Brest
Cựu chiến binh

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #130 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2010, 11:12:06 pm » |
|
Từ không trung, Al Qubai là một cái sân di động chiều ngang 5 acre chiều dài 40 acre. Mặc các con mắt quan sát ở Riyadh, ngay cả với những dụng cụ tốt nhất, cũng không thể nhìn thấy được nó, bốn trong số những cái xe vứt ngổn ngang - những vòm vững chắc với kim loại cuộn - dưới đó các ống được đưa ra ngoài không khí hoặc được lọc khí qua các thân xe ôtô và xe tải gãy. Vùng chính, xưởng cán thép, với những cái thùng to bằng thép chứa ôxy và axêtylen được đặt một cách bướng bỉnh bên ngoài, che giấu lối vào của các thang máy. Sự tự nhiên của ngôi nhà ở một chỗ như thế chứng tỏ một nguồn khí ấm. Lý do khiến con đường đi vào không bị nhìn thấy thật rõ ràng - các xe tải chở những chiếc xe vứt đi đến đó rồi chở thép đi Toàn bộ hệ thống thực sự đã được nhìn thấy trước bởi AWACS, cái đã thông báo nhìn thấy một khối lượng kim loại khổng lồ ngay giữa sa mạc. Liệu đó có phải là sư đoàn xe tăng? Một đập nước? Một chuyến bay do thám đã sớm được thực hiện trả lời đó chỉ là một bãi rác xe hơi, và mối quan tâm liền bị bỏ qua. Cái mà bốn người đàn ông ở Riyadh cũng không thể nhìn thấy là bốn đống xác xe hơi khác cũng tạo nên những khung lớn, bên trong được tạo thành hình vòm, nhưng với các ống thuỷ lợi bên dưới chúng. Hai trong số chúng có chứa các khẩu đội pháo phóng không hoả lực mạnh, nòng ZSU-23-4 của Nga với nhiều phát bắn; cái khác là hai SAM, đời 6,8,và 9, không phải do rađa hướng lối mà là một kiểu dò tìm bằng sức nóng nhỏ hơn một đĩa rađa có thể hướng được lối. - Vậy thì nó phải ở dưới đó, Beatty thì thầm. Họ nhìn thấy cả một xe tải dài đang kéo các xác xe hơi cũ kéo đi. Nó có vẻ di chuyển trong những lối đi nhỏ, bởi vì TR-l, bay 80 nghìn fít phía trên Al Qubai, đã chạy qua vẫn các khung hình đó ở tỉ lệ nhiều giây. Phấn khích, hai sĩ quan tình báo nhìn cho đến khi chiếc xe tải lại quay trở về địa điểm cũ. - Cá là đồ ăn, nước uống, và đồ tiếp tế đều ở dưới các xác xe hơi đấy, Beatty nói. ông ngồi xuống. Vấn để phức tạp là, chúng ta sẽ không bao giờ đến được cái nhà máy thối tha đó. Ngay cả khi các Buff có thể ném bom đạt đến độ sâu đó. - Chúng ta có thể phong toả chúng, Peck nói. Phá vỡ đường vào ra, cố định chúng ở trong đó. Rồi nếu chúng thử cố các biện pháp cứu chữa để phá vây, chúng ta sẽ bắn chúng tung xác. - Nghe hay đấy, Beatty đồng ý. Thế phải mất mấy ngày nữa mới tới ngày đổ bộ? - Mười hai, Barber nói. - Chúng ta có thể làm được điều đó. Độ cao, laser dẫn lối, nhiều máy bay, một chiếc gorilla. Laing ném sang Barber một cái liếc xéo cảnh báo. - Chúng tôi thích một cái gì đó kín đáo hơn một chút Barber nói. Một cuộc tiễu trừ hai chiếc, độ cao thấp, xác nhận bằng mắt thường sự phá huỷ. Một sự im lặng bao trùm. - Người của anh đang cố nói chúng ta điều gì đó à? Beatty hỏi. - Baghdađ không được phép biết là chúng ta đang quan tâm - Thế có thể làm như thế được không? Laing gợi ý. Có vẻ như là chẳng có phòng thủ gì cả đâu. Chìa khoá ở đây là sự nguỵ trang thôi mà. Beatty gật đầu. Mẹ kiếp bọn này chứ, ông nghĩ. Họ đang cố bảo vệ ai đó đây mà. Tốt thôi, chẳng phải việc của ta. - Anh đang nghĩ gì thế hả Joe? ông hỏi vị chỉ huy đội bay. - Các Tornado có thể làm được việc này, Joe Peck nói, cùng với các Buccaneer hướng mục tiêu cho chúng. Sáu quả bom một nghìn pound sẽ rơi đúng vào cửa của chỗ đó. Tôi cá cửa đó sẽ được gia cố ở bên trong đó. Có thể khó phá. Beatty gật đầu. - Tốt rồi, người của anh sẽ làm việc đó. Tôi sẽ nói lại với tướng Horner. Anh thích sử dụng ai hả Joe? - Đội 6, à 8, ở Maharraq. Tôi biết viên sĩ quan, Phil Curzon. Tôi gọi anh ta đến đây nhé? Chỉ huy bay Philip Curzon chỉ huy mười hai trong số những chiếc Tornado Panavia của Không lực Hoàng gia trong Đội 608, trên đảo Bahrain, nơi họ đã đến hai tháng trước từ căn cứ của mình ở Laarbruck, Đức. Ngay sau buổi trưa ngày hôm đó mồng tám tháng Hai, anh ta nhận được lệnh không được chối từ: ngay lập tức về trung tâm CENTAF ở Riyadh. Độ khẩn cấp lớn đến nỗi vào thời điểm anh biết được thông điệp, thì người sĩ quan cấp trên báo cáo rằng một chiếc Beach King phải từ Shakey's Pizza ở bề bên kia đảo đã đỗ xuống và đang đỗ đó chờ đón anh ta. Khi anh ta lên được chiếc Beach King sau khi đã vơ vội quân phục, anh ta phát hiện chiếc máy bay hai động cơ là thuộc về đích thân tướng Horner. - Cái quái gì đang xảy ra đây? chỉ huy bay tự hỏi, rất băn khoăn. Tại căn cứ quân sự Riyadh một chiếc ôtô chở người của USAF đang đợi để mang anh ta đi một dặm khỏi đường Sân Bay Cũ để đến Hố Đen. Bốn người trên đã ở trong phòng họp để xem các bức ảnh do chiếc TR-l gửi về vào 10 giờ sáng vẫn còn ở đó. Chỉ thiếu người kỹ thuật viên. Họ không cần có thêm ảnh nữa. Những cái họ có được trải rộng trên mặt bàn. Chỉ huy đội Peck đang dẫn giải. Steve Laing giải thích điều họ cần, và Curzon kiểm tra các bức ảnh. Philip Curzon hoàn toàn không điên, hoặc là anh ta chưa từng chỉ huy một phi đội bay của những chiếc máy bay ném bom vô cùng đắt giá của Nữ Hoàng. Trong các phi vụ ít quan trọng trước với những quả bom JP-233 chống các địa điểm sân bay của Iraq; hai người anh biết đã chết. Hai người khác đã bị dẫn lôi đi, bị đánh và hành hạ, trên TV Iraq, một trong số các kiệt tác của PR của Saddam. - Tại sao không đưa mục tiêu này vào danh mục Nhiệm vụ Không quân, giống như mọi cái khác? Anh trầm ngâm hỏi. Tại sao phải vội thế? - Hãy để tôi nói thật thẳng thắn với anh, Laing nói. Chúng tôi giờ đây đã biết được mục tiêu này là đang chứa đựng cái chính yếu của Saddam và có thể chỉ chứa những đầu đạn khí độc rất nguy hiểm. Rõ ràng là các kho đang dần được chuyển ra ngoài mặt trận. Vì thế cần phải rất khẩn trương. Beatty và Peck gật gù. Đó là lời giải thích đầu tiên họ nhận được cho mối quan tâm quá đáng vào cái nhà máy nằm dưới cái bãi rác. - Nhưng mà hai máy bay tấn công thôi à? Curzon vẫn khăng khăng. Chỉ có hai? Như thế làm cho nó trở thành nhiệm vụ hết sức không quan trọng. Tôi sẽ nói thế nào với người của tôi đây? Tôi sẽ không nói dối họ đâu, thưa các ngài. Xin hãy nói thẳng thắn ra đi. - Không cần đâu, Laing nói. Chỉ cần nói với họ sự thật mà thôi. Rằng kiểm soát từ trên không đã nhận ra các chuyển động của xe tải đến và đi khỏi địa điểm. Các nhà phân tích tin rằng đó là các xe tải quân sự, và họ đã đi đến kết luận rằng cái có vẻ vô hại đó che giấu một đống những thứ kinh tởm - đặc biệt là bên trong cái tảng khổng lồ trung tâm đó. Do vậy nó trở thành mục tiêu. Và còn với điệp vụ ít quan trọng, anh có thể thấy là sẽ không có tên lửa, không có loại A đâu. - Và đó là sự thật chứ? Viên chỉ huy bay hỏi. - Tôi thề mà. - Thế thì tại sao, thưa các ngài, chủ định rõ thế rằng nếu bất kỳ ai trong số người của tôi sẽ bị bắn hạ và bị thẩm vấn, Baghdad có thể không moi được thông tin từ đó? Các anh không tin câu chuyện xe tải quân sự cũng như tôi vậy đâu. Đại tá Beatty và chỉ huy bay Peck ngồi xuống. Người này quả thực khó chơi. Thật tốt. - Nói với anh ta đi, Chip, Laing chào thua nói. - Tốt thôi, chỉ huy bay, tôi sẽ nói với anh vậy. Nhưng chỉ là cho riêng anh thôi đấy nhé. Phần còn lại là hoàn toàn đúng. Chúng tôi có một tay trong. Trong đó. Vào trước chiến tranh như là một sinh viên sau đại học. Bây giờ anh ta đang say mê một cô gái Mỹ và muốn ở lại trong đó. Trong các cuộc phỏng vấn với người di cư, một số điều đã xảy đến. Một người phỏng vấn thông minh đã chuyển anh ta cho chúng tôi. - CIA phải không? Curzon hỏi. - Phải, đúng là CIA. Chúng tôi trò chuyện với chàng trai. Anh ta có thẻ xanh, đã cứu chúng tôi. Khi anh ta còn ở Iraq, trong Đội Công binh, anh ta đã làm việc với một số dự án bí mật. Giờ anh ta nói hết chúng ra. Nên chúng tôi biết được. Nhưng nó là tuyệt mật đấy. Nó sẽ không phải là sau nhiệm vụ, và sẽ không phải là nói dối nếu anh không nói với người của anh chuyện đó - nếu chẳng may, anh không thể làm. - Câu hỏi cuối cùng nhé, Curzon hỏi. Nếu người đó an toàn trong đó, thì tại sao lại cần chơi đểu Baghdad một cú như thế? - Còn có những mục tiêu khác anh ta hở cho chúng tôi nữa cơ. Mất thời gian, nhưng chúng tôi có thể có được 20 mục tiêu nóng sốt nhờ anh ta. Chúng tôi báo động Baghdad rằng anh ta đã hót như một con chim yến, họ đã rời các chỗ đó trong đêm rồi. Họ còn có thể thêm vào hai cái nữa, anh cũng biết đấy. Philip Curzon đứng dậy và nhặt những bức ảnh lên. Mỗi cái đều có điểm tham chiếu chính xác trên bản đồ để kế bên. - Tốt rồi. Rạng sáng ngày mai. Điểm này sẽ ngừng tồn tại. Rồi anh ta đi. Trên chuyến bay trở về anh ta mải mê nghĩ về nhiệm vụ. Cái gì đó bên trong nói với anh ta rằng mình đã bị lừa dối thảm hại. Nhưng những lời giải thích hoàn toàn có thể chấp nhận, và anh ta đã nhận lệnh. Anh không thể nói dối, nhưng anh đã bị cấm để lộ bất cứ gì. Phần tốt đẹp là, mục tiêu được đặt ở chỗ trống, không có bảo vệ. Người của anh ta có thể đến và đi về không gặp gì trắc trở. Anh đã biết người có thể đi thực hiện cuộc tấn công đó.
|
|
|
|
|
Logged
|
Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ.. Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
|
|
|
Brest
Cựu chiến binh

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #131 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2010, 11:13:24 pm » |
|
Chỉ huy bay Lofty Williamson đang sung sướng lắc lư trong một cái ghế trong ánh mặt trời buổi chiều khi tiếng chuông điện thoại vang lên. Anh ta đang đọc số mới nhất của tạp chí Không lực Thế giới, kinh thánh của phi công chiến đấu, và đang buồn chán đến chết một bài báo đầy chất mệnh lệnh về một trong số những máy bay thả bom của Iraq anh có thể phải lao vào. Chỉ huy đội bay đang ở trong văn phòng của mình, những bức ảnh bày ra trước mặt. Trong một giờ đồng hồ anh trình bày ngắn gọn với thượng cấp của mình điều họ cần. - Anh sẽ có hai chiếc Buck để đánh dấu mục tiêu cho anh, nên anh cần chuồn lẹ khỏi đó trước khi quỷ biết được điều gì xảy ra. Williamson tìm thấy hoa tiêu của mình, người ngồi ở băng ghế sau mà người Mỹ gọi là wizzo, người giờ đây đã làm nhiều việc hơn chỉ là dẫn đường, đang chịu trách nhiệm các đồ điện tử và các hệ thống vũ khí. Trung uý bay Sid Blair đã nổi tiếng với khả năng tìm thấy được một cái vỏ lon trên sa mạc Sahara nếu cần phải ném bom. Giữa họ, với sự trợ giúp của những người của Chiến dịch, họ đánh dấu trên bản đồ mục tiêu của phi vụ. Địa điểm chính xác của cái bãi rác được tìm thấy, từ chỗ tham chiếu của nó trên các bản đồ bay. Viên phi công phàn nàn anh ta muốn tấn công từ phía đông vào đúng lúc mặt trời lên, để nếu có tay súng Iraq nào có thể giương súng lên trong mắt họ trong khi anh ta, Williamson, có thể nhìn thấy mục tiêu với độ chính xác cao. Blair nhấn mạnh anh ta muốn một "stone bonker", một vị trí không thể nhầm lẫn dọc theo đó anh ta có thể có được những điều chỉnh là phút cuối cùng trong cuộc đi của anh ta. Họ tìm thấy hơn một dặm ngược lại khỏi mục tiêu trong một hướng lệch sang đông - một làn sóng điện đàm chính xác đúng một dặm từ chỗ đó. Đến nơi vào lúc bình minh cho họ Thời điểm Mục tiêu cốt tử hay TOT, mà họ cần. Lý do TOT phải được làm theo đến từng giây là vì độ chính xác này quyết định sự khác biệt giữa thành công và thất bại. Nếu phi công thứ nhất bị chậm dù chỉ một giây, thì phi công thứ hai có thể theo đúng chính xác chỗ những quả bom của đồng nghiệp mình nổ; tệ hại hơn thế, phi công thứ nhất sẽ có một chiếc Tornado đến vào sau anh ta vào gần 10 dặm một phút - không phải một dấu hiệu hay. Cuối cùng, nếu phi công thứ nhất vào quá sớm hoặc phi công thứ hai vào quá muộn, các tay súng sẽ có thời gian để tỉnh giấc, hướng nòng súng của họ lên, và nhắm bắn họ. Do đó những người bay thế sẽ phải vào thật đúng khi có vụ nổ bùng lên dưới đất. Williamson mang theo người bay cùng mình và hoa tiêu thứ hai, hai trung uý bay trẻ tuổi, Peter Johns và Nicky Tyne. Thời điểm chính xác khi mặt trời lên trên dãy đồi thấp ở phía đông mục tiêu đã được nhất trí là 7 giờ 8 phút, và cuộc tấn công sẽ trực chỉ vào 270 độ tây. Hai chiếc Buccaneer từ Đội số 12, cũng đóng ở Maharraq, đã được chỉ định. Willamson có thể dựa vào các phi công ở đó trong buổi sáng. Các khẩu pháo đã được hướng về để cung cấp ba quả bom một nghìn pound trang bị các mũi laser hướng dẫn PAVEWAY cho mỗi chiếc Tornado. Vào tám giờ tối đó, bốn người trong đội ăn và đi ngủ, với đồng hồ đặt chuông chỉ 3 giờ sáng. Vẫn còn tối om khi một người trong đội bay đi một chiếc xe tải đến những khu phố còn đang say ngủ của đội số 608 để mang bốn người lên chỗ bay. Nếu những người Mỹ ở Al Kharz đã đi cày dưới canvas, thì những người đóng ở Bahrain vẫn còn vui vẻ với những tiện nghi cuộc sống dân sự. Một số đóng trong những căn phòng hai người ở khách sạn Sheraton. Những người khác trong những khu độc thân xây bằng gạch gần căn cứ không quân. Thức ăn rất tuyệt, đồ uống sẵn sàng, và sự cô đơn tệ hại nhất của đời lính chiến được giảm bớt đi bằng sự có mặt của 300 nữ phục vụ bay đang huấn luyện trong một trường huấn luyện của Không quân vùng Vịnh. Những chiếc Buccaneer đã được đưa ra ngoài Vịnh chỉ một tuần trước đó, đầu tiên được nói là không được muốn. Kể từ đó, chúng đã thể hiện hơn cả giá trị của mình. Về bản chất là những chiếc đánh ngầm dưới nước, các Buck quen hơn với việc chìm sâu dưới nước của Biển Bắc tìm kiếm những quả thuỷ lôi của Xô viết, nhưng không hề để ý đến sa mạc. Khả năng đặc biệt của chúng là bay thấp, và mặt dù chúng đã là những chiến binh già tới 30 tuổi, chúng được biết đến, trong những cuộc tập trận chung với USAF ở Trường Bay Không quân ở Miramar, California, để tấn công nhanh hơn rất nhiều những máy bay chiến đấu của Mỹ chỉ đơn giản bởi "ăn bẩn" - bay thấp đến nỗi trở nên không thể bị theo dọc theo các mô đấtt và ụ đất của sa mạc. Sự đối nghịch trong nội bộ không lực sẽ có cái mà những người Mỹ không thích bay thấp và dưới 500 fít cố thấp hơn nữa, vì Không lực Hoàng gia thích điều đó và trên 100 fít thì không thể được nữa. Trên thực tế, cả hai chiếc đều bay thấp hoặc cao, nhưng những chiếc Buck, không siêu âm nhưng được chế tạo một cách tuyệt diệu, cho thấy chúng có thể xuống thấp hơn bất kỳ ai mà vẫn sống sót được. Lý do sự xuất hiện của chúng ở vùng Vịnh là những thất bại ban đầu của những chiếc Tornado, ở những phi vụ thấp kỷ lục làm việc một mình, những chiếc Tornado phải ném bom rồi sau đó đi theo chúng mọi cách thức đến được mục tiêu, ngay vào trung tâm của hình tam giác chữ A. Nhưng khi chúng và những chiếc Bucaneer làm chung với nhau, bom của Tornado với mũi gắn PAVEWAY, trong khi những chiếc Buck có thiết bị truyền laser, được gọi là PAVESPIKE. Lái bên trên và bên dưới một chiếc Tornado, một chiếc Buck có thể "đánh dấu mục tiêu, để chiếc Tornado định vụ bom và sau đó thổi tung tất cả. Hơn thế nữa, hệ thống PAVESPIKE của Buck được chứa trong một cái hộp hình ống chắc chắn ở bụng mình, bằng cách đó nó cũng có thể quay và vẫy, trong khi vẫn giữ tia laser thẳng vào mục tiêu cho đến khi bom đến và thổi đi. Trong buồng lái, Williamson và hai phi công Buck đồng ý thiết lập IP của họ - tức là Điểm Đầu tiên, khởi điểm của bom - ở 12 dặm về phía đông của địa điểm cần ném bom. Rồi họ đi thay đồ bay. Như thường lệ, họ đã đến trong bộ đồ thường phục; ở Bahrain có quá nhiều dấu hiệu quân sự trên đường phố có thể đánh động người dân sở tại. Khi họ đã thay đồ xong, Wilhamson với tư cách chỉ huy phi vụ điền vào báo cáo. Vẫn còn hai giờ nữa mới đến lúc cất cánh. Những phi công của chiếc "scramble" 32 của Thế chiến hai còn nhiều thời gian. Vẫn còn đủ để uống cà phê và bước sang bước tiếp theo của các chuẩn bị. Mỗi người cầm súng tay lên, một khẩu Walther PPK nhỏ đều đã được lắp đạn, cần đến nếu cuộc tấn công trong sa mạc cần bắn vào một cái đầu Iraq nào đó và hy vọng xử lý được bằng cách này. Họ cũng rút 1000 bảng của mình bằng đồng tiền vàng và "goolie chít". Tài liệu đáng chú ý này lần đầu được người Mỹ đưa vào sử dụng ở Chiến tranh vùng Vịnh, nhưng người Anh, người đã bay chiến đấu trong khu vực này kể từ những năm 1920, hiểu rõ chúng. Một goolie chít là một thư bằng tiếng Arập và sáu thứ tiếng phương ngữ Bedouin. Nó nói rằng "Kính thưa ngài Bedou, người cầm lá thư này là một sĩ quan người Anh. Nếu ngài đưa anh ta về với đội tuần tra gần nhất của Anh, với sự an toàn tuyệt đối của anh ta, ngài sẽ được thưởng 5000 bảng bằng vàng". Đôi khi cách đó cũng được việc. Các bộ quân phục bay đã được trang bị ở vai miếng kim loại để có thể được nhìn thấy bởi các đội tìm kiếm của Liên quân nếu phi công bị rơi xuống sa mạc. Sau khi uống cà phê là đến lúc khử trùng - không đến nỗi ghê gớm như nghe qua. Mọi thứ nhẫn, thuốc lá, bật lửa và ảnh gia đình đều bị thu lại, mọi thứ có thể cung cấp cho người tra hỏi một thứ cá tính của tù binh. Việc tìm kiếm này được thực hiện bởi một WAAF đáng sợ tên là Pamela Smith - đội bay cho rằng đó là phần hay ho nhất của phi vụ, và các phi công trẻ hơn sẵn sàng giấu những thứ có giá nhất của mình ở những chỗ đáng kinh ngạc để xem Pamela có tìm ra không. Thật may mắn, cô đã từng là y tá và chấp nhận cái trò đùa nhảm gì này với sự vui vẻ bình thản. Một giờ trước khi cất cánh. Một số người ăn, một số không thể, một số gấp chăn, một số uống cà phê và hy vọng sẽ không bị chơi bất thình lình trên đường đi làm phi vụ, một số người khác mặc kệ. Chiếc xe bus chở tám người đến chỗ, đã được chuẩn bị đầy đủ trang thiết bị, vũ khí. Mỗi phi công đi quanh chỗ mình, tìm xem theo nghi lễ tiền cất cánh. Cuối cùng họ trèo lên khoang lái. Nhiệm vụ đầu tiên là ngồi yên, thật chắc, và nối với điện đàm nhanh do đó có thể nói được. Rồi APU - đơn vị trợ lực đã lắp mọi thứ đồ đạc dụng cụ nhảy. Wilhamson khởi động máy bên phải, cái bắt đầu rú lên chậm rãi, rồi bên trái. Đóng lại, bấm vào nút số một, điểm đã chọn . Có dấu hiệu từ tháp, bấm vào nút cất cánh. Williamson liếc nhìn sang bên phải. Chiếc Tornado của Peter Johns đang ở sau anh và hơi chậm hơn, và bên dưới anh là hai chiếc Buccaneer. Anh giơ một tay lên. Ba cánh tay đeo găng tay màu trắng cũng giơ lên trả lời. Nhấn ga, đẩy đến mức năng lượng tối đa. Chiếc Tornado hơi chòng chành nhè nhẹ. Qua cánh cửa để bay ra, giờ đây nó đã ở trên. Một lần giơ ngón cái lên cuối cùng và ba lời đáp lại. Thả phanh ra, trôi lên, lăn đi, nền đường ray ngày càng bị nghiến đi nhanh hơn nhanh hơn, và rồi chúng bị vượt, bốn cái trong đội, lao thẳng ra ngoài biển đen sẫm, những ánh đèn của Manama để lại đằng sau, chuẩn bị đường cho cuộc gặp gỡ với chiếc tiếp nhiên liệu đang đợi ở đâu đó trên biên giới giữa Xêut và Iraq. Wilhamson đẩy năng lượng lên trên mức cao và lượn một vòng ở độ cao 12 nghìn fít. Với rađa, họ tìm thấy chiếc tiếp nhiên liệu trong bóng tối, rất gần, và cắm chiếc mũi tiếp nhiên liệu vào những chiếc máy bay. Khi đã được đổ đầy nhiên liệu, cả bốn chiếc lại quay đi và lao về hướng sa mạc. Williamson nâng độ của mình lên f00 rít, lập một cruise tối đa 480 knot, và lao thẳng vào Iraq. Anh đang bay với sự trợ sức của TIALD, hình ảnh Nhiệt và Chỉ định Ijaser, là tương đương của Anh với hệ thống LANTIRN. Thấp dưới sa mạc đen sẫm, các phi công có thể nhìn thấy mọi thứ đang đến với mình, các tảng đá, bụi cây, mưa, đồi, khi chúng đang đến gần. Ngay trước khi mặt trời mọc, họ quay IP của mình đến chế độ sẵn sàng thả bom. Sid Blair nhìn vào màn hình điện đàm và nói với phi công của mình chỉnh lộ trình một độ. Williamson chỉnh lại độ thả bom đến độ tự động và liếc xéo về màn hình trước mặt, nó đang chạy hàng dặm và hàng giây đến mục tiêu thả. Anh hạ xuống 100 fít, trên nền đất phẳng và giữ nguyên như thế. Ở nơi nào đó bên dưới anh, người bay cùng cũng làm giống hết. Thời gian Mục tiêu đã chính xác. Anh nhấn nút thả và giữ tốc độ tấn công ở 540 knot. Mặt trời đã chiếu lên những quả đồi, những sợi khói đầu tiên lan toả trên bình nguyên, và còn cách 6 dặm nữa. Anh có thể nhìn thấy ánh thép, những đống xe bị vứt chỏng chơ, và cái miệng màu ghi to lớn ở trung tâm, hai cánh cửa chìa về phía anh. Những chiếc Buck đang ở 100 fít phía dưới và một dặm phía sau. Những câu nói từ những chiếc Buck, đã bắt đầu ở IP, tiếp tục vang vào tai anh. Sáu dặm nữa đang lại gần, năm dặm nữa, một chuyển động nào đó trên khu vực mục tiêu, bốn dặm. "Tôi đang đánh dấu đây", hoa tiêu của chiếc Buck thứ nhất nói. Mũi laser của chiếc Buck đã chĩa thẳng vào cửa khu đó Cách ba dặm, Williamson bắt đầu "lướt", thả lỏng dần, nhìn chằm chạm vào mục tiêu. Không vấn đề gì hết, công nghệ có thể làm nốt phần còn lại. Cách 300 fít HUD của anh bảo anh thả bom. Anh nhấn vào nút thả bom, và cả ba quả bom một nghìn pound rơi xuống dưới. Vì anh đang lướt, những quả bom lao lên cùng anh một chút trước khi trọng lực trái đất kéo chúng xuống và chúng bắt đầu đường rơi hình parabol xuống bãi rác. Máy bay của anh nhẹ đi được một tấn rưỡi, anh lao lên nhanh đến 1000 fít, rồi chuyển sang 135 độ nghiêng và giữ theo cột điều khiển. Chiếc Tornado đang lao xuống và quay lại, quay về phía mặt đất và về phía con đường đã đến. Chiếc Buck của anh lao theo, rồi cũng quay ngược. Vì có màn hình camera ở bụng máy bay, người hoa tiêu của chiếc Buccaneer có thể nhìn thấy tác động của những quả bom vào chính diện những cánh cửa của cái bãi rác. Toàn bộ khu vực phía trước bãi rác chuyển thành một tảng lửa và khói, trong khi một cột bụi bay lên từ nơi trước kia từng là một bãi rác. Vì đã bắt đầu yên trở lại, Peter Johns trong chiếc Tornado thứ hai đã đến, chậm hơn người chỉ huy 30 giây. Người hoa tiêu của chiếc Buck nhìn thấy nhiều hơn thế. Những chuyển động anh ta thấy trước đó được ấn định vào một mảng. Những họng súng lộ ra. - Chúng có pháo phòng không đấy! Anh ta gào lên. Chiếc Tornado thứ hai đang lao lên. Chiếc Buccaneer thứ hai có thể nhìn thấy toàn bộ. Bãi rác, bị thổi bay thành từng mảnh dưới áp lực của ba quả bom đầu tiên, để lộ ra một cấu trúc bên trong đang bị xoáy lên và đổ rạp. Nhưng có những họng súng phòng không đang chĩa lên từ những chiếc xe nát bẹp. - Thả bom rồi! Johns hét lên, và chuyển chiếc Tornado của anh ta vào chế độ quay hình chữ G tối đa. Chiếc Buccaneer của anh ta cũng chạy ra khỏi mục tiêu, nhưng cái PAVESPIKE ở dưới bụng nó vẫn giữ hướng về bãi rác. - Trúng rồi! Người hoa tiêu của chiếc Buck kêu lên. Có một tiếng động của đạn giữa những chiếc xe đổ nát. Hai SAM bắn dựa trên vai khạc lửa sau chiếc Tornado. Wilhamson đã chuyển sang chế độ quay, trở về 100 fít bên trên sa mạc nhưng hướng sang hướng khác, về phía mặt trời đang hiện ra. Anh nghe thấy giọng thét lên của Peter Johns: "Chúng tôi bị trúng rồi!" Sau anh, Sid Blair im lặng. Trong cơn điên giận, Wilhamson giật chiếc Tornado quay thêm một vòng nữa, nghĩ rằng có cơ may bắn được các tay súng Iraq bằng súng của mình. Anh đã quá chậm. - Anh nghe thấy một trong hai chiếc Buck nói, "Họ có tên lửa dưới đó", và rồi anh nhìn thấy chiếc Tornado của Johns, đang lao xuống, khói bốc ra từ động cơ đang cháy, nghe thấy anh chàng 25 tuổi nói khá rõ, "Đang rơi... đang phóng ra". Họ không còn có thể làm được gì nữa rồi. Trong những phi vụ trước đó những chiếc Buck thường đi theo những chiếc Tornado về nhà. Trong ngày hôm nay, đã thoả thuận rằng những chiếc Buck có thể về bằng đường riêng của mình. Trong im lặng hai chiếc đánh dấu mục tiêu đã làm cách tốt nhất của mình: Họ chĩa bụng xuống sa mạc và giữ nguyên như thế để trở về. Lofty Williamson đang trong cơn giận mù quáng, rõ ràng anh đã bị lừa dối. Anh ta đã không: không ai biết về pháo phòng không và những quả tên lửa giấu ở Al Qubai. Ở bên trên, một chiếc TR-l gửi về những bức ảnh đúng lúc cuộc tàn phá về Riyadh. Một đồn E-3 đã nghe thấy mọi thứ trong cuộc trò chuyện trên không và nói với Riyadh họ đã mất một chiếc Tornado. Lofty Williamson trở về nhà một mình, để báo cáo và đổ sự tức giận của mình vào những kẻ lựa chọn mục tiêu ở Riyadh. Tại đại bản doanh của CENTAF ở đường Old Airport, mềm vui bừng của Steve Laing và Chíp Barber rằng Quả Đấm của Thượng đế đã bị chôn vùi trong cát bụi nơi nó được tạo ra đã bị che mờ bởi sự thể mất hai người lính trẻ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ.. Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
|
|
|
Brest
Cựu chiến binh

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #132 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2010, 08:43:01 pm » |
|
CHƯƠNG 19
Thiếu tướng Hassan Rahmani ngồi trong văn phòng riêng của mình ở toà nhà Mukhabarat ở Mansour uể oải quan sát các sự kiện của hai mươi tư giờ trước đó. Việc các trung tâm quân sự và quân giới chủ chốt của đất nước anh ta đã bị xơi tái một cách có hệ thống bởi những quả bom và hoả tiễn không làm anh ta lo ngại. Những tiến triển đó, anh đã tiên liệu từ nhiều tuần trước, chỉ đơn giản làm gần lại hơn sự xâm chiếm của Mỹ và sự rơi khỏi ghế của con người đến từ Tikrit. Đó là cái anh ta đã lên kế hoạch, đã chờ đợi, và dự định một cách tự tin, không mảy may nghi ngờ vào cái ngày giữa tháng Hai năm 1991 là sẽ không đến. Rahmani là một người rất thông minh, nhưng cũng không thể là một quả bóng pha lê không tì vết. Vụ ném bom lúc rạng đông ngày hôm trước vào nhà máy chế tạo bom nguyên tử ở Al Qubai, được hướng lối chính xác đến nhường ấy mà không ai hiểu nổi, đã làm lung lay sức mạnh của tinh hoa Baghdad đến tận gốc rễ. Trong vài phút sau khi hai máy bay ném bom của Anh bay đi, những tay súng sống sót đã liên hệ trực tiếp với Baghdad để báo cáo về vụ tấn công. Khi nghe về sự kiện, tiến sĩ Jaafar Al-jaafar đã trực tiếp lên xe và lái đến điểm đó để kiểm tra về đội ngũ dưới đất của mình. Ông ta giận dữ đến điên người và vào buổi trưa đã phàn nàn một cách cay đắng với Hussein Kamil, dưới lệnh của người này Bộ Công nghiệp và Công nghiệp hoá Quân sự toàn bộ chương trình nguyên tử được đặt ở đó là một chương trình, nhà khoa học báo cáo lại với người con rể của Saddam, rằng ngoài tổng cộng chi phí trị giá 50 tỉ đôla trong suốt một thập kỷ đã tiêu đến 8 tỉ đôla, và vào lúc sắp đạt được thắng lợi thì lại bị phá huỷ. Liệu Nhà nước còn có thể bảo vệ người của mình được nữa hay không? Nhà vật lý lraq có thể đã nhảy dựng lên trên cao năm fit và bị đốt cháy như một con muỗi, nhưng trong điều kiện ảnh hưởng của ông ta lớn đến chừng đó, và lời lẽ của ông ta cứ thế dâng trào. Hussein Kamil bị xúc phạm báo cáo cho bố vợ của mình, người cũng dã rơi vào một cơn điên giận khủng khiếp. Khi điều đó xảy ra, cả Baghdad run lên cho cuộc sống của mình. Các nhà khoa học dưới lòng đất đã không chỉ sống sót mà đều thoát ra ngoài được, vì nhà máy còn có một đường hầm hẹp dẫn đến nửa dặm dưới sa mạc và kết thúc trong một cái thangmáy có đường ray gắn vào tường. Những người đó đã lên mặt đất theo con đường đó, nhưng không thể nào di chuyển được máy móc nặng nề qua cùng đường hầm và thang máy đó. Thang máy chính và đường tiếp tế hàng hoá đã bị thổi tung khỏi mặt đất sâu đến 20 fít. Tái tạo lại nó có thể mất đến hàng tuần - những tuần mà Hassan Rahmani ngờ rằng Iraq không có nổi. - Liệu đã kết thúc vấn đề đó chưa, anh ta chỉ đơn giản bị nghi, vì đã lo lắng sâu sắc con người đó từ cuộc họp ở cung điện trước khi cuộc không chiến bắt đầu, khi Saddam đã để lộ sự tồn tại của thiết bị "của ông ta". Cái giờ đây đang làm Rahmani lo sợ là cơn điên giận kinh khủng của người đứng đầu Nhà nước. Phó tổng thống Izzat Ibrahim đã gọi anh lên ngay sau buổi trưa ngày hôm trước, và vị chỉ huy Tình báo không bao giờ biết đến người thân cận nhất của Saddam đang ở trong tình trạng đó. Ibrahim nói với anh ta Rais đang điên lên, và khi điều đó xảy ra, máu có thể chảy như suối. Chỉ điều đó mới làm đè nén được cơn giận của người đến từ Tikrit. Phó tổng thống cho rằng anh - Rahmani - có thể phải tạo ra chứng cứ, và thật nhanh. "Chính xác thì chứng cứ nào, ông đã nghĩ ra chưa?" anh ta hỏi Ibrahim. "Hãy tìm cho ra", Ibrahim gào lên vào tai anh ta, "cách nào đó mà họ hiểu được". Rahmani đã có quan hệ với bạn bè mình trong Quân đội. những người đã nói chuyện với các tay súng, và các báo cáo đã hướng đến một điểm: quân Anh đã cử đến hai chiếc máy bay. Đã có hai cái nữa bay cao hơn, nhưng kết luận là những cái đó chỉ là nguỵ trang; chắc chắn chúng đã không hề thả quả bom nào hết. Từ Quân đội, Rahmani đã nói chuyện với đơn vị Lập kế hoạch Không quân. Quan điểm của họ - và nhiều trong số sĩ quan đã được huấn luyện của phương Tây - là không có mục tiêu nào với mức độ quan trọng về quân sự lại chỉ được gửi đến có hai máy bay. Không bao giờ như thế hết. Vậy là Rahmani suy luận, nếu người Anh không nghĩ bãi rác ôtô là một đống rác rưởi bỏ đi, thì họ nghĩ nó là cái gì? Câu trả lời có khả năng nằm ở hai giặc lái người Anh bị rơi. Cá nhân mà nói, anh thích tự trực tiếp tiến hành các cuộc xét hỏi, chắc chắn rằng với một số thuốc kích thích anh có thể buộc họ nói thật trong vài giờ. Quân đội đã khẳng định họ đã bắt được viên phi công và viên hoa tiêu sau ba giờ truy đuổi, sâu trong sa mạc, một bị bỏ lại do vỡ mắt cá. Thật không may, một chi tiết từ AMAM đã làm quay ngược mọi thứ với tốc độ đáng kể và đã mang theo những người bay. Không ai lý luận gì với AMAM hết. Do đó hai người Anh giờ đây đang ở chỗ Omar Khatib, và chỉ Allah mới có thể rủ lòng thương đến họ. Bị mất cơ hội tuyệt vời tạo ra thông tin do những viên giặc lái trao cho, Rahmani nhận ra anh ta có thể phải tạo ra cái gì đó Câu hỏi là - ai? Chỉ một điều có thể đủ là cái Rais mong muốn. Và ông ta muốn gì? Tại sao, một sự phản bội. Rồi một sự phản bội. Vấn đề then chốt có thể là máy phát. Anh ta cầm máy nói và gọi thiếu tá Mohsen Zayeed, chỉ huy lĩnh vực nghe trộm của đơn vị anh, người chịu trách nhiệm nghe ngóng các cuộc truyền tin bằng radio. Đã là lúc cần nói chuyện lại. Hai mươi dặm về phía tây Baghdad có một thị trấn nhỏ tên là Abu Ghraib, một địa điểm rất khó nhận diện và cho đến giờ vẫn không hề được biết đến nếu vì hiếm khi được nhắc đến trong Iraq. Bởi vì ở Abu Ghraid có một nhà tù lớn, được dành gần như tuyệt đối để sử dụng cho những cuộc hỏi cung và những vụ thanh trừng về chính trị. Vì lẽ đó, nó được trang bị người và được điều hành không phải bởi một cơ quan tù quốc gia mà là Cảnh sát Mật, AMAM.
|
|
|
|
|
Logged
|
Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ.. Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
|
|
|
Brest
Cựu chiến binh

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #133 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2010, 08:46:43 pm » |
|
Vào thời gian Hassan Rahmani đang gọi chuyên gia nghe lén của mình, một chiếc Mercedes dài màu đen đang lại gần những cánh cửa gỗ dày cộp của nhà tù. Hai người gác, nhận ra người trong xe, hú lên vào những cái cổng và mở chúng ra. Vừa đúng lúc, người đàn ông trong xe có thể trả lời với sự bạo tàn lạnh lùng đối với những ai cả gan làm chậm ông ta một giây phút vì lơ là công việc. Chiếc ôtô đi vào, những cánh cửa đóng lại. Khuôn mặt ở ghế sau nhận ra những nỗ lực của những người gác mà không để lộ ra nét vẻ gì. Không bao giờ có biểu hiện nào hết. Trước những bậc thang dẫn lên toà nhà văn phòng chính, xe dừng lại, và một người gác khác đi đến mở cửa sau xe. Tướng Omar Khatib xuống xe, giản dị trong bộ quân phục barathea vừa khít, và rảo bước lên các bậc thang. Những cánh cửa nhanh chóng được mở ra cho ông ta ở mọi lối. Một sĩ quan cấp dưới, trợ tá của ông ta, cầm theo chiếc cặp công tác của ông ta. Để lên được văn phòng của mình, Khatib sử dụng chiếc thang máy lên đến tầng năm và là tầng cao nhất, và khi ông đã ở lại một mình, ông ta yêu cầu mang cà phê Thổ Nhĩ Kỳ lên và bắt đầu nghiên cứu giấy tờ. Các báo cáo của ngày miêu tả chi tiết tiến bộ trong việc khai thác những thông tin cần thiết từ những người ở tầng dưới. Đằng sau vẻ mặt lạnh lùng của mình, Omar Khatib cũng lo lắng như tất cả các đồng nghiệp của mình ở khắp Baghdad. Không giống như Rahmani, người hưởng giáo dục từ Anh quốc, biết nhiều ngôn ngữ, và không khí cởi mở gần như trở thành đáng ngờ, Khatib có thể tính đến lợi thế cơ bản của mình là đến từ Tikrit. Đã lâu đến thế ông ta làm công việc này do Rais giao phó, và làm rất tốt, luôn giữ dược những lời tâm tình để bảo đảm không xảy ra bạo loạn, ông ta an toàn. Nhưng hai mươi tư giờ vừa qua đã gây xáo trộn rất nhiều. Cả ông ta cũng đã nhận được cú điện thoại ngày hôm trước, nhưng từ người con rể, Hussein Kamil. Cũng giống như Ibrahim đối với Rahmani, Kamil cũng mang đến những tin tức về sự tức giận vô bờ bến của Rais qua sự kiện ném bom Al Qubai và đề nghị có những bằng chứng. Không giống như Rahmani, Khatib đã có trong tay những người Anh. Đó là lợi thế một mặt, và là sự nguy hiểm ở mặt khác. Rais muốn biết, và nhanh, bằng cách nào các tay lái máy bay này biết được trước phi vụ - chỉ là bằng cách nào mà Liên quân lại biết được nhiều đến thế vế Al Qubai, và bằng cách nào họ có được những thông tin đó. Điều đó phụ thuộc vào ông ta, Khatib, để tạo ra các thông tin. Những người của ông ta đang làm việc với các tay lái trong suốt 15 tiếng đồng hồ, kể từ bảy giờ sáng hôm trước, khi họ đến Abu Ghraib. Cho đến giờ, bọn điên đó vẫn vững vàng. Từ sân bên dưới cửa sổ của ông ta vang đến âm thanh của một sự va động, một sự va chạm, và một tiếng lướt nhỏ. Lông mày Khatib nhăn lại, rồi nở ra khi ông ta nhớ lại. Trong cái sân trong dưới cửa sổ của ông ta một người Iraq bị treo cổ tay trên một cái giá chữ thập, những ngón chân tươm máu của anh ta chỉ cao quá làn bụi 4 inch. Gần đó có một cái vại, trước màu sáng, giờ đã chuyển sang thấm hồng. Mỗi người gác và lính tráng đi ngang qua sân đều nhận lệnh phải đứng lại, cầm lên một trong hai cái roi mây từ cái bình, và đi một vòng ra sau lưng người đàn ông bị treo, đánh vào giữa cổ và đầu gối. Một hạ sĩ đứng gần đó trông coi. Người đó là một tay thương gia ngu xuẩn dám nói tổng thống là con một mụ đĩ , kẻ giờ đây đang học, dù có hơi muộn, cách thức các công dân kính trọng Rais. Vấn đề gây nhức đầu là ông ta vẫn còn ở đây. Nó chỉ ra sự bẩn thỉu mà những tầng lớp lao động này có. Người thương gia đã phải chịu đựng hơn 500 cái đánh, một kỷ lục đầy ấn tượng. ông ta có thể chết trước cái thứ một nghìn - không ai có thể chịu đến một nghìn - nhưng như thế đã là thú vị lắm rồi. Điều thú vị khác là rằng người đàn ông đã bị tố cáo bởi đứa con mười tuổi của ông ta. Omar Khatib nhấm nháp tách cá phê của mình, đung đưa cây bút nạm vàng, và cúi xuống giấy tờ của mình. Nửa giờ đồng hồ sau, có một tiếng gõ bí ẩn vào cánh cửa phòng. - Vào đi, ông ta gọi, và nhìn ra để kiểm tra. ông ta cần có tin mới, và chỉ một người có thể gõ cửa thẳng chứ không cần qua viên sĩ quan cấp dưới ở ngoài. Người đi vào to lớn, và ngay cả mẹ anh ta cũng khó có thể bảo anh ta đẹp trai. Khuôn mặt bị rỗ chằng chịt dấu ấn của bệnh đậu mùa, và hai vết sẹo tròn chạy xuống đang giật giật. Anh ta đóng cửa lại và đứng im, đợi lệnh. Dù anh ta chỉ mới là một trung sĩ, thì thực ra anh ta không chỉ có cấp hàm thấp như thế, vì anh ta là một trong số rất ít mà viên tướng cảm thấy có sự tin cậy đồng đội. Một mình giữa đám nhân viên nhà tù, trung sĩ Ali được phép ngồi khi có mặt ông ta, khi được mời lên. Khatib chỉ cho người đàn ông cái ghế và mời anh ta một điếu thuốc. Viên trung sĩ ngồi xuống và nhả khói từ từ; công việc của anh ta rất nặng nhọc và mệt mỏi, điếu thuốc là một giờ nghỉ đầy may mắn. Lý do Khatib nhân nhượng thứ tình cảm bà con từ một người ở cấp bậc thấp như vậy là vì anh ta thực sự có một sự ngưỡng mộ vô bờ với ông ta. Khatib nắm bắt được sự hiệu quả trong sự đánh giá cao của mình, và viên trung sĩ được ông ta ưu ái là người không bao giờ phản lại ông ta. Bình tĩnh, có phương pháp, một người chồng và người cha tốt, Ali thực sự là một tay chuyên nghiệp. - Tốt chứ? ông ta hỏi. - Viên hoa tiêu kín, rất kín, thưa ngài. Viên phi công... Anh ta nhún vai. Một tiếng hay là hơn rồi đấy. - Tôi nhắc lại cho anh là cả hai chúng đều phải hé răng. Ali, bắt buộc đấy. Và những câu chuyện của chúng phải ăn khớp với nhau. Chính Rais đang tin tưởng vào chúng ta đấy. - Ông thì có thể, thưa ngài. Tôi nghĩ trong vòng mười phút ngài sẽ có được câu trả lời của mình. Viên hoa tiêu trước, và khi viên phi công học được điều gì đó, hắn ta sẽ làm theo. - Tốt lắm. Khatib nhổm lên, và viên trung sĩ mở cửa cho ông ta. Cùng nhau họ đi xuống qua tầng trệt đến khu nhốt người thứ nhất, nơi thang máy dừng lại. Có một lối đi hướng đến các tầng ngầm dưới đất. Dọc theo lối đi là những cánh cửa bằng thép, và đằng sau chúng, đang thu lu trong còng, là bảy người Mỹ, bốn người Anh, một người Italia, và một phi công lái máy bay Skyhawk của Kuwait. Ở tầng tiếp theo dưới sâu hơn có nhiều xà lim hơn, tại đó có hai người mới bị bắt. Khatib nhìn qua lỗ khoá trong cánh cửa xà lim thứ nhất. Một ngọn đèn duy nhất đang chiếu sáng xà lim, những bức tường của nó rất chắc chắn và có màu máu sẫm. Giữa phòng, trên một cái ghế văn phòng bằng nhựa, một người đàn ông đang ngồi, gần như trần truồng, trên ngực bê bết vết nôn mửa, máu và nước dãi. Đôi tay của anh ta bị trói giật ra sau, và một mặt nạ đen ngòm không trổ lỗ mắt phủ lên mặt anh ta. Hai người của AMAM trong bộ đồ giống hệt với trung sĩ Ali đang lắc người đàn ông trên ghế, tay của anh ta chạm xuống những ống nhựa xếp dưới sàn, những cái thêm vào trọng lượng mà không làm giảm độ nhạy. Họ đang đứng quay lưng, nghỉ một lúc. Trước khi dừng, họ đã tập trung vào ống quyển và xương bánh chè. Khatib gật đầu và chuyển sang phòng tiếp theo. Qua lỗ khoá ông ta có thể trông thấy người tù thứ hai không bị bịt mắt. Một con mắt hoàn toàn nhắm nghiền, con ngươi lòi thịt của lông mày và má đầy máu. Khi anh ta mở miệng, có lỗ hổng do hai chiếc răng bị gẫy gây ra, và một luồng máu trồi lên trên môi anh ta. - Tyne, viên hoa tiêu thì thầm, Nicholas Tyne. Trung úy bay. Năm ôi một ôi chín sáu tám. - Viên hoa tiêu đó, viên trung sĩ thì thầm. Khatib thì thầm trả lời, "Ai trong số người của anh biết nói tiếng Anh?" Ali chỉ - người ở bên trái. - Bảo anh ta ra ngoài này. Ali đi vào xà lim của viên hoa tiêu và đi ra với một trong số hai tra xét viên. Khatib nói chuyện một lúc với người này bằng tiếng A rập. Người đàn ông gật đầu, trở vào xà lim, và đeo mặt nạ lên mặt viên hoa tiêu. Chỉ sau đó Khatib mới cho phép mở cả hai cánh cửa xà lim. Người biết nói tiếng Anh cúi xuống đầu Nicky Tyne và nói qua lần vải. Tiếng Anh của anh ta có âm sắc rất nặng nhưng có thể hiểu được. - Tốt rồi, trung uý Bay, đúng đó. Với anh, đã qua rồi. Không còn phải chịu đựng nữa đâu. Viên hoa tiêu trẻ tuổi nghe thấy câu nói. Cơ thể anh ta như thể rùng lên vì đau đớn. - Nhưng bạn của anh, anh ta không được may mắn như thế. Anh ta đang chết đấy. Thế là chúng tôi có thể chuyển anh ta vào bệnh viện - những mảnh vải trắng, các bác sĩ, mọi thứ anh ta cần; hoặc chúng tôi có thể kết thúc công việc của mình. Lựa chọn của anh đấy nhé. Khi anh nói cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ ngừng ngay và đưa anh ta vào bệnh viện. Khatib gật đầu hướng đến hành lang với trung sĩ Ali, người đi vào xà lim bên kia. Từ cánh cửa mở những âm thanh của tiếng nhựa cọ vang lên. Rồi viên phi công bắt đầu hét lên. - Tốt rồi, đầu đạn? Nicky Tyne hét lên dưới lớp vải. Dừng lại đi, lũ con hoang các người! Đó là một kho khí độc. Tiếng đánh đập ngừng lại. Ali xuất hiện, thở hổn hển, từ xà lim của viên phi công. - Ngài đúng là thiên tài, thưa Sayid tướng quân. Khatib nhún vai khiêm tốn. - Đừng bao giờ đánh giá thấp tính đa cảm của người Anh và người Mỹ, ông ta nói với học trò của mình. Hãy mang những người phiên dịch đến đây. Ghi vào mọi chi tiết, dù là nhỏ nhất. Khi có bản dịch rồi, mang lên văn phòng cho tôi. Quay trở lại phòng của mình, tướng Khatib gọi một cú điện thoại tiếng đến Hussein Kamil. Một tiếng đồng hồ sau, Kamil gọi lại. Bố vợ anh ta đã bình tâm trở lại; một cuộc họp có thể được triệu tập, khả năng là đêm nay. Omar Khatib có thể sẽ phải chuẩn bị để sẵn sàng đến cuộc họp.
|
|
|
|
|
Logged
|
Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ.. Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
|
|
|
Brest
Cựu chiến binh

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #134 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2010, 08:47:27 pm » |
|
Tối đó, Karim lại tiếp tục ve vãn Edith, một cách dịu dàng và không chút ma mãnh nào, lần này về công việc của cô. - Em có bao giờ thấy buồn chán ở ngân hàng không, em yêu? - Không, đó là một công việc thú vị. Sao anh lại hỏi thế. - À, anh cũng không biết nữa. Chỉ để hiểu bằng cách nào em lại có thể nghĩ nó là hấp dẫn. Với anh, nó chắc là công việc nhàm chán nhất trên đời đấy. - Nhưng mà không phải thế đâu. - Thôi được rồi. Thế hấp dẫn ở chỗ nào? - Anh biết đấy, quản lý các tài khoản, đặt các đầu tư, những việc tương tự như thế. Đó là một công việc quan trọng. - Chẳng nghĩa lý gì hết cả. Cứ như là nói "Chào buổi sáng, vâng thưa ngài, không thưa ngài, dĩ nhiên thưa ngài" với hàng đống người đến và ra để rút một cái séc 50 silinh. Chán lắm. Anh đang nằm ngửa trên giường của cô. Cô đang đi lại và đến nằm bên cạnh anh, choàng tay anh qua vai cô, bằng cách đó họ có thể sát vào nhau. Cô thích sát vào nhau. - Thỉnh thoảng anh thật là ngốc, Karim ạ. Nhưng em yêu anh ngốc nghếch như thế. Ngân hàng Winkler không phải một ngân hàng phát hành - nó là một ngân hàng buôn bán. - Thì khác nhau thế nào? - Bọn em không có tài khoản séc, khách hàng với sổ séc đi ra đi vào. Không làm việc theo cách đó đâu. - Thế thì bọn em kiếm tiền sao được, vì có khách đâu. - Dĩ nhiên có tiền chứ, nhưng là với các tài khoản rút tiền. - Anh chẳng bao giờ có cái nào như thế cả, Karim thừa nhận. Chỉ có một tài khoản vãng lai nhỏ thôi. Dù sao anh vẫn thích tiền mặt hơn. - Anh không thể có tiền mặt khi anh nói đến hàng triệu. Người ta sẽ ăn cắp của anh. Nên anh phải cho vào một ngân hàng và đầu tư chúng. - Em muốn nói là ông già Gemuetlich có đến hàng triệu đồng? Tiền của người khác? - Phải, hàng triệu ấy chứ. - Siling hay đôla? - Đôla, đồng bảng, hàng triệu. - Tốt, anh không thể tin cậy ông ta với tiền của anh được. Cô ngồi dậy, hơi bị tức. - Ngài Gemuetlich hoàn toàn trung thực. ông ấy không bao giờ nghĩ đến chuyện làm như thế đâu. - Có thể là không, nhưng người khác thì có thể chứ. Xem nào - nói thử xem, anh biết một người có một tài khoản ở Winkler. Tên anh ta là Schmitt. Một hôm anh đến và nói: Chào buổi sáng, Ngài Gemuetlich, tên tôi là Schmitt, và tôi có một tài khoản ở đây. Ông ta nhìn vào sổ của mình, và nói: Phải, anh có. Thế là anh nói: Tôi thích rút toàn bộ ra. Thế là khi anh chàng Schmitt thực sự đến, chẳng còn cái quái gì hết cả. Chính vì thế tại sao anh lại thích tiền mặt hơn đấy. Cô cười phá lên vì sự ngây thơ của anh và kéo anh lên, nói thì thầm vào tai anh ta: - Không thể thế được đâu. ông Gemuethch có thể biết được anh chàng Schmitt quý giá của anh. Cách nào đi nữa, ông ấy cũng phải tự xác minh. - Hộ chiếu có thể làm giả. Thì bọn Palestine quỷ quái chẳng suốt ngày làm thế còn gì. - Anh ta còn cần có một chữ ký nữa, với cái đó thì có mẫu - Thế thì, anh sẽ tập ký giả chữ ký của Schmitt. - Karim, em nghĩ anh sẽ trở thành một tên tội phạm một ngày nào đó. Anh xấu tính lắm. Cả hai cười vang lên vì ý tưởng đó. - Cách nào đi nữa, nếu anh là người nước ngoài và sống bên ngoài, anh có khả năng có một tài khoản được đánh số. Chúng là hoàn toàn không thể bắt chước được. Anh nhìn xuống vào cô từ một khuỷu tay, lông mày nhăn - Là cái gì thế? - Một tài khoản đánh số - Mmmmm. Cô giải thích nó hoạt động như thế nào. - Điên quá nhỉ, anh nói khi cô kết thúc. Bất kỳ ai cũng có thể đến và tuyên bố là chủ. Nếu Gemuetlich chưa từng bao giờ nhìn thấy người chủ thật... - Có những quy trình nhận diện chứ, anh ngốc. Những mật mã hết sức phức tạp, các phương pháp chữ viết, các cách thức chắc chắn mà các chữ ký phải được định vị - tất cả những thứ đó để kiểm tra rằng người đó thực sự là chủ của tài khoản đó Trừ khi tất cả họ thông đồng với nhau - với chữ viết – ông Gemutlich sẽ không hợp tác đâu. Thế cho nên giả danh là không được đâu - Thế ông ta hẳn là phải có trí nhớ khủng khiếp lắm nhỉ. - Ôi, anh quá là ngốc nghếch đấy. Phải viết ra chứ. Thế anh có cho em đi ăn tối không? - Em có đáng thế không? - Anh biết là em có mà. - À thế thì được. Nhưng anh muốn một thứ ăn tại chỗ. Cô bối rối. "Tốt thôi, thì đặt một chỗ đi". - Anh muốn nói là em ấy. Anh với lên và nắm lấy cổ tay của bộ đồ ngủ của cô, kéo cô với một ngón tay đằng sau lên giường. Cô vùng vẫy một cách sung sướng. Anh trườn lên người cô và bắt đầu hôn. đột nhiên anh ta ngừng lại. Cô ngẩng nhìn cảnh giác. - Anh biết anh sẽ phải làm gì rồi, anh thì thầm trong hơi thở, anh sẽ thuê một cái két an toàn, vào trong kho của ông già Gemuetlich, và nhìn các mật mã. Rồi anh sẽ lấy tiền đi với chúng. Cô cười phá lên với suy nghĩ anh đã không thay đổi suy nghĩ cả trong lúc làm tình. - Không thế được đâu. Mmmmm. Làm nữa đi. - Có chứ. - Aaaa. Không được đâu. - Có Những thứ an toàn suốt ngày bị phá. Hãy đọc báo hàng ngày mà xem. Cô luồn bàn tay khám phá của mình xuống dưới, và mắt cô mở to ra. - Ooooo, thế là tất cả với em đấy ư? Anh là người đàn ông thật dáng yêu, kỳ vĩ, khoẻ khoắn, Karim, và em yêu anh. Nhưng ông già Gemuetlich, theo cách anh gọi ông ấy, có thông minh hơn anh một chút đấy... Một phút sau, cô không còn quan tâm xem Gemuetlich thông minh cỡ nào nữa.
|
|
|
|
|
Logged
|
Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ.. Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
|
|
|
Brest
Cựu chiến binh

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #135 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2010, 08:49:27 pm » |
|
Trong khi nhân viên Mossad đang làm tình ở Vienna, Mike Martin đang dựng đĩa vệ tinh của mình khi sắp tới nửa đêm và ngày 11 tháng Hai sắp sửa chuyển sang ngày 12. Iraq thế là chỉ còn cách ngày tấn công theo lịch tám ngày vào ngày 20 tháng Hai. Phía nam biên giới, dải đất phía bắc của sa mạc A;rập Xêut chất đầy những trại tập trung lớn nhất của người và vũ khí, súng ống, xe tăng, và các kho được chia ra thành những phần rất nhỏ của vùng đất kể từ Thế chiến hai. Gió nóng không ngừng thổi từ không khí, dù phần lớn các mục tiêu trong danh sách đầu tiên của tướng Horner đều đã được thăm hỏi, có khi còn đến hai lần hoặc hơn. Mặc dù sự dấn sâu vào các mục tiêu mới tạo nên bởi hàng rào Scud ngắn ngủi trên đất Israel, kế hoạch không chiến thiên tài đã vào guồng. Mọi nhà máy được biết cho sản xuất vũ khí đều đã bị thổi tung, trong số đó có 12 cái mới thêm vào nhờ thông tin của Jericho. Không lực Iraq đã rõ ràng ngừng tồn tại. Hiếm khi có những máy bay chiến đấu chống trả, họ không chọn cách đối đầu với những chiếc Eagle, Hornet, Tomcat, Falcom, Phantom và Jaguar của Liên quân, quay trở về căn cứ của mình và vào giữa tháng Hai không còn bận tâm đến việc thử nữa. Một số máy bay chiến đấu và thả bom đã được gửi một cách có suy tính cẩn thận sang Iran, nơi họ đã ngay lập tức bị đánh bật. Ở cấp độ cao nhất, những người chỉ huy Liên quân có lẽ không hiểu nổi tại sao Saddam đã chọn cách gửi đội tốt nhất của mình sang kẻ thù cũ. Lý do là vì sau một thời điểm nào đó ông ta đã chắc chắn đoán rằng mọi quốc gia trong vùng không còn lựa chọn nào khác là quay mũi kiếm vào mình; vào lúc đó ông ta có thể dùng lại không quân của mình. Vào lúc đó hiếm khi tìm được một cây cầu nào chưa bị đánh phá trên khắp đất nước hay một trạm sản xuất điện nào còn vận hành được. Vào giữa tháng Hai, một nỗ lực thêm nữa của Liên quân đã được hướng đến Quân đội Iraq ở nam Kuwait và trên biên giới giữa Kuwait và Iraq. Từ đông sang tây biên giới bắc Xêut với đường cao tốc Baghdad-Barsa, các Buff vẫn đang truy diệt pháo binh, xe tăng, các khẩu đội tên lửa, và các vị trí đặt quân bộ binh. Những chiếc Thunderbolt A-10 của Mỹ, được đặt biệt hiệu do sự khủng khiếp trên bầu trời của chúng là "những con chó bay", đang lùng kiếm và sẽ tiếp tục làm tốt nhất có thể - tiêu diệt xe tăng. Những chiếc Eagle và Tornado cũng đang định vị nhiệm vụ "xử lý xe tăng ". Điều mà các vị tướng của Liên quân ở Riyaôh không biết được là 40 cơ sở được cho là sản xuất vũ khí tiêu diệt hàng loạt vân còn được giấu bên dưới sa mạc và đồi núi, hoặc các căn cứ không quân Sixco vẫn còn an toàn. Kể từ khi chôn vùi được nhà máy Al Qubai, tâm trạng đã nhẹ nhàng hơn giữa bốn vị tướng biết thực sự nó chứa đựng gì, cũng như giữa những người của CIA và SIS đóng ở Riyadh. Đó là một tâm trạng được phản ánh trong thông điệp ngắn gọn mà Mike Martin nhận được đêm đó. Những người chỉ huy anh ở Riyadh đã bắt dầu thông báo cho anh về thắng lợi của điệp vụ Tornado dù bị mất một máy bay. Đợt chuyển tin đi đến chỗ khen ngợi anh đã ở lại ở Baghdad sau khi đã được phép rời đi và về toàn bộ phi vụ. Cuối cùng, anh được cho biết không còn nhiều việc để làm. Jericho có thể được chuyển cho một thông điệp cuối cùng, để thông báo Liên quân rất vui nhận được thông tin của anh ta, và toàn bộ tiền của anh ta đã được trả, và mối quan hệ này có thể dược xây dựng lại sau chiến tranh. Sau đó, Martin được cho biết, anh thực sự đã có thể trốn khỏi đó vì sự an toàn của chính mình để về Arập Xêut trước khi điều này không thể làm được nữa. Martin đóng lại máy của mình, gói nó và chôn xuống đất dưới sàn, và nằm trên giường của mình trước khi ngủ. Thật thú vị anh nghĩ. Các quân đội sẽ không vào Baghdad. Thế còn Saddam thì sao nhỉ - đâu là mục đích của việc này? Một cái gì đó dã thay đổi rồi. Nếu biết về cuộc họp sẽ diễn ra tại đại bản doanh của Mukhabarat chưa đến một dặm cách đó, thì giấc ngủ của Mike Martin không thể dễ dàng được.
Về những vấn đề kỹ thuật có bốn mức - thông thạo, rất tốt, xuất sắc và tự nhiên. Cấp cao nhất nằm ở trên mọi kỹ năng và đi vào một lĩnh vực nơi mọi kiến thức kỹ thuật được hỗ trợ bởi một cảm giác bẩm sinh, một bản năng tốt, giác quan thứ sáu một sự giỏi giang với chủ đề và máy móc không thể viết trong các sách hướng dẫn. Về vấn đề phát thanh, thiếu tá Mohsen Zayeeh là một người bẩm sinh. Khá trẻ, với những đường nét ngây thơ làm cho anh ta có vẻ như là một sinh viên năm đầu, Zayeed sống, ăn, và thở với công nghệ phát thanh Nơi ở của anh ta đầy những tạp chí mới nhất từ phương 'Tây, và khi anh ta bắt gặp một thiết bị mới có thể làm tăng hiệu quả bộ phận nghe trộm điện đàm của mình, anh ta thế nào cũng đòi mua bằng được. Bởi vì nó có giá trị với anh ta, nên Hassan Rahmani luôn cố kiếm cho anh ta. Không lâu sau nửa đêm, hai người đàn ông ngồi trong văn phòng của Rahmani. - Có tiến triển gì không? Rahmani hỏi. - Tôi nghĩ là có đấy, Zayeeh trả lời. Ở đây này, tốt thôi - không nghi ngờ gì quả là về cái đó. Vấn đề rắc rối là, hắn ta sử dụng những cú chuyển nhanh không thể bắt kịp. Chúng chạy nhanh quá. Gần như, nhưng khá đấy. Với kỹ năng và kiên nhẫn, ai đó có thể tình cờ tìm ra một cái, ngay cả thậm chí nó chỉ dài có vài giây thôi. - Anh đến gần đâu rồi? Rahmani hỏi. - à, tôi đã theo được các tần số phát đến một dải khá hẹp với tầm sóng siêu dài, làm cho dễ hơn. Nhiều ngày trước, tôi đã gặp may. Chúng tôi đang đổi theo một dải hẹp ngoài tầm: và nó đột nhiên xuất hiện. Nghe nhé. Zayeeh bật một cái đài và bấm nút Play. Một đống hỗn độn âm thanh tràn ngập văn phòng. Rahmani tỏ ra bối rối. - Nó đấy à? - Đó là mật mã, dĩ nhiên. Dĩ nhiên rồi, Rahmani nói. Anh có phá được không? - Gần như chắc chắn là không. Họ đã đóng mã bằng một con chíp silicon duy nhất, đi kèm với mạch siêu nhỏ phức tạp. - Có giải mã được không? Rahmani tỏ ra chán nản; Zayeeh sống trong thế giới riêng của anh và nói với ngôn ngữ thân mật. Anh ta đã thực hiện một nỗ lực lớn để cố và nói thẳng lên cho sĩ quan chỉ huy của mình. - Đó không phải là một mật mã. Để nghe được cái đống này với tốc độ ban đầu của nó có thể cần đến một con chíp silicon tương tự như thế. Những cái của đó giá hàng triệu đấy - Thế điểm mấu chốt là gì? - Vấn đề là, thưa ngài, là - tôi có ý hay rồi. Hassan Rahmani cúi xuống tò mò. - Một ý hay? - Đợi nhé. Và đoán được không nào? Bức thông điệp được gửi vào lúc nửa đêm, 30 giờ trước khi Al Qubai bị oanh tạc. Tôi đoán là, các chi tiết của nhà máy hạt nhân ở trong đó. Còn có gì đó hơn nữa. - Tiếp tục đi. - Hắn ở trong này. - Trong Baghdad? Thiếu tá Zayeeh mỉm cười và gật đầu. Anh ta đã giữ tin tốt nhất của mình đến tận phút cuối cùng. Anh ta muốn được khen. - Không, thưa ngài, hắn ta ở trong quận Mansour. Tôi đã khoanh được bốn km vuông rồi. Rahmani suy nghĩ rất lung. Thế thì hẹp thật, thật sự là hẹp. Điện thoại kêu. Anh ta nghe trong vài giây, rồi đặt máy và đứng lên. - Tôi bị gọi đi họp rồi. Điều cuối cùng. Còn cần nghe trộm được bao nhiêu lần nữa anh mới có thể làm rõ chúng? Đến một toà nhà, hay thậm chí một ngôi nhà? - Nếu may mắn, tôi nghĩ tôi có thể tóm hắn nhanh thôi, nhưng với lần đầu tiên tôi nghĩ tôi có thể tìm thấy hắn. Cầu cho hắn gửi một bức thông điệp dài, nhiều giây trên không trung. Rồi tôi sẽ có thể đưa cho ông một khu vực diện tích chỉ vài trăm mét vuông thôi. Rahmani thở ra thật mạnh và đi xuống đến chiếc xe đang chờ sẵn.
|
|
|
|
|
Logged
|
Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ.. Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
|
|
|
Brest
Cựu chiến binh

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #136 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2010, 08:51:19 pm » |
|
Họ đến địa điểm họp với Rais trong hai chiếc xe bus bịt bùng. Bảy vị bộ trưởng trong một chiếc, chiếc còn lại gồm sáu vị tướng và ba trùm tình báo. Không ai biết nơi mình sẽ đến, và qua kính trước người lái xe chỉ đơn giản là đi theo chiếc xe mô tô. Chỉ khi chiếc xe bus dừng lại tại một cái sân có tường bao bọc nơi 9 người trên chiếc xe thứ hai mới được phép xuống. Mất 40 phút lái xe vòng vèo. Rahmani cho rằng họ đang ở vùng nông thôn, cách Baghdad khoảng 30 dặm. Không hề có tiếng ồn ào xe cộ đi lại và những ngôi sao trên bầu trời chiếu lên những nét mờ nhạt của một ngôi biệt thự lớn cửa sổ màu đen. Trong căn phòng khách chính bảy vị bộ trưởng đang ngồi đợi Các vị tướng ngồi vào chỗ được chỉ định và im lặng. Các vệ binh chỉ chỗ cho tiến sĩ Ubaidi của Tình báo Nước ngoài, Hassan Rahmani của Phản gián, và Omar Khatib của Mật. vụ 3 chỗ ngồi đối diện với cái ghế bành rộng duy nhất có đệm dành cho Rais. Người đàn ông đã gửi tin cho họ đi vào mấy phút sau đó. Tất cả đứng lên và được vẫy tay để ngồi xuống. Với một số người, đã trên ba tuần nay họ mới được gặp lại tổng thống. ông có vẻ mệt mỏi, mắt quầng thâm và cái cằm cau có tỏ rõ nhiều điều. Không rào trước đón sau, Saddam Hussein đi thẳng vào việc của buổi họp. Họ đã bị một trận ném bom - tất cả đều đã biết, kể cả những người trước đó chưa hề biết về một nơi tên là Al Qubai. Địa điểm bí mật đến nỗi ở Iraq không có quá 10 người biết đích xác nó ở đâu. Giờ nó đã bị ném bom. Chỉ có thể là người ở cấp cao nhất và một số kỹ thuật gia cao cấp được. đến thăm đó mà không bị bịt mắt hoặc trong những chiếc xe bịt bùng, trước. khi nó bị đánh bom. Im lặng trong phòng. sự im lặng chết chóc. Các vị tướng - Radi của bộ binh, Kadin của đội Hải quân, Ridha của Pháo binh, và Musuli của Công binh, và hai người khác, chỉ huy Đội Vệ binh Quốc gia và chỉ huy Nhân sự - nhìn chằm chằm vào chiếc thảm trước mặt họ. - Đồng chí của chúng ta, Omar Khatib, đã hỏi cung hai viên phi công người Anh, Rais gằn giọng. Giờ thì ông ta có thể giải thích điều gì đã xảy ra. Không ai dám nhìn thẳng vào Rais, giờ đây mọi cặp mắt đổ dồn vào thân hình manh khánh của Omar Khatib. Đồ tể vẫn nhìn thẳng vào đoạn giữa người đứng đầu Nhà nước, chiếu thẳng khuôn mặt của mình qua căn phòng. - Bọn phi công đã phun ra, ông ta lạnh lùng nói. Chúng đang trên đường về phía bắc. Chúng đã được chỉ huy chúng cho biết không quân Liên quân đã nhìn thấy có xe tải, xe tải Quân đội, di chuyển ra vào một khu bãi rác ôtô. Từ đó, Bọn con của Chó đã có cảm giác cái kho được nguỵ trang một kho vũ khí, đặc biệt một nơi dành cho đầu đạn chứa khí độc. Nó không được quan tâm đặc biệt lắm và không hề nghĩ rằng có phòng không ở đó Cho nên chỉ có hai máy bay được gửi đến để thực hiện nhiệm vụ, cùng với hai chiếc khác bay trên chúng để hướng dẫn mục tiêu Không hề có sự đề phòng trước sẽ có pháo phòng không, bởi vì chúng không hề nghĩ là có. Chúng - viên phi công và viên hoa tiêu - chẳng biết gì hơn thế cả. Rais ngoái đầu về phía tướng Farouk Ridha. - Đúng hay sai, Rafeek? - Như thế cũng là bình thường, Sayid Rais, người đàn ông, chỉ huy pháo binh tại các địa điểm SAM nói, khi chúng gửi đầu tiên là các máy bay chiến đấu có hoả tiễn đến để bắn các điểm phòng không, rồi mới có máy bay ném bom đến đánh mục tiêu. Chúng thường xuyên làm như thế. Với một mục tiêu có tầm quan trọng hàng đầu. chẳng bao giờ có chuyện chỉ có hai máy bay không tiếp viện đến đâu. Saddam suy nghĩ về câu trả lời, đôi mắt đen của ông ta không hề để lộ chút nào suy nghĩ của ông. Đó chính là một phần của quyền lực ông có được đối với những con người này; họ không bao giờ biết dược ông ta sẽ phản ứng như thế nào. - Có khả năng nào, Rafeek Khatib, rằng bọn đó định giấu anh điều gì, rằng chúng có biết nhiều hơn những điều chúng nói? - Không. thưa Rais. Chúng đã được... thuyết phục để hợp tác toàn bộ. - Thế là vấn đề đã xong rồi đấy à? Rais trầm tĩnh hỏi. Cuộc tấn công đó chỉ là một đòn hú hoạ của chúng và chúng đã gặp may? Những cái đầu gật xuống trong cả phòng. Tiếng hét vang lên làm tất cả trở nên tê liệt. - Sai? Tất cả các ông đều sai? Trong một giây giọng nói đó đã trở về với mót lời thì thầm bình tĩnh, nhưng sự sợ hãi nó gây ra thì vẫn lơ lửng. Tất cả mọi người đều hiểu rằng sự dịu dàng của giọng nói có thể là báo trước cho những điều kinh khủng nhất, những hình phạt ghê gớm nhất. - Chẳng có xe tải nào hết cả. xe tải Quân đội ấy. Xin lỗi những tên phi công trong trường hợp chúng bị bắt nhé. Còn có cái gì khác nữa, có không? Phần lớn mọi người toát mồ hôi hột dù diều hoà nhiệt độ vẫn chạy. Vẫn thường xuyên là như thế, kể từ buổi bình minh của lịch sử, khi thủ lĩnh của một bộ lạc gọi tất cả vào chỗ của phù thủy và tất cả run sợ trước nguy cơ chiếc gậy chỉ thẳng vào mình. - Có một kẻ phản bội, Rais thì thào. Có một kẻ bán đứng chúng ta. Ai đó là kẻ phản bội, kẻ đó dám chống lại ta. Ông ta im lặng trong vài phút, để cho họ run lên. Khi ông ta tiếp tục nói, ông ta nhìn về phía ba người đang đứng trước mặt mình đầu kia căn phòng. - Tìm hắn đi. Tìm hắn và mang hắn về đây cho ta. Hắn ta sẽ biết được những hình phạt cho những tội lỗi như thế. Hắn ta và gia đình hắn ta. Rồi ông ta đi thẳng ra khỏi phòng, cùng với viên vệ sĩ riêng của mình. 16 người đàn ông rời phòng không ai nhìn ai, không thể bắt được cái nhìn của một ai. Như thế có thể là một sự hy sinh. Không ai muốn trở thành đồ tế. Ai cũng lo sợ cho mình, nếu chẳng may dấu hiệu đó tỏ ra là như thế. Mười lăm người trong số đó đi cách xa người còn lại, cây gậy của viên thầy cúng, cái kẻ tên là Al-Mu'azib, Đồ tể. Ông ta có thể tạo ra vật tế. Rahmani im lặng. Không có thời gian để nêu lên những làn sóng đài. Những chiến dịch của anh là rất tinh tế, tinh vi, dựa trên sự dò xét và trí thông minh thực sự. Điều cuối cùng anh cần làm là làm sao bọn AMAM không phá đám những điều tra của anh. Trong tâm trạng kinh hoàng các vị bộ trưởng và tướng lĩnh quay trở lại vào màn đêm và về với những nhiệm vụ của mình.
|
|
|
|
|
Logged
|
Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ.. Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
|
|
|
Brest
Cựu chiến binh

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #137 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2010, 08:53:32 pm » |
|
- Ông ta không giữ chúng trong hòm an toàn ở văn phòng đâu, Avi Herzog, tức Karim nói, với Gidi Barzilai chỉ huy của mình trong một bữa sáng muộn mằn vào buổi sáng hôm sau. Cuộc gặp an toàn, trong căn hộ của Barzilai. Herzog đã không gọi điện, từ một bốt điện thoại công cộng, cho đến khi Edith Hardenberg đã chắc chắn yên vị trong ngân hàng. Ngay sau đó, đội yarid đã tới. theo anh ta đến cuộc hẹn để chắc anh ta không bị theo dõi. Nếu anh ta có đuôi, họ sẽ phát hiện ra. Đó là chuyên môn của họ. Gidi Barzilai chồm lên trước qua cái bàn gỗ, mắt sáng lên. - Làm tốt đấy, chú nhóc xinh trai. Thế là bây giờ tôi biết ông ta không giữ mật mã. Nhưng vấn đề là chúng ở đâu? - Trong bàn ông ta. - Bàn? Cậu điên rồi. Ai chẳng có thể mở một cái bàn. - Thế ông đã nhìn thấy nó chưa? - Bàn của Gemuetlich? Chưa. - Nhìn bề ngoài nó rất lớn, rất đẹp và rất cổ. Thật sự là một thứ đồ cổ đấy. Có một ngăn riêng, do người làm bàn đầu tiên tạo ra, rất bí mật, rất khó tìn, mà Gemuetlich nghĩ là an toàn hơn bất cứ chiếc két sắt nào. Ông ta tin một tên trộm có thể tìm đến két sắt chứ chẳng bao giờ nghĩ đến cái bàn của ông ta. Ngay cả khi một tên trộm mò vào bàn, hắn ta cũng sẽ chẳng thể tìm thấy cái ngăn đâu. - Và cô ta Không biết nó ở đâu à? - Không. Chưa từng thấy nó mở ra. Ông ta luôn tự tay khoá nó trong văn phòng khi ông ta cất giấu gì đó. Barzilai suy nghĩ. - Thằng cha lỏi thật. Chẳng bao giờ mình nghĩ được chuyện đó cả. Cậu biết đấy, có khả năng là hắn đúng. - Tôi đã ngừng công việc của mình được chưa? - Chưa, Avi, chưa đâu. Nếu cậu đúng, cậu đã làm rất tốt đấy Nhưng vẫn phải tiếp tục, phải đóng vai tiếp. Nếu bây giờ cậu biến, cô ta sẽ nhớ lại cuộc nói chuyện vừa rồi, chắp nối lại và sẽ nhìn ra đấy. Hãy tiếp tục với cô ta, và đừng bao giờ nói gì về ngân hàng nữa. Barzilai suy nghĩ về vấn đề. Không ai trong đội của ông ở Vienna này đã từng nhìn thấy cái két, nhưng có một người đã từng. Barzilai gửi một bức điện được mật mã rất kỹ cho Kobi Dror ở Tel Aviv. Kẻ chỉ điểm được đưa vào và ngồi trong phòng cùng với một nghệ sĩ. Kẻ chỉ điểm không đa tài lắm, nhưng anh ta có một kỹ năng rất đặc biệt: có một trí nhớ cực tốt. Trong năm giờ anh ta ngồi nhắm mắt và nhớ lại về cuộc phỏng vấn anh ta thực hiện với Gemuetlich trong khi đóng vai một luật sư đến từ New York. Nhiệm vụ chủ yếu của anh ta là tìm các chỗ đặt hệ thống báo động trên cửa sổ và cửa ra vào, tìm một két sắt trên tường. những đường dây điện - mọi thứ thủ thuật để giữ cho căn phòng được an toàn. Những cái đó anh ta đã ghi chép và báo cáo. Cái bàn không thu hút anh ta nhiều lắm. Nhưng ngồi trong căn phòng dưới đại lộ Vua Saul nhiều tuần sau đó, anh ta có thể nhắm mắt lại và nhìn thấy lại mọi thứ. Từng dòng một, anh ta miêu tả cái bàn cho người nghệ sĩ. đôi khi kẻ chỉ điểm có thể nhìn vào bản vẽ, sửa lại, và tóm tắt. Người hoạ sĩ làm việc với mực ấn Độ với một chiếc bút nét nhỏ và tô màu chiếc bàn với màu nước. Sau năm tiếng đồng hồ người hoạ sĩ đã có được một mảnh giấy vẽ chi tiết trên đó có bức tranh tô màu của một cái bàn đang ở trong văn phòng của Herr Wolfgang Gemuetlich ở Ngân hàng Winkler ở Ballgasse, Vienna. Bức tranh đến tay Gidi Barzilai trong một phong thư ngoại giao từ Tel Aviv đến Đại sứ quán Israel ở áo. Ông có nó trong hai ngày. Trước đó một sự kiểm tra trong danh sách các sayanim khắp châu Âu đã làm nảy ra sự tồn tại của Monsier Michel Levy, một nhà sưu tập đồ cổ ở đại lộ Raspail, Paris, được coi là một trong số các chuyên gia hàng đầu về đồ gỗ cổ điển tại châu Âu. Không cần đợi đến đêm ngay 14 tức là ngày tại Vienna, Barzilai đã nhận được bức vẽ màu, còn Saddam Hussein lại triệu tập lần nữa cuộc họp với các bộ trưởng, tướng lĩnh và chỉ huy tình báo của mình.
|
|
|
|
|
Logged
|
Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ.. Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
|
|
|
Brest
Cựu chiến binh

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #138 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2010, 08:54:06 pm » |
|
Lần này cuộc họp vẫn được triệu tập theo yêu cầu của chỉ huy AMAM Omar Khatib, người đã thông báo tin thắng lợi của mình qua con rể Hussein Kamil của Rais, và lại là một ngôi biệt thự giữa đêm sâu. Rais bình thản bước vào phòng và ra hiệu cho Khatib báo cáo về những kết quả của mình. - Tôi có thể nói gì đây, Sayid Rais? Viên chỉ huy Cảnh sát mật giơ cả hai tay lên và để chúng rơi xuống như thể tuyệt vọng hoàn toàn. Đó là một kiệt tác trong việc biểu lộ nỗi thất vọng. Rais đã đúng, còn tất cả chúng ta đều sai. Vụ ném bom Al Qubai quả thực không phải là một sự tình cờ. Có một kẻ phản bội, và chúng tôi đã tìm ra hắn. Một sự kinh ngạc to lớn lan đi trong phòng. Người đàn ông ngồi trên chiếc ghế có nệm cao nhấc lưng hướng về bức tường không có cửa sổ phải giơ tay lên để ngừng những sự tán dương lại Cũng phải mất một lúc trật tự mới được lập lại. - Ta có nói đúng không nào? nụ cười muốn nói: chăng phải lúc nào ta cũng đúng sao? - Làm thế nào mà anh phát hiện ra thế, hả Rafeek? Rais hỏi. - Một sự phối hợp giữa may mắn và công tác điều tra, Khatib khiêm tốn lên tiếng. Thật là may mắn, chúng ta đều biết đó là món quà của thánh Allah, người luôn mỉm cười với Rais. Tiếng đồng tình lại vang lên trong căn phòng. - Hai hôm trước cuộc tấn công của bọn ném bom của lũ Beni Naja, một chốt giao thông đã được lập lên trên một con đường gần đó. Đó là một điểm canh thường lệ do người của tôi điều hành để quản lý những đi lại của bọn người sa mạc, buôn lậu hàng hóa... Các số xe đều bị ghi lại. Hôm kia tôi đã kiểm tra chúng và phát hiện phần lớn trong số những chiếc xe đó đều là xe địa phương - xe hơi cũng như xe tải. Nhưng một cái rất đắt tiền, được đăng ký ở Baghdad này. Chủ nhân đã bị tìm ra, một người có thể có lý do để đến thăm Al Qubai. Nhưng một cú điện thoại đã chắc chắn anh ta không đến cơ sở đó. Tại sao, tôi tự hỏi, liệu anh ta có ở khu vực đó không? Hassan Rahmani gật đầu. Đó là công tác điều tra cơ đấy. Và cũng chẳng hề giống với Khatib vẫn thường xuyên chỉ biết chém to kho mặn. - Thế tại sao hắn lại ở đó? Rais hỏi. Khatib ngừng lại để tăng hiệu ứng lời nói của mình. - Để ghi chép chi tiết về bãi rác ôtô, đê xác định khoảng cách từ vị trí đánh dấu gần nhất và những thứ khác mà Không quân cần để có thể tìm ra. Một tiếng thở phào vang lên trong cả căn phòng. - Nhưng điều xảy ra sau đó, Sayid Rais. Thoạt tiên tôi mời thằng cha đến gặp tôi ở trụ sở AMAM để nói chuyện thẳng thắn. Đầu óc Khatib quay trở lại về cuộc đối thoại thẳng thắn tại trụ sở dưới tòa nhà của AMAM ở Saadun, Baghdad, khu nhà được biết đến với cái tên Nhà tập. Thường thì Omar Khatib để những người dưới mình tiến hành hỏi cung, chỉ tự mình làm tùy vào mức độ nghiêm trọng và giám sát kết quả. Nhưng lần này là một vấn đề có tính tế nhị cao mà ông ta đã phái tự mình thực hiện, không cho ai khác bước qua cánh cửa cách âm của căn phòng hỏi cung. Từ nền của căn xà lim có hai cái cùm đê cách nhau một yard, và từ chúng có treo hai sợi dây xích móc vào một thanh gỗ cứng. Hai cổ tay của người bị tình nghi bị buộc vào thanh gỗ thế là anh ta bị treo bằng tay cách nhau một yard. Vì không được đứng trên chân mình, anh ta cảm thấy đau khủng khiếp. Chân anh ta bị treo cách sàn bốn inch, mắt cá chân bị buộc vào một thanh gỗ dài một yard. Người tù bị treo thành hình chữ X khiến cho mọi bộ phận cơ thể anh ta đều đau đớn; Anh ta bị treo giữa phòng, có thể bị đánh từ mọi hướng. Omar Khatib để chiếc roi mây trên chiếc bàn bên cạnh và đi vòng ra trước mặt anh ta. Tiếng thét hãi hùng của người đàn ông sau 50 đòn đầu tiên đã ngừng lại, để bật ra những tiếng rền rĩ van lơn. Khatib nhìn chằm chằm vào mặt anh ta. - Anh điên lắm, anh bạn của tôi ạ. Anh có thể kết thúc tất cả những chuyện này dễ dàng lắm mà. Anh đã phản bội Rais, nhưng ông ấy sẽ tha thứ thôi. Tôi chỉ cần lời khai của anh. - Không, tôi xin thề. có thánh Allah . . . Allah vĩ đại, tôi chẳng hề phản bội ai hết. Người đàn ông rên rỉ như một đứa trẻ con, nước mắt ràn rụa trên mặt. Anh ta thật mềm yếu, Khatib nhận ra như vậy; việc này sẽ không tốn mấy thời gian nữa. - Có chứ, anh đã phản bội. Có thánh Allah - anh có biết như thế có nghĩa là thế nào không? - Có chứ ạ, người đàn ông thì thầm. - Và anh biết ở đâu thì được an toàn không? Khatib nâng đầu gối lên đánh thật mạnh về phía trước. Người đàn ông muốn tránh nhưng không nổi. Anh ta nôn ọc cả người mềm oặt ra. - Có - gì? - Có thưa sayid. - Tốt hơn rồi đấy. Thế Cú đấm của Thượng đê được giấu ở đâu nào - kẻ thù chúng ta không thể biết được chúng phải không nào? - Không, sayidi, đó là một bí mật. Bàn tay Khatib vung lên và chìa ra trước mặt người tù. - Manyouk, manyouk. thế bằng cách nào máy bay kẻ thù lại có thể đến đánh bom và phá hủy của chúng ta vào sáng sớm? Người tù mở to mắt, cơn choáng đã làm anh ta quên đi sự hổ thẹn của lời lăng nhục. Trong tiếng A-rập manyouk có nghĩa là người đóng vai đàn bà trong các cặp tình nhân đồng tính luyến ái nam. - Nhưng không thể thế được. Chỉ có rất ít người biết được về Al Qubai... - Nhưng kẻ thù lại biết... Chúng đã phá hủy chúng. - Sayidi, tôi thề đấy. không thể được đâu. Chúng không bao giờ có thể tìm ra. Người xây dựng nó, tướng Badri, đã nguy trang nó rất kỹ mà... Cuộc hỏi cung tiếp tục thêm chừng nửa giờ nữa cho đến khi có kết luận cuối cùng. Khatib bị chính Rais cắt dứt dòng hồi tưởng. - Thế kẻ phản bội là ai vậy? - Tên kỹ sư, tiến sĩ Salah Siddiqui, thưa Rais. Một khoảng im lặng. Tổng thống chậm rãi gật đầu, như thể ông đang nghi ngờ toàn bộ con người này. - Có thể hỏi, Hassan Rahmani nói, thằng cha nó làm việc cho ai? Khatib liếc một cái nhìn nham hiểm về phía Rahmani và ngừng một lúc. - Điều đó thì hắn không chịu nói, sayid Rais. - Nhưng hắn sẽ nói, sẽ nói thôi, tổng thống nói. - Sayid Rais, Khatib thì thầm, tôi e rằng tôi phải báo cáo rằng vào cuối cuộc hỏi cung này, kẻ phản bội đã chết. Rahmani chồm lên, quên hết cả nghi thức. - Thưa tổng thống, tôi phải phản đối. Điều này cho thấy một sự kém năng lực đến khó tin. Tên phản bội hẳn phải có đường dây liên hệ với kẻ thù, con đường mà hắn ta đã gửi đi các thông tin. Chúng ta sẽ không thể biết được. Khatib ném vào anh một cái nhìn của lòng thù hận cháy bỏng mà Rahmani, người đã đọc Kipling khi còn là một đứa trẻ ở trường của ông Hartley. nhớ đến Krait, con rắn đã kêu lên "Cẩn thận, ta chết dây". - Ông có thể nói gì nào? Rais hỏi. Khatib ngẩn người! "Sayid Rais, tôi phải nói gì ư? Những người phục vụ dưới quyền tôi yêu kính ngài như cha đẻ của họ vậy - không, còn hơn thế nữa. Họ có thể chết cho ngài. Khi họ nghe nói rằng thằng cha này phản bội... thật quả là không sao chịu nổi." Ngu thế cơ chứ, Rahmani nghĩ. Nhưng Rais lại chậm rãi gật đầu. Đó là kiểu nói mà ông ta rất thích nghe. - Có thể hiểu được chứ, Rais nói. Những việc như thế đã xảy ra đấy. Còn anh, thưa tướng quân Rahmani, anh chỉ trích đồng nghiệp của mình, thế anh đã có thành công nào chưa? Có thể thấy rằng Rahmani không mấy quan tâm đến Rafeek, "đồng chí". Anh cần phải thận trọng, rất thận trọng. - Có một máy phát tại Baghdad này, sayid Rais. Anh chuẩn bị nói điều thiếu tá Zayeed đã cho anh biết. Anh nghĩ cần thêm vào câu cuối cùng. - thêm một lần chuyển tin nữa, nếu chúng tôi tóm được, tôi nghĩ chúng tôi sẽ tóm được tên gửi chúng đi". - nhưng anh quyết định có thể chờ đợi thêm. - Thế thì sau khi kẻ phản bội đã chết: Rais nói, tôi có thể nhắc lại với anh điều tôi đã nói hai ngày trước. Cú đấm. của Thượg đế đã không bị phá hủy, thậm chí còn không bị chôn vùi. 24 giờ sau vụ ném bom, tôi đã lệnh chuyển nó ra chỗ khác an toàn hơn. Mất nhiều giây những tiếng vỗ tay mới chấm dứt như đám đông đang ngưỡng mộ người chỉ huy thiên tài của mình. Ông ta nói với họ vũ khí đã được chuyển đến Pháo đài, nơi không thể với đến. và từ Qa'ala nó có thể được phóng ra, để thay đổi toàn bộ lịch sử, vào ngày đầu tiên, chiếc ủng đầu tiên của bộ binh Mỹ bước lên vùng đất thánh Iraq.
|
|
|
|
|
Logged
|
Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ.. Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
|
|
|
Brest
Cựu chiến binh

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #139 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2010, 10:32:16 pm » |
|
CHƯƠNG 20
Tin tức về việc những chiếc Tornado của Anh đã trượt mục tiêu thực của mình tại Al Qubai là một cú sốc lớn đối với người đàn ông chỉ được biết đến với cái tên Jericho. Ông ta chỉ có thể cũng tự bắt mình vỗ tay phụ họa để tỏ lòng ngưỡng mộ Rais của mình như tất cả những người khác. Trong chiếc xe bus cửa sổ đen ngòm cùng với các vị tướng khác chuyển đến trung tâm Baghdad, ông ta ngồi im lặng ở băng ghế sau, chìm vào những suy nghĩ của riêng mình. Việc sử dụng thứ vũ khí đang được cất giấu ở đâu đó - tại một chỗ có tên là Qa'ala, Pháo đài, mà ông ta chưa từng nghe đến tên và cũng không biết nằm ở đâu - có thể gây ra nhiều, rất nhiều cái chết, chắc chắn không thể nào là ít được. Chính vị thế của ông ta đã làm ông ta lạc lối. Trong ba năm liền ông ta mạo hiểm tất cả mọi thứ - sự an toàn, sụp đổ, và một cái chết ghê rợn - để phản bội lại chế độ của chính đất nước mình. Vấn dề không chỉ đơn giản là xây dựng một gia tài khổng lồ cho mình ở nước ngoài; ông ta có thể làm được điều đó bằng cách lạm dụng chức quyền của mình, ngay ở Iraq này, dù làm việc đó ở đây cũng không phải là không có nguy cơ gì. Vấn đề là phải ra được nước ngoài với một lý lịch và hình dạng khác hẳn, do những người nước ngoài trả tiền cho ông ta chu cấp: được bảo đảm an toàn khỏi các đội hành hình chuyên đi ám sát. ông ta đã nhìn thấy số phận của những người chỉ đơn giản là ăn cắp và sau đó chạy trốn; họ thường trực sống trong nỗi sợ hãi cho đến một ngày, những người báo thù Iraq tóm cổ được họ. Ông ta, Jericho, muốn cả sự giàu có lẫn an toàn, vì lẽ đó ông ta vui mừng khi người đứng sau mình chuyển từ Israel sang Mỹ. Họ có thể lo cho ông ta, do phụ thuộc vào lời cam đoan, và tạo cho ông ta lý lịch mới, cho phép ông ta trở thành một người khác với quốc tịch khác, mua cho ông ta ngôi nhà đẹp đẽ cạnh bờ biển tại Mexico, nơi ông ta sống một cuộc sống nhàn nhã và đầy đủ. Giờ đây mọi chuyện đã bắt đầu thay đổi. Nếu ông ta im lặng và thứ vũ khí đó được sử dụng, người Mỹ có thể nghĩ ông ta đã nói dối về Al Qubai. ông đã không nói dối, nhưng trong khi giận dữ họ sẽ không bao giờ quên điều đó. Tệ hơn thế nhiều, người Mỹ có thể sẽ phanh phui tài khoản của ông ta, và điều này có thể được làm vì không lẽ gì cả. Bằng cách nào đó ông ta phải báo cho họ rằng đã có sự nhầm lẫn. Nhiều nguy cơ hơn, và có thể mọi chuyện sẽ qua - Iraq thất bại, Rais bị đổ, và ông ta, Jericho, sẽ thoát khỏi nơi đây và cao chạy xa bay. Trong văn phòng riêng ông ta viết bức thông điệp của mình, vẫn bằng tiếng Arập, trên tờ giấy mỏng không để lộ mấy khoảng trống. Ông ta giải thích về cuộc họp tối đó; rằng khi ông ta gửi đi thông tin trước, vũ khí đã đúng là có ở Al Qubai. Như ông ta đã nói, nhưng trong 48 giờ sau đó khi những chiếc Tornado đã rút đi, nó đã được chuyển chỗ. Đó không phải là lỗi của ông ta. Ông ta muốn nói tất cả những gì mình biết: rằng có một địa điểm bí mật tên là Pháo đài; rằng vũ khí đang nằm ở đó, và từ Qa'ala nó có thể được phóng ra khi người Mỹ đầu tiên vượt qua biên giới lraq. Ngay sau nửa đêm, ông ta đi một chiếc xe ôtô không biển số và biến mất vào trong những đường phố tối om của Baghdad. Không ai dám hỏi ông ta đi đâu, không ai dám. Ông ta để bức thông điệp của mình dưới cán cờ trong một cái sân cũ ở đường Abu Nawas, rồi đánh dấu phấn sau nhà thờ Thánh Joseph ở khu của người Thiên chúa giáo. Lần này dấu phấn có hơi khác một chút. Ông ta hy vọng người mà ông ta không biết thường đến nhận tin của mình sẽ không để mất thời gian.
Và quả đúng là như vậy, Mike Martin rời khỏi ngôi biệt thự của người Xôviết rất sớm vào buổi sáng ngày 15 tháng Hai. Người đầu bếp Nga đã đưa cho anh một danh sách dài thức ăn tươi cần mua, một danh sách rất khó để có thể thực hiện đầy đủ Đồ ăn thức uống đang hiếm dần. Không còn những người nông dân ở nông thôn nữa; đã có những vấn đề về vận chuyển. Hầu hết các cây cầu đều đã bị phá. Vùng đồng bằng trung tâm của Iraq là một vùng đất với những con sông cung cấp nước tưới cho cây cối, là nguồn thực phẩm cho Baghdad. Buộc phải trả chi phí tàu phà để đi qua được những con sông đó, những người sản xuất nghĩ tốt hơn hết là ở lại nhà mình. Thật may mắn, Martin lại bắt đầu từ chợ gia vị ở đường Shurja, rồi đạp xe đến nhà thờ Thánh Joseph để đến con đường đi vòng sau nhà thờ. Khi nhìn thay dấu phấn, anh thiếu điều nhảy dựng lên. Dấu phấn trên bức tường đặc biệt này luôn được thỏa thuận là số 8 viết đúng chiều, với một nét ngắn đi qua giao điểm của hai đường tròn. Nhưng anh đã nói Jericho trong trường hợp thực sự khẩn cấp sẽ thay một nét ngắn bằng hai đường tròn nhỏ, mỗi cái trong một hình tròn tạo nên số 8 đó. Hôm nay dấu vết quả là như thế. Martin đạp vội đến cái sân đường Abu Nawas, đợi cho đến khi mọi người đi cả, lại dừng xe cúi xuống như thể đang sửa dép, luồn một tay vào kẽ tường, và tìm thấy cái bì thư mềm. Khoảng giữa trưa, anh trở về ngôi biệt thự, giải thích cho ông bếp đang cáu kỉnh rằng anh đã cố lắm nhưng thực phẩm hôm nay chẳng chịu đến thành phố gì cả. Anh có thể quay lại để mua vào buổi chiều. Khi đọc thông điệp của Jericho, anh cảm thấy lạnh toát như người bị một cơn sợ rất lớn. Martin thảo nhanh một thông điệp của chính mình, giải thích cho Riyadh tại sao anh cần phải tự mình đứng ra giải quyết theo cách riêng của mình. Không còn đủ thời gian cho những cuộc họp ở Riyadh và những lần gửi tin tức qua lại nữa. Điều tồi tệ nhất, đối với anh, là tin Phản gián Iraq đã biết được về một máy phát tin bất hợp pháp gửi đi những tín hiệu mật. Anh có thể không biết họ đã ở gần mình đến đâu, nhưng anh phải đặt giả thuyết không thể tiếp tục gửi tin với Riyadh được nữa. Do đó anh phải tự mình ra quyết định. Martin đọc thông điệp của Jericho bằng tiếng Arập trước, rồi dịch sang tiếng Anh vào máy thu. Anh đọc luôn vào đó thông điệp của chính mình và chuẩn bị để gửi đi. Anh không thể gửi tin đi cho đến đêm muộn - đêm luôn được chọn vì cả nhà Kulikov đều đi ngủ sớm. Nhưng, cũng giống như Jericho, anh có cách liên lạc trong những trường hợp khẩn cấp Đó là một lần chuyển tin với một âm thanh dài và sắc, trong trường hợp này, là một tiếng huýt gió cao, trên một tần số khác hẳn, so với dải VHF vẫn thường sử dụng. Anh kiểm tra lại xem người lái xe đã đi cùng Bí thư thứ nhất Kulikov đến đại sứ quán ở trung tâm thành phố chưa và người quản gia Nga cùng vợ mình đã đi ăn trưa. Rồi. dù có nguy cơ bị lộ, anh vẫn dựng đĩa vệ tinh ra gần cứa ra vào mở rộng và gửi đi tiếng còi dài. Trong căn phòng trực đài, một phòng ngủ trước đây trong ngôi biệt thự của SIS tại Riyadh, một ánh đèn lóe lên. Đã là hai giờ rưỡi chiều. Người trực điện, đang nhận những thông tin thường ngày giữa ngôi biệt thự và London, ngừng việc mình đang làm, kêu to qua cánh cửa, và mở máy Nhận với tần số ngày hôm đó. Kỹ thuật viên thứ hai thò đầu vào cửa. - Cái gì thế - Gọi Steve và Simon nhanh lên. Tin của Râu Đen đấy, khẩn lắm. Người đó biến đi. Martin cho Riyadh 15 phút, rồi chuyển đi bức thông diệp chính. Riyadh không phải duy nhất có đài bắt được tín hiệu này. Ngoài thành phố Baghdad, một đĩa vệ tinh khác, đang chầm chậm quét dải bằng VHF, cũng bắt được một phần trong đó. Bức thông điệp dài đến mức, dù đã được làm ngắn đi, vẫn kéo dài tới 4 giây. Những người nghe trộm Iraq bắt được 2 giây cuối và đã định vị dược. Ngay khi gửi đi, Martin đóng ngay máy lại và giấu nhanh thiết bị của mình xuống dưới những tấm tôn ở sàn nhà. Anh đang làm thì nghe có tiếng bước chân trên sỏi. Đó là người đầu bếp người Nga, vốn tốt bụng, đang đi qua sân để cho anh một điếu thuốc Balkan. Martin nhận nó với trống ngực đập dữ dội và thì thầm "Shukran". Người Nga, tự hào vì lòng tốt của mình, quay trở lại ngôi nhà. "Tội nghiệp chưa kìa". Anh nghĩ. "Đúng là cuộc đời". Khi ở lại một mình, kẻ tội nghiệp bắt đầu viết những ký tự Arập thật sít trên một tờ giấy viết thư anh để dưới cái hộp. Trong khi anh đang làm thế, thiên tài về phát thanh tên là thiếu tá Zayeed đang dò trên một bản đồ thành phố có tỉ lệ xích cực kỳ cao, đặc biệt về quận Mansour. Khi kết thúc những tính toán của mình, anh ta kiểm tra lại lần nữa cho chắc ăn rồi gọi cho thiếu tướng Hassan Rahmani ở đại bản doanh đóng tại Mukhabarat, cách ngôi nhà hình viên kim cương ở Mansour 500 yard mà anh đang dò tìm bằng mực xanh. Cuộc gặp gỡ được ấn định vào lúc 4 giờ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Bài ca tôi không quên, tôi không quên đất rừng xứ lạ.. Bài ca tôi không quên, tôi không quên những người đã ngã..
|
|
|
|