Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 07:03:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bí ẩn của sa mạc  (Đọc 91462 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #20 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2010, 08:07:19 pm »

Đối tượng không hiện diện của cuộc trò chuyện đó giờ này đang nhìn trên một bản đồ trong một doanh trại khác cách đó hàng dặm. Tám tuần vừa qua, anh và đội của mình với mười hai thông tín viên đã sống ở một trong những khu phố được chỉ định cho đội vệ sĩ của Sheikh Zayek bin Sultan của Abu Dhabi. Đó là một nhiệm vụ trung đoàn đã giao nhiều lần trước đó Mọi thăng trầm của bờ biển phía tây Vịnh, từ Sultanate của Oman miền nam đến Bahrain ở miền bắc, nằm trong chuỗi các sultanate, emirate. và sheikhdom ở trong và ngoài nó người Anh đã chiếm đóng hàng thế kỷ. Các quốc gia Trucial, giờ đây là Các tiểu vương quốc Arập, được gọi thế là vì Anh đã tửng ký một hoà ước với những người có trách nhiệm của họ để bảo hộ họ với Hải quân Hoàng gia chống lại những tên cướp biển xấu xa trong những ưu tiên về trao đổi thương mại. Quan hệ tiếp diễn, và nhiều trong số những người câm đầu đó có những đơn vị cao cấp đào tạo ở những nơi tốt hơn của sự bảo hộ chặt chẽ bởi người giảng những đội của SAS đến thăm. Một khoản phí được trả. tất nhiên, nhưng là cho vị Bộ trưởng Quốc
phòng ở London.
Thiếu tá Mike Martin có một bản đồ lớn của vùng Vịnh và phần lớn vùng Trung Đông trải dài trên cái bàn rộng và đang nghiên cứu nó, xung quanh là nhiều người của anh. Ba mươi bảy tuổi, anh không phải là người nhiều tuổi nhất trong phòng. hai trong số trung sĩ của anh đã trên bốn mươi, cứng rắn, khắc khổ, và những người lính rất thiện chiến mà trong số đó một người trẻ hơn anh cả hai mươi tuổi đặc biệt quan tâm chăm chú.
- Có gì trong đó cho chúng ta không, ông chủ? Một trong số các trung sĩ hỏi.
Trong những đơn vị nhỏ thế này, các thành viên thường gọi nhau bằng tên thân mật. nhưng các sĩ quan vẫn được gọi là "ông chủ ".
- Tôi không biết. Martin nói, Saddam Hussein đã đích thân vào Kuwait. Vấn đề là: ông ta có làm trái với chính thoả thuận của mình hay không? Nếu không, quân Liên Hợp Quốc có quyền được đưa lực lượng vào và đuổi ông ta ra. Nếu thế tôi sẽ nghĩ ở đó phải có việc gì đó cho chúng ta làm đấy.
- Tốt, trung sĩ hài lòng nói. và sáu người khác ngồi xung quanh bàn cũng gật gù. Đã quá lâu rồi. kể từ khi họ vào đây, họ không được tham dự vào một chiến dịch đánh nhau nào thực sự, ác liệt.
Tại trung đoàn có bốn môn cơ bản, mỗi người được tuyển phải làm chủ được một trong số chúng. Có lính dù, chuyên nhảy dù từ độ cao; những người chuyên leo núi, những người chỉ thích đá dựng dứng chặn dường và những đỉnh cao; những người chuyên lái xe, lái những chiếc Land-Rovers trên mọi địa hình; cuối cùng là lính thuỷ, chuyên sử dụng canô, những người không mệt mỏi âm thầm đi. và lặn trong những công việc cần ở dưới nước. Trong đội mười hai người của mình, Martin có bốn lính dù, kể cả anh, bốn chuyên gia lái xe dạy người Abu Dhabi về những nguyên tắc tấn công chớp nhoáng và phản công trên nền sa mạc. và vì Abu Dhabi nằm ở vùng Vịnh, có thêm bốn lính thuỷ. Ngoài những chuyên môn đặc biệt của mình, những người của SAS phải có kiến thức tốt về những môn còn lại, để có thể thay đổi nhau được dễ dàng. Bên cạnh đó họ còn phải làm chủ được nhiều kỹ năng khác - vô tuyến điện, sơ cứu và ngôn ngữ. Đơn vị chiến đấu cơ bản gồm bốn người. Nếu một trong số đó bị loại khỏi cuộc chiến, nhiệm vụ của anh ta sẽ nhanh chóng được san sẻ giữa ba người còn sống, dù đó là những người vận hành radio hay những người chuyên về y tế.
Ngoài ra họ còn tự mình học hỏi để đạt đến trình độ cao hơn bất kỳ đơn vị nào khác trong quân đội, và vì họ đi khắp thế giới: họ buộc phải biết nhiều thứ tiếng. Trong nhiều năm tiếng Nga được ưa chuộng giờ đây đã hết mốt sau khi chiến tranh lạnh kết thúc. Tiếng Malay luôn rất hữu dụng ở vùng Viễn Đông, nơi trung đoàn đã chiến đấu nhiều năm ở Borneo. Tiếng Tây Ban Nha đang tăng lên từ khi các chiến dịch phản kháng ở Colombia chống các ông trùm ma tuý của Medellin và Cali. Tiếng Pháp cũng cần học - trong một số trường hợp nhất định. Và vì trung đoàn đã tiêu tốn nhiều năm phục vụ Sultan Qaboos ở Oman trong trận chiến của ông với những phần tử Cộng sản từ nam Yemen tiến vào sâu trong Dhofar. nhiều nhiệm vụ huấn luyện khác đã dược tiến hành ở khắp vùng Vịnh và tại A rập Xêut, nhiều người của SAS nói tốt riêng A rập.
Trung sĩ nói: "ông chủ lạ thật. cái gì cũng biết."
Mike Martin đứng thẳng và xoa tay lên mái tóc nâu sậm.
- Đã đến lúc trở vào rồi đấy.
Mới hơn mười giờ. Họ sẽ phải dậy từ tinh mơ đế tập chạy mười dặm hàng ngày với những gánh nặng trước khi mặt trời trớ nên thiêu đốt. Đó là cái Abu Dhabi không thích lắm nhưng các tộc trưởng của ông lại rất ưa. Nếu những người lính ngoại quốc từ Anh này nói thế là tốt cho họ, thì đúng là tốt cho họ thật. Bên cạnh đó, ông ta trả tiền cho nó, và ông ta muốn tiền của mình thực sự có giá.
Thiếu tá Martin quay về hành dinh của mình và ngủ một giấc ngắn nhưng sâu. Trung .sĩ nói đúng; anh có thể nhìn thấy mọi thứ. Người của anh thường xuyên nghĩ anh thừa hưởng nước da màu bánh mật, mắt đen, và tóc đen sậm từ tổ tiên người Địa Trung Hải. Anh không bao giờ nói với họ, nhưng họ đã nhầm.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #21 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2010, 08:10:32 pm »

Ông ngoại của cả hai cậu bé Martin từng là một người trồng chè của Anh ở Darjeeling, Ấn Độ. Các cậu bé được nhìn ảnh của ông - cao. mặt hồng hào, ria mép màu vàng hung, tẩu thuốc ngậm trong miệng, súng cầm tay. đứng bên một con hổ bị bắn chết. Rất giống pukka sahib, người Anh vùng Raj, Ấn Độ. Sau đó vào năm 1928 Terence Granger đã thực hiện điều không tưởng ấy: ông đã đem lòng yêu và cố mà lấy một cô gái người Ấn. Không hẳn vì nàng đẹp và duyên dáng. Đó hoàn toàn không phải lý do. Công ty chè không sa thải ông - có thể làm họ nguy hiểm. Họ đày ông vào sâu trong lục địa đến một đồn điền hoang vắng ở Assam xa xôi.
Điều này được coi như là một sự trừng phạt, nhưng không thực sự như vậy. Granger và cô dâu mới của mình, hoa hậu Indira Bohse trước đây, thích được ở đó - vùng đất hoang dã, kỳ ảo, đi săn thú và những con hổ, những ruộng chè xanh đậm, khí hậu, con người. Và ở đó Susan đã được sinh ra vào năm 1930. Họ nuôi lớn cô ở đó, một cô gái Anglo-Ấn với những đứa bạn chơi đùa người Ấn.
Năm 1943 cuộc chiến tranh đã lan đến tận Ấn Độ, với cuộc tấn công của người Nhật Bản qua Miến Điện đến biên giới. Granger đã đủ già để không phải đi tình nguyện, nhưng ông cứ cố xin đi, và sau khoá huấn luyện cơ bản ở Delhi ông được phong chức thiếu tá trong đội Assam Rifle. Mọi binh sĩ người Anh đều được thăng thẳng lên thiếu tá; họ không bao giờ phải phục vụ dưới quyền một sĩ quan người Ấn, người Ấn chỉ có thể lên đến trung úy hay đại uý mà thôi.
Năm 1945 ông chết khi hành quân qua Irrawaddy. Thi hài của ông không bao giờ được tìm thấy; nó đã vun thêm chất mùn cho những cánh rừng Miến Điện rậm rạp, đó là một trong mười nghìn người đã từng nhìn thấy những trận chiến giáp lá cà ghê rợn của chiến tranh.
Với một khoản trợ cấp nhỏ của công ty, người vợ goá của ông đã trở về với nền văn hoá riêng của mình. Hai năm sau đó. nhiều vụ loạn lạc lại xảy đến. Ấn Độ bị chia cắt vào năm 1947. Người Anh phải đi. Ali Jinnah cương quyết giữ Moslem Pakistan của mình ở phía bắc, Pandit Nehru đặt chủ yếu quân đội của Ấn Độ Hindu ở phía nam. Vì những làn sóng người tị nạn của hai tôn giáo đổ về phía bắc và nam, chiến sự ác liệt nổ ra. Hơn một triệu người chết. Bà Granger, sợ hãi cho sự an nguy của con gái mình. đã gửi cô bé đi học với người cậu nhỏ tuổi nhất của bà, một kiến trúc sư thực thụ ở Haslemere, Surrey.
Sáu tháng sau, người mẹ chết trong một cuộc bạo loạn. Thế là đến năm mười bảy tuổi Susan Granger đến nước Anh, mảnh đất của ông cha cô mà cô chưa bao giờ được nhìn thấy. Cô bỏ học một năm ở trường nữ học gần Haslemere và sau đó hai năm ở một trại huấn luyện y tá ở bệnh viện Tướng Farnham, tiếp theo làm thư ký cho một cố vấn luật. Ở tuổi hai mốt, tức là tuổi nhỏ nhất được chấp nhận, cô đệ đơn xin phục vụ cho Không quân hải ngoại Anh. Cô được huấn luyện với các cô gái khác ở trường BOAC. trước đây là nhà tu kín St.Mary cổ kính ở Heston, ngay bên ngoài London. Khoá huấn luyện tốt, và trông cô rất già dặn. Hai mươi mốt tuổi cô đẹp, với mái tóc ken dầy, mắt đậm, và da như của người châu Âu với màu vàng óng ả. Sau khi được huấn luyện cô được chỉ định vào đường số Một, London đi Ấn Độ - một lựa chọn tất yếu đối với một cô gái nói tiếng Hindu thành thạo như vậy.
Thật là một chuyến đi dài, rất dài trong những ngày đó trên chiếc Argonaut bốn động cơ đẩy. Lộ trình là London-Rome- Cairo-Basra-Bahrain-Karachi-Bombay. Rồi sau đó là Delhi. Calcutta, Colombo, Rangoon, Bangkok, và cuối cùng là Singapore, Hongkong và Tokyo. Dĩ nhiên, một phi hành đoàn không thể thực hiện được tất cả những cái đó, và phi hành đoàn thứ nhất dừng ở Basra phía nam Iraq, nơi một phi hành đoàn khác sẽ thay họ.
Đó là vào năm 1951, tại một lần uống rượu ở Port Club, cô đã gặp một kế toán trẻ nhút nhát của Công ty Dầu mỏ Iraq, khi đó còn do người Anh quản lý và điều hành. Tên anh là Nigel Martin, và anh mời cô đi ăn tối. Cô từng được cảnh báo về những gã chim gái - những hành khách, phi hành đoàn, và trong những lần dừng nghỉ chân. Nhưng anh thật đẹp trai, do đó cô nhận lời. Khi anh đưa cô về nhà trọ của BOAC, nơi các nữ chiêu đãi viên tập trung. anh chìa tay mình ra. Cô rất kinh ngạc và nắm lấy nó. Rồi cô cứ tự hỏi trong cái nóng kinh người làm thế nào để mà có thể hôn Nigel Martin được.
Lần dừng sau đó ở Basra, anh lại có ở đó. Chỉ sau khi họ đã cưới anh mới nhận rằng anh dã theo dõi cô chặt chẽ thông qua viên sĩ quan Alex Reid của BOAC. Mùa thu năm 1951 đó họ chơi tennis, bơi Ở Port Club. và đi cùng nhau đến những khu chợ của Basra. Theo gợi ý của anh cô đã xin nghỉ và đến với anh ở Baghdad, nơi anh sống.  Cô nhanh chóng nhận ra rằng có một chỗ cô có thể hạ cánh. Cô diện những chiếc váy màu sắc sặc sỡ. những dấu hiệu và mùi vị của đường phố. những món ăn bên bờ sông Tigris, những cửa hàng nhỏ diệu kỳ bán cỏ cây và gia vị, vàng, và đồ trang sức - mọi cái gợi cho cô nhớ đến Ấn Độ nơi chôn rau cắt rốn. Khi anh đề nghị cưới cô, cô nhận lời ngay tức khắc.
Họ cưới nhau năm 1952 ở nhà thờ lớn St.George, nhà thờ Anh giáo ở phố Haifa. và mặc dù cô không có ai đứng bên cạnh ở trong nhà thờ, nhiều người đã đến từ IPC và từ Đại sứ quán để trám vào chỗ hai bên nhà trai gái.
Đó là một khoảng thời gian thật tốt để sống ở Baghdad. Cuộc sống chậm rãi và dễ dàng, ông vua trẻ con Faisal ở trên ngai vàng với Nuri nhiếp chính cầm quyền trong đất nước, và ảnh hưởng lớn nhất là từ Anh. Một lẽ vì đóng góp to lớn của IPC cho nền kinh tế và lẽ khác phần lớn các sĩ quan trong quân dội đều được học ở Anh, nhưng chủ yếu là do tầng lớp trên đã nhiễm giáo dục theo lối Anh, điều luôn luôn để lại một ấn tượng rất lâu dài.
Trong thời gian đó nhà Martin có hai cậu con trai, sinh năm 1953 và 1955. Được đặt tên thánh là Michael và Terry, chúng chẳng giống gì nhau hết cả. Ở Michael, gene của hoa hậu Indira Bohse đậm nét: cậu có tóc đen, mắt sẫm màu, và da bánh mật, các thành viên của cộng đồng Anh cho rằng cậu giống người A rập hơn. Terry, kém anh hai tuổi, lại mang những nét của cha mình: thấp, đậm, da hồng hào, và tóc màu hung.

Vào lúc ba giờ sáng, thiếu tá Mike Martin bị lay dậy bởi một người lính có tuổi.
- Có một bức điện, sayidi.
Đó là một thông điệp khá đơn giản, nhưng dấu mã khẩn của nó là "blitz", và dấu hiệu đó có nghĩa là nó được chuyển thẳng từ Giăm đốc các lực lượng đặc biệt. Không cần trả lời. Nó lệnh cho anh lập tức quay về London ngay trên chuyến bay gần nhất. Anh bàn giao nhiệm vụ cho viên đại uý SAS. người luôn thay anh khi anh về trung đoàn và là người thứ hai sau anh làm công tác huấn luyện, và chạỵ nhanh đến sân bay trong bộ đồ dân sự.
2 giờ 55 sáng chuyến bay về Anh bắt đầu cất cánh. Hơn một trăm hành khách ngáy hoặc càu nhàu với các chiêu đãi viên tuyên bố vì lý do quan trọng nên máy bay sẽ cất cánh muộn chín mươi phút. Khi các cánh cửa lại mở ra để nhận một người duy nhất, một người trong bộ đồ jean, bốt cao cổ đi sa mạc, và áo jacket kín bưng với một cái túi to đeo trên một vai, một số người phải đợi lâu quá chửi rủa anh. Người đàn ông được chỉ cho một chỗ trống ở hàng hạng nhất, khiến anh cảm thấy thoải mái. Và trong mấy phút sau khi máy bay cất cánh anh đã ngả ghế của mình và ngủ thiếp đi nhanh chóng. Một doanh nhân ngồi cạnh anh, đã ăn một bữa tối thịnh soạn để rồi phải đợi hai giờ trong sân bay và hai giờ nữa trên máy bay. chán ngán chửi vào khuôn mặt đang ngủ một cách thoải mái gần mình.
- Đồ Arập khát máu, lão lầm bầm. và cố gắng ngủ mà không được.
Bình minh đã lên trên vùng Vịnh được hai giờ, nhưng chiếc máy bay của British Airways vẫn lao về phía tây bắc, đỗ xuống Heathrow ngay trước mười giờ sáng giờ địa phương. Mike Martin đi ra khỏi sảnh trong những người đầu tiên vì anh không có hành lý gửi trong máy bay. Không ai ra đón anh: anh đã biết trước. Anh cũng đã biết là sẽ phải đến đâu.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #22 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2010, 08:27:14 pm »

Ở Washington bình minh chưa lên, nhưng những dấu hiệu đầu tiên của mặt trời đã làm hồng những ngọn đồi xa xa của hạt Prince Georges, nơi dòng sông Patuxent chảy xuôi xuống gặp Chesapeake. Ở tầng sáu và cũng là tầng cao nhất của toà nhà lớn, hình thuôn giữa đám nhà tạo nên hình dáng cho đại bản doanh của CIA và được biết đơn giản dưới cái tên Langley, ánh sáng vẫn còn tỏ rạng.
Luật gia William Webster, giám đốc Cục Tình báo Trung ương, nhấn nhấn đầu ngón tay vào đôi mắt mỏi mệt, đỏ ngầu, và đi đến những cánh cửa sổ có vẽ hình. Màu sắc bạc trước mặt ông của dòng Potomac khi chúng đang mùa xanh tốt vẫn còn chìm trong bóng tối. Trong một giờ mặt trời lên có thể khiến chúng trở lại màu xanh nhạt. Lại thêm một đêm thức trắng nữa. Kể từ cuộc xâm lược Kuwait ông đã phải phập phồng giữa những cú điện thoại từ Tổng thống, Hội đồng An ninh Quốc gia. Bộ Ngoại giao. và có vẻ như, từ bất kỳ ai có số điện thoại của ông- Đằng sau ông, cũng mệt mỏi như ông, là Bill Stewart đang ngồi, đó là người phó của ông phụ trách các chiến dịch, và Chip Barber, chỉ huy bộ phận Trung Đông.
Thế là ra sao, DCI hỏi, như thể là hỏi lại câu hỏi thì có thể có được câu trả lời tốt hơn.
Nhưng vẫn không có thay đổi gì hết cả. Tổng thống, NSC, và Nhà nước đều đang chờ ngóng những điệp viên cắm sâu từ bên trong trái tim của Baghdad, từ những hội đồng bí mật nhất của chính Saddam Hussein. Liệu ông ta có ở lại Kuwait không ? Ông ta có chịu khuất phục trước sức ép của các nghị quyết của Liên Hợp Quốc đã được Hội đồng Bảo an thông qua? Ông có lùi bước trước lệnh cấm vận dầu mỏ và thắt chặt thương mại? Ông đang nghĩ gì? Ông ta đang dự định gì? Mẹ nó chứ, dù sao thì ông ta đang ở đâu?
Cơ quan không hề biết. Họ có một trạm lớn ở Baghdad: dĩ nhiên. Nhưng người này đã bị đóng băng từ nhiều tuần qua. Người của cơ quan đã bị Rahmani lãnh đạo phản gián Iraq phát hiện. Những "nguồn" tốt nhất của anh ta có vẻ như đều bị Rahmani dò ra cả. Dĩ nhiên, họ có những bức ảnh - đủ ảnh để rút ra cái gì đó. Các vệ tinh, KH-11 và KH- 12, quay quanh Iraq cứ vài phút một lần để có được những bức ảnh cận cảnh rõ nét về mọi thứ trên toàn đất nước .Các chuyên gia chứng nhận có thể có một nhà máy sản xuất chất khí độc, cái có thể là một thiết bị nguyên tử - hay có thể chỉ là một nhà máy sản xuất xe đạp.
Các chuyên gia của Cơ quan do thám Quốc gia, một phần thuộc CIA và một phần thuộc Không quân, cùng với các nhà khoa học ở ENPIC, Trung tâm Xử lý Hình ảnh Quốc gia. đều đưa ra một bức ảnh một ngày nào đó có thể được hoàn chỉnh. Đó là một vị trí chỉ huy chủ yếu: đó là một địa điểm tên lửa SAM. đó là một căn cứ máy bay chiến đấu. Tốt, bởi vì các bức ảnh nói với chúng ta như thế. Và một ngày nào đó: có thể lắm chứ, chúng tất cả đều phải bị ném bom để trớ lại thời kỳ đồ đá. Nhưng Saddam còn có cái khác nữa không? Còn được giấu kỹ: được chôn sâu dưới lòng đất?
Nhiểu năm bỏ bê lraq giờ đã đến ngày phải gặt trái đắng.
Những người bị quay như chong chóng trên ghế của mình đằng sau Webster đều là những tay cựu trào đã ghi vào xương tuỷ về vụ bức tường Berlin khi mà sự thực còn chưa tòi ra. Họ đã đi một chặng đường dài để trớ về. trước khi những thiết bị điện tử đảm nhiệm những công việc thu thập thông tin của tình báo. Và họ đã nói với ông rằng các máy quay phim của NRO và những tai nghe của Cơ quan An ninh Quốc gia ở Fort Meade không phát hiện được các bản đồ, chúng không thể do thám các định hướng, chúng không thể đi vào trong bộ não của một nhà độc tài.
Do đó NRO chụp những bức ảnh và tai nghe của Fort Meade được nghe và ghi âm từng từ ở mợi cuộc gọi điện thoại và các thông điệp phát thanh, bên ngoài và bên trong lraq. Và họ vẫn không có câu trả lởi.
Cũng vẫn cơ cấu chỉ huy đó, cũng vẫn đồi Capitol đó đã bị thôi miên vớl những thiết bị điện tử mà họ đã tiêu hàng tỷ đôla để phát triển và đã tiêu tốn những cái mà bộ óc tinh tế con người có thể cố vấn, giờ đây đòi hói những câu trả lời mà những thứ máy móc đó không thể cung cấp được. Và những người đứng sau DCI đã nói rằng elint. tình báo điện tử, là một chỗ dựa và thêm vào cho humint, phương thức thu thập tin tức tình báo bằng con người, chứ không phải thay thế cho họ. Điều này thật hay ho, nhưng không mang lại giải pháp nào cho vấn đề của ông.
Vấn đề là Nhà Trắng đang đòi hỏi câu trả lời mà chỉ có thể được cung cấp bằng sự chắc chắn bởi một nguồn tin, một người nằm vùng, một điệp viên, một kẻ phản bội, dù sao đi nữa cũng đã leo cao được bên trong hệ thống chính quyền của Iraq. Cái mà chưa thể có được.
- Anh đã hỏi Nhà Thế kỷ chưa?
- Rồi. Cũng như chúng ta thôi.
- Tôi sẽ nói chuyện với Tel Aviv trong hai ngày nữa, Chip Barber nói. Tôi sẽ gặp Yaacov Dror. Tôi có thể hỏi ông ta không?
Vị DCI gật đầu. Tướng Yaacov "Kobi" Dror là chỉ huy của Mossad, là cơ quan ít chịu hợp tác nhất của các cơ quan "thân thiện". DCI vẫn còn nhớ đến trường hợp Jonathan Pollard, người đã do Mossad gài sâu vào Mỹ chống lại nước Mỹ. Một vài người bạn, ông ghét phải hỏi xin điều gì đó ở Mossad.
- Hỏi ông ta đi, Chip. Chúng ta không quanh quẩn đây nữa. Nếu ông ta có nguồn tin nào trong Baghdad, chúng ta sẽ xin. Chúng ta cần loại sản phẩm này. Trong lúc đó, tốt hơn hết là tôi quay trở lại Nhà Trắng và đối mặt lại với Scowcroft vậy.
Với lời nhắn nhủ không mấy hữu ích đó. cuộc họp kết thúc.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #23 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2010, 08:31:40 pm »

Bốn người đàn ông đang đợi ở trụ sở SIS London trong buổi sáng hôm ấy ngày 5 tháng Tám hẳn là đêm trước đã rất bận rộn. Giám dốc các lực lượng đặc biệt, thiếu tướng J.P.Lovat. đã nới chuyện diện thoại rất nhiều, tự cho phép mình gà gật hai tiếng đồng hồ trong ghế của mình từ hai đến bốn giờ sáng. Cũng giống như rất nhiều lính chiến khác, từ lâu ông đã rèn luyện khả năng chợp mắt vài giờ ở bất kỳ đâu và vào bất kỳ lúc nào khi tình thế cho phép. Không thể biết bao lâu nữa mới lại được 'xạc pin'. Trước bình minh, ông đã tắm và cạo râu và sẵn sàng cho một ngày mới đầy sự kiện. Chính cú điện thoại của ông liên lạc với cấp cao British Airways vào nửa đêm (giờ London) khiến chiếc máỵ bay nằm lại chờ ở Abu Dhabi. Giám đốc British Airways, càu nhàu ở nhà, không hỏi tại sao lại phải cho dừng một chiếc máy bay cách đây đến ba nghìn dặm cho đến khi một người khách lạ có thể lên được. Ông biết Lovat bởi vì họ từng đã là thành viên Câu lạc bộ Những lực lượng Đặc biệt ở Herbert Crescent, biết rõ điều ông ta làm, và đáp ứng đòi hỏi của ông mà không phải hỏi han gì cả.
Vào giờ ăn sáng viên trung sĩ trực kiểm tra lại ở Heathrow rằng chiếc máy bay từ Abu Dhabi đến trễ chín mươi phút và có thể hạ cánh vào lúc mười giờ. Viên thiếu tá có thể đến doanh trại vào khoảng mười một giờ.
Một người truyền tin đi xe máy đã đến lấy một hồ sơ nghề nghiệp cá nhân ở doanh trại Browning, đại bản doanh của trung đoàn lính dù ở Aldershot. Viên thượng sĩ trực đã rút nó từ tập hồ sơ ngay sau nửa đêm. Đó là hồ sơ quản lý Mike Martin ở Paras từ ngày anh tự giới thiệu mình với tư cách một học sinh mười tám tuổi, đến năm mười chín tuổi đã là một người lính chuyên nghiệp, trừ hai khoảng thời gian dài đã chuyển sang trung đoàn SAS. Người sĩ quan chỉ huy của đội SAS thứ 22. đại tá Bruce Craig, một người Xcốtlen khác, trong đêm đã đến từ Hereford, mang theo mình bản hồ sơ chứa đựng hai giai đoạn này, ông đến đúng lúc bình minh.
- Chào buổi sáng, J.P! Sao rồi?
Họ biết nhau khá kỹ. Lovat, thường được biết đến với cái tên J.P hay Jaypee, đã từng là người chỉ huy đội hành quyết đã chiếm lại Đại sứ quán Iran ở London từ những tên khủng hố mười năm trước đây, còn Craig từng là một chỉ huy đội dưới quyền ông vào thời đó. Họ có một thời gian dài cùng hoạt động với nhau.
- Bên Thế kỷ muốn đưa một người vào Kuwait, ông nói. Có vẻ như thế là đủ. Nói dài không phải là sở thích của ông.
- Một người trong số chúng tôi ư? Martin? Đại tá Craig đặt tập hồ sơ ông cầm theo xuống.
- Có vẻ như thế đấy. Tôi đã gọi anh ta từ Abu Dhabi về.
- Tốt, mẹ nó chứ. Ông sẽ giải quyết chuyện này à?
Mike Martin là một trong số các sĩ quan của Craig, và họ cũng khá thân. Ông không muốn người Nhà Thế kỷ lôi kéo người của mình. DSF nhún vai.
- Có lẽ phải vậy thôi. Nếu anh ta thích hợp. Nếu họ thấy thích điều đó, cấp cao lắm đấy.
Craig chun mũi và nhấc một ly cà phê đen từ viên trung sĩ trực mà anh ta chào là Sid - họ đã từng cùng chiến đấu ở Dhofar. Khi chuyển sang chính trị, đại tá nắm ngay được điểm cốt yếu. Nhà Thế kỷ có khả năng thắng trong mọi chuyện họ muốn. Trung đoàn phải hợp tác thôi, ngay cả khi bên Thế kỷ sẽ có quyền kiểm soát toàn bộ dưới cái vẻ ngoài của một phi vụ hợp tác.
Hai người từ Thế kỷ đến ngay sau đại tá, và họ đều được giới thiệu. Người cao cấp hơn là Steve Laing. ông mang theo mình Simon Paxman, chỉ huy Bàn Iraq. Họ ngồi trong một phòng chờ, được mời cà phê, và được đưa cho hai tài liệu CV để đọc. Cả hai người đều đắm chìm vào lý lịch của Mike Martin từ tuổi mười tám trở đi. Tối hôm trước, Paxman đã bỏ ra bốn giờ đồng hồ với người em trai để tìm hiểu về nguồn gốc gia đình và thời gian lớn lên ở Baghdad và trường công Haileybury.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #24 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2010, 08:36:11 pm »

Học kỳ cuối ở Haileybury, hè năm 1971. Martin đã viết một thư cá nhân cho Paras và được phỏng vấn vào tháng Chín tại cơ sở ở Aldershot. Anh đã được trường coi là một học sinh bình thường nhưng là một vận động viên điền kinh siêu hạng. Rồi vào Paras suôn sẻ. Cậu bé đã được nhận và bắt đầu luyện tập cùng tháng đó, hai mươi hai tuần lễ mệt nhọc để chuẩn bị cho cuộc đua tháng Tư năm 1972.
Đầu tiên họ có bốn tuần tập đối kháng trong phạm vi hẹp, những vũ khí cầm tay, những đồ dùng đánh bộ cơ bản, và tập thể lực; rồi thêm hai môn nữa là sơ cứu, tín hiệu và học cách chống NBC - các loại vũ khí nguyên tử, vi trùng và hoá học. Tuần thứ bảy dành cho tập luyện thể lực hơn nữa, luôn tăng thêm độ nặng nhọc, nhưng không thấm gì so với tuần thứ tám và thứ chín - tập chạy xuyên qua rặng núi Brecon ở xứ Wales, nơi những người mạnh khoẻ đầy sức lực đã chết vì quá sức và thiếu không khí. Tuần thứ mười là cuộc đua ở Hythe, Kent,  thi bắn súng trong rặng núi, nơi Martin, vừa mới sang tuổi mười chín, bị trượt vì điểm kém. Tuần thứ mười một và mười hai là những tuần kiểm tra được thực hiện ở đồng quê gần Aldershot - chỉ chạy lên và xuống những quả đồi cát mang theo ba thân cây trong bùn, mưa, và mưa rào lạnh giá của giữa đông.
Những tuần kiểm tra? Paxman lẩm bẩm, giở sang trang. Thế cái cuối cùng là quỷ quái gì vậy?
Sau những tuần kiểm tra. những chàng trai trẻ được trang bị mũ beret đỏ và đã nhảy dù trước khi bước vào ba tuần ở Brecon tập luyện tự vệ, hướng đạo và bài tập trong lửa cháy. Thời điểm đó - vào cuối tháng Giêng - Brecon rất trơn và lạnh giá các học viên ngủ ít, trời ẩm ướt và không có lửa.
Tuần thứ mười sáu đến mười chín là cho cuộc thi nhảy dù cơ bản ở Abingdon RAF, nơi họ phải nhảy từ trên cao xuống, và không chỉ từ máy bay.
Sau hai tuần nữa dồn sức cho tập luyện trên mặt đất gọi là hàng rào cuối cùng và một số kỹ năng cải trang, tuần thứ hai mươi hai là duyệt binh, với những bậc phụ huynh đầy kiêu hãnh cuối cùng cũng được phép gặp những chàng trai trẻ của mình đã rời họ sáu tháng trước.
Binh nhì Mike Martin từ lâu đã được cho là là POM – sĩ quan tiềm năng - và tháng Năm năm 1972 anh đến Viện Hàn lâm Quân sự Hoàng gia Sandhurst, tham gia cuộc thi một năm tiêu chuẩn quân sự. Mùa xuân năm 1973, trung úy mới được thăng hạng Martin đi thẳng đến Hythe để giữ chức huấn luyện dự bị cho Bắc Ailen, và anh chỉ huy đội trong vòng mười hai tuần đáng nản trong một trạm quan sát tên là Flax Mill bao phủ phòng tuyến Ardoyne, Belfast của nước Cộng hoà cực đoan. Anh đã được chỉ định về Tiểu đội ba, được biết dưới cái tên Para thứ ba, và sau Belfast thì trở về đơn vị ở Aldershot để chỉ huy đội tuyển quân, đưa người mới vào đi qua những cuộc khó nhọc chính mình đã phải trải qua. Mùa hè năm 1977 anh quay về Para thứ ba, bấy giờ đóng ở Osnabrueck, một bộ phận của Quân đội Anh vùng sông Ranh.
Đó cũng là một khoảng thời gian khốn khổ. Các Para được áp dụng "phương thức cánh cụt". nghĩa là cứ chín năm lại mất ba năm, hay ba năm một lần, phải nhảy dù và được sử dụng như là một lính bộ binh bình thường. Mọi đội Para đều ghét phương thức Cánh cụt. Tinh thần xuống, các cuộc đánh nhau nổ ra giữa các Para và bộ binh, và Martin phải trừng phạt những người mà anh rất lấy làm yêu quý. Anh bị mắc ở đó mất gần một năm, rồi tháng Mười một năm 1977 anh tình nguyện chuyển sang SAS.
Một tỉ lệ lớn người trong SAS chuyển từ các Para sang, có thể vì công tác huấn luyện gần giống nhau, mặc dù SAS tự cho người của mình giỏi hơn, rằng họ đã có được những người rất tuyệt và sau đó bắt đầu làm việc với họ. Giấy tờ của Martin được đưa đến Văn phòng Hồ sơ của trung đoàn tại Hereford, nơi tiếng Arập lưu loát của anh được ghi nhận, và vào mùa hè 1978 Martin trở thành lựa chọn số một cho một khoá huấn luyện sáu tuần. Ngày đầu tiên một giảng viên tươi cười nói với tất cả bọn
họ:
- Trong khoá học này, chúng tôi sẽ không thử thách và không huấn luyện các bạn. Chúng tôi thử thách và giết các anh.
Họ đã làm đúng như vậy. Chỉ mười phần trăm qua được kỳ thi cuối cùng để vào được SAS. Nó giúp tiết kiệm được thời gian cho sau này. Martin qua được. Rồi đến huấn luyện thường xuyên, huấn luyện trong rừng rậm ở Belize, và một tuần về Anh tập kháng cự lại tra khảo. Kháng cự có nghĩa là cố giữ yên lặng trong khi phải chịu những thứ kinh khủng xảy đến với mình.
Họ đúng là điên rồ, Paxman nói, thả tập tài liệu xuống và tự đi tìm một tách cà phê mới. Họ điên kinh khủng lên được.
Laing chun mũi, ông đã chuyển sang đọc tài liệu thứ hai; đó là kinh nghiệm của người đàn ông ở Arập mà ông cần cho điệp vụ đang ở trong tâm trí ông.
Lần đầu Martin ở lại SAS ba năm, với quân hàm đại uý và vai trò trưởng nhóm. Anh được chọn vào phi đội A của những lính dù - được xếp vào các đội A,B,C và G - là lựa chọn đầu tiên cho một người đã nhảy dù trong các Para với những độ cao kinh người, Những con quỷ đỏ.
Nếu các Para không có lý do nào để sử dụng tiếng Arập của anh, thì trung đoàn lại có. Trong ba năm 1979-1981 anh đã phục vụ các lực lượng của Sultan của Oman ở tây Dhofar, dạy bảo vệ VIP ở hai tiểu vương vùng Vịnh. dạy Đội vệ binh Quốc gia Xêut ở Riyadh, và giảng cho các vệ sĩ của Sheikh Isa của Bahrain. Những nhận xét sau các vụ đó trong hồ sơ SAS đều ghi tại đó anh đã sử dụng rất tốt vốn văn hoá Arập, rằng trong trung đoàn không ai nói thứ ngôn ngữ đó tốt như anh, và rằng anh ta có thói quen đi dài trong sa mạc khi anh muốn nghiền ngẫm một vấn đề nàn đó, chịu ngâm mình trong cái nóng và ruồi.
Hồ sơ cho thấy anh đã quay lại các Para sau ba năm làm cho SAS trong mùa đông năm 81 và vui sướng thấy rằng các Para đã có chỗ trong chiến dịch Lở đá tháng Giêng và tháng Hai năm 1982 ở khắp Oman. Thế là thời gian đó anh trở về Jebel Akdar, trước khi đi nghỉ vào tháng Ba. Tháng Tư anh được gọi về một cách khẩn trương - Arghentina đã tấn công Falkland. Các Para hai và ba đến Nam Cực. Họ chèo trên chiếc thuyền Canberra, nhanh chóng được sử dụng trong quân đội, và đi ra biển đến San Carlos Water. Đội Para thứ ba đóng ngay tại đông Falkland, trong mưa gió đến cảng Stanley. Tabbing có nghĩa là đi cố trong điều kiện khủng khiếp trong khi vác theo 120 pound.
Đội Para ba đóng bản doanh ở một trang trại hoang vắng tên là Estancia House và chuẩn bị cho trận tiến công tối hậu vào cảng Stanley, điều đó có nghĩa lần đầu tiên tấn công vào đỉnh Longdon được phòng vệ hết sức nghiêm ngặt.
Trận đó bắt đầu bằng một cuộc tấn công im lặng vào các vị trí của Arghentina và trở nên rất ầm ĩ khi hạ sĩ Milne giẫm phải một quả mìn phát nổ. Súng máy của Arghentina khai hoả, những chớp lửa soi sáng hòn núi như ban ngày, và đội Para số ba có thể hoặc chạy lui để bảo toàn lực lượng hoặc tiến lên vào lửa để chiếm Longdon. Họ đã chiếm được Longdon, với hai mươi ba người hy sinh và hơn bốn mươi người bị thương. Một trong số những người bị thương đó là Mike Martin, bị một viên đạn vào chân và trốn xuống một dòng suối.
Sau cả ngày trên sườn núi. anh được đưa ra một vị trí an toàn hơn ở vịnh Ajax, được băng bó, và được máy bay trực thăng đưa đến thuyền bệnh viện Uganda. Thuyền Uganda đỗ ở Montevideo, và Martin là một trong số những người được chở về nhà trên một chuyến bay dân sự đến Brize Norton. Các đội Para đã cho anh ba tuần nghỉ ở Headley Court, Leatherhead, để hồi phục vết thương.
Chính ở nơi đây anh gặp cô y tá Lucinda, người trở thành vợ anh sau một hồi tán tỉnh nhanh chóng. Cô có vẻ khoái sự hào nhoáng khi có được một người chồng ở Para, nhưng cô ta đã nhầm. Họ dựng nhà ở một bờ biển gần Chobham, thích hợp cho nghề của cô ở Leatherhead và cho anh ở Aldershot. Nhưng sau ba năm, được gặp anh trong khoảng thời gian bốn tháng rưỡi: Lucinda thẳng thắn cho anh một lựa chọn: anh có thể có Para và sa mạc đẫm máu của anh, hoặc anh có thể có em. Anh suy nghĩ và chọn sa mạc.
Cô khá đúng đắn khi bỏ đi. Vào mùa thu 1982, anh học ở Staff College, đường vào cho cấp bậc cao hơn và một địa vị tốt hơn, có thể là ở Bộ. Tháng Hai năm 1983 anh trải qua cuộc thi tuyển.
- Anh ta đã suy nghĩ kỹ trước khi làm vậy, Paxman nói. Nhận xét CO của anh ta ở đây nói anh ta có thể không làm nếu anh ta muốn.
- Tôi biết, Laing nói. Tôi đã đọc nó. Một người... không bình thường.
Hè 1983 Martin được bổ nhiệm sĩ quan phụ trách các nhân viên Anh phục vụ cho các lực lượng trên bộ ở Muscat của Sultan, Oman. Anh đi biệt phái suốt hai năm, giữ huy hiệu của Para nhưng chỉ huy trung đoàn mặt trận phía bắc, Muscat. Anh được thăng thiếu tá ở Oman vàn mùa hè năm 86.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #25 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2010, 08:39:38 pm »

Các sĩ quan từng phục vụ một lần cho SAS có thể trở về lần thứ hai, nhưng chỉ khi được mời. Anh rất ít về Anh. Mùa đông năm 87, khi đang diễn ra vụ ly hôn không thể đảo ngược của mình, thì lời mời đến từ Hereford. Anh quay trở lại làm chỉ huy phi đội vào tháng Giêng năm 88, phục vụ ở Flank phía bắc (Na Uy), rồi Sultan Brunei và sáu tháng với đội an ninh trong nước ở Stirling Lines ở Hereford. Tháng Sáu 1990 anh được gửi cùng nhóm các giảng viên của mình đến Abu Dhabi.
Trung sĩ Sid gõ cửa và ló đầu vào.
- Thiếu tướng hỏi các anh có muốn gặp anh ta không. Thiếu tá Martin đang đến đấy.
Khi Martin bước vào, Laing ghi nhớ khuôn mặt, tóc và cặp mắt sạm đen vì nắng và liếc nhìn Paxman. Anh ta nhìn quanh. Bây giờ, liệu anh ta có thể làm được việc này không, và liệu anh ta có nói được tiếng Arập giỏi như người ta truyền tụng không?
J.P. dến bắt tay Martin, húng hắng ho.
- Rất mừng thấy anh trở lại, Martin.
- Cám ơn ngài. Anh bắt tay đại tá Craig.
- Để tôi giới thiệu hai người này. DSF nói. Ông Laing và ông Paxman, đều từ Nhà Thế kỷ. Họ có một - e hèm - đề xuất có lẽ họ muốn nói với anh. Các ngài, hãy bắn đi. Hay cần nói riêng với thiếu tá Martin?
- Ồ không đâu, Laing vội nói. Giám đốc chúng tôi hy vọng nếu hôm nay có được kết quả gì, thì đó nhất định phải là một phi vụ hợp tác.
Một đòn đẹp mắt, J.P. nghĩ, nghĩ đến ngài Colin. Những. kẻ này làm gì mà chẳng được.
Cả năm người ngồi xuống. Laing nói, giải thích về vấn đề chính trị: về việc mù mờ không biết liệu Saddam Hussein có rời khỏi Kuwait nhanh, chậm, hay không rời khỏi đó trừ khi bị đuổi khỏi dó. Nhưng phân tích chính trị cho rằng Iraq có thể trước hết sẽ tước hết những gì giá trị của Kuwait, rồi sẽ nhằng nhẵng đòi hỏi nhượng bộ của Liên Hợp Quốc đơn giản lâ không muốn lùi bước. Chắc phải đợi hàng tháng.
Nước Anh cần biết điều gì sẽ diễn ra bên trong Kuwait - không phải tin đồn nhảm, cũng không phải những câu chuyện đầy rẫy trên báo chí, mà là những thông tin độc về những công dân Anh còn mắc lại đó, về các lực lượng chiếm đóng, và lực lượng nào đang thực sự được sử dụng, liệu kháng chiến Kuwait có thể hữu dụng trong việc hạ các đội quân tiên phong của Saddam Hussein hay không.
Martin gật đầu, nghe và hỏi vài câu hỏi lễ độ nhưng chủ yếu là ngồi im lặng. Hai sĩ quan cao cấp nhìn ra cửa sổ. Laing kết luận ngay sau mười hai giờ.
- Thế đấy, thiếu tá ạ. Tôi không mong chờ một câu trả lời ngay lập tức, ngay bây giờ, nhưng thời gian là cốt tử rồi đấy.
- Ông có phiền gì không nếu chúng tôi nói riêng vài câu với đồng nghiệp của mình? J.P. hỏi.
- Tất nhiên là không rồi. Xem kìa. Simon và tôi sẽ về cơ quan ngay. Các ông đã có số phòng chúng tôi rồi đấy. Có lẽ các ông sẽ cho tôi biết vào chiều nay chứ.
Trung sĩ Sid dẫn đường cho hai người mặc thường phục đi ra và theo họ xuống tận dưới đường, nơi anh ta thấy họ bắt một chiếc taxi. Rồi anh đi trở lên.
J.P. đi đến một tủ lạnh nhỏ lấy ra ba lon bia lạnh. Khi những cánh cửa đóng lại. cả ba người cụng ly.
- Xem nào, Mike. cậu biết đó là gì rồi đấy. Đó là cái họ muốn. Nếu cậu thấv nó ngớ ngẩn, chúng tôi sẽ giải quyết cho.
- Tất nhiên rồi, Craig nói. Trong trung đoàn cậu không có dấu đen nào để mà nói không cả. Đó là ý của họ, không phải của chúng tôi.
- Nhưng nếu cậu muốn đi với họ. J.P. nói, thì cứ đi, rồi ở lại với họ cho đến khi trở về. Chúng tôi cũng sẽ có liên quan, dĩ nhiên rồi. Họ không thể làm việc đó thiếu chúng tôi đâu. Nhưng cậu ở dưới quyền họ. Họ sẽ chịu trách nhiệm. Khi đã xong, cậu về với chúng tôi như là đi nghỉ vậy.
Martin biết rõ chuvện gì xảy ra. Anh đã nghe những người khác làm từng làm việc cho Nhà Thế kỷ. Bạn sẽ không tồn tại với Trung đoàn nữa cho đến khi bạn quay trở lại. Rồi tất cả họ sẽ nói: "Rất mừng gặp lại anh" và không bao giờ nêu ra hay hỏi bạn đã từng ở đâu.
- Tôi sẽ làm, anh nói.
Đại tá Craig đứng lên, ông phải quay về Hereford. Ông bắt tay anh.
- Chúc may mắn. Mike.
- Dù sao, thiếu tướng nói, anh cũng đi ăn trưa đi. Chỉ cần xuống phố thôi. Bên Thế kỷ lo rồi đó.
Ông đưa cho Martin một cặp giấy và chào tạm biệt anh.
Mike Martin đi xuống tầng. Bữa trưa của anh được chuẩn bị trong một nhà hàng nhỏ cách đây bốn trăm yard, và người tiếp anh là ông Wafic Al-Khouri.
Ngoài MI-5 và MI-6 cánh tay chủ chốt nữa của Tình báo Anh là Trụ sở Liên lạc Chính phủ, hay GCHQ: một tập hợp các toà nhà trong một khu được bảo vệ ở ngoài thành phố
Cheltenham ở Gloucestershire. GCHQ là bản sao của Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ, với nó cũng có hợp tác rất chặt chẽ - những người nghe trộm với ăng-ten chĩa trên gần như mọi đài phát thanh và cuộc trò chuyện điện thoại trên thế giới nếu họ muốn. Qua hợp tác của mình với GCHQ, NSA của Anh có một số điện thoại đặc biệt bên trong nước Anh, ngoài những địa điểm nghe khác của mình trên toàn thế giới, và GCHQ cũng có những trạm ở nước ngoài. nhất là một cái rất lớn ở Akrotiri đảo Syp thuộc chủ quyền Anh.
Trạm Akrotiri, gần hiện trường, quản lý hình ảnh Trung Đông, nhưng chuyển mọi thành phẩm của mình về Cheltenham để phân tích. Trong số các nhà phân tích có một số các chuyên gia mà, mặc dù sinh ra là người Arập. lên được vị trí rất cao. Một trong số đó là ông Al-Khouri, người trước đây lâu đã được định cư ở Anh. được nhập quốc tịch. và lấy một người vợ Anh.
Nhà ngoại giao người Jordan tài năng truớc kia giờ là một nlhà phân tích cấp cao ở bộ phận Arập của GCHQ nơi, ngay cả dù cho có nhiều người Anh học tiếng Arập. Ông thường có thể đọc được một ý nghĩa ẩn sâu của một đoạn nói chuyện ghi âm được của một lãnh đạo trong thế giới Arập. Đó là người mà. Theo yêu cầu của bên Thế kỷ, đang chờ Mike Martin ở nhà hàng.
Họ có một bữa trưa vui vẻ kéo dài tới hai giờ đồng hồ và nói chẳng gì khác ngoài tiếng Arập. Khi họ chia taỵ, Martin đi và đi ngược về toà nhà SAS. Sẽ phải mất hàng giờ để thu thập thông tin trước khi anh sẵn sàng để đi Riyadh với một hộ chiếu anh biết Thế kỷ đã có sẵn, điền vào visa với một cái tên giả.
Trước khi anh rời tiệm ăn ông Al-Khouri gọi một số điện thoại từ máy điện thoại trên tường bởi một phòng.
- Không vấn đề gì đâu. Steve ạ. Anh ta hoàn hảo đấy. Tôi không nghĩ từng biết đến ai đó bảnh được như anh ta. Đó không phải là một người học nói tiếng Arập. Anh cũng biết đấy, tốt hơn thế nhiều, theo đúng ý của anh nhé. Tiếng Arập đường phố, mọi
từ lóng, linh tinh... Không,. giọng rất chuẩn... Phải. anh ta sẽ ổn thôi... dù rơi vào bất kỳ phố nào ở Trung Đông. Không, không. không hề, bạn ạ. Rất vui được phụ anh.

Ba mươi phút sau, Mike Martin đã quay về chiếc xe hơi thuê và trớ về M4 ở Cheltenham. Trước khi anh vào đại bản doanh, anh gọi một cú điện thoại. đến một số ngay phố Gower. Người anh gọi cầm lấy máy, từ máy của mình ở văn phòng SOAS, nơi ông làm việc với giấy tờ trong một buổi chiều không có giờ giảng nào.
- Chào em. Anh đây.
Người lính không cần tự giới thiệu mình. Kể từ khi họ cùng vào trường dự bị ở Baghdad, anh đã thường xuyên gọi em mình là "bro". Có một đoạn ngắt ở đầu kia đường dây.
- Mike hả? Anh ở chỗ quái nào đấy?
- Ở London, trong một bốt điện thoại.
- Em nghĩ anh đang ở đâu đó vùng Vịnh kia.
- Đã về sáng nay. Có thể tối lại đi ngay.
- Xem nào, Mike, đừng đi. Đó là lỗi của em.... Nhẽ ra em phải kín miệng.
Người anh phá lên cười qua đường dây điện thoại. Anh đang tự hỏi tại sao bọn rận lại đột nhiên để ý đến anh. Chúng đã đưa em đi ăn trưa à?
- Phải, bọn em đã nói chuyện về một đề tài khác. Em chỉ buột mồm thôi, chó thật. Xem nào, anh không việc gì phải đi đâu. Cứ nói với họ là em đã nhầm.
- Quá muộn rồi. Dù sao anh cũng đã nhận.
- Chúa ôi... Trong văn phòng mình, bao quanh bởi những tấm hình về Lưỡng Hà thời Trung Cổ, người em gần như bật khóc.
- Mike, hãy tự chăm sóc nhé. Em sẽ cầu nguyện cho anh.
Mike nghĩ một chốc. Phải, Terry luôn có tình cảm tôn giáo. Cũng có thể lắm chứ.
- Em cũng thế nhé, nhóc. Hẹn gặp lại khi nào anh về.
Anh bỏ máy. Còn lại một mình trong văn phòng, nhà học giả tóc nâu gục đầu vào tay.

Khi chuyến bay lúc 8 giờ 45 tối của British Airways đi Arập Xêut cất cánh khỏi Heathrow đêm đó, đúng giờ, Mike Martin có ở trên với cái hộ chiếu đã được đóng dấu thị thực nhập cảnh với một cái tên khác. Anh có thể gặp được chỉ huy trạm của Thế kỷ ở Đại sứ quán ở Riyadh trước khi bình minh.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #26 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2010, 11:44:10 pm »

CHƯƠNG 4

Don Walker nhấn nhẹ xuống bàn phanh và chiếc Corvette Stingray đời 63 dừng lại một chốc ở lối vào chính của căn cứ không quân Seymour Johnson để cho một số người đi bộ đi qua trước khi lao lên đường cao tốc.
Trời nóng. Mặt thời tháng Tám chiếu thẳng xuống thành phố nhỏ Goldsboro của bang Carolina Bắc khiến những đám bụi trông giống như nước đang chuyển động. Thật hay khi được phóng lên cao để cảm nhận gió, mặc dù gió nóng, chạy qua mái tóc ngắn màu vàng hoe của anh.Anh lái chiếc xe thể thao cổ điển đã lau chùi thật kỹ càng để di lên đường cao tốc số 70, rồi lên cao tốc 13 theo hướng đông bắc.
Don Walker, vào mùa hè nóng bức năm 1990. Ở vào tuổi hai mươi chín, độc thân, một phi công, và vừa được biết mình sắp đi vào cuộc chiến tranh. Tốt thôi, có lẽ vậy. Có lẽ như là nó tuỳ thuộc vào một gã Arập nóng tính thì phải.
Cùng buổi sáng đó vị chỉ huy bay, đại tá (sau này là tướng) Hal Hornburg, đã thông báo: Trong ba ngày nữa, vào 9 tháng Tám, đội bay của ông, những chiếc phóng rocket số 336 của Không lực số chín của Chỉ huy không quân tác chiến sẽ bay trên vịnh Arập. Các mệnh lệnh đã được đưa xuống từ chỉ huy TAC ở căn cứ không quân Langley, Hampton, Virginia. Thế là bắt đầu rồi đây. Sự bồn chồn giữa các phi công đang lên cao. Những năm tập luyện đó sẽ có ý nghĩa gì nếu bạn không bao giờ được bắn?
Với ba ngày trước mặt đó là một đống ngổn ngang công việc cần phải giải quyết, và với anh với tư cách là sĩ quan phụ trách vũ khí của đội bay, còn hơn tất thảy những người khác. Nhưng anh đã xin nghỉ hai mươi tư giờ để đi và nói lời tạm biệt với người thân, và thiếu tá Steve Turner, chỉ huy về vũ khí. Đã nói với anh xem liệu có chi tiết nào bị bỏ quên cho ngày 9 tháng Tám không khi những con đại bàng F-15E lăn bánh. Rồi ông chun mũi hỏi Walker anh có thể quay về trước khi mặt trời lặn không.
Walker phóng như bay trên đồi Tuyết và Greenville vào lúc chín giờ sáng, đi về dãy đảo phía đông Pamlico Sound. Anh thấy thật may mắn vì bố mẹ mình còn chưa về Tulsa, hoặc là anh không phải làm thế. Đang là tháng Tám, họ đang đi nghỉ ở ngôi nhà ven biển của gia đình gần Hatteras, cách căn cứ năm giờ lái xe.
Don Walker là một phi công khéo léo, và anh sung sướng vì điều này. Hai mươi chín tuổi và được làm việc gì mình thích nhất và làm việc đó cực kỳ tốt là một cảm giác thật hạnh phúc. Anh thích căn cứ, anh thích các chàng trai ớ đây và anh yêu thích sự gầm rú và sức mạnh của con đại bàng chiến đấu F-15E McDonnell Douglas anh lái. Anh nghĩ nó là chiếc tốt nhất trong của Không lực Mỹ, và đó là cái quái quỷ mà bọn người trên những chiếc Falcon chiến đấu đến- Chỉ chiếc Hornet F- 18 của Thuỷ quân có thể sánh được với nó, hoặc đó là điều họ nói, nhưng anh chưa từng bao giờ lái chiếc Hornet. Và anh thấy con Đại bàng đã là rất tốt cho mình rồi.
Tại Bethel anh rẽ về phía đông đến Columbia và Whalebone, nơi mà đường cao tốc quay vào dãy đảo; với Kitty Hawk ở sau anh về bên trái, anh rẽ về phía nam hướng về Hatteras, nơi con đường cuối cùng cũng tách ra và biển ở cả hai bên. Anh đã có những kỳ nghỉ rất tốt ở Hatteras khi còn là một cậu bé, đi ra biển vào buổi tinh mơ với ông ngoại để câu cá, cho đến khi ông già ốm đến nỗi không thể đi được nữa. Giờ đây cha anh sẽ về hưu từ công ty dầu lửa ở Tulsa: ông và mẹ sẽ có nhiều thời gian sống ở ngôi nhà ven bờ biển hơn và anh có thể đi đến đó thường xuyên hơn. Anh còn đủ trẻ để mà nghĩ rằng anh không thể quay lại từ vùng Vịnh, nếu có chiến tranh, có thể vụt qua óc anh.
Walker tốt nghiệp trường trung học ở Tulsa vào tuổi mười tám với chỉ một khao khát cháy bỏng duy nhất - anh muốn bay. Cho đến bây giờ như anh còn nhớ được, anh đã từng luôn muốn bay. Anh bỏ ra bốn năm ở bang Oklahoma, chuyên sâu vào ngành cơ khí hàng không, và anh tốt nghiệp tháng Sáu năm 1983. Thời gian đó anh làm cho ROTC, và mùa thu năm đó anh được đưa vào không quân.
Anh được huấn luyện phi công ở William AFB, gần Phoenix, ba chiếc T-33 và T-38, và sau mười một tháng, trong cuộc diễu hành máy bay, anh vượt qua như một người tốt nghiệp xuất sắc, xếp thứ tư trong tổng số bốn mươi học viên. Với niềm vui tột cùng của anh, năm người dẫn đầu được gửi đến trường đào tạo lái máy bay chiến đấu ở Holloman AFB, gần Alamagordo, New Mexico. Các học viên còn lại, anh nghĩ với sự cao ngạo khủng khiếp của một người đàn ông trẻ được lái những chiếc máy hay chiến đấu, có thể được gửi để trở thành các phi công thả bom hay do thám.
Ớ đơn vị huấn luyện luân phiên tại Homestead, Florida. cuối cùng anh cũng rời chiếc T-38 và chuyển sang chiếc Phantom F-4, một chiếc máy bay to lớn thô kệch, mạnh mẽ, nhưng dù sao cũng là một chiếc máy bay chiến đấu thực sự. Chín tháng ở Homestead kết thúc với lần bay đầu tiên trong đội, đến Osan Ở Hàn Quốc, lái chiếc Phantoms trong một năm. Anh cảm thấy tốt và hiểu biết về nó. Sau Osan, họ gửi anh đến Trường vũ khí máy bay chiến đấu ở McConnell AFB ở Wichita, Kansas. Máy bay chiến đấu có vũ khí rõ ràng là cuộc đua khắc nghiệt nhất ở USAF. Nó chỉ dành cho những người bay thiện chiến, khôn ngoan trong công việc. Công nghệ của các vũ khí mới thật ngoài sức tưởng tượng. Các học viên tốt nghiệp của McDonnell phải hiểu mọi kỹ thuật, mọi con chíp bán dẫn và siêu mạch của ma trận rối mù của bảng điều khiển mà một chiếc phi cơ chiến đấu hiện đại phải nằm lòng. Walker lại nổi lên như một học viên tốt nghiệp xuất sắc, điều đồng nghĩa với việc mọi đội máy bay chiến đấu của Không quân đều rất sung sướng có được anh.
Đội 336 ở Goldsboro có anh vào mùa hè năm 1987, bay Phantoms trong-một năm, tiếp theo là bốn tháng ở Luke AFB ở Phoenix, rồi chuyển sang chiếc Strike Eagle cùng những chiếc Rocketeers đi kèm. Anh đã lái chiếc Đại bàng trong hơn một năm khi Saddam Hussein tấn công Kuwait.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #27 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2010, 11:46:04 pm »

Chiếc Stingray rẽ ngay trước giữa đường vào dãy đảo: vài dặm lên phía bắc là công trình ở Kitty Hawk nơi Orville và Wilbur Wright đã phóng lên trời trong vài yard để chứng tỏ rằng con người thực sự có thể bay trong một chiếc máy bay có năng lượng. Nếu họ biết được rằng. . .
Qua Nag's Head anh đi theo nhóm người đi bộ và những người xe bò cho đến khi cuối cùng họ rẽ và con đường vắng tanh đi qua Cape Hatteras lên đến đỉnh của đảo. Anh lái chiếc Stingray vào lối vào của căn nhà khung bằng gỗ của bố mẹ mình. Anh thấy họ đang đứng ở cổng nhà nhìn ra mặt biển xanh thẳm im lìm.
Ray Walker nhìn thấy con trai trước và bật ra một tiếng reo vui mừng. Maybelle đi ra khỏi bếp, nơi bà đang chuẩn bị bữa trưa, và lao đến ôm lấy anh. Ông anh đang ngồi trên ghế đung đưa, nhìn ra biển. Don lại gần và nói:
- Cháu chào ông. Cháu, Don đây.
Ông già ngước mắt lên, gật gù và mỉm cười: rồi ông lại quay nhìn ra biển.
- Ông không được khoẻ, Ray nói. đôi lúc ông nhận ra con, đôi lúc không. Thôi ngồi xuống và kể cho bố mẹ tin tức đi nào. Này, Maybelle, thế không có bia cho những kẻ chết khát này sao?
Trong khi uống bia, Don nói cho bố mẹ anh sẽ đi vùng Vịnh trong năm ngày nữa. Bàn tay của Mavbelle đưa lên che miệng; bố anh có vẻ trang trọng.
- Bố cứ nghĩ làm thế làm gì, tập luyện và đủ thứ khác, ông nói chậm rãi.
Don xoay xoay cốc bia và tự hỏi không phải lần đầu tiên tại sao bố mẹ cứ luôn phải lo lắng quá như thế, ông anh nhìn anh chằm chằm, một vẻ nhận biết hiện ra trong đôi mắt mỏi mệt của ông.
- Don sẽ đi ra chiến tranh, ông ạ. Ray Walker kêu lên với ông Đôi mắt ông già lại ánh lên sự sống.
Cả sự nghiệp mình ông đã là một thuỷ quân, cùng với đội đi thẳng khỏi trường, rất nhiều năm trước đây. Năm 1941 ông đã hôn tạm biệt vợ và để cô lại cho người nhà ở Tulsa, cùng với Maybelle đứa con mới sinh của họ, để đi Thái Bình Dương. Ông đã ở cùng với MacArthur ở Corregidor và nghe ông nói: "Tôi sẽ trở về, và ông đã ở cách vị tướng có hai mươi yard khi MacArthur ngoẻo.
Tại đó ông đã chiến đấu đến chục trận ở Marianas và sống sót khói địa ngục Iwo Jima, ông chịu mười bảy vết sẹo trên người. tất cả đều do đánh nhau, và được tặng nhiều huân chương, một Sao Bạc, hai Sao Đồng và bảy Trái tim Tyar  trên ngực.
Ông luôn từ chối thoả hiệp, hạnh phúc được là một trung sĩ dẫn đường, mà ông biết được tầm quan trọng thực sự, ông đã ra khơi ở Inchon, Triều Tiên. Và khi cuối cùng họ gửi ông để kết thúc những ngày trong quân đội như là một giảng viên ở quần đảo Parris, bộ quân phục của ông mang nhiều danh hiệu hơn bất kỳ bộ quần áo nào khác trên căn cứ. Khi cuối cùng họ cho ông về hưu sau hai lần trì hoãn, bốn ông tướng đã đến dự cuộc diễu hành cuối cùng của ông, hơn hẳn thông lệ dành cho một ông tướng khác.
Ông già quay nhìn đứa cháu. Don nhổm từ bàn lên để nghe. Hãy theo dõi bọn Nhật, cậu bé. Ông già thì thầm- không thì chúng tóm được cháu đấy.
Don vòng tay ôm ông già to lớn, vai rung rung.
- Đừng lo ông ạ. Chúng không còn ở gần chúng ta nữa đâu.
Ông già gật đầu và tỏ ra hài lòng. Ông đã tám mươi tuổi.
Cuối cùng, đó không phải là người Nhật hay người Triều Tiên đã tóm được vị trung sĩ bất tử. Đó là ông già Alzheimer. Những ngày này ông trải qua phần lớn thời gian trong một giấc mơ êm ái, với con gái và con rể để nhìn lại phía sau mình không còn nơi
nào khác để đi cả.
Sau bữa trưa, bố mẹ Don nói anh về chuyến đi của họ ở vịnh Arập, từ đó họ đã trở về bốn ngày trước đây. Maybelle đi đến và chỉ những bức ảnh của bà, những cái vừa lấy về từ chỗ người rửa ảnh.
Don ngồi cạnh mẹ khi bà giở tập ảnh, chỉ những cung điện và nhà thờ hồi giáo, những mặt biển và chợ của những tiểu vương và các sheikhdom bà và Ray đã đến thăm.
- Bây giờ con phải cẩn thận khi đến đấy nhé. Bà nhắc nhở con trai. - Có những kẻ mà con sẽ phải chống lại. Những kẻ nguy hiểm , chỉ cần nhìn vào mắt chúng cũng biết này.
Don Walker nhìn vào bức ảnh trong tay bà mẹ. Người đàn ông Bedouin đứng giữa hai đụn cát với sa mạc sau lưng mình, một chiếc khăn quấn quanh mặt. Chỉ có đôi mắt đen nhìn chằm chằm đầy vẻ nghi kị vào máy ảnh.
- Con sẽ ổn thôi và sẽ tìm ra hắn ta, anh hứa với bà. Bà hài lòng vì điều đó.
Đến năm giờ anh quyết định về căn cứ. Bố mẹ anh đi theo anh đến trước nhà nơi xe của anh đang đỗ. Maybelle ôm con trai và nhắc lại là anh phải cẩn thận, và Ray ôm hôn anh và nói họ tự hào về anh. Don bước lên xe và quay xe ra dường. Anh quay lại nhìn.
Từ ngôi nhà ông ngoại anh. chống trên hai chiếc gậy, đứng lên trên hiên nhà. Chầm chậm ông để hai chiếc gậy sang một bên và đứng thẳng lên, cố đè nén cơn cảm cúm ra khỏi lưng và vai mình cho đến khi nó thẳng lên được- Rồi ông giơ tay lên, hạ xuống, đến đỉnh của cái chày đánh bóng và giữ nguyên đó, và người chiến binh già chào đứa cháu ngoại đang lên đường đến một cuộc chiến tranh khác.
Don, từ xe của mình, giơ tay lên đáp lại. Rồi anh nhấn ga và tăng tốc đi. Anh sẽ không bao giờ gặp lại ông ngoại. Ông già chết trong khi ngủ vào cuối tháng Mười.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #28 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2010, 11:50:36 pm »

Ở London trời đã tối. Terry Martin đã làm việc khuya, mặc dù sinh viên sắp tốt nghiệp đã đi cho một kỳ nghỉ hè dài. anh vẫn có những bài giảng phải chuẩn bị, và vì những khoá học trong hè đặc biệt mà trường vẫn tổ chức lâu nay, anh khá là bận bịu ngay cả trong những tháng hè. Nhưng tối nay anh tự bắt mình tìm việc khác để làm: để tâm trí không cám thấy quá lo lắng như thế.
Anh biết nơi anh trai mình đi đến, và trong con mắt tinh thần của mình anh tưởng tượng những cực hình khi cố xâm nhập vào Kuwait đang bị Iraq chiếm giữ.
Mười giờ, trong khi Don Walker đã bắt đầu lái xe đi về phía Bắc từ Hatteras. Terry rời trường, chuẩn bị một đêm tuyệt diệu cho con chó già mà anh chăm sóc, và đi xuống phố Gower và đường St.Martin để đến quảng trường Trafalgar. Có thể, anh nghĩ, những ánh sáng rõ có thể làm anh hồi lại. Đó là một buổi tối ấm áp và dễ chịu.
Ở St Martin-in-the-Rields, anh nhận ra các cánh cửa được mở và từ phía nam âm thanh của những bài ca vọng ra từ bên trong. Anh đi vào đó, thấy một mục sư gần bục giảng đạo, và nghe dàn đồng ca hát. Nhưng những giọng ca trong sáng của dàn đồng ca chỉ làm anh thêm chìm sâu hơn vào sự khủng hoảng tinh thần. Anh nghĩ đến thời thơ ấu mà anh và Mike đã chia sẻ ba mươi nãm trước ở Baghdad.
Nigel và Susan Martin sống trong một ngôi nhà đẹp, rộng rãi hai tầng ở Saadun, cái quận sang trọng ở một nửa thành phố gọi là Risafa. Ký ức xa nhất của Terry, khi anh còn hai tuổi, là người anh tóc đen đang mặc quần áo cho ngày đầu tiên đến nhà trẻ của cô Saywell. Nghĩa là áo phông và quần cộc, đi giày và tất, đồng phục của một chú bé Anh. Mike đã hét lên chống cự khi bị cởi tuột chiếc dish-dash quen thuộc của mình, một chiếc áo dài bằng vải côtông màu trắng cho cậu được tự do cử động và làm cho cơ thể được mát mẻ.
Cuộc sống đã rất dễ dàng và dễ chịu cho cộng đồng người Anh ở Baghdad trong những năm 1950. Có hội hè ở câu lạc bộ Mansour và Alwiya, với bể bơi, sân tennis, và sân chơi squash, nơi các nhân viên của Công ty dầu mỏ lraq và Đại sứ quán có thể gặp nhau để chơi, bơi, hay uống đồ lạnh ở quầy bar.
Anh nhớ dến Fatima, dada hay vú nuôi của họ, một cô gái dễ chịu đến từ một ngôi làng mà lương trả khá hậu khiến cô có thể cưới một anh chàng trẻ tuổi khá giàu có khi trở về với bộ lạc của mình. Anh thường chơi trên sân với Fatima cho đến khi họ đến để đưa Mike về từ trường của cô Saywell.
Trước khi hai đứa lên ba, chúng đã là những đứa trẻ nói tất cả tiếng Anh lẫn tiếng Arập. học tiếng Arập từ Fatima, người làm vườn hay người đầu bếp. Mike học ngôn ngữ đặc biệt nhanh, và vì cha hai đứa trẻ là một người ngưỡng mộ sâu sắc văn hoá Arập. ngôi nhà thường xuyên đầy bạn bè người lraq.
Những người Arập có vẻ yêu quý những đửa trẻ nhỏ, tỏ ra rất kiên nhẫn với chúng hơn là người châu Âu, và khi Mike có thể đi chơi trên sân với mái tóc đen và đôi mắt cũng đen, chạy tự do trong chiếc dish-dash màu trắng của mình và trò chuyện bằng tiếng Arập, những người bạn Iraq của bố cậu cười phá lên vì vui thích và kêu lên:
- Này Nigel, trông nó cứ như là người của chúng tôi ấy!
Có những chuyến đi chơi vào cúối tuần để xem Harithiya Hunt hoàng gia, một kiểu săn cáo của Anh được du nhập vào Trung Đông, với những chuyến săn chó núi với sự chỉ huy của kiến trúc sư thành phố Philip Hirst. Và có những chuyến dã ngoại tuyệt vời theo sông đến đảo Lợn, nằm ở giữa dòng Tigris nước lững lờ chia thành phố làm hai phần.
Sau hai năm Terry cũng theo anh Mike đến nhà trẻ của cô Saywell, nhưng vì cậu ốm yếu quá nên phải đi đến trường dự bị do ông Hartley làm hiệu trưởng, cùng lúc đó.
Cậu sáu tuổi và anh trai lên tám khi họ lần dầu tiên đến Tasisiya, nơi có một số đứa trẻ người Anh nhưng cũng có một số đứa bé người lraq của những gia đình tầng lớp trên. Hồi đó, có một vụ đảo chính ở Iraq. Ông vua trẻ con và Nuri nhiếp chính đã bị lật đổ và tướng Kassem của Đảng cộng sản mới giành được quyền lực tuyệt đối. Mặc dù hai đứa trẻ người Anh không hề nhận thức được tất cả những chuyện đó, bố mẹ chúng và cộng đồng người Anh trở nên lo lắng. Dung dưỡng đảng Cộng sản Iraq. Kassem đã thực thi một chính sách hà khắc chống lại các thành viên đảng Ba'ath dân tộc chủ nghĩa, đảng đến lượt mình lại tìm cách ám sát ông tướng đó. Một trong số người trong nhóm đã thất bại trong việc bắn súng máy vào một tay súng có tên Saddam Hussein.
Ngày đầu tiên ở trường Terry đã thấy mình bị một nhóm nhóc con người lraq trêu chọc.
- Nó là một thằng lai. Một đứa nói. Terry bắt đầu khóc.
- Tao không phải lai, cậu sụt sịt.
- Đúng là thế đấy, đứa trẻ cao nhất nói. Mày béo và trắng với mái tóc mới dị hợm chứ. Mày trông như thằng lai. Lai, lai, lai.
Rồi cả bọn đứng đồng thanh. Mike xuất hiện từ sau cậu.
Tất nhiên, chúng đều nói tiếng Arập cả.
- Đừng có gọi em tao là lai, nó đe doạ.
- Em của mày à? Nó trông không giống mày. Nhưng dù sao nó cũng giống một thằng lai.
Sự sử dụng nắm đấm không phải là một phần của văn hoá Arập. Trên thực tế, nó có liên quan đến phần lớn các nền văn hoá, chỉ trừ một số ở Viễn Đông. Ngay ở miền nam Sahara nắm đấm cũng không phải là một vũ khí truyền thống. Những người da đen từ châu Phi-và con cháu mình đã được dạy cất nắm đấm đi và chìa khuỷu tay ra. Đúng ra nắm đấm là truyền thống của người Địa Trung Hải và nhất là người Anglo-Saxon.
Nắm đấm tay phải của Mike Martin đã tung vào hàm của đứa cầm đầu trêu chọc Terry và hạ nó ngay. Đứa trẻ không bị đau bằng bị bất ngờ. Nhưng không đứa nào gọi Terry là lai nữa.
Thật đáng ngạc nhiên. Mike và đứa trẻ Iraq đó sau này lại trở thành bạn. Qua những năm học trường dự bị, chúng trở nên không thể tách rời. Đứa trẻ cao tên là Hassan Rahmani. Đứa thứ ba trong đảng của Mike là Abdelkarim Badri. người có đứa em là Osman, cùng tuổi với Terry. Thế là Terry và Osman cũng trở thành bạn, điều rất hữu dụng bởi vì ông bố Badri là một bác sĩ và nhà Martin rất vui mừng có được ông như là bác sĩ gia đình. Chính ông đã giúp Mike và Terry Martin qua những chứng bệnh sởi đậu quai bị của trẻ em.
Abdelkarim, cậu bé Badri lớn, Terry nhớ lại: rất say mê thơ ca, đầu của cậu luôn chìm sâu trong những cuốn sách của các nhà thơ Anh. và cậu đã giành nhiều giải thưởng về đọc thơ ngay cả khi cậu lớn lên cùng với những đứa trẻ người Anh thực sự. Osman, đứa bé hơn, rất giỏi toán và nói nó muốn trở thành kỹ sư hay kiến trúc sư một ngày nào đó và xây dựng những thứ đẹp đẽ Terry đang ngồi trong nhà thờ vào buổi tối ấm áp năm 1990 và nghĩ không biết điều gì đã xảy ra với tất cả những đứa trẻ đó.
Trong khi học tập ở Tasisiya, nhiều điều xung quanh chúng ở Iraq đã thay đổi. Bốn năm sau khi nắm quyền sau khi giết đức vua, chính Kassem cũng bị lật đổ và bị giết thảm bởi một quân đội lo ngại vì ông quá thân thiện với Cộng sản. Tiếp theo là mười một tháng cầm quyền chia sẻ giữa quân đội và đảng Ba'ath, trong thời gian đó những người đảng Ba'ath đã trả thù  đẫm máu những kẻ đi trước mình: những người Cộng sản.  Rồi quân đội gạt đảng Ba'ath ra. đẩy những thành viên của nó một lần nữa đến con đường lưu vong, và một mình cai trị cho đến năm 1968.
Nhưng vào năm 1966, ở tuổi mười ba, Mike đã được gửi đến để hoàn thiện học tập ở một trường công của Anh tên là Haileybury. Terry cũng tiếp chân vào năm 1968. Cuối tháng Sáu mùa hè đó, bố mẹ cậu đưa cậu sang Anh để có thể cùng tận hưởng kỳ nghỉ trước khi Teny đến gặp Mike ở trường. Do đó họ đã may mắn tránh được hai cuộc đảo chính, vào 14 và 30 tháng Bảy. đã lật đổ quân đội và đưa đảng Ba'ath lên cầm quyền dưới sự lãnh đạo của tổng thống Bakr, với một phó tổng thống tên là Saddam Hussein.
Nigel Martin đã ngờ điều gì đó sắp xảy đến và đã lên kế hoạch cho mình. ông rời IPC chuyển sang làm một công ty dầu lửa đặt trụ sở ở Anh tên là Burmah Oil, và sau khi đã giải quyết  công việc gia đình ở Baghdad, ông đưa gia đình đến Hertford, nơi ông có thể giao tiếp hàng ngày với London và công việc mới của mình.
Nigel Martin trở thành một tay golf cừ khôi, và vào các cuối tuần các con của ông thường được làm nhặt hóng trong khi ông chơi với một giám đốc từ Burmah Oil sang một ông Denis Thatcher nào đó, với bà vợ khá quan tâm đến chính trị. Terry yêu Haileybury, ngôi trường được đặt dưới sự điều hành của ông hiệu trưởng William Stewart; cả hai đứa trẻ ở nhà Melvill, mà chủ nhà là Richard Rhodes-James. Như được
báo trước, Terry sẽ quay sang thành nhà học giả còn Mike trở thành vận động viên. Khi sắp phải đến trường đại học. Mike thông báo rằng anh muốn lập nghiệp trong quân đội. Đó là một quyết định mà ông Rhodes-James rất sung sướng. Nếu thái độ bảo vệ của Mike với người em thấp bé và béo ị của mình đã bắt đầu ở trường của ông Hartley ở Baghdad, thì nó lại càng được khẳng định ở Haileybury, và anh rất được người em ngưỡng mộ.
Terry Martin rời nhà thờ đã tối om khi dàn đồng ca ngừng hát, đi bộ qua quảng trường Trafalgar, và bắt một chiếc xe bus đi Bayswater, nơi anh và Hilary cùng sống trong một căn hộ. Khi anh đi ngang qua công viên Lane, anh nghĩ lại đến những năm học ở trường cùng với Mike. Và giờ đây, anh đã gây ra việc anh trai mình phải bị gửi đến Kuwait bị chiếm đóng. Anh cảm thấy như phát khóc vì lo lắng và bồn chồn.
Anh xuống xe bus và đi xuống Chepstow Gardens. Hilary, đi công tác ba ngày nay, có lẽ đã trở về. Anh hy vọng thế, anh cần được an ủi. Khi anh đi vào, anh lên tiếng gọi và vui mừng nghe tiếng trả lời từ phòng ngủ. Anh bước vào phòng và gạt khỏi đầu điều ngu ngốc đã làm. Rồi anh ủ ấm mình, ôm chầm cô gái môi giới chứng khoán dễ thương. trìu mến mà anh chia sẻ cuộc đời.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Brest
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 841



« Trả lời #29 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2010, 11:53:56 pm »

Mike Martin đã trải qua hai ngày với chỉ huy đội ở Riyadh, một trạm giờ đây đã được bổ sung thêm hai người từ Nhà Thế kỷ.  Trạm Riyadh thường hoạt động bên ngoài Đại sứ quán, và từ khi Arập Xêut được xem như là đất nước thân thiện nhất với những lợi ích của Anh, nó không bao giờ dược coi là một vị trí "nặng nhọc", nên không bao giờ phải yêu cầu một số lượng nhân viên lớn và những thiết bị phức tạp. Nhưng cuộc khủng hoảng mười ngày trước ở vùng Vịnh đã thay đổi nhiều thứ.
Liên minh mới được thành lập giữa phương Tây và các quốc gia Arập đối lập gay gắt với sự chiếm đóng kéo dài của Iraq tại Kuwait đã co hai đồng chỉ huy chính. tướng Norman Schwarzkopf của Mỹ và hoàng thân Khaled bin Sultan bin Abdulaziz, một người lính chuyên nghiệp 44 tuổi, được huấn luyện tại Mỹ và ở Sandhurst, Anh, một người cháu của đức vua. và là con của hoàng thân Sultan bộ trưởng Quốc phòng.
Hoàng thân Khaled, đáp lại yêu cầu của nước Anh, vẫn tỏ ra dễ mến như thường lệ, và với tốc độ đáng kể một vi-la riêng biệt đã được mua ở ngoại ô của thành phố để cho Đại sứ quán Anh thuê.
Các chuyên viên kỹ thuật từ London đã sang để lắp đặt các máy nhận và chuyển với những máy giải mã không thể hiểu cho sự sử dụng khẩn cấp, và địa điểm sẽ trở thành đại bản doanh của Cơ quan tình báo Anh. Một vài nơi quanh thành phố, người Mỹ cũng đã làm điều tương tự cho CIA, tổ chức rõ ràng có rất nhiều người ở đây. Các lực lượng vũ trang Mỹ vẫn chưa vào cuộc.
Mike Martin ở lại trong ngôi nhà tư của chỉ huy trạm. Julian Gray. Hai người đã đồng ý sẽ chẳng hay ho gì nếu Martin bị bất kỳ ai ở Đại sứ quán nhìn thấy. Bà Gray duyên dáng, một người phụ nữ có sự nghiệp, là chủ nhà của anh và không bao nhờ nghĩ đến chuyện hỏi anh là ai hay anh làm gì ở Arập Xêut. Martin không nói tiếng A rập với các nhân viên người Xêut, chỉ nhận cà phê họ mang đến với một nụ cười và một lời cám ơn bằng tiếng Anh.
Vào tối ngày thứ hai, Gray đưa cho Martin bản tin mới nhất. Họ thử nhìn nhận mọi việc có thể, ít nhất là từ Riyadh.
- Anh sẽ bay đến Dhahran vào sáng mai. Chuyến bay dân sự của Xêut. Họ đã ngừng bay thẳng đến Khafji, sẽ có người đón anh. Công ty đã thiết lập một người dẫn đường ở Khafji ; anh ta sẽ gặp anh và đưa anh lên phía bắc. Sparky Low - anh có biết anh ta không?
- Tôi biết anh ta. Martin nói.
Anh ta có tất cả những gì mà anh nói anh cần. Và anh ta đã tìm thấy một phi công trẻ người Kuwait anh có lẽ sẽ thích nói. Anh ta đã chuyển cho chúng ta mọi bức ảnh mới nhất của các vệ tinh Mỹ chỉ ra khu vực biên giới và những trung tâm chính của quân đội Iraq để mà tránh, cộng với tất cả những gì khác mà chúng ta có. Còn bây giờ, cuối cùng, những bức ảnh đó vừa mới được đưa đến từ London.
Ông trái rộng một tấm, những bức ánh khổ lớn trên bàn.
Saddam có vẻ vẫn chưa chỉ định một thống soái người Iraq. Ông ta vẫn còn cố duy trì một loại hành chính của người Kuwait và chẳng đi đến đâu cả. Ngay cả nếu sự chống trả của người Kuwait không làm được gì. Nhưng có vẻ như đã có sự có mặt của mật vụ ở đó rồi. Người này ở đó có vẻ là chỉ huy AMAM địa phương. tên là đại tá Sabaawi, khá là giẻ rách, ông chủ của hắn ở Baghdad: người có thể đến thăm, là chỉ huy Amn-al Amn. Omar Khatib. Đây này.
Martin nhìn chằm chằm vào khuôn mặt trong bức ánh: nhẵn lỳ, trơ ra, một sự pha trộn giữa bạo tàn và thô kệch kiểu nông dân trong mắt và cái miệng.
Danh tiếng của hắn là khá đẫm máu đấy. Cũng thế với tên phụ tá của hắn ở Kuwait. Sabaawi. Khatib khoảng 45 tuổi: đến từ Tikrit, một kẻ trong bộ lạc của chính Saddam và là phụ tá đắc lực từ lâu rồi Chúng ta không biết nhiều về Sabaawi. nhưng hắn ta sẽ cho thấy sớm thôi.
Gray chìa ra một bức ảnh khác.
Ngoài AMAM. Baghdad còn gửi đến một đội từ Phản gián của Mukhabarat, có khả năng là để đối đầu với những người nước ngoài và bất kỳ ý dịnh do thám hay phá hoại nào được chỉ huy từ bên ngoài sự chinh phục mới của họ. Ông chủ CI là người này này - có danh tiếng khôn ngoan và không mắc lừa ai bao giờ. Hắn có thể là người cần rất cẩn thận dấv.
Đó là ngày 8 tháng Tám. Một Galaxy C-5 khác đang vượt qua trên đầu để hạ xuống sân bay quân sự, một phần của bộ máy hậu cần Mỹ khổng lồ đã bắt đầu khới động và phun ra những thiết bị không ngừng cho một vương quốc Hồi giáo nóng nảy, không hiểu nổi, và hết sức truyền thống.
Mike Martin nhìn xuống và chằm chằm nhìn vào khuôn mặt của Hassan Rahmani.

Lại là tiếng Steve Laing trong máy điện thoại.
- Tôi không muốn nói chuyện, Terry Martin nói.
- Tôi nghĩ chúng ta nên nói chuyện. tiến sĩ Martin. Xem nào, ông lo lắng cho anh trai mình, phải không?
- Rất nhiều.
- Không cần phải thế đâu, ông cũng biết mà. Anh ấy có tính cách rất mạnh mẽ, rất đủ khả năng tự lo lắng cho mình. Anh ấy muốn đi, chẳng có vấn đề gì về chuyện đó cả. Chúng tôi đã cho anh ta quyền tuyệt đối để lựa chọn.
- Tôi nhẽ ra nên im miệng thì hơn.
- Hãy cố nhìn sự việc khác đi nào, tiến sĩ. Nếu điều tồi tệ hơn xảy ra, chúng tôi có thể phải gửi đi nhiều những người anh trai khác, những người chồng, con trai, những người chú, người yêu khác đến vùng Vịnh. Nếu có một cách nào khác mà chúng tôi có thể làm để hạn chế thiệt hại thương vong, liệu chúng tôi có nên không thử không"
- Thôi được rồi. ông muốn gì?
- Ồ một bữa trưa khác, tôi nghĩ vậy. Như thế dễ dàng để nói chuyện hơn. Ông có biết khách sạn Montcalm không? Một giờ nhé.
- Ngoài bộ óc ra, ông ta như thể là một cái bật lửa nhỏ đầy xúc cảm ấy, Laing nhận xét với Simon Paxman vào sáng sớm hôm đó.
Một ông lớn tốt tính. Paxman nói, như là một nhà khoa học người vừa mới nới về những giống loài mới được phát hiện dưới tảng đá vậy.
Logged

Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ..
Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM