Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:11:17 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giáp ranh  (Đọc 92624 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
BloodX
Thành viên
*
Bài viết: 37


« Trả lời #20 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2012, 09:57:04 am »

BẢY
Phong có cảm giác rất rõ ràng, Lý đang nhìn mình. Và làm như vô tình, anh quay lại cầm chiếc vá để chan canh, quả đúng như vậy. Lý đang ngồi trên khúc gỗ tròn, cưa bằng hai đầu dùng làm ghế ngay trước cửa bếp.
-   Canh em nấu có được không anh Phong? – Lý hé miệng cười để lộ hàm răng trắng.
-   Nói chung là ngon … Phong đáp vui vẻ.
-   Răng lại nói chung? – Lý hỏi tò mò.
-   Vì đói nên ăn chi cũng cảm thấy ngon miệng.
-   Anh Phong thiệt là… Này, anh Tam nhắn anh sang đội sản xuất chơi.
-   Vậy hả? Cậu Tam sang đây? – Phong đặt bát xuống bàn.
-   Sáng nay anh Tam qua buôn Cu Choi, ghé vô. Anh ấy nhắn anh sang nói chuyện chi gấp lắm – Lưỡng lự một lát, Lý nói thêm – Em cũng có việc qua chỗ anh Tam đó, nhận thư của mẹ em gửi lên.
Phong nhìn cô gái giây lát rồi nói :
-   Chiều nay cơm nước xong, anh em ta cùng đi nghe.
-   Dạ.
Lý nhanh nhẹn ra bàn thu dọn mấy chiếc xoong và cầm luôn chén đũa của Phong đi xuống suối.
Phong chui vào căn nhà hầm mắc võng…
*
*    *
“Dù tôi có muốn quên, thì hình bóng của em vẫn cứ tồn tại trong suy nghĩ của tôi, mỗi lúc tôi phải đối diện với chính mình. Trên từng tảng đá, trên con đường rừng ướt lướt thướt vào những ngày mưa dầm dề, ẩn khuất trong những tán lá cây rừng một gương mặt em, cùng với những kỷ niệm của tình yêu.
Một mùa mưa qua… Hai mùa mưa đã qua.
Tôi vẫn còn nhớ buổi chiều em theo những người lính đại đội 1 đi lượm đồ hộp Mỹ ở Động Tranh. Địch rút, căn cứ Mỹ ngổn ngang những đồ hộp dư thải. Bộ đội sau kỳ đánh Mậu Thân lên rừng gặp trận đói khủng khiếp. Mỹ đang đổ quân càn đường tuyến dọc theo thung lũng A Lưới đến tận Dốc Mèo. Cán bộ huyện xã cũng không sao kiếm đủ gạo ăn ở dưới các làng. Sư đoàn 1 bộ binh ngụy và các đơn vị địa phương quân đang truy quét “ Việt Cộng” lên xanh. Cái đói treo trước mắt tất cả mọi người. Nồi cháo môn vót xanh rờn lõng bõng có vài hột gạo không đủ mùi thơm để át đi cái vị hăng nồng của thứ rau rừng. Chao ôi, vớ được đồ hộp Mỹ, những két hộp hầu như còn nguyên vẹn. Còn gì sung sướng hơn.
Những ngày địch càn rừng, đội công tác của em phải sang ở chung hầm với bộ đội. Căn hầm mái bằng chật chội. Đang giữa mùa mưa, nền hầm lõng bõng nước. Những cây gỗ gác đà to chưa quá bắp chân, thỉnh thoảng lại chuyển răng rắc mỗi khi có đợt pháo bắn hú họa của địch nổ gần. Phải, những đêm như vậy, hai đầu võng cột chung một cây cọc, em lại kể cho tôi nghe về cái làng Liễu Thượng còn sót lại trong ký ức tuổi thơ của em, và về Huế, một thời con gái em đã sống.
Tôi đã ở Huế trong những ngày Mậu Thân. Nhưng tôi chỉ là một chứng nhân cho cố đô vào một thời kỳ bão táp, binh lửa. Những trận phản kích đánh chống càn tụi thủy quân lục chiến Mỹ, có chiến xa yểm trợ nhằm giải tỏa cho Huế. Công việc bận rộn của một trung đội trưởng không còn đủ thời gian cho tôi nhìn rõ từng nóc nhà chợ Đông Ba; vẻ đẹp uốn cong của cây cầu Tràng Tiền, cũng như những tháp mái vọng lâu trong khu Hoàng thành cổ kính. Huế còn lại trong tôi là tiếng đạn pháo, tiếng bom gầm rít trút xuống những mái trường, những góc phố, nơi người lính của tiểu đoàn 10 trụ giữ làm công sự. Là tiếng đạn trung liên, AR15, đại liên xé màng tang của các đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ và ngụy phối hợp xông lên lấn từng thước đất. Những bưa cơm ăn chập chuội còn ấm nóng trong ánh mắt vừa lo âu, vừa thúc giục đông việc của các bà mẹ, các chị Huế. Tôi không biết một tên người nào. Những bà mẹ cách mạng chỉ có thể nhận diện qua gương mặt và những vắt cơm còn in hằn dấu bàn tay trong những chiều mưa xuân rây hạt trên phố. Đây đó , vẫn còn sót lại những cành hoa mai, bích đào trong các vườn nhà chưa bị miểng pháo cưa đứt.
Chính là em chứ không phải ai khác, đã hồi phục cho tôi một dáng Huế, với vẻ đẹp văn hiến ăn sâu vào tiềm thức của người dân cố đô. Không gian như ngựng đọng nhuộm vàng bởi ánh nắng thu tàn. Tiếng chuông trong vắt của chùa Từ Đàm ngân lên như hòa tan với tiếng thông reo trên vùng đồi Thiên An, Từ Hiếu… Vào giờ khắc ấy, ở đâu cũng vang lên tiếng chuông thỉnh buổi chiều xen lẫn tiếng mõ khua lốc cốc, rời rạc, cô đơn, buồn bã.
Huế trong mắt em đáng yêu đến từng viên gạch lát hè, đến từng chiếc lá rơi thả nhẹ xuống mặt dòng sông tĩnh lặng, tô điểm cho những cánh áo trắng học trò sau mỗi giờ tan lớp. Những câu thơ, những bài hát dân ca tôi nghe đén não lòng, nhưng ở cửa miệng em lại gây cho tội một niềm cảm khái day dứt, da diết mến thương.
“Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm, ai thương ai cảm, ai nhớ ai trông. Thuyền ai thấp thoáng bên sông. Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non”
“Thuyền từ Đông Ba, thuyền qua Đập Đá, thẳng ngã ba Sình. Lờ đờ bóng ngả trăng chênh. Giòng hò xa vọng nhắn tình nước non.”
“Đêm năm canh mơ màng bóng bạn
Ngày sáu khắc nhớ dạng thương thầm
Nào ai nhắc đến tri âm
Lá gan em khô từng chặng, ruột em đau ngầm từng khi…”
Những đêm mưa rừng ở Huế thật dài. Con tắc kè trên cây sấu già chốc chốc lại từng tiếng đĩnh đạc, đã mấy lần rồi nhưng trời vẫn chưa sáng. Văng vẳng phát ra tiếng ngáy của những người nằm dưới hầm. Có một cậu nào đó nói mê. Thỉnh thoảng em lại hỏi tôi.
-   Anh Phong đã buồn ngủ chưa?
-   Chưa…chưa. – Tâm cứ kể chuyện nữa đi.
Làm sao tôi có thể ngủ được với những câu chuyện của em, tuổi thơ của em về một vùng đất mà tôi hằng ngưỡng vọng. Nó xa lạ và huyền hoặc với tôi, khi tôi mới chỉ là một đứa trẻ còn mặc quần thủng đít ngồi trong lòng bà ngoại. Bà tôi, một người đàn bà đã từng đi buồn hàng chuyến vào thấu Huế. Tu Ran. Huế ! Ấy là những cung điện, đền đài mái ngói phủ rêu phong thành kính có những hàng cột, con chữ sơn son thiếp vàng. Còn những người lính canh cổng thành, mặc bộ quần áo đỏ có nẹp vàng, chiếc nón con con che trên đỉnh đầu rũ xuống một tia ngù tía, chân quấn xà cạp. Những người lính đứng im như một pho tượng gỗ, bất chấp nắng mưa. Bà ngoại tôi bảo: “ Nước sông Hương xanh như mắt con mèo già”. “Có xanh giống như nước sông Kiên Giang của miềng không ngoại?”. “ Ăn nhằm chi con. Ăn cho mau lớn vô coi cho biết”. “Răng vô được Huế ngoại?”.”Ráng mà học giỏi như ông Đồ Thông nớ”, Làng tôi có ông Đồ Thông, hay chữ Hán. Nghe bảo ngày trước ông Đồ đã từng vác lều chõng vô Huế thi. Thi cho đến bạc cả tóc, chỉ được cái tú tài. Ông về làng vừa học, vừa mở lớp dạy sắp trẻ nít trong vùng.
Ông ngoại, rồi ba tôi cũng đã từng theo học ông Đồ Thông. Khi tôi ra đời ông Đồ đã mất lâu, bị xe nhà binh Nhật cán chết ở ngoài Cửi. Nhưng chuyện về cái sự học hành của ông Đồ, luôn được người làng lấy ra để làm gương cho con cháu.
Hình như ngày còn nhỏ, tôi cũng đã từng ao ước được một chuyến vô Huế. Ấy là một buổi chiều, đám trẻ con chúng tôi ra ngoài bờ sông Kiên Giang lặn ngụp mò hến, tắm táp. Thỉnh thoảng có hai chiếc thuyền có mái che, chở đầy lá nón, củ nâu dong buồm xuôi con nước ra biển. Những chiếc thuyền buôn chở của rừng đi Huế. Một đầu con thuyền hai ba chị mặc áo dài, áo cánh trắng ngồi nhai trầu, đánh bài. Còn một đầu thuyền, người lái đò cởi trần, mặc độc chiếc quần đùi giữ lái.
“-Thuyền đi vô Huế tụi bây ơi”.Lũ trẻ con reo lên. Vài đứa còn ngổ ngáo lặn một hơi dài, bơi đuổi theo thuyền nương theo con nước, xuôi dòng. Nhưng không một đứa trẻ nào dám bám vào mạn thuyền. Những gã chân sào đều khó tính, mà cũng có thể các bà buôn kiêng kỵ kẻ bám theo thuyền mang đến cho họ những điều xui xẻo trên chặng đường đánh vật với sông nước.
Huế ngày xưa đối với tôi chỉ là một ảo ảnh. Còn Huế bây giờ, qua những câu chuyện đêm mưa dầm dề của em thật gần gũi thân thương. Tưởng như tôi đã từng sống ở đấy, cùng em chung những kỷ niệm.
Thực tôi khó hình dung ra em, một sự phân thân của hai con người. Một cô đại đội trưởng trinh sát của thành đội Huế, nghiêm khắc rất mực trong những lúc đánh địch mỗi khi về đồng bằng và cũng tỏ rõ là một người tỉ mỉ, cụ thể trong hợp đồng tác chiến với bộ đội. Rất là chỉ cả với em út. Sau cô cậu trinh sát trong đội, một điều “ Chị Tâm” hai điều “chị Tâm”… Những ngày bộ đội khan gạo, thiếu ăn. Em bất chấp địch chốt chặn cửa rừng, em đã đạp đường đưa từng trung đội về Liễu Thượng, về bồn phổ, về Văn Xá Làng, Văn Xá Trung, Bầu Tháp mua gạo, muối mắm , bột ngọt. Nhưng còn một cô Tâm của tôi, dễ xúc cảm và cũng hay thẹn đỏ mặt khi bộ đội chọc và đám con gái bên huyện đội sống sượng ghép đôi với tôi trong mỗi chuyến đi đồng bằng thường hợp quân trên đỉnh Đồi Tranh.
Logged
BloodX
Thành viên
*
Bài viết: 37


« Trả lời #21 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2012, 09:58:29 am »


Cả em và tôi đều không ai đoán định rằng tình yêu của mình sẽ đi tới đâu. KHông ai dám nói một lời quyết định. Yêu và được yêu đã là niềm hạnh phúc bất tuyệt cho mỗi người được hưởng trọn vẹn niềm vui ấy trong chiến tranh, khi mà cuộc sống luôn đưa ra những mệnh đề nghiệt ngã bắt mỗi người trong cuộc phải vượt qua. Một chớp mìn nổ bất tử, một mảnh pháo vu vớ, một trái bom trút vội của chiếc phản lực AD6, trước lúc hạ cánh xuống sân bay đều có thể gây ra cái chết cho bất kỳ ai. Lòng dũng cảm của người chiến sĩ được thể nghiệm trong những tình huống cụ thể khi so đọ với kẻ thù mặt giáp mặt, chứ không ai đem ra đối đầu với những điều bất trắc vô tình của chiến tranh.
Tình yêu của tôi và em, tự bản thân nó đã là một sự thách thức với cuộc sống hàng ngày.
Một đêm, em đưa đại đội tôi về diệt đại đội bảo an số 23, đóng ở đình làng Liễu Thượng. Không gặp địch. Dân báo tụi bảo an đã rút ra ngoài An Lỗ từ hồi chiều. Trung đội nghĩa quân mới nghe vài loạt AK và một trái B40 nổ hất tung cây rơm nơi chúng nằm phục đã vội vã tháo chạy thục mạng, bơi qua con hói sang làng Phú Ổ. Bộ đội tràn vào làng. Đèn đuốc dân thắp sáng trưng, bất chấp những quả pháo địch bắn chặn ở ngoài bãi cồn mồ mả sát rìa làng. Gió thổi tới mùi thuốc pháo hăng hăng. Em đưa bộ đội đi các nhà mua gạo, đậu phộng. Đêm về khuya, việc mua bán đã xong. Em nhủ tôi về thăm ngôi nhà cũ của cha mẹ ở ngoài xóm. Chỉ còn lại nền đất cũ để trơ trọi vài mảng tường đổ rêu phủ đầy trên nền xi măng lở lói.
-   Lính Diệm kéo về đốt dạo “Tố Cộng”. Ba em là Cộng Sản nằm vùng trên núi hoạt động từ trước.
Tôi ra ngồi ở thành giếng. Ánh trăng soi mặt nước trong lòng giếng sáng loáng. Tôi đã nghe em nói một câu phát rợn người, sau lúc em nhìn xuống giếng hồi lâu.
“- Anh biết không? Ông nội em đã bị địch trói lại, rồi thả xuống giếng này cho đến chết”.
Giọng tôi run run.
“-Sao vậy”?
“- Tụi lính bắt nội chỉ căn hầm bí mật của đồng chí bí thư chi bộ xã… Ông nội em không biết rằng hàng ngày, đã có một tên trong xóm làm chỉ điểm theo dõi ông mang cơm ra đồng bỏ lại ở ngoài ruộng lúa”.
Tôi hơi rùng mình ớn lạnh. Em cảm thấy điều ấy, nên đã khẽ khàng cầm lấy tay tôi. Tôi không ngại những xác chết, nhưng tôi đau đớn.
-   Một tuần sau, tụi địch rút đi, chú em mới đưa được ông nội em đi chôn cất.
Qua mảnh vườn hoang của nhà em, ngoài kia là cánh đồng hoa màu của làng Liễu Thượng được ngăn cách bởi một hàng rào thưa trồng những cây xương rồng và dứa dại.Pháo địch ở Từ Hạ, ở Văn Thánh đã ngưng bắn từ lâu. Xung quanh yên tĩnh, một sự yên tĩnh tới lạnh lẽo, hoang vắng. Và nếu không có những quả pháo sáng trơ trẽn tỏa quầng ánh sáng vàng vọt trong một khoảng không gian mênh mông. Và nếu, lâu lâu ở hướng ngoài đường lộ, không vọng lại một tiếng súng bắn cầm canh phát một của tụi lính tuần, thì không ai nghĩ mảnh đất này là nơi thử sức của chiến tranh, một nơi đang gieo rắc cái chết cho người nhập cuộc. Một nơi mà mỗi số phận con người đều phải tự tìm lấy cho mình câu trả lời về lẽ sống.
Tôi mê đi trong những suy tư đang trào dâng bởi hơi ấm của vong tay em xiết chặt. Đôi môi em căng mọng. Và, tôi đã bắt gặp cái đốm sáng phát ra từ đôi mắt em bất chật ngước nhìn lên vòm trời xanh thăm thẳm, đan dày những ngôi sao đêm hè.
Ánh mắt ấy đã là câu trả lời của em cho cuộc chiến đấu mà em theo đuổi và sưởi ấm cho tình yêu của tôi. Tôi không phủ nhận, rằng em là người nâng đỡ cho tâm hồn tôi có lúc tưởng như suy sụp. Ngày ấy tôi chỉ là một anh trung đội trưởng. Một trung đội – (nào có ra cái trung đội !) mười bốn tay súng, vừa bị thương, vừa sốt rét. Thỉnh thoảng lại một chiến sĩ hy sinh vì vấp mìn do địch gài trên con đường trục, hoặc bị phục kích. Bốn giờ sáng chúng tôi đã trở dậy lo cơm nước. Ăn xong, mỗi người một cục cơm vắt, vác B41 ra ngoài ngã ba cách hậu cứ trung đội nửa giờ ngồi phục kích. Từng phút tôi ngóng tai nghe một tiếng động lạ, phát ra từ trong đám lá cây rừng rậm rạp. Cứ tưởng là bước chân tụi ngụy, hóa ra chỉ là một đàn duộc kéo nhau đi ăn, động cành và lục cục khuân đá dưới lòng khe cạn để bắt những con cua đá, ốc đá gày đét sống nhờ vào lớp rêu. Một lần tôi nhìn thấy một chàng vượn, làm nhiệm vụ cảnh giới cho cả đoàn bắt ốc. Con vượn đực nhặt được một chiếc mũ sắt của lính ngụy. Nó ngồi trên tảng đá, chụp mũ lên đầu gãi bẹn cười khành khạch. Chơi chán chú vượn quẳng cái mũ va vào đá loảng xoảng. Ngồi suốt từ sáng sớm cho tới bốn giờ chiều cảnh giới địch. Mỏi mắt, căng thẳng đợi chờ. Mệt, thèm thuốc nhưng không được hút. Có nhiều lúc tụi địch tới, hạ trại đóng kề bên. Không đánh được vì trung đội không đủ lực và còn là một cách để đảm bảo sự bí mật cho con đường trục nối về với tiểu đoàn. Đạn B40, B41 càng hiếm. Mỗi khẩu chỉ còn hai ba quả, dành cho những chuyến đi đồng bằng và một khi xảy ra những trận đánh tao ngộ chiến. Những lúc ấy, tự nhiên tôi lại mong địch xuất hiện trước mũi súng để được ấn vào vòng cò khẩu B40 đã bỏng rát trên vai, trĩu nặng. Đánh để trả thù cho một sự tức tối, căng thẳng kéo căng dây thần kinh vì chờ đợi. Bắn một phát B40, xả vài loạt AK, rồi rút. Muốn ra sao thì ra. Pháo ư? Mặc kệ pháo. Địch phát hiện ra hậu cứ? Thì đánh. Đánh xong rồi bỏ. Tôi không suy nghĩ tới hậu quả sau đó. Ngồi nghe tiếng địch chặt cây, mắc võng ở trong bãi ngụy mà tức như bò đá. Ôi ước gì có một khẩu cối 60 ly và hai chục quả đạn. Một khẩu B41 với dăm cái bắp chuối. Ba đứa tôi dư sức nên cho trung đội ngụy sặc máu. Nhưng mong ước không thể đẻ ra đạn và những trận đánh. Tôi không hề tức tối cậu Dần, chiến sĩ của trung đội tôi ngày ấy, trong lần đi phục kích đã xả một loạt AK, chỉ vì nghe tiếng cây rừng ràn rạt, tưởng tụy ngụy hành quân. Hóa ra là một cặp vợ chồng gấu chó dạo trên đám cây giang. Căng thẳng quá mà !
Hai ngày sau, lúc lau súng , thằng Dần bị cướp cò. Viên đạn ăn chéch vỡ xương cổ tay trái, đứt gân. Nó không hề kêu la, nhận kỷ luật với chỉ huy đại đội. Nhưng tôi thì biết rằng nó đã cố ý làm cho viên đạn cướp cò, tự thương, tìm thấy một con đường lui về tuyến sau để giữ trọn vẹn “cái gáo”.
Tôi khinh ghét thằng Dần, nhưng không giận nó. Ai dám đoán chắc, tôi trong những lúc ngồi bó gối dán mình sau gốc cây to, ngong ngóng cầm khẩu súng cảnh giới. Tiếng mưa rơi lắc rắc trên tấm áo ni lông. Thỉnh thoảng tôi lại lấy môi liếm những giọt nước mưa rỉ xuống từ chiếc mũ vải mềm ướt sũng, tôi đã chẳng ao ước cho một ngày nào đó được trở lại quê hương, vùng vẫy trên dòng sông Kiến Giang, nằm toài dưới bóng tre râm mát nghe vân vi tiếng ve, mắt dõi theo cánh diều đang đọng nắng giữa vòm trời cao vòi vọi kia… Tôi chẳng đã có một ý nghĩ được bị thương nhờ một viên đạn, một mảnh pháo lạc bất tử để nhẹ nhàng rút ra khỏi cuộc đấu sức căng thẳng, và không cân sức lúc này?
Tình yêu của em đã cứu tôi ra khỏi những giây phút mà trạng thái tâm lý bế tắc, u uẩn. Tôi cảm thấy xấu hổ, hai tai nóng bừng khi giáp mặt em. Nhìn thấy em hai ống quần xắn cao, vo tròn dưới gối, chiếc thắt lưng Mỹ, có hai trái lựu đạn. Khẩu AK báng gấp khoác hất ra sau vai, nòng chĩa về phía trước hơi chúc xuống đất. Lọn tóc được buộc bằng một sợi len đỏ. Gương mặt em hồng lên bất chợt, và khẽ mỉm cười. tôi đã phải tránh ánh mắt ấy. Tôi tưởng như ánh mắt của em là hai ngọn đèn soi thấu tâm hồn tôi, đọc được ở trong tôi những ý nghĩ đớn hèn và sự khắc khoải, mỏi mệt.
-   Anh mần răng rứa, anh yêu của em?
Giọng em nói nhỏ, vừa đủ cho tôi nghe và bị chìm vào lẫn trong tiếng chân của mấy người đang lội dọc theo khe suối trước mặt.
-   Không… không sao cả. Tâm à.
Tôi như kẻ ăn vụng bị bắt quả tang. Và bản lĩnh của một anh cán bộ đại đội, vốn có tiếng dũng cảm, liều lĩnh lại trở về với tôi. Tôi hăng hái dẫn bộ đội đi xuống làng đánh bọn bảo an, hoặc thậm chí tập kích vào tụi sư đoàn 1, đóng dã ngoại ngoài con đường chiến lược. Tôi đã đánh là thắng. Cánh biệt động huyện đội, trinh sát thành phố, trinh sát Quân khu nhìn tôi nể phục. Những đêm về làng vượt đường quốc lộ, xuống vùng sau họ sẽ yên tâm hơn, tin hơn nếu biết có tôi đi cùng bộ đội C1, đi trước đánh mở đường. Nhưng những người du kích có biết đâu rằng, trong những ngày ở rừng cái thằng tôi hèn kém trong tôi có lúc trỗi dậy, buồn nản, yếu ớt… May mà người ta không đọc được những ý nghĩ của nhau giấu trong đầu. Nếu ý nghĩ biết hiện hình nắm bắt được thì thật là khủng khiếp, tai vạ. Nhưng, có lẽ chỉ có vậy thì con người mới vẹn toàn hơn, trung thực hơn chăng ? Kẻ đớn hèn trong tôi, tốt hơn lên, trung thực hơn lên và giữ được mình trên cái bờ vực của sự sa ngã chính là một phần ở em.
Tưởng em là người cứng rắn, hóa ra lại mau nước mắt. Bữa tôi đánh về chợ Văn Xá, bị thương vào bụng. Một viên đạn cực nhanh đã xuyên thủng hai lỗ. Thương binh lên tới cửa rừng, gặp tôi em đã không còn giữ nổi tình cảm của mình trước đám cô Liễu, cô Huệ, chị Don bên huyện đội cùng đi đồng bằng đêm ấy. Em khóc, và cứ níu lấy đôi bàn tay lạnh giá của tôi. Bị thương nặng, nhưng đầu óc tôi vẫn tỉnh táo. Tôi khẽ quờ tay, lau những giọt nước mắt ấm nóng chảy dài trên gò má của em. Kinh nghiệm cho hay, kẻ bị thương nặng mà tỉnh, thường khó qua khỏi. Em càng hoảng sợ. Cứ vài phút em lại đưa bàn tay sờ vào ngực tôi coi thử tim tôi còn đập hay không.
-   Em sợ anh chết hả. – Tôi cố đùa.
-   Đừng nói nữa, anh… Em cầu nguyện cho anh đừng có bị sao.
-   Cầu ai ? Em định cầu trời khấn phật ư?
-   Thôi quỷ ạ. Em đang buồn thối ruột thối gan ra đây mà anh còn đùa…
-   Em khỏi lo, thằng Nhô nối ruột còn tài hơn tay thợ vá ruột xe đạp bị thủng.
Hơn hai tháng nằm viện, lần đầu tiên tôi mới hiểu bị thương là một điều tệ hại. Tôi nguyền rủa nó như đã từng nguyền rủa những chiếc máy bay trinh sát OV10 “cán gáo” vào giờ nấu cơm vẫn còn rè rè rà sát xuống mong tìm ra nơi trú quân của “ Việt cộng”. Tôi nhớ từng nghe pháo rít trên đầu, nhớ từng cánh rừng vùng giáp ranh. Và nỗi nhớ day dứt khôn nguôi quặn lên từng đêm là những kỷ niệm đã có với em. Tôi mong được xuất viện từng ngày, sẽ băm bổ vượt đường tuyến qua sông Bồ để tìm về với đại đội. Những vết thương vừa mọc da non, những cơn sốt thường kỳ lại kéo đến quật ngã tôi không cho ngóc đầu dậy. Đã đến lúc bệnh tật trả thù tôi, không phương chống trả.
Vào một ngày giáp năm, chỉ còn gần chục ngày nữa là Tết, tôi lên đường về đơn vị. Ở bãi đá ngang sông Bồ, tôi đã gặp Lân, chủ tịch xã T, cùng đoàn cán bộ của huyện đi sang tỉnh họp, vừa kết hợp đưa thương binh chuyển lên tuyến trên. Họ đang ngồi dưới gốc cây rậm rạp bên bờ sông chờ vượt sông. Hầu hết tôi đều quen biết, không một ai nói về chuyện Tâm. Họ hỏi thăm sức khỏe của tôi và vui vẻ nhận thuốc, ăn kẹo tôi mời. Mãi sau, Lân kéo tôi ra một quãng. Anh tả hỏi, nhưng lại không nhìn vào mắt tôi:
-   Tâm hy sinh rồi, anh đã biết chưa?...
Logged
BloodX
Thành viên
*
Bài viết: 37


« Trả lời #22 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2012, 01:56:52 pm »

TÁM
Lửa cháy sáng bập bùng hắt lên những gương mặt ửng đỏ. Rượu nấu bằng sắn xem ra cũng năng đô. Tuy nhiên thịt còn nhiều và riêng nồi cháo duộc hầu như chưa ai đụng tới. Chiếc xoong cháo đặt bên cạnh đống than hồng, vẫn tiếp tục sôi rậm rịch. Lớp mỡ duộc béo vàng, đóng váng trên mặt nồi cháo. Thịt duộc bóp với riềng, trộn mắm ruốc nấu giả cầy, được đổ đầy hai nắp xoong. Mọi người vừa múc thịt ăn và vừa uống rượu.
Tam ngồi xếp chân bằng tròn trên chiếc sạp nứa vấn một điếu thuốc thật to, rồi đẩy cả gói thuốc tới trước mặt Phong.
-   Hút đi anh, thuốc lá sợi Lạng Sơn đấy. Thứ thiệt chứ không phải của giả đâu. Tháng trước tôi ra tận ngoài rừng thông đổi hàng, gặp một thằng đông hương Hải Phòng đang coi kho ở đấy. Cha chả, hắn đưa tôi vào vùng kho mà hoa cả mắt. cơ man nào là thuốc tây, thịt hộp, bột trứng, lương khô, mì chính. Nhưng tôi khoái nhất là thuốc lá sợi. Hắn bốc cho tôi nửa gùi.
Tam có điệu vấn thuốc thật khéo. Cuộn xong đưa lên miệng và chỉ dùng hai vành môi thấm nước bọt, châm thuốc hút. Thuốc thật thơm, tàn rơi trắng bóc. Phong ngồi bó gối trầm ngâm, tay mân mê chiếc ca nhôm còn rượu. Uống tới ca rượu thứ hai, nhưng anh chưa có cảm giác say. Anh uống chậm, ăn chậm. Thỉnh thoảng Lý với tay lấy chiếc muôi múc đầy thịt đổ vào bát sắt cho anh. Men rượu bốc lên làm cho cô gái đỏ hai quầng mắt.
-   Anh buồn hử? – Tam bảo.
-   Buồn chi! – Phong cười lơ đễnh, nhìn vòm hang nhô ra như hàm ếch, ấm khói đen.
Đội sản xuất của huyện chỉ có sáu người, Tam từ ngày dời đại đội 1, huyện đưa xuống làm đội phó. Đội sản xuất không làm nhà, làm hầm mà ở ngay trong vòm hang đá. Xưa kia đây là một buôn của đồng bào Pa Cô. Địch càn dạo 1965, ném bom vào buôn, đồng bào kéo nhau vượt qua đường tuyến về ở bên làng Tà. Nương rẫy cũng bị bom pháo nem nham nhở, đồng bào giao lại cho huyện. Rút kinh nghiệm trận đói sau Mậu Thân, từ cuối năm 1968, các đơn vị đều có một bộ phận sản xuất nằm ở tuyến sau trồng sắn, bắp, trỉa lúa. Mỗi đội sản xuất quân số không nhiều. Tập trung về đây những người già cả, mất sức chiến đấu, các chị phụ nữ không thể bám trụ được ở vùng ranh. Tam đã trả một giá rất đắt. Anh chấp nhận việc khai trừ ra khỏi Đảng, hạ cấp bậc từ chuẩn úy xuống thượng sỹ để lên miền tây sống ở đội sản xuất. Tam vất mạnh mẩu thuốc ra ngoài bãi đá, ngửa cổ dốc một hơi cạn hết chỗ rượu trong ca, quay sang bảo Phong.
-   Anh với tôi là những thằng khôn anh Phong à. Bữa ở huyện học tập chỉnh huấn, tôi cứ ngỡ anh là người cứng chứ…-Nghĩ một lát, Tam nói tiếp – Dại gì đâm đầu vào chỗ chết phải không anh ? Ở dưới giáp ranh sống chui lủi chạy giặc, kiếm miếng ăn nhục như con chó.
-   Vậy cậu cần cái gì ? – Phong nói giật cục từng tiếng.
-   Tôi cần giữ cái mạng sống cho ba đứa con của tôi.
Phong cay cay ở sống mũi. Anh đưa mắt nhìn người ở bên đội sản xuất của Tam. Ba người đàn ông đều đã say rượu có người chẳng kể gì sự có mặt của chị Lý, của chị Bờn – một người đàn bà đứng tuổi đang ngồi cời lửa trong bếp – nằm ngả lưng trên tấp sap, cất tiếng ngáy. Phong lại nhìn vòm hang. Anh uất nghẹn trong cổ mà không muốn mở miệng tranh cãi với Tam. Hắn đã hiện nguyên hình là kẻ đào tẩu. Con người Tam giờ đây, tựa như một dòng suối sau cơn mưa, nước dềnh lên cuốn trôi đi cành lá, và khi nước cạn trơ ra những tảng đá rêu xanh phủ đầy trên lớp bùn nhớp nhúa. Hình như Tam không hề để ý tới thái độ khó chịu của Phong. Anh ta gắp thịt nhai trèo trẹo, da mặt bóng láng.
-   Hừ… - Tam nói ậm ừ. Anh bây giờ thành thằng lính gùi, tôi làm gã đi cuốc đất. Có khác gì nhau đâu nào… Nói anh đừng giận, tôi quý trọng anh lắm. Ít ra ở đây, lâu lâu tôi còn được gặp anh để chuyện trò, bù khú. Chớ chỉ có mấy ông này tôi buồn lắm.
Tam hua cánh tay chỉ những người say đang nằm ngả nghiêng dưới sàn.
-   Còn tôi thì sao? Chợt chị Bườn đạp mạnh vào vai Tam giọng the thé.
-   Cả cô tôi cũng chán… Chán đến tận cổ rồi cô Bờn ạ…
-   Nhớ nhé…! Gớm cho cái mặt – Chị Bờn dí ngón tay vào trán Tam.
Trong khi ấy Lý ôm bụng cười ngặt nghẽo, thỉnh thoảng cô ta đụng đầu vào tay Phong. Giận quá. Anh bảo Tam:
-   Thôi cậu đừng nói nữa… Coi chừng cậu say rồi đấy.
-   Say thế nào được – Tam cao giọng – Anh coi thường tôi hử? Tôi còn rượu nữa kia.
Tam đứng dậy, bước hơi nghiêng người nhưng hai chân vẫn vững, đi vào trong góc sàn bưng ra một chiếc nồi đậy lá chuối xanh.
-   Rượu đoác đấy, con mẹ Hường ở làng Tà cho tôi. Anh thử đi. Chẳng thua gì bia Trúc Bạch Hà Nội đâu.
Rượu chế bằng nõn cây đoác, có bỏ men, chiết ra bát, cho một thứ nước đục lờ lờ như nước gạo. Uống cũng say nhưng không nặng và nồng như thứ rượu nấu bằng sắn. Phong chẳng khách khí tu cả ca, rồi rót đưa cho Lý.
-   Uống đi Lý, rượu này uống được đấy cô ạ.
Lưỡng lự trong giây lát rồi Lý cũng cầm lấy ca rượu của Phong đưa cho, đưa lên nhấm thử. Cặp môi căng mọng, vành môi dưới hơi trẽ xuống. Vừa uống Lý vừa liếc nhìn Phong, ánh mắt sắc sảo của cô bắt ánh lửa.
-   Cô Lý ạ… - Giọng Tam rõ là một kẻ đã ngấm hơi men – Cô là bông hoa đẹp nhất vùng Hang Đá, Khe Trăng. Bồ của anh Thoan có cô Nhu. Cô đi với anh Phong, đại đội trưởng cũ của tôi đấy cô ạ. Hai cô gái đẹp của đại đội vận tải đi với hai ông cán bộ đại đội. Vậy là nhất. Các cô được các ông ấy chiều chuộng… ha … ha. Ước gì tôi cũng được làm thân con gái.
-   Cậu có im đi không. Đừng có cợt nhả. – Phong dằn giọng, nhưng anh không buồn nhìn hắn.
-   Cô Lý ơi, cháo duộc bổ nhất trần đời. Bổ tim, bổ phổi, bổ ngũ tạng trần bì. Cố mà ăn cô em ạ. Hai thầy trò nhà cô không ăn hết, chóc nữa là tôi đổ vào túi no lông bắt đem về, năm trên võng mà ăn. Vừa ăn vừa … hí…há.. há.
Phong nhỏm dậy bỏ ra ngoài. Chẳng hơi đâu tranh chấp với một thằng say. Vả lại nhìn thấy mặt hắn anh càng ghét cay ghét đắng.
-   Say rồi hử, anh Phong… A ha, một anh đại đội trưởng không quân bây giờ bông dưng thành một gã lính gùi. Hừ, ước gì, tiểu đoàn 10 của mình còn đầy đủ như dạo đánh Mậu Thân nhỉ anh Phong… Vậy mới ra hồn thằng lính giải phóng chứ. Gạo cơm đủ, súng đạn dư thừa, cứ tưởng nuốt trôi được tụi ngụy, tụi Mỹ ở Huế ngày ấy.
Điều này thì hắn nói đúng. Phong nghĩ. Nhưng đấy không phải là niềm hối tiếc của một thằng lính dám sống và dám chết cho danh dự của tiểu đoàn.
-   Rốt cục mày cũng chỉ là một thằng hèn thôi Tam ạ. – Phong nhủ thầm.
Anh trầm ngâm ngồi xuống tảng đá trước cửa hang, rút một điếu thuốc Điện Biên châm lửa hút.
Logged
BloodX
Thành viên
*
Bài viết: 37


« Trả lời #23 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2012, 09:39:16 am »

*
*   *
Phong và Lý trở về nhà lúc trời đã nhá nhem tối. Nồi cháo duộc không ai ăn nổi, kể cả món thịt duộc nấu giả cầy. Tiếc rẻ của giời, Phong nhủ Lý ra cắt hai tàu lá chuối, bọc một ít thịt mang về cho ông Mịch và những cậu chiến sĩ ở nhà. Chủ nhà, kể cả Tam, không ai đủ lòng kiên nhẫn hiếu khách để tiễn hai người ra khỏi cửa. Họ đều say, nằm lăn lóc trên sạp nhà kèo gỗ. Người duy nhất còn tỉnh táo là chị Bờn.
Phong đi trước Lý, bấm đèn pin. Quầng ánh sáng phá ra vừa bằng cái nón soi đường. Từ chỗ đội sản xuất về tới nơi ở của đại đội vận tải, đi ban ngày mất chừng hai mươi phút. Nhưng đi đêm chắc sẽ chậm hơn. Suốt chặng đường men theo chân núi Lý không nói gì, cô ta cắm cúi bước theo sát gót Phong, thỉnh thoảng xuýt xoa kêu rét. Con đường chạy men theo suối đá, có đoạn lội tới lưng bụng chân, rêu trơn nhãy càng khó đi hơn.
-   Đi chầm chậm chờ em với anh Phong.
Phong quay lại soi đèn pin cho Lý theo kịp. Nước suối lạnh buốt hai bàn chân. Nhưng hình như cái lạnh làm cho Phong giã rượu, tỉnh táo.
Hai người đi chậm. Chẳng mấy lúc Phong nhận ra Lý nắm vào tay áo anh từ lúc nào.
Anh mặc kệ, lặng lẽ bước.
-   Cô lạnh hả? - Phong chợt hỏi.
-   Em lạnh muốn chết. – Lý xuýt xoa.
-   Chết răng được… Số cô còn sống dai lắm.
-   Anh mần răng mà biết được?
-   Tôi đoán vậy .. . à này, nghe Thoan bảo ngày trước cô đã từng học văn khoa Huế, phải không ?
-   Dạ phải. – Cô gái đáp gọn lỏn.
-   Con gái Huế giỏi ha!
-   Anh Phong cũng giỏi chớ bộ. Đánh giặc giỏi. Em còn nghe mấy người đồn anh dũng cảm lắm mà… Tán gái cũng tài.
-   Láo ! – Phong bật cười. Anh nhận ra mình nói vuột ra một từ chẳng đẹp tí nào với cô ta, anh chữa lại – Xạo, Lý xạo nhé… Tất cả mọi cái trong cuộc đời đối với tôi đều bình thường.
-   Anh nghĩ vậy, nhưng người ta nghĩ khác thì răng ?
Phong mỉm cười khi nhận ra những ngón tay của Lý đã bám chặt vào cánh tay anh.
Từ ngày về đơn vị tới nay, Phong không hề có thái độ phân biệt Lý với các chiến sĩ khác trong đại đội. Vẫn biết, Lý có một lý lịch không lấy gì làm đẹp như người khác. Nhưng anh Tin, qua hơn hai năm lên rừng được cách mạng giáo dục, hẳn Lý đã trở nên một con người có ích, và coi như một chiến sĩ. Thoan đã có nhận xét tốt về Lý, khi anh trao đổi với Phong. Mấy tháng đi với trung đội 2 Lý chưa để xảy ra điều gì đáng trách. Phải thừa nhận là Lý có một vẻ đẹp khá quyến rũ với bất kỳ một anh con trai nào. Anh bỏ ngoài tai những điều tiếng đồn đại về Lý có quan hệ lăng nhăng, với một lý lẽ đơn giản : Chưa hiểu, chưa thấy thì chưa nên kết luận vội vàng và tạo ra một mối nghi ngờ với đồng đội.
Lý vui vẻ với Phong cũng như nhiều người khác. Phong gặp Lý hàng ngày trong mỗi bữa ăn. Thỉnh thoảng cô ta rửa giúp anh cái chén ăn cơm, ấy là chuyện thường tình. Lý đâu rửa giúp cho một mình Phong? Nụ cười của cô đâu chỉ dành cho riêng anh ? Vả lại tình yêu của Tâm quá lơn, khiến anh không nghĩ tới bất kỳ  một cô gái nào khác, ngoài Tâm. Chỉ có hai người đi trong khoảng rừng tối tăm, biết đâu Lý sợ thật ? Phong làm như không để ý tới bàn tay của Lý mỗi lúc xiết chặt vào cánh tay anh.
Bóng đen tràn ngập núi rừng, lòng khe. Lũ côn trùng kêu rỉ rả. Tiếng mang tác vọng lên ở chân đồi bên kia. Không gian u tịch lạnh lẽo Hai người lần mò lội suối. Tuyệt nhiên, Phong không hề nảy sinh một rung động nào trước sự va chạm của bàn tay Lý. Anh chỉ có một cảm giác được che chở cho cô gái.
-   Ghét anh ghê… Anh bước nhanh thấy mồ. – Lý buột miệng trách và cười khúc khích.
Đi một đoạn, Lý lại hỏi.
-   Răng anh không nói chi? Nói chuyện cho vui.
-   Biết nói chuyện chi bây giờ, đường trơn coi chừng trượt đá trọ chân đó cô em ạ.
-   Trẹo thì em bắt đền anh.
-   Trời ơi, lính giải phóng như anh thì còn có cái chi mà đền. – Phong phì cười.
Con đường tới đây leo lên sườn đồi. Bàn tay Lý vẫn bám chặt vào một bên cánh tay Phong. Anh nhận ra cả hơi thở nhẹ của cô gái phả vào một bên má. “- Không lẽ cô ta mệt ?.. Nào đã ăn nhằm chi với một người lính gùi. Mà cũng có thể Lý mệt thật”. trong các lùm cây bên đường, đây đó những mẩu lân tinh phát sáng. Đường trơn, bùn dính lép nhép dưới đế dép. Chợt Lý nói dịu dàng.
-   Anh và em đang hiện hữu sống trong đêm huyền thoại.
Lý cười khúc khích. Phong biết cô ta đang ngước lên nhìn anh.
-   Còn chi nữa, Lý nói nữa đi. – Phong động viên cô gái.
-   Không em muốn nghe anh nói kia.
-    Tôi nói thì chỉ có mỗi chuyện ùng oàng, súng đạn. Chán chết.
-   Chán mà anh còn đi lính giải phóng?
-   Hừ, nước có giặc mà.
-   Vậy hả?
-   Lý làm như ở trên trời rơi xuống ấy.
-   Thì em vừa bảo anh và em đang sống trong đêm huyền thoại của chiến tranh mà. Thế ni nhé. Giữa rừng sâu âm u, một cô gái Huế đi với anh bộ đội giải phóng, à quên, một “Việt Cộng” chớ. – Giọng Lý dai ra – Một tay nhà văn nào há. Nhã Ca, hay Lệ Hằng, hay Dương Nghiêm Mậu mà vớ được một cốt truyện như thế ni hẳn sẽ có một thiên tình sử hay hết chỗ chê.
-   Đầu óc Lý lãng mạn quá đấy. còn tôi thấy chán ứ lên vì mùi thịt duộc.
-   Xì, nói chuyện với anh chán ghê. Anh làm cho em hết hứng.
-   Thì cô cứ sống với những giấc mơ của cô đi. Tôi có phải là chính trị viên Thoan đâu mà lo.
-   Á à, té ra anh sợ anh Thoan. – Lý reo lên như một phát hiện.
-   Không sợ. Nhưng chắc chắn ông Thoang không phải là ông Phong.
Họ lại lội suối. Cánh tay phải của Phong như tê đi vì sức kéo của bàn tay Lý. Hai người sẽ còn phải lội qua một vũng nước sâu quá đầu gối nữa, đi thêm một đoạn rồi mới đến con đường trục đi gùi gạo hàng ngày. Chính Phong không hay xảy ra điều bất ngờ…
Tới ngang chỗ lội, anh bước lên trước đứng ở tảng đá soi đèn pin cho Lý. Cô không hề xắn quần. Còn cách một đoạn, cô bảo anh:
-   Anh kéo giúp em lên.
Một bàn chân của Lý bám vào tảng đá. Cũng là lúc cả người cô ngả vào vòng tay của Phong. Anh chỉ thấy một sức nặng ập vào người mình. Cơ thể của người đàn bà trẻ trung, đầy sinh lực ấm nóng, bộ ngực cứ như dính sát vào người anh, Lý thổn thức:
-   Hôn em đi anh !
Giây phút ấy, Phong sững sờ. Nỗi khắc khoải, xen lẫn sự ngỡ ngàng. Một gương mặt cận kề, trong vòm  trời sáng mờ bởi bốn xung quanh bị che phủ những tàn cây, vách đá. Lý đã đưa cả hai tay khỏe mạnh ôm lấy đầu anh, vít anh xuống. Đôi môi của cô ta giá lạnh ướt nước. Vành mi mắt cũng lạnh lẽo, mềm.
-   Ôi…
Chính bàn tay Lý đẩy nhẹ ngực anh ra. Phong chỉ nghe thấy một câu thảng thốt.
-   Ôi ! Anh ngốc lắm..
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #24 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:45:57 am »

9

   Nằm trên chiếc võng, Lý cười thầm trong bóng tối. Tưởng gì, hóa ra anh chàng nhát như thỏ đế. Cô bĩu môi, khinh. Nhưng dù sao, những gì còn lại sau sự đụng chạm gây cho cô một chút khoái cảm, làm cháy bừng lên ngọn lửa ham muốn bị dập tắt vài tháng nay. Từ ngày Thoan rời bỏ Lý để theo đuổi Nhu, một cô y tá, mới ở trên tỉnh chuyển về bổ sung cho đại đội vận tải. Nhu kém Lý hai tuổi, là một cơ sở ở Quảng Điền, bị lộ rút lên rồi được huyện đội cho đi bổ túc văn hóa và theo học nghề y. Lóp y tá cấp tốc chỉ có chín tháng. Nhu có khuôn mặt bầu bĩnh, dễ thương, hàm răng trắng có hai chiếc răng cời.

   Lý uất. Một cơn ghen ngấm ngầm của người đàn bà khi thấy Thoan có một đối tượng mới và gạt mình ra một cách không thương tiếc, uất Thoan mà cô không kêu được. Lý cũng thừa hiểu rằng trong tiềm thức sâu xa của Thoan, coi thường cô đã đành, anh ta còn nghi ngờ nữa. Dù phần đời trước Lý đã tự đánh tráo, làm phôi pha đi rất nhiều sau khi tới đơn vị mới, nhưng Thoan vẫn cảnh giác. Lý là một người có lý lịch đáng ngại. Vài năm nay, sống với “Việt cộng”, Lý có thừa sự khôn ngoan để hiểu rằng: sô phận của cô nằm trong tay của Thoan. Cô để cho anh ta tự do chiếm đoạt thân thể mình, miễn là anh chàng biết giữ mồm, giữ miệng đừng để ai hay biết, làm tổn hại tới thanh danh của một người chỉ huy. Còn cô vừa được hưởng sự ve vuốt, yêu chiều qua những cái hôn và lòng ham muốn dục vọng mạnh mẽ luôn được đánh thức, vừa được yên tâm núp kín trong một cái vỏ bọc chắc chắn, kín đáo. Lý mất gì! Khi cô đã tự hứa với lòng mình quyết phải đạt được mục tiêu ngấm ngầm - tìm mọi cách để trở về đồng bằng. Lý cần sống, chỉ cần sống thôi. Cô thường cầu nguyện cho tụi lính pháo binh ở căn cứ Đồng Lâm, Từ Hạ, Hòn Vượn... đừng bắn nhầm vào mình, cầu nguyện cho những thằng phi công của đồng minh Hoa Kỳ đừng trút bom vào căn hầm Lý ở, cầu nguyện cho những thằng lính Mỹ, lính ngụy chết tiệt càn lên miền Tây đừng xả súng vào cô. Cầu nguyện cho những con vi trùng sốt rét đừng giết chết sắc đẹp. Tất cả đều là những khả năng có thể xảy ra với Lý bất kỳ lúc nào, vì thần chiến tranh Arét là một gã không có mắt. Gã chỉ tin vào sức mạnh và sự may rủi. Chiến tranh là một canh bạc lớn cho những kẻ khôn ngoan. Ngày còn sống, Quý - chồng Lý, đã bảo với cô như vậy.

   Sống giữa một rừng tai mắt của cộng sản, Lý tìm được một cách tự vệ. Phương pháp hữu hiệu nhất, là hòa nhập vào cái cộng đồng ấy. Cô đã thành công trong một chừng mực nào đó. Lý bịt mắt được ông trại trưởng trại cải tạo của tỉnh, một ông già ngấp nghé sáu mươi, cả tin và giàu lòng thương người. Chỉ một thời gian ngắn sống ở trại cải tạo cô đã nhận ông trại trưởng làm cha nuôi. Lý không còn phải đi ra rẫy trỉa lúa, trồng bắp, nhổ mì. Gọi là trại cải tạo cho đám tề điệp ngụy bị bắt đưa lên rừng cải tạo sau Tết Mậu Thân (1968), chỉ là dãy lán trong rừng sâu. Tù nhân không ai bị giam cầm. Hàng ngày, từ cán bộ quản giáo đến tù nhân đều phải ra rẫy lao động. Lý được ông “cha nuôi” trại trưởng phân công vào tổ nấu ăn. Cô không phải ra đường tuyến gùi gạo, muối. Nhưng một vài bận cô vẫn cứ xung phong. Đi để mà nhớ. Trí minh mẫn của cô học trò lớp 12, đang chuẩn bị thi tú tài II, chán sự học bỏ về lấy chồng đủ để cho Lý nhắm mắt lại cũng nhớ được rành rẽ các vị trí kho tàng, kho binh trạm và phương thức tiếp vận của công sản trên con đường Hồ Chí Minh chiến lược. “Mòn à! - Lý rủa thầm mấy thằng phóng viên báo chí ngụy và phương Tây khi viết về con đường mòn xuyên Việt dọc theo dãy Trường Sơn. - “Mòn” mà xe tăng, xe tải chạy hàng đoàn. Những nhánh rẽ của con đường mòn đủ để chiến xa M113 và cả sư đoàn ngụy hành quân... Ngu, một lũ ngu tuốt luốt. Chỉ nhắm mắt nói lấy được”.

   Lý ở nhà nấu cơm, phục vụ cho Ban chỉ huy trại. Rỗi rãi, cô giở tài thêu thùa ra vá áo cho cha nuôi, mạng lại đôi tất len Mỹ đã bị rách nhiều chỗ và nghe ông ca cẩm về làng Hiền Sĩ của mình nằm cạnh con sông Bồ. Vợ con của ông còn ở cả đấy. Nghe nói một thằng con trai của ông cũng bị bắt đi quân dịch. Có một dạo, ông đã nhờ người về làng móc nối đưa lên xanh nhưng cậu con trai ông đã bị đưa đi quân trường mất rồi. Còn lại đứa con gái, ông trại trưởng cho lên núi, hiện đang công tác ở huyện Phong Điền.

   - Vậy hai cha con bây giờ bắn nhau hả ba? - Lý chêm vào một câu, hỏi cha nuôi.

   - Hậu quả của chiến tranh nước mình mà. - Ông trại trưởng cải tạo phân bua - Bởi vậy, tôi mới thông cảm cho hoàn cảnh của các anh chị em trong trại. Khỏi lo, ở đây ít bữa, ăn cơm cách mạng rồi các cô các chú đều trở thành người cách mạng hết. Gắng mà học tập, lao động, phải biết tự tu tỉnh ý thức bản thân rồi người xấu cũng thành người tốt.

   Lý nghe và mủm mỉm cười. Thảng hoặc cô ngồi nhổ tóc sâu cho ông trại trưởng. Những sợi tóc đỏ quạch xoăn tít. Cô để ý tới gương mặt của cha nuôi có nhiều nếp nhăn. Nửa năm sau, theo nhận xét của Ban chỉ huy trại cải tạo Lý được chuyển sang cánh bắc bổ sung quân số vào trạm phẫu, không tháng nào ông cha nuôi không gửi thư thăm hỏi, động viên. Trong thời gian sống ở trạm phẫu, với anh y sĩ trạm trưởng trạm phẫu, Lý lại có một đối sách khác. Anh y sĩ hám gái, tính lẳng. Lý về nấu ăn được vài tháng rồi làm quản lý. Lý biết ơn cha nuôi đã viết thư cho bác sĩ Phùng, kiêm chính trị viên của trạm phẫu, vốn hai người cùng quê Phong Điền với nhau. Lý nhanh chóng chiếm được lòng tin của bác sĩ Phùng. Anh y sĩ trạm phẫu tên là Minh mê Lý, mặc dầu anh ta đã có vợ và một đứa con gái ba tuổi quê ở Hải Dương! Lý tỏ ra ỡm ờ trêu tức anh chàng. Dần dứ mãi, một hôm hai người đi hái rau rừng, cô mới cho phép anh y sĩ hôn và bắt anh chàng cõng qua con suối nước sâu tới bẹn giữa những ngày tháng chạp rét buốt. Tưởng cá đã cắn câu, quen mùi. Anh y sĩ viết thư hẹn Lý ở bãi đá trong rừng, cách trạm phẫu một đoạn ngắn. Lý đã trình bức thư tỏ tình cho bác sĩ Phùng trong đó có cả mấy câu thơ. Anh ta bảo rằng: “Tự mình sáng tác dành riêng cho Lý để kỷ niệm những ngày sóng gió ở núi rừng Trường Sơn (!)”.

   Anh ra đi (Chắc là anh chàng đi lĩnh thuốc ngoài đường tuyến)
   Trời đổ mưa
   Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ
   Em về bên ấy
   Cái nhành cây gạt mối riêng tư
(Chà, tình tứ gớm!)
   …
   Đông Trường Sơn nhớ TâyTrường Sơn.

   Bác sĩ Phùng là một người nghiêm khắc. Ông không ưa cái tính lăng nhăng của chàng y sĩ. Đọc xong bức thư, ông bảo Lý cứ làm như thế, như thế...

   Đúng giờ hẹn, Lý tấp tểnh đi ra bãi đá. Anh chàng y sĩ đã ngồi chờ ở đấy. Thấy Lý anh chàng y sĩ chạy vội ra đón và sấn sổ ôm cô vào lòng. Lý giãy giụa, kháng cự.

   - Ơ kìa, sao em lại thế?

   - Anh... đừng làm vậy... Từ từ đã, rối tung cả tóc của em rồi đây này... - Lý miễn cưỡng đẩy vào ngực chàng trai.

   Nhưng khi đã nhìn thấy thấp thoáng bóng áo xanh của bác sĩ Phùng xuất hiện sau bụi lá nón, bất ngờ cô gầm lên như một con hổ cái:

   - Anh... Anh là một thằng khốn nạn... Tôi cứ ngỡ anh là một người đứng đắn... ối...

   Anh chàng hám gái đã chịu một hình thức kỷ luật: tước bằng y sĩ, cách chức xuống còn là anh binh nhất. Ba tháng sau tới lượt Lý ra đi, về công tác ở đại đội vận tải. Chưa tới một tháng, chính trị Thoan sa ngay vào bẫy tình của Lý.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #25 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:47:47 am »

   Nhưng còn một chiều sâu kín khác, Lý cất giữ trong lòng. Một quá khứ đẹp đẽ, đầy mơ mộng. Những kỷ niệm của một khoảng khắc đã trôi qua mà mỗi khi nhớ tới cô chỉ muốn khóc nấc lên vì sung sướng, hạnh phúc.

   Cha Lý là điền chủ giàu có ở ấp Long Hồ, một vùng trồng hoa huệ có tiếng ở Huế. Ấp Long Hồ nằm bên tả ngạn sông Hương. Thủa hàn vi, cha Lý là người đóng cối giỏi nhất vùng. Dân làng hay gọi là cụ phó cối làng Mai. Bà vợ giỏi buôn bán, gia đình trở nên giàu có. Mua ruộng, mở lò rèn, trồng hoa... Vào mùa tháng bảy, cả cánh đồng ngào ngạt mùi thơm hoa huệ. Những bông huệ của làng Long Hồ được cắt tỉa cẩn thận, đóng gói đưa lên xe lam đổ về Huế, Đà Nẵng, ra chợ Quảng Trị, Đông Hà. Bằng chiến công góp phần đắc lực cho đoàn “Hành chính lưu động” trong các đợt “tố cộng” thời Diệm, quận trưởng Hương Trà đã đưa ông Lập, cha Lý lên làm xã trưởng. Một xã có tới cả vạn dân nhưng lại là vùng xôi đỗ luôn diễn ra cuộc tranh chấp giữa “quốc gia” và “cộng sản”. Làng Long Hồ giáp núi, tiện đường sông nước, đường xe chạy về Huế.

   Xã trưởng Lập bị du kích Hương Mai bắn chết giữa ban ngày tại nhà vào năm 1963. Sau cái chết của chồng, mẹ Lý sợ bèn bán nhà bán đất chạy vào Huế, buôn bán ở chợ Đông Ba. Ngày ấy Lý còn nhỏ, mải lo ăn học. Nhưng lòng hận thù với Việt cộng đã âm ỉ cháy trong lòng cô bé mười sáu tuổi. Cái chết của cha cô đã làm dập tắt đi biết bao mơ ước. Một cuộc sống khá đầy đủ về vật chất nay bỗng dưng gia đình cô bị lâm vào cảnh thiếu thốn, chật vật. Từ lâu Lý đã nuôi khát vọng một ngày kia cô sẽ được sang du học ở Hoa Kỳ, ở Pháp, được làm vợ một quan chức. Ngày còn ở làng Lý thường leo lên chiếc xe Zip của những viên sĩ quan ở quận, ở thành phố về làm việc với ba. Cô mặc chiếc juýp xanh, áo trắng ngồi cạnh anh lái xe ngóng mặt mình ra sông Hương. Gió thổi tung làn tóc óng mượt của cô. Những buổi cô ngồi trên thuyền câu ngược lên điện Hòn Chén, Đồi Thông, xuôi xuống Thiên Mụ, Kim Long. Cuộc sống của một đứa con gái đầy đủ và không hề phải băn khoăn suy nghĩ. Đời như trải thảm vàng cho cô bước. Chao ôi, mỗi ngày đong đầy những ảo vọng chói sáng, hứa hẹn trước cho cô biết bao điều kỳ diệu. Lý vui vẻ tiếp nhận một cách mặc nhiên, không hề băn khoăn, lo lắng về những gì xảy ra xung quanh. “Quốc gia” đánh nhau với “cộng sản” ư? Cứ việc, miễn sao đừng để cô bị mất đi những buổi chiều đạp xe cùng lũ nhỏ bạn trong lớp, tấp vào quán cà phê nào đó nghe giọng ca của Khánh Ly, Thanh Thúy, Ngọc Lan êm đềm quyến rũ tâm hồn trẻ thơ vào cõi mộng. Những cuộc hành quân cảnh sát ư? Xin các anh lính cộng hòa cứ việc đi càn, chỉ đừng để cho bom đạn nổ tan ngôi nhà của cô đang ở, phá đi vườn hoa và những giò phong lan treo trên ban công trước cửa nhà.

   Lý cứ tưởng cuộc đời đã được định mệnh tối thượng sắp đặt như thế cờ khó chuyển.

   Bỗng dưng tai họa giáng xuống làm sụp đổ tất cả. Ba Lý mất. Tan cửa nát nhà. Số phận trớ trêu ác nghiệt, vất trả Lý về đúng cái tuổi thơ của mạ cô ba mươi năm trước.Vị trí đứa con gái của một bà bán nón ở chợ Đông Ba. Ngoài buổi học ở trường nữ Đồng Khánh, giờ rảnh rang cô phải chằm nón. Mấy đầu ngón tay nhoe nhoét mũi kim đâm tứa máu. Lưng mỏi như ai đánh. Mắt mờ. Một sự vật lộn trong cuộc sống để giành giựt lấy miếng cơm manh áo khả dĩ có thể khỏi lâm vào cảnh túng bấn. Xuân thu nhị kỳ, cô theo mẹ về ấp dâng hương cúng tổ tông. Bộ quần áo, đôi dép mới khả dĩ có thể hòa nhập với người ở trên phô để bà con họ hàng khỏi chạnh lòng nghĩ tới sự sa sút của một gia đình vốn nổi tiếng giàu có xưa kia trên đất Long Hồ.

   Lý vẫn có áo dài trắng, áo dài màu, quần trắng đi học. Một chiếc xe mini sơn màu xanh cánh trả, vẫn điểm phớt son phấn cho đôi má ở tuổi dậy thì vào những đêm vũ hội của trường. Nhưng về đến nhà, vất cặp sách, cô đã vội vùi đầu vào đám lá nón trắng lóa. Bữa cơm thường chỉ có chút canh rau, cá nục kho ớt, chút mắm nêm. Mẹ cô sau mấy chuyến đi buôn ở Đà Nằng bị thua lỗ, vốn liếng thâm hụt. Lý và năm đứa em nheo nhóc. Càng nghĩ, cô càng hận - niềm uất hận ngấm ngầm sôi sục như núi lửa chưa tới kỳ phát hỏa. Gặp được Quý, sau vài buổi dắt nhau lên Thiên An chơi bời ngày chủ nhật, Lý đã nằng nặc xin mẹ cho đi lấy chồng. Cô chấp nhận trở lại nơi thôn dã để làm vợ một người lính cảnh sát với lon trung sĩ. Nhà chồng Lý không giàu. Nhưng với lương của Quý, cộng thêm tiền thưởng trong những vụ chỉ điểm, phát hiện ra những cơ sở cách mạng, đưa tụi dân vệ, bảo an đi phục kích, hai vợ chông trẻ sống dư dả trong phạm vi của một quan chức hàng xã.

   Thực ra, Lý đã trở thành người đàn bà từ lúc cô mới bước sang tuổi mười lăm. Không thể gọi là tình yêu “một đời” với viên trung úy biệt động quận đưa lính về đóng ở làng. Chỉ một lần. Và dấu vết để lại cho cô là sự đau đớn, kinh hãi trong một chiều y chở cô trên chiếc xe Zip lên chơi thăm lăng Tự Đức. Những cuốn sách mỏng manh “tuổi ngọc” dạy cho cô sự khao khát, tò mò trước ngưỡng cửa của tình yêu. Tiểu thuyết tình cảm của Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca lại nhủ cô phải biết im lặng. Sự việc được giấu kín một cách suôn sẻ trong gia đình ông xã trưởng. Sau những ngày hành quân dã ngoại, đại đội biệt động quân cuốn đi rồi, trung úy Tài - kẻ tòng phạm - cũng mất hút không một lần trở lại.

   Dễ có đến bốn tháng Lý rơi vào tâm trạng hụt hẫng, khủng hoảng. Nhớ một gương mặt, một bóng hình và những xúc cảm đột khởi đã xảy ra với một đứa con gái mới lớn. Nhiều đêm cô trằn trọc hoài không sao ngủ nổi trên chiếc đệm ấm áp nghe từng chiếc lá mãng cầu khô rơi ngoài vườn. Cô sợ điều đen tối, dị hợm sẽ xảy ra. Nhưng ở một phía khác cô bé vẫn chưa nguôi quên đi cái cảm giác hoan lạc tận hưởng ở những nụ hôn vừa cuồng nhiệt, vừa bặm trợn của chàng trung úy tài hoa trong cái lần du hý đầy kỳ ảo. Những giây phút ấy, nỗi sợ hãi bị nhấn chìm sâu dành cho một niềm mộng mơ vốn đã được nuôi dưỡng trong tâm hồn từ khi cô hiểu rằng mình không còn là con nít.

   Gian phòng của Lý ở ấp Long Hồ ngó thẳng mặt ra sông. Cô ngồi hàng giờ liền, trong những buổi chiều buồn vơ vẩn nhìn đám mây giăng mắc, cuồn cuộn ún lên ở phía chân rừng xanh. Lâu lâu một con thuyền trôi qua, vẳng lên tiếng hò của người chân sào sống bám một đời vào dòng sông Hương. Cô lo lắng phấp phỏng chờ đợi kỳ “Tobi”. Lo đên mất ăn mất ngủ, mắt có quầng thâm. Và khi thấy rằng cơ thể vẫn bình an sau một sáng ngủ dậy muộn, Lý mừng rú lên xăm xở chạy tới bàn thờ có tượng đức Phật Bà Quan Thế Âm ngự trong tòa sen, thắp hương khấn vái. Má cô ngạc nhiên nhìn đứa con gái, lo ngại:

   - Có chuyện chi rứa mi?

   - Bữa nay con thi, con cầu Phật. - Lý đáp gọn lỏn rồi len lén chạy ra ngoài sông vốc nước rửa mặt.

   Những ngày sống với Quý, cô thực sự hạnh phúc, Quý hơn Lý năm tuổi, học xong tú tài I, đăng lính vào ngạch cảnh sát. Gã biết lấy lòng cấp trên và là kẻ đổ nhiều công sức để thừa hành nhiệm vụ. Một mạng lưới cơ sở Việt cộng ở ấp Ngọc Hồ đã bị Quý phát giác. Sau một vụ tống tiền vớ bẫm mấy trăm ngàn, Quý mới cho lính về bắt. Chỉ cần nhìn qua dấu vết còn sót lại ở những mảnh vườn của dân, gã đủ sức phán đoán và khẳng định số lượng Việt cộng đột kích về ấp là bao nhiêu trong đêm. Gã là người đề xuất với tên chi khu trưởng sơ đồ gài mìn claymo so le, chập nổ bằng điện. Không cần mất công đưa quân ngồi phục tại nơi có mìn, trong khi đó, hiệu quả diệt địch trong phạm vi góc quét của trái mìn được gài liên tiếp nhau lại lớn. Tụi Mỹ “mũ nồi xanh” đã thực thi kiểu gài mìn đó ở bên các xã Hương Thạnh, ở Hương Vân. Mười tám trong số hai mươi mốt người, vừa bộ đội, vừa lực lượng du kích đã hy sinh, thương vong trong một chuyến đi đồng bằng.

   Chiến công diệt cộng đó, Quý được đặc cách phong cấp thượng sĩ cảnh sát và nhận một món tiền thưởng lớn do đích thân tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm thị trưởng Huế là viên trung tá Phan Văn Khoa trao tận tay.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #26 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:49:12 am »

   Chính biến Mậu Thân (1968) xảy ra ở Huể vào đêm ba mươi Tết. Lực lượng vũ trang giải phóng đã nhất loạt tấn công vào các cửa ô. Bộ chỉ huy tiền phương sư đoàn I, Bộ chỉ huy tiểu khu, trung tâm huấn luyện Đống Đa, nơi đóng quân của thiết đoàn kỵ binh Mỹ ở chợ An Cựu đã phải hứng chịu một trận mưa pháo kích của quân giải phóng. Tiếng súng rộ lên ở khắp mọi nơi.

   Ấp Long Hồ yên tĩnh hơn nhưng kỳ thực ngay từ lúc 7 giờ tối, lực lượng vũ trang của huyện đã tràn vào làm chủ xóm ấp. Vợ chồng Quý còn chưa dã hơi rượu trong bữa cơm cúng tất niên. Nhìn những mũi súng AK và gương mặt những người lính giải phóng, Lý hiểu ra sự thể bi đát.

   Quý nhận ra muộn màng hơn, sau lúc phải chịu hai cái tát của một người du kích xô vào trói, gã mới dã rượu.

   Con đường đất và đêm tối trời thật khó đi. Lại thêm trận mưa xuân, đường càng trơn lầy lội, bẩn thỉu. Lý đi chân đất, đầu trần cố bám theo những kẻ cùng chịu cảnh bị bắt như mình dong theo hàng một. Từ lúc ra tới đình làng, Quý bị tách riêng. Nỗi sợ hãi khiếp đảm không còn đủ sức cho Lý rơi những giọt nước mắt. Cô cũng quên luôn cả lời cầu nguyện Đức Phật mong cứu rỗi cho số phận hẩm hiu trong cơn hoạn nạn (!).

   Ở các làng xa, ngả ngã ba An Hòa súng đang nổ dữ dội. Góc thành phía tây Huế rực sáng. Ánh lửa cháy loang lên nền trời, xen kẽ những tiếng nổ lớn. Một chiếc máy bay trinh sát bay tít trên cao từ hướng Quảng Trị vào vội vã thả xuống một dây pháo sáng. Không gian bừng sáng, nhưng cũng chỉ được vài phút, những trái hỏa châu bị gió thổi tan tác trên bầu trời trả lại màn đêm đặc quánh, thoảng hơi sương muối lạnh lẽo giữa cánh đồng trống trải.

   Lý bị giải đi lên núi. Con đường đất nhớp nháp. Những hòn sỏi nhỏ, gai xấu hổ thỉnh thoảng làm cho cô nhói đau ở gan bàn chân. Đi một lúc lâu, Lý quen dần với bóng tối, phân biệt được bóng núi xanh thẫm nổi lên giữa nền trời xám bạc. Đoàn tù nhân lội qua một khe nước sâu quá mắt cá chân. Lớp bùn bị khuấy đục vẩn lên mùi tanh nồng của cây cỏ mục, phân trâu bò. Không một ai trong toán người bị “Việt cộng” bắt dám kêu la. Họ câm lặng, lầm lũi đi theo những người du kích dẫn đường phía trước. Họ - những người của “mặt trận”, chỉ mặc quần đùi, tay áo xanh xắn cao và người nào cũng đeo một băng vải trắng ở cánh tay phải.

   Đêm tối Lý không nhìn thấy gì, nhưng cô tự hình dung ra cái mũi súng xanh ánh thép luôn ngóc về phía trước của người du kích. Lý có cảm giác như đang dấn bước vào một vùng rừng âm u, mung lung: thế giới của hỏa ngục...

   Giờ đây, nhớ lại những giây phút trong đêm Mậu Thân còn im đậm trong ký ức của mình, Lý vẫn còn sởn gai ốc. Rồi cô bị một trận sốt rét kéo dài triền miên từ ngày này sang ngày khác. Bắt đầu từ nỗi sợ hãi hành hạ, tàn phá. Ròng rã hai tháng trời. Một buổi sáng cô tỉnh dậy thấy mình đang ở trong một chiếc lán, cùng với những cô du kích “Việt cộng” bị thương đang nằm điều trị. Ở hai dãy lán kế bên là giường bệnh dành cho nam giới.

   Lý nằm yên, lặng lẽ quan sát.

   Các cô y tá tới tiêm thuốc cho cô và mọi người. Đến bữa ăn, người ta bưng tới cho Lý một tô cháo gạo nấu với thịt hộp. Các cô thương binh nằm chung phòng ăn cháo, cũng nhận một phần ăn như vậy.

   Lúc đầu, Lý cứ băn khoăn. Rằng cô là kẻ có tội, vợ một thượng sĩ cảnh sát, phải bị giam riêng, có người canh giữ, ăn uống theo tiêu chuẩn tù nhân. Từ đêm ly tán, Lý bặt tin chồng. Chắc hẳn Quý đã chết. “Mặt trận” làm sao có thể tha thứ tội trạng cho chồng cô được. Quý chẳng đã từng nhận được những bức thư của “Mặt trận” cảnh cáo đó thôi. Nhớ tới Quý, Lý cũng chỉ buồn chút xíu. Bởi hoàn cảnh hiện tại của cô cũng đã quá ư bi đát. Tuy vậy, Lý hơi ngạc nhiên. Ở đây, cô được đối xử như bất kỳ người lính giải phóng nào. Chẳng có ai giám sát riêng. Chẳng thấy vọng gác đồn binh. Còn việc cởi trói, Lý đã được tự do ngay từ ngày thứ hai sau khi đoàn tù nhân vào tới cửa rừng và đưa đến trú tại một gian nhà lá rộng nằm cạnh bờ khe Điên. Ấy là Lý nghe được ở những người lính giải phóng nói ra cái địa danh ấy chứ cô làm sao biết được. Hàng ngày Lý cũng phải chẻ củi, nấu cơm... Thức ăn, bữa có mì chay nấu với cá hộp. Hoặc cá hộp nấu măng rừng, đào ngay ở vạt lồ ô cạnh nhà. Những gã đàn ông cùng bị bắt với Lý bị quản thúc chặt chẽ hơn. Lý giấu biệt tông tích của cha là xã trưởng, bị Việt cộng giết. Đơn giản cô chỉ là “vợ thượng sĩ cảnh sát Phan Quý”.

   Một hôm, có anh cán bộ cách mạng còn trẻ, gọi Lý tới rồi đưa trả lại cô tờ khai và bảo:

   - Cô chưa trung thực. Vậy ai là người lên xã báo bộ đội về nhà bà Lô đêm 17 tháng 9, để hôm sau tụi nghĩa quân tới đánh bà chảy máu mồm. Ai? Còn ai là người đi với chồng cô sang chi khu Hương Trà thao tác tại sân trường cách gài mìn định hướng?...

   Lý run lên, mặt tái mét. Thì ra họ biết cả... Không chừng chuyện ả đi chơi và ngủ với gã trung úy biệt động quân cũng đến tai họ. Nhưng Lý nín thinh, cúi mặt xuống đất.

   Cũng ngay đêm hôm đó, pháo dập bất ngờ vào khu trú quân, bên tù nhân bị chết ba người. Bên giải phóng chết hai trong đó có người cán bộ đã tra hỏi cô. Không biết cuộc chiến ở dưới đồng bằng sự thể ra sao, còn Lý cứ bị đẩy lên tuyến trên, ngày một xa. Vượt đường 12, qua song Hai Nhánh. Trên chặng đường đi bộ lội rừng đầy hiểm nguy và ghê sợ ấy, Lý đã gục ngã. Người ta cấp cho cô một chiếc gùi, một đôi dép cao su chắc hẳn của một ai đó đã chết, và cả vài bộ quần áo phụ nữ. Thứ quần đen, áo vải phin pha ni lông nhuộm đen hoặc màu xanh lá cây. Nếu không biết gốc tích thật của Lý, ai cũng có thể tưởng cô là một cô du kích, hoặc cán bộ xã huyện lên xanh hoạt động.

   Lầm lũi và gan góc, Lý chấp nhận số phận cay đắng và nghiệt ngã.

   Cô chẳng còn có thời giờ nhớ tới Trời, Phật để cầu xin cho mình. Chẳng còn gì để chờ đợi người chồng quá cố chung chăn gối vừa tròn mười tám tháng. Từ trại cải tạo, rồi thuyên chuyển qua những đơn vị khác nhau, sống cuộc sống của người lính cách mạng, Lý ráng tìm cách hòa nhập với hoàn cảnh mới và tiếp nối lại những trò yêu đương vớ vẩn. Nhưng cô đã tinh khôn biết tính toán cho một chuyến vượt cạn trả giá cho mạng sống của mình. Lý đã đánh mất cái vẻ dại khờ của cô bé mười lăm tuổi ngày trước. Cuộc đời Lý cứ vậy trôi đi. Đã hai cái Tết cô sống vui vẻ ở trên núi. Cũng có bánh tét, thịt gà và thịt lợn rừng săn bắn được. Nhưng cô tưởng chừng thời gian dài hàng thế kỷ. Gần một năm nay, Lý được phép gởi thơ về cho mẹ ở Huế, theo đường dây thành phố. Lý tự hào viết trong thơ, khoe với mạ: “Bây giờ con đã trở thành một cô bộ đội giải phóng!”. Bốn tháng sau, Lý nhận được một gói quà, chủ yếu là vải may quần áo, áo len, chiếc đồng hồ Ôrien của Nhật và mười ngàn đồng. Lý nhờ người quen về giáp ranh mua hàng, một chiếc đài bán dẫn ba pin đại, võng ni lông... Cả chục cuốn an bum nhấp nháy. Cô dùng những cuốn an bum để đổi lương khô, mì chính của bộ đội, vừa làm quà tặng cho những ai thấy cần thiết trong mối quan hệ. Chính trị viên Thoan được Lý tặng cho một cuốn an bum như vậy. Bìa mặt của cuốn an bum là một cô gái Nhật rất xinh, chỉ cần đưa mặt ảnh ra ánh sáng soi nghiêng một góc hẹp. Cô gái nhắm mắt như đang ngủ. Trời ơi! Ở miền Bắc, anh chính trị viên nông dân chưa hề thấy thứ của lạ ấy bao giờ.

   Cái chết bất đắc kỳ tử của chồng cùng với việc Lý bị bắt đi cải tạo, đã dạy cho Lý một bài học trường đời về sự cẩn trọng. Ngày sống ở Huế, Lý nghĩ tới Việt cộng trong một nỗi ám ảnh vừa thù địch, vừa sợ hãi. Cô ghê ghê khi nhìn thấy những xác Việt cộng bị lính bắn chết nằm tại nơi phục kích, nổ mìn. Hoặc giả, đấy là những người Việt cộng còn sống, bị bắt làm tù binh, hay về chiêu hồi với quốc gia. Họ cũng là người nhưng là một kiểu người xa lạ, tạo ra cho Lý một hố sâu ngăn cách không thể dung hòa. Kèm theo mầm hận thù được nuôi dưỡng từ cái chết của cha và cả mớ triết lý chống cộng cô tiếp nhận được trong sách vở, đài báo của chính quyền ngụy.

   Những ngày ở rừng, ăn cùng mâm, ngủ cùng hầm, trò chuyện với những người lính giải phóng Lý vỡ ra rằng, họ không “ác” như cô tưởng lúc ban đầu. Cũng là con người cả thôi! Nhưng họ có “lý tưởng cách mạng”, “quyết tâm đánh Mỹ xâm lược để nước nhà thống nhất” - nguyên văn lời giảng bài chính trị của ông trại trưởng ở trại cải tạo Lý còn nhớ được. Cô ngồi ở hàng ghế đầu, tưởng như chăm chú nghe. Nhưng kỳ thực cô mải nhìn chỏm tóc bạc của ông cha nuôi lúc lắc như cái bờm ngựa mỗi khi ông ta nhấn mạnh một câu quan trọng. Còn cái khoản “ham muốn xác thịt” Lý đã từng chung đụng, thì nhiều anh chàng cũng ghê gớm phải biết.

   Lý cười thầm với ý nghĩ ấy.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #27 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:51:32 am »

10

   Tiếng chim hót lảnh lót làm cho Cường tỉnh giấc. Qua tán lá cây che rợp một khoảng trên đầu, anh nhìn thấy một đôi chim họa mi đậu trên nhánh cây xoan, vừa rỉa lông vừa hót gọi bạn. Giữa vòm lá xoan xanh mướt nở bung những chùm hoa tím. Lả tả những cánh hoa xoan rơi xuống phủ trên nền đất vườn ẩm mát sau cơn mưa xuân, vương vãi trên tấm ni lông xanh che thành mái trong nơi trú ẩn của Cường.

   Hai mươi ngày trời, anh đã sống bình yên trong cái hốc đất, nằm kẹp giữa rặng tre gai dày đặc và một dải cây chà gai, xương rồng, dứa dại phủ đầy tầm xuân, mảnh bát. Chỗ trú ẩn vừa bất ngờ, vừa kín đáo, nằm ngay trong khu vườn rộng tới vài mẫu nhà Ngật. Khu vườn trồng sắn đã lên cao ngang thắt lưng. Không thể có một đứa trẻ chăn trâu nghịch ngợm nào đi săn bắn chim, đào dế có thể len gần tới hõm đất. Ngật đã đề phòng bằng cách quanh rặng tre, gần chỗ Cường núp, anh ta kéo tới vô số những nhánh tay tre lởm chởm gai nhọn. Có một lối vào an toàn chỉ có hai vợ chồng Ngật biết, hàng ngày mang cơm nước tiếp tế. Nhà Ngật lọt thỏm giữa xóm càng bất ngờ cho bất kỳ kẻ nào tò mò, trong khi chỉ cách một vạt vườn đã ra tới con đường kiệt chạy xuyên làng Liễu Thượng. Trên con đường đất, lính tráng, dân đi lại suốt ngày.

   Ngật biết chích thuốc. Tự tay anh ta vào Huế mua ở chợ trời Tây Lộc những lọ thuốc trụ sinh loại mạnh của Mỹ, thứ thì uống, thứ thì tiêm, vết thương của Cường trên ngực trái ăn vào phần mềm, sát xương quai xanh, vết thương ở đùi nặng hơn, miệng há to. Những ngày đầu sưng tay nhức nhối. Nhờ có thuốc kháng sinh, vết thương tới nay đã đỡ nhiêu, tuy vậy Cường vẫn chưa đi lại được.

   Cũng là cái duyên may của Cường gặp được vợ chồng Ngật sau đêm xảy ra trận phục kích trên con đường tới xóm Mới - Bầu Tháp vào đêm hai nhăm Tết. Ngật thì lại bảo: “Con người ta có phúc có phận cả anh Cường ơi!”. Bàn tay Ngật bị tiện đi mất hai ngón khẽ rung rung ở ngón tay cụt.

   Bữa đó, xã Y phối hợp với đội biệt động huyện tổ chức về làng mua gạo và hàng Tết. Hạnh sốt nghỉ ở nhà, Cường chỉ huy tổ của xã chỉ có ba người: Cường, Mộc và chị Điều. Cha mẹ chị Điều đều ở ấp Bầu Tháp. Chị thông thuộc đường ngang ngõ tắt ở đây và nhân tiện về làng xin nếp ăn Tết. Cánh biệt động huyện đội đông hơn, tất cả mười một tay súng. Con đường về đồng bằng qua ngả dốc Mồng ít ngày nay địch không chốt. 9 giờ tối, mũi đột kích mới lên tới Liễu Thượng. Phải mất thêm nửa giờ nữa, toàn đội hình ra tới vạt cồn mồ cách con đường lộ chừng hai trăm mét.

   Ánh pháo sáng hắt trên nền trời soi rõ hàng rào dây thép gai cao hai mét. Tụi ngụy rào phòng thủ cho con đường chiến lược nối Huế ra Quảng Trị. Hàng rào đơn, thưa nhưng có mìn đạp gài xen kẽ. Từ mùa hè năm trước, ngày chị Tâm còn sống đã hai lần đưa bộ đội C1 đánh về xóm Mới - Bầu Tháp, gây dựng được cơ sở ở làng. Sau trận đánh nhau với đại đội bảo an số 23 tại đây, bẵng đi một thời gian dài không có đơn vị nào tổ chức đi Bầu Tháp. Mười ngày trước, Cường và Hạnh cho lực lượng vũ trang về xã móc nối lại cơ sở. Nghe có người hỏi thăm tin tức chị Tâm bị hy sinh ở Liễu Nam. Hạnh chối, giấu biệt chuyện ấy.

   Cách đường lộ chừng năm chục mét là con đường sắt xuyên Việt. Những thanh ray dạo “chín năm” du kích, bộ đội Bình Trị Thiên đã lột lên hết đưa vào lò rèn đánh kiếm, mã tấu. Nền đường sắt cũ vô hình trung tạo thành một tuyến công sự nổi chắn giữ phía tây.

   Trận phục kích của tụi ngụy thuộc trung đoàn 54 nổ ra tại đây. Một đại đội nằm rải trên con đường sắt. Trời tối đen, lắc rắc đổ mưa phùn. Tổ cảnh giới bò tới sát đường sắt vẫn không phát hiện được địch. Mìn nổ. Và tiếp theo là làn mưa đạn của tụi lính ngụy nằm trên đường sắt cao xả xuống cánh đồng lúa đúng hướng mật tập của mũi biệt động huyện định thọc ngang băng ra đường quốc lộ để vào ấp Bầu Tháp.

   Nửa phút sau khi bốn trái mìn claymo bấm điện nổ, pháo sáng bắn lên xé toạc màn đêm. Toàn đội biệt động phơi lưng ra cho tụi ngụy xả đạn. Họ chỉ còn biết dựa vào vạt mồ mả bắn tỉa. Ở đấy, có những ngôi mộ xây, chống được đạn bắn thẳng. Nhưng không tránh nổi những phát đạn cối cá nhân và những quả cối 61 của địch phát hỏa từ gốc cây bông đồng đặt ở đầu làng nện như giã giò xuống lưng những người lính biệt động. Loạt mìn nổ đầu tiên đã quét tổ đi đầu của mũi biệt động huyện và chị Điều, hất họ xuống đám ruộng lúa. Số người bám theo sau đều bị sức ép của bốn trái mìn hoặc trúng đạn thẳng, mảnh cối.

   Tư - đội phó đội biệt động, mặt cắt không còn giọt máu, ngồi nép vào thành mộ đang giở vội cuốn băng. Anh ta bị thương vào tay phải. Có được vài loạt đạn bắn trả của cánh biệt động. Cường giữ hỏa lực B40. Sức ép của trái mìn hất anh ngã xuống ruộng. Cường bò lui lại khu mộ. Liều thuốc B40 ngấm nước ruộng không nổ. Anh thay trái thứ hai, nhằm vào cụm hỏa lực trung liên đang tóe lửa, bóp cò. Chỉ thấy một quầng lửa trùm lên con đường sắt. Nhưng đuôi lửa của trái đạn B40 đã trở thành mục tiêu cho địch nện vào đấy. Thậm chí, anh không nghe thấy cả tiếng Tư hét “xung phong”. Thực ra, đây là lệnh rút lui khỏi trận địa, báo động cho những người còn lại.

   Tỉnh dậy, Cường lết đi trong tiếng súng vẫn còn nổ dữ dội. Anh biết mình đã trúng đạn. Nặng nhẹ ra sao chưa biết, nhưng trước tiên anh phải thoát nhanh ra khỏi vùng hỏa lực bộ binh giăng dày.

   Có lúc Cường bị ngất. Rồi anh tỉnh trở lại và tiếp tục dùng một đầu gối và hai bàn tay bám xuống cỏ trườn đi. Khẩu B40, bây giờ chỉ còn tác dụng như một ống thổi lửa. Anh quàng khẩu súng vô dụng qua vai. Cường cứ bò theo hướng núi. Pháo bắn chặn nổ chát chúa ở đầu làng Liễu Thượng, Phú Ổ và ngả Văn Xá Trung. “Mặc mẹ mày”. Cường nghiến răng chịu đựng cơn đau, bò trên đám đất khô trồng màu phảng phất mùi hoa cải. Đến một bờ ruộng hơi cao ngoài tầm đạn bắn thẳng Cường mới ngồi lại, giở cuộn băng ra buộc chặt lấy vết thương ở đùi, ở ngực. Địch đã gọi lên hai chiếc trực thăng chiến đấu. Hai chiếc máy bay thi nhau bắn rốc két vào vạt mồ mả, chỗ mũi biệt động trụ lại bắn trả tụi ngụy. Tiếng những trái rốc két rít lên như xé vải. Nổ đinh tai. Bụi đất tung lên mù mịt, mùi thuốc súng khét lẹt, nồng nặc. Cường lại lết đi kiên nhẫn. Nhưng từng lúc bên chân bị thương của anh nặng như buộc chì, đôi cánh tay bải hoải tưởng như không sao bíu được vào ngọn cỏ để nâng tấm thân nặng nề tiến lên phía trước, nặng vướng víu. Cường chỉ còn một trái thủ pháo 4 lạng.

   Địch đã thôi bắn, duy nhất chỉ còn một khẩu trung liên thỉnh thoảng lại tru lên như con chó sủa dai dẳng, nhạt thếch. Và tiếng pháo bắn chặn nổ rung đất ở hướng cửa rừng, dưới chân đồi Một Mái.

   Cường lo. Cứ với tốc độ bò lết như thế này anh sẽ không thể nào vượt được quãng đường dài 12 cây số trên đồng, cắt băng qua nhiều làng để vào tới rừng trước khi trời sáng. Anh không sợ gặp phải những toán địch phục kích. Cường thông thuộc các nẻo đường ngang ngõ tắt từ trên núi đổ về các làng đồng bằng vùng ven Huế. Vấn đề còn lại là thời gian và sức lực. Sáu tiếng nữa là trời sẽ sáng. Anh phải chiến đấu với chính mình để đi hết đoạn đường còn lại. Sáng toẹt ra, nếu anh còn nằm lại giữa đồng, vậy là đi tong. Anh sẽ bị tụi bảo an, nghĩa quân các làng sáng mai ra đồng sục sạo trên mọi hướng phát hiện ra ngay. Một trái thủ pháo sẽ chia hai. Chia cho anh và chia cho những tên địch ngổ ngáo xông tới trước tiên để lập công lĩnh thưởng.

   Cường cố xua đuổi những ý nghĩ đen tối lóe trong đầu. Mắt ngong ngóng nhìn về phía trước và chậm chạp lết đi trong bóng đêm. Dù sao đầu óc anh vẫn còn tỉnh táo để nhận ra những bụi dứa mờ mờ mọc hai bên con đường nhỏ. Mùi phân trâu bò hăng nồng ở những vũng nước lấp xấp. Nghe tiếng động lướt trên cỏ, những con nhái thi nhau nhảy tõm xuống ruộng. Ngọn gió bấc lồng lộng thổi trên cánh đồng trống. Rặng tre xanh mọc ở rìa đồng rung kẽo kẹt như đưa võng. Tấm nang tre bị gió bứt rớt xuống chạm vào cành cây xào xạc. Mỗi chặng, Cường càng thấy thân xác mình thêm nặng nề. Đôi môi anh mím chặt đau đến bật máu, kèm theo cơn khát hành hạ. Đến một lúc không chịu nổi, anh đã phải trườn ra sát mép ruộng. Rồi cứ như thế, anh vục đầu xuống uống nước. Nước vào tới đâu anh cảm nhận tới đó. Nhưng Cường vẫn còn đủ tỉnh táo để hiểu rằng, bị thương ra máu nhiều, uống nước vào chỉ làm cho người mau kiệt sức. Anh đưa tay lau những giọt nước dính trên mũi. Nước ruộng tanh tanh lẫn rêu. Và anh lại tiêp tục bò. Đã thấy thấp thoáng những bóng cây tre chĩa ngọn lên trời và thanh tre bắc ngang làm tay vịn cho cây câu tre bắc ngang con hói. Bỗng dưng, anh ứa nước mắt. Lúc qua đây, thằng Mộc còn nhờ anh quờ tay ra sau lưng bắt con đỉa. Mộc theo tổ bám đường đi trước. Địch hay phục kích ở đây. Mộc bơi qua hói ở đoạn trên rồi mới dẫn cả tổ quay ngoặt lại kiểm tra cây cầu. Nếu có địch, tổ của Mộc sẽ đánh từ sau tới, trong khi toàn bộ đội hình ém sát vào bờ bên này hói, sẵn sàng phát hỏa. Địch không phục kích ở cầu. Ngâm nước lạnh, Mộc rét run. Vậy mà vẫn có một con đỉa trâu bám vào lưng nó. Cường phải bẻ que gạt con đỉa. Mộc đi sau lưng Cường lúc tiến vào con đường sắt. Từ lúc súng nổ anh không còn nhìn thấy Mộc đâu nữa. Mộc hy sinh chăng? Cũng như chị Điều và hai cậu bên biệt động đã nằm lại tại trận địa để cho địch cướp xác. Khổ thân chị Điều. Ngày mai gia đình, bà con cô bác ở Bầu Tháp sẽ nhận ra con em mình. Chắc chắn ông bà già nhà chị Điều sẽ bị tụi Hội đồng hương chánh xã, lính quận làm khó dễ trước khi cho nhận xác về chôn cất.

   Bảy người lính đại đội 1, bổ sung về cho xã Y, trong vòng chưa đầy nửa năm đã hy sinh mất ba. Bây giờ thêm Mộc nữa... Nghĩ mà xót xa. Của đáng tội, Hạnh và Cường đã làm được một việc. Ba lần về các ấp rứt lên được năm thanh niên. Một cậu trốn về, còn bốn cậu kia đã đưa lên tỉnh học tập. Họ sẽ trở thành những người du kích thực thụ, đủ bản lĩnh chiến đấu đòi hỏi phải có thời gian. Cường cay đắng nghĩ tới trận đánh vừa xong. Các anh đã thua và còn chịu một tổn thất khá lớn...

   Rút cục Cường đã lết tới được bờ hói.

   Cây cầu tre chênh vênh, được chắp bằng những đoạn thân cây xoan và có tay vịn. Bình thường, người đi qua dễ dàng. Nhưng bây giờ Cường đứng trước cây cầu như một sự thách đố. Thanh tre để vịn tay hơi cao. Anh phải dùng bên chân còn lành của mình và hai tay nhích lên từng tí một trên cây cầu để qua hói. Mất hơn nửa giờ anh mới sang được bờ bên kia. Cường kiệt sức. Lúc tỉnh dậy, anh hoảng hốt nhìn đồng hồ đã hơn 2 giờ khuya. Mưa rơi nặng hạt. Quần áo anh thấm nước. Ráng sức Cường tiếp tục lết đi. Cái cảm giác cuối cùng anh còn cảm nhận được là mình đang trườn lên một vạt ruộng khoai lang, rãnh khoai có nước lấp xấp. Lớp đất nhão nhoẹt. Phía bên trái là một ruộng bắp, cây mới mọc ngang thắt lưng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #28 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:52:32 am »

*

   Cường mở đôi mắt đờ đẫn. Có hai gương mặt lòa nhòa đang cúi xuống nhìn anh. Anh khẽ mấp máy đôi môi nhưng không phát ra thành tiếng.

   - Chú ấy đòi nước, anh Ba!

   - Em rót vào cái nắp bi đông, chút xíu thôi nghe.

   Lát sau có bàn tay của ai đó khẽ nâng cằm anh, những giọt nước ri ri, chảy vào. Chút nước chỉ càng làm Cường thêm thèm khát. Anh muốn gào lên, muốn chửi rủa những kẻ ngồi trước mặt. Nhưng quai hàm cứng lại, muốn há ra mà không được. Trời ơi, giá như có cả dòng sông Bồ lúc này anh cũng uống cạn.

   - Đúng rồi em ạ! Người ấy đấy... - Giọng người đàn ông thì thào nho nhỏ.

   - Có thiệt không? Coi cho kỹ kẻo lộn. - Người đàn bà đáp.

   - Lộn răng được. Chỉ cần gặp chú nớ một lần anh nhớ suốt đời.

   “Họ là ai ha?” - Cường chìm đắm trong một ý nghĩ mơ hồ, lộn xộn. Vành mắt cứng lại không còn tuân theo ý muốn của anh nữa.

   - Chú ơi! Chú mở mắt ra coi thử.

   Người đàn ông lay nhẹ vào vai Cường. Anh khẽ động đậy vành mi, vẫn hai khuôn mặt mờ nhạt, không rõ nét.

   - Anh hỏi thử chú ấy lần nữa cho chắc ăn. - Người đàn bà khuyên.

   - Chú có phải là người bộ đội giải phóng...

   Cường khẽ động môi nhưng hai con mắt đã khép chặt. Anh thấy mình trôi nổi bồng bềnh giữa cánh đồng. Chân không chạm đất. Hàng ngàn viên đạn lửa đỏ lừ đan chéo vây bọc lấy anh nhưng chẳng có viên nào trúng, y hệt như một trò ảo thuật. Anh cứ giỡn đùa trước thần chết. Đạn rơi xuống nước lõm bõm. Anh nhìn rõ từng tên lính ngụy chạy lộn xộn trên con đường sắt, đường lộ huơ súng bắn vung vít lên trời đuổi theo anh. Cường cười, càng thích thú đùa giỡn với trò chơi nguy hiểm. Từ trong rặng tre, Hạnh đang băng ra. Cô cũng chạy trên những ngọn lúa rất nhanh. Hạnh nắm lấy bàn tay anh, cô kêu lên:

   - Chu cha anh lạnh dữ. Đưa tay đây em sưởi nóng cho.

   Những sợi tóc của Hạnh chạm vào mặt Cường. Lại một giọng nói mơ hồ như vọng lên từ trong đất.

   - Tim chú nớ còn đập mình à.

   - Bị thương nặng quá. Chừ tính ra răng, anh?

   - Em ra vơ đống cỏ lại đây cho anh. Tối mới tính được.

   - E chết mất...

   Cường nghe được rõ ràng hai tiếng “chết mất”. Anh tự phản ứng bằng cách khẽ lúc lắc cái đầu và mấp máy đôi môi. Chỉ một thoáng thôi, anh lại thấy mình cắm đầu cắm cổ chạy, mong thoát khỏi bàn tay gầy, xương xẩu của lão bán “xôi chè bột lõ” đang đuổi theo phía sau lưng anh. Lão “lõ” bán xôi vò, chè bột lọc, chất đầy trên hai cái mâm úp chồng lên nhau, đi bộ cả chục cây số bán hàng. Lão lai Tây, mũi lõ, mắt xanh. Đám trẻ con trong khu phố, nơi Cường ở trêu chọc không gọi tên thật của lão, cứ lấy cái khuyết tật của cha mẹ sinh ra mà réo. Lão uất, bỏ xôi chè đuổi đánh lũ trẻ con tinh nghịch. Cường bị lão lõ đuổi chạy thục mạng, nhảy bổ xuống dòng sông Đào để mong thoát khỏi tay lão “xôi vò chè bột sắn bánh chay”...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #29 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:54:25 am »

*

   Hai ngày sau, Cường mới tỉnh hẳn. Anh nhận ra mình nằm trong hõm đất, trên tấm vạt giường có lót mền trải chiếu. Tấm ni lông màu xanh căng phía trên đầu che mưa. Rặng tre gai dày đặc đã ngăn ngọn gió bấc, chỗ trú ẩn của Cường khô ráo ấm áp.

   Chính là Ngật. Người tù binh ở trung đoàn 54 ngụy đã bị đại đội 1 tóm được trong trận phục kích ở chân trời Chóp Nón, đã cứu Cường thoát chết. Vợ chồng Ngật nhặt được anh ở ruộng khoai trong tình trạng hôn mê, rồi bí mật đưa về giấu trong vườn nhà. Ngật thuộc diện thương phế binh, có tiền bảo trợ do Nhà nước cấp, đám tề ngụy trong ấp xã không ai nghi ngờ dòm ngó anh. Vợ Ngật, một người đàn bà ngoài ba mươi tuổi tốt bụng, theo đạo Phật. Bữa nghe tin chồng còn sống trở về, lúc hiểu ra sự thật về vết thương ở bàn tay trái của chồng, chuyện mấy anh giải phóng cho về nhà làm ăn, vợ Ngật cứ cảm ơn mãi. Đêm nào chị cũng ra trước bàn thờ lầm rầm cầu nguyện. Ngày Phật đản hai vợ chồng đưa nhau lên chùa Từ Đàm lễ tạ.

   Những mùi thuốc kháng sinh và thuốc bổ, cùng những bữa ăn ngon lành, nóng sốt mau chóng làm cho Cường lại sức. Nhưng anh vẫn chưa đi lại được. Viên bi của trái mìn claymo đã yên vị trong bắp thịt phía trên ngực, lành miệng, vết thương ở đùi còn tay đau, chảy mủ. Cường đã ăn một cái Tết trong nhà Ngật, giữa một vùng làng đâu đâu cũng có bóng áo lính địch. Suốt ngày đêm anh nằm ở chiếc ổ bí mật ấm áp ngó ra ngoài trời, một khoảng không gian chật hẹp, cố định, nhìn những đám mây mọng nước bao phủ bầu trời. Và những trận mưa sập sùi lâu lâu lại đổ xuống. Vào những ngày giáp Tết, ở những ngôi nhà dân trong làng không khí vẫn lặng lờ. Ban ngày người vẫn ra đồng, xới lúa, làm cỏ. Trên vạt ruộng hoang ngoài bìa làng, bốn năm đứa trẻ con chăn trâu chơi đánh khăng, cưỡi trên lưng nhau giả làm ngựa, đuổi bắt nhau ầm ĩ một góc làng. Chơi chán đám trẻ kéo nhau tản ra đồng hun chuột, đúc dế. Lâu lâu chúng hò reo, kêu la mỗi khi đuổi theo một con chuột bị sặc nước cay mắt vì bị khói vùng chạy ra ngoài hang. 5 giờ chiều cánh đồng đã không còn một bóng người. Sương mù từ trên núi dồn xuống nhòa vào khói bếp lan tỏa thành một lóp mù mỏng. Ở các làng hoang, vọng lại tiếng chặt cây của các đơn vị lính ngụy đồn trú, dã ngoại... 6 giờ tối, các gia đình trong ấp cơm nước đã xong. Vài bốn hộ dồn thành một cụm ngủ tập trung tại một nhà, có hầm phòng tránh ca nông. Cửa ngõ đóng kín. Không một ánh đèn. Chó cũng bị lính dân vệ, bảo an giết vãn, với lý do “bảo đảm an ninh”.

   Mãi tới trưa ngày hai mươi tám Tết, trong làng mới rộ lên tiếng heo bị chọc tiết. Đã có nhà cúng tất niên, phảng phất mùi hương trầm lan tỏa trong không gian. Con đường mòn chạy ngang qua trước cửa nhà Ngật nhộn nhạo người đi lại. Tiếng xe honđa, tiếng xe lam chở người đi chợ rú máy ầm ĩ. Buổi sáng, Ngật mang cơm ra thông báo cho Cường hay: “Mặt trận dân tộc giải phóng ra lệnh ngưng bắn ba ngày, đảm bảo cho mọi người dân an ninh hưởng Tết cổ truyền của dân tộc”. “Anh nghe ở đâu vậy?” - Cường hỏi. “Hồi đêm tôi mở đài Hà Nội!”. “Anh đã chuyển giúp tôi cái thư chưa?”. “Rồi, đảm bảo!”.

   Ít bữa nay, Cường sốt ruột. Anh quyết định viết thư nhờ Ngật đưa ra hộp thư chết. Anh muốn báo tin gấp lên căn cứ để Hạnh về, đón đi. Cho đến nay vẫn chưa có tin tức. Ngật ra kiểm tra lại tại một hốc bí mật trong ngôi mộ giữa đồng vẫn còn thư của Cường. Chứng tỏ đường từ căn cứ về bị tắc. Nếu không bằng mọi giá Hạnh đã đột về và theo quy định, năm ngày một lần cô tới hộp thư mật. Sợ lộ, và cũng để an toàn cho đường dây nội tuyến của xã, Cường không dám nhờ Ngật chuyển thư tới những cơ sở Xóm Mới, Văn Xá... Biết rằng vợ chồng Ngật hàm ơn anh đã cứu sống dạo trước, nay trả nghĩa cho Cường, nhưng anh không dám liều. Mỗi một cơ sở có được bây giờ đều phải trả bằng xương máu. Tương lai vợ chồng Ngật cũng sẽ là một cơ sở. Cường đã gặp được một sự may mắn lớn. Và quý giá gấp trăm lần, anh hiểu được tấm lòng của vợ những người lính ngụy trong hàng ngũ địch. Thì ra chẳng có bức tường nào của địch khó công phá cả, miễn sao anh tìm đến được với họ.

   Chỗ trú ẩn của Cường vừa kín đáo, bảo đảm, lại ở ngay trong vùng kiềm tỏa của địch. Nó mở ra một khả năng trụ bám dài ngày cho du kích xã Y và cũng là điểm khởi đầu cho những trận đánh “nở hoa trong lòng địch” diễn ra ngay trên mảnh đất đồng bàng nay mai.    Buổi sáng mồng hai Tết, Ngật ra thăm Cường sớm. Anh ta mang theo một bữa cơm thịnh soạn của ngày Tết. Cơm nóng, canh lòng gà nấu miến, thịt gà luộc, ngoài ra còn có cả bánh ít lá gai, bánh mật, bánh mứt dừa. Vợ Ngật không cho Cường ăn nếp. Chị sợ vết thương làm mủ. Bình trà pha đậm và thuốc lá Rubi làm cho Cường khuây khỏa,  thư thái trong một buổi sáng mùa xuân đẹp trời. Từ chiều qua, trời hửng nắng. Những cơn mưa đã dứt. Ban đêm, sương muối rơi nhiều, trời trở lạnh. Cho tới 8 giờ sáng, Ngật lại ra vườn. Theo chân anh ta có một người thanh niên mặc quần jean, áo trắng, khoác bên ngoài một chiếc áo bu dông Mỹ. Thấy người lạ, Cường cảnh giác đề phòng. Anh kéo chăn phủ chân và luồn quả thủ pháo vào bên trong lần áo.

   Ngật cười cười:

   - Đừng sợ anh Cường. Coi thử có nhận ra ai đây không?

   Người thanh niên cũng mỉm cười nhìn Cường. Đến bây giờ Cường mới phát hiện ra một bàn tay của anh thanh niên lạ mặt cũng bị tháo ba ngón. Bàn tay trái chỉ còn ngón trỏ và ngón cái. Vết khâu nhăn nhúm. Cường khe khẽ lắc đầu, không tài nào nhớ nổi.

   - Anh quên tôi thiệt sao... - Anh thanh niên hỏi nhỏ.

   Ngật đỡ lời:

   - Thằng Phi đó anh Cường... Nó vừa ở Đà Nằng về, tôi hay nhắn tin ra đây gấp. Biết chuyện anh, nó nằng nặc đòi ra gặp anh bằng được. Để tạ ơn cứu mạng sống cho nó đó.

   Mấy sợi râu mọc trên mụn cứt ruồi của Ngật lúc anh cười nheo mắt khẽ rung rung.

   Cường đưa tay ra bắt tay Phi:

   - Trời! Vậy mà tôi không nhận ra cậu.

   - Anh Cường bị thương nặng? - Phi nhìn vào bàn chân của Cường.

   - Nay cũng đỡ rồi, nhờ anh Ngật... - Cường chuyển câu chuyện. Trông cậu khác với bữa ở trong rừng quá. Nom trẻ ra. Từ ngày ấy đến nay ra sao?

   Phi giơ bàn tay cụt ba ngón.

   - Em cũng học theo cách của anh Ngật. Bỏ ba ngón tay. Mới đầu tụi bác sĩ ở bệnh viện quân đội nghi em tự thương. Sau mẹ em lo lót mất mấy chục ngàn. Bây giờ em vô Đà Nẵng ở với ông bác ruột, mở tiệm buôn trong nớ... Em nào ngờ còn có ngày được gặp anh... Thoạt trông thấy em, anh ngán phải không?

   Cường cười cười, không trả lời.

   Phi ngồi chơi chừng nửa giờ, xin phép ra về... Ngật bước ra sau nói nho nhỏ vào tai anh:

   - Anh khỏi lo. Thằng nhỏ đó tốt.

   Cường vẫn ngài ngại. Suốt cả ngày và đêm hôm ấy anh phấp phỏng đề phòng. Buổi sáng hôm sau, Phi phóng honđa xuống nhà Ngật. Trong chiếc túi xắc, cậu ta chở về cho Ngật vô số thuốc tây, sữa đường và hai cây thuốc lá Cô táp. Phi mua tặng Cường chiếc rađiô bán dẫn National hai pin đại.

   - Đây là tấm lòng của em và gia đình em - Phi nói chân thành - Anh giữ lấy làm kỷ niệm... - Cuối cùng ngập ngừng một lát cậu ta nói - Mấy anh cứ coi em như người của mình, cần thứ chi anh chỉ bảo với anh Ngật một tiếng, em sẽ gởi... Nói có mặt trời, em và vợ chồng anh Ngật ở đây chịu ơn cách mạng suốt đời.

   Cường không muốn nhận quà, nhưng Phi không chịu.

   Chiếc rađiô có một chiếc tai nghe nhỏ xíu. Cường cắm vào lỗ tai, anh có thể nghe được đài Hà Nội, đài của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa giải phóng miền Nam vào các buổi phát. Chiếc ổ trú ẩn của Cường như được nối liền với thế giới bên ngoài. Anh không còn bị rơi vào cái cảm giác lạc lõng, đơn điệu giữa vòng vây của kẻ thù. Nhiều đêm, khi trong ấp đã yên ắng, biết chắc tụi nghĩa quân, tụi bảo an không có ở khu vực của mình, Ngật ra ngoài bụi tre chui vào chỗ Cường ngồi rì rầm nói chuyện tới khuya. Anh ta nói chuyện nhà, chuyện đồng áng, chuyện vợ con. Một mạng lưới tề ngụy trong ấp, trong xã Y, qua Ngật Cường nắm được cả.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM