăng cường cho các đơn vị của Trung đoàn 35 ở các vị trí tiền tiêu trước khi họ cạn kiệt đạn dược và bị hy sinh.

Vann suy nghĩ nhiều về vấn đề này trong những trận đánh trước và đã tìm ra một cách tiếp tế cho các đơn vị bị bao vây. Đấy là thả dù đạn dược từ một chiếc máy bay quan sát nhỏ L-5, kiểu máy bay tiền thân của L-19 mà những năm sau Vann nổi tiếng vì sử dụng nó ở Việt Nam . Hai ngày trước cuộc tấn công, Vann thuyết phục chỉ huy cho anh thử giải pháp này tiếp tế cho môt đơn vị bị tấn công và sáng kiến của anh đem lại kết quả.

Buổi sáng trước đợt tấn công, ban chỉ huy Không quân từ chối cung cấp máy bay. Phi công nghĩ chiến thuật của Vann là tự sát. Súng cối và đại bác Mỹ bắn vào xung quanh các vị trí để giúp họ chống cự lại quân địch trong lúc quân Bắc Triều Tiên oanh tạc để hạn chế sức đề kháng. Phi công phải bay qua những làn đạn của các loại pháo, giơ thân máy bay cho súng bộ  binh địch. Vann thấy phi công quá sợ sết, Gasset nói với tướng Kean qua trận chiến này rủi ro có thể chấp nhận được. Kean đồng ý, ra lệnh những chiếc L-5 đặt dưới sự điều khiển của trung úy Vann. Vì có sự dè dặt ban đầu, phi công được chỉ định theo lệnh bảng phân công như những nhiệm vụ bình thường, mỗi nhiệm vụ có ba đợt thả dù. Chỉ một phi công tình nguyện hai lần làm nhiệm vụ, nghĩa là sáu đợt bay . Những người khác chỉ thực hiện một lần.

Vann đi kèm từng chuyến bay không bao giờ tỏ ra sốt ruột. Anh bình tĩnh cho chất đạn dược lên để đi. Anh chọn những hòm khá lớn để đựng 50 ki lô đạn cho súng M-1, băng đạn tiểu liên và lựu đạn cầm tay. Anh bọc chúng bằng chăn, buộc dây để hòm không vỡ tung khi chạm đất. Tuy hòm nặng, gần bằng anh, Vann ở tuổi hai mươi sáu, khá khỏe để nâng hòm lên cho vào máy bay. Anh để hai hòm lên phía sau, giữ một trên đùi. Vị trí của các đơn vị đã được biết rõ trước khi cất cánh. Vann giải thích trên bản đồ cho phi công đi theo đường nào , thả ở đâu và lại gần bằng cách nào. Một trăm năm mươi ki lô đè nặng đáng kể lên máy bay nhưng trọng lượng nhỏ của Vann bù vào sự quá tảt một ít, đường băng dài, động cơ đủ mạnh để chiếc L-5 có thể cất cánh, lên không rồi Vann có những chỉ dẫn khác cho phi công lái theo điện đài bên trong.

Một thiếu tá thông tin của sư đoàn sáng hôm ấy bay trên trận địa để phân tích tình hình và thả truyền đơn kêu gọi lính Bắc Triều Tiên ra hàng, không tin vào mắt mình nữa. Ông thấy một chiếc L-5 như của ông nhào xuống gần mặt đất trên đầu lính Bắc Triều Tiên về hướng quả đồi có đơn vị Mỹ. Quân địch bắn vào máy bay khắp nơi. Không có rừng, không cây cối để phi công có thể bay dọc tránh đạn đến gần quả đồi. Mặt đất trống trơn chỉ rải rác cỏ. Máy bay có thể ẩn từng lúc trong những làn khói và bụi do đạn cối tung bay và rơi xuống ngay tại chỗ, viên thiếu tá nghĩ chẳng có gì đảm bảo, dễ bị các làn đạn bắn trúng. Trước khi đến chân đồi, phi công kéo tay chuyền để lên về hướng vị trí quân Mỹ ở trên đỉnh đồi. Khi máy bay chưa tới mười mét độ cao, viên thiếu tá thấy một chiếc hòm rơi xuống đường hầm ngay phía dưới, hiểu ngay có Vann trong chiếc L-5 ấy. Ông đã thấy anh trên đường băng chất các hòm lên máy bay và đã hiểu phương pháp tiếp tế mới là như thế nào.

Vann ra lệnh cho phi công thực hiện cách tiến lại thẳng là sát đất để chắc chắn đến mục tiêu, khó bị bắn trúng vì nói chung bề rộng không đến 30 mét.

Sau khi phi công lấy lại độ cao và ở tư thế tiến lại gần lần thứ hai, Vann hai tay chộp lấy hộp thứ hai ném xuống như hộp trước. Rồi anh ra lệnh quay lại để thả hộp thứ ba.

Viên thiếu tá thông tin theo dõi quá trình tiếp tế vừa lo lắng vừa khâm phục. Chiếc máy bay nhỏ lao vào bụi và khói phía trên cánh đồng trong lúc đạn quân địch rít xung quanh. Theo sát vòng quanh mặt đất là cách bay thông minh nhất vì một người lính có xu hướng tính sai tốc độ của một chiếc máy bay quá gần mình và thường bắn hụt vào phía sau. Nếu máy bay trúng đạn ở độ thấp như thế, phi công không còn lề lái nữa. Và nếu hai người trên máy bay sống sót qua tai nạn, họ sẽ rơi vào tay lính Bắc Triều Tiên và bị giết. Thật là khó bay thẳng đến quả đồi. Đạn súng cối nổ trên mặt đất làm máy bay rung , bay chệch hướng. Viên phi công, tuy vậy, vẫn giữ vững được đường bay và mỗi lần chiếc L-5 đến đỉnh đồi, viên thiếu tá thấy một chiếc hòm rơi vào đường hầm.

Với những người lính Mỹ sử dụng đạn dược rất dè sẻn như những người đang chiến đấu trên những ngọn đồi ấy, 50 ki lô đạn và lựu đạn trong ngày mồng 1 tháng Chín này đã là nhiều. Vann thả xuống cho họ 27 đợt các hòm đạn, cho đến khi trời gần tối buộc phải thôi. Một số đơn vị gần như cạn kiệt và binh lính đã bắt đầu dùng các băng đạn tiểu liên cho súng trường của họ.

Những ngày sau đó, các đơn vị tăng cường tướng Kean gửi đến, chiến đấu vượt qua hàng ngũ quân Bắc Triều Tiên đến được các vị trí trên tăng cường cho những người còn sống và chuyển thương binh đi trong xe bọc thép. Vann tiếp tục tiếp tế cho đến khi các đoàn quân tới, còn thả 42 đợt trong ba ngày tiếp theo cuộc tấn công ngày mồng 1 tháng Chín. Anh tham gia đánh nhau theo cách của mình, sử dụng túi lựu đạn giữ lại bên mình, ném xuống lính Bắc Triều Tiên trên đồi mỗi khi phi công lấy lại độ cao. Người ta không rõ thiệt hại của những máy bay Vann dùng trong nhiệm vụ này. Xem ra không chiếc nào bị bắn nghiêm trọng hơn mấy viên đạn trên thân máy bay. Phi công không biết trên máy bay mình có “Vann, số đỏ”. Vann lại vận chuyển tiếp tế mỗi khi cần cho đến lúc MacArthur phản công ngày 15 tháng Chín, gây rối loạn cho toàn bộ quân địch bằng cách cắt đứt những đường tiếp tế và rút lui của họ. John Vann được thăng cấp đại úy hai ngày trước đó.

Dĩ nhiên, không phải sự góp phần của Vann quyết định số phận trận đánh ở hành lang Pusan. Cuối tháng Tám, Walker đã bố trí khá nhiều quân dự phòng để ngăn chặn bước tiến của quân Bắc Triều Tiên, dù Trung đoàn 35 có bị tiêu diệt. Việc chỉ huy cương quyết của vị tướng, sự quyết tâm của Trung đoàn 35 và những đơn vị chiến đấu khác của Quân đoàn số 8 đã đảm bảo sự thắng lợi. Những trận địa lẻ loi của những tay súng trên các ngọn đồi  thì khác. Cuộc sống của họ chỉ phụ thuộc vào sự không quản nguy hiểm của một người.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #128 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2008, 01:33:36 pm »

Chiến tranh Triều Tiên là màn mở đầu của chiến tranh Việt Nam vì đấy là cuộc chiến tranh đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ có sự tách rời như vậy giữa các nhà lãnh đạo quân sự, chính trị và thực tế. Họ coi thường lực lượng đối phương đến nỗi đưa quân đội và cũng là đất nước đến thảm họa. Với sự đồng tình của những quan chức cao cấp nhất Washington, MacArthur phung phí hùng khí và tiềm lực của quân đội tướng Walker bằng cách sau đó cử đi đánh nhau ở miền núi Bắc Triều Tiên. Ông lãng phí cuộc sống của nhiều nghìn người cho chiến thắng và nhiều nghìn khác trong một thất bại không đáng có.

Phần Vann, thảm họa Bắc Triều Tiên tô thắm truyền thuyết về anh ở Việt Nam. Thường anh lấy ví dụ ấy làm bài học về sự ngu ngốc tiến hành một cuộc chiến tranh hủy diệt trên đất châu Á. Ít lâu sau khi chúng tôi gặp nhau ở Mỹ Tho, Vann kể lại cho tôi nghe anh đã tổ chức và chỉ huy đại đội biệt kích của Quân đoàn 8 như thế nào và đã mất người của anh ra sao trong một đêm những làn sóng người liên tiếp của quân đội Trung Hoa tấn công lực lượng MacArthur ở vùng núi gần sông Yalu vào tháng Mười một năm 1950. Anh kể chuyện ấy nhiều lần cho nhiều người khác nhau. Một trong những người đó là tổng thống Richard Nixon mà mấy năm sau Vann đã viết một bức thư trong lúc tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam :

“ Đêm 26 tháng Mười một năm 1950, tôi chỉ huy một đại đội biệt kích, choáng váng vì đợt tấn công đầu tiên của quân đội Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. Vào lúc 3 giờ sáng ngày 27, đại đội biệt kích của tôi trong Quân đoàn 8 bị ba lần tấn công bởi những làn sóng người liên tiếp của quân Trung Hoa. Chúng tôi có sự hỗ trợ xuất sắc của Không quân và chiếm được những vị trí thuận lợi. Hàng nghìn binh lính Trung Hoa bị giết. Tuy vậy, sau lần tấn công thứ ba, tôi biết sẽ mất đơn vị. Vừa rạng sáng, quan lần tấn công thứ sáu thực tế chỉ còn tôi và 15 người mà phần lớn đã bị thương. Chúng tôi xuống đồi theo cách những người Trung Hoa đã lên. Trên đường tôi đếm được hơn 500 lính Trung Hoa đã chết trước vị trí chúng tôi”.

Đúng là có thời kỳ John Vann chỉ huy đại đội Biệt kích của Quân đoàn 8 lúc anh ở Triều Tiên. Nhưng sự thất khác và còn hấp dẫn hơn truyền thuyết.

Trước tháng Mười một năm 1950 ít lâu, Vann đã hâm mộ một trung úy 23 tuổi, Ralph Puckett, may mắn được chỉ huy quân biệt kích của Quân đoàn 8 phiên chế vào Sư đoàn 25. Puckett và Vann rất mến nhau vì cả hai đều hơi điên khùng và say mê binh nghiệp hơn tất cả. Puckett quê ở Georgia, tốt nghiệp West Point năm 1949, vừa ngây ngô vừa nhiệt tình. Anh tình nguyện sang Triều Tiên ngay sau  khóa huấn luyện nhảy dù ở Fort Benning vì xem chiến tranh như một trận bóng đá. Anh chỉ sợ một điều là chiến tranh kết thúc trước khi mình đến. Vann thích trêu chọc Puckett khi anh này đến nhận tiếp tế. Puckett vẫn giữ một phần tinh thần West Point, chơi trò sĩ quan chuyên nghiệp : chào theo điều lệnh, đứng nghiêm trước một đại úy bình thường, nói vang mỗi lần trả lời một câu nói đùa.

Vann mỉm cười hỏi :
-   Anh đã đi những đâu, Puckett, và lính biệt kích của anh còn làm gì nữa ?
-   Hành quân, thưa đại úy ! Cũng nụ cười ấy Puckett trả lời.
-   Chuyện tầm phào, Vann đáp, các anh mất xác hết , thế thôi !

Đại đội biệt kích của Puckett, điều mong ước của Vann, được thành lập mùa hè trước để xâm nhập và vô hiệu hóa quân lính Bắc Triều Tiên. Puckett được chọn vì nổi tiếng thích đánh nhau và vì người ta đánh giá một trung úy ở West Point ra táo bạo hơn một sĩ quan đã qua chiến đấu. Khi đại tá chỉ huy hỏi anh có muốn chỉ huy một đơn vị biệt kích không, anh đã trả lời “

-   Thưa đại tá, tôi muốn là biệt kích suốt đời. Tôi làm bất cứ việc gì để đạt được điều đó. Ông có thể cho tôi chỉ huy một trung đội hoặc chỉ là một lính bộ binh thường, tùy ông.

Puckett lấy quân số trong những đầu bếp, lính cạo giấy và thợ máy của Quân đoàn 8. Người ta cấm anh tuyển dụng binh lính đã được luyện tập vì trận chiến ở vành đai đang diễn ra dữ dội, các đại đội đều thiếu người. Puckett bèn tìm trong các đơn vị phục vụ ở Nhật Bản những người tình nguyện sang Triều Tiên vì một “nhiệm vụ bí mật và nguy hiểm, hoạt động phía sau hàng ngũ địch”. Anh ngạc nhiên khi tìm được quân số ấn định 74 người  nhanh như thế. Anh cử hai người bạn cùng ở West Point làm trung đội trưởng. Khi đơn vị anh tập luyện xong, không còn lý do ở lại, vì mục đích của đơn vị là đổ bộ lên Inchon đã sẵn sàng và quân đội Bắc Triều Tiên bị Quân đoàn 8 đuổi đánh, cố trụ lại vĩ tuyến 38.

Sau đó việc đổ bộ lên Inchon chứng tỏ tính thích làm lớn của MacArthur đã vượt quá giới hạn. Việc đổ bộ lên phía sau vị trí quân địch là một quyết định bình thường đối với một viên tướng có kinh nghiệm của Chiến tranh thế giới thứ hai. Nhưng ông nằng nặc cho đổ bộ ở Inchon, nơi có độ rủi ro cao là không cần thiết; tính kiêu ngạo đã đặt cuộc sống binh lính và quyền lợi quốc gia vào cuộc thử thách nguy hiểm. Ông chọn Inchon vì đấy là hải cảng thủ đô Seoul nhưng chỉ một cuộc kiểm tra đơn giản các nơi, như một sĩ quan hải quân đã nhận xét, Inchon “ chồng chất những sự cố tự nhiên có thể thấy được “. Đường vào trên biển khúc khuỷu và chật hẹp mà một con tàu bị địch bắn hoặc trúng mìn hỏng hóc sẽ làm tắc nghẽn đường đi cả thượng và hạ nguồn.

Các chỉ huy hải quân và sĩ quan tham mưu cố thuyết phục MacAruthur chọn một địa điểm khác để đổ bộ. Hải quân đã tìm được một vị trí không nguy hiểm như vậy ở phía nam Inchon 50 cây số. MacArthur không nghe theo. Ông đã chọn Inchon thì phải là Inchon. Ông đẩy mọi rủi ro và trở ngại đi với một thái độ cứng rắn.

“Tôi nghe thấy tiếng tích tắc của kim giây số mệnh:, ông kết luận sau một cuộc độc thoại 45 phút trước một hội đồng có hai đại diện của bộ Tổng tham mưu tham dự, ở Tokyo vào tháng Tám.

“Chúng ta phải hành động hay là chết .. Cuộc đổ bộ ở Inchon sẽ thắng lợi, sẽ cứu sống 100.000 người”.

Cuộc hành quân thực tế đạt kết quả ngày 15 tháng Chín và sự thành công cũng có cảm giác không thể lầm của MacArthur và làm những người khác phải im lặng.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #129 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2008, 04:24:03 pm »

 Kim giây số mệnh lại tiếp tục trong tháng Mười một 1950. Nhưng lần này MacArthur không nghe thấy. Từ lâu, ông đã không quan tâm đến những chi tiết trên trận địa, kim chỉ nam của mọi chỉ huy quân sự. Ông lại bận bịu về những việc cao hơn. Sau này, Dean Acheson nhận xét MacArthur thực tế đã trở thành một “quốc trưởng .. thiên hoàng của Nhật Bản và Triều Tiên”. Nhận xét đó cũng không xa sự thật. Tháng Mười khi Truman triệu tập ông đến Wake Island, MacArthur không chào theo quân lệnh bắt buộc mà bắt tay như những người đồng cấp. Ông không chỉ là quốc trưởng Nhật Bản, ông là hoàng đế được nhân dân sùng kính. Viên tướng kiêu ngạo năm sao này có một tính cách phức tạp. Người Nhật nhìn thấy ở ông người bảo vệ quyền tự do công dân, sứ giả của lối sống Mỹ. Họ chờ đợi ông khắt khe với họ năm 1945 nhưng ông đã độ lượng và khôn khéo dựng lên một chính phủ dân chủ và cải cách xã hội mà họ sung sướng tham gia sau những kinh hoàng của chế độ quân phiệt. Ở tuổi 70, ông muốn xác lập vinh quang của mình bằng một đỉnh cao xứng đáng với những chiến công trước. Ông muốn chứng thực nhận xét của Dean Acheson, mang lại một chiến thắng toàn diện và mở rộng quyền lực có lợi của ông trên cả nước Triều Tiên đến tận biên giới Trung Quốc và Nga.

Những người có trách nhiệm ở Washington đã sẵn sàng chiếm bốn phần năm nước Triều Tiên. Bây giờ thực ra họ xem đất nước này là một vị trí quan trọng thứ hi và muốn ghi nhận sự thách thức của những người Xô viết. Tuy vậy, nỗi lo đầu tiên của họ vẫn ở châu Âu,  nơi họ sợ một cuộc tấn công lớn của Stalin. Cuộc chiến tranh Triều Tiên chứng minh cho một chương trình tái trang bị vũ khí rộng lớn. Đầu năm 1951, việc sản xuất máy bay đạt đỉnh cao nhất kể từ năm 1944 trong Thế chiến thứ hai. MacArthur được báo trước phải thắng cuộc chiến tranh với mức tám Sư đoàn ông nhận được thời kỳ ở Inchon. Các chỉ huy Bộ tổng tham mưu đã chỉ thị không khiêu khích người Trung Hoa và người Xô viết, không vượt quá một đường phía trên Bình Nhưỡng khoảng 80 cây số. Một phần năm đất nước nghĩa là những tỉnh miền núi dọc theo đông bắc sông Yalou, biên giới Trung Quốc và góc cực đông bắc biên giới Liên bang Xô viết là một vùng đệm.

MacArthur không quan tâm đến sự hạn chế ấy. Ông chắc chắn biết cần làm gì đối với người Trung Hoa. Trong một cuộc họp báo trên chiếc tàu chỉ huy đi Inchon, một phòng viên chiến tranh hỏi ông có sợ Trung Quốc tham chiến không.

“Nếu người Trung Hoa can thiệp, MacArthur trả lời, lực lượng không quân của chúng tôi sẽ biến Yalou thành con sông đỏ máu nhất trong lịch sử”.

Giữa tháng Mười, trong hội nghị Wake Island, đến lượt Truman hỏi ông về khả năng một cuộc tấn công của Trung Quốc.

“Rất ít”, ông trả lời, giải thích không lực Mỹ dù sao cũng có thể ngăn cản người Trung Hoa hành quân trên 60.000 hoặc 50.000 người ở phía nam Yalou và rất ít người trong bọn họ có thể sống sót qua những đợt tấn công của không quân.

“Nếu người Trung Hoa cố gắng xuống đến tận Bình Nhưỡng thì sẽ là một cuộc thảm sát thực sự”.

Không ai xung quanh tổng thống, bao gồm cả Omar Bradley, tổng tham mưu trưởng và những viên tướng năm sao khác bác bẻ lại. Ông xem sự im lặng là đồng ý. Ông báo trước với Truman cuộc “chống cự hiển nhiên” ở Triều Tiên sẽ kết thúc trước lễ Tạ ơn tháng Mười một và ông hy vọng đưa quân đoàn 8 về Nhật bản để dự lễ Noel. MacArthur hứa với Bradley sẽ chuyển một Sư đoàn cho châu Âu vào tháng Giêng 1951.

Cuối tháng Mười, khi các đơn vị quân Trung Hoa vào vùng đệm, MacArthur cho máy bay ném bom B-29 của không lực đi phá hủy những cây cầu ở Mandchourie và máy bay tiêm kích ném bom cắt đứt những con đường phía nam. Ông không nhận được một thông tin nào của Washington truyền đạt lệnh ngừng hoạt động. Ngày 24 tháng Mười một năm 1950, MacArthur lên máy bay đến vị trí chỉ huy của Walker ở phía nam những rặng núi chứng kiến việc mở màn cuộc tấn công cuối cùng của ông lên phía bắc để kết thúc chiến tranh. Trong một thông báo, ông bảo đảm với binh lính không sợ “những đội quân đỏ mới” đang chờ họ ở Triều Tiên. MacArthur cũng không quan tâm đến số phận binh lính trong những ngọn núi giá lạnh ở Mandchourie. Nếu mọi việc diễn ra như dự kiến, người của ông có thể “trở về nhà vào dịp Noel”.

Xế chiều ngày 25 tháng Mười một năm 1950, Ralph Puckett và đại đội biệt kích của anh bố trí ở những hố cá nhân đào trong đất đóng băng trên ngọn đồi 205 cách Chongchon khoảng 25 cây số. Họ thực hiện một cuộc hành quân theo thông lệ : chiếm những điểm cao trong lúc triển khai lực lượng can thiệp gồm hai tiểu đoàn xe tăng và bộ binh.

Trung úy Puchett tự hỏi vì sao Sư đoàn 25 cứ tiến. Hôm trước, trong một cuộc hội ý, sĩ quan thông tin đã báo với họ có 25.000 lính Trung Hoa “trong những vùng ấy”. Nếu sĩ quan ấy nói đúng, Puckett suy luận, thì Sư đoàn 25 phải đào hố và chuẩn bị bố phòng thay vì tiến lên. Trong dịp tập luyện ở Fort Benning, Puckett đã học, phải có ưu thế hai hoặc ba chọi một trước khi tấn công. Thế nhưng, qua thông tin nhận được, quân Trung Hoa có lực lượng gấp hai lần Sư đoàn 25, quân số chỉ khoảng 15.000 vì có nhiều thương bệnh binh. Một anh lính của Puckett có một chiếc đài làn sóng ngắn, nghe những đám “tình nguyện Trung Hoa” đang từ Mandchourie đi xuống để đối mặt với quân đội MacArthur.

Dù sao, quân biệt kích cũng đã chiếm được ngọn đồi 205 trong buổi chiều ngày 25 tháng Mười một mà không gặp kháng cự. Xe tăng đưa họ tới gần đồi. Theo đồng ruộng băng giá đi leen, họ bị súng tự động bắn từ những đỉnh cao gần đấy. Chạy lên đến đỉnh đồi, quân biệt kích chỉ bị thương hai người. Họ đào hố ở đây, không gặp sự chống trả nào. Puckett bố trí súng máy ở những chỗ bắn tốt nhất.

Tuy vậy, anh mất một trung đội trưởng : một trong những bạn học ở West Point lên cơn thần kinh khi phải qua đồng ruộng dưới làn đạn. Anh ta đào ngũ, trở về đồng bằng không trở lên đồi nữa.

Ý nghĩ đối đầu với 25.000 lính Trung Hoa không làm Puckett sợ. Thế nào thì anh cũng thuộc về quân đội Hoa Kỳ, không phải loại thứ yếu của Mussolini và có lý do chính đáng để giải thích việc họ làm ở đây. Anh chỉ thú vị khi thấy các tướng có thể tiến hành một cuộc tấn công trong điều kiện quân số bất lợi như thế này tuy quân đội đã dạy cho họ và anh tự hỏi cuộc hành quân lạ lùng này sẽ kết thúc ra sao. Trong lúc mặt trời khuất sau những ngọn đồi, Puckett cho rằng, qua sự chống cự yếu ớt họ gặp ban chiều, cuộc đụng độ với người Trung Hoa xảy ra ở chỗ khác, cách xa con đồi này.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM