Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:19:11 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giáp ranh  (Đọc 92667 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #30 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:55:40 am »

   Địch kiềm tỏa nông thôn tưởng như là chặt nhưng kỳ thực lại có vô số kẽ hở. Từ việc phòng thủ thôn ấp, đến việc quản lý dân. Chỉ có điều tìm cho ra những kẽ hở ấy, có những đối sách thích ứng để chống trả hiệu quả. Xét cho cùng ảo ảnh về cách mạng, về “Việt cộng” vẫn là một bóng ma đè nặng lên tâm lý tụi tề ngụy ở hạ tầng cơ sở. Chúng tin tưởng ở vòng ngoài đã có quân Mỹ, quân chủ lực ngụy, vòng trong bảo vệ cho các thôn ấp có đám lính bảo an, nghĩa quân, phòng vệ dân sự được trang bị vũ khí kèm theo các chú lính Mỹ “mũ nồi xanh”, chỉ đạo công tác bình định nông thôn, đồng bằng, một hệ thống quân sự hóa từ tiểu khu xuống các xã, ấp, liên gia. Nhưng địch vẫn lo sợ bị bên cách mạng tấn công. Thực tế cho Cường kết luận rằng: nông thôn đồng bằng vẫn cho phép các lực lượng đứng chân bám rễ nếu tạo được thế dựa trong dân.

   Cường đã phải trải qua những ngày dài chờ đợi. Anh nóng ruột vì chưa bắt được tin tức gì của trên núi. Hộp thư chết vẫn chưa có người tới lấy. Ba ngày một lần, đi thăm đồng, Ngật tới kiểm tra và thay thư của Cường. Tín hiệu “S.O.S” liên tiếp khẩn thiết chuyển đi từ nắp ngôi mộ giữa đồng làng La Chữ vẫn bặt vô âm tín. Ngật thông báo chính thức trận đánh diễn ra ở xóm Bầu Tháp đêm hai nhăm tháng chạp, sáng hôm sau tụi ngụy tìm được “bốn xác chết của cộng quân, thu ba AK và một cộng đồng phun lửa B40”.

   Thời gian một ngày đằng đẵng trôi, tưởng như vô tận. Cường nằm ngửa mặt, đếm từng cặp chim sâu tới nhảy nhót quanh bụi tre nơi anh nằm, chờ màn đêm buông xuống. Nhưng về đêm, thời gian mới thực là dài. Anh vặn rađiô mở cho tới khi chương trình phát thanh “Gửi vào Nam” kết thúc. Trên làn sóng điện chỉ còn phát ra những tiếng tít... tít liên hồi, Cường mới tắt công tắc pin. Vài lần, trong bản tin của đài, phát bài về vùng đất quê anh. Cường vừa nghe, vừa nuốt nước bọt, để ý từng chữ. Níchxơn đã ném bom trở lại miền Bắc. Dân cư và các cơ sở sản xuất tiếp tục đi sơ tán. Nhiều vùng lúa vẫn đạt 5 tấn một héc ta. Tính ra những người bạn cùng học một khóa phổ thông với Cường đang theo học đại học bây giờ đã bước vào năm học thứ tư. Thằng Hiếu nghe nói đi học tại Liên Xô. Thằng Hiển vào trường Tổng hợp Toán. Thằng Tỉnh vào Đại học Ngoại ngữ. Cậu Diễm khoèo tay, không đủ sức khỏe bộ đội, đã sung vào lực lượng tự vệ phòng thủ bầu trời thị xã. Cô Huyền xinh xẻo đi học Đại học Quân y, cô Mơ, cô Mão vào Sư phạm. Và Dung giờ đây đã là một cô sinh viên của Trường đại học Bách Khoa Hà Nội.

   Cô bé ấy học cùng anh những năm phổ thông. Cô bé có cặp mắt to, sáng. Gương mặt tròn, hai bím tóc tết đuôi sam. Những buổi tối trường cấp III phải học đêm để tránh máy bay Mỹ ném bom ban ngày. Đám học trò mới qua tuổi quàng khăn đỏ, lên học cấp III ngỡ mình đã lớn. Con trai, con gái tự tách ra thành từng cụm trong mỗi buổi chiều đi học. Bọn trẻ nhìn mặt nhau hàng ngày, thậm chí ngồi cùng bàn, mượn của nhau từng cục tẩy, cây thước. Ngó trộm bài nhau trong giờ kiểm tra. Nhưng một khi tan lớp, bước ra đường các cô cậu học sinh như những kẻ không hề quen biết.

   Đã nhiều lần vào những đêm mưa, rét như cắt ruột. Anh học bài xong thơ thẩn đi dọc dãy phố đứng ngơ ngẩn dưới tháp chuông nhà thờ. Gió thổi thốc xô lệch tán bàng non. Những ngôi nhà dân đóng kín bằng những tấm ván soi rõ ánh điện sáng hắt qua khe. Dưới gốc bàng người đàn bà quạt ngô nướng, chùm hụp trong một tấm áo ni lông vá chằng, vá đụp, đầu đội chiếc nón cũ. Anh cảm thấy xấu hổ trước ánh mắt tò mò của người đàn bà. Đứng một lúc lâu, anh lững thững bỏ đi dạo dọc phố cho tới khi chạm mặt vào bờ đê mới dừng lại. Lòng buồn vơ vẩn.
   Những vui buồn của tuổi học trò qua mau cuốn hút vào cuộc sống vất vả thời chiến tranh. Có những buổi chiều, Cường và đám bạn học ngồi bên nhau hàng giờ, nhìn ánh mặt trời tãi vàng trên cánh đồng làng Thắng Cựu. Nắng hắt vào rặng tre, mái rạ cứ đỏ lên rồi chuyển sang màu nâu sẫm. Ầm ì tiếng máy bay rất xa... Rồi bất thần tiếng động cơ phản lực rít lên giữa đỉnh đầu như lao tôn. Mặt đất chuyển rung, lát sau ba bốn cái “nấm khói” đen hiện lên ở phía thị xã, kế theo là những tiếng nổ dữ dội.

   - Ném bom khu Quang Trung!

   - Không phải, chỗ ấy là nhà máy xay.

   - Xì, mình trông như ở cầu Bo... Kìa, cháy... Lửa bốc to quá các bạn ơi!

   Cho đến ngày anh lên đường nhập ngũ.

   Hai mươi sáu cậu học sinh tốt nghiệp tú tài vào quân đội đeo lon binh nhì, ấy là một ngày tháng sáu.

   Buổi chiều nắng chói chang trong một khu đất rộng, nơi tập trung hai đại đội tân binh ngót ba trăm người. Qua ô hàng rào Cường nhận ra những người bạn học chen lấn ngoài hàng rào, giơ cao tay vẫy vẫy.

   Bạn bè anh vào chiến trường năm ấy rơi rụng cả. Người hy sinh, người bị thương, có kẻ đào ngũ ngay trước cửa ngõ Cổng Trời, trước khi vượt biên giới qua đất Lào. Chiến tranh, cây rào chắn thử sức mồi người, buộc anh phải lựa chọn. Hèn nhát và dũng cảm?... Chỉ cần nhắm mắt lại anh đã nhận ra những gương mặt bạn bè. Thằng Son gầy ngỏng, giữ khẩu đại liên Cơrimốp. Thằng Tùng “cháy” ù lì, mê đọc sách trở thành điện báo viên 2 oát. Cậu Nghi “phở” về làm trinh sát. Cậu Chiến “Kỳ Bá” được nhận huân chương ngay từ trận đánh đầu tiên khi về đồng bằng, đánh địch bằng cách bắn hai trái B40, trong trận tao ngộ chiến ở Bầu Sen diệt hai ổ hỏa lực của tụi bảo an. Cậu Lanh “tân đảo”, cao như cây sào. Ngày còn ở đơn vị huấn luyện, ông chính trị viên Xe báo cáo trong chi bộ rằng - trước sau Lanh cũng đào ngũ (!). Trung đội trưởng Hà, suốt dọc đường hành quân vào tới chiến trường, luôn để mắt tới “một phần tử” có tư tưởng không ổn định. Người ta còn ngờ ngợ Lanh sẽ tìm cách chuồn trên đẩt Lào, để sang Thái Lan về lại Tân thế giới. Chị gái Lanh vẫn còn ở bên ấy. Hiện thời là vợ của một nhà doanh nghiệp sản xuất dầu lửa. Nhưng rốt cục Lanh và nhiều người lính vẫn lặng lẽ, âm thầm, chịu đựng gian khổ để vào với chiến trường. Cả tiểu đoàn tân binh được phân nhỏ về các đơn vị. Lanh về tới Công trường VI. Sư đoàn lính dù Mỹ đang đổ quân càn quét miền Tây, chiếm đỉnh cao 1078 - dốc Chè. Cao Bá Lanh đã trở thành người anh hùng vô danh trong trận chiến giữ chốt diệt Mỹ. Những tên lính Hoa Kỳ được phong danh hiệu “Thiên thần mũ đỏ” đã bị quỵ dưới chân đồi. Suốt nửa ngày trời, chúng không sao chiếm nổi ngọn đồi đã bị cày nát bằng bom và pháo trước tổ chốt của Cao Bá Lanh. Địch phải dùng máy bay B57 ném bom hủy diệt... Thắng, thằng bạn nối khố của Cường trong những trận đá bóng, đi chơi, đọc sách... đã trở thành anh lính của đại đội 3, tiểu đoàn 10. Trong căn hầm chốt ở ngã ba Hương Trà, còn đọc cho Cường nghe những trang ghi chép về cuộc sống của người lính vùng giáp ranh... Thắng đã ngã xuống ở một cánh rừng nào đó bên bờ sông Bồ, cùng với những trang ghi chép về chiến tranh của anh...

   Chưa có một lúc nào rỗi rãi, Cường ngồi lý giải về những người bạn mình. Bởi chính anh cũng quay cuồng với công việc của người lính. Nhưng dòng chảy của cuộc sống biến động không ngừng bắt người lính phải trả lời thực tại. Chiến trường đặt ra những câu hỏi và câu trả lời mà bất kỳ một ông tướng nào, dù mẫn cảm tới mấy cũng không tự hoạch định được trên trang giấy. Huống chi đây lại là con người. Một ông chính trị viên đại đội, chín tháng trước đó mới còn là một anh phó chủ nhiệm hợp tác xã. Trường quân chính đào tạo và gắn cho anh cái lon thiếu úy. Trong bản khai lý lịch cán bộ ghi phần học lực: lớp 5. Loạt bài chính trị do các sĩ quan của trường quân chính giảng, anh thiếu úy đọc thuộc tựa như một đứa học trò quen học gạo. Nhưng anh ta là đảng viên. Niềm tin của một trăm hai chục con người, chín phần mười đeo lon binh nhì trông vào anh. Họ quý nể và coi anh là cây cọc nọc. Nhưng khi lần đầu tiên vào tới đất lửa Quảng Bình, nhìn thấy những chiếc máy bay trinh sát phản lực của Mỹ, nhìn thấy ba vệt khói trắng thẳng như kẻ chỉ vạch trên nền da trời xanh ngằn ngặt của B52, nhìn thấy những vệt rừng săng lẻ bị bom phát và chất độc thiêu cháy, ngồi phập phồng lo sợ hàng giờ trong vạt lau xác xơ để chui qua cống ngầm đường 9, anh thiêu úy mới té ngửa ra rằng trong hành trang người lính của mình còn cực kỳ thiếu thốn. Nếu giao xong 120 anh binh nhất (giá như còn đủ quân số, và những anh binh nhì đã được thêm một hạt - ngôi sao!), anh thiếu úy quay trở về, những người dân đất Bắc, bạn bè ở hậu phương sẽ coi anh như một vị anh hùng. Nếu anh phải ở lại, do điều kiện chiến trường thiếu cán bộ, cần bổ sung gấp, dù là đại đội trưởng hay chính trị viên cũng rơi vào tình trạng khốn đốn. Anh thiếu úy cũng sẽ giống nhu bất kỳ anh binh nhất nào, phải học từ cách đi đứng, nói năng và cả cách đối nhân xử thế. Các vị chỉ huy không lột của anh chiếc lon thiếu úy. Nhung người ta muốn anh phải chứng tỏ khả năng của một anh cán bộ biết cầm quân và biết cách tổ chức đánh giặc. Còn chính những người lính đòi hỏi ở anh sự mưu trí, dũng cảm và lòng nhân ái...

   Vào những giờ phút tĩnh lặng yên ả, nằm dài cả ngày, đầu óc Cường hay khơi gợi lại những mẩu ký ức vụn vặt, không theo một hệ thống nào cả, nhưng lại được chắp nối liên tục với nhau. Anh nhớ tới trung đội trưởng B3, biệt hiệu là Thư rỗ, thường bắt nhịp cho cả đại đội hát. Đại đội đi hành quân qua các làng đồi vùng Lục Ngạn. Đội hình hành quân dài như con trăn. Tiếng hát cũng dài như một con trăn, uốn lượn gọi đám trẻ con đổ ra xem, những bà già tay ẵm cháu. Bóng các cô gái thập thò sau những bụi chuối, cạnh nhà.

   Những đêm tháng một rét buốt ở trại Trầm, đứng gác lạnh run người. Anh ám ảnh bởi nỗi sợ hãi về người đàn bà điên ở bản Cao Lan trước ngay cổng doanh trại. Bà điên bị nhốt trong một ngôi nhà đất. Những song cửa sổ ken dày chừa ra một lỗ nhỏ chỉ vừa bằng hai bàn tay. Thấy bóng bộ đội đi tập về, bà ta hét lên, thò bàn tay gầy đét ra đòi mượn súng... Chuyến tàu tốc hành chạy qua ga Nam Định vào một đêm tối trời. Địch đánh phá thành phố dệt. Không có lệnh dừng tàu. Cả đại đội bộ binh xô ra các ô cửa sổ để nhìn về phía đông. Nơi ấy là quê hương của các chàng trai trẻ. Chân trời xa mờ mịt tối. Chỉ có những vì sao thủy chung còn thức để tiễn người ra trận...

   Phải rồi, hôm ấy Hạnh nói gì nhỉ. Hạnh bảo sẽ gởi tiền mua len. Hạnh sẽ đan cho Cường một cái áo len. Hình như anh đã nói ra một điều ngu ngốc!

   - Bộ đội tụi anh ăn mặc thế này quen rồi. Có áo len vướng lắm.

   - Anh nói rứa mà nghe được. - Giọng Hạnh pha chút hờn dỗi.

   Chưa bao giờ như bây giờ anh mong sự có mặt của Hạnh đến như vậy. Một linh cảm mơ hồ, linh cảm thôi, nhưng nghĩ tới điều đó anh lại sợ.

   ... Cho đến 2 giờ chiều, Cường đang ngủ mơ màng chợt nghe thấy có tiếng ho khan. Anh trở dậy. Ngật đang dỡ cành gai bước vào. Mới trông thấy Cường, nét mặt Ngật rạng rỡ hẳn lên.

   Ngật nói một tiếng gọn lỏn:

   - Rồi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #31 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 08:58:38 am »

11

   Nhận được lá thư của cậu y tá từ trung đội 2 chuyển về, Thoan đọc xong, nét mặt tự nhiên cau có. Đôi môi Thoan vốn thâm sau những kỳ sốt rét, đột nhiên tím ngắt.

   - Có chuyện chi rứa, anh Thoan?

   Nhu đang ngồi xắt bắp chuối ngạc nhiên hỏi. Cô đi rừng hái được bốn bắp chuối trên rẫy cũ của đồng bào định trưa nay bóp nộm cho bếp ăn của Ban chỉ huy đại đội. Tay áo Nhu xắn cao, đưa lưỡi dao xoèn xoẹt. Vòng hoa chuối xắt lát mỏng như cây tăm rơi lả tả xuống chiếc xoong đựng nước muối.

   - Không! - Thoan nói cộc lốc. Anh ta vo viên tờ giấy quăng vào bếp lửa.

   Tờ giấy ún khói, ám vàng rồi bốc cháy. Như được đà, ăng gô nước đặt trên bếp cất tiếng reo. Thoan mở chiếc ba lô, lấy ra từ trong túi cóc một túi ni lông đựng gói trà Hồng Đào. Anh thận trọng mở gói chè dốc vào lòng bàn tay một nhúm nhỏ cho vào chiếc ca đuya-ra có nắp. Nước sôi, Nhu ngừng tay dao, cầm ăng gô nước chế chè.

   - Ít nước thôi. - Thoan nói khẽ.

   - Dạ - Nhu đáp.

   Trong nhà lúc ấy không còn ai khác. Anh chàng quản lý ngồi ngoài sân dưới một gốc cây đang kê cuốn sổ trên chiếc bàn nứa tính toán sổ sách. Thoan liếc nhìn Nhu, nói:

   - Ước chi em là liên lạc của anh. - Thoan cười nhẹ.

   - Em nấu ăn cho anh, chưa ưng hử?

   Nhu ngước mắt nhìn anh chính trị viên, trách.

   Chợt giọng Thoan vang to khác thường:

   - Này ông Liêu, bỏ sổ sách đấy, lên làm chén nước đã. Có trà ngon đây!

   Liêu ưỡn thẳng lưng trên ghế, lúc lắc cái cổ, gọi vọng lên:

   - Vâng em lên ngay đây, thủ trưởng.

   Vừa bước lên những bậc đất, Liêu vừa thông báo:

   - Báo cáo chính trị viên, ta còn dư tới ba tạ rưỡi gạo kia đấy. Chính xác là ba trăm sáu chục ký lô.

   - Nhiều vậy kia à?

   - Vâng - Liêu cao giọng - và còn tới hai mươi tám cân mỡ cả thảy.

   Thoan gật đầu, tay tráng những chiếc bát.

   - Tốt lắm! Cậu đáng khen.

   - Giờ tính sao thủ trưởng?

   - Ngồi xuống đây đã, chuyện ấy để đấy... Này, cậu còn điếu Tam Đảo nào không nhỉ?

   Liêu quay quả đi xuống dưới gian nhà kho. Một lát sau quay trở lên. Tay cầm bao thuốc Tam Đảo bao bạc.

   - Khá lắm! - Thoan bật khen và đưa bao thuốc lên mũi ngửi - Còn thơm lắm cậu ạ.

   - Thủ trưởng khỏi lo. Thuốc của em hết chê. Cánh lái xe binh trạm mới chuyển giao cho em được vài bữa nay.

   Thoan chiết nước trong chiếc ca nhôm ra hai cái bát.

   - Cô Nhu này, đợt tới đại đội tập trung về số gạo thừa của ta đổi cho đồng bào kiếm con heo liên hoan sơ kết chiến dịch vận chuyển được chứ nhỉ?

   Nhu khẽ nhếch mép cười, nhìn hai người đàn ông:

   - Việc ấy, thủ trưởng phải bàn với anh Liêu chớ...

   - À... Tôi nói với cô cũng tức là tôi bàn với cậu Liêu đấy, phải không ông quản lý?

   - Ý kiến của thủ trưởng chí lí. Đúng là một chiến dịch vất vả, oanh liệt. - Liêu nói tiếp.

   - Việc ấy tôi giao cho cậu và cô Nhu lo liệu.

   - Vâng, em sẽ xin no niệu. - Liêu ngúc ngắc cái đầu.

   Nhu không nhịn được, cười phá lên. Cô đưa tay lên gạt mấy sợi tóc trên má, nhại:

   - Em xin no niệu! Anh Liêu nói tức cười quá.

   Hai người đàn ông cười xòa. Liêu đỏ ửng mặt, xấu hổ vì tật nói ngọng của mình.

   Vẳng lên từ dãy sườn đồi bên kia con suối tiếng chày nện thình thịch.

   - Lính B2 làm gì mà khua cối chày nhỉ? - Thoan hỏi.

   - Dạ, báo cáo thủ trưởng có mấy chục ký gạo ướt ở kho binh trạm cho ta. Tôi chia cho cho hai “B” làm bún. - Liêu đáp.

   Thoan rít thuốc lá, hai má hõm xuống.

   - Sao ta không làm bún! Mai nghỉ cả ngày cơ mà.

   - Cô Nhu gởi bên anh Hùng rồi ạ.

   - Mình ít người, làm chi cho vất vả, thủ trưởng, cối chày không có.

   Liêu phì cười, rửa hận:

   - Chày thì vô khối ra đấy. Nhưng thiếu cối.

   - Đồ chết giẫm, cái anh ni!

   Nhu quát to. Tiện tay cô phát cho anh chàng quản lý một cái vào lưng đau điếng. Bát nước trà sóng sánh ra sạp giường. Thoan làm như không để ý tới hai cô cậu, chúi mũi vào cuốn sổ công tác. Nhưng đường gân ở hai thái dương của anh hơi giật nhẹ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #32 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 09:00:36 am »

   Chỉ còn lại mình Thoan ở trong hầm nhà. Anh lấy võng ra mắc nằm đung đưa. Ba tháng tham gia chiến dịch vận chuyển gạo đạn chuẩn bị cho mùa mưa, vào đến tháng cuối cùng Thoan đổ ra ốm. Những trận sốt rất định kỳ, nhưng đợt này anh vừa sốt, vừa mắc chứng tức ngực. Thoan nằm nhủng nhẳng điều trị mất già nửa tháng. Tuy ốm nhưng Thoan không cho gọi Phong về. Số lượng hàng hóa vận chuyển đã khoán cho các trung đội. Quân rải ra theo một tuyến dài gần năm mươi cây số. Hàng tuần các trung đội trưởng gửi thư về báo cáo tình hình công việc, quân số. Nếu không muốn tự hành hạ thân xác của mình thì chính vào những chiến dịch gùi hàng, Thoan lại nhàn nhã. Quân tướng rút đi cả, ở nhà chỉ còn có mỗi thủ trưởng và người nấu bếp. Liêu phải ra kho binh trạm nhận hàng. Liên lạc, y tá cũng phải đi gùi để bảo đảm chỉ tiêu từng người. Trung đội 1 ở chung hậu cứ với đại đội bộ. Trừ những người ốm đau giữ nhà, còn từ lúc mờ đất, mọi người đã trở dậy khua chén bát, ăn cơm sáng đi ra kho nhận hàng. Họ mang theo một vắt cơm ăn bữa trưa. 3 giờ chiều người đi khỏe mới về tới nhà.

   Suốt chiến dịch, chỉ có một việc khiến Thoan phải bận lòng. Ấy là cái chết của cậu Tiệp chiến sĩ trung đội 1. Tiệp gùi bốn chục ký gạo đi trên cây cầu khỉ bị trượt chân ngã xuống. Dòng nước khe Trăng cuồn cuộn chảy đã xô Tiệp vào thác đá.

   Bốn ngày ròng, Thoan và hai người của trung đội 1 lội xuôi khe Trăng đi tìm xác Tiệp. Cậu ta bị nước đẩy trôi dạt ra tới gần cửa sông Bồ. Mặt Tiệp nhám đen, cơ thể sây sát nhiều chỗ. Trong bản báo cáo gởi cho Ban chỉ huy cụm cánh bắc, Thoan thêm nhiều chi tiết sống động về cái chết của Tiệp, được coi như một hành động dũng cảm kiên cường cứu đồng đội, cứu hàng. Bộ chỉ huy đã truy tặng Tiệp tấm Huân chương chiến công hạng III. Đại đội được nhận bằng khen vào giữa đợt chiến dịch vận chuyển. Thoan không giấu nổi vẻ tự hào. Một mình Thoan (Tất nhiên như vậy rồi! Chớ tay Phong có công tích gì ở đây, lại thêm những sự vụ lăng nhăng!) đã điều hành đại đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Phần thưởng của cấp trên quả rất xứng đáng với sự vất vả, lo toan của anh.

   Thoan thở dài khoan khoái, nhưng bụng vẫn ấm ức tức, nhớ lại bức thư vừa đọc. Hải y tá đại đội được Thoan giao cho đi với trung đội 2, đồng thời có trách nhiệm theo dõi những tư tưởng diễn biến của đại đội trưởng Phong - đã gửi thư về cho Thoan.

   “... Tuy là đại đội trưởng đại đội ta, nhưng là một anh chàng vừa bị cấp trên khiển trách kỷ luật, cậu biết rồi. Tư tưởng anh Phong dễ dao động lắm. Cậu cứ lặng lẽ theo dõi... Mà này, - Thoan vỗ vai thân mật cậu ta - tôi còn nghe mấy anh cán bộ tổ chức của cụm trao đổi, đại đội trưởng của ta bợm gái lắm. Nghe bảo dạo còn ở K10, anh chàng đã làm một cô phưỡn bụng... May mà cô ta chết... Cậu cần chú ý. Tôi coi đây là một dịp để thử thách cậu. Anh Liêu thay mặt cho tổ trưởng đảng nhận xét về cậu tốt lắm. Cố lên em nhé!”.

   Hải hồi hộp dỏng tai nghe Thoan nói. Cậu ta bị sức ép bom, hơi nghễnh ngãng tai trái. Nhưng Thoan không nhìn thấy nụ cười của Hải, lúc quay lưng đi xuống suối.

   Từ phút đầu tiên gặp mặt Phong, nhìn thấy đôi lông mày và cặp mắt sắc sảo của anh chàng đại đội trưởng mới về đơn vị nhận chức, Thoan cảnh giác. Từ vài ngày trước, Thoan đã nhận được điện của cụm và lá thư tay của ông Thái Long chuyển tới. Thoan không mừng một chút nào, khi Ban chỉ huy đại đội có thêm người, mặc dầu mỗi lần về cụm họp anh thường kêu trời về công việc của đại đội chỉ một mình anh gánh vác. Thoan ngại, vì anh phải đối đầu với Phong, một người có quá khứ chiến công lẫy lừng ở K10. Nhưng việc anh ta dám chống lại lệnh của cấp trên, chứng tỏ Phong không phải là người dễ sai bảo. Mà Thoan thì cần có những loại cán bộ biết vâng lời trong đại đội này. Chẳng lẽ, anh lại khước từ lệnh của ông Thái Long?

   Phong gai góc thật. Thoan có nhận xét như vậy trong vài ngày tiếp xúc đầu tiên. Phong thông minh nhưng bộ dạng lì lợm. Anh nhủ thầm: “Một con ngựa chứng nếu không biết giữ cương chưa biết chừng nó sẽ hất mình xuống Rào Trăng”. Cái nhìn của Phong như khiêu khích Thoan: “Ông hơn cấp bậc tôi thiệt nhưng ông chỉ một thằng chính trị viên đại đội vận tải. Còn tôi đã từng ở vị trí cấp trưởng đại đội chỉ huy lính đánh vài chục trận. Xin chớ có coi thường. Chẳng xong với tôi đâu nghe!”.

   Ý nghĩ ấy giày vò Thoan. Nhưng anh vốn tự cho mình là một người khôn ngoan lọc lõi, có kinh nghiệm ứng xử. Thoan cố gắng không để lộ sự nghi kỵ của mình với Phong. Chính Thoan cũng lấy làm lạ cho thái độ của Phong. Anh ta làm việc như một cái máy, tuyệt nhiên không hề có ý kiến trong các cuộc họp. Thậm chí với Thoan, Phong chẳng hề tâm sự về gia cảnh ở ngoài quê, chuyện riêng tư, kể cả lúc trong nhà chỉ có hai người ngồi uống trà sau bữa ăn cơm chiều. Dần dà, Thoan đi tới kết luận: “Chắc cậu ta ngượng và cảm thấy nhục trước đơn vị mới. Còn gì nhục bằng một kẻ thoái lui đầu hàng!”.

   Thấy Phong như vậy, Thoan cũng chẳng mặn mà. Trong những buối họp cán bộ, anh luôn luôn tỏ ra mình là một người đóng vai trò chính ở đây. Ý kiến Thoan có tác dụng quvết định. Và phải như thế. Kinh nghiệm của một anh cán bộ chính trị viên sau hai năm vào chiến trường đã dạy cho Thoan nhiều điều bổ ích. Cái nguyên tắc “quân lệnh như sơn” được Thoan hiểu và chuyển hóa thành một chiến lược hành động, cần phải nắm cho được quyền lực và trở thành một kẻ có quyền lực. Muốn vậy, trước hết phải lấy lòng tin và sự mến mộ của cấp trên. Còn trong chỉ huy nhất thiết phải là cấp trưởng. Trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng ... Chứ không thể là một anh cấp phó. Chiến lược “trưởng hóa” quả là lợi hại!

   Một thất bại cay đắng - Thoan tự cho là một thất bại cay đắng trên bước đường đời của Thoan, thuở thiếu thời - đã mở mắt cho Thoan nhiều điều. Khôn ngoan đến như bố anh, một ông phó chủ tịch huyện đã bày cho con từng đường đi nước bước mà vẫn mắc sai lầm. Thoan không được học lên cấp III. Bố anh bảo: “Mày đi học muộn hai năm, ấy cũng là tại mẹ mày cả. Đẻ cho lắm vào. Mày phải thi vào trung cấp Sư phạm”, “Ứ... ừ, con không đi Sư phạm, cái nghề bạc như vôi”. “Đồ ngu, đang thời buổi chiến tranh bom đạn như vãi thóc thế này. Chỉ có làm anh giáo viên mới không phải đi nghĩa vụ”. Vậy là Thoan ôm khăn gói quả mướp, giắt trong lưng vài chục đồng bạc đi học Sư phạm. Cho tới năm học thứ hai 1966, miền Bắc bị bom Mỹ ném tanh bành. Bom ném vào Hải Phòng, bom rơi xuống thủ đô Hà Nội. Suốt ngày máy bay phản lực Mỹ gầm rú trên bầu trời và âm vang tiếng súng phòng không bắn trả.

   Phong trào đánh Mỹ lên cao. Hậu phương thi đua với tiền tuyến. Làm trai thời loạn mà không ra trận là nhục! Bảy trăm mười hai cô cậu giáo sinh trường Trung cấp Sư phạm cùng các thầy cô giáo còn đang trong độ tuổi nghĩa vụ quân sự hăng hái ghi tên xung phong xin nhập ngũ. Có người còn chích tay lấy máu ký tên vào lá đơn xin nhập ngũ. Thoan hoảng, tính đánh bài chuồn về quê. Thanh khích: “Ê, ê, sợ hả?”. Thoan nhìn cô bạn gái cùng tổ hơi ngượng ngùng. Đã có lần anh đưa Thanh về nhà cho bố mẹ xem mặt. “Sợ gì!”. Thoan nói cứng với cô bạn gái nhưng anh vẫn chưa an tâm. Chủ nhật tới, anh về quê. Bố anh đang bận mải cho việc bầu cử hội đồng nhân dân các cấp, nghe cậu con trai trình bày, ông phì cười: “Hừ, phong trào”... Ba tháng sau, đám con trai trường Trung cấp Sư phạm có lệnh gọi đi khám tuyển nghĩa vụ, Thoan không còn muốn ngó tới mặt cô Thanh, bây giờ đã là phó bí thư chi đoàn lớp Lý 2. Suốt một đêm, anh la cà trong quán của bà Bưởi, ăn bún ốc, và uống rượu. Mấy kẻ khôn ngoan, có kinh nghiệm trong việc khám nghĩa vụ bày cho cậu con trai ông phó chủ tịch huyện cách thức làm huyết áp không bình thường, tim đập rối loạn vì rượu. Cả một ngày Thoan phờ phạc vì thức đêm và uống rượu. Mãi tới 3 giờ chiều mới tới lượt Thoan được gọi vào khám. Trong khi đó, ngay từ lúc 8 giờ sáng, biết mình chưa tới lượt anh đã kiếm một chỗ mát mẻ và lăn ra ngủ như chết. Tới tận chiều bè bạn lay gọi Thoan dậy, thì hỡi ôi: bụng đói cồn cào. Và rượu cũng đã dã. Sức khỏe Thoan loại A2. Mười ngày sau anh lên đường nhập ngũ.

   Ông phó chủ tịch huyện nghe con trai trúng tuyển nghĩa vụ phát hoảng. Ông âm thầm tiếc mỗi một điều không lo lót “chạy” cho con trai trước khi có giấy báo gọi nhập ngũ. Chiếc xe com-măng-ca chở ông phó chủ tịch huyện lên trung đoàn huấn luyện. Chính ủy trung đoàn đang có con gái làm kỹ sư nông nghiệp tại huyện ông. Bốn tiếng làm việc, ba Thoan chia hai khoảng thời gian bằng nhau. Hai tiếng nói chuyện trao đổi và tặng quà ủy lạo cho trung đoàn “có những đứa con thân yêu của quê hương chúng tôi đang tại ngũ”. Hai tiếng, ông xuống thăm và nói chuyện về quê hương, về mùa màng, và động viên các đồng chí tân binh ở tiểu đoàn 402. Thoan chỉ được bố dành cho mười phút. “Việc đã rồi, gắng mà học tập phấn đấu cho tốt. Chấp hành kỷ luật nghiêm minh, học hỏi các thủ trưởng. Em và mẹ mày vẫn khỏe. Còn tiền tiêu không?” - Ông bố bảo với cậu con trai như vậy.

   Một tháng sau, đột nhiên Thoan chuyển đơn vị, đi học lớp cán bộ tại trường quân chính quân khu. Chín tháng Thoan ra trường với lon chuẩn úy, đảng viên. Thêm một lần chuyển đơn vị, Thoan đã là chính trị viên đại đội huấn luyện tân binh bổ sung cho chiến trường miền Nam. Đợt quân đầu tiên anh chỉ huấn luyện có bốn tháng. Không thể nào diễn tả nổi không khí rộn rã, xao xuyến của dân làng. Lần này Thoan được cấp trên cho nghỉ phép để chuẩn bị đưa quân vào Nam. Mẹ Thoan suốt mấy ngày hai con mắt đỏ hoe. Bà giết con lợn bốn chục ký mời bà con làng nước, bạn bè để đưa tiễn con trai ra trận. Ông nội anh mặc quần áo may bằng vải trúc bâu ngả vàng, khăn đóng, đi đôi dép rọ Liên Xô, cẩn trọng nâng nắm nhang khấn tổ tiên rồi mời mọi người ngồi vào mâm rượu. Cuộc chia tay cho một đứa con trai trong dòng họ Phan ra trận, có rượu thịt, có chúc tụng tưởng là vui nhưng thực ra không khí trang nghiêm dễ sợ. Chỉ có tiếng bát đũa va chạm lách cách. Tiếng rượu òng ọc tuôn ra từ trong chai, và tiếng nói chuyện rầm rì về máy bay Mỹ ném bom nơi này, nơi kia xảy ra thất thiệt, chuyện những người đi “B”:..
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #33 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 09:01:46 am »

   Ông phó chủ tịch vẫn còn đủ tỉnh táo để không về làng dự bữa cơm rượu tiễn con đi Nam trong buổi chiều hôm ấy. Ông bận ngồi chủ trì cuộc họp bàn về phòng chống sâu rầy đang phá hoại lúa mùa. Buổi tối ông đón cậu con trai tại gian nhà riêng của mình trong khu vực của ủy ban. Cùng ngồi với ông còn có ông bí thư huyện ủy, ông chủ tịch huyện và một người, sau này Thoan mới biết là ông Huân, trưởng ban tổ chức chính quyền tỉnh. Một đĩa kẹo Hải Hà, gói thuốc lá Tam Đảo. Và dường như ông phó chủ tịch đã khéo mượn bạn bè động viên đứa con trai. Gần tới lúc tan cuộc, ông mới nói rành rẽ xúc động: “Con trai của bố! Đất nước đang có chiến tranh, cần tới sức trẻ. Giá như bố còn trẻ, bố cũng xin đi đánh Mỹ. Con hãy xứng đáng là một người đảng viên. Chúc con đi may mắn”. Ông bí thư huyện ủy rơm rớm nước mắt gắng mỉm cười để che giấu cơn xúc động. Cả huyện này ai cũng biết, ông có một người con trai nhập ngũ từ năm 1958, đi chiến trường miền Nam 1963. Và cho đến nay ông bí thư không nhận được thư từ, tin tức của con. Ông Huân siết chặt bàn tay Thoan, đau đến mức anh suýt kêu lên. Không nhìn vào mặt anh mà để ý chiếc quân hàm thiếu úy đeo trên ve áo. “Quê hương chúng ta tự hào có biết bao những người con anh hùng”. - Ông Huân nói.

   Thoan trở về làng Lầm vào những ngày giáp Tết. Người anh đen hơn, tóc húi cao nhưng béo tốt. Trước khi về nghỉ một tháng, trung đoàn huấn huyện đã cho những anh em cán bộ “từ tuyến lửa trở về” ăn “trung táo” mười ngày. Chuyến đưa quân vào Nam của tiểu đoàn Thoan chỉ kéo dài hai tháng bốn ngày. Họ bàn giao quân ở Làng Ho rồi lên đường trở về miền Bắc.

   Mẹ Thoan lại một phen vất vả. Suốt này bà lúi húi trong bếp đun nước sôi pha trà và nước chè xanh mời bà con trong làng tới hỏi thăm Thoan về tình hình miền Nam. Ai cũng tưởng như anh đã nhìn thấy Mỹ, thấy ngụy, trong chiến hào ác liệt chui ra để trở về đây yên lành. Tóm lại, Thoan là một anh hùng của làng Lầm trong những ngày Tết. Tất nhiên, những câu chuyện Thoan nhặt nhạnh trên suốt dọc đường đưa quân, lại thêm tài thêu dệt đủ để anh vẽ lên nhiều cảnh rùng rợn của chiến trường. Huyện cho bố Thoan nghỉ hẳn hai ngày để tiếp chuyện cậu con trai. Mắt mẹ anh vẫn đỏ, lần này không phải vì khóc thương con mà vì khói bếp.

   Sang tới ngày thứ ba, những ký ức về miền Nam của Thoan đã nhạt, bố anh mới bảo: “Mày phải cưới vợ con ạ, chăng còn bé bỏng gì nữa”. Thoan ậm ừ: “Vợ con gì, đang lúc giặc giã như thế này”. Ông nội đang ngà ngà rượu nằm khểnh trên giường, phe phẩy chiếc quạt nan bỗng vùng ngay dậy, mắng: “A, tiên sư anh. Anh cãi lại bố anh phỏng? Tao sắp xuống lỗ rồi đây, không muốn để tao nhìn thây cháu chắt hử...”. “Thôi, thày - ông phó chủ tịch huyện dàn hòa - ông để con khuyên cháu”. Ông cụ vẫn chưa chịu: “Bố anh chỉ huy cả một huyện dân lại không bảo được anh hử? Tôi còn đẻ ra cả bố anh, chú anh...”. Thoan ngồi ngậm tăm, hút thuốc lá. Bố anh cũng châm thuốc. “Lấy ai, ông và mẹ đã chọn rồi. Không đẹp nhưng được cái nết, bán ở cửa hàng huyện gần cơ quan của bố. Mà anh có lấy vợ, tôi mới có cớ xoay cho anh về huyện”.

   Người con gái mà gia đình chọn làm vợ cho Thoan hóa ra là cái Luân, học với anh từ hồi lớp một lên tới lớp bốn ở trường làng. Cao một mét bốn nhăm, béo tròn như hạt mít. Ấy vậy mà đã có đồng hồ Liên Xô nữ, hiệu Slava, dây chuyền vàng. Một chiếc va li để ở đầu giường, Thoan mục kích thấy có tới cả chục chiếc áo cánh trắng, áo cỏ úa, quần láng đen và cả một chiếc áo khoác may bàng vải Ximini màu xanh lá cây, lượt trong lót nhung kẻ.

   Mồng hai Tết cưới vợ. Mồng bốn Thoan lăn ra ốm.

   Cứ tưởng bị sốt rét sau chuyến đi miền Nam. Cô vợ trẻ sợ cuống vó, suốt ngày đêm lo thuốc thang chăm sóc cho chồng. Ba tháng sau, ở đơn vị Thoan đã nhận thư báo tin mừng. Luân ở nhà đã có thai. Đợt huấn luyện thứ hai chỉ trọn vẹn có ba tháng. Cả tiểu đoàn làm lễ xuất quân để kịp đi Nam. Cuộc tấn công nổi dậy mùa xuân 1968 đang nổ ra ờ 64 thành phố, thị xã toàn miền Nam. Thoan và nhiều anh cán bộ khung tiểu đoàn huấn luyện đều chung một suy nghĩ: đưa quân vào rồi lại ra. Họ thuộc quân số ngoài Bắc. Không ngờ toàn bộ số cán bộ khung và tân binh đều bị giữ lại để tung vào mặt trận Trị Thiên - Huế, bổ sung cho các công trường và sư đoàn Hương Giang. Hôm nhận được tin phải ở lại chiến trường, Thoan choáng váng.

   Lần này Thoan ốm thật. Trận sốt kéo dài hai tháng làm cho anh rụng tóc. Da vàng bệch. Mắt hõm, đôi môi thâm lại vì uống nhiều ký ninh. Ra viện quân khu, Thoan nhận quyết định về Công trường VI, làm chính trị viên đại đội vận tải. Thoan chấp nhận số phận khi biết rằng anh không có đường tháo lui. Một thời gian nằm viện điều trị sốt rét thực bổ ích với Thoan. Anh được tiếp xúc, gặp gỡ với những anh thương binh trong chiến dịch tấn công về Huế, đợt hai. Họ kể cho Thoan những trận đánh khốc liệt diễn ra trên đất Phú Vang, Phong Quảng, Thoan nghe chuyện đánh nhau ở đồng bằng thật khủng khiếp.

Cũng trong những ngày dài buồn bã như vậy, Thoan còn hiểu thêm một số điều: Chiến trường rộng dài quá. Hàng triệu người lính đổ vào như muối bỏ bể. Và không phải người lính nào cũng phải ra tuyến trước đi công đồn đánh địch. Một ông phó chính ủy trung đoàn đã nói với Thoan rằng: Để chuẩn bị cho một người chỉến sĩ đánh giặc, ít nhất cũng phải có ba người khác phục vụ cho anh ta. Thoan hình thành ngay trong đầu một phép tính. Anh sẽ là một người trong số ba người phục vụ kia... Trong lần gặp gỡ với đồng chí trợ lý cán bộ Đoàn 6, Thoan đã khôn ngoan đưa ra chứng bệnh suy tim và đề đạt nguyện vọng được về đơn vị hậu cần. Anh đã được tiếp nhận.

   Luân đẻ con trai, hai ký tám. Lá thư đầu tiên Thoan nhận được ở chiến trường sau sáu tháng kể từ ngày gửi. Ông nội đã chết. Bố anh được điều sang làm giám đốc công ty thương nghiệp huyện. Chỉ buồn cười một điều, nhớ tới vợ, không bao giờ Thoan có thể hình dung ra nổi gương mặt Luân. Vợ chồng chung sống với nhau chưa được hai chục ngày trời, lại còn ốm đau. Chiếc ảnh của vợ tặng Thoan nhỏ bằng hai đầu ngón tay (3x4). Anh thợ ảnh ở phố huyện chụp không nét, lại còn lấy cu lơ tô môi đỏ, má hồng, vẽ mày bằng bút lông. Đêm mưa dừng chân nghỉ ở binh trạm 26, cây cột nọc buộc tăng của Thoan rỉ nước. Chiếc áo của anh treo ở đầu cột bị ướt mèm, giở ví ra, tấm ảnh thấm nước mưa đã mủn. Mỗi khi nhớ tới vợ, Thoan lại cứ hình dung ra gương mặt của Lý. Cô ta về đại đội vận tải sau Thoan một thời gian. Đẹp đẽ, xinh xắn, lại là con gái Huế, nên Ban chỉ huy đại đội bố trí cho Lý ở bộ phận phục vụ. Thoan đã nhanh chóng lần mò ra cái lý lịch đầy bí ẩn của cô gái. Và chỉ bằng vài đòn tâm lý, Thoan đã làm cho Lý quấn chặt lẩy anh như một cây tầm gửi. Lý kín đáo, Thoan còn cẩn trọng gấp trăm lần. Không ai chấp nhận một anh chính trị viên đã có vợ con ở ngoài Bắc lại đi tòm tem với chiến sĩ gái của đơn vị mình. Mỗi lần gặp gỡ Lý, ngay sau đó, Thoan lại xỉ vả mình, tự hứa chấm dứt. Nhưng chao ôi nợ đời, cái giống đàn bà ở gần, lại đã trải qua một đời chồng, có khác nào như men rượu nếp hương để cận kề một con sâu rượu. Những buổi sáng chỉ có một mình Thoan ở nhà, Lý lo chuẩn bị cho bữa cơm trưa. Còn đại đội trưởng Mạo tính tình thật như đếm, lại có tuổi, chỉ thích sục xuống các trung đội, vào rẫy kiếm rượu của đồng bào về nhậu. Cậu liên lạc chưa tròn một tuổi quân. Chị Lý chiều hơn chiều em trai. Chất giọng con gái Huế ngọt, nhẹ: “Dạ, anh biểu chi em?”, “Dạ, răng anh biết chuyện ni”... Không gian yên tĩnh quá. Chòm lá xanh che trên nóc nhà hầm lao xao. Lý ngồi nhặt nắm lá tai voi, tước từng cọng môn thục để lát nữa bóp muối ớt. Tay áo cô gái xắn cao để lộ lóp da trắng xanh. Chiếc áo xanh may bằng thứ vải pha ni lông gởi mua tận dưới đồng bằng Phong Điền, theo nhịp đập của trái tim cô gái, phập phồng... Không thể chịu đựng được. Và cũng chẳng có một lý do nào buộc anh phải giam hãm mình. Lý cũng thích những cái vuốt ve và những cái nhìn cưng nựng. Họ nhìn nhau trong giây lát. Thoan nuốt nước bọt và tặc lưỡi.

   Chiếc sạp nứa trong gian nhà hầm rung lên lật bật. Mặc con tắc kè kêu khan ngoài cây lim già. Hai kẻ hứng tình quấn lấy nhau như đôi trăn vào mùa sinh nở.

   Loáng thoáng đã có những ánh mắt nhìn Thoan lo ngại. Ông “khốt” Mạo không biết. Nhưng Thoan cảnh giác. Lâu lâu cũng có trung đội được biệt phái một thời gian đi công tác xa, mở theo tuyến vận chuyển. Thoan cử Lý đi. Cô ta còn tham gia nhiều lần vào những chuyến ra đường tuyến, tới kho của binh trạm, kho quân nhu nhận hàng về cho cụm. Nhờ những chuyến đi dã ngoại như thế dư luận giữa Thoan và Lý bị đánh tan. Thoan hiểu rằng con người bên trong Lý luôn sục sôi, quẫy đạp. Và anh còn tìm gì ở Lý? Xa Thoan, cô cũng chẳng buồn. Vào đầu năm nay, Ban chỉ huy cụm cánh bắc bổ sung cho đại đội B vận tải một số các chị từ ban B - Quảng Bình trở về và hai cô gái mới từ đồng bằng Quảng Điền đưa lên. Trong số đó có Nhu. Lập tức Thoan rút Nhu về đại đội bộ, còn Lý đưa xuống trung đội ông Mịch, tham gia vào chiến dịch vận chuyển.

   Thoan vẫn nhớ như in ánh mắt hằn học của Lý khi đeo gùi theo trung đội 2 về tuyến dưới lập trạm vận chuyển. Thoan giữ bộ mặt nghiêm nghị lạnh lùng của một anh chính trị viên, nhưng trong bụng thì lại cười thầm: “Tức anh làm gì cô em! Màn kịch đã hạ rồi...”. Suốt ba tháng trời, Lý không hề gửi cho Thoan một chữ. Cái ngòi gây nên cơn tức giận ở Thoan lại chính là Phong. Hình như Lý có cảm tình với Phong, kính phục Phong. Một anh bộ đội biết rất nhiều làng quê của Lý. Có những bữa cơm họ ngồi vừa ăn vừa nói chuyện về làng hoa ở đất Long Hồ. Trong khi Thoan chẳng biết gì về xứ ấy. Thoan uất. Phản ứng rất bản năng.

   - Càng có lý do để kết tội cậu ta - Thoan nói to ý nghĩ ấy thành lời, anh nhún chân vào vách đất cho võng lắc mạnh - Hừ, đã có gan chống lệnh cấp trên. Sợ chết. Giờ lại thêm một tội hủ hóa.

   Thoan bật đứng dậy khỏi võng. Anh chắp tay ra sau, đi đi lại lại trong nhà, giọng anh trở lên dõng dạc. Y như thể trước mặt anh đang có hàng trăm các chiến sĩ của đại đội, ngồi trên những khúc gỗ dưới tán cây rừng nghe anh giảng chính trị.

   - Thử hỏi tư cách một cán bộ, đảng viên như đồng chí Phong có xứng đáng hay không hở các đồng chí? (Một tiếng vọng mơ hồ dội lên: - Không xứng đáng! Khai trừ ra khỏi Đảng! Kỷ luật...). Trời ơi, vậy mà cả đại đội ta đều tin tưởng và yêu mến đồng chí Phong. Người ta hy vọng sẽ tìm thấy ở đồng chí Phong sự mẫu mực của một người lính giải phóng đã từng chiến đấu với kẻ thù (Tiếng vọng lại đội lên: Đúng đấy!).

   Đột nhiên Thoan dứt lời. Anh ngơ ngác nhìn ra ngoài trời. Trên tảng đá ở bến nước, Nhu đang ngồi giũ áo. Gió chuyển ào ạt. Tấm vải mưa căng ở hồi nhà một góc bị tuột mối dây, đập lật phật vào vách đất. Bụi tung mù mịt cuốn theo những chiếc lá khô lăn xuống suối. Nhu vừa đập áo vừa giấu mặt vào một bên tay áo, tránh bụi. Mưa. Đã nghe thấy những hột mưa to, trắng lốp, rơi lộp bộp xuống đất và xuống mái lá trên đầu. Vài phút sau đã là một màn mưa dày đặc, trắng trời, trắng núi. Thoan đứng khoanh tay trước ngực nhìn dòng nước đổ từ trên mái nhà xuống đất. Hẻm núi cạnh nhà chẳng mấy chốc đã biến thành một dòng suối trắng. Nhu đứng trong gian nhà kho gọi với lên một câu gì đó, Thoan nghe không rõ. Ba bốn cậu chiến sĩ của trung đội 1, áo quần ướt như chuột lột, đeo nặng những gùi rau lang, bắp chuối, lội ào ào dưới suối.

   Thoan cảm thấy lòng trống trải, buồn. Một nỗi buồn thường trực ẩn kín trong anh chồi ra bất kể lúc nào. Và hiện ra trước mắt Thoan, vẫn là chuỗi ngày buồn tẻ, vô vọng, lặp đi lặp lại đã nhàm chán. Sáng trưa chiều rút cục vẫn là ba bữa cơm rau rừng, nêm muối trắng, có thêm chút mì chính. Niềm ám ảnh hy vọng anh sẽ được trở về hậu phương vẫn không lúc nào buông tha trong tâm trí Thoan. Khao khát là vậy, nhưng để trở thành hiện thực lại rất mịt mờ xa lắc. Anh chưa tìm thấy một cơ hội nào. Chẳng thể trông chờ vào những cơn sốt rét để đi viện rồi thoát ra hậu phương. Sốt rét đối với Thoan bây giờ cũng như người phụ nữ tới kỳ, tới tháng. Nằm đúng ba ngày rồi cơn sốt tan biến đi, và đến tháng sau sẽ trở lại vào đúng ngày ấy. Mỗi buổi sáng mở mắt ra, dãy núi đá, rừng cây hiện hữu trước mặt Thoan. Ban đêm anh vẫn nhìn thấy chòm sao Tiểu Hùng Tinh trên đầu. Nhưng cái làng Lầm của Thoan thì xa vời vợi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #34 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 09:04:10 am »

12

   Tin em chết làm tôi choáng váng.

   Phải, lúc đó tôi chưa cảm thấy sự đau đớn như bây giờ. Buổi chiều hôm ấy tôi đã gặp đoàn người qua sông. Thằng Lân chẳng buồn bắt tay tôi. Và tôi nhận được tin em hy sinh, tôi choáng váng chẳng còn thiết gì nữa. Tôi đứng lặng trên bãi cát. Dưới bến sông, các cô gái mặc nguyên quần áo lội xuống dòng nước giá buốt. Con nước vẫn còn to, tràn lên bãi đá. Bình thường vào những tháng mùa khô nơi ấy trơ ra bãi cát vàng và vô số những tảng đá mốc xám. Ở đấy, mọc lên những bụi lau và giống cỏ thân cứng, lá sắc như lá mía. Tất cả bây giờ đều bị nhấn chìm trong làn nước lũ chảy cuồn cuộn, xô đẩy những bông hoa lau trắng vật vờ trên sông. Từ phía thượng lưu, thỉnh thoảng trôi về những cây gỗ nổi lập lờ. Bầy sáo đen đứng bình thản trên cây gỗ rỉa lông. Có con vọt bay lên chao cánh lượn một ygng rộng rồi hạ xuống bên lũ bạn ở đoạn dưới xa.

   Tôi nhìn theo đám người của huyện. Vừa hút thuốc lá, tôi vừa để mắt tới người cuối cùng đã bước lên bờ xa, họ đi nhanh vào rặng cây xanh lúp xúp chân núi.

   Trời đã ngả về chiều. Tôi ngao ngán nhìn con đường mòn dẫn lên đồi ông Mạnh. Vài trăm mét nữa, leo ngược dốc, tôi sẽ tìm được chỗ nghỉ chân đêm nay tại khu Ba Nhà, nơi phẫu Nhô đang lấy làm hậu cứ. Tôi chẳng vội vàng. Nhưng lòng buồn. Một nỗi buồn da diết. Suốt mấy ngày đường tôi đã hăm hở và hy vọng ngày về lại giáp ranh sẽ được nhìn thấy em. Bốn hộp sữa Ông Thọ, em gửi theo cáng thương binh của huyện lên cho tôi, tôi chưa dùng hết. Một lá thư viết bằng mực bút bi. Tôi không nhớ mình đã đọc bao nhiêu lần lá thư em trong lúc suốt ngày nằm nhìn mái lá, đếm từng cây đòn tay. Chốc chốc tôi lại giở thư ra đọc. Mép gấp lá thư đã sờn, một vài chỗ rách: Em báo tin vẫn về được làng. Đại đội 1 của tôi thêm ba người hy sinh: thằng Thắng, cậu Khanh trung đội phó và thằng Cành. Đại đội phó Quảng bị thương nặng, đưa vê tới Miếu Trâu thì mất. Toàn trung đội trưởng B3 được đưa lên thay Quảng. Riêng huyện đang đề nghị thành phố xin em về địa phương. Nhưng bí thư thành ủy trực tiếp điện sang không chịu nhả “con trâu sắt”. Tôi phì cười. Chả có lần em hỏi: “Con trâu sắt” là chi anh?”. “À, chiếc máy cày”. “Rứa mà cũng mần cho rắc rối”. “Mấy ông nghệ sĩ họ gọi vậy”. Và bây giờ em lại tự ví mình là một “con trâu sắt”. Cũng chẳng sai, một “con trâu sắt” đang góp phần phá banh những ấp chiến lược của địch, mở thông cánh cửa về đồng bằng.

   Em còn kể: Những “lõm” đã hình thành. “Thư ni tới được tay anh, chắc chắn lúc ấy em đang ở một “lõm” nào đó. Tất nhiên, bên bộ đội các anh chưa phải chịu cái cực ấy. Cực mà vui. Vô dân gần gần là. Mới 6, 7 giờ tối tụi em đã có thể đàng hoàng vô trong ấp. Nhiều khi dân phát hoảng. Nhưng cũng thiệt nguy hiểm. Anh đã hay tin Cúc, con chú Thùy kinh tế, chị Mai bị tụi ngụy lật hầm hay chưa? Cả hai người tung lựu đạn, nhưng giữa ban ngày không thoát khỏi tay tụi bảo an. Có điệp báo mà…”

   Bây giờ đến lượt em. Không ai kịp nói cho tôi hay nguyên do dẫn đến cái chết của em. Phải chăng mọi người thương tôi, không muốn nhắc đến những chuyện đã qua, làm cho tôi thêm khổ. Hoặc giả họ nghĩ mối quan hệ của tôi với em chỉ là câu chuyện đàm tiếu cho qua đi những giây phút căng thẳng ở vùng ranh. Cũng có thể có người nghĩ: Tình yêu trong chiến tranh! Một câu chuyện cực kỳ lãng mạn, ngớ ngẩn. Cơm không đủ ăn, thức trắng mắt lo đi đồng bằng kiếm gạo, đánh giặc, yêu với đương chi? Một trò đùa phi lý. Không ai trách họ là không có lý. Chỉ có cái lý riêng của tôi và em, được định hình và liên kết bởi con tim, thách thức với cuộc sống và sẵn sàng trả giá cho mọi sự bất trắc.

   Nhô gặp tôi ở bến nước, hốt hoảng:

   - Anh Phong sốt hả?... Ngồi ở đâu mà bây giờ mới tới?

   Tôi thú nhận với Nhô là ngây ngấy sốt. Cũng là một cách để trốn tránh mọi người, tìm chỗ mắc võng nằm cho yên tĩnh khỏi ai hỏi han, quấy nhiễu. Đêm pháo địch từ dưới đồng bằng bắn lên dữ dội ở khu vực địa đạo 310, 360. Một vài quả lạc rơi vào gần trạm phẫu. Đã ngửi thấy mùi của chiến tranh qua những tiếng đạn pháo đào sâu vào lòng đất, lòng rừng. Từ đây trở về thấu giáp ranh chẳng còn ai đi lẻ. Phải tổ chức đội hình chiến đấu. Lính Mỹ đang càn ở khu vực Khe Trái, đổ ra ngả đường 12. Từng đại đội lính ngụy đi càn rừng. Và pháo dập bất tử vào mọi điểm cao. Nhưng hình như tôi chẳng bận tâm tới đoạn đường về, còn ba chặng nghỉ nữa. Tôi chỉ nghĩ tới em cùng những giày vò, vật vã. Ngủ được chắc hẳn tôi sẽ dễ chịu. Nhưng đôi mắt tôi cứ mở thao láo nhìn lên vòm cây xanh trên đầu, nhìn những cọng lá nón non mỡ màng đang run rẩy trong ánh nắng vàng còn rớt lại cuối ngày chiếu vào. Chân trời phía tây vành ệch, màu mỡ gà. Đã thấy lác đác xuất hiện những ngôi sao tựa như ánh bạch kim đính trên mảng da trời xanh ngắt. Và đển một lúc tôi chợt bừng tỉnh nhận ra xung quanh, bóng đêm đã trùm phủ cánh rừng, khí lạnh từ ngoài sông tràn về tê tái.

   Mười ngày sau tôi đã cùng với Hảo tổ chức một trận đánh lớn về Thanh Lương. Tụi bảo an bỏ chạy để lại bốn xác chết. Thu 14 khẩu súng. Bộ đội làm chủ Phe Nhất ba tiếng đồng hồ. Họp dân ở chợ, rải khẩu hiệu cách mạng trắng đường. Hảo còn cho treo cờ giải phóng lên nóc đình làng.

   Lúc trở về tới ngang Xóm Mới du kích xã Y ra đón. Mười bảy ngôi nhà dân ở đây đều là cơ sở cách mạng của xã, của huyện. Nhiều gia đình có chồng con đang nằm trong đội công tác hoặc ở cơ quan huyện ủy, huyện đội. Những chuyến đi đồng bằng bộ đội du kích lọt được vào Xóm Mới, thực chẳng khác nào như về nhà, gùi không hết gạo, lạc. Tụi địch ở quận và hội đồng hương chánh xã biết điều ấy, nhưng không làm gì được. Chả lẽ đem tất cả già trẻ lớn bé của Xóm Mới đưa lên Trường Bia bắn bỏ. Đám nghĩa quân các thôn khác tới kìm kẹp dân Xóm Mới cũng dữ. Nhung chúng sợ bị bộ đội giải phóng về đánh. Thành thử thường xuyên tụi bảo an, lính biệt kích nằm phục kích trên tuyến đường sắt cửa ngõ để lọt vào Xóm Mới. Đêm nay, Xóm Mới không có địch.

   Đèn đuốc trong nhà thím Tư Biều sáng trưng. Trông thấy tôi, thím mừng hú.

   - Trời ơi! Mày còn sống thiệt hả Phong? Xíu, Ly ơi... Anh Phong của chúng bay về đây nè. - Thím Tư líu ríu gọi con.

   - Chẳng lẽ thím mong con chết? - Tôi đùa.

   Một cái phát vào vai tôi rát ràn rạt.

   - Phỉ phui cái mồm của mi. Bữa tao nghe tin con Tâm báo rằng mi bị lủng ruột. Tao nghĩ phen ni thôi rồi... Trong tâm tao cứ khấn thầm Trời Phật phù hộ cho mi qua khỏi... Nói có ngọn đèn con ơi! Ăn uống chi chưa Phong?

   Hai cô con gái của thím Tư Biều trong màn chui ra, chào tôi, chưa tỉnh ngủ. Thím Tư nhủ con Xíu vào trong bếp nấu mì. Tôi gạt đi, thím Tư chẳng chịu. Thím còn bắt tôi vạch áo, coi thử vết mổ.

   - Mi hay tin con Tâm hy sinh rồi chớ? - Thím Tư nhìn tôi.

   - Con muốn hỏi thím Tư cho rõ sự thể thế nào. Ở trên huyện người ta biểu: Tâm bị pháo bắn, hy sinh ngay tại cứ...

   - Thiệt răng? - Thím Tư nhìn tôi kinh ngạc.

   - Dạ. Họ nói vậy đó.

   - Cha trời! Bữa nớ, đêm hăm ba tháng mười âm, chừng 2 giờ khuya, thằng Lân đột vô đây. Áo quần trên người nó ướt như chuột lột. Tụi bảo an không có ở trong xóm nhưng lại rải đầy từ nhà ông Thôi, tới Xóm Ga. Tao lấy cơm cho nó ăn. Đến lúc thằng Lân sắp đi, mới bảo tao một câu như ri: “Tâm hy sinh rồi”. Tao rụng rời chân tay: “Lúc mô? Mà vì răng hy sinh?”. “Pháo dập túi bụi vô cứ, sập hầm. Một cái mảnh găm vào bụng cổ. Máu ra nhiều quá, chết hồi chiều nay”. “Trời đất quỷ thần ơi!”. Cả đêm tao không hề chợp mắt lấy một khắc con ạ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #35 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 09:05:33 am »

   Thím Tư Biều biết chuyện riêng tư của hai đứa tôi. Vài lần Tâm đã đưa tôi tới nhà thím, lấy gạo, nắm tình hình địch. Nghe Tâm nói thím có họ xa với ba Tâm. Thím Tư nói chuyện này với tôi, hẳn là có ý. Thím kể:

   - Sáng mai tao làm một đôi quang gánh đi cắt cỏ lần mò tới Xóm Bầu. Dọc đường gặp mấy thằng nghĩa quân rủ nhau đi bắn chim ở Làng Thượng. Ngó thấy tao, chúng chẳng hỏi một tiếng. Quả là ở bìa làng có mấy hố pháo bắn, vạt tre đổ ngả nghiêng. Tao đã hoảng. Đi sâu vào chỗ cứ tụi con Tâm ém quân, tuyệt nhiên không có một vết pháo bắn. Căn hầm vẫn còn nguyên vẹn. Tao càng nghi. Chẳng lẽ thằng Lân xạo? Tao quyết định sang khu hầm trú của xã Y... Ở đây cũng không hề có một trái đạn pháo nào nổ tới. Nhưng căn hầm bị sập lở. Không còn thấy nắp cửa hầm đâu nữa. Mới sáng mà người tao cứ toát mồ hôi hột. Vạt lưng áo nhớp nháp. Thằng Lân chôn con Tâm ở dưới gốc cây bưởi. Lớp đất cát mới đào hồi đêm chưa se mặt. Chẳng biết nghĩ răng tao quyết định moi đám đất lên. Tao còn tìm thấy được cả cái xên thằng Lân giấu trong bụi dứa dại... Đúng là con Tâm đã chết thiệt, con ạ.

   Gương mặt tôi hẳn lúc đó căng thẳng lắm. Thím Tư nhìn tôi giây lát, se sẽ lắc đầu. Rồi không ngừng được thím rơm rớm nước mắt.

   - Thím thấy chi? - Tôi hối thúc.

   Mãi sau, thím Tư mới bảo:

   - Nó chết thiệt, nhưng không phải do pháo bắn. Áo quần bê bết đất. Vạt áo sau lưng máu chảy ra đen đặc. Tao nhìn thấy một lỗ thủng nhỏ chỉ bằng đầu đũa. Mi coi thử có lạ không? Hai ngày sau, tụi nghĩa quân ở Phú Ổ mới phát hiện ra cứ của tụi thằng Lân. Mộ của con Tâm, chúng quật lên cho xe chở về trước cổng chi khu Hương Trà... Tao ngờ thằng Lân làm điều ám muội với con Tâm, Phong ạ...

   - Thím đã nói chuyện này với ai chưa?

   Thím Tư Biều nhìn tôi lắc đầu, nhưng lại nói:

   - Ít ngày sau, con Lành về, tao gặp và gởi một cái thư báo chơ ông Ngọc.

   Tôi không sao nuốt nổi chén mì nấu thịt hộp của con Xíu ép ăn. Cổ họng đắng nghét. Tôi tự hình dung ra mọi chuyện (Chao ôi! Nếu là sự thật thì kinh khủng quá). Hèn chi, thằng Lân bữa gặp tôi ở sông Bồ, tay nó run run rút điếu thuôc lá châm lửa, hắn đã không dám nhìn thẳng vào mặt tôi. Nhưng tại sao ông Hai Ngọc lại nói với tôi như vậy? Anh em trong huyện cũng hiểu vậy?

   Nỗi đau trong tôi tự phân thân. Nửa phần thương nhớ em. Nửa phần còn lại bị dằn vặt bởi bao câu hỏi chỉ riêng tôi tự tìm cách lý giải. Chẳng lẽ, là “đồng chí” với nhau con người ta lại có thể tàn nhẫn vậy ư? Chẳng gì thằng Lân cũng đã từng làm chủ tịch xã T. Hiển nhiên hắn phải biết chuyện quan hệ của tôi với em. Chẳng lẽ, cái dục vọng đớn hèn của con người lại có thể đạp đổ mọi quan hệ đạo đức, tình cảm thiêng liêng nhất? Tôi vào đời đi qua những trang sách hồng, tự nuôi sống mình bằng những khát vọng cao cả... Tôi đã tìm ra mẫu người anh hùng trong tiểu đoàn 10, trong những người lính C1 của tôi. Tôi đã tìm thấy ở em, ở thím Tư Biều, ở ông già Miên... Bây giờ tôi lại tìm thấy một âm bản khác của chiến tranh, những con người như Lân, Tam, Thoan...

   Bất giác, tôi thấy kinh tởm buồn nôn. Cảm giác y hệt như mỗi lần lên cơn sốt rét nhìn và ngửi thấy cái mùi môn vót nấu với dầu xà lách. Thực là khủng khiếp ghê sợ.

   Tôi đã gặp lại thằng Lân trong một chuyến chuyển gạo ra sông Bồ. Hắn giữ kho cho huyện. Da mặt trơn láng chắc hẳn vì chưa bao giờ chịu đói và suốt ngày ăn cá chình sông Bồ béo múp như cái đầu của hắn.

   Thoáng thấy bóng tôi xuất hiện sau mỏm đá thằng Lân chui vào trốn trong gian nhà kho. Tôi cứ lừng lững bước tới, đặt ba lô xuống giá đỡ. Luồng mắt của tôi bắt gặp ánh mắt của Lân. Hắn cụp mặt xuống, và hơi tái đi khi thấy tôi đặt tay vào bao súng ngắn... Dễ tới một phút tôi nhìn hắn. Hắn run run, đôi mắt lấm lét liếc nhanh tới chỗ để khẩu AK. Tôi gầm lên:

   - Thằng khốn... Hóa ra mi hèn hạ đến như vậy! Đừng có động vào cây súng. Mi không bắn giỏi bằng tao đâu.

   Tay tôi cũng run, nhưng đây là cái run của một cơn giận bùng lên bất chợt.

   Thằng Lân cúi mặt. Tôi nhổ nước bọt và quay đi chậm rãi, bước ra mép bờ sông Bồ, trước con mắt kinh ngạc của ông Mịch. Ông đi sau tôi chỉ cách có một đoạn. Ông Mịch chứng kiến tất cả và lặng lẽ theo dõi. Tôi nghe rõ cả tiếng thở dồn dập của ông phía sau lưng.

   Mặt sông gợn sóng lăn tăn. Những con cá xanh ăn quẩn sát bờ nghiêng cái bụng sáng loáng. Tôi tưởng như thấy hiện lên từ dưới làn nước trong gương mặt trắng hồng của em.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #36 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 02:56:08 pm »

13

   Ngật xòe ra một mảnh giấy đã được vê tròn gói trong một miếng ni lông, gắn lửa. Cường hấp tấp lấy mũi dao tách từng lóp vỏ nhựa và rút ra tờ giấy chỉ nhỏ bằng bàn tay. Chỉ có vài dòng chữ khô khan, khó hiểu với bất kỳ ai, nếu vô tình nhặt được nó dọc đường.

   “Ba đã nhận được thư con ở Huế chuyển vô. Biết mẹ con và con mong. Ba không mần răng thu xếp được thời gian vì dạo ni công việc bề bộn. Ở đây mưa nhiều, đường xe đi lại vất vả. Cho ba gởi lời thăm hỏi chú N. Ba và nội con cám ơn chú hung. Chú đã chăm sóc con trong ngày con đau. Nếu con chưa khỏi bệnh, ngoài rằm em con sẽ ra thăm. Ba gởi cho mẹ con ít tiền, con nhờ chú N đón.
   Thương con và mong con mau khỏe.
   Ba của con
   Huyền”.


   Cường đọc xong mỉm cười và giơ tờ giấy cho Ngật. Hơi ngại ngần một chút, rồi anh ta cũng cầm lấy lá thứ lẩm nhẩm đọc.

   - Tôi chẳng hiểu chi cả. - Ngật lắc đầu, đưa trả lại.

   - Anh có việc đây - Cường bảo Ngật - Anh sẽ chuẩn bị đón cô em họ của chị Ngật từ Huế ra thăm.

   - Em họ mô? Vợ tôi mần chi có cô em họ mô ở Huế. -Ngật không hiểu.

   Cường cười.

   - Người của cách mạng về gặp anh. Cách mạng cảm ơn và biểu dương vợ chồng anh đó.

   Anh chỉ cho Ngật coi dòng chữ và giảng giải. Anh ta lúc ấy mới vỡ lẽ, chợt đỏ mặt.

   - Đón ra răng đây? - Ngật không khỏi lo lắng.

   - Tất nhiên, cấp trên đã có kế hoạch... Ta sẽ tính.

   Từ chiều mười bốn, Ngật đã đưa con về thăm cha ở ngoài Tứ Hạ. Chỉ còn mỗi chị Ngật ở lại trông nhà và lo cơm nước cho Cường, kiêm luôn nhiệm vụ cảnh giới. Sáng hôm sau, Ngật đi honđa về sớm, quét dọn nhà cửa, cuốc cỏ ở mảnh vườn trước nhà và thỉnh thoảng để mắt ra con đường.

   Chừng 9 giờ sáng vợ Ngật ở chợ về, đi kèm với một cô gái mặc quần Jean, áo thun, cổ rộng, đi trên một chiếc xe honđa nữ còn mới. Vợ Ngật ngồi ở yên sau, tay cắp chiếc làn nhựa thò ra cổ hai chú vịt. Chiếc xe honđa đi thẳng vào sân. Tự nhiên như thể đã quen biết nhau từ lâu, cô gái gỡ cặp kính râm kêu to:

   - Anh Ngật.

   - Ồ cô... - Ngật lúng túng.

   Vợ Ngật đã vội trách:

   - Anh thiệt mau quên, con dì Bảy đó... Ngày cưới mình nó còn mặc juýp, tết tóc đuôi sam. Chừ đã lớn chừng ni. Vô nhà nghỉ Sen!

   - Cha trời, cô Sen... - Ngật cười ngượng ngập - Hèn chi anh già là phải.

   - Bữa Tết em không về thăm anh chị được. Công chuyện cuối năm bù đầu.

   Ngật đưa cô gái vào trong nhà. Sen nói:

   - Dọc đường từ An Hòa ra thấu lối rẽ vô đây có hai thằng thanh niên đi honđa bám em riết quá.

   - Tụi nó theo dõi cô hử? - Mấy sợi râu của Ngật kẽ rung rung.

   Sen phá lên cười:

   - Đâu có! Hai cậu thanh niên chọc chơi. Tới khi nhận ra chị Ba, em dừng xe, hai anh chàng cũng dừng xe. Chị Ba bảo: Này hai cậu, hai cậu đi đi cho chị em tôi nhờ. Cô em tôi có chồng, hai con rồi đó nghe. Chồng nó làm ở ty cảnh sát đó... Hai chàng thanh niên đỏ mặt nổ máy vù xe thẳng ra An Lỗ. Họ học ban triết.

   Cô gái nhìn quanh ngôi nhà. Sen mở nắp túi xắc. Anh Ngật biết ý lảng ra ngoài sân.

   Một lát sau, Sen gọn gàng trong bộ đồ kẻ, sẫm màu. Cô gái đi xuống bêp. Vợ Ngật đang sắp đồ đi chợ về vào trong chiếc rổ nhựa. Chị gọi vọng ra sân:

   - Anh Ngật, giúp em một tay. - Chị chỉ hai con vịt -Cắt tiết đi.

   Ngật cầm con dao bài, liếc lưỡi dao soàn soạt vào hòn đá mài đã bị vẹt lõm ở giữa.

   - Cô mô giữ vịt đây? - Giọng Ngật vui vẻ.

   - Để em! - Sen đáp và xắn cao tay áo.

   Khi ấy, Sen mới hỏi Ngật:

   - Anh Cường nằm ở chỗ mô anh Ba?

   Ngật đưa mắt ra ngoài bụi tre.

   - Cô yên tâm. Vợ chồng tôi với anh Cường trông cô mỏi mắt. Nhưng bây giờ ra gặp chưa nên. Cô mới ở Huế về, bà con quanh ấp để ý. Lúc vô đây cô có thấy mấy thằng nghĩa quân ngồi ở đình không?

   - Có! - Sen đáp nhỏ. - Và cô hỏi rất tự nhiên - Anh định đánh tiết canh hử?

   - Cô có ăn được thứ ni không?

   - Được chớ!

   - Rứa cô hơn chị Ba rồi đó nghe.

   Vợ Ngật đang ngồi nhặt rau ở ngoài sân hỏi vọng vào:

   - Này ông, nói xấu chi sau lưng tui đó?

   - Tui biểu với cô Sen, bà không ăn được tiết canh vịt.

   - Cha trời, ai ăn những thứ nớ.

   - Dạ, cô không ăn để đấy cho anh em tôi, phải không Sen?

   Ông Đạm, một người hàng xóm ở kề sát nhà Ngật lững thững đi vào sân. Vợ Ngật hắng giọng báo hiệu cho chồng.

   - Chú Ba có nhà không?

   - Dạ, nhà cháu đang mắc tay. - Vợ Ngật nói to - Ông vô xơi nước. Anh Ba ơi!

   Ngật và Sen cùng ló đầu ra. Ngật bỏ dở con vịt chưa vặt sạch lông bước ra ngoài. Tay còn dính lông vịt.

   - Ông... Chả có cô em trên Huế về chơi... - Ngật phân bua.

   - Này tôi sang tính bàn với chú, mai cày giúp cho một buổi. Mấy hôm rày tôi bị đau lưng. Ruộng mới mưa. Sợ để vài hôm nữa khô nước khó cày.

   - Dạ... Con sẽ cày giúp ông. - Ngật sốt sắng nhận lời.

   - Còn khi nào gặt trả công sau. Được chưa?

   - Ông khỏi lo việc đó. Sáng mai con đưa máy cày ra. Mảnh bốn sào của ông cày buổi sáng là xong chớ mấy.

   - Phải.

   Ông Đạm vẫn chưa chịu buông tha. Đi vài bước ông dừng lại ngắm dãy hoa huệ của nhà Ngật trồng trước cửa. Tết qua lâu rồi, những gốc huệ nay mới trổ bông.

   - Chà! Nhà chú có luống huệ đẹp quá. Răng không cắt mang ra chợ bán? Vô khối tiền đấy nghe. Bà nhà tôi bữa qua đi chùa, phải mua tới bốn trăm một bình bông huệ.

   - Dạ, nhà con trồng chơi. - Vợ Ngật đứng lên cầm cành rào xua đàn gà mẹ con từ ngoài vườn trồng mì tràn vào sân.

   Ngật định vào bếp nhổ lông vịt. Vợ anh bảo nhỏ:

   - Anh xong việc rồi đó. Ngó canh chừng. Để vịt đấy tôi với Sen làm.

   Ngật ra vườn, cầm cuốc xới đám cỏ đang bỏ dở.

   Ngoài bụi tre đầu cổng thấp thoáng bóng áo lính. Ngật chống cuốc vào vai, nhổ nước bọt xoa xoa hai bàn tay, mắt dõi theo từng bước của hai gã nghĩa quân. Nhận ra thằng Đồng người quen bên Phú Ổ, Ngật gọi thiệt to:

   - Ê, Đồng. Hai đứa mi mần chi rứa?

   - Tụi em kiếm con chim ăn chơi anh Ba. - Một trong hai tên nghĩa quân trả lời và giơ cao khẩu các bin. Loại súng kiểu cũ, nay trang bị cho đám phòng vệ dân sự. Bây giờ lính bảo an, nghĩa quân không còn dùng tới thứ súng đó nữa. Tụi ngụy thường mua đạn súng săn, lấy súng các bin đi bắn chim cò.

   - Nè, các cậu sang bên rặng tre bờ đầm mà bắn. Chim chuột ở đó chứ mô đấy. Coi chừng mấy con gà của tao bay loạn lên bây giờ.

   Hai thằng nghĩa quân cười hô hố:

   - Ông anh khỏi lo. Súng của tụi em có mắt. Bắn chim chớ chẳng thèm nhắm vào mụ gà mái già nhà anh Ba mô nghe.

   Ngật nghe tiếng hai chị em Sen trong nhà cười rúc rích.

   Cái cô gái tên là Sen, “em họ” vợ Ngật, chính là Hạnh. Bây giờ cô đang nằm nghỉ trưa trong căn buồng nhỏ, che ngoài cửa thông với gian nhà ngoài bằng tấm ri đô hoa đã ngả màu. Chốc chốc, Hạnh lại liếc nhìn vào chiếc đồng hồ đeo tay. Chú Năm Đổng, một cán bộ của thành ủy, hoạt động hợp pháp tại Huế đã trang bị cho Hạnh một bộ áo quần hợp thời trang. Chiêc quần jean, áo thun khoác bên ngoài chiếc áo dạ xanh, xoa thêm chút phấn, đeo gương, Hạnh cũng phải ngạc nhiên về sự đổi thay ngoại hình của mình. Cô chẳng thua bất kỳ một cô gái đẹp nào ở thành phố, có phần dịu dàng hơn. Mai Ly, con gái chú Năm, hé cửa nhìn vào thấy Hạnh phải bật khen:

   - Cha trời! Chị Hạnh đẹp mê hồn há.

   Chú Năm khuyên Hạnh:

   - Ăn mặc, đi đứng, nói năng phải y hệt người thành phố. Cháu đừng để mắt tới tụi lính tráng, cứ phớt tỉnh. Có vậy chúng mới ớn. Giấy tờ tùy thân của cháu đều hợp pháp.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #37 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 02:59:46 pm »

   Chú Năm Đổng còn cấm Hạnh gặp và tiếp xúc với Cường ban ngày và tận dụng mọi khả năng để tìm hiểu thêm về vợ chồng Ngật. Hạnh cứ ân hận mãi một việc là nhận được tin báo khẩn cấp của Cường muộn màng. Cửa rừng bị địch cắm trại, hành quân suốt dịp Tết, chúng sợ một Mậu Thân nữa có thể xảy ra (!). Hai lần đội biệt động về tới Phú Ổ và Bồn Trì đều vấp địch phục kích. Địch đã hát hiện ra con đường về đồng bằng qua ngả dốc Mồng. Đoạn đường chiến lược bao quanh dưới chân Hòn Vượn, Am Cây Sen, bến Vượt trên con hói cắt ngang cánh đồng Hương Thái thực sự trở thành những nơi hiểm địa. Liên tục những trận đánh phản phục kích xảy ra trên đồng trống mà quyền chủ động nổ súng thuộc về tụi ngụy. Các đội công tác, đội biệt động huyện, trinh sát, đường dây thành phố, thậm chí cả những người lính trinh sát của quân khu về bám Hòn Vượn, theo du kích về đồng bằng lấy gạo cũng bị vấp địch, hy sinh. Có thể coi trận mở đầu đánh dấu sự thất thiệt cho lực lượng vũ trang huyện là đêm tấn công về Bầu Tháp.

   Đêm hăm nhăm, rạng ngày hăm sáu tháng chạp. Hạnh nằm trong căn cứ dưới chân Hòn Ngang khắc khoải không ngủ được vì thấy tụi ngụy trên đỉnh Hòn Vượn liên tục bắn pháo sáng suốt đêm xuống đồng bằng. 4 giờ sáng cô đã thức dậy nấu cơm, đợi những người đi đồng bằng đêm qua của xã lên ăn. 6 giờ cô bật sóng rađiô bắt đài Huế. Tin bản đài cho hay: “Đêm qua, tại cây số 12, cách chi khu Hương Trà ba cây số về phía bắc, Quân lực Việt Nam Cộng hòa thuộc trung đoàn 54, sư đoàn 1 bộ binh đã chạm súng với một lực lượng khá đông của địch. Sau một giờ mười phút giao chiến. Bốn cộng quân trong đó có một nữ cộng quân đã bỏ xác tại trận. Các chiến sĩ trung đoàn 54 thu tại chỗ ba súng AK 47, có một cộng đồng phun lửa B40 và bốn quả đạn hỏa tiễn. Tin thêm của phóng viên mặt trận gởi về cách đây nửa giờ cho hay: vào lúc 5 giờ sáng nay, một đại đội thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 54 đã triển khai kiểm soát tảo thanh toàn bộ khu vực chiến cuộc xảy ra hồi đêm. Phát hiện thêm một cộng quân bị thương trong tình trạng hôn mê, có nhiều vũng máu trong khu vực lăng mộ gần đó. Thu thêm một AK 47. Hiện tại, tên cộng quân bị thương đã được chở về Huế khai thác”.

   Giọng thằng phát thanh viên tỉnh khô, Hạnh nghe xong chết lặng người.

   8 giờ sáng những người đi đồng bằng đầu tiên trở về. Tiếp theo hai cáng thương binh của đội biệt động huyện. Xã Y mất chị Điều, Cường, Mộc. Xoong cơm Hạnh nấu tới sáu lon vun. Cả “nhà” không một ai đụng đũa. Cậu Khản chiến sĩ đại đội 1, về xã cùng một đợt với Mộc, ngồi ôm mặt khóc rưng rức. Chú Miên ngó hai chị em Hạnh không sao chịu đựng nổi cái cảnh ấy, cầm khẩu AK lên mỏm đồi Cây Khế cảnh giới.

   Hạnh cũng khóc, nhưng cô không khóc thành tiếng. Nước mắt cứ ứa ra. Cô để mặc cho dòng nước mắt tuôn trên gò má. Cổ họng ứ nghẹn. Chưa một ai trong số những người trở về đủ tính táo kể lại cho cô nghe diễn tiến trận đánh. Chỉ cần nhìn hai cáng tải thương loang máu, những vạt áo lính loang máu, bùn đất nhớp nhúa, những gương mặt phờ phạc sau một đêm mất ngủ. Cô đoán hiểu ra tất cả tính chất ác liệt của trận đánh đêm trước. Chỉ tính riêng xã Y, đi bốn người mất ba, trở về còn có mình Khản. Tổn thất thực lớn lao. Dường như Hạnh thấy mình phải gánh chịu một phần trách nhiệm. Một lỗ hổng về lực lượng xã chưa biết lúc nào bù đắp được.

   Bảy người bộ đội C1 về chưa đầy một năm, giờ còn sót một. Bốn người trước hy sinh rải rác trong một cuộc chạy đua giành đất, giành dân tạo lại thế đứng chân với kẻ thù. Mỗi một người hy sinh, không khí trong “nhà” có buồn, lâu dần được khỏa lấp. Trận đánh này, trong một đêm xã Y mất luôn ba người. Hai đảng viên, và Mộc đang trong thời kỳ thử thách. Hỏi còn chi đau đớn hơn với một cô chủ tịch xã?

   Hạnh bỏ cơm. Nuốt răng vô! Cô leo lên võng nằm sau khi bắt Khản thay đồ và vào trong hầm nằm nghỉ. Cô nghĩ tới Mộc, người cô coi như em út trong nhà. Ngoài Cường, còn sáu người chiến sĩ cùng về với anh đợt đó, chưa ai vượt qua tuổi mười tám. Tính nết khác nhau nhưng đứa nào cũng dễ thương. Chẳng vậy “bố Miên” quát nạt bọn trẻ khi chúng ăn ở sơ sểnh, hoặc làm trái ý chú, như thể mắng con cháu trong nhà. Không một đứa nào giận lẫy, chỉ nhe răng ra cười trừ, và “rút kinh nghiệm”.

   Hạnh thương Mộc. Cậu ta mất mẹ từ năm lên mười tuổi. Cha đi lấy vợ hai. Một người đàn bà tàn nhẫn, độc ác. Hai chị em Mộc nhiều bữa nhịn đói chỉ vì không cắt đầy gánh cỏ, gánh lá về ủ phân xanh mà bà ta đã khoán trước mặt một ông bố bất lực. Chị gái Mộc bỏ học từ năm mười bốn tuổi, cô có sức khỏe, chăm chỉ, được nhận vào làm lò gạch ở hợp tác xã để mỗi vụ lấy sáu mươi công. Đồng đất trung du mùa màng thất thường. Có vụ, mỗi công chỉ được ba lạng thóc. Đêm trăng sáng hai chị em vào chân núi phát cây rừng, trồng thêm sắn. Nhờ đó, hai chị em đã qua những ngày đói kém, giáp hạt, thỉnh thoảng lại còn lén cho bố vài đồng để ông mua thuốc lào. Lên tới lóp 9, Mộc bỏ học. Cậu xin với chị và bố cho đi bộ đội.

   Mộc thật thà tới mức đáng thương. Ngày mới về, Hạnh cho Mộc đi đồng bằng và đưa vào nhà dân. Bà mẹ ở cơ sở nhìn Mộc, không sao tin được bộ đội giải phóng lại có người trẻ tới như vậy. Hỏi ra tuổi thiệt Mộc mới mười bảy. Mộc vừa thẹn, vừa ngỡ ngàng khi thấy các cô gái đồng bằng mặc quần trắng, quần hoa. Hạnh giải thích đấy là đồ bộ, phụ nữ miền Nam mặc trong nhà. Còn đi phố, người già, các cô mặc áo dài.

   - Quê em con gái mặc quần đen. - Mộc bảo - Các bà có người còn quấn mấn (váy).

   Hạnh mỉm cười, tuy cô không tiện hỏi Mộc “mấn” là cái chi?

   Mộc vào trong gian gác của các gia đình nuôi heo thấy có xếp những bao sữa. Nồi cám heo nấu bằng sữa bột. Cậu không sao hiểu nổi dân ở đây lại có thể lãng phí đến như vậy, mua sữa bột cho heo ăn? Còn gian chuồng lợn rộng rinh rang nuôi cả chục con heo Mỹ trắng bóc. Sàn xi măng láng bóng như nền nhà. Tuyệt nhiên không có phân hoặc rơm rạ lót ổ cho lợn.

   Hạnh lại phải giải thích, cặn kẽ, tận tâm như một cô giáo kèm học trò nhỏ. Cũng như cô đã dạy cho Mộc biết cách gài mìn, phát hiện địch trong làng. Một bữa, Hạnh phát hiện ra trên đầu Mộc có chấy. Cả sáu cậu bộ đội đều có thứ của nợ ấy (Cô không tiện kiểm tra Cường!). Cô nấu nước với hạt mãng cầu, bắt cả sáu cậu em gội đầu, tự tay cô dùng lược dày chải tóc cho tới kỳ hết những con chấy sống ký sinh trên da đầu.
   Gọi là cơ quan của một xã vùng giáp ranh, ngoài công việc hàng ngày chia nhau xuống làng xây dựng cơ sở, nắm địch, mua gạo cơm... nhưng quan hệ cư xử, công tác chẳng khác nào anh chị em trong một gia đình đông con: mười một miệng ăn. Ngày bộ đội mới về xã, Hạnh đã phải vào dân xin thêm một chiếc xoong nhôm to, mới đủ nấu ăn cho chừng ấy con người. Hạnh, chú Miên, chị Điền, nhìn những thanh niên trẻ khỏe bỗng dưng thành người của mình, mừng hết chỗ nói.

   Vậy mà số người của xã Y cứ hao hụt dần sau mỗi trận đánh, chẳng khác nào người đi buôn bị thâm lạm vào vốn từng ngày. Và trận đêm qua nữa... Nghĩ tới đó, Hạnh lại ứa nước mắt.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #38 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 03:01:49 pm »

   Tới 10 giờ trưa, chú Sáu bí thư huyện ủy cho cậu công vụ đem thư tới mời Hạnh sang họp. Đến nơi, đã thấy đông đủ những cán bộ “sừng sỏ” của huyện đội và các xã ngồi trên chiếc sạp trong ngôi nhà hầm của huyện ủy.

   Thường vụ huyện ủy còn đang họp. Ánh sáng ngọn đèn dầu hắt ra từ căn hầm có rèm vải che cửa. Mười phút sau chú Sáu, chú Hai Ngọc, chị Mai... bước ra. Nét mặt ai cũng căng thẳng.

   - Thưa các đồng chí - Chú Sáu mở đầu cuộc họp - Thường vụ huyện ủy mời các đồng chí tới để bàn công chuyện gấp. Nhiều đồng chí đã biết đêm qua huyện ta gặp phải tổn thất rất lớn trong trận đánh về Bầu Tháp...

   Chú Sáu nói chừng mười phút, giao nhiệm vụ và mọi người ngồi thảo luận phương án tác chiến.

   3 giờ chiều, một mũi biệt động huyện đột kích ra cửa rừng do Châu chỉ huy. 7 giờ tối tổ đi đầu gặp địch ở ngoài đường chiến lược. Châu cho triển khai đội hình đánh. Bắn được ba trái B40, nhưng đội biệt động huyện mất thêm một người, một bị thương...

   Lá thư của Cường từ hộp thư chết phải đi theo con đường vòng vo, vào Huế, chuyển theo đường dây cánh nam về Hương Thủy, lên tới tỉnh rồi mới trở lại cánh bắc theo đường dây giao liên. Sau khi cân nhắc huyện ủy quyết định cử Hạnh về gặp Cường. Cửa rừng vẫn bị tắc, Hạnh vượt đường 12 sang Hương Thủy, nghỉ lại ở Thủy Dương một ngày. Sáng hôm nay, cô cải trang lên xe lam về Huế, tới nhà chú Năm Đổng nhận kế hoạch để về Liễu Thượng.

   Vào một buổi tối, Hạnh đã cùng với cô bé Mai Ly đi chơi phố. Hai chị em đạp xe đạp dạo tà dọc theo bờ sông Hương, qua cầu Tràng Tiền xuống ăn chè tận Vĩ Dạ.

   Vừa đi, Hạnh vừa có dịp quan sát phố phường trong nội đô Huế, từ sau biến cố Mậu Thân. Cây cầu Tràng Tiền vẫn còn đó nhưng nhịp giữa đã bị đánh sập, nay đã được công binh ngụy sửa chữa thay bằng đà sắt, lát gỗ trải nhựa. Địch cũng xây thêm một cây cầu mới trên sông Hương, đủ trọng tải cho xe bọc thép qua cầu. Cầu Kho Rèn, cầu An Hòa đều được tu sửa. Lực lượng quân ngụy rải rác dày, chúng tăng cường thêm các đồn bót. Hạnh ghi nhớ tất cả nhưng dường như mọi lo lắng của Hạnh đều dành cho giờ phút gặp Cường. Không biết tự lúc nào, giữa cô và anh đã hình thành một mối quan hệ đặc biệt. Thực ra mối quan hệ ấy, nó không xảy đến với cô ngay từ những ngày đầu tiên khi Cường dẫn sáu chiến sĩ trẻ về xã. Cô biết tên anh từ trước, đã nghe lũ bạn gái kháo nhau về anh chàng trung đội phó ở đại đội của anh Phong, anh Hảo. Vài lần cô đã đưa bộ đội về làng, cùng với Cường. Cô chưa hề có một ấn tượng về anh chàng trung đội phó trẻ tuổi, có gương mặt hiền lành và ít nói.

   Cường về xã, Hạnh không thể coi anh như Mộc, Khản... Anh là chỉ huy của họ. Những người chiến sĩ trẻ vừa sợ ông Miên, quý Hạnh, nhưng bàn chuyện đánh giặc, cô có cảm giác họ tin Cường hơn. Cái gì cũng hỏi: “Anh tính sao, anh Cường?”, “Có được không?”. Trong khi Cường thường giữ thái độ vừa phải với Hạnh. Có một lần, hơi bực, cô kéo Cường ra một chỗ, trách:

   - Răng anh không nói chi về phương án tác chiến?

   - Thì Hạnh nói rồi thôi. Tôi thống nhất như vậy. Còn phải nói gì nữa cho rách việc.

   - Hừ... - Hạnh hơi gắt. - Anh là xã đội trưởng, anh phải có ý kiến quyết định chớ.

   - Tôi tưởng Hạnh là chủ tịch xã...

   Hạnh đã phê bình Cường trong một cuộc họp chi bộ. Nhưng Cường không giận, chỉ hơi đỏ mặt. Rất nhanh, Cường hòa nhập vào nhịp điệu của đội công tác. Vài lần, tổ chức đi đồng bằng Cường đã làm cho các đơn vị “đi ké” với xã Y tin tưởng. Trận đánh của du kích xã Y do Cường chỉ huy tại xóm Trường diệt trung đội nghĩa quân thằng Tạo, uy tín của anh nâng lên rõ rệt. Nhỉều người vị nể Cường kể cả Châu, Tự - hai người chỉ huy biệt động huyện. Cánh trinh sát K11, đại đội pháo K35, đại đội đặc công của tỉnh, cũng chịu Cường bám địch giỏi.

   Hạnh và Cường cùng sống chung một nhà, họ gặp nhau hàng ngày, ăn cùng mâm, thậm chí ngủ chung một căn hầm ở hậu cứ Khe Điên. Căn hầm mái bằng, trần thấp. Những chiếc võng mắc sít lưng nhau, lớp nằm dưới sạp, lớp nằm trên võng. Ngày mới về xã, ít khi hai người nói chuyện riêng với nhau, có chăng chỉ bàn chuyện công tác.

   Hạnh hiểu được Cường nhiều là nhờ ở Mộc và qua những người bộ đội về xã. Hoặc cô nghe lỏm được trong những đêm mọi người không đi về làng. Hạnh móc chiếc võng dù toòng teng treo ngay ở cửa hầm. Cường tưởng cô đã ngủ mới đem chuyện quê nhà ra kể cho chiến sĩ. Cô nằm im lắng nghe và tự mường tượng ra dòng sông Hồng, dòng sông Trà quê anh. Cô ghen thầm với mấy cậu chiến sĩ. Cô chưa sao tìm được sự hòa nhập được vào khối cộng đồng “đàn ông” ấy. Chẳng lẽ chỉ vì cô là bí thơ kiêm chủ tịch xã? Là con gái? Hạnh ghen với ông già Miên... Giữa cô với Cường tựa hồ như tồn tại một khoảng cách vô hình, có một sức mạnh bí ẩn đẩy dạt hai người về hai phía. Họ khó gần và khó chan hòa vui vẻ được với nhau. Nhưng chỉ cần Cường đi công tác về làng, vì một lý do gì đó, đêm ấy Hạnh phải ở nhà, cô cảm thấy lo lắng cho anh. Tâm thần bất an. Buổi sáng cô cứ ngong ngóng chờ đoàn người đi đồng bằng trở về. Y như thể ngày còn nhỏ, mỗi lần cô ngóng mẹ về chợ La Chữ, bữa nào mẹ cô đi Huế, sự hồi hộp càng tăng gấp bội. Không phải vì được mẹ cho phong mè xửng, tấm bánh tráng nướng, miếng bánh phỏng trộn mật. Mẹ ôm cô vào lòng thơm lên mái tóc. “Ôi, con gái của mẹ... Ở nhà có ngoan không?”. Cái cảm giác kỳ lạ ấy, bây giờ lại xảy ra với cô trong mỗi suy nghĩ về Cường. Những lần Cường ở nhà, Hạnh đi đồng bằng, lên tới cửa rừng còn sớm. Mọi người còn nằm ngồi ngổn ngang ăn cơm vắt chờ trời hừng sáng rồi mới vào rừng. Hạnh đã lặng lẽ khoác gùi, ôm súng đi trước. Đôi dép râu của cô tựa như có mắt, quen với con đường mòn chỉ lọt một người đi, chẳng hề để ý tới vạt cỏ lau ướt dầm sương đêm quẹt vào cánh tay, quần áo. Cô mò mẫm lội dưới suối lổn nhổn những tảng đá trên con đường về nhà. Hạnh không dám tự thú nhận với mình, cô muốn đi mau về hậu cứ được nhìn thấy Cường, nhưng trong tiềm thức sâu xa lại là điều có thực. Hạnh cũng không thể giải thích nổi sự trùng ngẫu, như có hẹn trước. Vừa bước lên khỏi bến nước cô đã nhìn thấy Cường ngồi trước cửa hầm, đợi nghe tiếng bước chân Hạnh về để cất lên tiếng chào “độc địa”:

   - A... Đồng chí bí thư đi vui vẻ chứ? Báo cáo: nhiệm vụ đồng chí giao cho tôi ở nhà đã hoàn thành xuất sắc.

   Tự nhiên Hạnh tức, tiêu tan luôn cả sự mong mỏi, chờ đợi. Chẳng có nhiệm vụ nào hết. Chỉ có mỗi một việc mà bất kỳ một ai ở nhà đều có trách nhiệm lo cho người đi đồng bằng: nấu một xoong cơm, nồi nước ruốc. Sáng mai lên mọi người cùng ăn. Vậy thôi. Nhưng cái giọng của Cường nghe xóc óc, đến ghét.

   Cô bỏ gùi gạo xuống đất.

   - Eng Cường! (Cô biết Cường ghét nhất gọi tiếng “eng” thay cho tiếng “anh”, cô chọc tức lại) Có rau cải em xin được đây nè.

   - Vậy à - Cường vui vẻ - Ta nấu canh ăn chứ.

   - Báo cáo xã đội trưởng: Vâng ạ! - Hạnh đáo để trả đũa.

   - Hừ... Đồng chí lại trêu tôi...

   - Cho biết mặt!... Thôi, anh cứ để đấy, em nấu canh cho.

   Đỉnh điểm của hai người được đánh dấu bằng một đêm mưa giông. Hàng tuần liền, vùng giáp ranh và đồng bằng mưa như trút nước. Con suối đá suốt mùa hè chỉ rỉ ra một dòng nước nhỏ, chảy róc rách. Bây giờ nước từ trên sườn núi dồn xuống biến con suối thành một dòng sông nhỏ. Nước chảy qua các thác đá réo ầm ầm. Mưa tầm tã, xối xả các căn nhà đều dột. Nước rỉ xuống lòng hầm, mọi người phải thay nhau tát nước.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #39 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2012, 03:03:10 pm »

   Trời mưa, địch ít bắn pháo, máy bay trực thăng không cất cánh nổi để dòm dỏ các cánh rừng. Còn tụi ngụy ở trên đỉnh Hòn Vượn, Chóp Nón trốn vào các căn nhà tôn, đánh bài. Ở cứ mọi người được thảnh thơi. Họ ít phải lo tụi thám báo đi sục sạo vào những lúc trời nổi mưa gió như thế này. Tha hồ chẻ củi, chặt cây. Tiếng mưa như gõ vào thùng tôn; Đội công tác xã Y nghỉ ở “nhà” đã ba ngày. Corn ăn toàn với nước ruốc, đến ớt cũng hết. Hạnh bàn với Cường cho hai tổ về làng. 3 giờ chiều, đội công tác của xã đã ra đi. Những con suối trong rừng nước đã lên tới bắp chân. Con đường về đồng bằng không bị địch chốt gác. Địch rút vào các ấp, leo lên các điểm cao căng lều bạt trú mưa. Vượt qua được Liễu Nam, mọi người mới hiểu: đồng bằng Huế đang gặp cơn lũ lớn... Đã có vài ý kiến đưa ra là quay trở lại. Hạnh còn đang trù trừ vì sợ không qua được con hói ngoài làng Phú Ổ. Cường đã tiến lên trước dẫn đường, kéo theo cả đội. Mỗi một chặng đường nước càng dâng lên cao. Cường cứ nhắm theo ngọn đèn đỏ ở Huế, cắt hướng đường. Rốt cuộc họ cũng qua được con hói trên cây cầu tre chưa bị nước cuốn trôi. Ba tiếng sau quay trở lại con hói, nước từ trên núi dồn về đã vặn gãy cây cầu trôi mất hai nhịp. Sáu người đi, được cả thảy sáu gùi nặng vừa gạo, vừa hàng. Hạnh vào quán mụ Chiện, cô mua liền một lúc hai thùng dầu xà lách, ngoài ra còn cá hộp, thịt hộp, thuốc lá, trà và hai chục ống mì chay. Trong làng địch cũng chẳng hề có một mống. Dân báo: tự hồi chiều, thấy nước lụt, tất cả các trung đội nghĩa quân và bảo an đã kéo nhau lên đường lộ. Quả thực nước đang lên mỗi lúc một to, các tràn ruộng bây giờ đều trắng một màu nước.

   Họ lội nước lõm bõm, cắt đồng. Mưa tạt, quần áo người nào cũng đều bị ướt. Cường cho cả tổ dừng lại bên bờ hói một lúc và bàn tính cách vượt sang bờ bên kia. Những chiếc áo mưa bây giờ biến thành những chiếc phao. Gùi hàng, bao thắt lưng tống cả vào trong ruột phao. Cường cho nối dài các dây cột gùi của mọi người làm thành sợi dây bảo hiểm.

   Cường bơi sang đầu tiên bị trôi mất một đoạn. Ba người khác chẳng cần bám dây, bơi tự do. Những chiếc phao nổi bồng bềnh trên mặt nước. Hạnh sang cùng một lúc với Mộc. Mộc ôm phao bơi trước. Hạnh ra được tới giữa dòng thì chiếc dây bị tuột móc, Hạnh chới với. Dòng nước cuốn cô trôi xuôi với chiếc phao. Tiếng kêu của Hạnh bị nuốt chìm trong tiếng mưa xối ào ào. Mộc hét to:

   - Anh Cường! Chị Hạnh trôi.

   Cường chạy dọc theo bờ hói. Vừa chạy vừa gọi:

   - Hạnh! Hạnh!..

   Ánh chớp lóe lên sáng lòa. Cường đã nhìn thấy Hạnh ôm chiếc phao đang quẫy đạp vẫy vùng để thoát ra khỏi một ngọn tre gai đổ xòa xuống mặt nước. Không một chút đắn đo, anh nhảy xuống, bơi sải ra chỗ Hạnh. Cường kéo mạnh chiếc phao, vừa bơi vừa ôm lưng Hạnh kéo đi, xuôi theo dòng một đoạn và tìm cách tấp vào bờ.

   Hạnh ngồi xuống bờ cỏ, thở dốc.

   - Em có bị sao không? - Cường mở tấm áo mưa giũ nước. Sau phen suýt bị nước lũ nhấn chìm, bây giờ Hạnh mới thấm lạnh. Hai hàm răng cô đánh vào nhau lập cập.

   - Em sợ hết hồn vía.

   - Để đồng chí bí thư xã chết chìm, chúng tôi bị ông Sáu cạo trọc đầu cả lũ.

   - Này, cấm anh không được gọi em là đồng chí nữa đấy nghe. Còn gọi vậy là em từ anh luôn đó.

   Hạnh gí một ngón tay vào má anh.

   - Thế từ giờ trở đi tôi xin im lặng.

   - Không được...

   Hạnh đứng lên, cô kéo tay Cường.

   - Anh đừng làm cho Hạnh buồn... Anh chẳng hiểu chi em cả.

   Cô nói nhỏ nhẹ và những giọt nước mắt của cô hòa lẫn vào những hạt mưa quất xéo vào mặt.

   Hai người men theo bờ con hói đi lại chỗ Mộc và mấy người chiến sĩ đang ngồi chờ họ sau một ngôi mộ xây tránh rét...

   Sau đêm đi đồng bằng, giữa Hạnh và Cường tự hình thành một quan hệ khó mà giải thích, nhưng cảm nhận rất rõ từng lời nói, từng cái nhìn của nhau, vẫn là chuyện công việc hàng ngày, nhưng đã có một điều là lạ len vào khuấy đảo tâm hồn họ. Hạnh cảm thấy vui lên hơn. Chẳng vậy, chị Điều đã có lúc bảo cô:

   - Con ni, bữa nay có chi vui hỉ?

   - Vui chi? Một ngày như mọi ngày. - Hạnh đỏ mặt cãi.

   - Đừng có giấu tao nghe...

   Mà tại sao Hạnh không vui kia chứ. Chỉ có điều cô biết giấu đi nỗi niềm xôn xao trong lòng mình. Bản tính của các cô gái khi biết có một chàng trai chú ý đến mình. Ánh mắt của Cường mách bảo với cô điều ấy. Và nào cô có đòi hỏi gì hơn ở anh. Một điếu thuốc Rubi, Salem Hạnh đem về trong cuộc họp ở huyện. Một chiếc kẹo sôcôla chẳng đáng chi. Nhưng Hạnh thích vậy. Thích được nhìn gương mặt Cường ửng đỏ khi cầm lấy món quà nho nhỏ ấy của cô.

   Tuyệt nhiên, Hanh chưa có một dự cảm rõ rệt. Nhưng ai cản ngăn được những xúc cảm luôn khuấy đảo trong trái tim cô. Và tại sao lại cản ngăn nó trong một cuộc sống đầy bất trắc biến động, khi mỗi người đều phải tự tìm cho mình lấy những lý do để nuôi nấng những khát vọng và niềm tin yêu cuộc đời?

   Ông Hai Ngọc chuyển thư của Cường cho Hạnh. Đọc xong, trước mặt ông Hai, cô đỏ hoe đôi mắt.

   - Chu cha! Con ni thương lính của mi quá bay ơi!

   - Chú! - Cô kêu thảng thốt, xấu hổ.

   -Rứa tao nói vậy có chi sai? Thôi, mi lo mà đi đón cậu Cường lên.

   - Thiệt a chú Hai?

   - Chẳng lẽ chừng ni tuổi đầu tao còn xạo mi răng?

   Ông Hai cười xòa, ấn cô ngồi xuống trước tấm bản đồ Huế trải rộng trên sạp.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM