Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:40:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quán chè chén 5 xu, kẹo dồi, kẹo lạc... (Phần 4)  (Đọc 282066 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
cangiuoclongan
Thành viên
*
Bài viết: 52

Chủ nghĩa dân tộc mù quáng là đại họa của dân tộc!


WWW
« Trả lời #40 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2010, 07:02:05 pm »

http://vietnamnet.vn/giaoduc/201004/12-dieu-ngac-nhien-ve-giao-duc-mam-non-Nhat-Ban-904104/

  Angry Shocked Roll Eyes Smiley HuhWink Grin
Logged

Chủ nghĩa dân tộc mù quáng là đại họa của dân tộc!
cangiuoclongan
Thành viên
*
Bài viết: 52

Chủ nghĩa dân tộc mù quáng là đại họa của dân tộc!


WWW
« Trả lời #41 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2010, 08:18:00 am »

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/372779/Co-tich-dong-bung.html

TT - “Chúng tôi đến vùng đất hoang này ngày 20-1-1984. Đoàn chúng tôi đến đây gồm ba đồng chí trong ban giám đốc xí nghiệp. Cơ ngơi của chúng tôi là cánh đồng hoang. Tất cả những người đến sống và làm việc ở mảnh đất này đều xem lao động là quyền chính đáng. Chính vì lẽ đó chúng tôi đã chịu đựng mọi thử thách của thiên nhiên. Chúng tôi bắt vùng đất hoang này phải thức dậy để cùng chúng tôi cống hiến những sản phẩm có giá trị cho xã hội...”. Đó là bút tích ngắn gọn của anh hùng Nguyễn Văn Bé.

Trở lại bưng biền

Nhìn dòng kênh đào đang lé đé con nước lên trong chiều nhạt, anh Ba Bé, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười, trầm giọng tâm sự: “Hôm nhận danh hiệu Anh hùng lao động, có người hỏi sao tui cứ ở mãi rừng tràm này. Tui chỉ nói mấy ông muốn hiểu thì phải đùm khăn gói về bưng với tui ít hôm”.

Thật ra đời Ba Bé đã sống chết với bưng biền từ nhỏ. Lúc còn ở đợ tại quê nhà Bến Tre, anh đã lầm lũi chăn trâu trong bưng. Lớn lên, anh lại bước vô bưng kháng chiến. Vừa đánh nhau, vừa học rồi làm quân y, anh dính ba vết thương trên người, trong đó có một mảnh lựu đạn như hạt lúa găm vào đầu anh. Rồi sau cơn nhức đầu, nó tự rớt ra ở hốc mắt như một chuyện kỳ lạ của chiến tranh.

Hòa bình, nghe nguyện vọng của Ba Bé được học tiếp ngành y, bác sĩ Bùi Sĩ Hùng, người thầy của anh trong chiến khu, khuyên: “Ai cũng thích mặc blouse trắng, đeo ống nghe cho oai thì lấy đâu ra thuốc chữa bệnh”. Ba Bé siết chặt tay thầy! Ngay sáng hôm sau, anh viết hồ sơ thi vào khoa dược của Trường ĐH Y dược TP.HCM.

Anh ra trường, được giữ lại giảng dạy bộ môn thực hành công nghiệp dược. Chưa quen mặt sinh viên, anh lại xin ra đi làm. Trường tiếc giữ lại. Anh trả lời thật thà: “Đời tui quen lội sình rồi. Dạy học không hợp”. Về một công ty dược trung ương, anh Bé lại được tin tưởng đề bạt phó giám đốc. Nhưng ngồi chưa ấm ghế anh lại quyết định đi tiếp. Thủ trưởng hỏi: “Sao kỳ vậy? Bộ ông chê ghế của tui nhỏ hả?”. Anh thiệt bụng: “Tính tui mê mần hơn mê ngồi. Đi đâu cũng được bổ nhiệm ghế này nọ sao tui chịu nổi”.

Giữ không được, công ty cho anh chọn một trong ba nông trường dược liệu ở Buôn Ma Thuột, Long Thành, Đà Lạt. Nhưng khi anh nộp đơn, họ lại té ngửa thấy anh chọn đồng bưng heo hút, hoang vu miệt Mộc Hóa, Long An. Tất cả bắt đầu từ số không. Một lãnh đạo thương anh nói riêng: “Bưng biền xứ Đồng Tháp Mười này rậm rịt. Rắn rết, muỗi mòng nhiều như trấu. Cha nội đòi xuống đó làm gì? Sao không về nông trường đã gầy dựng ổn cơ sở rồi để có điều kiện làm việc tốt hơn?”. Anh chân chất: “Không có gì thì tui mới xin đi mần. Chứ có gì rồi thì tui nhường cho anh em khác”. Và hạnh phúc là bận đó cũng có mấy người bạn quyết theo Ba Bé.

“Tắm lửa, ngủ nước”

Mùa khô năm 1984, Ba Bé đặt chân đến Mộc Hóa. Họ mới lội bưng nửa buổi đã khát cháy cổ vì nước phèn lợ không thể uống được. Có người thấy nước nôi căng thẳng quá, ý thoái lui. Ba Bé trấn an rồi bày kinh nghiệm bộ đội trong bưng là trải tấm nilông lên võng để anh em ra sông Vàm Cỏ gánh nước về sử dụng.

Nhớ thời kỳ đầu thiếu nước, phó giám đốc Nguyễn Thị Kim Mai vẫn ám ảnh: “Bận mới xuống tui nghe anh Ba Bé nói “tắm lửa” cứ tưởng ổng ghẹo. Ai dè chập tối thấy anh em sáp vô đống lửa để đổ mồ hôi và lấy khăn lau qua người, tui mới té ngửa. Cực gì mà cực quá xá trời!”.

Sau “tắm lửa” vì thiếu nước ngọt mùa khô, họ còn phải “ngủ nước” chống muỗi trong mùa lũ. Hồi đó muỗi miệt Đồng Tháp Mười như rê trấu. Chiều tối, anh em chỉ cần lắc đầu là muỗi bay ra từ tóc như bụi trấu. Cách chống muỗi tạm tốt nhất là bắt chước trâu đầm mình xuống nước, rồi lấy khăn rằn phủ mặt ngủ. Chính Ba Bé cũng nhiều đêm mệt, ngủ quên luôn dưới nước. Sáng ra người tê bợt vì lạnh. Ai chưa thấu kiểu ngủ trâu đầm này thường đổ sốt li bì.

Ban đầu Ba Bé phải mượn tạm nhà cột trâu của dân để ở tạm, rồi mới chặt tràm và cắt lá bàng dựng lán trại. Sau đó, thanh niên xung phong được điều xuống, rồi thêm cả số tội phạm ở các trại... Anh hay nói một câu “trái khoáy” vào thời điểm đó: “Tui không cần biết lý lịch anh em thế nào. Tui chỉ quan tâm anh em mần ra sao. Ở đây lao động là số một. Mọi người sẽ được hưởng thành quả lao động xứng đáng với những gì mình bỏ ra...”. Là giám đốc lại mang ba vết thương, nhưng việc gì anh cũng xắn tay vô làm. Bạn bè khuyên Ba Bé giữ sức. Anh quạt ngay: “Ở đồng bưng chó chạy rớt lưỡi này mà ngồi mát chỉ tay năm ngón thì ai nể. Cứ trừ thẳng lương tui hôm nào không làm”.

Những người lao động nhiệt tình, Ba Bé bảo đảm chế độ ăn uống và lương bổng giống nhau, kể cả tội phạm. Một lãnh đạo xuống theo dõi tình hình cau mặt: “Anh sai nguyên tắc rồi. Tại sao lại cho tội phạm được tiêu chuẩn ăn uống giống các anh em khác? Còn bày đặt trả lương nữa. Muốn tụi nó có tiền rồi bỏ trốn sao?”. Ba Bé bình tĩnh nói rõ từng câu: “Ông ăn, tui cũng cần ăn. Đây là xí nghiệp chứ đâu phải trại giam. Mọi người đều cần ăn mới có sức mần. Còn sợ tội phạm có tiền bỏ trốn thì tui tạm giữ giùm lương của họ. Khi nào họ được về, tui trả không thiếu một đồng”.

Thời kỳ đầu Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười mang tên Xí nghiệp Dầu tràm Mộc Hóa, sản xuất tinh dầu tràm xuất khẩu. Ngoài hơn 100 lò dầu của xí nghiệp, nhiều nông dân các huyện Thạnh Hóa, Đức Huệ, Bến Lức, tỉnh Long An... cũng ùn ùn bơi xuồng qua bán dầu tràm cho Ba Bé. Kiếm được bao nhiêu tiền Ba Bé ưu tiên lo đời sống cho những người nhiệt tình lao động. Nhiều người đùm bọc cả vợ con sang đây lập nghiệp. Ba Bé hay tâm sự với họ: “Ai bước chân vô xí nghiệp này đều là ông chủ. Tui cần người dám nghĩ mình là chủ chứ không cần kẻ tự coi mình làm công”.

QUỐC VIỆT
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Tư, 2010, 08:23:51 am gửi bởi cangiuoclongan » Logged

Chủ nghĩa dân tộc mù quáng là đại họa của dân tộc!
cangiuoclongan
Thành viên
*
Bài viết: 52

Chủ nghĩa dân tộc mù quáng là đại họa của dân tộc!


WWW
« Trả lời #42 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2010, 08:34:06 am »

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/372925/Co-tich-dong-bung---Ky-2-Kenh-Ba-Be.html

TT - Buổi sáng, Ba Bé kêu tôi ra bờ kênh đào ngồi chơi. Nhìn ghe thuyền ngược xuôi, anh cười nói: “Tụi tui gọi vui đây là bến Hảo Vọng. Bao phận người tứ xứ đã tìm đến bến này với ước mơ đổi đời”.
Hơn 140km kênh đã được miệt mài đào suốt hơn 10 năm. Ngoài chức năng xả phèn, đường thủy, tưới tiêu và giữ nước phòng cháy rừng, chính con kênh đào này đã góp phần thay đổi ý thức hệ của người dân nghèo trên đồng bưng khắc nghiệt.


Động tới... thổ thần

Hồi tưởng “cuộc cách mạng thủy lợi” của mình, Ba Bé nhớ: “Ban đầu dân ở đây phản ứng rùm trời. Họ nói bao đời bưng biền này bình bình vậy rồi, làm động đất đai, thổ thần và ma quỷ nổi giận”. Có người còn vác phảng đòi chém Ba Bé.

Anh phải đi tìm người già địa phương để rủ rỉ: “Tía má nghĩ coi sao ở đây cực dữ vậy? Lũ về thì bưng thành biển nước. Kiếm cục đất chọi chim không ra. Con nít chết đuối hà rầm mà cũng không có gò đất để chôn. Nắng xuống thì nước dậy phèn lợ. Chó còn khát rớt lưỡi vì không uống nổi. Con đào kênh cũng chỉ muốn xứ này đỡ cực hơn, chứ đâu động đến ai!”.

Ba Bé nói hết lòng dạ. Người xuôi tai. Người cự nự. Anh vẫn quyết làm và nói cứng cho anh em yên tâm: “Cứ xắn tay áo mần thiệt tình. Tội tình gì Ba Bé chịu”. Nhưng anh vẫn cúng đầu heo rồi cử người cầm AK gác đầu kênh (lúc đầu xí nghiệp được trang bị súng lập đội tự vệ) để dân và anh em yên tâm. Ban đầu chỉ đào kênh bằng sức người. Họ còn đốt đuốc làm đêm để kịp chạy đua lũ về...

Thấy anh em cực quá, Ba Bé xót ruột! Anh nghĩ bụng: “Sao mấy ông có xáng đào kênh vừa khỏe lại vừa rủng rỉnh tiền? Mình xí nghiệp nhà nước mà cứ hùng hục đào tay!”. Thế là ngay sáng hôm sau, anh lên TP.HCM tìm mua máy đào đất, rồi về gom anh em nấu dầu tràm để máy móc đào kênh. Từ “đòi chém thằng Ba Bé”, dân ào ào đến mua đất đào kênh đắp nền nhà chạy lũ.

Ba Bé cười rổn rảng: “Đó. Bà con thấy tui tính hổng trật đường nào chưa. Mới cái lợi trước mắt. Mai rày có đường xuồng, có nước ngọt uống mát bụng thì đừng hỏi Ba Bé này thu tiền không à nghen”. Rồi anh bán đất rẻ như cho để xoay tiền dầu máy đào kênh. Có người tham chở khẳm đất bị chìm xuồng, thế là quay lại bắt vạ Ba Bé: “Đất gì mà nặng quá xá trời làm chìm xuồng tui”. Ba Bé nhịn cười, biểu anh em lặn vớt giúp xuồng lên và đổ lại đất miễn phí cho họ. Khi con kênh rộng 8-12m và dài 140km vẫn chưa xong, dân xung quanh đã đắp xong nền nhà vượt lũ.

Câu chuyện lương tâm

Sợ chiều tối ở bưng anh em buồn đâm rượu chè cờ bạc, Ba Bé mua tivi, đầu máy về xem. Đó là cái tivi đầu tiên của đồng bưng Mộc Hóa này. Dân địa phương cũng bơi xuồng theo mấy con kênh mới đào vô xem ké, vui như chợ phố. Xí nghiệp Dầu tràm Mộc Hóa lúc đó cũng hiếm hoi có máy phát điện sáng rực. Trong lúc cả nước khát xăng dầu thì chuyện này rất lạ?

Ba Bé thiệt bụng: “Có gì đâu. Tui thấy mấy ông mần công trình đào kênh, đắp đường của nhà nước hay giấu bớt dầu. Tui vặn hỏi. Họ nói hổng phải gian lận đâu anh Ba Bé ơi. Chẳng qua phải giữ lại chút dầu để bù lại công trình khó nhai thôi”. Thế là Ba Bé nói họ muốn giữ thì để anh giữ cho. Lúc thiếu dầu đến lấy sử dụng, còn dư để Ba Bé chạy máy thắp sáng cho dân. Lãnh đạo nghe Ba Bé kể mà bật cười cái sự “ma lanh” có lợi cho dân.

Ở địa phương, dân trồng mì bị lũ sớm nhấn chìm đành bỏ luôn. Ba Bé biểu anh em lặn nhổ lên, chất đống trong kho. Đến bận dân đói, anh trả lại cho họ ăn. Dân mừng rớt nước mắt! Sau mấy năm đào đắp, hệ thống thủy lợi dần hoàn chỉnh đã xả phèn và bảo đảm được nước ngọt. Ba Bé nói dân chuyển đổi cây mì sang trồng lúa. Họ chưa tin, lại chửi rùm: “Thằng cha điên. Đất phèn này mà trồng ra lúa thì tui đưa lưng cho chụm lửa nấu cơm”.

Ba Bé lặng thinh mần ruộng thí điểm trước. Vụ lúa đầu kém nhưng các vụ sau trúng dần. Dân khoái làm theo. Và họ quen miệng gọi “kênh Ba Bé” từ bận đó. Đằng sau bàn tay cáu bẩn sình lầy và lời nói bộc trực của Ba Bé là tầm nhìn xa về một hệ thống thủy lợi có thể thay đổi cả tư duy cam chịu cố hữu của nông dân...

Cũng vì thương dân mà Ba Bé từng mấp mí trước cổng nhà tù. Thời 1989-1990, dân nghèo vô xâm hại rừng xí nghiệp để kiếm miếng ăn. Anh ra cản và chảy nước mắt khi nghe họ nói: “Khạp gạo hết trơn rồi anh Ba Bé ơi! Nồi cơm con cái tụi tui không có gì bén lửa”. Anh về mà nhiều đêm mất ngủ. Một buổi sáng, anh gọi bà con đến họp rồi nói chân tình: “Thôi, xí nghiệp chia cho bà con một nửa đất bìa rừng để mần ruộng, nhưng phải hứa danh dự không phạm vô rừng bảo tồn nữa à nghen”. Lúc đó, đất đã có kênh đào xả phèn để cải tạo làm lúa.

Ba Bé lo xa chuyện tranh chấp sau này. Anh xắn quần lội ruộng, tự tay cầm thước đo đều cho mỗi hộ dân 40m đất ngang, sâu vô 500m, và ai đến trước được nhận trước với cả 200 hộ dân. Anh nói sòng phẳng: “Người đi đầu phải lãnh phần khó. Ưu tiên ai dám chịu cực dỡ đất hoang trước”.

Từ xâm hại rừng, người nghèo có ruộng đã bảo vệ rừng tích cực. Có hôm, một ông già tay cầm roi tay dẫn con đến gặp Ba Bé và nói thiệt bụng: “Tía đã biểu nó lo mần ruộng, đừng phá phách rừng nữa. Vậy mà nó cứ mê hun khói lấy mật ong, suýt làm cháy rừng. Ba Bé trị nó đi”. Anh cười: “Lúc nào con thèm mật ong thì đến bác Ba cho, đừng vô rừng làm bậy nữa nghen!”.

Tin Ba Bé chia đất xí nghiệp cho dân nghèo đồn ran nhiều nơi. Lãnh đạo bên trên vò đầu bứt tóc với “cái thằng dám xé rào”. Đoàn thanh tra được thành lập để xem xét tội danh nghiêm trọng “làm thất thoát tài sản xã hội chủ nghĩa” của Ba Bé. Một cán bộ lặng lẽ đi nghe dân tâm sự về chuyện Ba Bé, rồi gọi anh ra nói riêng: “Dân thương mày lắm! Tao cũng tạm để yên cho mày chưa vội kết luận gì. Một hai năm nữa Nhà nước thay đổi chính sách quản lý đất đai thì mày thoát. Còn không mày phải đi tù”.

Ba Bé trầm giọng nói rõ rọt: “Lương tâm tui hoàn toàn thanh thản! Mục đích lớn nhất của tui về đây là để cải tạo đồng bưng, giúp dân bớt khổ. Tui chia đất cũng là giúp dân nghèo. Nếu các anh phát hiện tui tư túi đồng bạc nào trong việc này thì tui tự đem tay lên cho mấy anh còng chứ không phải đợi quyết định bắt đâu”.

Một lãnh đạo Bộ Nông nghiệp lúc đó rành chuyện Ba Bé qua nói với công an: “Chừng nào anh em bắt thằng Ba Bé thì báo tui hay. Tui không cứu được nó nhưng nó đáng để tui mang cơm đi thăm nuôi”. Cuối cùng, mọi người xác định Ba Bé không có tội. Một cán bộ báo tin vui cho Ba Bé: “May cho mày. Mày mà ém riêng đồng nào thì không ai cứu đâu”. Ba Bé cười rổn rảng: “Lương tâm thằng Bé có đồng bưng này chứng giám mà!”.

QUỐC VIỆT
Logged

Chủ nghĩa dân tộc mù quáng là đại họa của dân tộc!
cangiuoclongan
Thành viên
*
Bài viết: 52

Chủ nghĩa dân tộc mù quáng là đại họa của dân tộc!


WWW
« Trả lời #43 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2010, 08:42:02 am »

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/373043/Co-tich-dong-bung---Ky-3nbspSong-gio-cuoc-doi.html

TT - Những năm 1989 - 1990, Liên Xô khủng hoảng ảnh hưởng đến tận đồng bưng Mộc Hóa của Ba Bé. Xí nghiệp Dầu tràm Mộc Hóa mất thị trường xuất khẩu. Sản phẩm ứ đống trong kho. Các lò nấu dầu lạnh tanh củi lửa...

Giám đốc đi... chăn trâu!

Ở TP.HCM, bạn bè gọi Ba Bé: “Thôi về đây, tụi này binh đường cho. Không làm ăn thì làm cán bộ cũng được mà”. Ba Bé buồn trả lời: “Ông kiếm được một cái ghế cho tui, nhưng lo nổi 600 cái ghế cho anh em lao động của tui không?”.

Ba Bé không đi, nhưng người lao động phải đi trước vì miếng cơm manh áo. Có người gạt nước mắt chia tay Ba Bé: “Anh Ba đừng giận. Không phải tụi này tham sướng sợ khổ, nhưng còn vợ con ...”. Ba Bé nuốt nỗi buồn vô bụng, ráng nở nụ cười để họ yên lòng ra đi. Từ hơn 600 lao động, chỉ còn 20 người tâm huyết đã vô bưng với Ba Bé từ thời kỳ đầu cực khổ.

Chị Nguyễn Thị Kim Mai, kế toán xí nghiệp lúc đó, vẫn ám ảnh mãi thời suy thoái. Chị bỏ chợ vô bưng lúc còn con gái mới 19 tuổi. Giờ nhìn bạn bỏ ra đi, chị vô phòng khóc thút thít một mình nhưng vẫn quyết ở lại. Làm kế toán mà nhiều tháng liền chị Mai không tính đến bảng lương vì xí nghiệp cạn tiền. 20 anh em thề với nhau ráng có nồi cơm chứ không nghĩ đến lương nữa. Họ không về phép để tiết kiệm tiền.

Chính Ba Bé cũng rất ít về thăm vợ con ở thành phố. Anh vừa sợ tốn tiền vừa sợ phải nghe lời bàn ra. Ai có chuyện khẩn gia đình phải về thì hết tiền lên. Họ bẻ chuối, hái dừa bán để lấy tiền quay lại xí nghiệp. Nhà chị Mai ở cách Mộc Hóa vài chục kilômet nhưng cũng không dám về. Chị sợ về sẽ không đủ can đảm quay lại...

20 người trụ lại xí nghiệp từ giám đốc, phó giám đốc, kế toán, trưởng phòng... phải bung ra làm đủ chuyện. Từ cảnh dân ùn ùn kéo đến làm cho xí nghiệp, giờ xí nghiệp lại đi làm thuê cho dân. Hết phóng lúa, họ lại đào kênh, đắp nền nhà mướn. Chính Ba Bé cũng tự tay lái máy đào mướn. Dân kêu làm gì anh cũng gật, kể cả đào hầm cầu nuôi cá tra. Dân địa phương khoái, khen: “Mấy cô cậu cán bộ xí nghiệp mần ăn được quá xá. Ai chưa vợ chồng thì nói thiệt bụng đi, để tía má gả con cho...”.

Một buổi chiều, Ba Bé buồn lang thang trong đồng bưng, bỗng nảy một ý rồi triệu tập anh em họp khẩn. Mọi người bất ngờ vì lâu quá đâu họp hành gì. Anh không rào trước đón sau: “Mình không có việc làm mà đồng bưng thì mênh mông. Hay là nuôi trâu đi? Kinh nghiệm anh em khỏi lo. Thằng Ba này từng ở đợ, chăn trâu suốt ở Bến Tre rồi...”. Anh em nhìn qua nhìn lại rồi gật đầu. Ý tưởng làm ăn này nghe có vẻ tức cười nhưng hợp lý lúc sa cơ. Hồi trước, xí nghiệp lợi dụng đồng bưng sản xuất dầu tràm, giờ tận dụng nó nuôi trâu. Vừa khỏe công, vừa rẻ tiền bạc, lại nhẹ nỗi lo không có việc làm thời kỳ khốn khó. Thế là Xí nghiệp Dầu tràm Mộc Hóa tự nhiên biến thành... xí nghiệp nuôi trâu.

Ba Bé cười rổn rảng, xung phong lùa trâu. Anh mặc quần đùi, áo rách, đội nón lá tơi vành, ngồi vắt vẻo lưng trâu mà người ngoài khó hình dung nổi đó là ông giám đốc từng quản lý gần ngàn lao động. Để tiết kiệm, Ba Bé còn lì mặt cưỡi trâu đi họp. Một buổi họp ở Nông trường Vàm Cỏ, lãnh đạo tỉnh Long An thắc mắc không thấy tắc ráng Ba Bé đâu.

Anh lóp ngóp cưỡi trâu dưới kênh lên, giơ tay: “Ba Bé có mặt”. Mọi người vừa lạ vừa tức cười hỏi: “Cưỡi trâu đi đâu đó cha nội? Định đem trâu thịt tới đãi hả?”. Ba Bé cười: “Thịt cái gì mà thịt! Bận rày làm ăn khó khăn quá, hụt tiền mua xăng chạy tắc ráng, phải cưỡi trâu đi họp”. Nói xong, anh ra nhà sau thay đồ rồi tỉnh bơ vô phát biểu.

Chuyện giám đốc Ba Bé cưỡi trâu gần 10km đi họp bị đồn rầm Mộc Hóa. Bạn bè khều anh: “Định chơi nổi hả cha?”. Ba Bé vặn lại: “Bữa nào mời ông cưỡi trâu với tui cho vui. Nó lừ đừ vậy chứ bền sức lắm, đi trên khô cũng được, bơi sông cũng giỏi. Với lại nó nhớ dai lắm. Mình chỉ dẫn đi là tự nó biết đường về. Lỡ liên hoan say xỉn thì cứ việc leo lưng trâu là về tới nhà”. Mọi người cười khà khà. Ba Bé nuôi trâu cũng nhiều cái lợi. Lúc cực quá anh bắt trâu thịt cải thiện đời sống. Không có tủ đông, anh cắt đùi trâu vùi xuống sình lạnh cũng để dành được mấy ngày...

“Lối ra” từ viên cao ích mẫu

Tuy làm ăn dân dã để chịu đựng khủng hoảng, nhưng lòng Ba Bé vẫn chưa an phận. Anh có thể đi chăn trâu nuôi sống mình, nhưng còn tương lai bao anh em khác? Anh cùng anh em trồng cây thuốc và mày mò bào chế các loại thuốc tự nhiên như cao ích mẫu, viên tỏi, nghệ rồi tự tay mang đi chào hàng. Thời kỳ đó, các loại thuốc này chưa được quen dùng, và Ba Bé cũng gặp nhiều chuyện ngậm ngùi. Anh gõ cửa bạn bè đang làm các công ty dược, bệnh viện. Họ vui vẻ đem rượu bia ra đãi Ba Bé, nhưng phần quan trọng thì lắc đầu: “Ông thông cảm nghen. Khách hàng của tui chuộng thuốc nhập. Cứ để lại số điện thoại. Chừng nào thị trường thay đổi thì tui gọi ông liền”.

Ba Bé buồn thiu về bưng. Một buổi, anh đi hội nghị dược, nghe mọi người trao đổi toàn thuốc nhập khẩu. Anh lặng lẽ ra ghế đá ngoài sân ngồi một mình thì gặp giám đốc Chánh ở Công ty Dược Đồng Tháp. Ông ái ngại hỏi: “Sao mặt buồn dữ vậy Ba Bé?”. Anh trả lời: “Sắp chết đói rồi nè!”. “Tao cũng đang vậy đây. Thôi, hai thằng sắp chết đói bắt tay kiếm cơm đi”- ông Chánh đề nghị. Thế là xí nghiệp Ba Bé bắt tay với Công ty Dược Đồng Tháp.

Tình cờ có lần Ba Bé thấy một chị len lén ra nhà sau uống thuốc cao ích mẫu nước. Anh lóe suy nghĩ: “Chai thuốc điều kinh nước bự tổ mẹ. Chắc chị em ngại uống trước đám đông vì sợ bị nghĩ sinh lý có vấn đề. Sao mình không bào chế loại thuốc viên nhỏ gọn hơn ...”. Thế là Ba Bé về bàn anh em bào chế loại cao ích mẫu viên đựng gọn trong hộp nhỏ và gây bất ngờ trên thị trường. Anh em bào chế không kịp bán. Sau đó, họ còn nghiên cứu kết hợp hai loại thuốc tỏi, nghệ thành một viên tiện dụng và cũng nhanh chóng hút hàng. Xí nghiệp của Ba Bé đã vượt qua khủng hoảng ...

Một hôm có đoàn Việt kiều về thăm xí nghiệp. Ông Dương Nghiệp Bảo ghi lại sổ lưu niệm dòng chữ: “Khai phá đất hoang để phát triển kinh tế là một điều tốt cho sự mở mang đất nước. Nhưng tôi rất lo lắng cho tương lai vùng đất này vì theo kinh nghiệm của các quốc gia khác, sự mở mang thường đi cùng với sự hủy diệt môi sinh rất khốc hại ... Chúng ta nhất định phải tránh rơi vào trường hợp này”. Ba Bé suy tư rất nhiều. Anh quyết định tập trung xí nghiệp vào bảo tồn thiên nhiên, sản xuất dược liệu thân thiện môi trường.

Anh hay tâm sự với anh em: “Chúng ta phải nhớ rằng việc làm của chúng ta hôm nay sẽ được đời sau phán xét công bằng!”.

QUỐC VIỆT
Logged

Chủ nghĩa dân tộc mù quáng là đại họa của dân tộc!
cangiuoclongan
Thành viên
*
Bài viết: 52

Chủ nghĩa dân tộc mù quáng là đại họa của dân tộc!


WWW
« Trả lời #44 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2010, 08:48:24 am »

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/373206/Co-tich-dong-bungnbsp--Ky-cuoi-nbspDang-sau-danh-hieu-anh-hung.html

TT - Những ngày sống ở đồng bưng, tôi bất ngờ chứng kiến Ba Bé hay gọi chim trời, cá nước bằng “con” và chúng sà lại với anh. Ba Bé nói không biết chúng có nghe được không, nhưng chúng có thể cảm nhận được ý đồ mình: “Nếu gọi nó là con mà trong bụng muốn mần thịt nó thì nó không lại đâu!”...

Ngôi trường miễn phí

Ba Bé ít khi rời đồng bưng. Anh có về thăm nhà ở TP.HCM cũng chỉ hai ba ngày lại thấy trở vô bưng. Vậy mà có lần tự nhiên anh biến mất khỏi bưng cả chục ngày. Sau này bạn bè mới biết lần đó Ba Bé về thăm quê hương Bến Tre, nơi anh từng ở đợ, chăn trâu. Một gia đình người quen tiếp anh nhưng mặt mày buồn hiu như tàu chuối rũ. Té ra con gái họ đã dại dột nghe lời bạn bè rủ rê ra Hà Nội làm gì không rõ.

Ba Bé không nói gì, tự lần dò các đầu mối, mua ngay vé máy bay ra tận Hà Nội đón con người bạn về.

Rất nhiều người lao động đã tình cờ đến với Ba Bé. Một lần ngồi xe đò về thành phố, Ba Bé thấy băng ghế bên cạnh có một cô gái mặt mày buồn hiu. Anh gặng hỏi. Cô gái trả lời đang đi kiếm việc mãi mà chưa được, tiền cũng hết rồi. Ba Bé nói ngay: “Hay là về làm với chú? Nhìn tướng con nông dân chắc vô bưng cũng hợp”. Cô gái gật đầu. Ba Bé xuống xe, đón ngay chuyến ngược lại và dẫn cô gái về đến nơi làm việc rồi mới tiếp tục công việc của mình.

Hôm sau anh về thấy cô gái đang ngồi khóc thút thít ở bờ kênh. Gặng hỏi mãi cô mới chịu trả lời: “Nói thiệt với chú là con có ông xã rồi. Vợ chồng mần ăn khó khăn, cự cãi nhau nên con mới đi kiếm việc làm. Bây giờ nhớ ổng quá!”. Ba Bé bật cười: “Tưởng chuyện gì dữ lắm. Thôi, chú tạm ứng lương trước cho con về đón ông xã lên đây làm luôn”.

Và vợ chồng họ đã sinh con, cất nhà ở luôn tại Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười cùng với Ba Bé.

Ba Bé đã đứng ra làm chủ hôn hàng chục đám cưới của “lính” và lo luôn nhà cửa cho họ ổn định cuộc sống. Khách xa đến thường ngạc nhiên khi thấy nhiều thanh niên, trẻ con ở đây gọi anh là tía, ông nội. Đó là những người lao động và con cái họ đã được anh cưu mang. Nhiều nông dân đến làm cho Ba Bé còn chưa biết chữ. Anh mở lớp tối dạy học. Được vài hôm họ vò đầu bứt tóc đến gặp “thầy” Ba Bé: “Nói thiệt bụng tui học không nổi mới xin đi mần. Giờ anh lại ép tui học tiếp thì tui nghỉ à nghen...”.

Ba Bé cười: “Anh có muốn đời con mình lại cuốc đất nữa không? Tui biểu anh học không phải làm thầy mà để biết cái chữ dạy con cái sau này nên người”. Mấy bạn trẻ mới vô bưng buồn quá xin Ba Bé nghỉ. Anh vui vẻ: “Mấy đứa muốn về cứ về, bôn ba đi cho hiểu lẽ đời. Anh cho thêm chút tiền để lúc nào muốn quay lại thì có tiền xe”. Sau đó họ quay lại thiệt và ở luôn đến nay.

Những ngày đầu về bưng Đồng Tháp Mười, Ba Bé đã xây trường học miễn phí và đặt tên Hương Tràm. Chuyện này cũng làm Ba Bé khổ “lên bờ xuống ruộng”. Hôm anh đi xin giáo viên, một cán bộ ngành giáo dục nói gay gắt: “Ông giữ đất, giành dân, bây giờ lại đòi mở trường học riêng. Đó là việc nhà nước. Bộ ông muốn tự trị, tuyên truyền chính trị hay sao. Còn bày đặt gắn cái tên Hương Tràm nữa, nghe ủy mị như cải lương tư sản”.

Ba Bé giận đỏ mặt: “Đề nghị ghi biên bản đúng lời anh vừa nói để tui đi kiện”. Ông ta hoảng quá, phải xin lỗi và về sau trở thành bạn thân của Ba Bé. Anh tâm sự: “Tui đi ở đợ, phải học lén ngoài cửa sổ trường. Giờ có điều kiện chỉ muốn cho sắp nhỏ đừng phải cực như mình. Chữ Hương Tràm đọc ngược lại là Ham Trường đó”.

Ở đồng bưng heo hút, Ba Bé hay tận dụng kiến thức dược để giúp dân nghèo thiếu thốn thuốc men. Anh đã cứu mạng nhiều người bị rắn độc cắn. Đặc biệt, những người bị bệnh lây nhiễm nan y cũng được anh tận tình chăm sóc và cho thuốc hỗ trợ điều trị miễn phí để kéo dài cuộc sống. Nghe tiếng Ba Bé chữa bệnh cứu người, một ông già ở tận huyện Đức Hòa, Long An đã chống gậy tìm đến anh để tặng sách thuốc cổ: “Tía gần đất xa trời, có sách thuốc quý mấy đời truyền lại. Buồn là con cái không đứa nào theo nghề thuốc nữa. Thôi, tía tặng cho con cứu người!”.

Cuộc chiến riêng mình

Những ngày sống cùng Ba Bé ở đồng bưng, tôi đã được nghe anh tâm sự rất nhiều chuyện đời như những ký ức không thể nào quên. Nhưng có lẽ xúc động nhất chính là nỗi niềm của anh về hình bóng người vợ ở xa.

“Nếu bà xã không cảm thông, chịu đựng với chồng, chắc chắn tui không thể nào bám trụ nổi ở đồng bưng này” - Ba Bé xúc động tâm sự lúc anh quảy balô vô bưng, vợ chồng chưa có con. Rồi khi vợ sinh cũng phải một mình nuôi nấng con. Lúc con bệnh, chị gọi điện báo chồng biết, nhưng vẫn phải nói là bệnh nhẹ để anh yên lòng lo công việc. Thời chưa có điện thoại chị phải gọi đến xã, hẹn giờ gặp chồng để họ cho người đi tìm Ba Bé. Nhiều khi anh ra đến nơi chị đã đưa con đi bệnh viện rồi.

Tâm sự chuyện gia đình, Ba Bé cũng hay đau đáu nhắc đến con cái. Anh có một đứa con trai vì cha cứ mãi xa nhà nên không gần gũi nó được. Một ngày của năm học lớp 9, nó bỏ nhà đi lang thang. Nghe tin, anh tức tốc ra Vũng Tàu bắt con về bưng. Ai dè thằng con mới ngủ với cha được một đêm, sáng ra đã thấy mẹ ngồi khóc một mình ở đầu kênh. Xót con, chị đón xe đêm đi một mạch từ TP.HCM xuống Mộc Hóa, rồi bao tắc ráng vô bưng.

Ba Bé nhìn cảnh mẹ con khóc lóc, không kìm lòng đặng anh đưa hai mẹ con về với điều kiện nếu con còn đi hoang anh sẽ bắt luôn vô đồng bưng. Đúng như anh dự đoán, về thành phố được mấy ngày thằng nhỏ lại đi chơi tiếp. Anh lên tận nơi bắt về rồi giao xuống tổ lao động. Anh nói rõ rọt với cán bộ quản lý: “Cứ coi con tui là một lao động bình thường như người khác. Cho nó đào kênh, đắp đường. Hôm nào nó bỏ làm cứ trừ lương sòng phẳng”.

Anh làm căng nhưng lòng vẫn khéo léo hướng con vào tình yêu cuộc sống đồng bưng. Những hôm đi tát đìa, lấy mật ong, giăng lưới cá anh đều rủ con theo... Sau hai năm, đứa con xin tía Ba Bé cho đi học tiếp. Lần này sự trải nghiệm giúp con anh hiểu thêm về cha và câu chuyện phấn đấu trong cuộc đời.

Thật ra ấy là một cuộc chiến đấu khác mà cuộc đời Ba Bé phải đương đầu. Anh hùng Nguyễn Văn Bé không giấu giếm chuyện riêng tư của mình, bởi với anh giá trị sống quan trọng nhất là làm điều có ích cho vùng bưng biền và những con người cùng khổ nơi này. Nó không phải là chuyện cổ tích toàn điều tốt để kể, cũng không phải chỉ là chiếc áo lấp lánh những hào nhoáng vinh danh...

QUỐC VIỆT
Logged

Chủ nghĩa dân tộc mù quáng là đại họa của dân tộc!
fddinh
Thành viên
*
Bài viết: 324


Mít sờ tơ Khù văn Khoằm


WWW
« Trả lời #45 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2010, 11:47:10 pm »

Mô phỏng tai nạn máy bay tổng thống Ba Lan:
http://en.rian.ru/video/20100410/158515224.html
Logged

Mít sờ tơ Khù văn Khoằm
SukhoiSu-47Berkut
Thành viên
*
Bài viết: 354


Vọng mãi đến ngàn năm, vần thơ Nam quốc sơn hà!


« Trả lời #46 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 12:02:19 pm »

Xôn xao tin 'cụ rùa' hồ Gươm qua đời

Nhiều người dân Thủ đô “bàng hoàng” khi hay tin cụ rùa hồ Gươm qua đời hôm 13-4. Tuy nhiên, tiến sĩ Hà Đình Đức, Hội Bảo vệ thiên nhiên - Môi trường Việt Nam, cho biết đó chỉ là một con ba ba.

Cũng theo ông Đức, cụ rùa quý ở hồ Hoàn Kiếm nặng khoảng 200kg và có tên khoa học là leloii (Rùa Lê Lợi), đây là cá thể rùa quý hiếm không chỉ Việt Nam mà trên thế giới vẫn chưa tìm ra nguồn gen kế tục.
http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=191587&ChannelID=2
===========
Gớm cái thằng tôi thấy ngán ngẩm cái ông rùa học này. Cái tên trứ danh ấy là ông muốn đặt, chứ ai công nhận mà ông phán tên khoa học là thế? Còn cái gì ở HN ông muốn chứng minh có nguồn gốc...trong ấy nữa đây? lại muốn chứng minh nó là con rùa duy nhất trên trời rơi xuống nữa chăng? Nó có vị trí thiêng nhờ huyền thoại gắn liền với nó, hãy cứ để nguyên như niềm tin của mọi người, chứ chả do nguồn gốc nó ở đâu ra, mong ông hãy để khoa học chân chính lên tiếng. Ờ mà hờ hờ...ông sợ đặt leloi thì thành Lẻ loi giống hãng hàng không Tang tóc, vậy nên ông choang thêm chữ i vào nữa thì còn nghĩa gì? Chán ông.
Logged

Bóng ai như tôi đi qua cánh đồng...
Bóng ai như tôi đi qua cuộc đời....!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #47 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 04:34:31 pm »

Một thông tin thêm về CZ Babyfilt (báo QĐ số ra ngày 15/4/1975):

Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
cangiuoclongan
Thành viên
*
Bài viết: 52

Chủ nghĩa dân tộc mù quáng là đại họa của dân tộc!


WWW
« Trả lời #48 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2010, 02:29:11 pm »

http://www.tuanvietnam.net/2010-04-16-day-to-dam-nhan-dan-va-cong-nghe-phat-chan-hien-dai

...
"Vì ông là bạn nên tôi nhắc ông hãy cẩn thận không rơi vào cái bẫy của kẻ xấu". Rồi ông bảo tôi đó chỉ là "con sâu bỏ rầu nồi canh".

...
"Có biết ta là ai không?".

...
Một ngày cả thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang bị cắt điện. Thế nhưng có một nơi điện vẫn sáng tưng bừng mà không phải do dùng máy phát cá nhân. Nơi nào vậy ?

Chắc đó là trụ sở công an hay doanh trại quân đội, những lực lượng phải thường trực chiến đấu? Không phải.

Chắc đó là bệnh viện nơi có những bệnh nhân nếu thiếu điện cho các phương tiện hô hấp hay phẫu thuật hoạt động thì có thể cướp đi trong chớp mắt sinh mệnh con người? Không phải.

Chắc đó là trường học, nơi những chủ nhân tương lai của đất nước đang dùi mài kinh sử? Không phải.


...
Ban Tuyên giáo Trung ương ơi, bênh tụi em với!

...
------------------------------------------------
Và nhiều thứ khác ;-)
Logged

Chủ nghĩa dân tộc mù quáng là đại họa của dân tộc!
SukhoiSu-47Berkut
Thành viên
*
Bài viết: 354


Vọng mãi đến ngàn năm, vần thơ Nam quốc sơn hà!


« Trả lời #49 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2010, 03:26:56 pm »

Răng sâu của Napoleon giá 19.000 USD
http://vietnamnet.vn/thegioi/2005/11/510337/
....
Có ai nhận ra...mình không?  Grin Grin Grin
Logged

Bóng ai như tôi đi qua cánh đồng...
Bóng ai như tôi đi qua cuộc đời....!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM