Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:16:33 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giáp ranh  (Đọc 92625 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #50 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:10:56 am »

   Nhưng Hạnh vẫn khóc. Bởi cô biết đã đến lúc phải xa người yêu. Nẻo đường chiến tranh đầy trắc trở, ít ra ở đây, hàng ngày cô vẫn có thể nhận được tin tức của anh, chăm chút cho anh những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống thường nhật. Nói cho cùng cô không muốn mất anh.

   - Sao em lại có ý nghĩ ấy? - Cường hỏi.

   - Chẳng qua là em sợ! - Hạnh thú nhận.

   Tất cả các nhóm hoạt động đơn lẻ tại đồng bằng, Hạnh cho gọi về hậu cứ trên núi chuẩn bị cho đợt học tập nghị quyết của khu ủy, nhân thể làm cuộc liên hoan chia tay với Cường.

   Hạnh viện cớ đau bụng bỏ bữa cơm chiều. Cô ngồi trên võng nhìn mười bốn tay súng của xã “về nhà” đông đủ. Cơm ăn thành hai mâm. Vậy mà những người cũ còn lại... Cô đã suýt bật khóc, lau giọt nước mắt của mình vào chiếc khăn mùi soa. Chị Điều, chú Miên, Dậu hy sinh, Khản bị thương ra Bắc. Số bộ đội “du kích hóa” nay chỉ còn lại Cường và Mộc. Giờ đến lượt ra đi của Cường. Rồi sẽ tới ai nữa? Trước chiến sĩ của mình cô vẫn nói cười vui vẻ, không muốn để lộ nỗi buồn và một tâm trạng bất an khi giờ phút chia tay với Cường mỗi lúc một gần.

   Từ chiều hôm trước, mấy cậu du kích đã về cơ sở bắt lên một chú heo choai. Xã liên hoan bữa cơm đoàn kết với đồng chí chủ tịch xã. Vài tháng nay ít có những lúc vui vẻ như thế này. Khi tiệc trà với kẹo đậu phộng đã tàn, những tay du kích láu lỉnh nhận được cái nháy mắt đầy ý nghĩa của Mộc tìm cách rút lẹ xuống hầm. Chỉ còn lại Cường và Hạnh. Cô giở chiếc gùi bạt của anh, xếp gọn ghẽ từng bộ quần áo, kem bót. Chẳng biết tự lúc nào Hạnh đã mua sẵn một chiếc võng đôi bằng vải pha ni lông màu xanh cánh trả.

   - Em lấy chiếc võng của anh - Hạnh bảo.

   - Võng cũ lấy làm gì vậy? - Cường hỏi một câu mà sau này, nghĩ lại anh mới thấy mình thực vô tình.

   - Em sẽ nằm chiếc võng của anh. Nếu rách, em sẽ giữ. Để làm gì ư? - Hạnh nhìn anh, hàng lông mày rướn cao - Mỗi đêm em sẽ nhận ra cái hơi ấm của anh... số anh là số cực. Ngày anh về xã giữa kỳ vất vả, bây giờ hơi mát mặt được một chút, thì anh lại đi. Em không biết rồi đây anh về đơn vị mới sẽ ra răng? Lúc anh lên cơn sốt ai sẽ là người lo cơm cháo, thuốc men. Ai ra rừng hái lá xông cho anh.

   - Ở đâu mà chẳng có anh em bạn hữu hả em?

   - Ai chẳng biết! Nhưng... - Hạnh không nói hết câu. Hình như cô khóc.

   - Đừng khóc Hạnh ạ. Em khóc làm anh buồn...

   - Anh còn nhớ cái đêm ta ở Thanh Lương về không?

   - Nhớ chứ!

   Cường sẽ gật đầu. Đêm mùa đông. Rét như cắt thịt. Chỉ có hai người, Hạnh đưa anh về Thanh Lương móc nối với cơ sở. Thực là những ngày đen tối của xã Y. Nhờ Ngật chuyển thơ, Hạnh đã gặp lại một đồng chí cũ vừa được địch thả về. Từ Thanh Lương đi lên, đến Liễu Nam trời đã gần rạng sáng. Hanh bị xóc gai, ngâm nước lội bùn, chỗ đau cương tức. Cường dìu cô đi. Vừa đói, vừa mệt. Họ đã làm một việc liều lĩnh, chui vào một vạt cây rậm rạp trong làng Liễu Nam trú lại. Trời mưa ri rắc suốt đêm, áo quần ướt sũng. Cường moi được một hõm đất, lót lá cho Hạnh nằm. Gần về sáng, Hạnh lên cơn sốt. Anh đã phải dùng hơi nóng của cơ thể mình sưởi ấm cho cô. Hạnh run rẩy trong vòng tay anh mê sảng. Gió bấc thổi ràn rạt trên đầu. Hai chiếc áo mưa không đủ làm cho họ ấm. Vắt cơm bới theo ngấm nước mưa, rời rã từng hạt. Họ ăn và đợi trời sáng.

   Lần thứ hai họ gần nhau, sau cái buổi tối ở nhà Ngật, Cường cảm nhận rất rõ sức nóng toát ra từ hơi thở trẻ trung của người yêu cùng với những giọt nước mắt nóng hổi và đôi môi khô nẻ của Hạnh. Tuyệt nhiên trong anh không hề bợn lên một ý nghĩ đen tối mà chỉ càng hiểu rằng số phận nghiệt ngã của chiến tranh đã đẩy tới cho anh một báu vật. Còn sáng hơn cả ngọc, trong suốt như pha lê nhưng lại là thứ vàng ròng được tôi rèn qua ngọn lửa của cuộc chiến đấu trên một vùng đất cực kỳ ác liệt. Ở đấy sự giả trá được coi như một hành vi độc ác và nó không thể tồn tại, ẩn khuất. Ở đấy mối quan hệ giữa con người với con người được ví như máu thịt tim óc trong một cơ thể sống hoàn chỉnh. Và tình yêu thương con người tự nó đã tạo nên một chất keo dính gắn bó mỗi mảnh đời khác nhau khi đã đứng chung một chiến hào. Họ không có thời gian để phân biệt tuổi tác, giới tính, vùng quê, giọng nói một khi trước mặt họ là kẻ thù đang giương lên khẩu súng, nhả đạn. Và họ tìm ra nhau, cũng như cả niềm khát vọng cả ước mơ, cả quá khứ tuổi thơ cũng như nồi buồn trong thực tại.

   - Hãy thương em! - Hạnh run rẩy trong một niềm hạnh phúc vô bờ chợt đến với cô.

   Cường hôn lên hai gò má, lên đôi mắt, lên vành tai, lên đôi môi còn giữ lại cái hơi lạnh của đêm đông. Họ nằm bên nhau. Hạnh gối đầu vào cánh tay anh, lặng lẽ nghe tiếng mưa rơi vỗ lộp độp trên chiếc áo mưa bỗng dưng biến thành một mái nhà xanh ấm áp. Từng lúc hơi nóng dâng lên tràn trề. Đôi môi của người con gái mềm lại. Và từng lúc anh nhận dần ra từng đường nét trên gương mặt của người yêu với tâm trạng hạnh phúc. Đây mới thực sự là người yêu của anh trên con đường đời tìm gặp.

   - Hãy thương em! Anh ơi.

   Cường lại hôn lên môi của cô. Hạnh thiếp đi trong một giấc ngủ chập chòm. Nhìn gương mặt cô ngời sáng ửng đỏ, hơi thở nhè nhẹ. Hiện hữu, cô đang ở bên anh. Đã biến đi tự lúc nào cô bí thư mà tụi ác ôn trong vùng nghe đến tên đều sợ. Cả sự nghiêm nghị, từng trải cũng biến mất khỏi Hạnh. Cô bên anh, nhẹ nhàng mỏng manh như thứ đồ vật dễ vỡ.

   - Anh ngủ đi... Em thức canh cho. - Hạnh bảo.

   - Anh không muốn ngủ một chút nào - Cường đáp - Ôi, anh cảm thấy niềm hạnh phúc.

   - Thật vậy ư?

   - Em không tin à?

   Họ nằm sát bên nhau, qua hai lớp võng, Cường thấy hơi ấm của Hạnh lan tỏa sang anh. Cường không nhìn đồng hồ, sợ thời khắc trôi nhanh và sợ hạnh phúc tan biến. Khi biết rằng trời sắp sáng, cổ họng anh khô rát.

   - Hãy thương em... Đừng bỏ em, anh ơi. - Cô nói trong ánh mắt long lanh.

   Hai người không còn để ý tới cả tiếng đạn cối 81 ly của địch trên đỉnh Hòn Vượn bắn cầm canh. Tiếng dội trong đêm khuya làm lay động cả cánh đồng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #51 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:11:55 am »

*

   Cường đi giữa đội hình hành quân. Mắt anh dõi theo lưng áo người đi trước, nhưng thực ra đầu óc buông thả vói bao ý nghĩ ngổn ngang. Niềm vui được trở lại chiến đấu trong đội hình tiểu đoàn xen lẫn cùng với ý nghĩ về Hạnh, về Mộc... Hạnh đi tiễn Cường một đoạn dài. Cô hôn anh, bất chấp sự có mặt của anh tiểu đoàn trưởng đặc công vui tính. “Đi mạnh giỏi nghen anh Cường. Đừng quên giáp ranh... Cho em gởi lời thăm chú Hai Ngạn, anh Phong”. Hạnh không dám đứng lại, quay người, khoác súng chạy nhanh.

   Cường biết, Hạnh lại khóc.

   Hạnh gửi cho Phong hai hộp sữa và biếu chú Hai Ngạn cây thuốc lá Cô táp. Cô là người đầu tiên báo cho Cường biết những chuyện không hay của anh Phong xảy ra ở đại đội vận tải. Cường mới đầu không tin nhưng lá thư của anh Nhô gởi cho Cường qua đường dây giao liên chuyển về đã xác nhận chuyện đó là có thật. Chuyện loang tới những người lính bộ đội của tiểu đoàn đang bám trụ giáp ranh. Tất cả đều giận tay Thoan nào đó. Một nhóm chiến sĩ đi lên sông Bồ nhận đạn. Họ vượt ba ngày đường đi đến đại đội vận tải và bí mật tìm gặp Thoan. Gã chính trị viên bị một trận no đòn của những anh lính bộ binh anh ta chưa từng gặp mặt. Phong được trắng án sau vụ diệt con điệp lợi hại. Anh không bị kỷ luật. Nhưng bức điện của Thoan phát đi tới tai nhiều người. Không hề có một bức điện cải chính. Cấp trên hiểu được Phong, nhưng còn miệng lưỡi người đời? Những người lính cũ của tiểu đoàn 10 vốn trung thực và sòng phẳng đã không quên người đại đội trưởng của mình.

   Cường kể lại chuyện ấy cho Hạnh. Cả hai đều cười. Anh thầm biết ơn những người bạn nghĩa tình chung thủy. Nghe bảo Thoan còn viết đơn về Ban chỉ huy trung đoàn, về quân khu kiện “đám lính địa phương vô kỷ luật” (!). Đang lúc mải lo chống càn quân Mỹ đổ bộ lên miền Tây, chẳng có một vị pháp quan nào đi xử vụ kiện ấy.

   Chuyến đi này, Cường có nhiệm vụ đón Phong và thủ trưởng Ngạn. Hai người đang chờ anh ở viện 94. Bây giờ Hai Ngạn đã nhận nhiệm vụ chính trị viên tiểu đoàn 10. Chiến dịch đang nổ ra. Địch vẫn tiếp tục quẫy đạp, lồng lộn. Nhưng đã đên lúc những đạo quân chủ lực của ta cân tung ra những quả đấm quyết định không thể giữ mãi thế cài răng lược.

   Đi được một tiếng rưỡi đồng hồ. Cường phát lệnh nghỉ giải lao. Toàn bộ đội hình hành quân ngồi tài dài trên một bãi đá. Anh tiểu đoàn trưởng đặc công vui vẻ đi mời thuốc lá mọi người. Chỉ vài giờ nữa, họ sẽ ra tới sông Bồ.

   Nhìn nhũng người lính cũ của tiểu đoàn, Cuờng không khỏi mủi lòng. Hơn một trăm ba mươi tay súng bộ binh bổ sung về huyện xã ngày ấy, bây giờ gom lại chỉ còn độ hai chục người. Một số bị thương lui về tuyến sau. Còn phần đông đã ngã xuống trên những cánh đồng làng Hương Mai, Hương Vân, Phú Ổ, La Chữ, Văn Xá. Họ nằm trong lớp đất màu mỡ không để lại dấu tích bia mộ, trong những cánh rừng non, trên những vùng đồi trọc đầy sim mua, cỏ dại.

   Đá núi và lớp đất đá sỏi đắp lên những ngôi mộ xinh xắn giấu kín trong tán cây rừng, lẩn khuất giữa vạt lau lách miền giáp ranh bắc Huế. Ở đấy, cứ mỗi độ thu sang trên các triền đồi trọc, dưới thung sâu vào mùa lau trổ bông chỉ thấy bát ngát mênh mông trắng một màu.

   Cường ứa nước mắt.

   Tất cả những người anh hùng vô danh ấy, một ngày xa xưa gò lưng đeo chiếc ba lô trĩu nặng leo lên những đỉnh núi mịt mù của Trường Sơn, những “Cổng trời”, “1001”, “1009”... không ai sớm nghĩ đến một ngày kia máu họ sẽ hòa vào đất đai cây cỏ. Nhưng lại là sự thật nghiệt ngã của chiến tranh.

   Đoàn người tiếp tục lên đường. Cường vừa đi vừa lắng tai nghe ngóng đề phòng chiếc máy bay trinh sát lượn gần. Con đường chạy dọc theo suối đá. Bước chân người khua động trong nước lõm bõm.

   Một ngày không xa có lúc anh sẽ trở lại con đường này, về lại với vùng giáp ranh...

   Phía đó, đang dội lên tiếng pháo bắn. Đạn nổ âm vang giữa lòng rừng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #52 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:14:08 am »

PHẦN HAI


1

   Một ngày đầu năm 1973.

   Buổi sáng ấy trời không mưa. Mây mù đặc quánh phủ lên xung quanh một màu trắng như một chảo cháo loãng quệt lên những chỏm cây, mặt hồ. Người đi lại cách bốn năm mét không nhìn rõ mặt. Các dãy núi ở miền tây Phong Điền cũng chìm trong sương, trong khoảng không mông lung, vô định nhưng vẫn nghe rất rõ tiếng súng con, tiếng đạn cối, tiếng đại liên nổ từng tràng dài, lâu lâu lại vọng tới ở một nơi nào đó ở phía tây. Cái âm hưởng dữ dội, bạo liệt của chiến tranh đang diễn ra ở vùng đất này vào một ngày cuối năm, có chăng là những loạt pháo 105 ly của địch từ các cứ điểm dưới đồng bằng kiên trì bắn lên rừng đều đặn mười ỉăm phút một đợt, mỗi loạt năm quả không theo một tọa độ cố định nào cả. Xuyên qua cả làn mây trắng đục, lúc trái pháo nổ chớp lửa lóe sáng ở hướng đỉnh dốc Ông Già, Khe Tre, Một Mái, 165. Ở phía bờ nam sông Bồ là đất Hương Trà. Phía ấy, pháo còn nổ dữ dội hơn. Pháo Tứ Hạ, pháo Văn Thánh, căn cứ pháo binh Hòn Vượn nã không tiếc đạn lên ngả địa đạo 310, 360, Động Tranh, Bình Điền và xa hơn là Dốc Chè, Khe Trăng, Khe Lu, Côcava... Đạn pháo hạng nặng nổ âm vang rung , chuyển đất như những trận sấm kéo dài báo hiệu mùa mưa đang đến. Nhưng mùa mưa ở xứ này còn phải sáu, bảy tháng nữa mới tới. Một dải miền tây Phong Quảng, Hương Trà từ trục đường quốc lộ số 1 hắt lên là trận chiến của sư đoàn 324, 325 và các trung đoàn chủ lực của quân khu xen kẽ cài răng lược với các đơn vị lính dù, thủy quân lục chiến, sư đoàn bộ binh ngụy thuộc vùng I chiến thuật. Gần mười ngày qua, đã có hàng chục trận đánh lớn nhỏ nổ ra, các đơn vị chủ lực của ta được giao nhiệm vụ chiếm giữ các địa bàn hỗ trợ cho đợt “tấn công và nổi dậy giành đất cắm cờ” của các lực lượng võ trang địa phương và quần chúng cách mạng. Bây giờ dường như các trận đọ súng đã tạm thời lắng xuống.

   Trong một cánh rừng non ở vùng cát Phong Nhiêu, không gian yên tĩnh đáng ngờ. Quãng hơn 8 giờ sáng lũ máy bay OV10 của ngụy vè vè lượn đảo trên bầu trời nhưng chúng không thể ngờ, lẩn khuất dưới tán rừng thông đang được màn sương bao phủ có những người lính giải phóng đồn trú rất bí mật. Không một cọng khói bay lên. Không tiếng động gây ồn. Không lều bạt, hầm hào. Những anh bộ đội giấu mình dưới tán lá, ngủ vùi trong các hố cát. Chỉ những người làm nhiệm vụ cảnh giới, chốt gác ngồi giấu mình dưới các bụi cây ngoài bìa rừng theo dõi từng động tĩnh của địch. Gọi là rừng, thực ra cây mọc ở đây chỉ có những bụi phi lao, bờn bờn, dứa dại cao chưa tới hai mét, ken dày kéo dài hàng cây số trên các cồn cát hoang vu. Xen kẽ giữa các rừng cây thông non là các vùng đầm lầy và các làng hoang thuộc hai huyện Phong Điền, Quảng Điền, dân đã bị lùa đi từ ngày Ngô Đình Diệm xây dựng các ấp chiến lược. Sau chiến dịch Mậu Thân (1968), các làng nào dân còn sót lại ở phía tây đường lộ và vùng thôn quê hẻo lánh dễ bị Việt cộng đột nhập, tiếp tục bị lính ngụy càn quét, xúc đi một lần nữa đưa vào các ấp tân sinh, dưới sự cai quản của các đơn vị bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự...

   Ở trong các ngôi làng hoang không còn có ngôi nhà nào nguyên vẹn. Ruộng nương, vườn tược cỏ dại mọc đầy. Hơn hai trăm tay súng của tiểu đoàn 10 đang ém trú trong cánh rừng thông gần làng Hiền Lương. Họ về đây đêm qua sau năm ngày sáu đêm đánh chống càn quanh các làng ven vùng đầm phá Tam Giang. Tiểu đoàn bộ đóng quân trong làng Hiền Lương. Dọc theo các rặng tre sát bìa làng, những hầm hào công sự tác chiến được đào vội vã, chưa kịp ngụy trang. Những người lính của đại đội cối 82, trung đội B41 ngả lưng ngay dưới những lùm tre gai dày đặc chạy dài theo một rãnh nước sâu. Trung đội trinh sát trú chân trên một nền nhà, còn sót lại những bức tường cao hơn nửa thước. Họ dùng luôn bức tường làm công sự. Ở trong một căn nhà khác, còn sót lại nửa mái tôn cũng bị mảnh bom pháo, đạn thẳng bắn thủng nham nhở, lỗ chỗ là nơi đóng quân của tiểu đoàn bộ, chỗ ở của chính trị viên tiểu đoàn Hai Ngạn, cậu liên lạc và tổ máy 15 oát. Sau đêm hành quân, từ cán bộ chỉ huy đến người lính đều mệt mỏi, suy kiệt sức lực. Tư Nhất, tiểu đoàn trưởng không ở trong nhà. Ông và cậu công vụ ra nghỉ cùng tổ trinh sát, dưới gốc một cây mít lớn. Mấy cậu trinh sát đã sửa sang lại căn hầm trú ẩn cũ của dân để thủ trưởng tiểu đoàn có chỗ tránh pháo.

   Từ lúc 3 giờ sáng cả tiểu đoàn hành quân về tới đây không có một trái pháo nào bắn vào làng và dải rừng dương ngoài bãi cát. Có thể tụi pháo binh ngụy nghĩ rằng chẳng còn một Việt cộng nào đủ sức trụ lại dưới đồng bằng? Bộ đội và du kích chịu sao nổi những đợt tấn công bằng xe tăng, thiết giáp và những mũi tiến quân của các đơn vị thuộc sư dù, thủy quân lục chiến kết hợp với sức công phá qua hàng trăm đợt ném bom của máy bay A37, hàng vạn trái pháo bắn nát mọi tọa độ mà lũ OV10 chỉ điểm nghi có mặt quân giải phóng.

   Quân ngụy đâu biết rằng toàn bộ tiểu đoàn 10, tiểu đoàn 15 và một số đông các cán bộ huyện xã bám vùng sâu Phong Quảng bây giờ đang nằm lọt lại giữa đồng bằng. Bao quanh họ đâu đâu cũng dày đặc các đơn vị quân ngụy. Chính vì yếu tố bất ngờ, làng Hiền Lương và dải rừng dương ngoài làng trở thành noi đóng quân an toàn cho bộ đội. Ngay từ lúc đặt ba lô, Tư Nhất đã lệnh cho chỉ huy các đơn vị “Cấm nổi lửa, cấm gây tiếng động. Được phép sử dụng lương khô, mỗi người ăn không quá một bánh (0,25kg). sẵn sàng chiến đấu 100%. Hết!”.

   Bộ đội hy sinh đã được các đơn vị chôn cất xong. Thêm mười sáu thương binh cả nặng và nhẹ đã được tổ phẫu bố trí trong một ngôi nhà gần nơi đóng quân của tiểu đoàn bộ. Vấn đề sống còn của những người lính bây giờ là giữ cho được bí mật nơi trú quân từ giờ cho đến khi mặt trời lặn ở phía tây, tiểu đoàn sẽ lại tiếp tục hành quân lên rừng. Tối qua, trước lúc rút về đây, Hai Ngạn đã nhận được lệnh của trên: K10 phải mở đường đưa toàn bộ lực lượng lên xanh. Đọc xong bức mật điện, trao đổi với Hai Ngạn, Tư Nhất đã điều một tổ trinh sát và hai người du kích địa phương tách khỏi đội hình, đi soi con đường bí mật để đêm nay hoặc cùng lắm là đêm mai đưa toàn bộ đại quân lên rừng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #53 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:15:15 am »

   Hai Ngạn nằm lim dim mắt nhưng kỳ thực ông không ngủ. Năm đêm nay hầu như ông thức trắng. Đôi lúc mệt quá, ông có thiếp đi dăm ba phút rồi lại tỉnh ngay. Ban ngày trụ bám ở làng đánh chống càn. Đêm tới cả tiểu đoàn lặng lẽ rút sang một làng khác. Trong những trận tập kích đánh về làng, dù có bí mật bao nhiêu đi chăng nữa, bộ đội vào làng chỉ đến trưa là lộ. Dân chúng lo sợ bom đạn, chạy tản cư. Kéo ra ngoài đồng hoặc đi sang làng khác. Bộ đội về làng không lọt qua mắt của tụi tề điệp nằm vùng ở địa phương. Chúng mật báo cho địch, chỉ vài giờ sau các đơn vị quân ngụy ầm ầm kéo tới. Pháo cối dập vào làng. Máy bay bắn rốc két. Bộ binh theo từng mũi tiến vào. Súng lại nổ dữ dội. Tấn công quyết liệt, bên nào cũng chịu thiệt hại mà vẫn không chiếm được làng, chỉ đến khi nhá nhem tối, quân ngụy mới chịu rút. Đây là lúc bộ đội tranh thủ chôn cất tử sĩ, băng bó thương binh và lặng lẽ rời khỏi làng, vượt qua các chốt chặn của địch đến một địa điểm khác. Kể từ những năm 1966, 1967 và Mậu Thân 1968, lúc còn là một anh chính trị viên đại đội của tiểu đoàn 10, Hai Ngạn đã quá quen thuộc với những trận đánh chống càn ở Phú Vang, Hương Thủy, Phong Điền, Quảng Điền. Ông là một trong số ít người cũ của tiểu đoàn 10, còn sống sót đến bây giờ.

   Tiểu đoàn trưởng Tư Nhất vai vẫn khoác chiếc bao dù, bước vào chỗ Hai Ngạn. Tư Nhất tháo chiếc bi đông Mỹ ở cạnh sườn và cầm luôn chiếc ca US rót nước.

   - Làm một chút nước gạo rang cho tỉnh, anh Hai.

   Hai Ngạn tợp một hớp nước, tiện tay vấn một điếu thuốc rê.

   - Anh cho tôi một điếu. Có bao Paman, lúc lội qua bãi sình, bị ướt cả rồi.

   Thứ thuốc rê của Hai Ngạn là thuốc lá trồng trên đất Phong Lai. Sợi vàng, nhiều nhựa, thơm nhưng rất nặng. Hai người lặng lẽ rít từng hơi thuốc lá.

   Tư Nhất bảo:

   - Nếu từ giờ đến 4 giờ chiều êm không có địch, ta cho thực hiện phương án B, anh Ngạn nhỉ?

   Đôi mắt Hai Ngạn đỏ kè vì thiếu ngủ hơi sáng lên.

   - Tôi đồng ý! Nhưng không được chủ quan. Lát nữa, ta nên phân công người xuống bám chắc các đơn vị. Có lẽ tôi xuống thằng C1. Anh ở lại đây trao đổi với thằng C4. Phân công anh Thủy đi C3.

   Tư Nhất gật gật mái đầu húi cua.

   - Tôi đồng ý.

   Một chiếc máy bay OV10 đảo vòng ngoài bìa làng và sà thấp xuống cánh rừng dương như có soi mói, dòm ngó. Tư Nhất đứng dậy đi ra chỗ mấy cậu trinh sát.

   - Vương đi C1. Lạc xuống C3 nhắc: Lệnh cho toàn tiểu đoàn giữ bí mật tuyệt đối. Đề phòng địch đổ quân càn. Chỉ khi nào chúng vào làng, phát hiện ra ta, mới được nổ súng.

   Hai người trinh sát khoác súng đi theo hai hướng. Tư Nhất đeo bao dù, xốc lại chiếc xanh-tuya-rông đã có sẵn khẩu K59, chiếc bi đông nước và mấy trái lựu đạn US đi ra phía rặng tre đầu làng.

   Nhìn dáng đi cà nhắc của Tư Nhất, Hai Ngạn không khỏi bật cười. Cũng vào dịp Tết năm ngoái, Hai Ngạn còn phải đóng vai chủ hôn để đi cưới vợ cho Tư Nhất. Đã ngấp nghé gần bốn mươi tuổi Tư Nhất vẫn sống trong tình cảnh “gã trai độc thân vui tính”. Chẳng phải anh ta kén chọn gì mà mải lo đánh giặc. Mười sáu tuổi, Tư Nhất đã phải lo trốn quân dịch. Được vài tháng trốn chui lủi khổ quá, trong một đêm bộ đội, du kích về làng, Tư Nhất nằng nặc bám theo mấy chú giải phóng lên rừng đi bộ đội. Lì lợm, gan cóc tía, chỉ mất hơn hai năm Tư Nhất đã trở thành anh đại đội trưởng đặc công của khu V. Bị thương nằm viện một thời gian, loanh quanh thế nào Tư Nhất được ban cán bộ Quân khu Trị Thiên bổ nhiệm về làm tiểu đoàn trưởng K10. Tiểu đoàn 10 được thành lập mới chỉ có bộ khung vài chục cán bộ, quân khu cho phép ra Quảng Bình nhận quân ở ban B và tân binh xây dựng tiểu đoàn, Hai Ngạn - bí thư đảng ủy đã ra nghị quyết “cưới vợ cho tiểu đoàn trưởng”. Tư Nhất nghe chuyện cưới vợ có vẻ khoái, chỉ cười. Không có ý kiến tức là đồng ý. Thêm một tuần lựa chọn mục tiêu và làm lễ ăn hỏi, đám cưới tiểu đoàn trưởng tiến hành ngay ở làng Sen, bên dòng sông Kiến Giang.

   Vợ Tư Nhất là một cô giáo dạy văn cấp II, sắp bước qua tuổi “băm” vẫn chưa có đám nào. Trai làng Quảng Bình còn có ai ở lại làng để làm rể. Họ vào bộ đội, thanh niên xung phong cả rồi. Cô giáo dạy văn cấp II lấy được một anh sĩ quan quân đội đã bốn lần đạt danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ, diệt ngụy” còn gì hạnh phúc hơn. Đám cưới thời chiến chỉ có hai cây thuốc lá Tam Đảo, mười gói chè Hồng Đào, cân kẹo sôcôla do sư trưởng Chu Xuân Đới gửi tặng. Hai Ngạn đại diện cho nhà trai. Cường và Thiệu hai anh lính trẻ tay cầm quà cưới, đi theo Tư Nhất. Đám cưới không hoa, không pháo nổ. Nhà gái cũng chỉ dám giết một con cầy dăm ký, vài con vịt là xong một tiệc cưới...

   Vậy mà chỉ chín tháng sau, cô giáo ở làng Sen đã báo tin đẻ cho Tư Nhất một cậu con trai “giống anh như lột”. Tư Nhất vui khoe khắp cả tiểu đoàn bộ như chính anh ta đẻ ra thằng con nối dõi tông đường.

   Hai Ngạn lặng lẽ giơ chiếc túi ca táp bằng da lấy tấm bản đồ vùng bắc Huế trải rộng trên nền nhà. “Phương án B, nghĩa là toàn bộ cánh quân phía bắc trong đó có K10 của ông lên xanh... Đây... ta đang ngồi ở đây. Chân dốc Ông Già... Đâu nào?... À đây rồi. Trong tấm bản đồ quân sự, khoảng cách từ làng Hiền Lương lên tới đỉnh Đức Mẹ dài chưa tới một gang tay. Những ô vuông màu xanh biểu thị núi non, rừng rậm. Những vệt trắng biểu thị ruộng đồng, đầm lầy. Vệt chỉ đen cách quãng chạy sát chân núi đấy chính là con đường đổ đá cấp phối, đường đất đỏ được làm từ hồi Diệm còn sống trong chiến dịch xúc dân lập ấp chiến lược. Dân địa phương gọi con đường này là đường chiến lược kéo dài từ bờ nam sông Ô Lâu kéo tới sát sông Bồ, vắt qua Hương Vân, Lai Bằng, bọc quanh các xã Hương Thạnh, Hương Thái, Hương Mai tiếp giáp với sông Hương. Con đường chiến lược còn kéo dài, vắt qua Hương Thủy. Khi xây dựng tuyến đường này bảo vệ cố đô Huế, người Mỹ và quân ngụy hy vọng sẽ tạo ra một vành đai ngăn cách Việt cộng với dân. Con đường dùng để đố quân, đổ xe tăng thiết giáp lên càn quét vùng giáp ranh. Có đường và đưa quân lên chiếm giữ các điểm cao ở miền tây bắc Huế, các sư đoàn lính dù thiện chiến của Mỳ, của ngụy tổ chức nhiều trận càn, có lần đánh ra tận đường tuyến nhưng rút cục quân Mỹ, quân ngụy vẫn bị bộ đội giải phóng đánh cho tơi tả ở Dốc Chè, Côcava, Núi Bông, Động Tranh... Các ấp chiến lược rồi đến ấp tân sinh liên tục bị phá. Bộ đội du kích đêm đêm vẫn vượt qua con đường chiến lược để về làng đánh địch, mua gạo thực phẩm”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #54 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:16:25 am »

   Đêm nay hoặc đêm mai các đơn vị của tiểu đoàn 10 phải vượt qua một quãng đường hơn hai mươi cây số để lên rừng. Năm ngày trước K10 cũng từ chân núi Đức Mẹ làm lễ xuất quân để về đồng bằng đánh địch. Lúc ấy, con đường về đồng bằng, vượt qua dãy bình độ 28 rộng thênh thang không có đơn vị nào của ngụy chốt giữ. Bộ đội  trung đoàn 2, trung đoàn 3, trung đoàn 4, các đại đội của tỉnh, của huyện đánh về các làng, ấp vùng sâu như thọc vào chỗ không người. Nhưng bây giờ trở về rừng mới cam go làm sao! Hai Ngạn thừ người và không khỏi lo lắng. Hai mươi mấy cây số dọc theo tuyến đường quốc lộ số 1, từ cầu Mỹ Chánh đến cầu Hiền Sĩ dày đặc các đơn vị lính dù chốt giữ. Dải đồi thấp bình độ 28, bằng ống nhòm Hai Ngạn cũng nhìn thấy san sát những mái lều bạt của lính dù ngụy. Trong cuộc chiến đấu cắm cờ, giành dân, các đơn vị bộ binh thiện chiến của trung đoàn 2, sư đoàn 324 cũng chỉ giữ được tuyến đường 1 có mấy ngày. Những trận đánh quyết liệt, giành giật từng bụi tre, gốc mít, từng bờ tường ở làng Cổ Bi, Thanh Tâm, Hiền Sĩ của bộ đội với các tiểu đoàn dù diễn ra quyết liệt. Máu đổ trên cầu Dài, quận lỵ Phong Điền, chợ Sịa. Những ngày vừa qua, K10 phải lo đánh địch. Ban chỉ huy tiểu đoàn cũng như những vị chỉ huy cánh bắc chưa có được một thời khắc nào để rút kinh nghiệm cho những trận đánh không cân sức giữa ta và địch. Cũng chưa ai nghĩ tới việc xem xét đánh giá “chiến dịch giành đất, giành dân cắm cờ” ta thắng hay thua. Nhưng có điều này Hai Ngạn tự rút ra cho riêng ông

   - Hình như, phía sau Hiệp định Ba Lê, ta cũng chưa đánh giá hết thực lực của quân ngụy sau lúc người Mỹ đã cuốn cờ rút đi. Cuộc hành quân đêm nay cũng là một trận chiến đấu không kém phần gay go, dữ dội. Chỉ cần sơ sểnh mất cảnh giác, bộ đội của K10, K4 và hàng trăm cán bộ du kích, biệt động huyện xã sẽ bị các đơn vị lính dù, thủy quân lục chiến ngụy đang rải dày đặc quanh vùng giáp ranh Phong Quảng bao vây, tiêu diệt.

   Hai Ngạn vừa nghĩ, vừa quấn thuốc. Miệng ông đắng nghét. Chưa có một hạt cơm nào vào bụng đã hai ngày nay, nhưng ông không thấy đói. Thỉnh thoảng ông nhấm nháp miếng lương khô và nhai vài viên Vitamin tổng hợp.

   Ông khẽ lay cậu công vụ đang nằm ngủ vùi ở một góc nhà.

   - Này Thiệu! Dậy anh bảo...

   Thiệu lồm cồm bò dậy và động tác đầu tiên là khoác ngay chiếc thắt lưng bao đạn và cầm lấy khẩu AK báng gấp.

   - Anh bảo gì ạ?

   - Em xuống ngay chỗ 15 oát, hỏi có tin tức gì của đại đội 2 chưa?

   Loáng một giây Thiệu đã đi khuất sau bức tường thấp ra chỗ hầm của tổ điện đài. Những ngày qua, tiểu đoàn không nhận được tin tức gì của đại đội 2 làm nhiệm hỗ trợ cho việc giành đất, cắm cờ ở Hương Trà. Phong, Quảng Điền và Hương Trà là vùng cánh bắc Huế, nhưng bị chia cắt bởi con sông Bồ. Các đơn vị quân giải phóng, địa phương gần như phải độc lập tác chiến. Trong số bốn đại đội của K10, đại đội 2 được biệt phái dưới sự chỉ huy của Phong tiểu đoàn phó sang hỗ trợ cho huyện ủy Hương Trà. Hai Ngạn đã tìm cách liên lạc với ông Sáu Thọ, bí thư huyện ủy, để coi thử tình hình thằng C2 ra sao cũng không liên lạc được. Không nói nhưng ai cũng hiểu tình hình “giành đất, cắm cờ” ở Hương Trà cũng không suôn sẻ gì.

   Mảnh đất Hương Trà đối với Hai Ngạn và những người lính tiểu đoàn 10 có nhiều gắn bó, kỷ niệm. Sau những ngày chiến đấu ở cố đô Huế, Phú Vang trong chiến dịch Mậu Thân, hai tiểu đoàn chủ lực của Công trường V là K10 và K4 được Bộ chỉ huy vùng giao nhiệm vụ trụ bám trên địa bàn hai huyện áp sát ven đô Huế. K4 ở lại Hương Thủy. K10 về với Hương Trà. Đội hình của trung đoàn tiếp tục bị chia cắt bởi con đường 12 và dòng sông Hương.

   Gần như tiểu đoàn 10 phải độc lập tác chiến. Đại đội 3 trụ bám vùng giáp ranh Hương Trà, Phong, tiểu đoàn phó trực tiếp chỉ huy. Trong Ban chỉ huy của tiểu đoàn không ai hiểu rõ Phong bằng Hai Ngạn. Và có lẽ, Phong là một trong số ít những người lính cuối cùng của tiểu đoàn 10 từng sát cánh kề vai với ông từ những năm 64 ở chiến trường Trị Thiên - Huế. Khi ấy Hai Ngạn còn là một anh chính trị viên trung đội, Phong là tiểu đội trưởng tiểu đội cối của đại đội 3.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #55 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:18:42 am »

   Trải qua những trận đánh chống càn, về giải phóng vùng cát Phú Vang, Hai Ngạn lần lượt được đề bạt lên làm chính trị viên phó, rồi chính trị viên đại đội, Phong cũng được bổ nhiệm là trung đội phó, rồi trung đội trưởng... Chỉ đến khi Phong không chấp nhận về chỉ huy một đơn vị vũ trang địa phương, anh nhận án kỷ luật của trung đoàn, được điều về một đơn vị vận tải dọc theo tuyến sông Bồ, hai người mới chia tay nhau. Hai Ngạn về Ban chính trị của trung đoàn đóng ở bờ nam sông Hương, ít khi nhận được tin tức của Phong. Nhưng cái chuyện “Phong có tình ý, lăng nhăng đi lại với một nữ tề điệp nguy hiểm và có âm mưu theo cô ta về đồng bằng chiêu hồi địch” thì lại đến tai Hai Ngạn rất sớm. Chỉ vài nhịp gõ vào bàn phím của anh báo vụ 15 oát, được anh cơ yếu soạn thảo theo lệnh của Thoan, vài phút sau tin Phong có ý định chiêu hồi đã loang ra cả Ban tác chiến, ban chính trị của trung đoàn. Ông Một - trung đoàn trưởng nổi tiếng gan lì dũng cảm nhưng cũng khét tiếng độc đoán, nghe xong tin điện, đập manh tay xuống chiếc bàn làm bàng sạp lồ ô, chiếc bi đông rượu của ông đặt trên mặt bàn nảy tưng như một trái bóng ten nít, lăn xuống sàn nhà.

   - Thằng này láo! Bắt được bắn bỏ.

   Ông trung đoàn trưởng quay sang cậu cần vụ đang sơ xanh mặt, lượm chiếc bi đông rượu dựng vào góc sạp.

   - Đưa đây cho tao! - ông trung đoàn trưởng không nói không rằng mở nắp bi đông tu một hớp. Giọng ông rành rẽ từng tiếng - Mi sang nhà tham mưu gọi thằng Bậu, thằng Ngạn sang tao biểu. Không được chậm một khắc, rõ chưa?

   Cậu công vụ đi theo ông trung đoàn trưởng được vài năm nay, người Mường Thanh Hóa, nhanh như một con mèo rừng, khoác cây AK báng gấp thoắt xuống chân đồi. Chỉ chậm chân coi chừng ăn cây gậy hèo của thủ trưởng. Cuộc gặp mặt với trung đoàn trưởng chỉ có Hai Ngạn. Anh Bậu - tiểu đoàn trưởng cũ của K10 đang đi về đồng bằng với bộ đội K4. Mới giáp mặt nhau, ông trung đoàn trưởng chìa ngay mảnh giấy ra trước mặt Hai Ngạn:

   - Mi biết chữ, đọc đi! Tao mù chữ nhưng không có những thằng lính như ri!

   Trước mặt trung đoàn trưởng Một bao giờ Hai Ngạn cũng có cảm giác sợ sợ. Thật ra đấy là trạng thái tâm lý ngần ngại thì đúng hơn. Không chỉ ông trung đoàn trưởng hơn Hai Ngạn một con giáp mà như thể ông ta có thể nhìn soi thấu vào tận tâm can của ông, biết ông nghĩ gì.

   - Mi nghĩ răng về chuyện ni? - Ông trung đoàn trưởng hỏi Hai Ngạn sau lúc bập vài hơi thuốc lá Rubi, nhả khói thơm lựng. Hai Ngạn trao lại cho ông trung đoàn trưởng tờ “điện mật” rồi nói:

   - Thưa thủ trưởng, tôi không tin thằng Phong hỏng đến mức này!

   - Chả lẽ, điện từ cánh bắc sang đây là điện láo... Nói như mi, thế có mà loạn...

   Hai Ngạn thu hết can đảm nói với ông trung đoàn trưởng đang có dấu hiệu nổi nóng:

   - Thủ trưởng không nhớ, chính anh đã đọc quyết định kết nạp thằng Phong vào Đảng khi trung đội của nó suốt cả ngày trời chặn đứng mũi tấn công của tụi Mỹ ở quán cơm Âm Phủ sao? Một thằng đại đội trưởng đã cùng anh chui hàng rào cả chục lần vào cứ điểm Động Tranh lấy thịt hộp Mỹ, bao lần lên phương án tập kích; đánh về ấp chiến lược. Một người lính như ri không thể nào là thằng phản bội được. Tôi ngờ rằng có chuyện gì ẩn khuất ở đây. Còn cái chuyện cậu Phong chống lệnh về địa phương thì rõ rồi...

   Ông trung đoàn trưởng nghe Hai Ngạn nói vậy, vụt đứng dậy. Mặt ông đỏ gay, không hiểu vì rượu hay vì tức giận. Ông ta không bước tới chồ Hai Ngạn đang ngồi mà đi ra khỏi căn nhà hầm ẩm thấp, chật chội, đứng dưới gốc cây lim già dụi mẩu thuốc lá mới cháy một đoạn vào thân cây, giọng lẩm bẩm: “Mi nói như con c...! Nhưng nghe ra có lý...”.

   Mười lăm ngày sau, ông Một dẫn đầu một toán tám người cùng với một tổ trinh sát, cơm đùm gạo bới, cha con đạp đường 12 qua địa đạo 310, vượt sông Bồ lên tuyến vận tải Hang Đá - Rào Lu, Rào Trăng để tìm cho ra sự thật. Đến trạm phẫu bờ nam sông Bồ, đoàn tùy tùng của ông Một dừng lại nghỉ một đêm, một ngày. Ông đi kiểm tra lại hệ thống địa đạo ba cửa nằm sâu trong núi được công binh quân khu đào chuẩn bị cho cuộc tấn công mùa xuân 1968 về Huế! Hơn một năm, khu địa đạo vẫn còn, nhưng bị sụp lở nhiều đoạn. Đỉnh đồi 310 bị bom đào khoét, có hố sâu hàng chục thước, nhưng không khoan thủng được địa đạo. Một cửa địa đạo hướng bắc đã bị tụi lính thuộc sư đoàn dù 101 của Mỹ khi đưa quân lên càn chiếm điểm cao 360, Động Tranh, Dốc Chè đã mang thuốc nổ gài phá sập... Ông Một bảo mấy anh cán bộ tham mưu đi theo:

   - Các cậu phải tìm cách giữ cho được khu địa đạo này. Còn có lúc ta cần. Nếu sợ tụi thám báo Mỹ sục sạo vào đây ta cho công binh gài mìn. Tao nhắc lại tụi bay - sẽ đến lúc ta lại xài đến nó.

   Trạm phẫu đón thủ trưởng trung đoàn bằng một nồi canh chua nấu cá. Cơm ăn thỏa thích, không hạn chế. Trong căn hầm đào nửa nổi nửa chìm, y sĩ Nhô đã kể lại tường tận cho ông Một và đoàn cán bộ trung đoàn chuyện của Phong truy đuổi Lý và bắn chết cô ta lúc chạy ra đường 12 hàng giặc. Chuyện bất hòa giữa Phong và Thoan ở đại đội vận tải... Càng nghe chuyện, gương mặt ông Một càng tái đi. Ông không nói một câu, lặng lẽ ngồi uống rượu và đốt thuốc lá, trong lúc mấy anh cán bộ tổ chức của trung đoàn cắm cúi ghi chép. Ông Một thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn Hai Ngạn.

   Vết sẹo trên mặt ông hằn đỏ như một vệt chém. Điếu thuốc lá trên môi ông cháy đỏ. Hình như đêm ấy, ông trung đoàn trưởng không ngủ. Ông hút thuốc và uống cà phê.

Trời chưa sáng rõ, ông Một đã dậy lay võng gọi y sĩ Nhô. Ông gọi luôn Hai Ngạn và cậu công vụ.

   - Mộ con Lý chôn ở mô? - Ông hỏi Nhô.

   - Chôn ở vạt rẫy sát bờ sông, thủ trưởng ạ!

   Ông Một khoát tay:

   - Tụi bay lấy súng, tao muốn ra mộ con Lý.

   Không một ai, kể cả Hai Ngạn dám hỏi ông Một tại sao lại đi thăm mộ của một “con tề điệp” gây nên bao chuyện động trời. Vạt rẫy cũ của đồng bào ở sát bờ sông đã bỏ hoang từ lâu. Đây là nơi chôn cất những người lính K10 và du kích, bộ đội địa phương huyện Hương Trà chiến đấu dưới đồng bằng bị thương, đưa lên được tới trạm phẫu cánh bắc nhung không qua khỏi cái chết. Mộ Lý được chôn ở một góc, cách xa với mộ những anh bộ đội. Lớp đất đắp chưa xanh cỏ, không bia bảng... Ai đó đã đặt lên đầu ngôi mộ một hòn đá, như thể làm dấu. Ông Một đứng tần ngần một lát, rồi nói như nói cho mình ông nghe:

   - Tội nghiệp cụ phó cối làng Mai, nuôi con không nên người. Cụ cũng đã từng là cơ sở cách mạng của ta từ thời chống Pháp đấy các đồng chí ạ... Cha hổ sinh ra con chó... Nó không nên người cũng còn là lỗi tại ta... Tại ta tụi bay ơi! Này Nhô, mai mi sai lính làm cho nó tấm bia.

   Nhô nhanh nhảu hỏi:

   - Để làm chi thủ trưởng...?

   Ông Một nhìn thẳng vào mắt Nhô nói dằn từng tiếng:

   - Mai ngày thống nhất, gia đình người ta có hỏi, ta còn biết chỗ mà chỉ cho họ lên đưa hài cốt về... - Một lát sau, ông nói tiếp - Nó có hư hỏng, thối tha cũng là một con người, Nhô ơi!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #56 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:19:22 am »

   Đại đội vận tải được lệnh nghỉ một ngày để dưỡng quân, nghe thủ trưởng trung đoàn nói chuyện về tình hình trong nước và quốc tế, tình hình chiến sự. Buổi chiều chi bộ Đảng họp để phân tích, phê và tự phê bình của Ban chỉ huy đại đội. Thoan vẫn nghĩ, ông Một và đoàn cán bộ trung đoàn chưa biết gì, tin vào bức điện anh ta báo cáo chuyện của Phong và Lý. Chắc chắn phen này sẽ tống khứ được Phong đi khỏi đại đội vận tải. Suốt cuộc họp, Phong ngồi ngậm tăm, nét mặt lạnh lẽo, liên tục hút thuốc. Một số cán bộ trung đội, đảng viên thừa biết lòng dạ không tốt cùa Thoan nhưng ngại không nói. Ông Một ngồi chủ trì cuộc họp liên tục ngáp vặt. Đến một lúc, ông Một vọt đứng dậy.

   - Anh Thoan nói xong chưa? Tôi kết luận: Mai sớm anh bàn giao giấy tờ đơn vị về trung đoàn bộ, chờ lệnh. Anh Phong - đại đội trưởng, kiêm chính trị viên đại đội vận tải. Chấm hết!

   Ông Một và đoàn tùy tùng cán bộ trung đoàn bỏ bữa cơm chiều. Họ đi thẳng lên đường tuyến...

   Gần một năm sau nữa, Hai Ngạn mới gặp lại được Phong. Anh được ông Một điều về làm trợ lý tác chiến của trung đoàn. Trong một trận đánh về Thủy Dương, Phong đã dính mìn của đám lính bảo an, gãy tay, một viên bi của trái mìn claymo găm thủng ruột buộc anh phải đi viện.

   Mùa đông năm 1971, Hai Ngạn nhận lệnh của quân khu tái lập lại tiểu đoàn 10. Ông được trung đoàn cho phép thu gom tất cả những người lính cũ của tiểu đoàn còn sống và đang điều trị tại các bệnh viện để xây dựng bộ khung mới. Trên tuyến đường giao liên ở binh trạm 47, tình cờ Hai Ngạn bắt gặp Phong đi gùi gạo cho viện 94. Họ gặp nhau nghẹn ngào không nói nên lời. Hai Ngạn vào làm việc với Ban chỉ huy viện 94 và xin cho Phong trở về đơn vị cũ. Không một chút đắn đo, Phong xuất viện, theo chân Hai Ngạn trở lại với tiểu đoàn 10.

   - Không biết thằng C2 đánh đấm ra răng? - Hai Ngạn bật nhỏm dậy.

   Có tiếng đề pa pháo ở rất xa. Vài giây sau đã thấy tiếng đạn xé gió trên đầu và hàng loạt chớp lửa lóe sáng, kèm theo tiếng nổ chát chúa ở vạt tre xanh quanh đầm Trấu. Mảnh pháo bay rào rào chém cả những ngọn tre trong làng. Thấp thoáng những người lính trong dãy công sự, hầm hố đào chống càn quanh rìa làng đi lại nhộn nhạo. Hai Ngạn trở lại với căn hầm của ông sau bức tường đổ.

   “Chả lẽ địch phát hiện, đổ quân càn?”
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #57 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:20:24 am »

2

   Đại đội 1 đóng quân ở bờ tây đầm Trấu, cách nơi pháo bắn chừng non một cây số. Mười quả pháo của tụi lính pháo binh ở trận địa pháo Đồng Lâm bắn hú họa vào phía bãi cát và những rặng tre, làng cũ của dân, khói bụi bốc lên cao. Một đống rơm bén lửa bốc cháy, tuôn khói đen lên bầu trời. Chiếc OV10 sà thấp quan sát mục tiêu, không phát hiện thấy gì lượn vài vòng rồi cút thẳng. Một lúc sau, những trái pháo chuyển tọa độ sang hướng Hương Trà, tiếng nổ phát ra ngả dưới chân địa đạo 310.

   Hai mươi chín ngôi mộ của tiểu đoàn 10 đã được chôn cất chu đáo trong một vạt dương ngay sát bìa làng. Tất cả những người lính hy sinh được bọc kín trong những tấm tăng và chôn sâu dưới lòng cát Phong Điền. Không bia bảng, không cả một chút hương trầm. Cường nằm gối đầu lên chiếc gùi bạt. Anh không tin rằng những ngôi mộ của những người lính giải phóng nằm lại nơi gió cát này sẽ được an lành trong những ngày tới, một khi quân ngụy càn quét truy sát Việt cộng vùng này. Vành đai phân tuyến giữa ta và địch đã định hình sau những ngày giao tranh.

   Những ngày đánh chống càn ở các làng quanh vùng chợ Sịa đại đội 1 vừa bị thương, vừa hy sinh mất mười bốn người. Mười bốn chiến sĩ hy sinh hầu hết là người quê Hà Tĩnh. Nhắm mắt lại Cường cũng nhận ra gương mặt thằng Chiu, thằng Miên, thằng Thẩm, thằng Giang cò, thằng Vược B41... Đứa học xong tốt nghiệp cấp III, đứa học xong lớp 9... Cả một trung đoàn quân huấn luyện bộ đội đều ở tuổi mười tám, đôi mươi nhập ngũ từ cuối năm “bảy mốt”, sau sáu tháng huấn luyện được bổ sung cho sư đoàn 324. Một tiểu đoàn được tăng cường cho K10. Đám lính tân binh hết thảy đều tươi trẻ, sung sức và hăm hở vào chiến trường. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã đi được chặng đường mười tám năm, nhiều anh lính của tiểu đoàn 10 mới chào đời. Mỗi ngày trên các trạm giao liên từ sông La qua Đức Thọ, lên Hương Sơn, Hương Khê vào Quảng Bình, những chàng thanh niên trai trẻ nhìn thấy từng đoàn bộ đội súng ống, ba lô đi qua làng và hát vang: “Đoàn chúng ta đi/ Là đoàn vệ quốc/ Ba lô súng vác/ Lên đường trèo dốc...”. Bài hát ấy, không rõ ai sáng tác, cũng chẳng thật hay nhưng nhiều người thuộc... Cha anh những người lính trẻ, lớp trước, lớp sau đã hối hả lên đường. Bây giờ mới tới lượt họ... “Các cậu không đi mau vào giải phóng miền Nam, chậm chân chỉ có nhặt ống bơ..- Anh chính trị viên đại đội luôn động viên họ như vậy.

   Mỹ đã ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra Bắc. Đêm đêm từng đoàn xe Gát, xe Zin cắm lá ngụy trang chở người, súng đạn, gạo vào tuyến lửa.

   Cả tiểu đoàn 10 ăn một cái Tết dập dội, vội vã ở bên bờ sông Kiến Giang. Ngày mồng ba Tết đã phải hành quân vào binh trạm sát chân núi để nhập vào đội hình của sư đoàn 324. Hơn một tháng trời, tiểu đoàn 10 hối hả bám theo đội hình của các trung đoàn 1, trung đoàn 2, trung đoàn 8 miệt mài leo dốc Trường Sơn, vượt qua làng Ho, đồi Bảy trăm; ngày đi, đêm mắc võng căng tăng ở các binh trạm, len lỏi trong những cánh rừng le, rừng khộp ở cao nguyên Bôlôven, uống nước lã, ăn măng rừng. Con vắt hút no máu người tròn lẳn như quả chuối mít nằm lăn trên võng, các anh lính trẻ mới bắt đầu thấm thía mùi vị của chiến tranh. Thỉnh thoảng, vào mỗi buổi chiều, hoặc ngày nghỉ, các anh bộ đội trẻ ngồi viết thư, viết nhật ký. Có anh lặng lẽ xé bỏ từng trang những cuốn sách cố mang theo dọc đường để đọc vào bếp lửa. Tấm chăn đắp xé bỏ lại một nửa treo lên cành cây để ngày mai leo dốc đỡ nặng. Những trận mưa cuối mùa và sự vất vả làm hao kiệt sức lực. Đã có một vài anh lính sốt rét nằm lại các binh trạm. Một vài anh đảo ngũ sau những trận bom ném tọa độ... Ngay trận mở màn, các đại đội bộ binh K10 đã phải tham gia chốt giữ ở điểm cao 360, Khe Trái. Đại đội 1, đại đội 2 áp sát về vùng giáp ranh hỗ trợ cho các đơn vị địa phương đi về đồng bằng vào làng lấy gạo. Những trận đánh vào làng, gặp địch phục kích, có người hy sinh... Các anh chàng tân binh mới ngộ ra nhiều điều về nửa gương mặt của chiến tranh mà cánh rừng che khuất.

   Về Phong Quảng “giành đất, cắm cờ”, những người lính tân binh của tiểu đoàn 10 đánh giặc ở đồng bằng được nhìn tận mắt những chiếc xè tăng, thiết giáp M113, nòng pháo đen trũi chĩa thẳng vào họ bắn như xé vải, lầm lũi như những con bọ hung tiến vào làng. Phía sau xe tăng là lính bộ binh ngụy lố nhố những chiếc mũ sắt ẩn nấp sau những bờ ruộng xả hàng loạt đạn AR15, đại liên, cối cá nhân, cối 60 bắn không tiếc đạn. Té ra, những bài tập quanh đồi cọ đầy sỏi đá, đánh tổ tam tam, tiểu đội tấn công lô cốt, ụ súng giả tưởng chỉ là trò chơi con nít. Họ tận mắt nhìn và giơ lưng chịu trận để từng tốp máy bay trực thăng chiến đấu A37 lao xuống bắn rốc két, đạn 40 ly dọc theo các trục đường trong làng. Đánh sập từng căn nhà, bới tung từng bụi tre, gò mả, vào từng căn hầm chốt của họ.

   Cường đã quen nhiều với cảnh ấy, còn những người lính của anh thì đây mới là lần đầu. Nhưng sự sống và cái chết dạy cho họ khôn ngoan. Lòng dũng cảm dạy cho họ cách cầm súng và tư thế đánh giặc còn nhanh hơn cả một buổi lên lớp giáo dục về lòng yêu nước của một anh chính trị viên đại đội. Chỉ một trận đánh vào buổi sáng, buổi chiều những người lính trẻ đã lão luyện như những người lính từng trải. Mặc pháo địch bắn. Những anh lính trẻ nằm ép trong những căn hầm đào dưới gốc tre, gò mả, hướng nòng khẩu B41, B40 vào những chiếc xe tăng, chỉ khi cách họ nằm sáu chục mét mới nổ súng. Bị đánh bất ngờ, lính bộ binh hoảng loạn bỏ chạy; bị bắn cháy vài ba chiếc M113, lính dù, lính thủy quân lục chiến không dám vào nữa, gọi pháo và máy bay chi viện. Chiều buông xuống. Cả xe tăng cả lính rút trên đường lộ. Không có trống trận thu quân. Chẳng có kèn gọi lính nhưng những cuộc chống càn giữ làng diễn ra đúng như vậy. Bộ đội nhanh chóng thu dọn chiến trường, băng bó cho thương binh, chôn cất liệt sĩ và lặng lẽ rút sang làng khác. Các mẹ, các chị sẽ nấu ăn giúp bộ đội. Chỉ một đêm hầm hào sẽ lại được đào, chuẩn bị cho trận đánh ngày mai. Những người lính kỳ cựu của tiểu đoàn đã từng đánh về Phú Vang, Quảng Điền, chiếm giữ cố đô Huế hai mươi sáu ngày đêm, có chăng còn lại bây giờ đôi ba người có kinh nghiệm. Đến như Tư Nhất - tiểu đoàn trưởng trước đây ở Quảng Đà cũng chỉ là anh lính đặc công quen thọc sâu, đánh hiểm nhưng là trò mới học cách đánh chống càn... Bỡ ngỡ ban đầu sẽ qua nhanh. Chỉ một ngày chiến đấu ở làng Cát, lính cũ, lính mới đều trở nên thiện chiến. Không có con đường nào tháo lui khi xe tăng địch lầm lũi lội ruộng vào làng, lố nhố đám lính ngụy phía sau, pháo bắn cấp tập... Không thể không nổ súng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #58 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:21:35 am »

   Ở phía căn hầm kế bên, thằng Bê giữ cối 60 nói với anh Can già:

   - Bữa nay hai mấy âm lịch rồi bố?

   Đám lính trẻ ở tiểu đội súng cối quen gọi tiểu đội phó Can như vậy.

   - Hai bốn tháng chạp! - Can thủng thẳng trả lời.

   Cường nằm phía hầm bên này nghe rõ cả tiếng quẹt lửa và mùi thuốc lá bay sang. Đám lính cối vẫn rì rầm nói chuyện.

   - Quê con những ngày này đã rậm rịch lên rừng cắt lá dong về gói bánh chưng.

   Cậu Liêu quản lý tiếp lời:

   - Còn tớ lên rừng chặt củi... Này Bê, mi có nhớ Tết năm ngoái ngày Tết tao với mi chiều ngày mồng một rủ nhau ra chợ Chéo chơi không? Ăn bánh tét, bánh bông lan ở nhà o Hoa... Chừ mà có mươi cái bánh mà ăn cho đã thèm...

   Chợt giọng Can già phá ngang:

   - Tụi bay có im đi không... Thằng Bê chuẩn bị ra thay gác cho thằng Tụng...

   Có tiếng dây súng kêu lách cách và tiếng chân của thằng Bê đạp lạo xạo trên đám lá tre.

   Cường lặng lẽ lấy khẩu K54, khẩu AK báng gấp ra lau chùi cho sạch cát. Sáu ngày nữa đã tới năm mới ư? Thêm một cái Tết nữa lại đến với anh, nhưng ý niệm về những ngày Tết trong ký ức của anh đã trở nên nhợt nhạt. Đã năm cái Tết xa nhà, mỗi cái Tết đến với Cường một khác. Cái Tết đầu tiên, cả tiểu đoàn hành quân trong những cánh rừng săng lẻ trên đất Lào. Ngày mồng một Tết, bộ đội vẫn hành quân. Cán bộ chỉ huy bảo: “Những ngày này máy bay Mỹ không ném bom!”. Món quà Têt cho lính là hai người một chiếc bánh chưng và bốn viên kẹo sôcôla đã bị mọt ăn qua cả lần giấy bóng, năm điếu thuốc lá Tam Thanh. Bữa cơm chiều vẫn chỉ là cơm ăn với chút nước ruốc pha loãng. Cái Tết thứ hai, sau đêm về đồng bằng Hương Thạnh không gặp địch, Cường được thưởng thức món mì chay nấu cá hộp và miếng kẹo mè xửng Huế, nhai sái cả hàm răng. Cái Tết thứ ba, ấn tượng là mẻ cá suối đánh được bằng lựu đạn US, Cường và hai người bạn đã phải đạp rừng chạy đến đứt hơi để tránh pháo bầy bắn đuổi. Trái lựu đạn US ném cá ở Khe Trái của Cường đã bị thám báo Mỹ phát hiện. Chúng gọi pháo bắn chặn. Ăn xong vài lưng cơm tất niên với món cá kho thiếu muối Cường và hai người bạn đã phải nghe những lời chì chiết, phê bình của anh Phương, chính trị viên phó tiểu đoàn có bệnh nói dai như đỉa. Anh Phương là lính pháo binh ĐKB, được đề bạt hạ phóng xuống chỉ huy bộ binh, chưa quen với lối sống vừa liều mạng, vừa ngổ ngáo của đám lính K10 coi cái chết như trò đùa. Thèm thuốc lá Mỹ, dám mò vào cả nơi đóng quân của tụi thám báo lượm cà phê, thuốc lá, thịt hộp và đái vào mũ sắt của chúng. Cái Tết thứ tư, rồi thứ năm... Cường chẳng buồn nhớ nữa. Tiếng pháo ngày xuân đối với anh giờ xa lắc, xa lơ. Nhưng chính vào giờ khắc này, anh lại nhớ tới Hạnh. Cường và Hạnh xa nhau đã gần cả năm trời. Ngày nghe tin Cường cùng với bộ đội K10 trở lại chiến trường Trị Thiên, về Phong Quảng, Hương Trà... Hạnh đi bộ bốn ngày trời để lên cho được khu địa đạo 310, tìm cách gặp Cường. Buổi chiều ấy, Cường và trung đội 3 mới đi gùi đạn cối trở về, anh đang giặt giũ quần áo dưới suối. Bất chợt nhìn thấy Hạnh hiện ra trên con đường mòn ở lưng đồi băng xuống, anh ngỡ ngàng đánh rơi cả chiếc áo. Những người lính của trung đội 3 không ai biết Hạnh.

   Họ nghĩ đơn giản cô là du kích của huyện... Cậu Phê hấp tấp hỏi Hạnh:

   - Đồng chí ở đơn vị nào, tới đây có việc gì?

   Hạnh đã nhìn thấy Cường, nét mặt cô vẫn tự nhiên như không hề quen biết anh.

   - Tôi ở huyện ủy, tới gặp eng Cường!

   - Kia... anh Cường kia...!

   Cường xúc động không nói được. Hình như Hạnh cũng vậy. Cô bước tới bên anh và siết chặt bàn tay. Tất cả những anh lính của trung đội 3 có mặt ở suối đều nghe rõ câu nói của Hạnh:

   - Chào eng Cường... Lâu quá rồi hè... Tưởng các anh không bao giờ trở lại với Hương Trà...!

   Cường tự nhiên nóng bừng ở mặt.

   - Làm sao có chuyện không trở lại giáp ranh...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #59 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:22:34 am »

   Lúc chỉ còn có hai người ngồi nói chuyện, Hạnh cho biết cô đang đi cùng chú Sáu Thọ qua đường 12 sang thành ủy họp, cô đã xin với chú Sáu vài tiếng đồng hồ để gặp Cường. Bộ đội trung đoàn 3, đoàn Ngự Bình đang đánh cứ điểm Động Tranh. Đại đội của Cường đang làm nhiệm vụ giữ hành lang sông Bồ và chốt giữ đồi Khe Trái. Những anh lính trẻ trong đom vị không ai biết mối tình thầm kín của hai người. Họ hiểu một cách đơn giản, chị Hạnh - bí thư chi bộ của một xã vùng sâu, ven đô Huế, là người quen cũ của Cường. Hạnh đãi trung đội bộ binh bằng hai gói mè xửng và một nồi chè đường nấu với lương khô, tút thuốc lá Rubi quân tiếp vụ. Cho đến khuya, Hạnh đã phải vội vã trở lại địa đạo 310 để cùng với chú Sáu Thọ và những người lính trinh sát thành phố vượt đường 12 trước khi trời sáng. Cường khoác súng AK và tiễn Hạnh xuống bến nước. Con đường mòn trong rừng nhập nhòa sáng tối. Ánh trăng non như những mảnh giấy vàng rơi lả tả xuống nền đất ẩm ướt, râm ri tiếng côn trùng... Ở một bãi trống, những chiếc lá nón bợt bạt trong ánh trăng khẽ lay động. Có thể nghe thấy được cả tiếng nước chảy róc rách dưới lòng con suối đá. Chợt Hạnh dừng lại, gương mặt cô sát ngay vào người anh. Một tay cô cầm lấy dây súng AK của Cường.

   - Anh đừng đi theo em nữa... Anh đi nữa... Em không đi nổi mô!

   Bất ngờ, cô ôm siết anh vào người và nói:

   - Anh Cường ơi! Anh hãy quên em đi...! Hãy quên em đi!

   - Tại sao? - Cường đẩy nhẹ cô ra và nhìn soi vào gương mặt Hạnh, ánh lên một màu trắng bợt - Anh vẫn luôn nhớ em...

   - Không sao cả...! Em yêu anh... Nhưng hãy quên em đi, anh ơi!

   Hạnh cởi chiếc đồng hồ Ôrien đang đeo trên tay trao cho anh và nói:

   - Anh giữ lấy mà xem giờ... mai mốt về dân em kiếm cái khác.

   Hạnh hôn lên má Cường và nhanh như một con mèo rừng, cô đã tan biến vào con đường băng qua suối lẫn vào đám cỏ tranh phía bên kia đồi. Cường có cảm giác Hạnh như một con người khác, có chút xa lạ, trở nên cứng cỏi chín chắn hơn. Cô không giống như cô du kích thuở nào đằm thắm, chân tình đã chẳng quản hiểm nguy, vượt qua chốt giặc, tìm về đồng bằng để cứu anh trong một lần mắc kẹt ở lại nhà Ngật. Đã nhiều lần Cường tự cắt nghĩa, lý giải thái độ hành động của Hạnh sau lần gặp nhau bất ngờ ấy. Anh tự biện minh rằng: bây giờ Hạnh đã là huyện ủy viên, chỉ đạo cả mấy xã vùng sâu, người thân tín của chú Sáu Thọ, cô không thể bộc lộ tình cảm riêng tư với anh được. Cô phải lo toan nhiều chuyện cho cách mạng. Nào là xây dựng cơ sở trong dân, lấy tin tức của địch để báo cáo cho huyện, cho tỉnh, lo cơm áo gạo tiền cho đội biệt động vũ trang của huyện, lo địch càn, lo lên phương án đánh địch. Nhưng ở một chiều sâu kín khác, Cường có cảm giác như Hạnh đang xa lánh anh. Đã có lúc anh chạnh lòng nghĩ: Hay Hạnh đã có “người khác”. Anh đã là gì với cô? Một anh lính ngoài Bắc xa xứ. Một cô gái không hiểu rõ gốc tích người mình đem lòng yêu thương. Và thêm nữa, đã có biết bao những người lính K10, lớp này qua lớp khác, hết dân Thanh Hóa đến lượt lính Hải Phòng, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nội, Nam Hà, Vĩnh Phúc... đến với Hương Trà. Người đến kẻ đi, người bị thương, hy sinh mãi mãi nằm lại với đất rừng, đồng ruộng. Tình yêu thời chiến tranh quả là trò đùa với số phận.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM