Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:27:51 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bí ẩn của sa mạc  (Đọc 91381 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #100 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 09:15:35 pm »

Tối hôm đó, khi màn đêm đã buông, một dấu phấn xuất hiện trên bức tường sau Nhà thờ Chaldea của Thánh Joseph tại Lãnh địa của người Công giáo.
Đêm đó cư dân của Baghdad run lên. Dù tiếng ồn ào của tuyên truyền vẫn không ngớt tại đài phát thanh lraq và niềm tin mù quáng của nhiều người rằng điều đó tất cả đều đúng. thì vẫn có những người khác bí mật nghe đài BBC World Service bằng tiếng Arập. chuẩn bị ở London nhưng được phát ở đảo Síp, và biết rằng Beni Naji đang nói đúng. Chiến tranh đang đến gần.
Trong thành phố lan truyền tin đồn rằng người Mỹ có thể bắt đầu bằng ném bom rải thảm ở Baghdad, một tin đồn đến cả Cung điện Tổng thống. Sẽ có những thiệt hại về người. Chế độ biết nhưng chẳng thèm quan tâm. Những người lãnh đạo cao cấp tính toán điều này sẽ gây ra hiệu ứng toàn cầu trước sự tiêu diệt hàng loạt dân thường trong nhà họ và có thể tạo nên một sự phản đối quy mô thế giới chống Mỹ: buộc nước này phải ngừng tay và bỏ cuộc. Vì vậy khá đông báo chí nước ngoài vẫn được phép ở lại và trên thực tế được khuyến khích ở khách sạn Rashid. Có cả những trợ giúp và chỉ dẫn các camera các đài nước ngoài đến những cảnh tượng nồi da nấu thịt không chóng thì chày sẽ bắt đầu.
Tính tế nhị của luận điểm này bằng cách nào đó đã đến được những người còn ở trong nhà ở Baghdad. Nhiều người thực tế đã đi, những người không phải Iraq trực chỉ hướng biên giới với Jordan để ở trong dòng thác suốt năm tháng trời người tị nạn từ Kuwait, những người Iraq tìm kiếm chỗ trú ngụ ở nông thôn.
Hàng triệu người dán mắt lên màn hình vô tuyến ở Mỹ và châu Âu không biết đến mức độ thật sự tinh vi của các thiết bị giờ đây đã trong tầm của Chuck Horner u buồn ở Riyadh.
Không ai khi đó có thể cho rằng phần lớn các mục tiêu có thể được lựa chọn từ một bảng do các camera vệ tinh chuẩn bị trong không trung và bị phá huỷ bởi những quả bom do laser hướng lối hiếm khi bắn trúng cái mà chúng không hướng đến.
Điều mà các cư dân Baghdad không biết. cũng như sự thật do BBC rò rỉ qua những cửa hàng và những chợ, rằng là bốn ngày từ 12 tháng Giêng. hạn cuối để rút khỏi Kuwait có thể hết và các máy bay chiến đấu Mỹ có thể sẽ tới. Vì thế thành phố vẫn khá yên tâm trong nhận định.

Mike Martin đạp chiếc xe đạp của mình chầm chậm khỏi phố Shurja và quanh phía sau nhà thờ. Anh nhìn thấy dấu phấn trên tường khi anh đạp xe ngang qua, và đi qua. Cuối đường anh dừng lại, xuống xe, và dừng một lúc để sửa xích trong khi nhìn ngoái lại sau con đường để xem có cái gì đó chuyển động sau lưng mình không.
Không hề có. Không có dấu của cá chìm ở đằng sau, không có những cái đầu ló ra từ những mái nhà. Anh đạp xe trở lại, đi đến chỗ đó, xoá vết phấn, và bỏ đi.
Số tám có nghĩa là một thông điệp đang đợi anh dưới cán cờ trong cái sân bỏ hoang ngoài phố Abu Nawas, cách bờ sông chỉ nửa dặm.
Khi còn là một đứa trẻ anh từng chơi đùa ở đó, chạy dọc theo các bến nước với Hassan Rahmani và Abdelkarim Badri, nơi những người bán hàng chở những masgouf ngon tuyệt trên những chiếc giường bướu lạc đà. bán những mẩu nhỏ của cá chép sông Tigris cho khách qua đường.
Bây giờ các cửa hiệu đều đã đóng cửa, các hàng trà im lìm; một vài người đang đi dạo dọc theo các bến nước theo thói quen. Sự tĩnh lặng giúp ích anh rất nhiều. Ớ đầu phố Abu Nawas anh nhìn thấy một nhóm vệ binh thường phục AMAM, nhưng chúng không để ý đến người fellagha đang đạp xe đi mua đồ. Anh hơi hoảng khi nhìn thấy họ; người của AMAM không bao giờ khôn ngoan lắm. Nếu họ đi đến để bóc một hòm thư chết, họ có thể đưa đi một nhóm người rất rõ rệt ở đầu đường. Cách làm việc của họ rất tinh vi, nhưng không thật kín đáo.
Thông điệp có ở đó. Viên gạch được đưa về chỗ sau một giây, mẩu giấy gấp chui tọt vào túi anh. Mấy phút sau, khi anh đang đi qua cầu Ahrar bắc ngang sông Tigris, từ Risafa đi Karch, và đi về ngôi nhà của nhà ngoại giao Xô viết ở Mansour.
Trong chín tuần cuộc sống của anh được thiết lập bên trong ngôi biệt thự kín cổng cao tường. Người Nga nấu ăn và chồng bà ta đối xử với anh rất thân ái, và anh đã học được một ít ngôn ngữ của họ. Ngày nào anh cũng đi chợ để mua thức ăn tươi, điều đó cho anh lý do tốt để đảo qua tất cả các hòm thư chết của mình. Anh đã chuyển 14 thông điệp cho Jericho giấu mặt và đã nhận về 13 trả lời từ ông ta.
Tám lần anh bị AMAM chặn lại, nhưng lần nào thái độ khúm núm của anh. chiếc xe và cái giỏ đầy rau, quả, cà phê, gia vị và đồ xanh, cộng với bức thư của nhà ngoại giao và vẻ bên ngoài nghèo đói hiển hiện đã khiến họ thả cho anh đi ngay.
Anh có thể không biết rằng các kế hoạch chiến tranh đã được lên ở Riyadh, nhưng anh đã phải viết mọi câu hỏi và trả lời cho Jericho bằng chữ Arập của chính anh sau khi nghe chúng trong nhưng cuộn băng đến, và anh phải đọc trả lời của Jericho để gửi chúng trở lại trong những lần chuyển tin chớp nhoáng cho Simon Paxman.
Là một người lính, anh chỉ có thể đánh giá là thông tin của Jericho, về chính trị và quân sự, hẳn là vô giá với một vị tướng cầm quân đang chuẩn bị tấn công Iraq.
Anh cũng đã yêu cầu một máy sưởi chạy dầu cho túi ngủ của mình và đèn dầu để đốt nó. Những túi ngủ Hessian từ chợ giờ đây đã trở thành rèm che tất cả các cửa sổ, và tấm chùi chân trước cửa báo hiệu cho anh nếu có ai đó đang tiến đến gần cửa.
Đêm đó, anh chầm chậm sưởi ấm trong nhà của mình. đóng kín cửa, chắc chắn là các rèm cửa đã che hết mọi inch vuông của các cửa sổ, thắp đèn của mình lên, và đọc thông điệp mới nhất của Jericho. Nó ngắn hơn thường lệ, nhưng không hề gì Martin đọc nó hai lần để chắc chắn không để lọt một từ nào, lẩm bẩm "Chúa ơi" và chuyển đồ nghề của mình ra để lấy máy ghi âm.
Phải tránh mọi hiểu lầm, anh đọc tấm thông điệp thật chậm và thật rõ cả bằng tiếng Arập và bằng tiếng Anh vào trong cái máy trước khi chuyển cần tốc độ để cho nó chạy nhanh lên và chuyển tin của mình từ 5 phút xuống còn có nửa giây.
Anh chuyển nó đi vào 20 phút sau nửa đêm.
Vì biết sẽ có một lần chuyển tin giữa 15 và 30 phút sau 12 giờ đêm nay. Simon Paxman đã không vào giường. Anh chơi bài với một trong hai người trông coi máy điện đàm khi thông tin đến nơi. Người vận hành máy đưa tin từ phòng thông tin ra.
- Tốt hơn là anh vào đây và nghe luôn đi. Simon ạ, anh ta nói.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #101 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 09:17:28 pm »

Mặc dù đội SIS ở Riyadh có liên quan nhiều hơn bốn người, thì người quản lý Jericho không được coi là bí mật đến thế mà chỉ Paxman, chỉ huy Trạm Julian Gray, và hai người trực đài cũng biết. Ba phòng của họ bề ngoài trông tách biệt hẳn khỏi phần còn lại của toà biệt thự.
Simon Paxman nghe giọng nói trong cái máy to tướng trong bọc đài, cái trên thực tế là một phòng ngủ được sửa lại. Martin nói bằng tiếng Arập trước, đọc chính xác bức thư viết tay của Jericho hai lần, rồi đọc bản dịch tiếng Anh của chính anh. Khi nghe, Paxman cảm thấy một sự lạnh giá ghê gớm đang chuyển sâu vào trong bao tử mình. Một cái gì đó sai, hoàn toàn sai. Điều anh nghe được chỉ đơn giản là không thể. Hai người kia đứng im lặng sau lưng anh.
- Đó có phải là anh ta không? Paxman hỏi gấp ngay khi thông điệp kết thúc. Suy nghĩ đầu tiên của anh ta là Martin đã bị bắt và giọng nói là của một kẻ khác.
- Anh ta đấy - tôi đã kiểm tra cao độ rồi. Không nghi ngờ gì nữa chính anh ta đấy.
Những đặc điểm của giọng nói dao động trong nhiều cao độ và trường độ, cao và thấp, nhịp điệu có thể được ghi lại trong một máy đo âm được rút lại thành một loạt những đường chạy trên một màn hình, giống như một màn hình điện tâm đồ ở bệnh viện. Mọi giọng nói con người đều có khác biệt nhỏ, không thể có chuyện bắt chước được. Trước khi rời Baghdad. giọng của Mike Martin đã được ghi âm vào cái máy đó. Những lần chuyển tin sau đó từ Baghdad đều cùng được kiểm tra, trong trường hợp đọc chậm lại cũng như đọc nhanh, cùng nhau với độ chênh do máy hoặc vệ tinh truyền sai, tạo ra các biến dạng.
Giọng nói từ Baghdad đêm đó đã được kiểm tra so sánh với giọng ghi ở trong máy. Đó chính là tiếng của Martin chứ không phải ai khác.
Lo sợ thứ hai của Paxman là Martin đã bị bắt, đã bị tra tấn và phản bội, và giờ đây anh ta chuyển tin dưới sự ép buộc. Anh vứt bỏ ý nghĩ xấu xa nó ra khỏi đầu ngay.
Có những từ được giao hẹn trước, một sự dừng lại, một sự lưỡng lự, một tiếng ho có thể báo động cho những người nghe ở Riyadh nếu anh không được tự do chuyển tin. Vả lại, lần phát sóng trước của anh chỉ trước đây có ba ngày mà thôi.
Những tay cảnh sát mật ghê gớm của Iraq có thể làm được, nhưng không thể nhanh đến thế. Và Martin rất cứng. Một người dao động và phản bội trong thời gian ngắn như thế có thể bị hành hạ, tra tấn rất kinh khủng, và có thể biểu hiện trong khi chuyển tin.
Điều đó có nghĩa Martin vẫn ổn - thông điệp anh đã đọc là chính xác những gì anh nhận được đêm đó từ Jericho. Điều đó không còn bàn cãi gì nữa. Dù Jericho đúng hay sai, nhầm lẩn, hoặc là nói dối.
- Gọi Julian đi, Paxman nói với một trong hai người gác đài
Trong khi người đó đi mời trưởng Trạm Anh từ giường ngủ của ông ta tầng trên, Paxman gọi số điện thoại riêng cho đối tác người Mỹ của mình, Chip Barber.
- Chip, tốt hơn hết là anh lại đây nhanh lên đi, anh ta nói.
Người của CIA tỉnh rất nhanh. Một điều gì đó trong giọng nói của người Anh khiến ông ta không còn vương vấn ngủ nghê gì nữa cả.
- Có vấn đề rồi hả, anh bạn?
- Có vẻ là thế ở đây đấy, Paxman công nhận.
Barber chạy băng qua thành phố đến ngôi nhà của SIS trong 30 phút, quần áo ngủ lung tung. Đã là một giờ sáng. Khi đó, Paxman đã kịp có băng bằng tiếng Anh và tiếng Arập, cộng với một bản trong cả hai thứ tiếng. Hai người trực đài những người nhiều năm nay làm việc ở Trung Đông. rất thạo tiếng Arập và khẳng định bản dịch của Martin khá chính xác.
- Anh ta đùa chắc, Barber thì thào khi ông ta nghe băng. Paxman cho chạy những cái để kiểm tra giọng Martin là không phải giả mạo.
- Xem nào, Simon- Barber nói- đó chính là điều Jericho báo cáo điều mà anh ta có thể đã nghe từ Saddam sáng hôm nay - xin lỗi nhé, sáng hôm qua. Nhiều khả năng là Saddam nói dối. Hãy đối mặt với cái đó, ông ta nói dối như cuội ấy mà.
Nói dối hay không, thì không vấn đề gì cả với Riyadh cả. Các trạm SIS và CIA có thể cung cấp cho các vị tướng của mình với những thông tin quân sự chiến thuật và thậm chí chiến lược từ Jericho, nhưng cánh chính trị ở London và Washington? Barber nhìn đồng hồ. bảy giờ tối ở Washington.
Chắc là họ đang uống cốc tai đây, ông ta nói. Tốt hơn là phá hỏng của bọn họ đi, các bạn ạ. Tôi sẽ gọi ngay về Langley đây
- Coca và bánh bích quy ở London: Paxman nói. Tôi sẽ báo về Nhà Thế kỷ. Để cho họ mất luôn đi.
Barber đi để gửi bản sao bản tin được mã hoá cao độ đến Bill Stewart, với dấu thượng khẩn, tuyệt mật. Điều đó có nghĩa là dù ông ta đang ở đâu, thì người ta cũng phải tìm cho ra ông ta và bảo ông ta đến một đường dây điện thoại an toàn.
Paxman cũng làm giống như thế với Steve Laing, người có thể bị đánh thức dậy vào giữa đêm và bị bắt phải rời khỏi cái giường ấm áp của mình để chạy trong đêm lạnh giá và quay ngay về London.
Có điều cuối cùng mà Paxman phải làm, mà anh ta đã làm. Martin đã có một lần chuyển tin chỉ để nghe, và mới là một giờ sáng. Paxman chờ đợi và gửi cho người của mình ở Baghdad một thông điệp cực ngắn nhưng cực kỳ rõ ràng. Nó nói Martin không được có cử động gì trước khi có chỉ thị để tiếp cận bất kỳ cái nào trong số sáu hòm thư chết. Khẩn cấp.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #102 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 09:18:20 pm »

Karim, chàng sinh viên Jordan, đang thực hiện được những tiến triển chậm chạp nhưng vững chắc trong công cuộc theo đuối cô Edith Hardenberg. Cô đã cho phép anh ta cầm tay khi hai người đi dạo những phố của thành Vienna cổ, những vệ đường với băng giá giữa chân họ. Cô thậm chí còn thú nhận với anh rằng cầm tay thế này cô thấy thật thú vị.
Vào tuần thứ hai của tháng Giêng cô có được vé đến Burgtheater - do Karim trả tiền. Buổi biểu diễn là một vở kịch của Grillparzer, vở "Gygus và chiếc nhẫn". Cô nồng nhiệt giải thích trước khi họ đi vào đó rằng vở kịch là về một ông vua già với nhiều đứa con trai, và người sẽ nối ngôi sẽ nhận được chiếc nhẫn của ông. Karim ngồi xem hết vở kịch và hỏi nhiều điều về lời thoại, mà anh luôn lưu ý
Giờ nghỉ Edith rết hạnh phúc được trả lời chúng. Sau đó. Avi Herzog có thể nới với Barzilai rằng tất cả đều rất hay ho như là xem tranh khô vậy.
- Cậu đúng là con bò, người của Mossad nói. Cậu chẳng có tí ti văn hoá nào hết cả.
-  Thì tôi ở đây để học đấy thôi. Avi nói.
- Thế thì học đi: cậu bé.
Vào chủ nhật, Edith. một tín đồ Công giáo ngoan đạo, đi đến buổi lễ mixa sáng ở nhà thờ Votiv. Karim giải thích rằng vì mình là tín dồ Hồi giáo nên không thể đi theo cô nhưng anh sẽ đợi cô ở một quán cà phê gần quảng trường.
Sau đó, khi uống cà phê mà anh ta đã lén cho vào một ít rượu mạnh khiến má cô ửng hồng, anh giải thích những khác biệt và tương đồng giữa Công giáo và Hồi giáo - đều chung lòng tin vào Đức chúa thực sự, những người anh em và tiên tri, việc rao giảng những cuốn kinh và những đạo luật đạo đức. Edith tỏ ra sợ hãi nhưng bị cuốn hút. Cô tự hỏi liệu nghe mọi thứ đó có làm hỏng đi tâm hồn mình không, nhưng cô đã rất hào hứng biết được rằng cô đã sai lầm khi nghĩ những tín dồ Hồi giáo đã lật đổ các thần tượng.
- Tôi muốn đi ăn tối quá, Karim nói ba ngày sau.
- Tốt thôi, nhưng mà anh tiêu tốn nhiều tiền vì tôi quá đấỵ Edith nói. Cô thấy rằng cô có thể nhìn thẳng vào khuôn mặt trẻ trung của anh và đôi mắt nâu với sự thích thú, trong khi luôn tự cảnh báo mình rằng khoảng cách 10 tuối giữa họ khiến họ chỉ có thể có được một tình yêu kiểu Platon khá là nực cười.
- Không phải ở một quán ăn đâu.
- Thế thì ở đâu?
- Cô có thể nấu cho tôi ăn không, Edith? Cô có nấu không? Thức ăn thành Vienna nhé?
Cô đỏ ửng mặt và suy nghĩ. Mỗi tối, trừ khi đi một mình tới một buổi hoà nhạc, cô thường tự chuẩn bị cho mình một cái bánh tồi tàn trong một cái bếp nhỏ trong căn hộ của mình dành cho phòng ăn tối. Nhưng có, cô nghĩ, cô có thể nấu ăn. Đã lâu quá rồi.
 Ngoài ra, cô tự biện luận với chính mình, anh ta đã cho cônhững bữa ăn sang trọng như thế ở các quán ăn... và anh là một người đàn ông trẻ tuổi rất có học thức và lịch thiệp. Chắc là chẳng có gì hại ở đó đâu.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #103 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 09:21:49 pm »

Khỏi phải nói báo cáo của Jericho đêm ngày 12-13 tháng Giêng đã tạo ra những rối loạn tại những vòng London và Washington như thế nào. Sự hoảng hốt gần lên đến đỉnh điểm.
Một trong các vấn đề là nhóm nhỏ những người biết về sự tồn tại của Jericho, tin ngay những chi tiết đó. Nguyên tắc cần- biết có thể rất khó nghe hay thậm chí vẫn ám ảnh. nhưng nó cần bởi một lý do. Mọi tổ chức tình báo đều cảm thấy một sự bắt buộc đối với một cá chìm làm việc cho họ trong tình hình nguy hiểm cao độ, không vấn đề gì khác thật là quá bất nhẫn rằng người đó có thể bị coi như đối xử như một người bình thường.
Jericho là một kẻ tầm thường và không có đầu óc xuất chúng không phải là vấn đề. Vấn đề là ông ta đã phản bội một cách kỳ cục đất nước của mình và chính phủ của mình thật khó hiểu. Chính phủ Iraq có tiếng về trấn áp đến thế, cho nên thật nguy hiểm khi mạo hiểm.
Vấn đề là, ngoài giá trị rõ ràng và sự thực những thông tin của ông ta có thể giúp Liên quân khỏi thiệt hại rất nhiều người người trên chiến trường, Jericho còn là một của chìm giá trị cao, và cả hai cơ quan đang điều hành ông ta đã chỉ để cho một nhóm rất ít người quan trọng biết đến sự tồn tại của ông ta. Không bộ trưởng nào, không chính khách nào, không công chức nào, và không người lính nào được chính thức nói là Jericho đang tồn tại. Sản phẩm của anh ta vì lẽ đó được nguỵ trang theo nhiều cách. Một loạt những câu chuyện nguỵ tạo đã được làm ra để giải thích từ đâu dòng thác thông tin này tới.
Các vị trí quân sự được giả thiết được có từ một loạt những phản bội của những người lính lraq ở trên sân khấu Kuwait, bao gồm cả một loạt những thứ không tồn tại có ở một cơ sở tình báo bí mật ở Trung Đông nhưng không phải ở Arập Xêut.
Các thông tin khoa học và kỹ thuật xem xét về các vũ khí huỷ diệt hàng loạt đã được nói là đã có được từ một nhà khoa học Iraq phản bội, về Anh sau khi học ở Trường Hoàng gia London, và yêu một cô gái người Anh, và một loạt những nhà kỹ thuật khác của châu Âu đã làm việc ớ lraq giữa 1985 và 1990.
Tình báo chính trị được đến một hổn hợp các người tị nạn chạy khỏi Iraq, các thông tin giả qua phát thanh từ nước Kuwait đang bị chiếm đóng, và tình báo về các dấu hiệu rõ ràng và tình báo điện tử , nghe trộm, và giám sát trên không.
Nhưng bằng cách nào để giải thích một báo cáo trực tiếp về lời lẽ của chính Saddam, dù câu hỏi đó có vẻ thật là lạ lùng, được thực hiện trong một cuộc họp kín trong chính lâu đài của ông ta, mà không để lộ một điệp viên trong những giới chức cao cấp nhất tại Baghdad?
Những nguy hiểm khi đưa ra lời chấp nhận đó là rất lớn. Thứ nhất, có những rò rỉ. Thời nào cũng có rò rỉ. Về tài liệu của Chính phủ.,về thông tin trao đổi của công chức, và những thông tin nội bộ các cơ quan.
Các chính khách, cho đến nay những người giả danh đang liên quan, là những người tồi tệ nhất. Để tin vào những cơn ác mộng của những bậc thầy, họ nói với vợ, bạn gái, bạn trai, thợ cắt tóc, lái xe, và người bán rượu. Họ thậm chí còn tỉ tê tâm sự với nhau ngay cả khi một người hầu bàn ăn đứng ngay bên cạnh.
Thêm vào đó là vấn đề Washington và London đã có áp lực và các cơ quan truyền thông lớn mà tài năng do thám của họ: FBI và Scotland Yard còn lâu mới theo kịp, và còn có vấn đề là giải thích thế nào về sản phẩm của Jericho, mà không chấp nhận là có một Jericho.
Cuối cùng,London cũng còn có hàng trăm sinh viên Iraq - một số trong đó chắc chắn là điệp viên của tình báo Nước ngoài của tiến sĩ lsmail Ubaidi của Mukhabarat - đã chuẩn bị sẵn sàng để báo cáo về mọi thứ họ nghe và nhìn thấy được.
Không thể có chuyện ai đó khai ra tên Jericho, điều đó không thể xảy ra. Nhưng nếu ngụ ý rằng thông tin đã đến từ Baghdad, thì mạng lưới phản gián Rahmani có thể sẽ nhanh chóng tiến hành điều tra và cô lập được đầu mối. Tốt nhất, thì điều đó có thể làm Jericho im tiếng trong tương lai như ông ta đã doạ để tự bảo vệ mình; trường hợp xấu nhất là ông ta sẽ bị bắt.
Vì cuộc tấn công trên không sắp bắt đầu, hai cơ quan đã liên lạc lại với mọi chuyên gia về vật lý nguyên tử và hỏi lại về những thông tin đã được biết một cách nhanh chóng. Liệu ở đó có một khả năng hiện thực nào đó rằng Iraq có thể có phản ứng tách nhanh hơn và lớn hơn như trước đây từng nghĩ không?
Các trung tâm của Mỹ ở Sandia, Lawrence Livermore, và Los Alamos được hỏi lại, ở Anh là Harwell và Aldermaston. Khoa Z ở Livermore, những người đã từng phụ trách về sự nảy nở của Thế giới thứ ba về nguyên tử, là những người bị hỏi nhiều nhất.
Các chuyên gia quay trở lại, rất chắc chắn, tái khẳng định lời nói của mình. Dù đã đặt ra kịch bản xấu nhất. họ nói - đặt giả thuyết không phải một mà hai trung tâm sản xuất khí độc hoạt động không phải trong một mà là hai năm - thì cũng không cách nào Iraq tạo được hơn một nửa số uranium-235 cần thiết cho một thiết bị đơn giản thấp kém nhất.
Điều này đặt các cơ quan tình báo vào lựa chọn một trong nhiều khả năng.
Saddam đã nhầm bởi vì ông ta đã bị lừa dối. Kết luận: không thể được. Những người phụ trách có thể mất mạng với cải kiểu đùa thế với Rais.
Saddam đã nói như vậy, nhưng là nói dối. Kết luận: khá có khả năng - để lên dây cót tinh thần trong số những cận thần  của mình. Nhưng tại sao phải nói tin đó ra trong vòng những cận thần thân tín nhất, những người không hề sợ phản trắc?
Tuyên truyền nâng cao tinh thần phải được thực hiện với đám đông và bên ngoài chứ. Không thể giải thích nổi. Saddam đã không nói thế. Kết luận: toàn bộ báo cáo là chuyện bịa đặt. Kết luận thứ hai: Jericho nói dối bởi vì ông ta muốn tiền và nghĩ chiến tranh đang đến và thời gian của ông ta sẽ chóng hết. ông ta đã ra giá một triệu đôla cho thông tin của mình.
Jericho nói dối bởi vì ông ta đã bị phát hiện và đã khai ra tất cả. Kết luận: cũng có khả năng, và lựa chọn này đặt ra mối nguy hiểm cá nhân rất lớn cho người ở Baghdad để giữ đường dây.
Người của CIA lúc lắc sau tay lái. Langley, là người trả tiền chính, đã có quyền tuyệt đối để làm thế.
- Tôi sẽ đưa anh kết luận, Steve ạ, Bill Stewart nói với Steve Laing trong một đường dây an toàn từ CIA đến Nhà Thế kỷ vào tối ngày 14 tháng Giêng. Saddam đã sai hoặc ông ta nói dối. Dù thế nào di nữa, Chú Sam cũng sẽ không trả một triệu tiền xanh vào tài khoản ở Vienna cho cái thể loại giả dối này.
- Không có cách nào khác hả Bill?
- Cách nào mới được chứ?
- Rằng Saddam đã nói và ông ta nói đúng.
- Không có chuyện đó đâu. Đó là một cú lừa kẹp ba. Chúng ta sẽ không nuốt quả đắng này đâu. Xem nào, chín tuần qua Jericho đã tỏ ra thật tuyệt, dù giờ đây chúng ta phải kiểm tra lại những thứ hắn đã cho chúng ta. Một nửa trong đó đã được chứng tỏ, và là tốt. Nhưng ông ta đã chơi đểu ở báo cáo gần nhất. Chúng tôi nghĩ đó là đoạn kết rồi. Chúng tôi không biết tại sao, nhưng đó là điều được nói từ trên cao xuống đấy.
- Thế thì chúng tôi gay rồi. Bill ạ.
- Tôi biết, anh bạn ạ, và chính vì thế mà tôi đã gọi cho anh chỉ sau cuộc họp với giám đốc mấy phút nay. Dù Jericho đã bị bắt và đã nói ra mọi thứ với đội hành quyết, hay ông ta đã chuồn và cao cẳng. Nhưng nếu ông ta biết được rằng chúng ta sẽ không gửi cho ông ta triệu đôla nào nữa, thì tôi chắc ông ta sẽ nổi đoá lên. Dù cách nào đi nữa, thì đó cũng là tin xấu cho anh bạn trẻ của các anh ở đó. Anh ta giỏi đấy chứ, phải không?
- Giỏi nhất đấy. Mẹ kiếp nhà nó chứ.
- Thế thì rút anh ta về đi. Steve ạ. Lẹ lên.
- Tôi nghĩ sẽ phải làm vậy thôi, Bill. Cám ơn đã khuyên. Tội thật - đang tốt thế cơ mà.
- Giỏi nhất. trong khi còn được thế.
Stewart dập máy. Laing đi lên tầng để gặp ngài Colin.
Quyết định được đưa ra trong vòng một giờ đồng hồ.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #104 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 09:26:06 pm »

Vào giờ ăn sáng ngày 15 tháng Giêng ở Arập Xêut, tất cả các thành viên của đội bay, người Mỹ, người Anh, Italia, Xêut, và Kuwait, biết rằng họ sẽ đi vào cuộc chiến tranh. Các chính khách và nhà ngoại giao, họ tin thế, đã thất bại trong việc ngăn cản điều đó. Qua ngày mọi đơn vị.không quân chuyển sang tình trạng chuẩn bị chiến đấu.
Các trung tâm đầu não của chiến dịch đặt ở ba cơ sở tại Riyadh.
Ở ngoại ô Riyadh căn cứ không quân là một tập hợp những lều trại có gắn máy lạnh, được biết đến bởi ánh sáng xanh lan toả trên những tấm vải bạt ở chỗ Barn. Đó là nơi đầu tiên lọc đống ảnh tình báo chụp từ trên không trong nhiều tuần và có thể sẽ gấp đôi, gấp ba trong những tuần tới
Sản phẩm của Barn - một tổng hợp của những thông tin ảnh quan trọng nhất đổ xuống từ rất nhiều những câu chuyện tình báo - đã đi được một chặng đường để đến được đại bản doanh của Không lực Arập Xêut, một đống những cái đã được chuyển lên cho Không quân Trung ương. CENTAF.
Một toà nhà khổng lồ bằng nhôm kính dược dựng lên trên một khu 50 mét chiều dài, đại bản doanh đang hoạt động hết công suất, và chính ở đó, sâu dưới mặt đất, là trụ sở CENTAF.
Trong toà nhà bộ phận quan trọng nhất là Trung tâm Sản xuất Hình ảnh Hợp tác, một cơ quan hợp tác với nhiều phòng trong đó làm việc qua chiến tranh 250 nhà phân tích. Mỹ và Anh, của cả ba binh chủng, và mọi cấp bậc. Đó là Hố Đen.
Tổng chỉ huy không quân, tướng Chuck Horner, phụ trách về kỹ thuật, nhưng vì ông thường bị gọi lên Bộ Quốc phòng cách đó một dặm đường, nên phó của ông có mặt thường xuyên hơn, tướng Buster Glosson.
Các nhà hoạch định chiến lược cho cuộc chiến trên không tại Hố Đen đọc một đống tài liệu hàng ngày, thậm chí hàng giờ gọi là Sơ đồ Mục tiêu Cơ bản, một danh sách và bản đồ mọi thứ ở lraq đã được nhắm đến để tấn công. Từ đó chúng được chia ra làm tài liệu hàng ngày của mỗi chỉ huy không quân, sĩ quan tình báo không quân, các sĩ quan chiến dịch lên kế hoạch, và đội bay tại vùng Vịnh - Lệnh Bay (ATO).
ATO của mỗi ngày là một tài liệu hết sức chi tiết. lên tới hơn 100 trang đánh máy. Mất đến ba ngày để chuẩn bị. Tiếp đến đầu tiên là Phân chia - quyết định về các tỉ lệ của các dạng mục tiêu ở lraq có thể được xử lý trong vòng một ngày và những đội bay có thể sử dụng cho trận đó.
Ngày thứ hai là Đặt chỗ - thảo luận về tỉ lệ các mục tiêu Iraq thành các số và địa điểm cụ thể. Ngày thứ ba là Phân chia quyết định "ai có ai không". Chính trong quá trình phân chia này có thể quyết định, chẳng hạn, cái đó là cho những chiếc Tornado của Anh, cái này cho Eagle của Mỹ, cái khác cho Tomcat của Thuỷ quân, rồi thì cho Phantom, và cho Pháo đài bay B52.
Chỉ khi đó mỗi phiên đội bay và người bay cùng mới được lên danh sách trong ngày hôm sau. Sau đó, là thực hiện – tìm mục tiêu, vạch đường, nối với những máy bay tiếp nhiên liệu, kế hoạch hướng đánh, tính toán những mục tiêu thứ yếu trong trường hợp thất bại, và tìm đường trở về nhà.
Người chỉ huy phiên đội có thể chọn các nhân viên của mình và đề nghị những người chỉ huy chuyến bay và người đi cùng. Những sĩ quan phụ trách vũ khí - mà Don Walker là một trong số đó, có thể lựa chọn cách thức - bom "thép" hay là "ngu ngốc" , những bom không có định hướng, rồi bom do laser định hướng, hoả tiễn laser dẫn đường, và nhiều thứ nữa.
Cách đường Sân bay cũ một dặm là toà nhà thứ ba. Bộ Quốc phòng Xêut rất mênh mông, gồm năm toà nhà chính nối với nhau bằng xi măng trắng, cao bảy tầng, với những cột nhà cao lênh khênh.
Trên tầng thứ tư toà nhà này tướng Norman Schwarzkopf dược dành cho một dãy phòng mà hiếm khi ông dùng đến. thường xuyên ngả lưng thẳng xuống cái giường nhỏ dưới tầng ngầm, cạnh vị trí chì huy của mình.
Trong tất cả, bộ dài tới 400 mét và hàng chục fít cao, một sự sạch sẽ đã trả các cổ tức trong Chiến tranh vùng Vịnh, khi Riyadh phải đóng vai trò chủ nhà với nhiều người nước ngoài. Dưới đất là hai tầng nữa gồm nhiều phòng chạy dọc theo chiều rộng của toà nhà, và trong số 400 mét. Ban Chỉ huy liên quân đóng trong 60. Chính ở đây các vị tướng lĩnh ngồi trong suốt cuộc chiến, nhìn vào một bản đồ lớn trong khi các sĩ quan tuỳ tùng chỉ ra cái đã được xử lý, cái đã bị trượt. cái đã để lộ ra, cái đã di chuyển, và cái mà sự đáp lại của lraq và những vị trí có.
Được bảo vệ khỏi ánh mặt trời gay gắt ngày tháng Giêng đó, một chỉ huy đội của Anh ngồi trước một tấm bản đồ treo tường chỉ ra 700 mục tiêu được lên danh sách tại lraq. 240 mục tiêu chính và những cái khác còn lại là thứ yếu, nhận xét:
- Tốt, thế là đúng đấy.
Thực ra, không phải là như thế. Những người lập kế hoạch không hề hay biết, cả những vệ tinh và mọi thứ công nghệ, tính tàn bạo của con người được nguỵ trang và maskirovka đã làm họ bị đánh lừa.
Tại hàng trăm địa điểm qua Iraq và Kuwait, các xe tăng Iraq đã đỗ và ở dưới sự nguỵ trang của chúng, hướng bắn rất chuẩn bởi Liên quân nhờ vào chất liệu kim loại của chúng: được phát hiện bởi các rađa tốt nhất. Trong nhiều trường hợp làm bằng gỗ, gỗ ép, và thanh mỏng, những cái trống của thép cứng bên trong tạo ra thứ gần giống như thép với các máy cảm ứng.
Những điểm của xích xe tải cũ giờ đây chất đống những ống cho tên lửa Scud. Những "máy phóng " di động này cũng có thề bị Liên quân bỏ qua.
Nhưng nghiêm trọng hơn nữa, 70 mục tiêu chính yếu liên quan đến các vũ khí của Iraq đã không được định vị bởi vì chúng được chôn sâu hay được nguỵ trang một cách khéo léo thành một cái gì đó khác. Chỉ sau này các nhà hoạch định mới bối rối về cách người Iraq đã xử lý để dựng lại toàn bộ những sư đoàn bị phá huỷ với tốc độ nhanh đến khó tin; chỉ sau này các điều tra viên của Hoa Kỳ mới phát hiện hàng loạt nhà máy và kho hàng đã bị bỏ sót: và không biết được những căn cứ ngầm dưới dất.
Nhưng vào cái ngày nóng nực năm 1990 đó không ai biết được những điều đó. Cái mà những người đàn ông trẻ tuổi ngoài những đường bay từ Tabuq miền tây đến Bahrain ở phía đông và xuôi xuống vùng Khamis Mushait bí mật cao độ ở phía nam được biết rằng là trong 40 tiếng đồng hồ họ có thể vào cuộc chiến tranh và một số trong đó sẽ không trở về.
Trong toàn bộ ngày cuối cùng trước khi những cái quyết định bắt đầu, phần lớn trong số họ viết thư về nhà. Một số cắn bút chì nghĩ nên viết gì. Những người khác nghĩ đến vợ và con cái mình và khóc khi viết thư; những bàn tay quen điều khiển hàng tấn kim loại chết người tìm cách nghuệch ngoạc những từ chẳng ra sao để nói điều họ đang cảm thấy; những người đang yêu thì cố diễn tả điều họ nên nói trước, những người cha khuyên nhủ -con trai mình chăm lo cho mẹ chúng nếu điều xấu nhất xảy đến.
Đại uý Don Walker nghe tin tức với tất cả các phi công và những người trong đội lái khác của Đội Rocketeers của TFS số 336 trong một thông báo từ đội trưởng ở Al Kharz. Ngay trước 9 giờ sáng: và mặt trời đã bắt đầu thiêu đốt sa mạc giống như một thứ lò nướng.
Không có lệnh cấm nào buộc những người lính không được ra khỏi lều, mỗi người chìm trong suy nghĩ riêng của mình. Với mỗi người, những suy nghĩ đó rất gần với nhau: ý định gần đây nhất để tránh chiến tranh đã được thử và đã thất bại; các chính khách và nhà ngoại giao đã đi như con thoi từ cuộc họp này đến cuộc họp khác, đã đầu hàng và tuyên bố như vậy, đã thúc đẩy, đốt cháy, xin xỏ, doạ nạt, và ve vãn hàng tháng trời trước khi đến ngày hôm nay.
Walker nhìn đội trưởng Steve Turner đang đi khỏi lều của mình để viết điều anh tin tưởng sâu sắc có thể là bức thư cuối cùng của anh cho Betty Jane ở Goldsboro, Carolina Bắc, Randy Roberts có một vài từ ngắn gọn, thân mật với Boomer Henry. rồi họ chia tay và đi.
Chàng trai Oklahoma trẻ tuổi nhìn vào vòm trời xanh nhợt nhạt nơi anh đã muốn lao vào từ khi còn là một chú nhóc ở Tulsa và nơi đó anh đã sớm có thể chết vào độ tuổi ba mươi, và quay buớc chân về cái máy đo. Cũng giống những người khác, anh muốn được một mình.
Không có hàng rào để đi sang căn cứ ở Al Kharz, chỉ có hàng núi cát, và những đồng đất trải dài đến chân trời và trên đó lại tiếp nữa và tiếp nữa. Walker đi ngang qua những túp lều nhỏ bé được tụ lại quanh một nơi cụ thể, nơi các thợ máy đang làm việc với chức trách của mình và các đội trưởng đang đi qua các đội, nói và kiểm tra để chắc rằng khi một cái trong số các baby của mình cuối cùng vào cuộc chiến, thì chúng có thể là những chiếc máy hoàn hảo trong tay những người biết sử dụng chúng.
Walker đỗ chiếc Eagle của mình giữa chúng và vẫn thấy thật ngưỡng mộ khi chiêm ngưỡng chúng từ xa theo cái dáng điệu đe doạ câm lặng của chúng. Nó baỵ chậm qua đoàn đàn ông và phụ nữ, thầm yêu mến hoặc thích thú, căm ghét hoặc sợ hãi, kiên nhẫn đợi đến lúc khi nó cuối cùng có thể làm cái đã được thiết kế để làm hàng năm trước trên khoang lái - mang lửa và cái chết đến cho những kẻ được đưa vào tầm ngắm bởi vị tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
Walker ghen tị với chiếc Eagle của mình; với mọi sự phức tạp kinh người, nó có thể không cảm thấy gì hết cả, nó có thể không bao giờ phải e ngại. Anh rời khỏi thành phố của lều trại đằng sau mình và rảo bộ trên dường. đôi mắt anh ánh lên bởi độ cao của cái gậy bóng chày và những đôi kính bay, hiếm khi cảm thấy sức nóng của mặt trời trên vai mình.
Tám năm nay anh đã bay trên chiếc máy bay của Tổ quốc mình, làm điều đó và thích thú nó. Nhưng chưa từng bao giờ anh thật sự, thành thật ngắm nhìn triển vọng mình có thể chết trong trận chiến. Một phần trong số mọi phi công chiến đấu thường đùa cợt với khái niệm thử nghiệm kỹ năng, thần kinh của anh, và sự hoàn hảo của chiếc máy bay chống lại một người đàn ông khác trong thực tế chứ không phải một bài kiểm tra vớ vẫn nào đó. Nhưng một phần khác vẫn luôn giải thích rằng sẽ không bao giờ xảy ra như thế. Nó sẽ không bao giờ thực sự biết đến việc giết những đứa con của những bà mẹ khác, hay bị họ giết chết.
Sáng hôm đó, cũng giống như các buổi sáng khác, anh cuối cùng cũng nhận ra rằng trong thực tế điều đó đã xảy đến: rằng mọi năm học hành và huấn luyện trước đây đã cuối cùng đi đến ngày này và đến thời điểm này; rằng trong 40 giờ nữa anh có thể lại đưa chiếc Eagle của mình lên không trung, và lần này anh có thể sẽ không quay trở về.
Cũng giống như những người khác, anh nghĩ về ngôi nhà. Khi chỉ còn là một đứa trẻ và một người độc thân, anh nghĩ về bố mẹ mình. Anh nhớ mọi thời gian và mọi địa điểm của tuổi thơ mình ở Tulsa, những việc mà anh và cha mẹ anh đã cùng nhau làm trong cái sân sau nhà, cái ngày anh được tặng cái mitt đầu tiên và đã bắt bố mình chơi cùng cho đến tận khi mặt trời xuống.
Những suy nghĩ của anh quay trở về những kỳ nghỉ mà họ đã ở cùng nhau trước khi anh rời nhà đi học đại học rồi vào Không quân. Người anh nhớ đến nhiều nhất là cái lần bố anh mang anh trên một chiếc tàu đánh cá chỉ toàn đàn ông đến Alaska vào mùa hè năm anh 20 tuổi.
Ray Walker hồi 20 năm trước đó, cứng chắc, khoẻ mạnh hơn con trai. Họ đã đi một chiếc kayak, với một người dẫn đường và những người đi nghỉ khác, và đi qua những vùng băng giá của vịnh Glacier, nhìn ngắm những con gấu trắng tập hợp lại đứng thành hàng trên những triền núi, những cảng biển vào tháng Tám, và cảnh mặt trời lên trên Mendenhall Glacier sau Juneau. Họ đã hạ hai con quái vật nặng 70 pound ngoài hố Halibut và mang cá hồi chúa khỏi kênh ngoài Sitka.
Giờ đây anh thấy mình đang đi lang thang qua một biển cát trong đất liền xa nhà với nước mắt chảy dài trên gò má, không ngăn được, khô đi trong ánh nắng mặt trời. Nếu anh chết, anh sẽ không bao giờ được cưới vợ và sẽ không bao giờ có con hết cả. Hai lần anh đã suýt cưới vợ; một lần với một cô gái ở trường đại học, nhưng đó là khi anh còn quá trẻ chưa có kinh nghiệm gì, lần thứ hai với một người phụ nữ chín chắn hơn mà anh gặp ngoài căn cứ gần Mc Connell, người đã làm anh hiểu cô sẽ không bao giờ trở thành vợ của một tay lính chiến lái máy bay.
Giờ đây anh muốn, như chưa từng muốn như thế bao giờ trước đây, có con của riêng mình; anh muốn một người đàn bà để trở về vào lúc cuối ngày, và một đứa con gái đùa nghịch với anh và nghe anh đọc chuyện cổ tích khi sắp đi ngủ, và một đứa con trai để dạy cho nó bắt một quả bóng đang xoáy, để chiến đấu và thi đấu, để chơi đùa và câu cá, đúng theo cái cách bố anh đã dạy anh. Còn hơn thế nữa, anh muốn quay trở về Tulsa và ôm hôn mẹ anh lần nữa, người đã lo lắng bao nhiêu về những việc anh đã làm và đã can đảm không chịu...
Chàng phi công trẻ tuổi cuối cùng cũng quay về căn cứ, ngồi xuống cái bàn ăn tại căn lều ở chung với mấy người khác, và tìm cách viết một bức thư về nhà. Anh không phải người viết thư giỏi. Từ ngữ không đến dễ dàng. Anh thường thử miêu tả những điều vừa mới xảy ra trong đội bay, bạn bè anh, tình hình thời tiết. Điều đó thật là khác.
Anh viết cho bố mẹ mình hai trang giấy, cũng giống như nhiều đứa con trai khác trong ngày hôm đó. Anh tìm cách giải thích điều dang diễn ra trong đầu anh, cái chẳng dễ dàng một chút nào.
Anh nói với họ về những tin tức mới vừa được thông báo sáng hôm đó và ý nghĩa của những tin đó, và anh bảo họ đừng có lo lắng cho anh. Anh đã có sự đào tạo tốt nhất thế giới và bay trên chiếc máy bay chiến đấu tốt nhất thế giới trong không lực mạnh nhất thế giới.
Anh viết là anh rất tiếc về thời gian anh còn nhỏ, và cảm ơn họ với mọi điều họ làm cho anh trong những năm qua, từ ngày đầu tiên xa lắc xa lơ cho đến hiện tại khi vị tướng đã có trên ngực những cánh máy bay.
Trong 40 tiếng đồng hồ, anh giải thích, anh có thể sẽ cất cánh chiếc Eagle của mình và lại bay, nhưng lần này có thể sẽ khác nhiều. Lần này, lần đầu tiên, anh có thể sẽ thấy mình phải giết những người khác, và họ cũng sẽ tìm cách để giết anh. Anh có thể không nhìn thấy khuôn mặt của họ hay cảm giác về nỗi sợ hãi của họ, khi họ biết được điều đó, vì không có cách nào khác trong chiến tranh hiện đại. Nhưng nếu họ lùi bước và anh thất bại, thì anh cũng muốn bố mẹ mình biết anh yêu họ thế nào, và anh hy vọng anh đã là một đứa con trai tốt của họ.
Khi anh viết xong, anh dán thư lại. Nhiều bức thư khác cũng được dán trong ngày hôm đó dọc theo chiều dài và chiều rộng của Arập Xêut. Rồi các nhân viên bưu chính quân đội sẽ thu thập chúng, và chúng được chuyển cho Trenton , Tulsa,  London , Rouen và Rome.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #105 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2010, 09:26:59 pm »

Đêm đó Mike Martin nhận được một tin khẩn từ những người đang kiểm soát anh ở Riyadh. Khi anh cho máy chạy lại, anh nhận ra giọng Simon Paxman đang nói. Đó không phải là một bản tin dài, nhưng rõ ràng và đi thẳng vào vấn đề ngay. Trong thông điệp trước của mình, Jericho đã sai lầm, hoàn toàn và tuyệt đối sai. Mọi kiểm tra khoa học đều chứng tỏ không có cách nào hắn ta lại đúng được cả.
Hắn ta đã sai dù là cố ý hay vô ý. Trong trường hợp đầu tiên hắn ta có thể đã phản bội, đã bị loá mắt vì tiền, hay đã bị bắt buộc. Trong trường hợp thứ hai hắn ta có thể đã chán ngán bởi vì CIA đã từ chối nhất quyết không trả thêm đôla cho cái loại sản phẩm này nữa.
Điều đó có nghĩa là, không có lựa chọn nào khác ngoài việc tin rằng, sự hợp tác của Jcricho, toàn bộ chiến dịch đã bị Phản gián Iraq phát hiện, giờ đây đang ở trong tay "Hassan Rahmani bạn anh"; hoặc điều đó rồi không chóng thì chày sẽ xảy ra, nếu Jencho tìm cách trả thù bằng cách gửi một thư nặc danh.
Và cũng phải bỏ cả sáu hòm thư chết. Kiểu gì cũng phải làm. Martin có thể tự mình chuẩn bị để thoát khỏi Iraq với cơ hội an toàn đầu tiên, có thể là dưới trường hợp một cuộc hỗn loạn có thể đến trong 24 giờ nữa. Hết thông báo.
Martin nghĩ về nó trong suốt phần còn lại của đêm. Anh không ngạc nhiên rằng phương Tây đã không còn tin Jericho nữa. Rằng các khoản tiền sẽ ngừng chảy nữa. Người đã chỉ báo cáo nội dung của một cuộc họp tại đó Saddam có dự. Thế là Saddam đã nói dối - không có gì mới mẻ cả. Thế thì Jericho sẽ làm gì khác đây - bỏ qua nó ư? Người đàn ông đang đòi đến một triệu đôla đã làm điều đó.
Do đó, lôgic của Paxman thật không chấp nhận được.
Trong bốn ngày, có thể là năm, Jericho sẽ kiểm tra và phát hiện chưa có thêm tiền. Ông ta có thể trở nên giận dữ, cáu bẳn. Nếu không bị rơi vào tay Omar Khatib "Kẻ Tra tấn", thì ông ta sẽ có thể hoàn toàn trả lời bằng cách bịa ra một kẻ nặc danh nào đó Cũng có thể thật là điên rồ đối với Jericho nếu hắn làm thế. Nếu Martin bị bắt và bị đánh - và anh không chắc sẽ đau đớn thế nào trong tay Khatib và những tên chuyên nghiệp đấm bóp của hắn - thông tin của chính anh có thể chỉ ra Jericho, dù đó là ai đi chăng nữa.
Hơn nữa, con người ta lại hay làm những việc điên rồ. Paxman đúng, các hộp thư cần được giám sát.
Còn với việc rời khỏi Baghdad, điều đó nói dễ hơn là làm. Qua câu chuyện phiếm ở các chợ, Martin đã nghe thấy rằng các con đường ra khỏi thành phố dầy đặc những đội tuần tra của AMAM và Cảnh sát quân sự, tìm kiếm những kẻ lang thang và chó săn. Bức thư của nhà ngoại giao Nga Kulikov chỉ cho phép anh phục vụ ông ta với tư cách người làm vườn ở Baghdad. Thật khó giải thích cho một điểm kiểm tra điều anh muốn làm khi đi về phía tây về sa mạc, nơi chiếc mô tô của anh được chôn ở đó. Suy đi tính lại anh quyết định ở lại trong khu nhà Xô viết một thời gian nữa. Đó lại có thể là chỗ an toàn nhất ở Baghdad này.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #106 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2010, 08:14:30 pm »

CHƯƠNG 15

Hạn cuối cho Saddam Hussein để rời khỏi Kuwait đã hết vào nửa đêm ngày 15 tháng Giêng. Trong một nghìn căn phòng, lều, tăng, và cabin trên khắp nước Arập Xêut, và ở Biển Đỏ cũng như vịnh Arập, những người đàn ông nhìn đồng hồ rồi nhìn nhau. Chẳng có gì mà nói cả.
Hai tầng bên dưới Bộ Quốc phòng Xêut, sau những cánh cửa thép có thể chống mọi quả đạn tăng trên đời, gần như có một cảm giác chán ngán. Sau tất cả các công việc, tất cả những gì đã được lên kế hoạch, chẳng còn gì để làm nữa cả - trong vài giờ. Giờ đây công việc đã đổ xuống vai những chàng trẻ tuổi. Họ đã có nhiệm vụ của mình, và họ có thể thực hiện trong bóng tối đường băng rất xa bản doanh của các vị tướng.
Vào 2 giờ 15 sáng, tướng Schwarzkopf đi vào gian phòng chiến tranh. Mọi người đều đang đứng. Ông đọc to một thông báo cho các đội quân, người đàn ông cầu nguyện, và vị chỉ huy nói: "Được rồi, để họ đi làm đi".
Ngoài xa qua sa mạc, những người đàn ông đã vào việc. Lần đầu bay qua biên giới không phải những chiếc máy bay chiến đấu mà là một đội bay gồm tám chiếc trực thăng Apache thuộc về Sư đoàn Không quân 101 của quân đội. Nhiệm vụ của họ nhỏ nhưng là chủ yếu.
Về phía bắc biên giới nhưng không xa Baghdad là hai căn cứ rađa mạnh của Iraq, với những chiếc đĩa quan sát cả bầu trời vùng Vịnh từ đông sang tây sa mạc.
Những chiếc máy bay trực thăng đã được lựa chọn, dù có tốc độ thấp so với những chiếc máy bay siêu âm, bởi hai lý do. Đi thăm dò sa mạc, chúng có thể bay dưới tầm rađa và tiếp cận các căn cứ đó mà không bị phát hiện; hơn thế nữa, những người chỉ huy muốn có sự xác nhận của mắt con người rằng các căn cứ đó đã thật sự tồn tại, và ở rất gần. Chỉ những chiếc cánh quạt mới làm được diều đó. Có thể tốn nhiều mạng người nếu những máy rađa đó hoạt động được.
Những chiếc Apache làm được tất cả những gì được yêu cầu Chúng đã không bị phát hiện khi bắt đầu khai hoả. Tất cả đội bay đều có mũ đội gắn kính hồng ngoại, trông như những chiếc ống nhòm thòi ra từ phía trước. Chúng giúp phi  công có tầm nhìn đêm hoàn hảo, để trong đêm tối mịt mùng với mắt thường anh ta có thể nhìn mọi thứ như thể trong một đêm sáng trăng.
Thoạt tiên họ dò các máy phát điện phục vụ máy rada, rồi các thiết bị liên lạc từ đó sự có mặt của họ có thể bị báo cáo cho các trận địa tên lửa xa hơn trong nội địa, và cuối cùng, họ bắn tung các dĩa rađa.
Trong chưa đầy hai phút họ đã bắn tới tấp 27 tên lửa có laser dẫn đường Hellfire, một loạt 100 quả rocket 70 ly, và 4000 vòng đạn pháo hạng nặng. Cả hai địa điểm ra đa đều bị phá huỷ.
Công vụ mở ra cả một lỗ hổng lớn trong hệ thống phòng không của Iraq, và qua lỗ hổng đó đã nhảy xổ vào cả phần còn lại của chuyến tấn công đêm này.
Những người nhìn thấy kế hoạch chiến tranh trên không của tướng Chuck Horner sau này đều cho rằng đó là một trong những kế hoạch giỏi nhất từng có. Nó bao gồm một cột trụ, chính xác đến từng bước và có đủ độ linh hoạt để đối đầu với mọi bất trắc cần đến thay đổi.
Bước một đã khá rõ ràng trong các mục tiêu và được chuyển sang ba giai đoạn khác. Đó là tiêu diệt mọi hệ thống phòng không của lraq và chứng tỏ sự vượt trội của không quân Liên quân? với nó họ đã bắt đầu, thành tối cao của không quân.
Trong ba giai đoạn còn lại tiếp theo trong vòng kỳ hạn 35 ngày tự đặt ra, máy bay của Liên quân sẽ phải có được thế thượng phong đè bẹp đối phương ở trên không. Khi đàn áp phòng không của Iraq, vấn đề cốt yếu là rađa.
Trong chiến tranh hiện đại, rada là cái quan trọng hàng đầu và là công cụ được sử dụng nhiều nhất, mặc cho sự chói sáng của tất cả những cái khác trong khí tài.
Rađa dò xét được các máy bay chiến đấu đang bay đến gần, rađa hướng lối cho máy bay của chính họ đến nơi cần đến; ra đa hướng lối cho các tên lửa phòng không; và ra đa hướng đường bắn cho pháo.
Phá huỷ ra đa khiến kẻ thù trở nên mù loà, giống như một võ sĩ quyền anh hạng nặng trên sàn đấu không có mắt. Anh ta có thể to lớn và vẫn rất khoẻ, anh ta có thể ra được những cú đấm kinh người, nhưng kẻ thù của anh ta có thể vòng xung quanh chàng Samson mù loà, nháy nhót và chơi những cú làm anh chàng khổng lồ mệt nhoài cho đến lúc trọng tài tuyên bố anh ta thua cuộc.
Với lỗ thủng to đùng ngay ở tầm khống chế hệ thống rada của Iraq, các máy bay Tornado và Eagle, những chiếc Aardvard F-111 và F-4G Wild Weasel sẽ xuyên qua chỗ hở đó, đến được các địa điểm rađa sâu hơn trong nội địa, đến được các căn cứ tên lửa do các căn cứ rađa đó hướng lối, nhắm vào các trung tâm chỉ huy nơi các viên tướng lraq đang ngồi, và thổi bay các địa điểm liên lạc qua đó các viên tướng cố truyền đạt mệnh lệnh cho các đơn vị bên ngoài.
Từ các tàu chiến Wisconsin và Missouri và chiếc San Jacinto ngoài Vịnh, 52 tên lửa hành trình Tomahawk được bắn ra trong đêm đó. Chúng do một tổ hợp ngân hàng dữ liệu được máy tính hoá và máy camera vô tuyến điện, những chiếc Tomahawk đến được các nơi, chiếm thế thượng phong tại đó. Khi đã đến nơi, chúng "nhìn" thấy mục tiêu, so sánh chúng với cái có trong bộ nhớ, xác định toà nhà chính xác, và bắn vào trong đó.
Wild Weasel là một phiên bản của Phanton, nhưng được chế tạo đặc biệt để tiêu diệt rada. Nó mang theo những HARM, những tên lửa chống xạ tốc độ cao. Khi một chiếc đĩa rađa loé sáng hoặc "phát sáng", nó sẽ tạo ra các sóng điện từ, và để bị lộ. Nó không thể tránh thế được. Công việc của những HARM là tìm những sóng đó bằng các bộ cảm ứng của mình và đi thẳng đến trung tâm của rađa trước khi nổ tung.
Có thể máy bay chiến đấu lạ nhất trong số đó đang bay về bắc ở trên trời cao đêm đó là máy bay F-117A, được biết đến như máy bay chiến đấu Stealth. Toàn thân màu đen, nó được chế tạo với một hình dạng mà nhiều chiều của nó tránh được hầu hết các sóng rađa hướng lên vào nó và hấp thụ phần còn lại vào chính mình, chiếc chiến đấu Stealth không để những sóng rada đối nghịch trở về máy thu và do đó để lộ sự tồn tại của nó cho kẻ thù.
Là tàng hình, những chiếc F- 117A đêm đó đã bay qua bay lại không bị phát hiện qua các màn hình rađa Iraq để ném những quả bom 2000 pound do lazer dẫn đường rất chính xác vào 34 mục tiêu dính với hệ thống phòng không quốc gia. 13 trong số các mục tiêu đó là ở ngay ngoài Baghdad.
Khi những quả bom đó xuống đến mặt đất người Iraq sẽ loé hết cả mắt nhưng nhìn lên sẽ không thấy gì hết. Trong tiếng Arập, Stealth có nghĩa là shabah; có nghĩa là "ma". Chúng đến từ căn cứ bí mật của Khamis Mushait sâu ở miền nam Arập Xêut, nơi chúng đã được chuyển từ nhà Tonopah, Nevada, cũng bí mật như thế. Trong khi những phi công Mỹ kém may mắn hơn phải sống trong lều trại, Khamis Mushait được xây dựng cách xa hàng dặm nhưng với bầu nhiên liệu rất lớn và hệ thống điều hoà nhiệt độ, nguyên nhân người ta để những chiếc Stealth ở đó.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #107 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2010, 08:17:06 pm »

Vì phải bay xa đến thế, có thể là những phi vụ đường xa nhất trong chiến tranh, đến sáu giờ bay từ khi cất cánh đến khi tiếp đất, và tất cả đều bí mật. Chúng bay mà không hề bị phát hiện qua một số trong các hệ thống phòng không dày đặc nhất trên thế giới - của Baghdad - và không một cái nào bị hề hấn gì, trong đêm đó cũng như những đêm khác.
Khi chúng đã làm xong điều phải làm, chúng liền bay đi, hành trình như những đợt sóng trên một mặt biển hiền hoà, và quay trở về Khamis Mushait.
Công việc nguy hiểm nhất của đêm đến với những chiếc Tornado của Anh. Nhiệm vụ của họ, và trong tuần tiếp đó cho đến khi không còn nữa, là "không chiến", sử dụng những quả bom JP-233 to đùng của mình. Vấn đề của họ khó gấp hai. Người Iraq đã xây dựng những lá chắn tên lửa cực kỳ lớn. Tallil lớn gấp 4 lần Heathrow, với 16 đường băng và đường cho xe taxi có thể được sử dụng để cất và hạ cánh cùng lúc. Chỉ đơn giản là không thể tiêu diệt nó hoàn toàn ngay lập tức được.
Vấn đề thứ hai là về độ cao và tốc độ. Những quả bom JP- 233 phải được phóng ra từ một chiếc Tornado trong khi bay thẳng tuyệt đối và ở một độ cao nào đó. Ngay cả sau khi thả bom, những chiếc Tornado vẫn không có cách lựa chọn nào khác là bay qua mục tiêu. Ngay cả khi những chiếc rada đã bị hạ gục, thì những tay súng vẫn không hề: pháo chống máy bay, được biết đến như là A nhân ba, bắn đến chúng bằng những đợt sóng cuộn khi chúng lại gần, cho nên một phi công đã miêu tả những phi vụ đó là "bay qua những cái ống thép mềm".
Những người ném bom không phải là những người duy nhất bay đêm đó. Đằng sau chúng và với chúng còn bay theo cả một đống công tác phục vụ đặc biệt khác nữa.
Những chiếc máy bay chiến đấu sức mạnh vượt trội bay qua lại trên những chiếc thả bom. Những lệnh của những người chỉ huy mặt đất của Iraq cho các phi công của mình - một số ít người được cất cánh đêm đó - đã bị những chiếc Raven của Mỹ và Prowler của Hải quân đè nát. Các phi công Iraq bay đêm đó không có chỉ dẫn bằng lời và không có rađa hướng lối. Một cách khôn ngoan, hầu hết đều bay về nhà.
Bao quát phần phía nam của biên giới là 60 chiếc tiếp nhiên liệu: KC-135 và KC-10 của Mỹ, KA-6D của Hải quân Mỹ và Victor và VC-10 của Anh. Công việc của chúng là nhận những chiếc máy bay chiến đấu đến từ Arập Xêut, cấp nhiên liệu để chúng đi làm nhiệm vụ, rồi gặp chúng trên dường chúng lui về để tiếp nhiên liệu nữa để về được nhà. Điều này nghe có vẻ thường, nhưng trên thực tế được làm trong bóng tối được miêu tả bởi một lái máy bay là "cố nhét spaghetti vào một cái lỗ nhỏ".
Và bên ngoài Vịnh, nơi chúng đã ở đó 5 tháng nay, những chiếc Hawkeye E-2 của Hải quân Mỹ và những chiếc Sentry AWACS E-3 của USAF bay vòng vòng. ra đa của chúng hướng lên mọi máy bay của mình và của bên đối phương trên bầu trời, cảnh báo, khuyên nhủ, hướng lối, và nhìn ngó.
Vào lúc hoàng hôn, những chiếc rađa của Iraq đã gần như bị quét sạch, các căn cứ quân sự của nước này trở nên mù loà Và những trung tâm chỉ huy chính bị phá huỷ. Có thể mất đến bốn ngày đêm nữa mới có thể hoàn thành công việc, nhưng thế thượng phong về không lực đã thấy rõ. Sau đó có thể đến các trạm phát điện, các tháp thông tin, liên lạc điện thoại, các trạm hoãn, kho chứa máy bay, các tháp điều khiển, và tất cả những cái được coi là thiết bị để sản xuất và trữ vũ khí huỷ diệt toàn bộ.
Sau đó có thể đến sự "xuống cấp" có hệ thống dưới 50% lực lượng không quân của quân đội Iraq ở phía nam và tây nam biên giới với Kuwait, một điều kiện mà tướng Schwarzkopf nhấn mạnh trước khi ông có thể dùng quân trên bộ tấn công.
Hai nhân tố khi đó chưa được biết đến sau này có thể làm thay đổi tiến trình cuộc chiến. Một là quyết định của Iraq bắn một loạt tên lửa Scud vào Israell cái còn lại là một hành động nóng nảy của đại uý Don Walker của Đội bay chiến thuật số 336.
Bình minh đang lên vào buổi sáng ngày 17 tháng Giêng trên Baghdad đã bị rung chuyển rất mạnh. Các công dân không thể ngủ tiếp sau một chấn động vào lúc ba giờ sáng, và khi ánh sáng ban ngày đến, một số trong đó đã liều lĩnh ra ngoài để thám thính một cách tò mò một số địa điểm chính của thành phố. Họ sống sót qua đêm dường như đã là cả một sự kỳ diệu, vì họ không thể không nhận ra rằng 20 chỗ đang bốc khói đã được lựa chọn cẩn thận và được bắn với độ chính xác mà dân thường không hề bị nguy hiểm gì lớn.
Nhưng cảm giác sốc thật sự là giữa các quan chức. Saddam Hussein đã rời khỏi Dinh Tổng thống và đang trốn ở boong ke kỳ ảo lạ lùng của mình ở sau và dưới khách sạn Rashid, vẫn còn rất đông người phương Tây, chủ yếu là giới truyền thông.
Boong ke đã được xây dựng nhiều năm trước đây trong một khu chống được động đất, chủ yếu với công nghệ Thuỵ Điển. Các biện pháp an ninh của nó rất tinh vi và thực sự là một cái hộp ở trong một cái hộp khác, và bên dưới và xung quanh cái hộp bên trong là hàng loạt những sức mạnh để bảo vệ những người trong đó khỏi một quả bom nguyên tử, giảm bớt các xung lực có thể làm đảo lộn cả thành phố bên trên mà ở dưới chỉ còn thấy như một chấn động nhỏ.
Mặc dù đường vào phải đi qua cả một loạt những hệ thống ống nước ở dưới khách sạn, thì cấu trúc chính vẫn nằm dưới Rashid, cái đã được xây dựng có tính toán ở mặt đất phía trên như một nơi ở đặc biệt dành cho người phương Tây ở Baghdad.
Bất kỳ kẻ thù nào có ý định thâm nhập sâu bằng cách ném bom vào boong ke sẽ phải chơi Rashid trước.
Dù cố gắng cách nào, những ống ngầm xung quanh Rais vẫn rất chắc chắn tạo ra những rung động ban đêm. Chầm chậm, mức độ của thảm hoạ sẽ đi vào trong mọi tâm trí.
Họ đã trông chờ tất cả vào một trận ném bom boong ke, cái đã làm cho các vị trí bị san phẳng và hàng nghìn người dân vô tội phải chết. Thảm hoạ này sẽ được giới báo chí đưa tin, sẽ được quay phim và chứng tỏ cho tất ca các khán giả rồ cả người vì sợ ở nhà. Do đó có thể bắt đầu làn sóng phản đối tông thông Bush và nước Mỹ trên toàn thế giới, có thể đạt đến một phiên họp khẩn cấp của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và phiếu chống của Trung Quốc và Nga.
Rõ ràng rằng "Con của Chó" từ bên kia Đại Tây Dương không thể dám làm. Cho đến lúc này khi các vị tướng của Iraq đã đề phòng, những quả bom rơi lân cận nơi họ đã nhắm đến, nhưng đó là tất cả. Với tất cả các vị trí trọng yếu về quân sự ở Baghdad được xây dựng có chủ đích tại các khu dân cư đông đúc, sẽ là không thể đối với các thương vong dân thường để phải tránh. Và trong một lần đi vòng quanh thành phố 20 điểm chỉ huy, các địa điểm tên lửa, căn cứ rađa, và các trung tâm liên lạc bị bắn vào, những cái trong các toà nhà ở tầm ngắm đã sống hơn là các cửa sổ bị vỡ và thậm chí không bị hư hại gì quá nặng cả.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #108 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2010, 08:20:07 pm »

Giới cầm quyền phải tự thoả mãn với việc tự sáng tác một danh sách dân thường bị chết và kêu la rằng Không quân Mỹ đã bắn rụng như lá mùa thu. Phần lớn người lraq, trong nhiều năm bị tuyên truyền làm mê mụ, tin tưởng ở các báo cáo đầu tiên đó - trong một thời gian.
Các viên tướng chịu trách nhiệm phòng không biết rõ hơn. Rõ ràng với họ đã mất hầu hết các ra đa áo trước mọi chuyện, rằng các SAM của họ - các tên lửa đất đối không - đã bị mù, và liên lạc với các đơn vị bên ngoài đã bị cắt đứt hoàn toàn. Tồi tệ hơn nữa, những người vận hành ra đa sống sót đã làm thiệt hại lớn hơn do các máy bay thả bom chỉ đơn giản là không làm hiện lên trên màn hình. Những tên nói dối đã ngay lập tức bị tóm cổ.
Một số thiệt hại về dân thường trên thực tế cũng có xảy ra. Ít nhất hai tên lửa đạn đạo Tomahawk đã nổ trật mục tiêu. Một cái đã làm sập hai ngôi nhà và làm lật mái một nhà thờ, mà báo chí đã đưa tin vào buổi trưa.
Quả còn lại đã rơi vào đất trong phố và tạo ra một lỗ sâu hoắm. Trong buổi trưa đầu tiên xác một người phụ nữ đã được tìm thấy ở dưới đáy, bị nát nhừ bởi sức ép.
Những loạt thả bom tiếp tục trong ngày, đến nỗi cứu thương không được chuẩn bị về cáng, đưa đến nhà xác của bệnh viện gần nhất, và để nó lại đó. Bệnh viện lại gần với một trung tâm chỉ huy Không quân đã bị phá huỷ, và tất cả các giường đều có các nhân viên bị thương ở đó nằm. Nhiều xác người đã được đưa đến cùng nhà xác đó, tất cả đều chết vì bom. Người phụ nữ chỉ là một trong số đó.
Với các nguồn tin ở mục tin khẩn cấp, nhà bệnh học làm việc rất nhanh và đầy tò mò. Sự định dạng và nguyên nhân cái chết là những ưu tiên hàng đầu của ông ta. và ông ta không có thời gian để khám những bệnh nhẹ. Qua thành phố tiếng ì ùng của bom nổ có thể nghe thấy, và ánh chớp của lưới đạn phòng thủ cũng không ngừng. ông ta không nghi ngờ gì rằng tối và đêm có thể sẽ mang lại cho ông nhiều xác chết hơn.
Điều làm vị bác sĩ ngạc nhiên là tất cả các xác chết của ông đều là nhân viên Nhà nước, trừ người phụ nữ. Thứ bụi có trong vệt máu trên khuôn mặt đã nhừ nát của cô ta, đi kèm với chỗ cô ta được tìm thấy, cho thấy không có giải thích nào ngoài việc cô ta đang chạy thì quả tên lửa đã rơi xuống bãi đất và giết chết cô ta. Xác chết đã được gói lại, rồi đem đi chôn.
Chiếc xắc tay của cô ta được tìm thấy gần xác chết, và nó chứa một gói bột, son môi, và những cái thẻ của cô ta. Đó là Leila Al-Hilla, không nghi ngờ gì nữa là nạn nhân dân thường đầu tiên của đợt bom, nhà bệnh học kiệt sức đã lệnh đưa cô ta đi để chôn ngay lập tức.
Khám nghiệm tử thi mà ngày 17 tháng Giêng đó không thể thực hiện có thể cho thấy người đàn bà đã bị hiếp dâm nhiều lần và rất tàn bạo trước khi bị đánh một cách có hệ thống đến chết. Mãi nhiều giờ sau đó thứ bột trong hố bom mới được tìm thấy.
Tướng Abdullah Kadin đã chuyển từ văn phòng tráng lệ của mình ở Bộ Quốc phòng hai ngày trước. Không thể có chuyện ở lại đó để bị bom Mỹ băm nhừ, và ông ta dược chắc rằng Bộ có thể bị ném trúng và bị phá huỷ trước khi cuộc không chiến còn nhiều ngày nữa. ông ta đã đúng.
Ông đã về ngôi biệt thự của mình, mà ông có thể chắc chắn một cách có lý là khá không được biết tới - dù rất xa hoa - không hề nằm trên bản đồ mục tiêu của Mỹ. Về điểm thì ông lại tiếp tục đúng.
Ngôi biệt thự từ lâu đã được cung cấp với phòng liên lạc riêng, với nhân viên từ Bộ vận hành. Tất cả các máy móc liên lạc cho đại bản doanh chỉ huy của Quân đội xung quanh
Baghdad đã được chôn ngầm, xây cáp quang, cái cũng ở ngoài tầm của những máy bay ném bom.
Chỉ các đơn vị xa mới được thông tin qua vô tuyến điện, với một dường dây nối - dĩ nhiên, là những đơn vị ở Kuwait.
Vấn đề của ông, khi bóng tối đã trùm lên Baghdad đêm đó, là không biết dùng cách nào để liên lạc với các vị chỉ huy Quân đội hay truyền lệnh gì cho họ. Họ có thể không tham dự vào cuộc không chiến, đã được lệnh phân tán xe tăng của mình càng trên diện rộng càng tốt, giữa những dãy cát hay chôn chúng xuống trong các boong ke ngầm sâu dưới đất và chờ đợi.
Vấn đề của ông ta đúng hơn là an ninh cá nhân, và ông ta không hề sợ người Mỹ.
Hai đêm trước, tỉnh dậy trong giường của mình với một bộ mặt nhàu nhĩ vì rượu arak như thường lệ, ông ta chui vào nhà tắm, ông nghĩ cánh cửa bị kẹt và xô thật mạnh, 200 pound cơ thể ông ta lao đánh ầm vào và cánh cửa mở tung ra.
Rất hung ác, nhưng Abdullah Kadin không phải đến từ một phố hậu gần Tikrit để có thể chỉ huy tất cả các xe tăng của lraq ngoài Đội Vệ binh, đã không leo lên bằng con đường huyết thống bên trong đảng Ba'ath, và đã không có được một vị trí được tin cậy trong Hội đồng Chỉ huy Cách mạng mà không có hàng đống khôn ngoan của con thú.
Ông ta đã im lặng nhìn chằm chằm vào nhân tình của mình, quấn mình trong một chiếc áo dài ngồi trên bồn cầu, tờ giấy là mặt sau của một hộp Kleenx, mồm cô ta thành hình chữ O vì kinh ngạc và hoảng sợ, chiếc bút vẫn còn lủng lẳng. Rồi ông đá vào chân cô ta và đấm vào hàm cô.
Khi cô ta bị nhúng đầu vào trong nước, ông ta có thời gian đọc báo cáo cô ta đang chuẩn bị và gọi khẩn cấp anh chàng Kemal trung thành từ chỗ của anh ta đi qua sân. Chính Kemal là người chịu trách nhiệm cho toàn bộ toà nhà.
Kađiri đã đọc đi đọc lại bản báo cáo cô ta gần như đã viết xong. Liệu nó có liên quan đến những thói quen và sở thích cá nhân của ông ta, một kẻ ghét thư từ, ông ta có thể đã đuổi và chỉ đơn giản là giết cô ta. Những kẻ xung quanh Rais cũng khá giống Rais. Ông cũng biết là Rais sẽ chẳng để ý đâu.
Điều đó còn tồi tệ hơn. Vẻ ngoài ông ta nói về những điều đã xảy ra trong chính phủ và trong Quân đội. Quá rõ là cô ta đang làm gián điệp. Ông cần biết cô ta đã làm thế trong bao lâu và đã báo những gì, và cơ bản hơn cả, là làm cho kẻ nào. Kemal đầu tiên sung sướng vô cùng, với sự cho phép của ông chủ. Không người đàn ông nào thoả mãn đến thế sau khi Kemal đã kết thúc cuộc hỏi cung. Mất hàng giờ. Rồi, Kadiri đã biết, Kemal đã có tất - chí ít, mọi điều cô gái giang hồ biết.
Sau đó, Kemal tiếp tục sự thoả mãn riêng của mình cho đến khi cô ta chết.
Kadiri đã được thuyết phục rằng cô ta không biết sự thật về người đàn ông đã trả tiền cho cô ta và thuê cô ta do thám ông, nhưng bức tranh đó đã đủ để vẽ ra Hassan Rahmani.
Sự mô tả của những vụ đổi chác thông tin lấy tiền trong phòng xưng tội của nhà thờ Thánh Joseph cho thấy người đàn ông rất chuyên nghiệp, và Rahmani rõ ràng là người như thế. Điều có thể bị nhìn thấy không làm Kadiri bận lòng. Tất cả những người xung quanh Rais đều bị nhìn thấy; trên thực tế, họ nhìn lẫn nhau. Các quy tắc của Rais rất đơn giản và rõ ràng.
Mọi người ở cấp cao đều bị theo dõi và bị báo cáo bởi ba trong số những người khác. Một sự phản bội có thể và có khả năng làm sụp đổ tất cả Do đó, ít kẻ phản bội có thể đi xa được. Một trong số những người đó tin tưởng có thể báo cáo về vấn đề, và điều đó có thể đến được tai Rais.
Để làm vấn đề thêm phức tạp, mỗi thành viên xung quanh đều đôi khi bị thử, để xem thử phản ứng của người đó. Một đồng nghiệp, được sử dụng để làm điều đó, có thể lôi kéo theo người bạn và làm anh ta liên luỵ.
Nếu người bạn đồng ý, thế là anh ta tiêu. Nếu anh ta thất bại không báo cáo được người đề nghị, anh ta cũng tiêu. Thế là cách nào cũng có thể là một sự khiêu khích - điều đó chỉ đơn giản là quá bất cẩn để mà làm khác. Do đó, tất cả đều báo cáo về những người khác.
Nhưng ở đây thì lại khác. Rahmani là giám đốc Phản gián. Liệu ông ta có báo cáo về chính mình, và nếu có thế, thì tại sao? Liệu đó có phải là một chiến dịch với sự hiểu biết và đồng tình của chính bản thân Rais, và nếu đúng thế. thì tại sao?
Ông ta đã nói gì? Viên tướng băn khoăn. Mọi điều đều rất kín đáo, hẳn nhiên rồi. Nhưng phản bội ư?
Cái xác ở trong toà nhà cho đến khi bom rơi xuống, khi Kemal đã tìm thấy một hố bom ở một bãi đất trống để đùn nó xuống. Viên tướng nhấn mạnh là cái túi xắc cần để bên cạnh đó. Hãy để cái thằng con hoang Rahmani đó biết điều gì đã xảy đến với kế hoạch chó má của hắn.
Khi đã quá nửa đêm, tướng Abdullah Kadiri lên cơn nóng sốt, rỏ nước vào arak. Nếu đó chỉ là Rahmani, thì ông ta có thể kết thúc tên con hoang. Nhưng bằng cách nào có thể biết cái thang đó dẫn đến đâu? Ông ta có thể cần cẩn trọng, cẩn trọng hơn nhiều so với trước. Những chuyến đi đêm vào thành phố cần kết thúc. Dù thế nào đi nữa, khi cuộc chiến tranh trên không đã bắt đầu, thì đã là thời gian để dừng lại rồi.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #109 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2010, 08:21:33 pm »

Simon Paxman bay về London. Không còn vấn đề gì nữa đế tiếp tục ở lại Riyadh. Jericho chắc hẳn đã bị đá bởi CIA, mặc dù sư đoàn vô hình ở Baghdad có thể còn chưa biết điều đó, và Mike Martin vẫn ở lại cho đến khi có thể trốn thoát ra sa mạc và tìm cách an toàn trốn qua biên giới.
Tiếp theo đó, Paxman có thể đặt tay lên tim cuộc họp vào buổi tối ngày 18 với tiến sĩ Terry Martin như là một sự trùng hợp thật sự. Anh ta biết Martin sống ở Bayswater, cũng như chính anh ta, nhưng đó là một khu ngoại ô rộng lớn với nhiều cửa hàng.
Với người vợ đã đi thăm mẹ ốm và chưa biết lúc nào quay về, Paxman đã đến nhà vào căn hộ trống không và một tủ lạnh rỗng tuếch, thế là anh ta đi mua sắm ở siêu thị mở cửa muộn ở Westbourne Grove.
Xe của Terry Martin suýt đâm thẳng vào anh ta khi anh ta đang đi qua góc của những ngăn hàng pasta và thức ăn gia súc Cả hai người đều la hoảng.
- Tôi có được phép biết anh không đấy? Martin hỏi với một nụ cười bối rối.
Lúc đó trong đường không có ai khác.
- Sao không chứ? Paxman nói. Tôi chỉ là một công chức bình thường đang đi mua đồ cho bữa tối thôi mà.
Họ cùng nhau đi mua đồ và thoả thuận đến ăn ở một cửa hàng Ấn Độ. Hilary, có vẻ như thế, cũng đang đi xa.
Paxman có thể, dĩ nhiên, không làm điều đó. Anh ta có thể không bao giờ cảm thấy bất tiện rằng người anh của Terry Martin đang ở trong một tình cảnh khá là nguy ngập và rằng anh ta, với những người khác, đã đẩy anh ta vào đó, điều đó có thể không làm anh ta bận tâm lớn rằng nhà học giả tin người có thể thực sự tin rằng người anh em yêu quý của mình đang được an toàn trong Arập Xêut. Mọi thứ đều nhấn mạnh rằng người kia không bận tâm đến cái loại việc đó. Nhưng anh ta lại làm thế.
Đó là một mối bận tâm khác. Steve Laing là thượng cấp của anh ở Nhà Thế kỷ, nhưng Laing chưa từng bao giờ đến Iraq. ông ta chuyên về Ai Cập và Jordan. Paxman biết Iraq – và tiếng Arập. Không như Terry Martin, dĩ nhiên, nhưng Martin là biệt lệ. Paxman biết khá đủ, qua nhiều chuyến đến thăm trước khi trở thành chỉ huy bàn Iraq, để tạo ra một sự kính trọng chân thành với trình độ các nhà khoa học lraq và sự giỏi giang của các kỹ sư của họ. Không có gì bí mật rằng phần lớn các viện kỹ thuật của Anh đều coi những người tốt nghiệp ở Iraq là giỏi nhất trong thế giới A rập.
Điều bận tâm đã đeo đẳng anh ta từ khi được các thượng cấp cho biết báo cáo cuối cùng của Jericho có thể không gì hơn là một thứ vô nghĩa chỉ đơn giản là sự lo lắng rằng, dù mọi thứ lệch lạc, lraq giờ đây có thể còn tiến lên xa hơn các nhà khoa học phương Tây đã chuẩn bị để tin.
Anh ta đợi cho đến khi hai suất ăn đã được dọn ra, được bao quanh bởi các lọ nhỏ gia vị mà nếu không có thì không món ăn Ấn Độ nào được là hoàn chỉnh cả, rồi nói:
- Terry này, anh ta nói, tôi sẽ làm một điều mà nếu nói ra có thể là cắt đứt sự nghiệp của tôi trong cơ quan đó.
Terry ngừng lại một chút.
- Có vẻ trầm trọng đó. Tại sao nào?
- Bởi vì tôi đã không báo cho anh.
Nhà học giả dừng lại khi đang gắp một mẩu xoài vào đĩa.
- Tôi không được coi là đáng tin nữa à?
- Chính Steve Laing đã bắt tôi phải làm thế đấy.
- Không phải. Vấn đề là - anh quá lo lắng đấy.
Paxman không được chuẩn bị để dùng những  từ chửi thề của Laing.
- Có thể là thế. Đó là chuyện huấn luyện mà. Giới học giả không thích những thứ rắc rối dường như không có lời giải đáp.
- Còn chúng tôi thì phải tiếp tục lo lắng cho đến khi cái mẫu tự rắc rối đó bắt đầu có ý nghĩa. Câu đó có ý nghĩa gì khác không nhỉ?
- Có đấy, đó là những việc khác.
Paxman đã chọn món gà; Martin thích đồ nóng hơn, vindaloo. Vì anh biết món ăn phương Đông của mình, Martin uống trà đen, chứ không phải bia ướp lạnh, cái chỉ làm cho món ăn trở nên tồi tệ hơn mà thôi. Anh nháy mắt với Paxman qua khoé mắt.
- Được rồi. Thế lời thú tội to lớn là gì nào?
- Liệu anh có hứa là không ai biết nữa không?
- Dĩ nhiên rồi.
- Đã có một lời nói dối.
Paxman đã không có chủ định nhỏ nhất nào tiết lộ sự tồn tại của Jericho. Nhóm người biết có cá chìm ở Iraq rất nhỏ và nên chỉ là như thế.
- Liệu tôi có được nghe không đấy?
- Không. Đã bị khoá rồi. Đừng tiếp cận Sean Plummer. Ông ta đã phải chối, và điều đó có thể để lộ anh biết thông tin.
Martin ăn thêm raita để làm bớt vị cay của món cary.
- Thế cái mới đó là gì thế?
Paxman nói cho anh biết. Martin để rơi cái dĩa và mở mắt trừng trừng, đỏ hồng lên vì vị gừng.
- Liệu điều đó - liệu nó, trong bất kỳ trường hợp nào, có là đúng được không? Paxman hỏi.
- Tôi không biết. Tôi không phải nhà vật lý. Hắn ta đã nói thế à, phải không?
- Phải. các nhà khoa học về hạt nhân đã chỉ đơn giản là đồng ý điều đó không thể là sự thật. Rằng Saddam đã nói dối.
Thâm tâm, Martin nghĩ đó là một đoạn băng được nghe dở. Nó có thể như là một thông tin từ bên trong một cuộc gặp kín.
- Saddam nói dối, Martin nói, lúc nào cũng thế. Nhưng thường thì là với đám đông. Điều đó được nói ra trong đám thân tín của ông ta à? Tôi tự hỏi là tại sao? Một cách lên dây cót trước nguy cơ chiến tranh à?
- Các ông chủ nghĩ thế đấy, Paxman nói.
- Các vị tướng có được nói cho không?
- Không. Sự suy luận là, họ quá bận bịu để mà có thể ngay lập tức và không cần bị phiền nhiễu bởi cái gì đó chỉ đơn thuần là một sự rác rưởi.
- Thế anh muốn gì ở tôi, hả Simon?
- Tâm trạng của Saddam. Không ai có thể làm rõ điều đó.  Không gì có thể được coi là có nghĩa ở phương Tây. Liệu ông ta có bẩn thỉu và cuội như cáo không?
- Trong thế giới của ông ta, thì là cái sau. Trong thế giới của ông ta, cái đó thì có nghĩa đấy. Sự kinh hoàng làm đảo lộn chúng ta không có nghĩa lý với ông ta đâu, và điều đó có nghĩa đấy. Những đe doạ và sự trừng phạt có nghĩa với ông ta. Chỉ khi nào ông ta cố gắng len chân vào thế giới của chúng ta - với những bài học PR ở Baghdad, cạo tóc đứa trẻ người Anh đó, chơi trò ông chú hiền từ, cái thể loại đó - chỉ khi đó ông ta mới cố tỏ ra một kẻ điên mà thôi. Trong thế giới riêng của ông ta thì ông ta không điên đâu. Ông ta sống sót, còn có quyền lực, ông ta giữ được lraq thống nhất, kẻ thù của ông ta thất bại và thua đau.
- Terry, chúng ta đang ngồi đây, còn đất nước ông ta thì đang được mạ bạc.
- Không vấn đề gì đâu, Simon ạ. Điều đó có thể thay thế được mà.
- Nhưng tại sao ông ta lại nói điều ông ta cần phải nói?
- Thế các ông chủ nghĩ thế nào?
- Rằng ông ta nói dối.
- Không đâu, Martin nói, ông ta nói dối với đám đông thôi. Còn với những kẻ thân tín của mình, ông ta chẳng việc gì phải làm thế đâu. Họ là của ông ta cơ mà, dù sao đi nữa. Hoặc nguồn thông tin này đã nói dối hoặc Saddam chưa bao giờ nói điều đó; hoặc ông ta nói bởi vì ông ta tin là nó đúng.
- Lúc đó thì chính ông ta lừa dối ông ta?
- Cũng có thể chứ. Ai mà chẳng làm điều đó có thể tốt khi ông ta tìm ra. Nhưng nào, đoạn này có thể nghe được đấy. Một thứ có tính toán, được dựng ra để được nghe thấy.
Paxman không thể nói điều anh ta biết: rằng nó không phải thứ nghe trộm dược. Điều đó đến từ Jericho. Và trong hai năm dưới quyền của Israel và ba tháng dưới tay người Anh-Mỹ, Jericho đã chưa bao giờ sai hết cả.
- Anh vẫn còn nghi ngờ gì à? Martin nói.
- Tôi cho rằng có đấy, Paxman công nhận.
Martin nhún vai.
- Thứ linh tinh thôi, Simon ạ. Một câu trong một đoạn ghi âm được, một người bảo người kia câm mồm đi và gọi một đứa con của thần, một câu của Saddam về nhường bước và được xem như là thắng lợi - trong cuộc truy bắt của người Mỹ - và giờ đây là cái này. Chúng ta cần xâu chuỗi lại.
- Xâu chuỗi?
- Cọng rơm chỉ tạo nên được hình hài khi anh quấn nó xung quanh chuỗi này. Đã từng có cái gì đó khác như là cái thực sự trong đầu. Mặt khác, các ông chủ đã đúng đấy, và ông ta sẽ dùng vũ khí sinh học đã có được thực sự.
- Được rồi. Tôi sẽ tìm kiếm một đoạn.
- Còn tôi, Martin nói, đã không hề gặp anh trong buổi tối hôm nay, và đã chẳng nói gì hết cả.
- Cám ơn anh, Paxman nói.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM