Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 05:35:33 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Gestapo  (Đọc 117641 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #130 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2010, 05:41:33 pm »


Kết quả thứ nhất của chỉ thị ấy là nhấn mạnh thêm sự kiểm soát của trung ương S.S lên toàn bộ các cơ quan cảnh sát, vì tổ chức R.S.H.A ngay từ lúc thành lập, chỉ là một cơ quan của Chính phủ, là một bộ phận của Bộ nội vụ và là một cơ quan chủ yếu thuộc S.S gắn với sự chỉ huy tối cao của S.S.

Hai bộ phận này đã làm tăng thêm sức mạnh cho việc thống nhất chỉ huy. Tình trạng lẫn lộn về hành chính ấy thường là kiểu của Quốc xã quen sử dụng.

Tiến sĩ Best đã cố gắng giải thích: “Lực lượng S.S và cảnh sát hợp thành một đơn vị thống nhất cùng trong một cơ cấu và hành động, mà không tổ chức riêng nào của S.S và cảnh sát lại mất tính cách hành động của mình và đặt vị trí của họ dưới những ngành quan trọng khác nhau của đảng và của chính quyền nhà nước. Tuy có những quan điểm khác nhau, nhưng chúng có chung một bản chất”.

Ngay khi thành lập, R.S.H.A đã có một sắc lệnh khác chỉ định các chỉ huy của từng bộ phận và vẫn giữ những chỉ huy cũ theo nhiệm vụ của họ. Như vậy Heydrich cũng là chỉ huy của R.S.H.A một cách hợp pháp, và cái mớ tổ chức lộn xộn ấy chỉ là vô nghĩa.

Việc dùng tên gọi R.S.H.A chỉ là cách ngụy trang để tránh cái tên gọi quen thuộc Gestapo. Và cũng vì lý do ấy mà những nhân viên điều tra và viên chức của R.S.H.A đều mang trên ống tay áo quân phục dải băng phân biệt của S.D, dù họ thuộc về Gestapo hay về Kripo.

Phù hiệu ấy có một ý nghĩa là người dùng nó thuộc về một tổ chức riêng biệt của S.D hay của S.S hợp thành R.S.H.A, và sáp nhập vào S.S thành một khối.

R.S.H.A là một tổ chức cảnh sát khổng lồ, tập trung các tin tức, nắm bắt những lời xì xào thù địch nhỏ nhạt nhất rồi thổi phồng nó lên, cho có ý nghĩa hơn, loan tới tai tên chỉ huy cao nhất của bộ máy là tên trùm S.S Heinrich Himmler.

Theo một nghĩa khác của đường vòng quanh này là bộ máy ấy phải nắm được mọi nấc thang của những ý muốn nhỏ nhất của tên trùm Himmler và truyền đi mệnh lệnh của hắn tới nơi xa nhất của thế giới quốc xã và đảm bảo thực hiện mệnh lệnh ấy nhanh nhất.

Nhưng trong thực tiễn R.S.H.A lại đã tỏ ra là bộ máy hơi khó điều khiển. Sự xé nhỏ quá mức, sự ngăn cách bởi luật lệ bí mật, đã làm cho nó mất nhiều tác dụng.

Phần khác sự tách biệt giữa điều tra và việc thi hành, vì mọi công việc thu thập tin tức phải qua tay nhiều cấp liên tiếp trước khi đến được tay người sử dụng tin tức, đã dẫn đến những cách nhìn sai lệch khác nhau của những người có trách nhiệm.

Nhóm người chịu trách nhiệm tổng hợp tin tức, không trực tiếp với thực tế, chỉ là những kẻ cạo giấy quan liêu. Trong tay họ, mọi báo cáo dù có giá trị hay không cùng bị đánh đồng. Khi tin tổng hợp tới tay tên chỉ huy cao nhất thì chỉ còn là sự tổng hợp trống rỗng không còn mang giá trị đúng nữa. Có rất nhiều báo cáo xa rời với thực tế. Cái khái niệm công việc của cảnh sát là quan liêu giấy tờ, là nguồn gốc của những sai lầm mà các cơ quan của Đức đã phạm phải để dẫn đến biện pháp kém tác dụng, ngay cả những biện pháp dã man nhất. Sự trái ngược trong “siêu tổ chức” của R.S.H.A đã gây nhiều thất bại cho Đức.

Sự phức tạp của R.S.H.A đã trở thành một hình thức đặc biệt cho những người làm việc cho cơ quan này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #131 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2010, 05:42:08 pm »


Một bản hướng dẫn của Heydrich ra ngày 18-5-1940 buộc các nhân viên trẻ mới vào R.S.H.A phải qua những thời kỳ thực tập của nhiều bộ phận khác nhau. Tên Quốc xã S.S trẻ mới tốt nghiệp đại học với tấm bằng luật khoa, cũng phải qua ba thời kỳ tập sự liên tiếp: 4 tháng làm việc ở Kripo để học những điều cơ bản về cảnh sát và những khái niệm về khoa học, qua 3 tháng ở S.D và 3 tháng ở Gestapo. Hắn phải có được cái nhìn tổng quát toàn bộ hoạt động của guồng máy hiện hành và phải chờ đợi công việc được giao. Hắn sẽ được nhận làm việc tùy theo khả năng cá nhân và sự cần thiết của các bộ phận trong bảy Ämt, nghĩa là một trong bảy phòng, ban, sở của R.S.H.A chẳng hạn như Gestapo là ban IV của R.S.H.A.

Tổ chức R.S.H.A mở rộng hoạt động trong các nước đã bị Đức chiếm đóng hay bị phụ thuộc vào nước Đức.

Các cơ sở đặt ở những nước ấy đều rập khuôn theo các cơ quan của R.S.H.A trung ương, nhưng với qui mô nhỏ hơn.

Dưới cách thức ấy, toàn Châu Âu đều biết đến Gestapo.

Cũng chẳng phải tình cờ hay vì điều gì mà tên gọi Gestapo đã có sức mạnh đáng sợ, vượt trội hơn các bộ phận khác của R.S.H.A, và ngay cả R.S.H.A cũng không được quảng đại quần chúng biết đến như đã biết về Gestapo.

Gestapo là công cụ duy nhất, là tổ chức chính, đáng sợ hơn cả, là cái trục của bộ máy mà các bộ phận khác phải xoay quanh nó.

Nhờ có nó mà những công việc thu thập tin tức, những tổng hợp, những tài liệu về mọi mặt, những số liệu thống kê, những nghiên cứu khoa học và các phương pháp được các phòng, ban của R.S.H.A noi theo, để tìm ra cách dứt điểm của mình.

Chính nhờ có Gestapo mà những thống kê, những danh sách mở ra ở khắp nơi đã khuấy động một khối lớn người bị vây dồn như con mồi, bị treo cổ, tra tấn cực hình, bị làm nô lệ hay bị thủ tiêu.

Vào thời kỳ mà Gestapo hoạt động tích cực nhất, nghĩa là vào mùa xuân năm 1944, thì các đơn vị Gestapo hoạt động ở ngoài nước có 25 ban chính, 65 cơ sở và những chi nhánh của 300 cơ sở và 850 đồn cảnh sát biên phòng (Grenz Polizei).

Theo biên bản của tòa án Nuremberg, tên Kaltenbrunner, kẻ kế tục Heydrich và là tên chỉ huy cuối cùng của R.S.H.A cho biết con số người thường trực Gestapo đã lên tới từ 35.000 đến 40.000 vào cuối năm 1944, và qua sự luận tội của tòa án Nuremberg, thì số người lên tới 45.000 đến 50.000 người, cho thấy sự phân bổ phỏng chừng của tổ chức Gestapo. Nhưng con số này có thể coi là đúng vì Gestapo đã tuyển mộ trong quý II năm 1944 thêm nhiều người cho những bộ phận khác của R.S.H.A và cho các tổ chức khác nữa.

Ngay từ lúc đầu thành lập R.S.H.A, Gestapo đã nhận gộp vào cơ cấu của S.D.

Müller đã theo đường lối chính trị của Gestapo là dựa vào thế lực của Himmler và Heydrich.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #132 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2010, 05:42:29 pm »


Cuối năm 1941, đầu năm 1942, Müller đã cho các nhân viên Gestapo mở rộng tầm hoạt động ra nhiều nước ngoài còn chưa bị Đức chiếm đóng, dưới nguyên cớ là để tăng cường chống gián điệp, đòi lại sự độc lập vì trước đây nó phụ thuộc vào S.D Ausland.

Kế hoạch của Müller bị thất bại. Hắn chỉ được quyền tìm hỗ trợ của cảnh sát chính thức hay bí mật, cài người ở nước ngoài, yêu cầu họ cung cấp tài liệu tin tức, đưa ra những chỉ thị cho số nhân viên này, nhưng không vượt qua được sự can thiệp của ban VI (S.D nước ngoài). Để đảm bảo cho sự vượt trội và mở rộng khả năng kiểm soát ngay từ đầu cuộc chiến tranh, Gestapo đã đưa những người chủ chốt vào tổ chức của Geheime Feld Polizei (G.F.P) - Cảnh sát mật ở nông thôn, dưới sự chỉ đạo của cục O.K.W.

Tiếp đó nhờ những người mà Gestapo đã giới thiệu vào ban cảnh sát mật ở nông thôn, Heydrich đã tuyển số người của G.F.P ở những nước đã bị Đức chiếm, được 5.000 người, chuyển giao cho Gestapo. Đúng ra nhân viên của Gestapo chỉ đạt khoảng 32.000 người.

Ngày 1-10-1944, Himmler ra lệnh chuyển nhân viên thuế quan tuyến biên phòng sang Gestapo, dù lúc đó thuế quan vẫn thuộc về Bộ tài chính.

Cảnh sát biên phòng gọi là Grenz Polizei đã có phiên chế từ lâu. Việc chuyển giao nhân viên thuế quan cho Gestapo chứng tỏ những tên chỉ huy của cơ quan này tham lam vô độ, muốn nắm giữ tất cả quyền lực vào trong tay chúng. Sau đó Gestapo thu hút thêm một bộ phận của Abwehr (tình báo quân đội) vào cuối năm 1944, dù việc sáp nhập này không cần thiết lắm, và chỉ trong vài tháng sau chế độ Quốc xã đã sụp đổ.

Sự thôn tính này của Gestapo chống lại Abwehr chứng tỏ đặc quyền của nó.

Để có thể kiểm soát mọi hành động của các nhân viên, đầu năm 1940, Himmler đã ký một lệnh có hiệu lực buộc tất cả các lực lượng cảnh sát của Đức phải đặt dưới quyền xét xử của S.S. Quyết định này có tác dụng nắm giữ thẩm quyền của tòa án, và đặt mọi cuộc điều tra nhằm vào các nhân viên cảnh sát có vi phạm, đều chỉ phải qua S.S.

Những cuộc điều tra và xét xử phải qua một bộ phận chuyên trách của cơ quan trung ương S.S. Với cách làm như vậy, mọi việc kiểm soát chỉ phải qua người chỉ huy tối cao của S.S là Himmler, ngoài ra không có một cơ quan nào được phép làm việc đó.

Điều này, càng chứng tỏ thêm quyền lực của Himmler, là trọng tài của tất cả các công việc nội bộ S.S và hắn muốn xét xử ai đều tùy ý. Hắn có thể bắt ngay một người trước khi có tội trạng. Hắn cũng có thể xét xử, cách chức, không cho xử tử đối với thủ phạm, hay đặc xá tù nhân.

Từ đầu năm 1940, Himmler đã hoàn thành xong công việc đưa tổ chức S.S đáng sợ của hắn vào hoạt động, tổ chức mà hắn có công rèn giũa từ 6 năm trước.

Nhờ vào chiến tranh, tổ chức S.S càng có phạm vi hoạt động rộng rãi hơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #133 vào lúc: 16 Tháng Tám, 2010, 07:47:50 pm »


PHẦN THỨ TƯ
GESTAPO TRONG CHIẾN TRANH - 1940

1. Ở Ba Lan

Mùa đông năm 1941-1942, khi đội quân S.S thực hiện các cuộc tiêu diệt dân chúng ở các vùng đất đai Liên Xô bị chiếm đóng, Himmler cảm thấy ngay cả trong hàng ngũ S.S cũng tỏ ra có chút hoang mang trước những hành động man rợ nên đã đọc bài diễn văn trước các sĩ quan S.S nhằm lên dây cót tinh thần cho chúng. Hắn nói: “Đã có nhiều người trong số các anh nghĩ đến việc đem đi đày dân chúng mà không cần phải bắn giết họ. Tôi cũng đã có những ý nghĩ như vậy khi tôi thấy công việc khó khăn của anh em S.S đang phải thi hành ở đây. Nhưng sự việc này cũng đã xảy ra ở Ba Lan trong khi nhiệt độ xuống đến âm 40oC, chúng ta đã chuyển hàng trăm ngàn người đến nơi mà ở đó chúng ta đã phải xử tàn ác với họ. Các anh đã phải xả súng bắn chết hàng chục ngàn người Ba Lan và đã nhanh chóng quên ngay việc này”.

Ba Lan là chiến trường thử nghiệm các cách thức của Quốc xã. Ở đây nhiều thành phố và làng mạc được “chính quyền” đặt vào tay tên khát máu Frank, cũng bị chúng thực hiện những hành động man rợ. Chính vì những việc làm tàn bạo đó mà toàn Châu Âu đã bị triệt hạ tận gốc.

Ngày 7-10-1939 sau khi chiếm đóng Ba Lan, Hitler đã ký một sắc lệnh, Goering và Keitel cùng ký tiếp, chỉ định Himmler là “ủy viên Quốc xã” và chịu trách nhiệm “Đức hóa” Ba Lan.

Theo sắc lệnh này, Himmler chịu trách nhiệm giới thiệu vào Quốc xã những người Đức nước ngoài, “phải xóa bỏ những ảnh hưởng tai hại của những người nước ngoài biểu hiện nguy hiểm cho Quốc xã và cho cộng đồng dân chúng Đức”, xây dựng thuộc địa mới của Đức, đưa họ đi theo con đường tự do “tốt nhất”. Himmler đã giải thích những điều chính: “Chúng tôi không có bổn phận Đức hóa các nước Đông Âu như dạy họ nói tiếng Đức và tuân theo luật của Đức. Chúng tôi chỉ chăm sóc đến những người Đức thuần túy sống ở Đông Âu.”

Đấy là hậu quả tất yếu của những “nguyên tắc của S.S về dòng máu”.

Việc quét sạch những nòi giống nước ngoài ra khỏi vùng đất đã sáp nhập vào nước Đức, là mục đích chủ yếu phải thực hiện ở các nước phía Đông nước Đức.

Để thúc đẩy mau việc “Đức hóa”, Himmler ra lệnh dùng những biện pháp cứng rắn để ngăn chặn sự phát triển trí tuệ tinh hoa của người Ba Lan. Hắn cho xóa bỏ những trang trại của người Ba Lan, lấy đất đai của họ phân chia cho những người Đức chính thống, và phát triển nòi giống Đức bằng cách cho pha trộn hai giống người Đức và Ba Lan. Hắn lạnh lùng tuyên bố: “Tôi thấy cần phải đưa về nước Đức con cái của họ, buộc chúng phải xa môi trường xung quanh bằng cách bắt cóc chúng nếu thấy cần thiết. Hoặc có thể dùng nòi giống tốt của chúng tôi để tạo ra những đứa trẻ có vị trí ở trong lòng dân tộc chúng tôi. Thưa các ông! Có thể các ông thấy điều đó là ác độc, nhưng bản chất của nó đã là độc ác và chúng tôi phải làm như thế”.

Chính vì thế mà người Ba Lan và người Do Thái thấy mình bị trưng dụng, bị tước đoạt tất cả của cải, nhà cửa và đất đai. Những thứ này được giao cho người Đức thuần chủng, là những tên thực dân đang sống ở nước ngoài, để chúng đem những của cải ấy về nước Đức.

Những người Do Thái bị trưng dụng, những người bị xếp vào loại chống đối đều bị đưa vào trại tập trung. Với những người thuộc trường hợp bất lợi bị đưa về Đức làm việc trong những xưởng sản xuất vũ khí hay làm nông nghiệp. Đôi khi chúng cũng sử dụng họ như là những nông nô cho chính những kẻ đã tước đoạt ruộng đất của họ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #134 vào lúc: 16 Tháng Tám, 2010, 07:48:28 pm »


Qua sắc lệnh ngày 12-12-1940, Himmler đã lập ra “danh bạ về nòi giống”, trong đó con người được xếp nhóm:

1/ Người Đức thuần chủng được hoạt động chính trị trong một tổ chức Quốc xã.

2/ Người Đức thuần chủng không có hoạt động chính trị.

3/ Con cháu người Đức thuần chủng hay những phụ nữ lấy chồng là người Đức thuần chủng.

4/ Con cháu người Đức đã nhập vào nước Ba Lan, bị Ba Lan hóa và bị coi như những kẻ phản bội, sẽ phải chịu sự cải tạo để trở lại nòi giống Đức.

Những người trốn tránh cách đối xử ấy, hay những người do Gestapo phát hiện mà chưa ghi vào sổ “danh bạ nòi giống” bị chuyển đến trại tập trung.

Việc chấp hành cụ thể các biện pháp “Đức hóa” và việc cai trị được ủy quyền cho tên chỉ huy R.S.H.A là Heydrich.

R.S.H.A tổ chức và thực hiện những việc trưng dụng, những việc di cư, việc chuyển những người bị đẩy sang nước Đức, hay những tên thực dân của nước khác đang sống trên các vùng đất của Ba Lan phụ thuộc vào Đức, tất cả đều đặt dưới quyền của Hans Frank.

Frank nói: “Chúng tôi phải tống cổ bọn Do Thái ra khỏi nơi chúng tôi thấy cần thiết.”

Để làm việc này dễ dàng, chúng đã lập một trại hủy diệt ở Auschwitz gần Cracovie. Trại này nằm ở giữa một đầm lầy độc hại là nơi hàng triệu người Do Thái đã bị thủ tiêu trong 5 năm liền. Gần trại Auschwitz có thêm hai trại mới thành lập ở Maidanek và Treblinka.

Trại Treblinka là nguyên mẫu về trại hành quyết cho một số trại khác sau đó.

Trong vòng một năm, R.S.H.A đã thi hành lệnh của Himmler đuổi 1.500.000 nông dân Ba Lan và Do Thái ra khỏi vùng đất Ba Lan bị chiếm đóng, và chuyển họ tới khu vực chính quyền trung ương Đức quản lý. Tại đây họ sống trong những điều kiện cực kỳ tồi tệ.

Đến cuối tháng 5-1943, những cuộc trưng dụng đã đạt tới con số 702.706 trang trại với 6.367.971 ha đất, không kể đến những vụ trưng dụng khác ở Dantzig, ở Tây Phổ, ở Poznan, Zichenau và ở Silésie, mà sau này người ta mới biết được qua những tài liệu thu được khi Quốc xã đầu hàng Đồng minh. Trên những miền đất đó, có gần 500.000 người Đức thuần chủng được đưa đến định canh. Con số này bằng 1/3 số người Ba Lan bị trưng dụng đất đai, của cải.

Tổ chức Volksdeutsche Mittelstell còn đặt ra một mô hình mới, dưới quyền kiểm soát của Himmler, chúng tổ chức cho những người bị tập trung tham gia vào các xí nghiệp sản xuất như kiểu “trung tâm tị nạn” đặt ở gần nơi làm việc của các cơ quan cảnh sát và S.S.

Những người Ba Lan bị chuyển về Đức bị đưa về các trung tâm ấy với thân phận nô lệ. Lần đầu tiên, những lý thuyết của Himmler, phấn đấu cho nền Quốc xã tương lai, được áp dụng dưới sự kiểm soát của Gestapo. Những người Ba Lan làm công nông nghiệp bị lệ thuộc vào 15 điểm. Trước hết là quy định: “Các nông dân người Ba Lan không được quyền khiếu nại. Do đó không có ban quản lý chính thức nào nhận những bản kháng nghị ấy để giải quyết.”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #135 vào lúc: 16 Tháng Tám, 2010, 07:48:55 pm »


Những người nô lệ Ba Lan bị giao cho những ông chủ sai khiến với quyền hành tuyệt đối. Họ không được phép rời bỏ nơi cư trú hay nơi đang làm việc. Mùa đông họ phải làm việc từ 6 giờ sáng cho đến 20 giờ tối là giờ giới nghiêm, mùa hè thì từ 5 giờ sáng cho đến 21 giờ. Họ không được quyền dùng xe đạp để đến nơi làm việc và phải tuân lệnh các ông chủ. Họ bị cấm đến các nhà thờ hay các đền, rạp chiếu bóng, rạp hát hay các nơi công cộng, các quán ăn. Họ cũng không được phép quan hệ tình dục với những phụ nữ hay cô gái, mặc dù được những người này đồng ý. Họ không được quyền hội họp, không được đi xe buýt hay các phương tiện vận chuyển khác, không được đi tàu hỏa... Họ bị cấm tuyệt đối việc làm thay cho người làm công khác. Nếu họ làm trái những điều cấm trên, các ông chủ có quyền bắt họ chịu những sự trừng phạt về thể xác. Khi ấy người chủ không cần giải thích và cũng không phải chịu trách nhiệm trước chính quyền.

Họ cũng còn được răn bảo là phải rời xa gia đình. Một người nông nô, người làm thuê Ba Lan nếu phạm tội thì người chủ thuê phải tố giác ngay để tránh mọi hậu quả xấu chống lại người chủ. Nếu họ phạm vào các tội như phá hoại ngầm, lãn công, làm việc tắc trách, cư xử hỗn láo, họ sẽ bị trừng phạt.

Người chủ thuê không tôn trọng việc giữ một khoảng cách cần thiết với người làm công Ba Lan, cũng sẽ phải chịu sự trừng phạt nghiêm khắc. Luật lệ này áp dụng cho cả việc người chủ thuê có quan hệ với phụ nữ người Ba Lan. Có nghĩa là họ không được tiếp xúc, giao dịch với bất kỳ người Ba Lan nào ngoài công việc.

Những người đàn bà Ba Lan được cử đến hầu hạ cho các gia đình của các nhân viên N.S.D.A.P, thường mỗi gia đình nhận một người hầu gái và không phải trả tiền công. Những người phụ nữ Ba Lan này bị coi như nô lệ để “giải nỗi buồn tình cảm thay cho các bà nội trợ Đức”. Có tới 400.000 đến 500.000 phụ nữ Ba Lan làm việc này. Họ cũng chịu cuộc sống cực nhọc như những người thợ nông nghiệp. “Những hầu gái ở các vùng phía Đông chỉ được phép rời khỏi nhà để đi làm công việc hầu hạ, ngoài ra không được phép làm việc gì khác. Để thưởng cho những người hầu gái, gia chủ có thể cho họ nghỉ việc về nhà ba giờ mỗi tuần. Giờ nghỉ phải kết thúc trước 20 giờ tối, sau đó họ phải trở về nhà chủ.”

Những điều cấm đối với đàn ông Ba Lan cũng được áp dụng cho những người đàn bà khốn khổ nói trên, nghĩa là “khi ra khỏi nhà phải mang theo thẻ lao động được coi như giấy thông hành”.

Như vậy cái từ “nô lệ” đối với họ cũng không phải là quá đáng. Và người ta cũng không thấy xấu hổ khi nói rằng người Ba Lan làm công không còn là công dân lương thiện của một nước có nền văn minh lâu đời. Những tên chủ người Đức đã tự đặt ra những quy định về quyền con người cho đám người mà chúng có quyền định đoạt sống, chết. Bảy năm sống dưới chế độ Quốc xã, đủ để chứng tỏ sự nô lệ của họ dưới những quy định quái đản như thế. Quả là các xưởng công nghệ Đức đã đi quá xa con đường hà khắc.

Bọn Gestapo giám sát nghiêm ngặt việc thực hiện các điều lệ. Và hàng trăm ngàn trẻ em, thanh niên nam nữ đã phải sống chìm đắm trong nỗi khổ vật chất và tinh thần. Còn có hàng chục ngàn trẻ em dưới 8 tuổi đã bị suy dinh dưỡng vì không có đủ ăn, bị bọn chủ Quốc xã sử dụng vào công việc đẩy xe cút kít chở hàng trong các trại lao động luôn có bóng dáng những tên Gestapo lượn đi lượn lại.

“Công việc của Gestapo là nặng nhọc”, đến nỗi lời tên Frank trả lời qua cuộc phỏng vấn của Kleist, phóng viên báo Volkischer Beobachter ngày 6-2-1940, có thể làm thay đổi bằng sự nhạo báng về các biện pháp khủng bố do Von Neurath, tên cai ngục miền Bohême - Moravie đã thực hiện.

Neurath đã cho dán lên những bức tường ở Tiệp Khắc những tấm áp phích đỏ tuyên bố việc hành hình 7 sinh viên Tiệp; Frank cũng nói với những lời lẽ: “Nếu tôi cho dán những tấm áp phích mỗi lần tôi hành quyết người Ba Lan thì các khu rừng ở Ba Lan không còn đủ để làm giấy.”

Ngày 25-1-1940, tên Frank đã đày một triệu người lao động Ba Lan vào các trại lao công. Để đạt được kế hoạch này, Gestapo đã tổ chức nhiều cuộc vây ráp và kết quả không ngờ là đến tháng 8-1942 chúng đã bắt được 800.000 người.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #136 vào lúc: 16 Tháng Tám, 2010, 07:49:43 pm »

*

Ngày 10-5-1940, khi sự chú ý của thế giới còn nhằm vào Ba Lan, đế chế Quốc xã lại đã có màn kịch khác. Quân đội Đức ở miền Tây tiến vào Hà Lan, Bỉ, rồi Pháp, và những địa danh này trở thành điểm chú ý của giới quan sát quốc tế. Frank viết về sau này: “Lợi dụng dư luận quốc tế đang chú ý đến các sự kiện ở mặt trận miền Tây, tôi đã cho thủ tiêu hàng ngàn người Ba Lan, bắt đầu từ những trí thức chủ chốt Ba Lan”.

Ý định thanh toán này đã có từ tháng 9-1939, nhưng để không gây ra một sự phản ứng của dư luận quốc tế, chúng phải chờ dịp thuận tiện để tiến hành. Nhưng chúng cũng đã sắp xếp những chứng cứ ngoại phạm chắc chắn.

Vào giữa tháng 5, Frank đề nghị lên Joseph Bürhler, bộ trưởng Bộ ngoại giao và Seyss - Inquart, bộ trưởng Quốc xã, xin ngừng những hành động chi tiết trong chiến dịch mang tên Hành động A-B (Ausserordentliche Befriedigungs-Aktion - Hành động bình định đặc biệt). Chiến dịch được thực hiện dưới cái cớ là để ngăn chặn cuộc nổi dậy nguy hiểm cho an ninh của các đội quân.

Cũng như mọi lần, từ tám tháng trước, Hitler đã có “trực giác thiên tài” về các sự kiện sẽ xẩy ra, để chuẩn bị các cách cứu chữa.

Hành động A-B được tín nhiệm tuyệt đối, giao cho những tên chỉ huy R.S.H.A ở Ba Lan như viên tướng Krüger, chỉ huy S.S và cảnh sát, Streckenbach, đại tá chỉ huy lữ đoàn Ämt I của R.S.H.A, có sự giúp đỡ của các toán S.S đặc biệt từ Đức gửi tới.

Đầu tháng 11-1939, Gestapo đã bắt giữ các giáo sư ở trường đại học Cracovie, đưa họ đến các trại tập trung ở trong nước Đức Quốc xã. Số trí thức bị thủ tiêu trong chiếc dịch Hành động A-B đều là những trí thức tầm cỡ nhất và việc chuyển họ về Đức là rất phiền nhiễu, cầu kỳ. Chúng đã quyết định làm giảm nhẹ các hành động bằng cách mà theo như tên Frank: “Chúng tôi không cần thiết đưa những phần tử đó vào trại tập trung của Đức, bởi vì làm như vậy sẽ kéo theo những khó khăn về giấy tờ, thư tín không cần thiết với gia đình họ, cần phải loại bỏ các thủ tục rườm rà ấy và đó là cách giản đơn nhất.”

Frank đã nói như thế trong cuộc họp giữa hắn với Krüger và Streckenbach.

Chúng bắt giữ hàng loạt người, sau đó áp dụng cách xét xử thật nực cười. Chúng lập ra một tòa án giả mạo, hoàn toàn do bọn Gestapo làm trọng tài. Ngày 30-5, Frank ra chỉ thị cuối cùng: “Tất cả mọi dự định can thiệp vào chiến dịch Hành động A-B của các nhà chức trách với lực lượng cảnh sát đều phải coi như là sự phản bội nặng nhất đối với nhà nước và mọi quyền lợi của người Đức. Nhiệm vụ cao cả của tôi là không quan tâm tới những công việc ấy. Hành động A-B chỉ thuần túy được các chỉ huy cảnh sát và S.S của ông Krüger và tổ chức của ông thực hiện. Đây chỉ là một xí nghiệp bình thường (chỉ trại tập trung các trí thức Ba Lan) cần thiết phải tiến hành ngoài khuôn khổ các thủ tục bình thường.” Như vậy, bị tước bỏ mọi thủ tục bình thường, bị từ chối mọi ân huệ, các nhà trí thức Ba Lan đã bị Gestapo và S.S tàn nhẫn thủ tiêu. Khi mọi việc đã làm xong, Streckenbach lại trở về Berlin với những công việc hành chính hàng ngày của hắn. Trong bữa tiệc tiễn đưa Streckenbaeh, Frank đã đọc bài diễn văn ngắn cảm động để cảm ơn và ca tụng sự phối hợp hành động của Streckenbach. Trong bài diễn văn ấy có một câu thật khủng khiếp: “Điều mà ông lữ đoàn trưởng Ämt I và người của ông đã làm là không thể nào quên được, và ông không việc gì phải xấu hổ”.

Streckenbach và người của hắn “không việc gì phải xấu hổ” Nhưng làm sao người ta lại có thể quên được những giờ kinh hoàng mà chúng là những kẻ phải chịu trách nhiệm.

Sau đó, Gestapo càng tăng cường mở rộng quyền lực. Frank đã ký một sắc lệnh ngày 2-10-1943 tự cho hắn có quyền hợp pháp làm những điều kinh khủng nhất. Cũng từ ngày đó hơn 17.000 người Ba Lan bị xử bắn như là những con tin không cần phải qua xét xử. Tên Frank đã bình luận như sau: “Chúng tôi không phải chờ đợi điều gì khi chúng tôi xử bắn 17.000 người, bởi vì đấy chỉ là những nạn nhân chiến tranh”.

Báo chí nước ngoài lại đã làm ầm ĩ quanh vụ thanh toán những con tin như thế, và họ tìm cách để gây khó khăn. Nhưng bọn Gestapo đã làm thay đổi mọi thứ bằng cách gọi việc đó với cái tên “con tin” theo đúng nghĩa chính thức. Chúng hợp pháp hóa các vụ ám sát bằng cách ra một sắc lệnh, ký ngày 2-10-1943, lập những tòa án khác thường, do những tên của Gestapo chủ trì. Theo khoản 4 của đạo luật thì: “Những tòa án khác thường này của cảnh sát an ninh phải có mặt người chỉ huy của S.S thuộc ban lãnh đạo của Gestapo và của S.D, cùng hai thành viên khác cũng của những lực lượng này.”

Khoản thứ 6 của đạo luật còn ấn định: “Việc kết án của tòa án sẽ được thi hành ngay tại chỗ.”

Và như vậy Gestapo có thể xử bắn người hết sức mau chóng. Chúng tìm kiếm những người mà chúng gọi là “kẻ thù của chế độ Quốc xã”, bắt giữ, xét xử nhanh chóng rồi hành quyết họ ngay, không cần chờ có sự kiểm soát nào khác của bên ngoài.

Từ khi có sắc lệnh ấy, hàng trăm người Ba Lan bị giam giữ trong các trại giam, đã bị xét xử rồi bị bắn chết ngay.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #137 vào lúc: 16 Tháng Tám, 2010, 07:56:20 pm »


Trong khi Gestapo và S.D gieo rắc nỗi kinh hoàng ở Ba Lan, tên Heydrich vẫn không lơi lỏng những công việc khác của hắn.

Hành động của hắn đã đụng đến một vài đơn vị quân đội vào lúc chuẩn bị tấn công Tiệp Khắc. Mọi việc chuẩn bị của quân đội không thoát khỏi tai mắt của bọn S.D. Bọn chúng nắm được tin về chuyến đi của tướng Kleist đến London vào tháng 8-1938, nhưng chưa hiểu lắm về cá nhân vị phái viên của những người mưu phản và đã không rõ chính xác nhiệm vụ của tướng Kleist.

Tên Himmler chỉ biết rằng phái viên Kleist có mang một lá thư gửi cho Churchill nhưng cuộc điều tra không mang lại kết quả nào. Tháng 8-1939, ngoài việc chuẩn bị tấn công Ba Lan, giới quân sự muốn hoạt động trở lại, nhưng ý đồ chỉ mới khởi động thì Himmler và Heydrich đã quyết định đưa việc này ra ánh sáng nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ có thể thúc đẩy sự chống đối tiềm tàng của quân đội và việc cung cấp tài liệu cho các cơ quan do thám của Anh.

Cuộc điều tra được tiến hành ở Đức, và dù không có kết quả, Gestapo cũng đã nghĩ đến một hướng khác: điều tra ngay trên đất Anh.

Himmler và Heydrich đã lựa chọn hai thanh niên xuất sắc và có tài năng, là niềm hy vọng của chúng: Walter Schellenberg và Helmut Knochen. Hai tên này đều có trình độ đại học, không có tiền và Đảng Quốc xã đã cố sử dụng chúng.

Heydrich nhận thấy rằng muốn thành công trong việc tiếp xúc với người Anh, phải là người biết nói tiếng Anh thật chuẩn và nhất là phải tinh tế, nhạy bén để không sa vào cái bẫy mà Người Anh sẽ giăng ra trong các cuộc tiếp xúc.

Hậu quả về sau đã chứng tỏ chúng hành động đúng. Tên thanh niên Knochen được chọn ngay vào làm việc ở Ämt VI (Cục do thám ngoài nước) và hắn phải lập được hệ thống tình báo ở nước ngoài. Hắn cố gắng phát hiện những người Đức lưu vong, có hoàn cảnh khó khăn và tìm cách giúp đỡ họ. Knochen biết nhiều người vì trước đó hắn làm công việc nghiên cứu và giám sát những người lưu vong và các báo chí do người Đức phát hành ở nước ngoài. Hắn đã tuyển mộ được tên Franz Fischer, tiến sĩ kinh tế, đang sống lay lắt ở Paris.

Có thể do yêu cầu của S.D nên Fischer chuyển tới Hà Lan. Tại đây Fischer trở thành nhân viên do thám của S.D. Tại đây hắn có thể quan hệ với những người Anh hay lui tới Hà Lan, và chắc chắn có cả nhân viên tình báo Anh trà trộn, lui tới các câu lạc bộ của người Đức lưu vong.

Knochen đã gọi Fischer ra biên giới Hà Lan, chỉ thị cho Fischer đề nghị với người Anh bắt liên lạc với một đại diện của nhóm chống đối Hitler, gồm một số tướng tá sĩ quan Đức.

Đến giữa tháng 10, người Anh đồng ý với lời đề nghị của Fischer. Chiến trường ở Ba lan đã gần chấm dứt. Đồng minh đang chờ cuộc tấn công bất ngờ của Đức vào Tây Âu. Tất cả mọi thông tin về một điểm yếu ngay trong nội bộ quân đội Đức đều có thể rất quí giá đối với họ. Tình báo Anh không hiểu rằng Fischer là tên gián điệp đôi. Tên Fischer do bọn chỉ huy S.D ở Düssedorf chỉ đạo.

Những bước khởi đầu đã hoàn thành, Schellenberg liền thay thế Knochen để trực tiếp giao dịch với tình báo Anh. Tên Fischer đã bố trí cuộc gặp ngày 21 tháng 10 ở một thành phố nhỏ của Hà Lan là Zutphen. Schellenberg dùng thẻ căn cước của đại uý Schaemmel thuộc bộ phận vận tải của Cục hậu cần quân đội. Viên sĩ quan này là có thực. Các nhân viên tình báo Anh có thể kiểm tra trên những sổ danh bạ của quân đội Đức mà họ thu được. Để đề phòng bất trắc sĩ quan Schaemmel thực đã phải đi làm nhiệm vụ ở mặt trận phía Đông.

Tên Schellenberg tức Schaemmel đã đạt được sự tin cậy của các sĩ quan Anh như tham mưu Stevens, đại uý Payne Best và trung úy Coppens. Có rất nhiều cuộc tiếp xúc được tiến hành ở Hà Lan. Sau đó Schellenberg đã cùng những người đối thoại về Arnhem và La Haye.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #138 vào lúc: 16 Tháng Tám, 2010, 07:56:54 pm »


Trong một chuyến đi, Schellenberg đi cùng với một ông có dáng vẻ đáng kính nể. Ông này tự giới thiệu là tướng chỉ huy đội quân chống cự ở Wehrmacht. Vị tướng có học thức, lỗi lạc và là người nói chuyện xuất sắc, nên đã gây được ấn tượng mạnh với tình báo Anh. Schellenberg đã giao vai trò khó khăn này cho “một gián điệp nghiệp dư” là tiến sĩ tâm thần học nổi tiếng Crinis người Berlin.

Một máy bay chuyên dụng được dành cho những chuyến đi gấp về London. Xen vào giữa những chuyến đi ấy Schellenberg quay về Düssedorf để nhận lệnh của Berlin cho những bước đi tiếp. Ngày 31-10, trong chuyến đi đến La Haye, tên “Schaemmel” giả, nhận được một máy thu-phát tin để có thể giao dịch thường xuyên với nhân viên tình báo Anh tại Hà Lan.

Ở Hà Lan, “Schaemmel” giả, qua một hộp thư đặc biệt, có thể gọi về một số máy mật ở La Haye. Vụ việc tỏ ra thuận lợi và Schellenberg hy vọng có thể đạt được hai mục tiêu: Đầu độc cơ quan tình báo Anh bằng những tin tức giả hoặc những tài liệu ngụy tác, không đích xác; Và có thể tiếp xúc được với hạt nhân của phe chống đối trong quân đội.

Ngày 7-11, có một cuộc gặp gỡ cũng ở Hà Lan. Qua đó họ ấn định chỗ hẹn gặp vào ngày hôm sau.

Trưa ngày 8, một tiểu đội đặc biệt gồm 12 tên lính S.S do lệnh của Himmler được điều đến từ Düssedorf để đảm bảo an toàn cho Schellenberg. Tiểu đội này do tên Naujocks chỉ huy. Tên này đã đạo diễn cuộc tấn công giả của Ba Lan vào đài phát thanh Đức tại Gleiwitz trước đây.

Cũng tối hôm ấy, vào lúc 21 giờ 30, Hitler theo thường lệ đến quán rượu Bürgerbräukeller ở Berlin để ôn lại kỷ niệm về “những anh hùng ngày 9-11”, nạn nhân của cuộc đảo chính hụt năm 1923.

Đặc biệt là không có Goering và Himmler cùng dự với Hitler trong lễ tưởng nhớ ngay trong phòng của quán rượu.

Hitler đọc bài diễn văn ngắn và rời ngay quán rượu, không như thường lệ là nán lại một chút để trò chuyện với các cựu chiến binh của đảng. Vài phút sau đó, theo những nhân chứng cho biết, trong khoảng 10 đến 12 phút, một tiếng nổ kinh khủng đã phá nát nửa gian phòng của quán rượu làm cho 7 người chết và 63 người bị thương. Nếu Hitler không nhanh chân thì hắn đã chết, vì quả bom được cài vào chiếc cột ngay sau chỗ hắn đứng, ở giữa gian phòng của quán, nơi mà lần nào đến đây làm lễ kỷ niệm tưởng nhớ các “anh hùng ngày 9-11” Hitler vẫn đứng nói chuyện.

Một giờ sau, Himmler gọi dây nói từ Düssedorf, thông báo cho Schellenberg biết về vụ mưu sát Hitler và ra lệnh cho hắn bắt ba tình báo viên Anh mà hắn đã hẹn gặp ở Venlo, một thành phố nhỏ gần biên giới Hà Lan, cách Düssedorf khoảng 60 cây số. Tiểu đội S.S được cử tham dự vào công việc của Schellenberg.

Schellenberg đã lập luận thế nào về việc này? Hình như hắn có điều ngờ vực. Mưu toan bắt cóc người và vụ mưu sát ở Munich xẩy ra cùng lúc việc tiểu đội S.S từ Düssedorf đến, trước vài giờ. Schellenberg không cần phải có đội bảo vệ vào ngày 8-11 vì hắn đã được tình báo Anh tin cậy. Vậy thì tiểu đội S.S do Naujocks chỉ huy chuyên làm nhiệm vụ đặc công, với những trận đánh can đảm, không phải là đội bảo vệ, mà đúng là đội đặc công chuyên dụng.

Phần khác, những cuộc hẹn của Schellenberg với tình báo Anh luôn đặt ở Hà Lan, tại một địa điểm sâu trong đất Hà lan, thì làm sao Naujocks với 12 tên lính S.S có thể đến bảo vệ cho Schellenberg được?
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #139 vào lúc: 16 Tháng Tám, 2010, 07:57:27 pm »


Ngày 9-11, vào quãng sau buổi trưa Schellenberg chờ gặp các nhân viên tình báo Anh trong một quán cà phê ở Venlo gần biên giới. Đúng lúc những tình báo Anh mở cửa chiếc xe Buick to lớn, một chiếc xe chở đầy lính S.S húc đổ rào chắn ở biên giới, xâm nhập vào Hà Lan. Naujocks và toán lính S.S của hắn nổ súng vào chiếc Buick. Người Anh cũng nổ súng chống cự lại. Trung uý Coppens trúng đạn gục xuống. Naujocks và một tên lính S.S xông đến chiếc xe Buick bắt Best, Stevens và người bị thương là Coppens, lôi họ xềnh xệch như một bao ngũ cốc về phía chiếc xe ô tô của chúng và chạy giật lùi về phía biên giới. Chiếc xe chở theo ba tù binh, bị bắn như tưới đạn, trong khi chạy trốn.

Cuộc tấn công, hay đúng hơn là vụ bắt cóc bởi vì nó chỉ đáng với bọn găngxtơ, xẩy ra trong có vài phút. Từ đây sẽ có những chuyện rắc rối về ngoại giao, bởi vì đã xẩy ra một vụ xâm phạm biên giới Hà Lan và một vụ tấn công bằng súng bộ binh. Nó lại xẩy ra ngay trên đất Hà Lan. Trung uý Coppens bị thương nặng, đã chết ở nhà thương Düsseldorf. Và khi xác minh qua các giấy tờ, Coppens lại là trung uý Klop, thuộc cơ quan tình báo Hà Lan. Vậy nó không thể coi như một vụ bắt người đơn giản được.

Nhưng Hitler và Himmler đã sử dụng có hiệu quả những tù binh ấy.

Ngày 10, Elser một thợ đóng đồ gỗ, người Munich, bị bắt ở tại làng Kreuzlingen, gần Constance, đúng lúc sắp sửa vượt qua biên giới Thụy Sĩ. Người ta khám trong người hắn có hình chụp căn phòng ở quán rượu Bürgerbräukeller. Một chữ thập đánh dấu bằng mực vào chỗ cột cài bom. Bị dẫn về Berlin, Elser được đưa đến trụ sở của Gestapo ở phố Prinz Albrechstrasse để hỏi cung. Cả Best và Stevens cũng được giải về đây. Heydrich, Müller và Schellenberg trực tiếp chỉ đạo những cuộc hỏi cung. Elser khai là không biết ai âm mưu vụ ám sát ấy. Hắn chỉ nhận là người đã chế tạo quả bom và đồng hồ hẹn giờ có thể điều chỉnh từ cách đó 10 ngày. Chưa có một chuyên gia về máy móc nào có thể nghĩ ra kỳ công về kỹ thuật ấy. Hắn đã cài quả bom vào trong cột trước ngày cảnh sát an ninh canh gác quán rượu.

Best và Stevens không can dự gì vào cuộc mưu sát. Nhưng tuyên truyền của Quốc xã đã là một trong những tiếng nói gây nhiễu loạn mọi tin tức, họ cho rằng tình báo Anh và Mặt trận Đen của Otto Strasser đang ẩn trốn ở Thụy Sĩ là người chịu trách nhiệm chính gây ra vụ mưu sát Hitler.

Elser chỉ là tên Van der Lubbe thứ 2 (kẻ đã đốt nhà Quốc hội Đức). Bọn Quốc xã không có can đảm đưa vụ này ra xét xử như vụ đốt tòa nhà Quốc hội, vì vụ đó đã để lại cho chúng những kỷ niệm cay đắng. Elser bị chuyển đến trại tập trung ở Sachsenhausen, rồi đến trại Dachau. Hắn ở trại này cho đến năm 1945. Hắn được bố trí ở trong lán trại tồi tàn dành cho những người bị giam giữ ưu tiên. Hắn đã lập ở đây một xưởng mộc và muốn làm gì cũng được theo ý thích. Hắn đã làm ra chiếc đàn thập lục và thường chơi đàn này hàng giờ.

Những người tù khác ở đây đã tôn hắn là nghệ sĩ đàn thập lục. Cũng là tình cờ mà lần đầu tiên Best và Stevens gặp lại được “người đồng lõa” trong vụ mưu sát Hitler là Elser. Tên Elser đã kể lại việc hắn chế tạo quả bom và việc người lạ mặt dẫn hắn đến quán rượu Bürgerbräukeller để đặt bom vào chiếc cột định sẵn. Hắn đã làm mọi việc theo yêu cầu của hai kẻ lạ mặt, cài vào quả bom một kíp nổ chậm và kíp thứ hai được nối đơn giản bằng dây điện dài vào bộ phận ngắt điện để cho bom nổ vào bất kỳ lúc nào người ta muốn. Elser đã nghĩ bom nổ do kíp nổ chậm. Nhưng rõ ràng nó đã nổ do chiếc kíp thứ hai được điều khiển bằng dây điện, sau khi Hitler và những tên chỉ huy Quốc xã đã rút nhanh khỏi quán. Hai kẻ lạ mặt đồng lõa đã đưa Elser ra biên giới Thụy Sỹ và hắn đã bị Gestapo bắt ở đấy.

Hai kẻ lạ mặt còn giao cho Elser tấm bưu ảnh ghi lại hình ảnh nội thất của gian phòng ở quán rượu Bürgerbräukeller. Những chi tiết của vụ mưu sát chứng tỏ là nó đã được Gestapo bố trí để lấy cớ tuyên truyền rùm beng. Việc bắt cóc Best và Stevens, người của tình báo Anh chính là để thực hiện một kế hoạch cầu kỳ, và Elser chỉ là một quân cờ.

Đối với cái chết của trung uý Klop, người Hà Lan, Quốc xã cũng dùng để tuyên truyền rằng sự có mặt của Best và Stevens là chứng cớ có sự thông đồng giữa Chính phủ Hà Lan với Chính phủ Anh để chống lại nước Đức và đó cũng là cớ để quân đội Đức xâm nhập vào đất Hà Lan.

Best và Stevens bị giam giữ cho đến ngày quân đội Mỹ giải phóng trại tập trung. Nhưng theo lệnh bí mật của Himmler, Elser đã bị Gestapo thủ tiêu vào tháng 4-1945. Cái chết của Elser xẩy ra cùng với vụ ném bom của quân Đồng minh xuống gần khu vực trại tập trung. Bọn quốc xã bằng mọi giá không để cho Elser được sống và rơi vào tay quân Đồng minh. Chi tiết về vụ này phải chờ đến 5 năm sau mới được hé ra ánh sáng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM