Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:16:02 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giáp ranh  (Đọc 92592 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #70 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:37:50 am »

*

   Ngày...
   Có thể anh trách em, anh giận em, Cường ạ. Nhưng biết mần răng được. Cái ngày anh và những người lính K10 rời giáp ranh, em vừa buồn, vừa mừng cho anh, nhưng từ đáy sâu tim em tan nát.

   Về với tiểu đoàn, về với những người lính chủ lực của khu em biết sự hiểm nguy sẽ đến với anh bội phần. Bom pháo như rứa, các anh lại phải luôn đối mặt với những trận đánh ác liệt và thảm khốc, không nơi trú ngụ, không được phép hèn nhát, mặt đối mặt với các đơn vị lính ngụy thiện chiến ở chiến trường, hòn tên mũi đạn biết răng được? Anh ở lại đây, em biết anh chưa hẳn đã vui. Đang là chỉ huy bộ đội lại phải làm anh cán bộ xã, nào có hay hớm gì. Em biết cái chí của anh không phải vậy. Nhưng dẫu sao anh ở đây hàng ngày em còn nhìn thấy anh. Ăn uống dù có kham khổ đến mấy, canh môn vót, tai voi, chút muối ớt nhưng mà “cả nhà” đều vui. Đêm đi đồng bằng, lọt được về dân, cuộc đời lại tươi. Anh về đây vài tháng, đã thông thuộc địa hình từng ấp, từng xã... Cơ sở đã quen hơi biết tiếng anh. Đám dân vệ, nghĩa quân dù có mưu mô hiểm độc đến mấy, gài mìn, phục kích nhưng lại là đám nhát gan như thỏ đế. Súng AK, B40 vừa nổ đã co cẳng bỏ chạy... chứ không gan lì, cứng đầu cứng cổ như tụi lính ngụy bộ binh E54, lính dù, thám báo... Mà tính anh lại là người liều lĩnh.

   Ngày...
   Em vẫn còn nhớ, đêm ấy đi về chợ La Chữ. Bầu trời xám xịt mưa đã cả tháng trời. Đồng bằng trắng nước. Trời mưa to, các chốt của địch rút hết lên đồi. Đường về đồng bang ngả Trường Bia thênh thang. Trời chưa tối, đứng từ đỉnh dốc nhìn về đồng bằng trắng nước. Gạo hết đã mấy ngày rồi. Bột ngọt, muối cũng hết. Quân của xã ốm hết quá nửa. Gom quân đi đồng bằng chỉ còn đúng năm người. Anh Hồng, chú Hoa, anh Ngọc, em và anh. Anh Hồng là chỉ huy, không nói làm gì, anh Ngọc đêm ấy cũng phải vác cây B40, giữ hỏa lực. Các xóm ấp vùng Hương Thạnh địch chốt dọc theo tuyến đường 1 không về được, cả nhóm quyết định đi Hương Thái, vào cơ sở của anh Ngọc để mua gạo, thực phẩm. Con đường về chợ La Chữ nước lội ngang bắp chân. Mưa vẫn rơi, sấm sét nổ, chớp sáng lóa trời. Con đường bí mật vào làng La Chữ qua hói Bồn Trì đã chìm sâu hàng thước nước. Anh Hồng quyết định đột kích vào làng qua cầu La Chữ. Chính anh chứ không phải ai khác đã lặng lẽ bò lên bám cầu để theo dõi động tĩnh phía đầu cầu bên kia. Cũng tại cây cầu này, cách đây hơn tháng trước, bộ đội về gặp phục kích. Anh Minh người Quảng Xương, Thanh Hóa đã dính mìn của tụi bảo an. Đám nghĩa quân, dân vệ cũng hay chốt chặn ở đây... Em, anh Hồng, anh Ngọc, chú Hoa giương súng nằm nép ở bờ bên này hói, sẵn sàng đánh chi viện cho anh để có đường rút. Em dõi theo anh từng mét một khi anh bò trên cầu. Lúc ấy, em đã tự hỏi, sao người bò trên cầu là anh chứ không phải là em? Nhưng em thừa hiểu, anh Hồng và cả anh nữa không bao giờ cho em làm chuyện ây. Bộ đội các anh luôn là những người đi trước mà... Chỉ đến khi nhìn thấy anh khuất vào sau rặng tre mà không thấy súng nổ, em mới thở phào nhẹ nhõm. Gặp anh ở nhà mụ Giạ, anh lại còn dúi vào tay em trái lựu đạn US nổ tức thì đã gài chốt và bảo: Tặng em này, đem về gài quanh cứ. Hóa ra trời đổ mưa, đám lính dân vệ đã kéo nhau về đình ngủ cả. Chúng gài lại một quả lựu đạn trên cầu, thay gác cho chúng!

   Hú hồn! Mà cũng ghét anh ghê!

   Ngày...
   Đã hơn năm tháng rồi, em không nhận được tin tức gì của anh. Thư, công văn vẫn chuyển về xã lần nào em cũng lựa tìm nhưng chẳng thấy một lá thư nào của anh. Ngay đến thư của Mộc, từ quê gửi vào, đi mất chín tháng, nó vẫn còn nhận được đọc cho mọi người cùng nghe. Còn anh thì không! Hay đã thật quên em rồi?

   Mà cũng phải thôi, anh ra miền Bắc có biết bao niềm vui, bao cô gái chờ đợi anh... Anh sẽ sớm quên ngay đứa con gái quê mùa, tội nghiệp đang chui lủi đâu đó trong các cánh rừng, thôn ấp. Cái chết rình rập hàng ngày, hàng giờ, hàng phút. Em cũng cầu mong cho anh sự bình an... Em chẳng có quyền gì chờ đợi và hy vọng cả, vào lúc này...

   Ngày...
   Những ngày xa anh thật là dài. Và những đợt em phải bám “lõm”, thời khắc một ngày càng dài hơn, nhất là những lúc địch đổ quân đóng ở làng. Em như con thú bị nhốt trong chiếc cũi, nhiều lúc nhìn tụi bảo an đi lại trong làng, ngồi uống lade lai rai ngoài quán nhậu muốn bung hầm ra táng cho chúng vài trái lựu đạn mà không được. Hai trái bộc phá, anh tự tay gài kíp nổ dành tặng cho em, em vẫn giữ. Chỉ khi nào đi vùng sâu em mới dùng đến nó. Em còn nhớ anh dặn: “Dây cháy chậm anh chỉ cắt đúng ba phân, em nhớ nghe!”. Anh sợ em quên, cứ hay nhắc đi, nhắc lại hoài à...! Ở đây, trong căn phòng tối om của nhà thím Tư, để giết thời gian trôi đi trong một ngày, em lại nhớ lại những kỷ niệm của hai đứa mình. Đẹp hay xấu hả anh? Ta làm vậy có sai không? Con tim em mách bảo: ta yêu nhau thiệt lòng, chẳng có gì là tội lỗi cả. Ngay như cái việc chú Sáu bí thơ luôn nhắc em phải thận trọng, cảnh giác trong mọi chuyện... Nhưng vào lúc rảnh rỗi, nhớ anh cố ghi mấy dòng này. Em chả ngại. Nói có Trời Phật, nếu có mệnh hệ gì, những dòng này sẽ theo em trở thành cát bụi. Chuyện của riêng em, chỉ mình em hay. Cuộc đời đã cho em nhiều thứ nhưng cũng lấy của em nhiều thứ. Bây giờ cuộc sống lại run rủi - anh đến với em, em phải ráng tìm cách giữ...

   Bây giờ đã là 6 giờ tối rồi. Hình như ngoài trời lại đổ mưa. Cứ mưa to đi, để tụi bảo an, dân vệ chui vào trong nhà... Em đi về Phe Nhất mà!

   Ngày...
   Có một anh chàng ở đội biệt động xã M tán tỉnh em. Anh ta mới đi viện 94 về, bảo rằng nghe tin anh và bộ đội K10 về đang đánh địch ở Động Tranh. Có gặp một anh tên Kháng nào đó ở viện, lính trinh sát quân khu về bám Hòn Vượn nói anh bị chết rồi. Em không tin... Đã mấy lần em về hậu cứ trên xanh, lần nào anh ta cũng lần mò sang cứ của xã em chơi, chọc ghẹo tán tỉnh em. Có lần tức quá, em méc với anh Ngọc. Bữa ấy, đi đồng bằng, trong lúc chờ trời tối ở ngoài dốc miếu Trâu, nửa vui nửa đùa eng Ngọc vỗ vai anh biệt động nọ: “Nè, tao nghe mi tán tỉnh con nhỏ Hạnh phải không? Nó là em tao (điều này anh Ngọc xạo!), có người yêu rồi đó nghe! Thằng C biết chuyện nó về cắt dái mày, tao không can mô nghe.”.Cậu biệt động nọ tái mặt, chống chế: “Đâu có! Đâu có... Mà nghe biểu anh C chết rồi”. Anh Ngọc văng tục: “Chết cái cục cứt! Nó còn sống sờ sờ ra kia... Bữa tao qua đường 12, nghe tin bộ đội K10 đang về lại Hương Trà”.

   Nghe lỏm tin ấy, em sang gặp chú Thọ. “Chú Sáu ơi! Nghe tin anh Ngọc biểu K10 về lại huyện mình có phải không, chú?”. Chú Sáu đang ngồi đọc tài liệu nghe hỏi, giương kính nhìn em: “Chú chưa nhận được thông báo cháu à! Chỉ biết bộ đội 324 đang đánh 360, Động Tranh, Bình Điền. ít bữa nữa chú sang thành ủy họp, chú cho cháu đi thăm dò thử xem sao. Anh em K10 về mình tốt chớ sao..

   Ngày...
   Lúc em bỏ đi... Em biết là anh buồn và giận em. Biết mần răng được, anh! Nhìn thấy anh khỏe mạnh, em thật vui và mừng. Khi nhìn thấy đôi mắt anh ngạc nhiên sững sờ, đánh rơi chiếc áo em biết rằng anh vẫn yêu em... Nhưng anh ơi, em phải đi. Chú Sáu đang đợi. Em biết anh sẽ không vui khi em bảo “Quên em đi!”. Anh còn trẻ, đường còn dài... Còn em? Bom đạn biết đâu mà lần... Suốt dọc đường, vừa đi vừa chạy về địa đạo 310, em khóc ròng. Và nghĩ đến anh. Chú Sáu hỏi em: “Có chuyện chi?”. Em chối: “Không có chuyện chi chú... Cháu không gặp được eng Cường. Bộ đội K10 toàn ngưòi mới, cháu chỉ quen vài người”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #71 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:39:26 am »

5

   Cường và một số cán bộ của đại đội 1 đã có một đêm vất vả. Từ 3 giờ sáng, tổ trinh sát của trung đoàn 2 đã đưa mọi người tiếp cận vào điểm chốt Khủy Đường Xe. Sương xuống, ướt lạnh vai áo. Lá cỏ tranh sắc cứa vào tay chân đau rát. Ánh trăng hạ tuần nhợt nhạt, không thể bằng mắt thường nhìn rõ được các vị trí đóng quân của quân ngụy. Không gian tĩnh lặng, nghe rõ tiếng những con chuột đuổi nhau kêu “chít! chít!” trong đám cỏ tranh. Vượt qua một đoạn sông rộng chừng vài chục sải, nước ngang tới ngực, 8 giờ sáng đoàn cán bộ đã có mặt ở điểm chốt cồn Nổi. Hai ngày trời, ban chỉ huy đại đội 1 và ba trung đội trưởng đã nghiên cứu kỹ tấm sơ đồ vùng bắc sông Bồ và trên thực địa. Các khu vực chốt của các đơn vị lính dù được ký hiệu bằng đường xanh, các mũi tên xanh. Tuyến chốt của ta đánh dấu bằng chì đỏ, mũi tên đỏ. Có nhiều điểm chốt của ta và của địch cách nhau chưa đầy 50 mét. Theo cách nói của lính trung đoàn 2 “ta và địch nằm trong tầm quăng lựu đạn”(!). Chỉ đến khi leo lên tới chòi quan sát đặt trên ngọn cây muỗm già, cao vài chục thước ở chốt cồn Nổi, Cường mới nhận ra thế chốt gài răng lược của bộ đội và các đơn vị lính dù ngụy.

   Để leo lên đài quan sát, bộ đội trung đoàn 2 đã làm sẵn một cái thang bằng tre ốp chặt vào thân cây muỗm từ gốc lên tới ngọn. Một cái chòi nhỏ vừa đủ chỗ cho hai người ngồi quan sát và đặt súng đạn, nước uống. Đài quan sát được giấu kín trong tán lá cây muỗm. Đứng từ đây mà nhìn, thấy được toàn cảnh làng Hiền Sĩ, Cổ Bi và một đoạn dài của sông Bồ từ điểm cao 165 đến tận cầu sắt. Trong cuộc giao tranh vừa qua giữa bộ đội giải phóng và quân ngụy đoạn đường quốc lộ chạy qua Phong Điền đã diễn ra những trận đánh ác liệt. Kết cục, quân dù ngụy đã đánh bật bộ đội trung đoàn 2 ra khỏi huyện lỵ Phong Điền. Sau ngày 27 tháng giêng, làng Hiền Sĩ chạy dọc theo bờ sông Bồ lên tới đường lộ, cầu sắt Hiền Sĩ do một tiểu đoàn lính dù chiếm giữ. Bộ đội giữ được một phần làng Cổ Bi, Thanh Tân, Sơn Quả...

   Làng Cổ Bi dân bỏ đi từ lâu chỉ còn lại những mảng tường vỡ. Các vườn chuối, vườn mít vẫn mọc xanh tốt. Bao quanh làng là các rặng tre gai. Trong làng có nhiều hố bom, hố pháo dấu tích từ Mậu Thân 1968. Làng nhỏ nhưng phần đất mỗi bên chiếm giữ cũng được chia làm hai. Một đại đội lính dù ngụy chốt giữ ở phần làng phía đông. Một phần làng có diện tích lớn hơn nằm ở phía tây là của bộ đội. Ranh giới để phân biệt bên ta và bên địch là một rẻo đất ruộng, xưa kia dân trồng lúa, trồng mì, nay bỏ hoang để mặc cho cỏ dại mọc đầy. Nơi trú ẩn của đám chuột, dúi, thỏ, nhím, chồn, cáo... Cả bên ta và đối phương đều tận dụng triệt để từng rặng tre gai, từng gốc mít, bờ tường để đào công sự. Chỉ có vài đêm, tuyến hào của bộ đội đã chạy dọc ngang khắp làng, giấu kín giữa những vạt cỏ tranh cao quá đầu người. Đây thực sự là những tuyến hào lợi hại để đánh phản kích, giữ chốt. Cách mười mét lại có một hầm kèo chữ A chắc chắn. Ở phía dãy hào của quân dù, cứ năm bảy chục mét họ dựng một chòi canh, mái lợp pông sô, có khi là vài tàu lá chuối, cố tình nhô cao hơn mặt hào. Trên nóc chòi phấp phới ngọn cờ vàng có ba sọc đỏ. Căn chòi và ngọn cờ của đại đội dù như có ý bảo: “Chúng tôi ở đây, đất này của chúng tôi... Các anh đừng nổ súng”. Trong mỗi căn chòi ở các điểm chốt bao giờ cũng xuất hiện một người lính dù ngụy, đội mũ sắt, ôm khẩu AR15, ngồi im lặng như một pho tượng quan sát, nghe ngóng động tĩnh, còn đại bộ phận quân dù ẩn núp trong các công sự, giấu mình vào các căn nhà bạt dựng khuất sau bức tường.

   Làng nhỏ Cổ Bi là một điểm chốt quan trọng của bộ đội dưới đồng bằng. Từ đây, khi có lệnh tấn công, bộ đội đánh thọc ra đường 1 để vào Huế chỉ chưa tới hai chục cây số. Cầu Hiền Sĩ bắc qua sông Bồ là yết hầu cửa ngõ vào cố đô Huế. Cả ta và địch đều tập trung những đơn vị thiện chiến. Giữ chốt làng Cổ Bi trung đoàn 2 bố trí một tiểu đoàn. Một tiểu đoàn giữ vùng cống Vàng kéo dài ra tới tận làng Thanh Tân, Sơn Quả... Trung đoàn bộ đóng quân ngay sau dốc Ông Già. Ngoài ra còn có một tiểu đoàn làm thê đội dự bị, sẵn sàng ứng chiến khi cần thiết cho tuyến chốt phía trước.

   Sau những cuộc giao tranh đẫm máu, tuyến chốt giữa ta và quân ngụy đã tạm thời định hình trên dải đất kéo dài hàng chục cây số từ sông Bồ tới sông Ô Lâu. Tướng ngụy Lê Quang Trưởng, chỉ huy vùng I chiển thuật, biết miền tây Phong Quảng chủ lực quân giải phóng đang tập trung một mũi tấn công mạnh. Địch cũng tung ra đây sư đoàn dù, sư đoàn thủy quân lục chiến cùng sư đoàn 1 bộ binh để giữ cho được mặt trận Quảng Trị, Phong Quảng Điền. Sông Bồ trở thành một phòng tuyến hiểm địa để giữ cố đô Huế. Cả một dải đồi núi phía tây, từ Động Ông Do, 367, Một Mái, điểm cao 165, 140, Động Ông Tre giáp với sông Bồ đều có các tiểu đoàn dù chiếm giữ. Dải đồi thấp thuộc bình độ 28 kéo dài từ đầu làng Hiền Sĩ tới làng Mỹ Chánh cũng có quân ngụy ngăn chặn đường về đồng bằng Phong Quảng. Thành thử toàn bộ đội hình của trung đoàn 2, trung đoàn 4 chiếm giữ vùng đất giáp ranh giữa đồng bằng bị kẹp chặt bởi hai gọng kìm quân ngụy.

   Nhưng đây là thời điểm chiến trường tạm ngưng tiếng súng. Một thời kỳ “hòa hợp” hi hữu trong cuộc giao tranh. Nhiều năm sau, khi đọc lại những cuôn sách viết về vùng đất này, những năm tháng này, Cường nhận ra người chép sử ít ai ghi lại. Hoặc giả, cái gọi là “hòa hợp”, “ngưng binh” chỉ là một chiến thuật của người chỉ huy quân sự ở chiến trường trong một thời điểm nhất định. Cũng có thể người ta còn ngại dùng luôn cả cái từ “hòa hợp” khi đã cắm được cờ ở đỉnh Ngọ Môn, dinh Độc Lập... Chuyện ở một vùng đất, số phận những người lính chỉ còn là chút bọt biển giữa sóng cả đại dương. Nhưng đấy là chuyện của vài chục năm sau nữa... Còn bây giờ thế trận cài răng lược đang bày ra trước mắt những người lính của đại đội 1.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #72 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:41:17 am »

   Đại đội 1 được Tư Nhất giao nhiệm vụ rõ ràng: Chốt giữ Khủy Đường Xe và cồn Nổi, sẵn sàng chi viện cho bộ đội trung đoàn 2, giữ bằng được Cổ Bi, Thanh Tân, Sơn Quả... Ban chỉ huy đại đội 1 đóng quân ở chốt cồn Nổi. Ở đây đơn vị cũ đã đào sẵn hầm hào kiên cố, thuận tiện khi chỉ huy đánh địch.

   Cồn Nổi là một doi cát dài 800 mét có hình con cá chày nằm sát với bờ bắc sông Bồ. Đầu con cá chày hướng về phía chân núi, áp sát với đỉnh 165. Đuôi con cá chày xuôi về hướng đông. Đất phù sa chảy từ thượng nguồn qua nhiều năm tấp lên thành bãi, thành cồn. Từ lâu, dân làng Cổ Bi đã ra cồn khai phá trồng hoa màu, lập vườn dựng nhà. Đất bãi màu mỡ cây cối xanh tốt. Trong các khu vườn cũ của dân còn để lại hàng chục cây mít, gốc to người ôm không xuể. Đang tiết xuân, cây đâm chồi nảy lộc, những trái mít non quả treo lúc lỉu trên cành. Rau lang, rau mảnh bát mọc đầy trên mặt đất.

   Cồn Nổi cũng được chia làm hai. Một phần ba cồn dưới đuôi con cá là nơi đóng quân của một đại đội lính thủy quân lục chiến ngụy. Đây là đại đội lính đặc nhiệm của sư đoàn thủy quân lục chiến đóng ở bờ nam sông Bồ, trong làng Lai Bằng chi viện sang cho quân dù. Ở bãi cát dưới đuôi cồn, quân ngụy neo sẵn ở đấy hai chiếc xuồng máy cao tốc để hàng ngày sang Lai Bằng nhận rau cá thực phẩm. Hai phần ba đất Cồn Nổi đầu phía tây là nơi đại đội 1 chốt giữ. Các đơn vị bộ đội đóng quân đã đào sẵn một số hầm kèo chữ A, công sự, ụ súng cắt ngang cồn. Phía tuyến chốt của ngụy cũng có nhiều dãy giao thông hào có những bao dứa chứa đầy cát, đắp cao hàng mét làm công sự. Bằng mắt thường, ai cũng nhìn thấy những họng súng đại liên, M72 của địch chĩa ra từ các lô cốt hướng sang phía đối phương. Bộ chỉ huy sư đoàn thủy quân lục chiến đóng quân dọc theo bờ nam sông Bồ sẵn sàng hỗ trợ cho các tuyến chốt bờ bắc. Lẩn khuất sau những rặng tre gai dày đặc làng Lai Bằng san sát những lều bạt của lính. Lâu lâu, trên sông những chiêc thuyền găn máy chở vật dụng xây công sự phục vụ cho các đơn vị lính dù, lại bắn ba phát súng chỉ thiên báo hiệu. Những viên đạn vạch lên bầu trời một vệt lửa đỏ kéo dài. Từ các điểm chốt cao trên núi, lính gác lại đáp trả bằng những trái đạn hỏa châu bay vút lên bầu trời, tỏa ra quầng ánh sáng nhờ nhoạt, ma quái. Dù pháo sáng bay cả sang khu vực chốt của bộ đội.

*

   Đại đội 1 nhận bàn giao chốt vào lúc nửa đêm.

   Từng tổ chốt của trung đoàn 2 lặng lẽ rút quân. Cơ số đạn hỏa lực phòng thủ chốt họ bàn giao lại cả. Chỉ ít phút sau ba trung đội của đại đội 1 và một trung đội tăng cường của C2 đã vào vị trí. Không khí quanh các điểm chốt vẫn im lặng như tờ, dường như địch không biết bộ đội thay quân. Người lính ngụy đang phiên gác thỉnh thoảng lại khua vào cái loong cho tỉnh ngủ.

   Trời chưa sáng rõ đã xảy ra sự cố. Một con chồn hôi đi ăn đêm, qua điểm chốt dưới chân 165 đã vướng vào một sợi dây gài trái mìn. Mìn nổ, mảnh bay vào cả điểm chốt. Khanh trung đội phó, Thắng đen và Đức mới nhận chốt được hơn một giờ trúng mìn hy sinh. Nghe tin bộ đội hy sinh, Ban chỉ huy đại đội bàng hoàng. Một bộ phận được điều động ngay tới điểm chốt 165 để lo chôn cất liệt sĩ và giữ chốt. Khâm liệm và chôn cất xong cho ba người đồng đội đã hơn 7 giờ. Cường thẫn thờ nhìn ba ngôi mộ đắp lớp đất phù sa còn tươi mới in hằn dấu xẻng ngay trên bãi cát sông Bồ. Con chồn hôi chết còn thảm khốc hơn. Phần ruột và bụng bị bắn văng đi mất. Chỉ còn lại cái đầu dính lòng thòng với dải xương sống có chỏm đuôi như bông hoa lau và hai chân sau. Đôi mắt con chồn vẫn mở thao láo.

   Khanh quê ở Khoái Châu, Hưng Yên. Cậu ta cùng một tiểu đoàn tân binh với Cường, làm lính sư đoàn 330. Vào chiến trường Khanh được đưa về Công trường VI, một thời gian sau bị biệt phái về làm lính địa phương Phong Điền. Cho đến khi tiểu đoàn 10 được thành lập lại Khanh mới về với đơn vị chủ lực. Bao nhiêu năm đánh giặc ở giáp ranh, ở đồng bằng, một tay gài mìn và gỡ mìn cự phách không hề hấn gì, nào ngờ lại dính mìn của một con thú hoang.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #73 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:42:14 am »

   Thắng đen và Đức đều là tân binh của quân khu Thủ đô vào chiến trường Trị Thiên - Huế được bổ sung quân số cho K10 sau những ngày về đánh giặc ở đồng bằng. Những anh lính tân binh Hà Nội chưa kinh qua bất kỳ trận đánh nào, nhưng lại sớm được nhìn tận mắt những người lính ngụy giữ chốt trên tuyến “hòa hợp”. Thắng gầy, đen, hay kể chuyện “trạng”, chuyện đùa tếu vào lúc đêm khuya, nhà ở Đội Cấn. Đức đẹp trai, hiền lành, con một gia đình buôn bán trên phố Huế. Những năm còn thơ trẻ, Cường ít biết về Hà Nội. Nhờ những câu chuyện phiếm hàng đêm với đám tân binh mới bổ sung cho đại đội, Cường hiểu thêm về Hà Nội. Thực ra lúc còn nhỏ, một đôi lần được cha cho đi Hà Nội. Ấn tượng về Hà Nội, với Cường có chăng là tiếng còi tàu hỏa về đêm nghe xa vắng, heo hắt. Cường được cha anh cho đến nghỉ tại nhà của một chú họ xa, trong một dãy phố có con đường sắt chạy ngang sát nhà. Đứng từ lâu hai của ngôi nhà cổ, qua ô cửa sổ, Cường nhìn rõ những toa tàu vùn vụt lao trên đầu. Ngôi nhà rung lên trong tiếng còi tàu rộn rã.... Ngay trước cửa nhà ông chú còn có con đường xe điện chạy qua. Mỗi khi tàu điện vào ga, tiếng chuông leng keng, tiếng bánh sắt xe điện xiết trên đường sắt tóe lửa. Ông chú họ vốn là chủ nhà in kiêm xuất bản từ thời Pháp. Sau ngày Hà Nội giải phóng, ông đã hiến tặng Nhà nước toàn bộ nhà xưởng, nhân công. Ngôi nhà cũ bị chia năm xẻ bảy. Từ ngoài đường vào nhà để leo lên căn gác gỗ tầng hai nơi vợ chồng ông chú sinh sống, phải đi qua một con hẻm nhỏ, nhiều ngóc ngách. Ấn tượng kinh hãi nhất với Cường là nhìn thấy những con chuột cống bất chợt chạy ra từ đống chạn bát, kho chứa đồ nào đó. Lũ chuột ngang nhiên chạy giữa ban ngày, có con già yếu trụi cả lông. Chúng còn giương mắt nhìn, đe dọa một đứa trẻ quê mùa như có ý xem thường, mỉa mai. Bà thím họ của Cường, vợ ông chủ nhà in, vốn con cháu dòng dõi chúa Trịnh đã qua lâu rồi, nhưng vẫn giữ được những lề thói, gia phong trưởng giả, cầm tay cháu:

   - Đừng sợ, cháu! Chuột ở đây nhiều lắm, nó sống chung với người ấy mà.

   Tiện tay, bà thím quăng ngay cái ghế gỗ đang cầm trên tay vào con chuột. Nó hoảng hốt chui tọt vào miệng cống.

   Đám con cái của ông chú họ không ai nối nghiệp cha. Lớn lên người làm công chức, kẻ đi dạy học. Hầu như không mấy ai quan tâm tới cái nghề in, nghề làm sách của bố. Gặp được cha Cường ông chú họ rất vui. Thuở nhỏ hai người chơi với nhau. Ông chú con nhà địa chủ, được đi học trường Tây. Còn cha Cường ít học, sống quanh quẩn sau lũy tre làng. Một người ở nơi thôn dã, một người trí thức quen cuộc sông nơi đô hội. Mỗi năm vài lần ông chú họ từ Hà Nội về quê cúng giỗ, tìm đến nhà ông anh chơi cho có bạn. Cha Cường được giao trông nom mồ mả cho cả dòng họ trong đó có ngôi mộ tổ nên được chú thím đối đãi chu đáo. Bữa cơm của những năm “sáu mươi” chỉ có bát canh rau ngót nấu với thịt nạc, vài lạng giò lụa, ít dưa chua, dăm ba ngọn húng Láng, lọ ruốc bông mà sao Cường thấy ngon và thịnh soạn đến vậy! Ăn xong có quả chuối tiêu, thanh kẹo lạc tráng miệng. Biết Cường đã học xong lớp 8, bất đồ chú hỏi:

   - Cháu có biết ông Lê Văn Trương, ông Vũ Trọng Phụng, ông Nam Cao, ông Tô Hoài không?

   Ham mê đọc truyện, Cường là số một. Anh mê mẩn truyện từ khi biết đọc. Nhịn ăn quà sáng để mua sách. Hàng trăm cuốn truyện thiếu nhi, truyện nước ngoài của thư viện thị xã đều qua tay Cường cả. Thủ thư là bác Cả Đào. Cứ thấy bóng Cường ra vào chiều thứ năm bác lại cho mượn vài ba cuốn về đọc. Bắt đầu từ truyện anh dế trũi, dế mèn đến “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”, “Rôbinsơn Cruxô”, “Không gia đình”, “Đất rừng phương Nam”. Thêm một cấp nữa là các tác phẩm của Nguyên Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương... Đọc hết sách thư viện anh lại quay sang tủ sách của thầy giáo Thiều. Thầy giáo Thiều dạy học từ thời Pháp, từng quen biết và bạn học với nhà văn Duyên Anh. Thầy có một tủ sách đô sộ từ cổ chí kim và dành tiền để mua cả những cuốn tạp chí Văn nghệ Quân đội.

   Nghe chưa hiểu hết ý của ông chú họ, Cường đáp:

   - Cháu đọc của các ông ấy rồi, truyện hay lắm... Nhưng sao chú lại hỏi vậy?

   Chú đặt cái tẩu thuốc lá xuống bàn, rồi nói:

   - Chú cho cháu xem cái này.

   Trong lúc cha Cường đã ngả đầu vào chiếc ghế bành ngáy ngủ, ông chú mở chiếc tủ gỗ lim kiểu cổ lôi ra một chồng giấy cũ. Bao năm, giấy đã ố vàng nhưng chữ viêt bằng bút mực Pắcke vẫn còn đọc rõ. Ông chú bảo:

   - Bản thảo viết tay “Đôi lứa xứng đôi” của ông Nam Cao đấy!

   Đứa trẻ con mười ba tuổi khi ấy hiểu gì về bản thảo. Anh cũng lạ tai với tên truyện “Đôi lứa xứng đôi”. Bao năm chỉ nhớ có Chí Phèo và Thị Nở. Và cứ băn khoăn môt điều: ông chú họ già nua, tội nghiệp sao có vẻ nâng niu quý trọng cái đám giấy đã ngả màu úa vàng, mục nát đến vậy! Sau lúc giở cặp giấy ra “khoe” với thằng cháu ngốc nghếch, ông chú lại cẩn trọng xếp từng tờ giấy, giũ những đám cứt mọt ở lẫn trong các trang giấy, cho lại vào chiếc cặp da bò đã sờn cũ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #74 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:44:18 am »

   Chính những đêm ở cứ dưới chân dốc Ông Già, những người lính tân binh như Bình “ba toác”, Thuấn “cà phê Triệu Việt Vương”, Hội, Sơn Khâm Thiên, Sơn, Can Kiêu Kỵ, Thắng đen, Thắng trắng, Đức và những anh chàng lính tân binh Hà Nội kể nhiều câu chuyện về Hà Nội, quê hương của họ với một niềm hoài vọng, nhớ thương. Nhiều năm sau nữa sẽ có một ngày Cường lang thang trên các nẻo phố Hà Nội, anh đã tìm đến căn nhà chật chội của Thắng đen, của Đức để được gặp lại những gương mặt lính rất đỗi ngây thơ, hồn nhiên đã từng nằm chung một sạp nứa với anh ngày nào trong căn hầm nửa chìm, nửa nổi nghe tiếng đạn pháo bay qua trên đầu... Đau đớn làm sao, cô em gái của Thắng cứ níu tay áo anh mà hỏi: “Anh em đâu rồi? Sao anh em không về.”.Tiếng khóc xé ruột khiến Cường không cầm nổi nước mắt. Anh không thể trả lời câu hỏi ấy. Chỉ vì anh là người còn sống, đã đi qua cái chết. Và những người còn sống luôn luôn và mãi mãi mắc nợ với những người đã chết vì Tổ quốc và nhân dân. Món nợ ấy sẽ đeo đẳng đến trọn đời...

   Bây giờ cả Thắng đen, cả Đức và Khanh nữa đã chết. Họ nằm lại mãi mãi với những cánh rừng xanh mười tám tuổi, đêm nghe sóng sông Bồ dội vào bờ đất. Rặng tre la ngà gió lay, kẽo kẹt.

   Một buổi giao ban đại đội như mọi buổi chiều. Nhưng gương mặt của ba cán bộ đại đội và của bốn anh cán bộ trung đội không có ai vui. Vẫn tiếng điếu cày rít lên đành đạch từ tay Kha B trưởng B3 như một gã hứng tình mà không có ai hưởng ứng. Người ngồi nhâm nhi điếu thuốc lá Tam Thanh và uống nước trà Hồng Đào được pha trong chiếc bi đông và rót ra chén ăn cơm, loại bát B52. Căn nguyên cũng tại cái chết “vô lối” của ba người lính C1 sáng nay. Tư Nhất và mấy cậu trinh sát của tiểu đoàn đã phóng ngay xuống C1. Không thể trách cứ gì được những người trong Ban chỉ huy đại đội, nhưng rõ ràng ông Tư không vui. Chuyện đã đến tai trung đoàn, trung đoàn trưởng dã phê bình tiểu đoàn về sự sơ suất không đáng có. Chỉ đến khi nhìn thấy xác con chồn hôi nằm cạnh ba ngôi mộ của lính, xác con chồn đã ung ủng có mùi, ruồi nhặng xâu xé, Tư Nhất không có lý do gì trách cứ Cường, Sùng, Nhân và Tài, B trưởng B1. Không thể mang con chồn hôi ra kỷ luật. Con chồn hôi cũng chết rồi. Tư Nhất thở phì phì.

   - Mìn ở đâu ta?

   Câu hỏi này cũng không thể trả lời, họa có hỏi thổ địa của núi 165. Đại đội lính dù chốt trên đỉnh núi. Dưới chân bộ đội đang chiếm giữ, xây chốt. Vài năm trước, vùng này là căn cứ của cán bộ, du kích xã Phong Sơn. Lúc bàn giao khu vực chốt cho đại đội 1, anh đại đội trưởng của trung đoàn 2 nói giọng Thanh Hóa dặn đi dặn lại Cường và Nhân - chính trị viên đại đội: “Các đồng chí nhớ dặn anh em chỉ đi theo đường mòn, tốt nhất là đi dưới giao thông hào. Mìn ở đây nhiều lắm, chúng tôi đã gỡ được cả chục trái lựu đạn, mìn tự tạo của du kích gài. Sơ suất một chút là “rạc gáo”. Bữa trước, phía bên chốt tụi dù, một người lính chỉ vô ý vào bụi tre bẻ đọt măng, lựu đạn nổ tan xác. Chết thảm lắm! Tụi ngụy phải cho thuyền máy chở xác về Lai Bằng”.

   Mìn địch, mìn ta, mìn bộ đội, mìn du kích, mìn lính dù, mìn lính thủy quân lục chiến. Đóng chốt ở đâu lính chả gài mìn.

   Không một ai trả lời được câu hỏi của Tư Nhất. Chỉ đến khi Cường chỉ cho tiểu đoàn trưởng hệ thống mìn chống tăng của bộ đội trung đoàn 2 bàn giao lại cho C1, ông Tư Nhất mới nhận ra sự lợi hại của bẫy mìn. Và cách đấy không xa, là bãi mìn claymo của tụi ngụy, được giấu kín trong các lùm cây, vạt cỏ tranh chĩa sang hướng chốt của bộ đội. Chỉ cần một trong hai bên nổ súng tấn công, cả một dàn mìn sẽ phát hỏa, đủ sức quét sạch cả một đại đội bộ binh phơi lưng ra ngoài bãi trống.

   Điểm đáng chú ý trong buổi giao ban là Sùng - chính trị viên phó đại đội nói một chi tiết đáng chú ý:

   - Tại chốt của cậu Nhung B2 trưa nay, có một người lính dù ngụy hỏi vọng sang chốt của ta. Hắn nói: “Hình như sáng nay các anh có người bị nổ mìn ở chân núi! Có ai bị sao không?”. Cậu Nhung lanh trí trả lời: “Đúng là có mìn nổ. Một con chồn chạy bị dính mìn. Không có ai bị sao cả! Anh tên chi? Quê ở mô?”. “Tư Thiên, tui quê ở miệt Vĩnh Long... Còn anh quê mô?”. Cậu Nhung đáp: “Tôi quê ở Phú Thọ...”. Tên lính dù nghe vậy reo lên: “Phú Thọ à... Quê nội tôi đó. Nội tôi là dân Bắc di cư mà..”.

   Thông tin quan trọng này, chỉ ít phút sau đã được mã hóa chuyển về cho tiểu đoàn. Quãng 3 giờ sáng chuông điện thoại đổ vang, Cường và Nhân bị đánh thức dậy. Hai Ngạn chỉ nói ngắn gọn: “Hai đồng chí về ngay tiểu đoàn nhận lệnh”. Phải mất hơn một giờ đi bộ giữa đồi cỏ tranh, men theo dãy đồi sim dưới chân các điểm cao 165 và 140, Cường, Nhân và tổ trinh sát mới tới được hậu cứ nơi trú quân của tiểu đoàn bộ đóng dưới chân đồi Tròn. Trong căn hầm của sở chỉ huy tiểu đoàn đã thấy Tư Nhất, Hai Ngạn và chính ủy trung đoàn Nguyễn Cao đang ngồi chờ hai người.

   - Uống chén nước cho ấm bụng, hai đồng chí! - Nguyễn Cao vui vẻ và chìa ra bao thuốc lá Thủ đô.

   Không đợi mời lần thứ hai, Cường nhón một điếu thuốc. Nhân giữ ý hơn.

   Chính ủy Cao vào chuyện ngay:

   - Thay mặt cho Ban chỉ huy trung đoàn, tôi xin chia buồn với C1. Chúng ta mất người uổng quá. Nhưng tai nạn như vậy khó mà tránh được khi phải chiến đấu, giữ đất giữa một vùng cài răng lược như thế này. Đấy là chuyện buồn của cả trung đoàn ta. Còn chuyện vui, tối nay nghe tiểu đoàn báo cáo những gì xảy ra giữa lính ta với quân ngụy ở chốt B2, chúng tôi rất mừng. Cả một tuyến chốt dài hàng chục cây số do bộ đội ta trấn giữ, đây là lần đầu tiên quân ta và quân ngụy nói chuyện được với nhau. Đây là một dấu hiệu tốt, rất tốt, các đồng chí ạ! Hôm qua ở tuyến chốt Thanh Tân, Sơn Quả, bộ đội K15 mới chỉ làm một việc là ném tặng người lính dù có gói thuốc lào Vĩnh Bảo, mấy anh lính dù ngụy tặng lại bộ đội có một gói thuốc Bát tô, vậy mà đến đêm toàn bộ trung đội lính dù đã bị đổi quân, chuyển đi nơi khác. Đây là lúc mặt trận của ta tạm ngưng tiếng súng, nhưng không có nghĩa chúng ta không tấn công. Ta tấn công địch trên mặt trận binh vận, giúp cho những người lính ngụy hiểu rõ hơn chính sách chính nghĩa của Mặt trận dân tộc giải phóng, hiểu hơn bản chất của anh bộ đội Cụ Hồ, của quân giải phóng. Ban chỉ huy trung đoàn giao nhiệm vụ cho đại đội 1 tiếp tục bám sát các chốt ngụy, tạo sự thân thiện cởi mở với các đơn vị lính ngụy, tạo thế “hòa hợp” để tiến hành đấu tranh binh vận. Mỗi người lính ở tuyến chốt giáp ranh lúc này vừa sẵn sàng tác chiến tấn công địch phản kích, giữ từng thước đất, nhưng đồng thời phải là một chiến sĩ binh vận giỏi. Rõ chưa nào? Trung đoàn sẽ cử cán bộ xuống hỗ trợ cho các đồng chí.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #75 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:45:18 am »

   Lúc bước ra khỏi căn hầm chỉ huy, Hai Ngạn kéo tay Cường:

   - Em gặp anh có chút việc! - Hai Ngạn quay sang nói với Nhân. - Cậu tranh thủ sang gặp anh Thủy, vẽ lại sơ đồ mộ chí của ba đồng chí hy sinh sáng nay, hoàn chỉnh hồ sơ liệt sĩ để còn kịp gửi lên trung đoàn.

   Căn hầm kèo chữ A của Hai Ngạn nằm ở sườn núi hướng bắc, cách phòng họp của Ban chỉ huy tiểu đoàn một đoạn. Cây gỗ đà to, chắc chắn bên dưới nền hầm có sạp ken bằng lồ ô.

   - Em có đói không? Anh còn miếng lương khô 702 đấy...

   Khi chỉ có hai người, Hai Ngạn bao giờ cũng xưng hô như thế.

   - Em có biết tin anh Phong bữa đánh về Hương Trà bị địch bắt chưa? - Hai Ngạn nói tiếp.

   - Có chuyện ấy thiệt hả anh? - Cường hỏi, giọng đầy lo lắng.

   - Anh Sáu Thọ có viết cho anh cái thư báo tin. Chuyện ấy là thật em ạ. Trung đoàn cũng đã biết và sắp bổ nhiệm cho tiểu đoàn ta một tiểu đoàn phó, thay cho anh Phong...

   - Không biêt tình hình bên Hương Trà ra sao? -Cường hỏi không giấu nổi vẻ lo lắng.

   - Trung đoàn đã đồng ý cắt một số đồng chí cán bộ chiến sĩ đại đội 2 giao cho tỉnh, ở bên này sẽ được bổ sung tân binh.

   Nghe chuyện Cường vừa thương Phong vừa lo cho Hạnh. Đại đội 2 hoạt động ở Hương Trà không có sự hỗ trợ trực tiếp của tiểu đoàn thật khó khăn, số phận Phong cũng hẩm hiu. Dường như vận đen vẫn chưa hết đeo đuổi Phong. Không rõ hiện giờ anh sống chết ra sao?

   Trước khi rời khỏi căn hầm, Hai Ngạn bảo Cường:

   - Anh đã viết thư cho anh Sáu, giao cho o Hạnh, bí thư xã Y, nhờ cơ sở thăm dò tin tức của Phong. Nếu thuận tiện, có dịp công tác, anh sẽ cho em về Hương Trà một chuyến.

   - Cảm ơn anh!

   Nhiều lần đứng trên chòi quan sát ở cây muỗm, Cường cố ý dùng ống nhòm nhìn với sang bờ nam sông Bồ. Dải đất cao sát mép bờ sông bị dòng nước xiết đập cho lở lói nhiều đoạn. Rặng tre lồ ô cao che khuất tầm mắt. Những dãy núi xa mờ trong sương. Vào lúc trời trong, hửng nắng vẫn nhìn rõ đồi Một Mái, đồi Dài, xa hơn nữa là căn cứ Hòn Vượn... Hạnh - người yêu của anh đang ở đó. Bao lần, anh tự hỏi: Nàng đang ở đâu giữa cái màu xanh trùng điệp kia? Ở bên ấy, lâu lâu vẫn nghe thấy tiếng đạn pháo nổ phía trên rừng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #76 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:47:00 am »

*

   5 giờ sáng hôm sau, Cường đã có mặt ở chốt B2. Trung đội 2 quân số chưa tới ba chục người, được giao cho chốt giữ ở khu vực trung tâm cồn Nổi. Ở đây, các hào chiến đấu được đào theo từng tuyến, mỗi tiến hào cách nhau năm bảy chục mét, cắt ngang cồn. Giữa các tuyến có hào chạy dọc nối thông nhau. Trung đội 2 đặt một chốt, có chòi canh ngay dưới gốc một cây mít, khuất sau một bụi dứa dại. Những cây mảnh bát, lang rừng mọc xanh tốt trùm lên cả bụi dứa tạo thành một bức tường ngụy trang tự nhiên. Căn hầm chữ A chắc chắn, được ken dày bằng những thân tre lồ ô có đắp đất bằng những bao tải gạo. Bộ đội B2 dựng luôn ở đây những căn nhà nửa nổi, nửa chìm trên mặt đất để sẵn sàng trực chiến và để ngủ. Các cây súng gá sẵn trong các lô cốt đắp bằng đất, cắm lá ngụy trang.

   5 giờ 30 phút các tổ chốt của B2 đã ăn cơm xong. Người gác mới đã được thay vào vị trí. Cách đấy 50 mét, chốt ngụy vẫn ắng lặng như tờ. Trong cái khung vuông chòi gác dựng bằng tre in rõ hình hài người lính ngụy ngồi im lìm như một pho tượng gỗ. Ngọn cờ vàng ba sọc ướt đẫm sương đêm phủ lên mái chòi. Lùi sâu bên trong, các căn nhà bạt nơi đơn vị lính ngụy giữ chốt nằm rải rác sau các bụi tre, chỉ để lộ một phần mái nhà trên mặt đất cũng im ắng. Phía cuối bãi cồn mới thây le lói ánh lửa.

   Nhung thò nửa người ra khỏi con hào gọi sang chốt ngụy:

   - Này... anh gì ơi! Ra nói chuyện.

   Người lính ngồi trong căn chòi nghe tiếng động, khẽ cụ cựa cái đầu.

   - Này... Anh lính... Ra nói chuyện, tôi có thuốc lào cho anh đây.

   Người lính lặng lẽ rời căn chòi, tay vẫn cầm khẩu AR15 bước ra ngoài bụi chuối. Con hào chốt của phía quân ngụy nằm sau bụi chuối, anh ta phải đu người mới bước lên khỏi mặt hào. Anh lính nói giọng đặc sệt Nam Bộ, vừa đủ nghe:

   - Nói nhỏ thôi, anh ơi! Bữa qua thằng Ba nói chuyện phiếm với mấy anh, nó bị chỉ huy phạt, bữa nay phải đi đào đất. Tụi em cũng muốn nói chuyện quấy quá với mấy anh cho dui nhưng sợ lắm.

   Cường bước hẳn lên thành hào. Trời chưa sáng rõ nên không thể nhận diện kỹ gương mặt người lính đang đứng phía trước chỉ cách anh vài chục bước chân.

   - Tôi là chỉ huy ở đây! Anh về báo cáo với chỉ huy của các anh, nói rõ như thế này: Bộ đội giải phóng muốn nói chuyện với các anh chỉ huy đơn vị thủy quân lục chiến đóng chốt ở đây. Chúng tôi hẹn gặp các anh vào lúc 9 giờ sáng nay. Cứ báo cáo vậy! Anh rõ chưa?

   Người lính dù đáp lại:

   - Thưa rõ rồi ạ!

   Đúng 9 giờ sáng, trên con đường mòn băng qua bãi tranh xuất hiện hai người. Trông cách đi đứng, ăn mặc, đúng là những người chỉ huy của đơn vị thủy quân lục chiến. Đầu vẫn đội mũ sắt nhưng cả hai người không ai cầm súng. Cả hai đều đeo súng ngắn.

   Đại đội 1 đã có sự chuẩn bị chu đáo, kể cả phương án sẵn sàng tác chiến. Lần tiếp xúc này chỉ có Sùng - chính trị viên phó đại đội và Nhung xuất hiện. Sùng và Nhung bước lên mặt hào, tay không, đầu đội mũ tai bèo tới vạt đất trống ngay sát một ngôi nhà cũ của dân chờ sẵn. Bức tường đã bị san phẳng, chỉ còn lại cái nền nhà, rêu phong nham nhở. Đấy chính là điểm ngăn cách phân giới giữa bên bộ đội và quân ngụy đang chiếm giữ cồn Nối.

   Hai viên sĩ quan ngụy đến gần, nét mặt có phần căng thẳng. Sùng chủ động nói trước:

   - Xin chào các anh!

   Một người sĩ quan ngụy nói ngay:

   - Các anh xin gặp chúng tôi có chuyện gì?

   - Không phải chúng tôi xin gặp mà mời các anh ra nói chuyện! - Sùng không phải tay vừa - Chúng tôi cảnh cáo các anh, vì việc chỉ một người lính của các anh chốt ngày hôm qua nói chuyện với anh em bộ đội giải phóng mà các anh đã phạt người ta đi đào hào.

   Người sĩ quan dù:

   - Đấy là công việc của chúng tôi. Thượng cấp quy định vậy.

   Sùng:

   - Đúng, quyền phạt lính là của các anh, nhưng chuyện này liên quan tới chúng tôi. Anh em bộ đội giải phóng thấy vô lý, tức cười quá. Chốt “hòa hợp”, anh em lính hai phía hàng ngày ngồi nhìn thấy mặt nhau. Họ hỏi han thăm nhau, mà chỉ huy bắt phạt, thì còn gì là đạo lý, tình người.

   - Mấy anh thông cảm cho, quân lệnh như sơn mà... - Người sĩ quan dịu giọng.

   - Chúng tôi cũng có kỷ luật chớ. Nhưng không phải lúc nào cũng giơ kỷ luật sắt ra với người chiến sĩ của mình. Tôi với anh có phải ngồi gác chốt như họ đâu. Ở đây đã nửa tháng nay không còn bên nào nổ súng. Vậy mà các anh đối xử với lính như vậy, chúng tôi thấy bị xúc phạm. Tôi phản đối việc bắt lính bị phạt chỉ vì sơ ý nói chuyện với bộ đội...

   Viên sĩ quan chỉ huy tỏ ra lúng túng... Đến lúc này, viên sĩ quan thứ hai mới mở miệng:

   - Các anh định chiến tranh tâm lý với tụi tôi phỏng?

   Sùng chỉ ngay lên chiếc loa phóng thanh tụi ngụy treo trên chạc ba cây dâu phía xa:

   - Kia mới là chiến tranh tâm lý kìa! Cứ buổi trưa, bộ đội nghỉ ngơi, các anh mở loa hết cỡ, mở các bài hát nhạc vàng chúng tôi nghe mệt tai lắm.

   - Ô... Ô... Ca nhạc mà anh! - Tên sĩ quan lộ mặt tâm lý chiến chống chế - Tụi tôi mở cho lính hai bên nghe càng vui.

   - Đành rằng âm nhạc, nhưng không phải ai cũng thích nghe cái giọng ca sướt mướt ẻo lả... cả. Nếu cần mai tôi mở nhạc cách mạng cho các anh nghe thử coi có vui không.

   Cả hai viên sĩ quan ngụy nghe Sùng cãi lý đều tỏ ra lúng túng. Sùng nói tiếp:

   - Hiệp định Pari ký rồi. Các anh chốt ở gần chúng tôi. Chúng tôi đề nghị các anh về báo cáo với cấp trên của các anh, ta xây dựng ở bãi đất trống này một căn nhà hòa họp. Hàng ngày lính của các anh và bộ đội chúng tôi ra ngồi nói chuyện với nhau được không?

   Viên sĩ quan dè dặt:

   - Thưa anh, chuyện anh vừa nói, chúng tôi không quyết định được. - Người sĩ quan ngụy thứ nhất trả lời - Chúng tôi phải về xin ý kiến thượng cấp đã...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #77 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:48:53 am »

6

   Căn phòng rộng vài chục mét vuông, nằm sát với khu nhà xác chỉ độc có một mình Phong nằm. Cũng chăng cần có lính gác, vì một bên chân lành của anh đã được người lính khóa bằng một sợi dây xích chó vào thành giường. Sợi dây xích đủ dài, để khi anh cần đi vệ sinh, tự mình xuống giường làm công việc đó. Ngày ba bận sáng, trưa, chiều, một người lính đi cùng với một cô y tá, hộ lý vào ngó qua phạm nhân, thương binh. Gã lính đã quen mặt Phong, nhìn ngó nghiêng một lát rồi bỏ ra ngoài để người hộ lý, y tá ở lại thay băng, làm thuốc. Trốn sao được, một chân đã bị xích vào giường, chân phải bị cưa ba ngón và vỡ đầu gối. Thêm một vết thương ở bụng, băng trắng quấn quanh, cứng như một cái mo cau, mỗi khi Phong muốn trở mình rất khó. “Đây là đâu ta?”. Chịu! Anh không biết. Nhưng cái mùi của bệnh viện thì rõ. Tanh tanh, phảng phất mùi thuốc khử trùng. Ở một góc phòng người ta xếp những chiếc bình ga chứa ôxi dành cho người bệnh và những thùng các tông vỏ bao thuốc.

   Những người y tá, hộ lý đến thay băng, tiêm thuốc cho Phong hàng ngày không cố định. Họ có một điểm chung là im lặng. Chiếc áo blu trắng, chiếc mũ trắng. Một chiếc khẩu trang rộng bưng kín miệng, buộc ra sau để lộ mớ tóc khi cắt ngắn ngang vai, khi dài ngang thắt lưng. Người y tá, hộ lý lặng lẽ tiêm thuốc, gỡ băng cũ, tẩy trùng vết thương và băng lại như cũ. Hình hài gương mặt của họ, anh nhìn thấy được có chăng là đôi mắt. Khi thì một đôi mắt bạc thếch, mệt mỏi, vô cảm. Lúc thì một đôi mắt đen, lanh lợi, vừa băng bó, tiêm thuốc vừa thỉnh thoảng liếc nhìn anh. Đến bữa đưa cơm vào cũng vậy. Họ đặt khay cơm và chiếc cà mèn canh ngay cạnh một cái ghế đẩu vuông sát cạnh giường rồi lầm lũi quay ra như một cái bóng. Gã lính ở ngoài cửa nhìn vào một lần nữa rồi mới đóng cửa, trả lại cho Phong sự im lặng đến ghê người. Cơm canh cho thương binh, tù nhân kể cũng tươm tất. Vài lưng cơm gạo trắng, một vài con cá nục kho, có bữa là cá cơm kho cay đến chảy nước mắt. Chút nước canh nấu với rau muống, hoặc rau tập tàng... Đủ ngon cho một anh lính “sống ở giáp ranh” luôn ăn đói và thiếu chất ở trên rừng, vết thương của Phong hóa ra phức tạp. Có dấu hiệu nhiễm trùng. Mỗi lần người hộ lý thay băng, Phong ngửi thấy có mùi hôi bốc ra. Chỗ đau cương tức.

   Phong còn nằm đây đến bao giờ? Số phận của anh ra sao?... Không một ai trả lời cho anh câu hỏi ấy. Nằm mãi, chán. Anh lại ngủ. Những giấc ngủ chập chờn, mộng mị. Kể cũng lạ, cứ mơ ngủ là Phong lại thấy Thơm, vợ anh. Và có lần Tâm còn về đứng ngay cạnh giường trách móc anh bạc tình... Anh bạc tình thật!

   Ngày tiểu đoàn 10 ra tới Quảng Bình, Hai Ngạn công bố: “Mỗi đồng chí được nghỉ phép một tháng!”. Phong sướng rơn. Anh quân nhu của sư đoàn cấp cho mỗi người một bộ quần áo vải Tô Châu còn nguyên nếp gấp, ba lô mới, mười cân gạo và năm chục đồng tiền. Ra khỏi cửa rừng, Phong đi thẳng về quê. Từ Làng Ho về đến nhà Phong đi bộ vài tiếng đồng hồ. Buổi sáng ấy, mẹ và em gái mới ra vườn nhổ dong riềng về đang ngồi cạo vỏ, nhìn thấy Phong, ngớ ra tưởng khách qua đường vào xin nước uống. Phong cười nhe răng, bà cụ mới nhận ra con trai.

   “Mi đi mô mà ghé qua nhà... Hay đảo ngũ?”. Nghe mẹ hỏi Phong đã hơi bực mình, nhưng không nỡ trách mẹ. Một bà già đã từng làm bí thư chi bộ xã, nhiều năm đi từng nhà vận động các gia đình cho con em đi khám tuyển nghĩa vụ, động viên thanh niên mỗi lần nhập ngũ, thấy con về bất ngờ, không báo trước thư từ nên bà mẹ sợ con nghĩ dại, đảo ngũ. Mỹ ngụy đâu đã thua, nghi ngờ con là phải. Dạo ấy, lính “B quay” không phải là ít.

   Phong đặt ba lô xuống bộ ngựa, từ tốn trả lời mẹ:

   - Con ra Quảng Bình nhận quân, đơn vị cho về phép mạ nờ!

   - Ờ, rứa thì tốt. Con ra giếng rửa mặt cho mát, mạ đi nấu cơm cho con ăn.

   Ngày Phong mới nhập ngũ, cô em gái chưa tới mười tuổi. Nay cô bé phổng phao, ra dáng thiếu nữ. Cô hỏi anh:

   - Anh từ Thừa Thiên ra đấy à? Đi có lâu không? Có lấy cho em được miếng dù nào không để em làm ngụy trang.

   - Ừ. Đi bộ cả tháng trong rừng. Rồi anh sẽ cho em dù...

   Nửa đêm, Phong đang thiu thiu ngủ, mẹ anh tới ngồi bên giường. Anh hỏi mẹ:

   - Sao mạ không đi ngủ, mai lấy sức đi cấy. Dạo này mạ còn làm việc xã không?

   - Mạ nghỉ được vài năm rồi. Tao già rồi. Bí thơ bây giờ chú Đán làm con ạ. Con được nghỉ phép lần này, mạ muốn con lấy vợ.

   Phong nghe chuyện lấy vợ, ngồi bật dậy như cái lò xo:

   - Vợ con chi? Con còn vô chiến trường mà... Con chỉ được ở nhà một tháng thôi. Hết phép là con đi.

   Giọng bà cụ vẫn thủng thẳng:

   - Một tháng cũng là nhiều rồi! Chiều nay tôi đã bàn chuyện lấy vợ cho anh với chú Đán.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #78 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:50:41 am »

   Mới 5 giờ sáng, chú Đán đến nhà Phong ngồi ăn củ dong, hút thuốc lào. Ông chú họ chỉ hơn Phong mươi tuổi, thương binh bậc 1/4, bây giờ thành của quý trong làng. Chú Đán vừa được bầu làm bí thư chi bộ thôn, kiêm trung đội trưởng dân quân.

   Phong mệt và còn ngái ngủ, nằm thượt trên tấm phản.

   - Có thuốc lá cháu mang về đấy, chú lấy mà hút.

   - Thuốc lá hử! Hi!Hi!... Hí! Tam Thanh thơm quá bay ơi!

   Ông chú rút luôn vài điếu cho vào túi áo. Giọng bề trên:

   - Này chú bảo. 9 giờ, anh ăn mặc chỉnh tề, sao lon đeo vào rồi ra bãi Voi nhé. Chú chờ ở đấy!

   Phong ngáp và phì cười:

   - Lính giải phóng thì làm quái gì có sao với hạt hả chú!

   - Không có sao với quân hàm cũng được! Bộ đội thời chiến mà. Anh là đại đội trưởng, tức là ngang quân hàm trung úy. Tốt rồi... Làng ta có mấy người là trung úy như anh!

   Ngày nhỏ, Phong hay ra bãi Voi chăn trâu cho mẹ. Về sau bãi đất ấy giao cho các cụ phụ lão trong xã trồng cây, đào ao nuôi cá Bác Hồ. Cây trồng toàn phi lao, bạch đàn. Đất tốt cây lên xanh như rừng. Trung đội dân quân của chú Đán tập bắn ở dưới đám cây xanh, lấy dãy hào giao thông làm bệ súng. Hai chiếc bia số 4 cắm ở ngoài ruộng lúa. Các anh chị dân quân cứ nhắm vào đẩy mà lẩy cò. Phong đi theo con đường sát bờ sông, đến cách địa điểm tập bắn chừng ba chục mét, chú Đán mới nhận ra. Mới thoáng thấy Phong, như một anh cán bộ quân sự sành sỏi nghề huấn luyện, chú vùng ngay dậy khỏi gốc cây, chụp chiếc mũ cối lên đầu, hô to:

   - Toàn trung đội chú ý! Một hàng ngang tập hợp.

   Ba mươi hai dân quân, kẻ đang đứng ngắm dưới hào, người ngồi túm năm tụm ba hút thuốc lào vặt, có anh nằm phễnh bụng nhổ râu. Các chị ngồi bắt chí cho nhau, vài ba cô chưa đến lượt ngắm bia ngồi bệt xuống đất, tung hòn sỏi chơi đánh chuyền. Nghe tiếng hô oai phong hùng dũng của trung đội trưởng tất cả đứng vọt cả dậy như những rô bốt tự động dàn thành một hàng dọc sau lưng chú Đán. Năm cô du kích đang ôm súng tập ngắm bia dưới hào giao thông cũng ôm súng chạy lên. Ba mươi hai dân quân cũng chỉ có được năm cây súng vừa K44 vừa CKC. Cồn lại là gậy tre, dây thừng. Cũng chỉ có đúng năm anh con trai, quá tuổi “băm”, anh thì bị thương, anh gãy tay, chột mắt, chân vòng kiềng nên đành ở nhà chịu số phận làm anh dân quân vác súng, vác gậy cho các chị.

   Phong tiến sát tới chỗ trung đội dân quân đã dàn xong hàng dọc, nối theo đuôi chú Đán. Không hiểu sao cả, Phong đang định cất tiếng gọi “Chú ơi!” thì bắt gặp ánh mắt đỏ như mắt cá chày của ông chú họ “lừ” anh như có ý bảo “Im cái miệng lại”(!).

   Chú Đán lại hô:

   - Bên phải quay!

   Ba mươi hai con rô bốt lại quay ngoắt từ hướng bắc sang hướng tây, đối mặt với Phong.

   Chú Đán rập gót, chạy ra đúng ba bước, đứng trước mặt Phong, đưa tay lên vành mũ. Theo thói quen Phong cũng đưa tay lên chào. Mấy đầu ngón tay của anh chạm vào tóc, anh mới chợt nhớ ra đầu để trần, không mũ. Có tiếng cười khúc khích, hi hi của mấy cô gái.

   Thêm một cái “lừ mắt đỏ như cá chày” của chú Đán hướng vào nơi phát ra những tiếng cười vô tổ chức.

   - Thưa đồng chí trung úy, đại đội trưởng, phái viên của sư đoàn. Thay mặt cho các đồng chí trong trung đội dân quân thôn Thượng tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí đã về thăm và kiểm tra tinh thần học tập, rèn luyện kỹ chiến thuật của chúng tôi. Xin kính chúc đồng chí dồi dào sức khỏe... Chiến đấu lập nhiều chiến công.

   Phong suýt phì cười nhưng nhìn nét mặt trang nghiêm và ánh mắt đỏ như cá chày của chú Đán, đành phải im lặng đóng vai phái viên của sư đoàn. Khi không khí đã bớt căng thẳng và Phong theo chú Đán ra chỗ đặt bệ súng, trong hàng quân có tiếng xì xào:

   - Ai như thằng Phong “lé” cháu ông Cửu Chân.

   - Đích thị là con trai bà Phụng, bí thơ xã chớ chi nữa...

   - Oách hử! Đi từ sáu năm chừ đã đeo lon trung úy.

   Phong đã có cả một giờ ba mươi phút để nhìn ngắm hai mươi bảy cô gái của thôn Thượng. Cô nào cũng được anh xuống đứng cạnh một hai phút, chỉ bảo cách áp má, tì vai, bóp cò và nhìn vào một bên má của các cô hồng lên vì nóng và không giấu vẻ ngượng ngập. Phong nhìn thấy cả những sợi tóc mai của các cô dính bết vào thái dương. Hơi thở dồn dập. Mùi mồ hôi nồng lẫn với mùi xà bông trên tóc.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #79 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2012, 09:52:00 am »

   11 giờ trưa, Phong và chú Đán mới về đến nhà. Mẹ anh đã chuẩn bị sẵn một rổ khoai lang luộc và ấm chè xanh. Làng anh có lệ không ăn cơm trưa. Ngày cơm ăn hai bữa, sáng chiều. Bữa trưa ăn độn bằng khoai, dong riềng, sắn... Nhà nào túng thì nhịn, làm bát chè xanh cho ấm bụng nhai với miếng khoai khô.

   Chú Đán làm gọn một củ khoai chiêm to bằng bắp tay, một bát ô tô nước chè rồi mới kéo một mồi thuôc lào. Phong mời chú một điếu Tam Thanh, tự tay bật lửa mồi thuốc cho chú. Chú khen:

   - Mi có cái bật lửa Trung Quốc đẹp hử!

   - Tôi tặng cho chú. - Phong nói.

   Anh nhét luôn cái bật lửa còn xanh nước sơn Tàu vào túi áo ngực của chú. Chiếc áo bộ đội của chú đã cũ, sờn vai, bạc màu và cáu bẩn. Chú Đán quay ngoắt bảo Phong:

   - Tao chấm được năm con: Con Hiền ở xóm Ruối, con Liên, con Thơm, con He ở thôn ta. Con Ngoãn ở bến đò... Con ấy đẹp nhất, nhưng loại con gái làng đò, của chơi thiên hạ ta thèm vào.

   Mẹ Phong ngồi ở dưới nền nhà đang nhặt thóc trong cái mẹt gạo mới đi xay về, tưởng cụ không nghe chuyện, bất ngờ cụ nói luôn:

   - Con Thơm nhà Khoản được đấy. Thành phần gia đình ấy tốt. Nó lại có nghề dạy học, con ạ.

   Chú Đán độp luôn:

   - Ý chị đã vậy, ta biểu quyết.

   Cái giơ tay của ông chú họ được thay thế bằng một hơi thuốc lào. Khói tuôn ra đục trắng trong gian nhà tranh, vách lá gồi.

   Đám cưới thời chiến đơn giản và gọn nhẹ. Bà Phụng - mẹ Phong - sửa vài mâm cơm, giết vài con vịt là xong. Ngày cưới, Phong mới nhìn rõ mặt vợ. Một cô giáo tiểu học xinh xẻo, gọn gàng trong chiếc quần lụa đen, áo phin trắng, kém anh cả chục tuổi. Bà Phụng mừng ra mặt. Con trai ở chiến trường ra chưa tới mười ngày, bà đã có con dâu hiền thảo. Chỉ khổ nhà nghèo. Mười mấy năm làm việc xã, cho đến lúc nghỉ chưa có lúc nào rảnh rỗi để sửa sang lại ngôi nhà. Bà nhờ hàng xóm mỗi người một tay thay lại những cây rui, cây mè mọt mối nhiều quá, mái tranh ải cũ chỉ mất vài công nhưng căn nhà khang trang sáng sủa hẳn.

   Đêm đầu tiên trong nhà có chị dâu, Sim - cô em gái phải đi ngủ nhờ nhà bạn. Bao năm nay, bà Phụng đã quen nằm võng. Chiếc giường gỗ xoan duy nhất trong nhà dành cho đôi vợ chồng trẻ. Mộng mẹo kém, chỉ khẽ cựa mình chiếc giường đã rên lên như người sốt rét.

   Phong bảo Thơm:

   - Nóng quá, ngủ không nổi. Hay ta ra ngoài bờ sông ngồi cho mát.

   Thơm lùa theo ngay:

   - Phải đấy...

   Họ len lén bước nhẹ ra khỏi nhà như những tên trộm, chỉ sợ bà mẹ giật mình nghe tiếng bắt quay vào nhà. Phong rút theo chiếc khăn mặt màu cứt ngựa của anh phơi trên cây sào ngoài sân.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM