TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #190 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2008, 11:26:54 am » |
|
Tổng thống đã bác bỏ đề nghị của Westmoreland muốn là người chỉ huy duy nhất của tình thế với một phó dân sự làm nhiệm vụ đại sứ. Việc đối đầu giữa Truman và MacArthur trong cuộc chiến tranh Triều Tiên đã khẳng định với Lyndon Johnson để một viên tướng làm chỉ huy tối cao là thiếu khôn ngoan. Ông nghĩ Westmoreland sẽ làm cạn kiệt tinh thần chiến đấu của những người cộng sản Việt Nam với cuộc chiến tranh hủy diệt của ông ta và muốn bổ sung kết quả ấy bằng hệ luận chính trị của mình ; hợp pháp hóa quyền lực của những người mình bảo vệ ở Nam Việt Nam dưới dạng một chính phủ hợp hiến.
Mọi việc tiến hành được dễ dàng vì những nhượng bộ có vẻ thuận lợi Kỳ buộc phải làm thời kỳ chính trị rối ren năm 1966 : bầu cử một hội đồng lập hiến vào tháng Chín rồi bầu một tổng thống, một phó tổng thống và một hội đồng nhà nước. Hiến pháp mới đã sẵn sàng vào tháng Ba năm 1967 và tháng Chín bầu tổng thống, phó tổng thống và Nghị viện rồi Hội đồng lập pháp vào tháng Mười. Những người cộng sản và “ những người trung lập “ hòa đồng với những người ủng hộ cộng sản, vì chống đối sự có mặt của Mỹ và chế độ Sài Gòn , không có quyền bầu cử.
Ellsworth Bunker là một người lý tưởng cho quy trình dân chủ hóa ấy. Kết quả bình định của ông ở nước Cộng hòa Dominique trong cuộc khủng hoảng năm 1965 được lặp lại trong vai trò mới của ông ở Sài Gòn. Ông sang miền Nam vừa đúng lúc để phát huy tài năng của mình vì trong tháng Năm, Thiệu bỗng làm đảo lộn kế hoạch của Kỳ vì tuyên bố sẽ ứng cử tổng thống. Tuy có nhiều nhà dân sự trên sân khấu chính trị Sài Gòn cũng có ý định ứng cử nhưng ông ta đã báo trước quân đội tiếp tục lãnh đạo đất nước nên tổng thống phải là một quân nhân.
Bunker mời Thiệu, Kỳ và Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng liên quân Việt Nam đến ăn trưa tại tư dinh, cảnh báo ông sẽ không tha thứ những xung đột và cùng với các tướng, họ phải giải quyết những vấn đề giữa họ với nhau. Chắc ông không muốn quyết định Thiệu nhưng đấy là việc đã xảy ra để hạn chế những kình địch về âm mưu và cãi cọ giữa những viên tướng. Vì Thiệu mạnh hơn Kỳ trong trò chơi này tuy một số các đồng sự nhận xét ông ta cũng vị kỷ, vô tình như Kỳ nhưng có khả năng nhìn xa là điều đối thủ thiếu. Một con người quan tâm đến quyền lực và muốn thu nhặt của cải hết sức kín đáo ít bị chống đối bởi những người cùng những tham vọng ấy và được ông ta ưu ái. Kỳ đành bằng lòng với chức vụ phó tổng thống.
Nếu Bunker đến Việt Nam sớm hơn, có lẽ ông đã có một quan điểm riêng hơn. Khi đến Sài Gòn , ông đã 73 tuổi, trở thành hơi kỳ quặc, một nhà triệu phú tiết kiệm, giữ những áo vét thể thao trong khi quần không dùng được nữa. Đôi giày đóng ở thợ tốt nhất nước Anh nhưng đã rạn nứt toàn bộ vì ông thay đế cho đến tây dây buộc. Ông gửi đi máy bay chiếc va li ngoại giao từ thời trang trại Vermont của ông. Ông còn nhanh nhẹn về thể chất và trí tuệ, cao một mét tám mươi lăm, người luôn rất thẳng. Mái tóc bạc, khuôn mặt mỏng, đôi mắt xanh sau đôi kính gọng đồi mồi nêu rõ lòng tin chắc của một nhà quý tộc cổ, càng thể hiện sự thận trọng và kín đáo của ông. Những người Sài Gòn nhanh chóng mệnh danh ông là “ Tủ lạnh “ không biết rằng sự giữ ý bề ngoài tiềm ẩn tài năng kể chuyện và tính dí dỏm đặc biệt trong đời tư.
Và đấy là vấn đề, sau 34 năm kinh doang đường, ý nghĩ thành kiến về châu Mỹ la tinh, sau sự nghiệp thứ hai và được ân huệ hơn trong việc phục vụ chính quyền, trí thông minh của Bunker đã đông cứng. Ông không thể không nhìn Việt Nam theo triển vọng của Caraibes và Trung Mỹ. Sau bao nhiêu thời gian và thành công trong lòng một chính phủ thịnh vượng, ông cũng không thể nghi ngờ những phán xét của các tướng như Westmoreland .
Vann thử nói chuyện với Bunker nhưng anh rất rụt rè. Trong lúc một quý tộc cổ cởi mở như Lodge khuyến khích Vann táo bạo, việc giữ ý của Bunker làm anh thêm cảm giác mình thuộc xã hội lớp dưới. Cuối mùa hè năm 1967, Vann biết mình không hy vọng gì ở vị đại sứ mới. Người bạn cùng nhà với anh, George Jacobson, giữ những công việc quan trọng ở Đại sứ quán. Ông này “ rất hốt hoảng “ thấy Bunker trở thành người tù trí thức của Westmoreland đến mức nào, Vann viết cho Ellsberg ngày 19 tháng Tám như vậy. Vị đại sứ bị tác động vì bị tướng tổng chỉ huy giải đáp nhanh chóng những yêu cầu của ông, thể hiện tin tưởng trong những lời tuyên bố chính thức và những buổi nói chuyện riêng tỏ ra thật sự tôn trọng ông già. Vann nêu lên trong thư lời Jacobson đã nói “ Westy là người phụ thuộc tệ hại vứt đi mà chưa bao giờ Bunker có được “. Westmoreland đã xác định chắc chắn với Bunker ông ta đang đè bẹp Việt cộng và quân đội Bắc Việt , các lực lượng Sài Gòn đã có những “ tiến bộ quan trọng “ đến mức Jacobson “ không thể cho phép mình trình bày một quan điểm ngược lại “ trong những báo cáo gửi đại sứ. Ông báo trước với Vann “ giảm bớt “ lời chỉ trích Quân lực Cộng hòa trước mặt Bunker,
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #191 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2008, 02:48:06 pm » |
|
Vả lại Vann đang có những vấn đề riêng. Đầu tháng Tư 1967, Annie lại mang thai và từ chối phá thai. Cô nói với Vann cô không thể chịu đựng sự tổn thương lần thứ hai và những người yêu nhau phải nhận lấy hậu quả, nghĩa là chấp nhận đứa bé. Vann cố gắng thuyết phục cô, lại đưa ra lập luận lần trước : một đứa con bất hợp pháp làm hại đến sự nghiệp của anh. Cô trả lời việc cô mang thai giúp anh làm điều anh đã tuyên bố : anh nói ly dị để lấy người đàn bà mình yêu. Cô lại được gnhe bài hát nhàm tai anh ca với Lee, lấy lý do anh bị buộc chặt với Mary Jane về tài chính.
Vô tình, bố mẹ Annie lại là đồng minh với Vann. Ông bố biết việc phá thai trước kia của con gái, buộc lòng phải chấp nhận, hy vọng điều đó sẽ làm cô tránh xa Vann hoặc ít nhất cũng giữ gìn được trong tương lai. Ông bà rất giận dữ, khi cô báo tin lại mang thai và lần này cô muốn giữ đứa con. Họ ép buộc cô phá thai và rời bỏ Vann, Cô chỉ mới 18 tuổi và sẽ làm hỏng cả cuộc đời mình, Không một người Việt Nam đáng kính nào sẽ cưới cô, đưa lại một tình yêu đúng đắn và cuộc sống gia đình mong muốn. Nhưng họ phát hiện ra ý muốn ghê gớm của cô con gái họ đã nuông chiều. Annie trả lời cô yêu Vann và anh yêu cô. Dù bây giờ vì sự nghiệp mà Vann bỏ cô, cô vẫn giữ lại đứa con.
Vann rất muốn bỏ rơi Annie nhưng ông bố không để anh làm thế. Ông điện thoại tới tổng hành dinh của anh ở Biên Hòa, hẹn gặp để giải quyết vấn đề ấy. Vann lại lừa ông và không gọi lại nữa. Bố Annie bèn đến thẳng văn phòng anh. Ông buộc anh phải làm theo ý muốn của Annie. Nếu Vann hứa thuê một ngôi nhà và đảm bảo đúng mức cuộc sống của cô và đứa con, ông sẽ không kiện lên Đại sứ quán. Vann cũng phải cúi mình trước một buổi lễ có mặt cả gia đình để có vẻ tôn trọng việc họ gắn bó với nhau. Vann chấp nhận, cho mình là nạn nhân của một vụ đe dọa và hành xử không có gì đáng chê trách.
Annie ấn định buổi lễ vào 15 tháng Bảy năm 1967, ngày cô vừa tròn 19 tuổi. Buổi lễ tiến hành trong nhà bố mẹ cô, một khu người Âu ở Sài Gòn , pha tạp giữa lễ thành hôn và đám cưới truyền thống Việt Nam với việc trao đổi nhẫn cưới theo kiểu phương Tây. Vann mặc một bộ quần áo lịch sự, thắt cà vạt. Annie đã hướng dẫn anh phải mua những gì đem đến và thực hiện vai trò của mình như thế nào. Anh tặng cô hai đôi bông tai vàng, một cho lễ thành hôn và một lúc đưa dâu theo phong tục. Anh kết hôn với một người giàu có. Nhưng anh không đem đến vật quan trọng nhất vì Annie nghĩ một người nước ngoài như anh sẽ không hiểu được. Cô tự đi mua lấy và đặt lên bàn thờ gia đình. Đấy là một chiếc hộp sơn màu rực rỡ đựng những lá trầu và quả cau mà các bà nông dân thường nhai vì nó có hương vị kích thích. Đấy cũng là biểu tượng của việc hòa hợp chung thủy theo người Việt Nam mà không một đám cưới nào thiếu được. Trầu cau được bày trong hộp đồng sáng loáng bên cạnh những cây nến, hoa quả, rượu nếp và chè, trong mùi hương thơm ngát. Vann đeo nhẫn cưới vào ngón tay Annie, cầm một nén hương quì bên cạnh cô trước bàn thờ và cúi xuống thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên. Trước bữa ăn trong buổi hôn lễ, bố Annie giới thiệu anh với những thành viên trong gia đình vì không có khách mời nào khác.
Vann không phải trả tiền thuê nhà vì được tính vào kinh phí cung cấp Mỹ. Anh đang ở chung nhà với một đồng sự AID ở Biên Hòa nhưng họ có quyền có nhà riêng. Ít lâu sau hôn lễ, Vann tâm sự với một người có trách nhiệm của AID ở Sài Gòn, thú nhận vấn đề của mình. Người đối thoại với anh tỏ ra độ lượng. Tình thế của Van có thể tuyệt vọng nếu bí mật bị lộ nhưng việc những đứa con không hợp pháp giữa ông bố Mỹ và mẹ người châu Á đã trở thành một hậu quả khác của cuộc chiến tranh này. Có hàng nghìn trẻ em hầu như luôn luôn bị bỏ lại cho mẹ chúng khi người bố trở về Hoa Kỳ . Mặt khác, AID cũng có lợi khi bảo vệ Vann vì anh đã là chuyên gia bình định của họ,có kết quả công việc đáng được chú ý nhất. Ngôi nhà ở Biên Hòa vậy là mang tên người đồng sự kia và người ta thuê cho Vann một ngôi nhà ở Gia Định, ngoại ô phía bắc Sài Gòn .
Cấp bậc của Vann cho phép Annie có một chỗ ở tử tế, một tầng lầu với ba phòng ngủ ở tầng hai, một phòng khách, phòng ăn và bếp ở tầng trệt, một ga ra ô tô liền kề. Tất cả có tường gạch bao bọc, phía trên tường là dây thép gai. AID tu sửa nhà lại như mới, cung cấp những vật dụng cơ bản. Annie đến ở đấy vào tháng Tám. Vann đưa tiền cho cô đảm bảo cuộc sống hàng ngày và thuê một đầy tớ gái. Để phù hợp với qui định của văn phòng, anh đưa ký một hợp đồng ghi nhận cô là người nấu bếp và nội trợ.
Annie cũng như Lee không biết mình có người tình địch kia. Đối với Lee, không có gì thay đổi . Vann và người đồng sự Wilbar Wilson tiếp tục ở chung nhà ở Biên Hòa, thường Lee vẫn ngủ ở phòng Vann. Wilson là một người sống độc thân khổ hạnh, quan hệ với đàn bà giới hạn trong những nhận xét lễ độ và càu nhàu khi đến văn phòng. Nói chung , anh tránh đi với họ và không biết đến Lee khi cô mặc áo ngủ lang thang trong nhà.
Lee là tình nhân của Vann trên danh nghĩa . Bây giờ, cách nhìn đã khác hơn, anh thường dẫn cô đến các cuộc tiếp tân ngoại giao ở Sài Gòn và những cuộc gặp mặt chung khác. Ngược lại, sau lần đi tìm Annie ở trường trung học Đà Lạt, anh cẩn thận không đưa cô ra mặt ở Sài Gòn . Những buổi đi nhà hàng hoặc hộp đêm hạn chế đến mức tối thiểu để quyến rũ cô. Sau lần thứ hai cô mang thai và dàn xếp với bố cô, người ta không bao giờ thấy cô đi với anh. Chỉ những bạn thân như Ellsberg, George Jacobson, Wilson và cô thư ký Mỹ của anh biết có Annie. Lee, tinh tế hơn với vốn tiếng Anh giỏi, đương nhiên được chọn làm vai trò công khai. Vann tương đối hào phóng với cô. Cô có thể thường xuyền sử dụng chiếc Toyota Vann mua năm 1967, đã trở thành thừa vì anh thích chiếc Ford Mustang cơ quan AID dành cho anh.
Tuy tiền bạc không phải là động cơ tiên quyết của Lee, cô cũng có lợi trong quan hệ này. Cô được chuyển nhượng một cửa hàng lưu niệm trong câu lạc bộ sĩ quan Sài Gòn mà Vann không can thiệp hoặc mua chuộc ai. Chỉ việc là tình nhân của anh tạo cho cô những tiếp xúc cần thiết. Cô bỏ trường dạy tiếng Anh để bán hàng và quản lý một quán ăn của một người xứ Corse. Cô cũng hết sức giúp Vann, đi mua bán đều đặn cho anh và làm chủ nhà thu xếp mọi việc khi anh tổ chức tiếp khách ở tư dinh Biên Hòa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #192 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2008, 02:51:11 pm » |
|
Vann được trực tiếp nói chuyện một mình với McNamara lần đầu tiên vào tháng Bảy khi bộ trưởng Quốc phòng đến mực cả với Westmoreland về việc ông này xin tăng cường lực lượng. Ngày gặp mặt ấy, như anh viết thư cho Ellsberg “ đánh dấu một tảng đá trắng “. Nicholas Katzenbach, thứ trưởng Ngoại giao hỏi anh trong hai tiếng rưỡi. David McGiffert, thứ trưởng Bộ quốc phòng đến Biên Hòa ăn tối với anh, nói chuyện đến khuya rồi cả ngày hôm sau đi kiểm tra Quân đoàn 3 cùng anh. Vann chỉ trao đổi với McNamara trong nửa tiếng nhưng việc bộ trưởng Quốc phòng hỏi quan điểm của Vann đã là một dấu hiệu đối với anh. Thật vinh dự, Robert McNamara đã bắt đầu lo sợ.
Việc thất bại của cuộc chiến bằng không quân trên miền Bắc Việt Nam đã làm cho ông phải mở mắt. Những trận bom “Thần sấm” không ngăn chặn được thậm chí không giảm bớt đáng kể làn sóng người và vật chất đi từ Bắc vào Nam, cũng không làm nhụt ý chí người Việt Nam . Ngược lại, càng làm họ quyết tâm cứng rắn hơn, kích thích họ xây dựng một hệ thống vận chuyển mỗi năm có hiệu quả hơn và ít bị thiệt hại hơn vì những đợt máy bay tấn công. Con đường mòn Hồ Chí Minh mà đầu năm 1965, những nhà bản đồ của CIA vẽ là một mạng lưới đường mòn qua núi và bùn lầy từ thời thực dân, chỉ một số đoạn xe cộ qua lại được trong mùa khô. Tám năm sau, con đường đã trải dài hàng nghìn cây số cứng rắn phủ đã dăm, đá ông hoặc được tăng cường bằng những khúc gỗ tròn, có những chiếc cầu qua vực sâu và sông suối. Con đường ngoằn nghèo từ Bắc vào Nam qua núi rừng với hàng loạt đường nhánh và đường quay.
Trong gần hai năm chiến tranh thế giới thứ hai, lực lượng không quân Mỹ, Anh cố gắng ngăn chặn không được những đoàn tiếp tế của Đức cho Ý qua một số đèo ở dãy núi Alpes. Cuộc hành quân “ Lạ lùng “ ở Triều Tiên để ngăn làn sóng người và đạn dược qua đường bộ, đường sắt xuống phía nam cũng thất bại hoàn toàn. Những người có trách nhiệm về Không quân là những người trong quân đội có trí nhớ ngắn nhất về giới hạn máy bay của họ, đã dẫn những nhà lãnh đạo chính trị đặt lại vấn đề lãng phí tiền và người họ sử dụng.
Đô đốc hải quân Grant Sharp, chỉ huy trưởng vùng Thái Bình Dương, chắc là một thủy thủ tuyệt với nhưng cũng dễ tin vào sức mạnh của không lực, và chiến dịch ném bom phá hoại miền Bắc Việt Nam là cuộc chiến tranh của ông vì Westmoreland chỉ có quyền lực ở miền Nam. Trong đà hào hứng, tháng Ba năm 1965, đô đốc đã tả những máy bay của ông sẽ “cắt đứt mọi đường giao thông”, đường bộ, đường sắt và đường thủy trong vùng bở biển Bắc Việt Nam từ vĩ t uyến 20 đến vùng phi quân sự. Không quân ném bom tất cả các điểm chiến lược, các cầu, bến tàu và đèo. Những cuộc tấn công liên tiếp hai mưới bốn trên hai mươi bốn giờ, ban đêm dựa vào pháo sáng, không cho người Việt Nam sửa chữa những hư hỏng. Sharp nói cụ thể trong một bức điện gửi Bộ tham mưu tối cao “ Tất cả những mục tiêu được chọn rất khó hoặc không thể vòng tránh được. Việc tấn công vào hệ thống đường giao thông làm giảm khối lượng chở đến những thùng phễu ấy và tạo cho chúng ta khả năng chọn lựa rộng rãi những mục tiêu mới như các đoàn xe tăng cường, các kho chứa và người được huy động đến mỗi bên cầu bị phá hủy”.
Kể từ năm 1965, máy bay Không lực Hoa Kỳ và máy bay Hải quân không phá hỏng quá 20 đến 25% xe cộ vận chuyển từ miền Bắc. Người Việt Nam cũng duy trì được việc vận chuyển đường sắt dù đôi khi họ phải thiết lập ô tô chạy con thoi trong những đoạn đường sắt bị phá hủy. Cho rằng những con số phá hủy chưa đúng thực tế và thêm vào 10% nữa vẫn không ít hơn hai phần ba lượng tiếp tế vũ khí, đạn dược và những vật dụng khác vẫn đến nơi, một tỷ lệ rất có thể làm hài lòng các chuyên gia hậu cần. Người bị thiệt hại do máy bay tấn công thấp hơn 20 hoặc 25% vì họ tiến vào Nam qua những vùng hiểm trở hơn để tránh bị oanh tạc. Một đoàn thâm nhập chỉ có khả năng mất mát từ 10 đến 20%, phần lớn do bệnh tật và thất lạc.
Những người lái máy bay không bao giờ tiến hành được một chiến dịch ngăn cản hữu hiệu vì họ đứng trước tình thế tiến thoái lưỡng nan không giải quyết được. Những vấn đề thời gian, khoảng cách kết hợp với điều kiện thời tiết và lưới lửa phòng không cũng như với sáng kiến và ý chí quyết tâm của những người dưới mặt đất mà họ cố gắng tiêu diệt đã ngăn cản họ. Điều đã xảy ra ở Italia và Triều Tiên mở rộng thêm bi kịch ở Việt Nam vì mức độ thách thức lớn hơn. Yếu tố thời gian và khoảng cách không khắc phục được vì thực tế đơn giản là số lượng máy bay có hạn cũng như thời gian chúng có thể ở trên không. Năm 1967, trong lúc các đợt tấn công của đô đốc Sharp lên đến cực điểm, Hoa Kỳ tung ra miền Bắc Việt Nam và Lào mỗi ngày 300 cuộc không tập trong khoảng nửa giờ. Hệ thống đường giao thông của địch bắt đầu từ biên giới Trung Quốc , không thể kiểm soát hết đường bộ, đường sắt và phải tấn công khá lâu để làm tắc nghẽn hẳn. Nhiều xe ô tô thoát khỏi sự tiêu diệt, đơn giản vì lúc chạy về phía nam không có máy bay trên trời. Điều kiện thời tiết Đông Dương càng làm vấn đề khó khăn hơn, buộc máy bay chờ trên đường băng hoặc trên tàu trong lúc đáng lẽ phải lên không trung. Nhưng đúng là người Việt Nam cũng gặp nhiều trở ngại trong đợt gió mùa tháng Năm đến tháng Mười một, thời gian lâu không sử dụng được đường mòn Hồ Chí Minh.
Người Việt Nam còn làm giảm sức mạnh của không lực Mỹ bằng hệ thống phòng không được bố trí một cách xuất sắc nhờ vào sự trang bị của Xô viết : ra đa, súng phòng không DCA và tên lửa đất đối không SA-2. Họ cũng phân phối súng tự động cho mỗi nông dân để có thể bắn thẳng vào máy bay lúc đang bay. Phi công Mỹ buộc phải tấn công từ độ cao để khỏi bị hạ vì vậy kém chính xác hơn. Để tránh tên lửa, họ phải mất thì giờ. Như vậy, những người phòng vệ không cần bắn máy bay tiêm kích – ném bom cũng giảm bớt số lượng. Những máy bay bình thường tấn công vận chuyển ở mặt đất phải chuyển nhiệm vụ vô hiệu hóa những nơi bắn tên lửa hoặc súng phòng không để bảo vệ những máy bay ném bom khác. Hơn 40% lần ra quân trên miền Bắc Việt Nam và Lào dành cho nhiệm vụ bảo vệ và tháp tùng này.
Những khối óc và đôi tay người Việt Nam chống lại cuộc tấn công bằng máy bay Mỹ một cách tốt nhất. Họ bố trí 300.000 đàn ông, đàn bà tập trung sửa chữa đường bộ, đường sắt , cầu cống và không ngừng mở rộng đường giao thông. Ngoài ra, có 200.000 nông dân tham gia khi xong công việc đồng áng. Người Trung Hoa hỗ trợ 40.000 kỹ thuật viên chuyên trách và pháo thủ phòng không đảm bảo hai con đường sắt từ biên giới về Hà Nội hoạt động. Người Nga cung cấp xe ủi đất để làm lại đường. Nhưng những dụng cụ chính làm đất thuộc loại thân quen hơn với người Việt Nam : thuổng, xẻng, xe đẩy lắp bánh xe đạp lăn tốt hơn kiểu của Mỹ. Và khi không có xe, người ta thay thế bằng đôi thúng với đòn gánh trên vai.
Đối với người Mỹ, con đường bộ hoặc đường sắt là một đường thẳng đi từ điểm A đến điểm B, chỉ đi vòng khi địa hình bắt buộc. Người Việt Nam không muốn hệ thống đường của họ tắc nghẽn nên làm sáu, tám hoặc mười đường khác nhau để đi từ A đến B, thường là những cầu nổi, bắt đầu trời sáng thì chuyển đi để lại đặt vào lúc hoàng hôn xuống. Khi máy bay dội những hố bom cắt đứt một con đường hoặc phá hỏng một chiếc cầu, đoàn xe sử dụng một đoạn đường khác đã được sửa chữa ngay sau đó. Dĩ nhiên, xe được ngụy trang với cành lá và dừng lại chỗ ẩn náu trong trường hợp có báo động máy bay. Nhiều đoạn đường dài cũng được cây cối phủ kín hai bên, máy bay không quan sát được.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #193 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2008, 04:01:47 pm » |
|
Nhưng cái giá người Việt Nam phải trả cũng không nhỏ. Lái một chiếc xe trong nhiều tháng, năm này qua năm khác có 20, 25, có lẽ đến 30% nguy cơ tử vong. Còn những đội quân bảo dưỡng đường sá cũng gặp nguy hiểm như lính bộ binh. Để giữ cho đường thông suốt, đàn ông, đàn bà phải túc trực gần những điểm thường bị bắn phá và những quả bom không trúng xe và cầu đã không trừ người làm đường. Họ không thể vừa làm việc vừa ẩn nấp để tránh những thảm bom của B-52. Nghĩa trang tưởng nhớ người chết trên đường mòn Hồ Chí Minh rộng 16 héc ta, đặt mộ của 10.306 người Việt Nam , đàn ông và đàn bà mà người ta biết rõ tên họ. Hàng nhiều nghìn những người khác nằm lại tại chỗ, là những chiến sĩ vô danh trong sự lộn xộn của cuộc chiến tranh này.
Việc nhân đôi hoặc nhân ba hệ thống đường đan xen nhau ấy mà ngay trung tâm vận chuyển ở Hà Nội cũng không theo dõi được sự phát triển tăng thêm bao nhiêu cây số cho phi công Mỹ cần nắm. Đường mòn Hồ Chí Minh là ví dụ kỳ lạ nhất trong những chiến công người Việt Nam có thể làm nên. Theo đường thẳng từ đầu con đường ở đèo Mụ Gia, Bắc Việt Nam đến miền Nam ở biên giới chung Việt, Lào và Campuchia chỉ khoảng 400 cây số. Khi đường làm xong, đoạn đường ấy bao gồm 15.400 cây số đường lát đá dăm và đường phụ.
Đô đốc Hải quân Sharp và ban tham mưu liên quân xác định chắc chắn với McNamara và tổng thống có thể ngăn chặn xe ô tô phát triển bằng cắt bỏ nguyên liệu. Chỉ cần dội bom vào những thùng chứa xăng của cảng Hải Phòng và những kho khác trong vùng Hà Nội – Hải Phòng. Walt Rostow, thay thế McGeorge Bundy năm 1966 làm cố vấn cho Johnson về an ninh quốc gia, hồ hởi về ý kiến này làm ông nhớ lại kinh nghiệm của mình trong Thế chiến thứ hai và việc ném bom chiến lược của Đức.
Bầu trời sáng sủa ở Hải Phòng ngày 29 tháng Sáu năm 1966 lúc các phi công Mỹ đốt cháy tất cả những thùng chứa xăng của cảng. Trong một tháng, gần 80% lượng dự trữ xăng dầu miền Bắc Việt Nam bị phá hủy. Thế nhưng, theo người ta biết, không một chiếc ô tô nào thiếu nguyên liệu. Hơn nữa, số lượng xe do Liên Xô và Trung Quốc cung cấp không ngừng tăng trong năm 1966, lên gấp đôi so với năm 1965. Những người Việt Nam không tự sản xuất và lọc xăng, đã dự kiến những cuộc tập kích này từ lâu, phân tán xăng dầu cần thiết vào những bể ngầm dưới đất và những kho dấu kín. Người Nga nhanh chóng giao bằng thùng để họ phân tán ngay khi tàu thủy đến. Để dễ dàng tiếp tế cho xe, người Việt Nam xây dựng hai đường ống dẫn dầu dọc đường với những nhánh mà một vào miền Nam phía tây thành phố Huế. Một trong những bức tượng tưởng niệm trên đường mòn Hồ Chí Minh khắc họa một người đàn bà đang bơm xăng.
Krulak hóm hỉnh thấy trước việc này khi trong báo cáo chiến lược tháng Chạp năm 1965, ông đã cảnh báo , cố gắng ngăn chặn những đoàn người và sự chi viện choi miền Nam là “ như đánh nhau với một con cá sấu mà chỉ cắn vào đuôi nó”. Sharp, tất cả các đô đốc, các tướng Không quân chúc phúc cho việc làm không tưởng này chứng tỏ nỗi ám ảnh và thất vọng có thể làm sai lạc việc suy xét đến mức nào. Số lượng “ xe ô tô mất đi “ là thước đo hiệu quả của không chiến. Năm này đến năm khác, Sharp và những cấp cao nhất trong Không quân cho mua những chiếc máy bay phản lực, mỗi chiếc giá từ 1 đến 4 triệu đô la ( bây giờ là 4 đến 6 triệu ) và tuyển mộ những phi công can đảm, nàh nước phải đầu tư vào đào tạo và cung cấp hàng nhiều trăm nghìn đô la. Để làm gì ? Để phá hủy những chiếc xe 2,5 tấn và những người lái xe Việt Nam chỉ có lòng can đảm , được đào tạo trên ngay tại hiện trường tránh máy bay. Những chiếc xe bị phá hủy không cân bằng với số lượng máy bay bị hạ. Xe ô tô mỗi chiếc giá khoảng 6000 đô là và được sản xuất thừa thãi bởi nền công nghiệp Liên Xô, Đông Âu và Trung Quốc. Việc thay thế xe không đắt và người Việt Nam tăng thêm phương tiện vận chuyển. Trong báo cáo gửi ban tham mưu cuối năm 1967, Sharp trung thực thừa nhận sau một năm đánh bom, tháng Chạp vấn có số lượng xe ô tô như tháng Giêng trước. Có thể còn nhiều hơn. Theo những quan sát thu thập được, số lượng xe ở Lào năm 1967 tăng 165% so với năm trước; McNamara đánh giá trong năm 1967, những người Việt Nam có từ 10.000 đến 12.000 xe chạy trên đường từ Bắc vào Nam.
Giải pháp không phải bằng thả mìn và bom phong tỏa Hải Phòng và các cảng khác ở miền Bắc như Krulak và Greene đã nghĩ và như bây giờ Sharp và các đồng sự ở ban tham mưu đòi hỏi. Tuy vậy, điều đó hình như là câu trả lời của vấn đề vì, ngoài lương thực và người, mọi phương tiện chiến tranh đến bằng đường biển từ Nga và các đồng minh cộng sản khác. Nhưng thời kỳ ấy, Trung Quốc để cho người Nga chuyển theo đường sắt Trung Quốc. Nếu các hải cảng bị phong tỏa , người Việt Nam được tiếp tế bằng đường sắt và đường bộ từ biên giới Trung Quốc như họ làm sau khi Nixon cấm tàu vào các cảng năm 1972. Ngay từ mùa xuân 1967, mọi thỏa thuận đã được thu xếp cho việc vận chuyển trên đất liền này.
Những hy vọng điên rồ đầu tư vào những trận tập kích vào nguồn dự trữ xăng dầu trong mùa hè 1966 xáo động đến nỗi McNamara bắt đầu phân tích sự thật. Ông ta cảnh báo Johnson từ tháng Mười cách tốt nhất để đạt kết quả quyết định sẽ là đánh vào nhân dân miền Bắc Việt Nam . Ông kết luận “ Ném bom đúng mức ở miền Bắc để có một tác động quyết định về cơ cấu chính trị, kinh tế và xã hội của nông dân đòi hỏi một cố gắng mà về kỹ thuật chúng ta có khả năng nhưng nhân dân chúng ta cũng như dư luận thế giới sẽ không tha thứ. Ngoài ra, chúng ta còn có nguy cơ nghiêm trọng đánh nhau với Trung Quốc “.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #194 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2008, 05:06:08 pm » |
|
Dan Ellsberg góp phần làm McNamara sáng tỏ về những ảo tưởng của mình. Ông nhớ lại câu chuyện như là “ đỉnh cao nghiệp vụ viên chức “ của ông. Việc đó xảy ra ngay trong tháng Mười năm 1966 trên một chiếc máy bay phản lực “ dành riêng cho McNamara” Không quân bố trí cho những chuyến đi dài của các nhân vật và bộ trưởng Quốc phòng thường dùng. Ngoại trưởng mới Nicholas Katzenbach sang Việt Nam lần đầu cũng cùng đi. Ellsberg được chỉ định tháp tùng ông.
Máy bay gồm những phòng cách biệt nhau, có giường ngủ và một khoang trống đặt bàn làm việc hoặc ăn uống. McNamara ngồi đối diện với thứ trưởng phụ trách ngoại giao John McNaughton. Đã có ý định, Ellsberg mang theo một cặp tài liệu đầy báo cáo quan trọng, tất cả hơn 200 trang, trong đó có một chuyện kể rất ấn tượng về ba ngày anh đến Hậu Nghĩa với Vann trong mùa thu trước .. Khi máy bay đã cất cánh, Ellsberg lấy ra một tài liệu đưa cho McNaughton, gợi ý sẽ thú vị khi đọc trong cuộc hành trình. McNaugton nhìn qua rồi đưa cho McNamara đọc. Ellsberg lấy một tài liệu khác và đến lượt McNaugton cũng say sưa đọc.
Hai người đọc rất nhanh và Ellsberg đưa ra hết các tài liệu. McNaugton gặp riêng Ellsberg nói ông bộ trưởng Quốc phòng muốn có một bản sao ghi chép của anh về Hậu Nghĩa, bản viết tốt nhất của anh, nhiều chi tiết về sự hư hỏng tinh thần và hài hước của chế độ Sài Gòn , McNaughton có một cuộc điều tra khác cần làm ; ông đề nghị Ellsberg không đưa tài liệu này cho tướng Wheeler xem.
Không hài lòng khi đã nảy sinh một thôi thúc đặc biệt và bây giờ McNamara không chỉ quan tâm về thất bại của chiến dịch tấn công bằng máy bay. Ông bỗng hiểu ra những sự thật bao nhiều năm ông không biết. Báo cáo ông gửi lên tổng thống Johnson đánh dấu sự tan vỡ. Một năm trước McNamara có thể chịu đựng cơn choáng vì 230 người Mỹ chết trong bốn ngày đánh nhau ở thung lũng IaDrang và vẫn khuyến khích tổng thống ủng hộ cuộc chiến tranh của Westmoreland , “ cung cấp cho ông ta những gì ông cần về người và phương tiện”. Ngày nay, bộ trưởng Quốc phòng muốn xiết chặt lại đối với Westmoreland để chấm dứt “ viễn cảnh leo thang trải rộng các lực lượng Mỹ xem ra không kết thúc”. Ông phải xác định với viên tướng chỉ có 470.000 người không hơn. Còn về cuộc không tập miền Bắc Việt Nam , McNamara không còn lòng dạ nào chơi trò tạm ngừng, tiếp theo là tối hậu thư và leo thang. Ông muốn Johnson cố thuyết phục những người cộng sản Việt Nam thương lượng bằng cách ngừng ném bom trên toàn miền Bắc hoặc nếu tổng thống thấy quyết định ấy quá độ lượng thì cũng trên vùng hình chữ nhật đông bắc Hà Nội, Hải Phòng cho đến biên giới Trung Quốc. Các tướng trong ban tham mưu liên quân lên tiếng họ sẽ nổi dậy nếu tổng thống có một biện pháp loại đó.
McNamara bắt đầu chấp nhận sự thật và càng tiến tới ông càng bối rối. Chắc vì thế mà ông đồng ý triệu tập Vann về đứng đầu bộ phận châu Á ở văn phòng phân tích của ông. Vann đã chọn ở lại Việt Nam , ông tuyển dụng một nhà thống kê trẻ Thomas Thayer, đã ở Sài Gòn hai năm rưỡi làm việc cho Lầu Năm Góc. Đối với anh này, McNamara thừa thãi những con số thật, những con số ông không chú ý khi Krulak đặt dưới mắt ông. Kinh nghiệm của Thayer ở Việt Nam đã dạy cho anh điều gì quan trọng và anh đủ thông minh để kiểm tra thống kê của mình qua lời chỉ trích của những người chiến đấu sáng suốt dựa vào phân tích chiến trường. Anh hỏi Hal Moore sau khi thôi chỉ huy Lữ đoàn 3 Không quân về Washington làm phó cho McNaughton. Moore chắc chắn rằng, người Việt Nam đánh táo bạo và kiên trì như vậy ở vùng Drang và chống cự quyết liệt ở Bồng Sơn vì họ quyết định học cách đọ sức với người Mỹ. Bây giờ, họ đã biết. Đã đến lúc họ buộc đối phương đánh theo cách của họ. Họ dắt mũi quân đội và lính thủy đánh bộ Mỹ.
Mùa xuân năm 1967, khi Westmoreland ở Sài Gòn đòi hỏi tăng quân, ít nhất là 550.000 vào giữa năm 1968 hoặc 678.000 nếu tổng thống muốn đẩy nhanh thắng lợi, Thayer đã sẵn sàng. Với nhóm các nhà phân tích, anh tập hợp ở Văn phòng đặc biệt về Đông Nam Á những cơ sở nghiên cứu khá đủ để chứng minh cuộc chiến tranh hủy diệt của Westmoreland là một sự cố gắng vô lý. Bức giác thư đưa lên McNamara khuyến khích ông chống lại mọi quân số cao hơn 470.000 người.
Nghiên cứu 56 trận đánh trong năm 1966 từ cấp trung đội đến tiểu đoàn chứng tỏ Việt cộng và quân Bắc Việt mở đầu hành động trong 85% trận chiến đấu, hoặc tấn công các đơn vị Hoa Kỳ hoặc chiến đấu từ những vị trí kiên cố; 80 trong 100 lần , quân địch gây được bất ngờ. Chỉ có 5% trường hợp chỉ huy quân Mỹ “ biết được tương đối đúng về vị trí và lực lượng quân địch trước khi trận đánh bắt đầu “. Thayer xác nhận kết quả nghiên cứu với hàng tập báo cáo của các sĩ quan chiến đấu nộp sau trận đánh, so sánh với những việc xảy ra trong năm 1965 và đầu năm 1966. Trong 88% trường hợp, Việt cộng và quân Bắc Việt nổ súng trước.
Để cuộc chiến tranh hủy diệt gặp thuận lợi, một chỉ huy quân sự phải buộc quân địch đánh nhau theo ý mình. Những kết luận của Thayer chứng tỏ Westmoreland không thể buộc quân địch đánh nhau được vì người Việt Nam chủ động ghê gớm trong việc tấn công và kiểm soát được thiệt hại. Hơn nữa, vì Westmoreland cố đánh nhau ở chỗ hoặc lúc họ xuất hiện nên chính người Việt Nam thiệt hại của người Mỹ. Họ có thể làm tăng thêm hoặc giảm bớt tùy theo sự hy sinh của quân đội họ.
Nếu bỏ qua yếu tố khởi đầu những trận đánh và cho Westmoreland tất cả quân lính ông ta đòi hỏi, việc phân tích của Thayer cho thấy chiến lược của ông ta dù sao cũng chẳng có ý nghĩa gì. Cho dù với 678.000 lính Mỹ để duy trì tàn sát và dù người Việt Nam có thiệt hại gấp đôi, mỗi tuần lễ họ cũng chỉ tổn thất thêm 400 người mà những nguồn dự trữ có thể thay thế. Kết luận “ Vậy là chúng ta phải mất 10 năm để đè bẹp họ”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #195 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2008, 01:47:27 pm » |
|
Robert McNamara, nhà kỹ trị cầm quyền khác thường, tháng Năm năm 1967 thực hiện một hành động dũng cảm về tinh thần đáng nhớ. Ông gửi lên tổng thống Hoa Kỳ một tờ trình nói rằng ông không thắng được cuộc chiến tranh Việt Nam và phải thương lượng hòa bình trong thế bất lợi.
Tờ trình do John McNaughton viết, người đã chia sẻ với McNamara sự lo lắng đồng thời về trách nhiệm của cuộc tắm máu. Thực ra, họ không nói một cách sống sượng rằng cuộc chiến tranh không thắng được ; như thế sẽ ảnh hưởng xấu về chính trị trong hoàn cảnh thời kỳ đó. Nhưng kết luận ấy rõ ràng qua những biện pháp họ kiến nghị và nền hòa bình họ hình dung. Họ muốn tổng thống bỏ mục tiêu chính thức, khắc trên đồng sự thất bại của những người cộng sản Việt Nam xây dựng “ một miền Nam Việt Nam độc lập không cộng sản “, và có sự chỉ đạo mật về “ những mục tiêu tối thiểu mới “. Điều đó trở lại một qui định về tình hình chính trị ở miền Nam cho phép Hoa Kỳ giải ước nhanh chóng. Việc “ hạn chế về những bổn phận của Hoa Kỳ .. chắc sẽ gây ra “một cuộc chạy ra nước ngoài” ở Thái Lan, Lào và trong nội bộ nhiệm vụ Việt Nam “, nhưng ảnh hưởng xấu “ sẽ ít khó khăn hơn mọi cách tiếp cận tình hình khác”. Họ khuyến nghị tổng thống tiến theo hướng ấy, chỉ cho Westmoreland thêm 30.000 quân và ngừng ném bom miền Bắc phía trên vĩ tuyến 20, nghĩa là giới hạn ỏ những con đường thâm nhập gần vùng phi quân sự.
McNamara không còn phát huy ảnh hưởng của mình để tiến hành những sự kiện ông đã mở đầu. Lyndon Johnson đã đầu tư vào chiến tranh Việt Nam 11.000 mạng sống người Mỹ và chỗ đứng của ông trong lịch sử. Ông lắng nghe những người khác như Komer, Rostow và Rusk, không cùng quan điểm với McNamara nhưng ông vẫn sử dụng làm nổi bật phe quân sự. Ông không hề có ý định cho Westmoreland 678.000 người với “lực lượng thích hợp” vì như vậy buộc ông phải huy động quân nhân dự bị về pháp chế sẽ nguy hiểm đối với xã hội và làm sâu sắc dư luận quần chúng chống đối chiến tranh . Ông cũng không muốn cung cấp 550.000 quân của “Lực lượng tối thiểu” vì chuyến về Washington mới đây, Westmoreland không thuyết phục được ông thật cần thiết để chiến thắng. Tổng thống đã đi đến chỗ xem những đề nghị tăng cường của Westmoreland thiên về mặc cả hơn là cần thiết thực sự. Tháng Bảy ông lại cử McNamara sang Nam Việt Nam , Vann có dịp lần đầu tiên thấy ông một mình mặc cả với viên tướng. Cuối cùng, Westmoreland chấp nhận tăng cường 55.000 người và như vậy ông có 525.000 người vào giữa năm 1968.
Được tổng thống ủy thác không có nghĩa là được ông tin tưởng. Lyndon Johnson bắt đầu có những khoảng cách với bộ trưởng Quốc phòng của mình.
Tháng Bảy, McNamara mất người bạn tin cậy John McNaughton và gia đình trong vụ đụng chạm giữa chiếc chuyên cơ và chiếc máy bay thương mại trên sân bây Caronlina Bắc. Ông cảm thấy đau đớn về sự mất mát ấy và bắt đầu tỏ ra xúc động. Trong báo cáo tháng Năm, ông đã lùi bước khi tả với tổng thống việc ném bom miền Bắc Việt Nam “ Không phải một hình ảnh quyến rũ khi lực lượng hùng mạnh nhất thế giới mỗi tuần giết hoặc làm bị thương nặng 1.000 người không phải lính chiến đấu, cố khuất phục một cách tàn nhẫn một nước nhỏ kém phát triển hơn, mà kết quả rất đáng nghi ngờ”.
Nhưng ông không chỉ băn khoăn về sự đẫm máu này. Một trong những trợ lý đã làm việc bên cạnh ông năm 1967 nhớ lại bấy giờ McNamara xấu hổ về những lời khuyên sai lầm ông trình lên hai tổng thống trong những năm trước, xấu hổ vì xem như vai trò quan trọng nhất đời ông là một thất bại. Tháng Sáu, ông cho viết tập “ Hồ sơ của Lầu Năm Góc”, cuộc điều tra tuyệt mật về việc can thiệp của Hoa Kỳ vào Đông Dương từ những nguồn gốc thời Pháp. Có đến 43 tập tài liệu lưu trữ về chiến tranh hơn 7.000 trang. Leslie Gelg, cầm đầu công việc, nhận của ông một danh sách hàng trăm câu hỏi muốn người ta nghiên cứu và trả lời. Một trong những câu hỏi đầu của McNamara qui kết những gì ông này thu thập được là vô ích “ Hồ Chí Minh có phải là một Tito của châu Á không ?”.
Có lẽ vì ông ít chú trọng đến quá khứ, bây giờ ông muốn biết mọi chi tiết về những vụ ám sát và phá hoại. Mùa thu năm 1967, Jonathan Schell, một nhà báo hai mươi bốn năm làm việc ở tờ NEWYORKER, vừa hoàn thành cuộc điều tra về hoạt động của Lực lượng can thiệp Oregon mà Westmoreland cử đến tỉnh Quảng Ngãi, phía nam vùng Quân đoàn 1 trong mùa xuân để thay thế lính thủy đánh bộ. Schell đến đó nhiều tuần trong mùa hè, phần nhiều ngồi ở ghế sau chiếc máy bay thám thính nhỏ L-19, vị trí lí tưởng để nhìn toàn cảnh bị tàn phá.
Hai năm trước như tôi đã nhận thấy vào tháng Mười một năm 1965, năm ấp ven biển bị san bằng , hàng trăm người chết vì bom đạn của Không quân và tàu chiến, sự hủy hoại nông thôn và dân thường vùng này thật nặng nề. Trong năm 1966, lính thủy đánh bộ tổ chức những cuộc hành quân rất tàn ác chống lại sự kháng cự của Việt cộng , những nông dân quyết tâm ủng hộ họ và cả những toán quân Bắc Việt từ dãy Trường Sơn xuống tăng cường. Chiến lược bình định của Krulak và Walt cố gắng triển khai tại chỗ đã kìm hãm các chỉ huy lính thủy đánh bộ lại. Nhưng sự hạn chế ấy biến mất khi lực lượng Oregon đến vào mùa xuân 1967. Đội quân này không quan tâm đến sự an toàn của các làng và sự bảo vệ đất đai. Máy bay được tự do không gò bó và sự tàn phá thật triệt để.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #196 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2008, 03:58:34 pm » |
|
Hai năm trước tôi biết ít nhất hàng chục làng khác bị gạch khỏi bản đồ như năm thôn ấp tôi thấy dọc bờ biển và 25 làng khác bị thiệt hại nghiêm trọng. Năm 1967, Schell phát hiện ra 70% trong số 450 làng trong tỉnh hoàn toàn bị tiêu diệt. Trừ một số thôn ấp dọc đường số 1 quân tuần tra lúc đi lúc không, mặc nhiên sự tàn phá phát triển với một nhịp điệu dồn dập. Ngày này qua ngày khác, ngồi trên chiếc máy bay nhỏ Schell chứng kiến sự bắn phá của trọng pháo và rốc két từ trực thăng chiến đấu cùng những đám cháy bùng lên do lính bộ binh Mỹ đốt phá. Anh tổng kết những đổ nát trên qua dấu vết những ngôi nhà bị phá hủy, cẩn thận kiểm tra những con số với các phi công L-19, các sĩ quan lực lượng Oregon, các thành viên đội CORDS ở địa phưong và các sĩ quan Sài Gòn .
Một số nông dân trở về làng bị tàn phá tuy phần đông bị cấm ở lại trong vùng tự do bắn phá và sống dưới hầm. Họ thà mạo hiểm mạng sống trên đồng ruộng lỗ chỗ bom đạn và đối mặt với làn đạn còn hơn chắc chắn bị đói, bẩn thỉu và bệnh tật trong những trại tị nạn. Từ khi lực lượng Oregon đến, các bệnh viện tiếp nhận bình quân mỗi ngày ba mươi dân thường bị thương. Một bác sĩ tình nguyện Anh đã làm việc ở Quảng Ngãi hơn ba năm tâm sự với Schell : tổng số nạn nhân dân thường, bao gồm chết và bị thương hàng năm lên đến 50.000 người trong tỉnh. Tom Thayer chỉ dựa vào số người nhận vào bệnh viện đã tới con số 33.000.
Schell kể lại những điều mình thấy với Jerome Wiesner , người điều hành Viện kỹ thuật công nghiệp Massachusetts. Quân đội đã tranh thủ tài năng của ông cải tiến ra đa ở phòng thí nghiệm trong Thế chiến thứ hai. Ông đã là cố vấn khoa học của Kennedy và là một bạn thân của McNamara. Ông thu xếp để Schell gặp ông này tại Lầu Năm Góc.
McNamara có thói quen tiếp khách do bạn bè giới thiệu. Ông muốn tỏ ra là người có trí tuệ rộng rãi. Nhưng nói chung, khách mau chóng nhận thấy ông bộ trưởng Quốc phòng bắt đầu cựa quậy và nhìn đồng hồ. Một trợ lý vào đưa cho ông một bức thư hoặc điện thoại gọi có việc trao đổi quan trọng và người khách phải ý tứ ra khỏi phòng. Khi trở lại, McNamara đang đứng sau bàn giấy và không ai có thể cho phép mình làm phiền lâu hơn một người có trách nhiệm nặng nề bận việc đến như vậy.
Schell không bị gián đoạn. Anh vẫn có cảm tưởng đặt vấn đề với một người rất bận mặc dù McNamara không cố thúc dục anh. Ông chú ý lắng nghe anh với nét mặt vô cảm và nêu lên vài câu hỏi. Khi Schell nói xong, ông bảo anh chỉ những vùng anh đã tả trên bản đồ. “ Ông có thể viết tất cả những ấy ra giấy được không ?” McNamara hỏi. Schell trả lời chỉ là viết thảo bằng tay. Ông gọi một trợ lý đến, đề nghị bố trí để Schell có thể đọc cho chép lại bản thảo của mình. Schell cám ơn bộ trưởng và rút lui.
McNamara không hỏi bài viết của anh dài bao nhiêu, thực tế nó bằng một cuốn sách nhỏ. Anh để luôn ba ngày tiếp đó đọc trước máy ghi âm trong phòng một viên tướng lúc đó đi vắng. Những băng ghi âm lần lượt gửi sang phòng đánh máy chữ của Lầu Năm Góc. Người trợ lý cũng thu xếp để Schell ăn uống ở phòng ăn dành cho các sĩ quan và nhân viên cao cấp. Ở đấy có những câu trò chuyện anh thấy có vẻ “ rất kỳ lạ”. Sau ba ngày, anh đi ra với một bản sao đánh máy dành cho báo NEW YORKER. McNamara không tiếp xúc với anh bao giờ nữa để hỏi bản sao cho Lầu Năm Góc ra sao rồi. Mười lăm năm sau gặp ông tình cờ trong sân bay, McNamara có vẻ là một “ người rối loạn quá mức “ nên anh thấy bất lịch sự nếu cứ hỏi.
Rober McNamara gửi thẳng bản ấy sang Sài Gòn cho đại sứ Bunker; ông này đưa cho Westmoreland xem và với sự đồng tình của vị tướng, ra lệnh tiến hành một điều tra mật. “ Những cảnh tàn phá tác giả mô tả trong bài viết thật quá đáng nhưng không đến mức làm những lời tuyên bố của ông ta mất tín nhiệm, bản báo cáo điều tra kết luận … Những con số ông nêu lên rất đúng … Nhưng có những lý do quan trọng về dân sự và quân sự giải thích qui mô tàn phá trong vùng này. Dân chúng hoàn taòn căm thù chính quyền Nam Việt Nam và không đắn đo cảm tính với Mặt trận giải phóng của miền Bắc “. Việt cộng không chịu phục tùng chính quyền Mỹ, xây dựng vững chắc các làng và tổ chức công cuộc kháng chiến của toàn thể dân chúng. “ Đối với Việt cộng, không có sự phân biệt “ Việt cộng là nhân dân Việt Nam ( chữ LÀ được nhấn mạnh trong bản gốc). Báo cáo phản ánh tầm nhìn bó hẹp của các sĩ quan Mỹ, cố tìm một giải thích hợp lý về những điều Schell đã viết.
Chưa đầy bốn tháng sau việc làm tự biện minh ấy của ban tham mưu , sáng ngày 16 tháng Ba năm 1968, vụ thảm sát Sơn Mỹ trong tỉnh Quảng Ngãi diễn ra một cách dã man. Tệ hại nhất là ở ấp Mỹ Lai, dưới sự chỉ huy của thiếu úy William Calley, trung đội trưởng của Sư đoàn bộ binh 23 bây giờ gọi là “Sư đoàn AMERICAN”, trước đây là lực lượng Oregon. Việc điều tra hình sự do quân cảnh tiến hành kết luận có 347 người bị giết ở Mỹ Lai. Trong ấp khác, một đại đội nữa giết chết 90 người Việt Nam không có vũ khí trong cùng ngày. Trên bia mộ tưởng niệm sau chiến tranh ghi tên 504 người dân làng Sơn Mỹ bị giết.
Một số quân lính từ chối không tham gia thảm sát nhưng thái độ của họ không kìm hãm những người khác. Lính Mỹ và những sĩ quan trẻ giết người già, đàn bà, nam nữ thanh niên và những đứa bé. Một anh lính hai lần bắn hụt một đứa trẻ con nằm trên đất ; bạn bè chế giễu anh vụng về, anh bèn lại gần bắn liên tiếp lần thứ ba với khẩu súng ngắn. Lính dùng báng súng đánh đàn bà, hãm hiếp họ trước khi bắn hạ. Chúng giết trâu bò, lợn gà, vứt xác xuống giếng đầu độc nước uống. Chúng vứt những khối thuốc nổ xuống hầm đào trong nhà có phần đông dân làng đang ẩn nấp. Những ai ra được lập tức bị bắn hạ. Tất cả nhà của cửa bị chúng đốt hết.
Thiếu úy Calley dẫn quân đi bắn những nạn nhân trong một hố mương tưới chẳng mấy chố đã đầy xác người. Anh ta là sĩ quan hoặc người lính độc nhất bị buộc tội một mình giết chết 109 người Việt Nam . Thủ phạm dự tính giết ít nhất 22 nạn nhân trong đó có những em bé, bị tòa án quân sự kết tội lao công vĩnh viễn. Tổng thống can thiệp cho được khoan hồng. Calley chỉ bị ba năm tù giam, phần đông bị bắt giữ trong trại ở Fort Benning nhưng được quyền có bạn gái đến thăm.
Các sĩ quan của toàn án quân sự áp dụng hình phạt đúng mức. Nixon thật xấu hổ khi không thừa nhận vụ thảm sát. Tất nhiên, Calley là một tên bạo dâm nhưng chỉ tính cách riêng của anh ta không giải thích được sự tàn sát. Sự khác biệt giữa Calley và những người đồng lõa khác là chúng giết hàng mầy trăm người Việt Nam không vũ khí trong một buổi sáng, bắn bừa bãi với súng ngắn, súng trường và súng máy. Nếu chúng giết nhiều người như vậy trong một không gian rộng lớn hơn, lâu hơn với bất phân là đạn súng cối, bom ,rốc két, phốt pho và bom napalm thì chúng xử sự theo qui định bình thường của quân đội Mỹ. Quân lính và sĩ quan trẻ đã nhận thấy một số trường hợp cấp trên của họ làm đối với người Việt Nam . Không có lý do gì họ cho mạng sống của những người nông dân ấy là quan trọng. Họ trở nên tàn ác hơn vì vòng quay bạo lực ngu ngốc của cuộc chiến tranh toàn diện của Westmoreland . Lòng đầy thù hận vì bạn bè họ chết hoặc bị thương do mìn, bẫy của Việt cộng và các đồng minh nông dân, rất tự nhiên họ xem những người Việt Nam ở nông thôn như một loại sâu bọ cần tận diệt. Cuộc thảm sát ở Sơn Mỹ và Mỹ Lai là không tránh khỏi. Nhưng những người chịu trách nhiệm là các quan chức dân và quân sự của chính phủ Hoa Kỳ đã để cho các tướng lĩnh tiến hành một cuộc chiến tranh như vậy.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #197 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2008, 08:36:32 pm » |
|
McNamara còn cố thuyết phục tổng thống ngày 31 tháng Mười năm 1967 ở Nhà Trắng trong “bữa ăn trưa ngày thứ năm” theo truyền thống dành cho Việt Nam . Ông ta hết sức sốt sắng và hôm sau xác nhận sự bất đồng của mình trong một giác thư. Ông nói trước, cuộc chiến tranh kéo dài 15 tháng tiếp theo nếu Johnson chấp nhận chiến lược của ông cho đến cuối nhiệm kỳ vào tháng Giêng 1969. Lúc đó, Johnson có ý thức về cái chết trong chiến đấu của “ 24.000 đến 30.000” người Mỹ ( thực tế trên 31.000). Đổi lại, tổng thống không cung cấp điều gì quan trọng. Dư luận công chúng đòi rút quân đội về nước. Đồng thời các nhà lãnh đạo quân sự và phái diều hâu ở Nghị viện gây sức ép để thả mìn ở các cảng biển và ném bom dân cư Bắc Việt Nam , mở rộng chiến tranh , chiếm cứ những nơi trú ẩn của cộng sản ở Campuchia, cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào và tấn công ra miền Bắc phía bên kia khu phi quân sự.
Tháng Năm, McNamara mong muốn tổng thống kích thích Hà Nội thương lượng bằng việc giới hạn sự oanh tạc ở vĩ tuyến 20. Bây giờ ông đề nghị chấm dứt hoàn toàn mọi hoạt động tấn công bằng không quân trên toàn miền Bắc vào cuối năm. Buổi chiều ngày văn bản phiền phức ấy được đệ trình, ở Washington có một cuộc họp bí mật những người cũ trong chính phủ và các cố vấn thân cận. McNamara phát biểu nói rằng ông sợ những gì ông và Dean Rusk đã làm từ năn 1961 đến nay để tăng hiệu quả cuộc chiến tranh chỉ dẫn tới sự thất bại.
Sự thay đổi của McNamara làm Johnson ngỡ ngàng. Rusk, người mà bộ trưởng Quốc phòng có những nhận xét thê thảm, chắc chắn không cùng quan điểm của ông, cũng như không ai trong các cố vấn mà Johnson tôn trọng ý kiến. Nhóm người McNamara thường trao đổi ý kiến, người ta đặt tên là “ những nhà thông thái “ thực sự là một chùm sao gồm tất cả những người có kinh nghiệm về quân sự cũng như chính quyền. Trong nhóm có Dean Acheson và Omar Bradley, vị tướng năm sao duy nhất còn sống từ Thế chiến thứ hai. Cũng chiều hôm ấy, họ nghe Earler Wheeler báo cáo về những cuộc hành quân và việc oanh tạc máy bay của Westmoreland cùng bản tổng kết công cuộc bình định của Komer do George Carver, chuyên gia về Việt Nam của CIA trình bày.
Walt Rostow gửi cho Johnson một báo cáo về cuộc họp ấy trước khi những “ nhà thông thái “ đến Nhà Trắng vào sáng hôm sau để xin đường lối chỉ đạo . Rostow viết “ Tôi thấy những bản báo cáo rất có ấn tượng, đặc biệt bản của Carver đã đối chiếu đúng những tiến bộ chúng ta đạt được và những vấn đề còn phải giải quyết … Không một lời nói ra có thể đưa lên báo chí. Có lẽ ông có thể tổ chức một cuộc họp thượng đỉnh loại này do ông chủ trì và sau đó có thể phát lại trên truyền hình … “.
Trong quá trình bàn cãi trong bữa ăn trưa với tổng thống, một trong những nhà thông thái, George Ball, trước kia chống đối chiến tranh, bây giờ đứng đầu một nhà băng lớn ở New York, nói ông không xuất phát từ Việt Nam nữa. Các báo cáo đã “ rất yên tâm rồi’.
Tổng thống cẩn thận đề nghị bình luận về giác thư của McNamara ngày mồng một tháng Mười một với Rostow, Maxwell Taylor và hai trong những người thân tín của ông, Abe Fortas, chủ tịch Hội đồng tối cao và Clark Clifford, một trong những luật gia sáng suốt của Washington, là người có ảnh hưởng nhất. Tất cả đều thống nhất khuyên Johnson đừng chú ý đến những nhận xét của McNamara.
Trong bài bình luận “ tuyệt mật “ của mình, Rostow nói không cần thiết ngừng ném bom để tiến hành thương lượng. Ông nhắc lại chính trong lúc miền Bắc bị đánh căng thẳng nhất là lúc những tiếp xúc bí mật đầu tiên với đối phương bắt đầu. Những tiếp xúc ấy bàn về việc trao đổi tù binh và kết quả là hai quân nhân Mỹ được trả tự do vào tháng Chạp năm 1967. Ramsey và những người khác cũng có thể lợi dụng việc đó sau này nếu chính quyền thực sự quan tâm. Rostow nhìn vào sự tiếp xúc đầu tiên này nhiều hơn việc trao đổi tù binh đơn thuần. Theo ông nghĩ, Hà Nội sẽ bỏ hy vọng chiếm được miền Nam Việt Nam trong tương lai gần. Để cứu Việt cộng khỏi bị tiêu diệt, các nhà lãnh đạo miền Bắc thăm dò người Mỹ có thể thương lượng qui chế hợp pháp nào đối với những người cộng sản miền Nam “ trong thời hòa bình”. Rostow thiết lập ngang bằng với những đàm phán ở Panmunjon về chiến tranh Triều Tiên. “Chúng ta đang ở một tình thế tương tự : nghĩa là những hoạt động quân sự của họ không phải để đưa lại chiến thắng cho họ mà để tăng cường vị trí của họ trong thương lượng, dù bằng cách nào đó, đã bắt đầu “.
Cuối tháng Mười một, McNamara qua một tiết lộ của báo chí, biết mình được bổ nhiệm chủ tịch Ngân hàng thế giới. Johnson đã quyết định bộ trưởng Quốc phòng của ông ở Lầu Năm Góc gần bảy năm, bị gánh nặng chiến tranh làm cho suy nhược. Ông nói với tùy viên báo chí, ông ta “ dễ bị xúc động “ làm ảnh hưởng uy tín của mình. Thế mà Johnson thương mến McNamara, tuy hết lòng với dòng họ Kennedy đã luôn luôn phục vụ ông với một lòng trung thành kín đáo. Nhưng tổng thống không thể giữ ông lại. Cánh ôn hòa của Đảng dân chủ tung ra phong trào “ Loại bỏ Johnson”, đưa thượng nghị sĩ Eugence McCarty đối đầu trong hội nghị Đảng dân chủ năm 1968 ra ứng cử tổng thống.
Sự đe dọa nghiêm trọng nhất theo Johnson nhìn nhận đến từ Robert Kennedy, thượng nghĩ sĩ của bang New York đang chờ thời cơ thuận lợi để tiến lên phía trước. Nếu McNamara suy sụp hoàn toàn và từ chức trong năm bầu cử, Kennedy có thể sử dụng con chủ bài này. Tổng thống nghi ngại McNamara trong lúc tinh thần lo lắng, tậm sự với anh bạn Robert. Ông đã nghĩ đúng. Ở Washington, lúc tôi được điều động về văn phòng NEW YORK TIMES , có tiếng đồn bây giờ McNamara chống lại cuộc chiến tranh . Tôi hỏi Robert Kennedy có đúng thế không. Ông xác định điều ấy với tôi, nói chi tiết với tôi về những tình cảm của McNamara. Khi ấy tôi khó tin vì một xu hướng quay ngược lại như vậy có vẻ rất phù hợp với tham vọng của Robert Kennedy muốn thừa kế anh mình.
Trong tháng Mười một, không nói với đương sự , Johnson kín đáo chuẩn bị bổ nhiệm bộ trưởng Quốc phòng của mình vào Ngân hàng thế giới. Trước kia, hai người đã có bàn với nhau về việc này. Robert McNamara cho cư xử đúng đắn là một điều rất quan trọng. Khi chỉ đạo chiến tranh Việt Nam , ông thực sự nghĩ nó chính đáng. Ngân hàng thế giới hay cụ thể hơn là Ngân hàng quốc tế về tái thiết và phát triển có vai trò vực dậy nền kinh tế của các nước đang phát triển. Tổng thống suy ra, nếu cho ông vận may ấy, McNamara sẽ kín đáo ra đi và giữ im lặng.
Trực giác của Johnson tỏ ra còn đúng hơn ông nghĩ. McNamara không thể dùng tinh thần can đảm khác thường trong việc tôn trọng bí mật quốc gia để tố cáo trước dư luận những sai lầm của cũng quốc gia ấy. Trong những năm chiến tranh tiếp theo , không bao giờ ông nói ra. Cảm giác về tội lỗi và xấu hổ cũng góp phần làm ông không thể đối mặt với việc ông đã làm trong quá khứ. Đến nỗi khi xuất bản những TÀI LIỆU CỦA LẦU NĂM GÓC chính ông cho làm, ông đã không đọc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #198 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2008, 03:53:15 pm » |
|
Tướng Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng Bộ Quốc phòng miền Bắc Việt Nam giải thích, những người lãnh đạo ở Hà Nội đã kéo quân Mỹ ra dọc biên giới phía nam đất nước họ như thế nào và tại sao. Bài viết tiêu đề CHIẾN THẮNG LỚN, NHIỆM VỤ KHỔNG LỒ đăng tháng Chín năm 1967 trên tời Quân đội nhân dân, báo hàng ngày của quân đội và được phát trên làn sóng đài Hà Nội. CIA dịch và chuyển cho cơ quan thồng tin của chính phủ. Ông Giáp kể lại những trận đánh dọc đường biên giới phi quân sự và cao nguyên như một trong những ví dụ chính của chiến lược Bắc Việt Nam .
Trong khi những ý tưởng đinh trước phải đặt lại vấn đề, Westmoreland không chú ý nhiều đến lời của kẻ thù hơn việc ông đã làm với Krulak và York. Đấy là một đặc điểm lịch sử của các tướng như loại ông, tuy người ta có thể đặt dưới quyền họ quân lính được luyện tập, vũ khí hiện đại, thông tin chính xác, những lời khuyên hợp lẽ, thông tin sốt dẻo về chiến lược của kẻ thù, cuối cùng tất cả đều lãng phí.Kẻ thù chỉ có thể xử sự đần độn còn họ là những chỉ huy sáng suốt. Westmoreland đã tư duy vấn đề “ những trận đánh ở biên giới “ trước khi có bài báo của ông Giáp. Cuối tháng Tám năm 1967, ông tiếp các nhà báo ở tổng hành dinh Sài Gòn để khẳng định ông đã làm cho đối phương thiệt hại đến mức nào, những tấn công của Việt cộng và quân Bắc Việt “ bị hạn chế ở ngoại vi Nam Việt Nam “.
Một phóng viên lên tiếng :
- Nhưng quân địch kéo chúng ta ra biên giới và đang làm chúng ta đổ máu. - Họ không kéo chúng ta, vị tướng trả lời. Ngược lại, họ chỉ có thể tổ chức những đợt hành quân lớn ở đó nên chúng ta gây được nhiều tổn thất cho họ hơn họ gây cho ta.
Vấn đề ai gây tổn thất cho ai hơn đã được dứt khoát giải quyết đối với Westmoreland . Cơ quan thông tin đã giữ lại những bản tường trình về những cuộc ông tiếp xúc với báo chí, phản ánh đúng suy nghĩ của ông vì ông nói tự phát với một trò chơi câu hỏi và trả lời; điều ông nói chẳng lạc quan hơn những báo cáo chính thức của ông. Vả lại, ông cũng khôn ngoan hơn đối với các nhà báo, thậm chí hơn cả tổng thống khi thông báo sự đột phá cuối cùng sắp xảy ra : “bước ngoặt quyết định” của cuộc chiến tranh hủy diệt. Đấy là lúc máy móc bắt đầu giết chết Việt cộng và quân Bắc Việt nhanh hơn lực lượng bổ sung và vạch con đường yếu kém của quân thù đến chỗ thất bại hoàn toàn. Tháng Tư, khi Westmoreland gặp tổng thống ở Nhà Trắng đòi một đợt tăng cường nữa, ông đã nói “ hình như trong tháng vừa rồi, chúng ta đã đạt tới bước ngoặt quyết định ở khắp miền Nam trừ hai tỉnh ở phía bắc”. Ngược lại, một tháng sau đó, ông đành nói với báo chí “ Có lẽ chúng ta đã đạt tới điểm mấu chốt nhưng thành thật mà nói, chúng ta không chắc chắn “. Tháng Tám, ông tích cực hơn nhưng vẫn khôn ngoan “ Sức mạnh của các lực lượng quân đội cộng sản đã giảm, không rõ ràng lắm và không chứng minh được bằng con số nhưng mọi cái chỉ ra rằng .. Chúng ta có những bằng chứng đã đạt tới điểm mấu chốt “. Ba tháng sau, tháng Mười một năm 1967, ông có những bằng chứng tính toán quân địch đang thất bại.
Cuộc họp báo qui mô nhất trong cuộc chiến tranh được tổ chức ở “Lầu Năm Góc Viễn Đông”, tổng hành dinh mới có máy điều hòa nhiệt độ cho 4.000 sĩ quan và binh lính Westmoreland vừa cho làm ở gần Tân Sơn Nhất. Westmoreland tự mình nói chuyện với các nhà báo, cũng như các trưởng ban tham mưu của ông và một đại tá tình báo chuyên về tâm lý đối phương. Tất cả những gì họ nói, như thường lệ, sẽ được quy cho những nhân vật quân sự cao cấp từ các cuộc hành quân.
Việc làm này tiếp theo lệnh của tổng thống tung ra một chiến dịch lấy lòng dư luận. Việc ủng hộ của nước nhà về cuộc chiến tranh này bắt đầu giảm đi vì hình ảnh xúc động của bộ binh Mỹ và lính thủy đánh bộ chết trong núi rừng nhiệt đới đâu đó, giữa đồng ruộng đầy hố bom, ở những căn nhà tường đất lợp lá đổ nát mà chẳng ai muốn sống trong đó và hơn nữa chết không có mục đích rõ ràng, không giải quyết được gì trước mắt. Việc thăm dò trong tháng Mười năm 1967 chỉ rõ những người bỏ phiếu rút quân tăng từ 15% lên 30%. Johnson nhớ lại dư luận công chúng làm nghiêng ngả cuộc chiến tranh Triều Tiên nhanh đến mức nào và đã thực sự bận tâm. Thiểu số chống chiến tranh vì những lý do đạo đức cũng đủ để tổ chức những phong trào đáng lo ngại. 50.000 người biểu tình trước Lầu Năm Góc ngày 21 tháng Mười. McNamara nhìn họ từ trên mái nhà và nghe họ hát :
“ Hây, hây, hây ! L.B.J Hôm nay ông đã giết bao nhiêu người ?”
Bộ trưởng Quốc phòng không quen tiếp xúc với đám đông và quang cảnh ấy làm ông căng thẳng thần kinh.
Dean Acheson và những nhà thông thái khác khuyên tổng thống tung ra một chiến dịch thông tin. Họ nghĩ nếu truyền đạt với công chúng những tiến bộ họ đã biết trong những cuộc họp kín thì có thể làm chậm sự xói mòn lòng tin. Mc George Bundy, chủ tịch hãng Ford và thành viên nhóm thông thái, kết luận “ Hãy nhấn mạnh đến “ ánh sáng cuối đường hầm “ thay vì nói về những trận đánh, người chết và mối nguy “.
Westmoreland không cần nói dối để giúp tổng thống. Trong một vụ xử nổi tiếng sau chiến tranh, vị tướng kiện hãng truyền hình đã kết tội ông mưu mô lừa tổng thống về sức mạnh thực sự của địch. Vị tướng không thắng kiện nhưng ông không làm việc đó vì thế. Vann giải thích ngay cho Ellsberg “ Đấy là một ảo giác tập thể “. Theo vết chân người tiền nhiệm Paul Harkins, Westmoreland cũng như cả hệ thống quân sự mà ông là đại diện tiêu biểu cho rằng việc chinh phục đã được định trước khi Johnson thông báo với ông trong tháng Bảy 1965 sẽ cho 200.000 quân chiến đấu. Ông sẵn sàng tự mình thực hiện sự tiên tri ấy cũng không nghi ngời gì như Harkins, quét sạch hoặc đuổi ra khỏi hàng ngũ kẻ nào nói có lẽ trời sẽ mưa trong lúc diễu hành. Khi trung tướng Joseph McChristian lãnh đạo công việc thông tin mùa xuân 1967, báo là ông đánh giá thấp lực lượng địch ỏ miền Nam, ông thay thế ngay bằng một sĩ quan bảo thủ. Khi chuyên gia về Việt cộng của CIA, Samuel Adams, một trong những người tiên phong trong chiến tranh Độc lập, báo động về mùa hè năm ấy, ông buộc ông ta im lặng. Các sĩ quan trong ban tham mưu của vị tướng khai gian con số địch chết, báo cáo sự đào ngũ và tinh thần sút kém của đối phương để tập hợp bằng chứng chiến thắng không chối cãi được mà Westmoreland công bố với các nhà báo trong cuộc họp báo tháng Mười một.
Vị tướng tỏ ra đặc biệt tự hào với công việc đã làm được ở miền Nam Việt Nam về xây dựng những cảng, sân bay, xưởng tàu, toàn bộ “ cấu trúc vật chất cần thiết trong đất nước kém phát triển” này. Tuy chương trình chưa đầy đủ, mới trong hai năm “ nền tảng chủ yếu đã được thiết lập”. Trong lúc nói ông bố trí một loạt bảng và biểu đồ màu trên một tấm bảng lớn. Qua đấy ông chỉ rõ năng lực hải cảng tăng gấp sáu lần, từ 5 vị trí bến cảng nước sâu vào tháng Chín 1965 lên 32 trong tháng Chín năm 1967. Số sân bay trong hai năm cũng tăng từ 22 mà 3 cho máy bay phản lực, lên 68 trong đó có 8 bệ phóng. Ông công nhận có hơi chậm khi thực hiện lịch trình kế hoạch ba giai đoạn ông đệ trình McNamara và tổng thống hồi tháng Bảy 1965. Nhưng việc đó, ông giải thích, do ông phải đợi đến mùa thu 1966 khi có 350.000, có “ đủ quân, cơ sở hạ tầng và hậu cần để gây sức ép liên tục đối với quân địch “.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh

Bài viết: 505
|
 |
« Trả lời #199 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2008, 04:41:33 pm » |
|
Những đồ thị và biểu đồ do cơ quan thông tin của ông xây dựng chứng tỏ sức mạnh của Việt cộng suy yếu đi trong cuộc chiến tranh hủy diệt này : năm 1963, quân số tối đa của họ là 124.000 người sụt xuống 102.000 trong mùa hè vừa qua. Những biểu đồ khác tô màu chỉ những tổn thất của địch nêu con số tăng hơn gấp đôi từ năm 1965 và còn tăng một nửa từ năm 1966. Trong đợt gió mùa từ tháng Tư đến tháng Mười 1966, trung bình số người bị giết hàng tháng từ 4.903 lên đến 7.315 trong mùa mưa năm 1967. Chiến tranh hủy diệt gây ra sự suy sụp cho quân địch, trong quý bốn năm 1966 có tổng cộng 285.000 cộng sản Việt cộng và Bắc Việt ở miền Nam cho bây giờ chỉ còn 242.000. Harkins vẫn luôn luôn tin chắc tinh thần quân địch bị hủy hoại vì những trận đánh của ông ta và nhiều quân lính cộng sản bệnh tật và thiếu đói. Người kế nhiệm ông cũng nghĩ như thế. Ông này nói : Một số đơn vị ở cao nguyên “ chết hầu như vì đoío và ngay phía bắc Sài Gòn cũng có những vấn đề về gạo. Trong số 163 tiểu đoàn Việt cộng và Bắc Việt , gần một nửa, tổng cộng 76 tiểu đoàn “ không còn sức chiến đấu “ vì bị tổn thất nặng nề, tinh thần thấp kém, đào ngũ , đói và bệnh tật.
Việc bình định cũng đạt được thắng lợi như thời người tiền nhiệm. Nông dân Việt Nam , như Harkins gọi là “ những người dân tộc Phương Đông ấy” , với sự tôn trọng sức mạnh, đã hiểu ai là người thắng cuộc và đã thay đổi chỗ dựa. Komer có bằng chứng về điều đó với một chiếc máy tính. Ông đã xây dựng một trình tự rất phức tạp, “ Hệ thống đánh giá các thôn ấp” để hằng tháng cung cấp cho máy hàng nghìn thông tin khác nhau. Máy tính tiếp thu, nghiền ngẫm để cuối cùng thông báo ai kiểm soát từng ấp chiến lược.
Komer cũng như Krulak, quá khôn ngoan không có tầm nhìn hạn hẹp cho đến cuối đời. Nhiều năm sau, ông viết một tài liệu nghiên cứu rất sáng suốt về những gì không đúng nhưng đổ lỗi thực sự cho chính quyền. Vào thời kỳ đó , ông bị giam hãm trong niềm tự mãn mà McNamara đã nhân cách hóa. Ông có mặt ở cuộc họp báo càng củng cố lòng tin của Westmoreland khi thông báo với các phóng viên, máy tính đã phát hiện những gì qua “những phương pháp khoa học và tiêu chuẩn rất cụ thể “. Việt cộng kiểm soát 17% dân số, 16% khác trong “loại tranh chấp”. Như vậy, 67% trong số 16,9 triệu dân miền Nam Việt Nam sống dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn ở thành phố, hoặc ở nông thôn, trong “ an toàn tương đối” của những ấp chiến lược. Năm 1963, Harkins đã nêu lên con số 67% này. Việc tái xuất hiện thần kỳ của nó không phải một sự trùng hợp. Hoặc là những người lãnh đạo việc đánh giá các thôn ấp có những sĩ quan ban tham mưu tham gia với bút chì và con tính cầm tay hoặc những cố vấn dân sự khoác những tấm bằng đại học điều khiển máy tính đã biết trước họ tìm kiếm gì và bao giờ cũng nhận được câu trả lời mong muốn. Dù sao thì nguyện vọng đó cũng kích thích bút chì và đặt chương trình cho máy tính.
Cho dù Johnson có mất một ít lòng tin, Westmoreland vẫn không suy suyển. Tổng thống triệu tập vì tướng về Washington dự một buổi lễ quan trọng và một loạt họp báo và phát biểu trên radio và truyền hình. Acheson và các nhà “ thông thái” khác muốn có đại sứ Bunker. Johnson biết rõ công chúng phản ứng hàng ngũ ngôi sao và quân đội. Đứng đầu cơ quan thông tin USIS ở miền Nam Việt Nam , Barry Zorthian, một nhà quảng cáo sáng suốt không đến mức nghi ngờ chiến lược của Westmoreland , cũng nghĩ đã đến lúc vị tướng tung ra một cuộc tấn công nhằm bơm căng tinh thần của cánh dân sự ở hậu phương. Ông được chú ý về tài năng quan hệ và lòng tin khi phát biểu ở lưỡng viện trong tháng Tư trước. Zorthian cũng nghĩ vị tướng khá hài lòng khi có thể nói với dân chúng Mỹ. Ông đã thảo luận ở nhà ông này rằng quân đội không đủ để thỏa mãn nữa. Westmoreland không gia nhập một nhóm chính trị nào và về phương diện này thái độ của ông không chê trách được. Ông chỉ đứng vào một vị trí mà sau này nếu muốn, ông có thể lợi dụng tập tục Mỹ bắt đầu với George Washington và gần đây hơn, đã đưa một vị tướng khác , Dwigt Eisenhower, vào Nhà Trắng.
Johnson cũng triệu tập Bunker tham dự cùng Westmoreland cuộc phỏng vấn của hãng truyền hình NBC sáng chủ nhật. Komer cũng được triệu tập để cổ động cho tiếng nói chính thức qua những cuộc phỏng vấn khác. Nhưng chính Westmoreland chiếm trung tâm sân khấu, đặc biệt trong diễn văn của ông trước trung tâm báo chí quốc gia ở Washington ngày 21 tháng Mười một năm 1967.
Ông nói “ Chúng ta đã đạt tới một điểm quan trọng từ đó chúng ta bắt đầu thấy được sự kết thúc “. Bắt đầu sự kết thúc là bắt đầu giai đoạn III, giai đoạn chiến thắng, đẩy nhanh sự tấn công quá khích với cuộc tấn công vào năm 1968. Về tổng thể, ông tóm tắt những điều đã nói với báo chí Sài Gòn , giải thích đã xây dựng các hải cảng, sân bay như thế nào, làm tăng tổn thất của địch vượt quá khả năng họ và đuổi quân chủ lực Việt cộng và quân đội Bắc Việt đến tận biên giới phía bắc. Tuy vậy, ông không nói cụ thể giai đoạn cuối cùng của chiến thắng vào đúng lúc nào, như ông đã nói năm 1965 với McNamara và Johnson khi xác định họ cần “ một năm hoặc một năm rưỡi”. Nhưng ông làm cho người ta hiểu “ Chúng ta đã bắt đầu một số mục tiêu cảu giai đoạn III “ rồi chuyển nhanh qua một giai đoạn mới không có trong kế hoạch năm 1965, “ giai đoạn IV hoặc kết thúc” – sự hủy diệt hoàn toàn những người cộng sản Việt Nam .” Thời kỳ ấy đánh dấu tổng kết kế hoạch của chúng ta làm yếu kẻ địch và làm các bạn chúng ta vững chắc hơn đến lúc sự có mặt của chúng ta trở nên thừa”. Ông phải nói cụ thể điểm ấy sau bài phát biểu khi trả lời câu hỏi của một nhà báo cũng được đưa lên truyền hình “ Tôi nghĩ hoàn toàn chấp nhận được rằng từ nay đến hai năm nữa hoặc ít hơn “ giai đoạn IV sẽ có đủ bước tiến để bắt đầu đưa về nước quân đội Mỹ “ lúc đầu chỉ là một dấu hiệu nhưng hy vọng chúng ta làm tất cả để đẩy nhanh “.
Westmoreland kết thúc bài diễn văn bằng cách kích thích đồng hương tin tưởng ở mình :
“ Chúng ta đang tiến tới. Chúng tôi biết các ông muốn chúng ta đi đến giai đoạn kết thúc nhanh chóng và đầy vinh dự. Con cái các ông muốn như vậy. Và đấy cũng là điều tôi muốn.
Tất cả những cái đó trong tầm tay của chúng ta. Hy vọng của kẻ địch bị phá sản. Với sự giúp đỡ của các ông, chúng tôi sẽ đưa lại một chiến thắng không chỉ vang dội ở miền Nam Việt Nam mà ở tất cả các nước trên thế giới muốn vươn lên từ bóng tối”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|