chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #190 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2010, 11:03:04 pm » |
|
Năm 1880, thầy thuốc Lepczinsky người Nga đã thử nghiệm khả năng làm nóng trở lại nhanh chóng cho những nạn nhân bị rét cóng. Chắc chắn những “tên bác học Quốc xã” đã không biết gì đến những công việc này của người Nga.
Trong các vụ thử nghiệm về cái lạnh do nước thì người tù làm vật thí nghiệm bị ấn vào trong nước, lúc không có quần áo trên người, lúc được mặc bộ quần áo bay. Họ được khoác chiếc phao để người không bị chìm xuống nước. Bác sĩ Pacholegg đã thuật lại một trong những kinh nghiệm ấy. Hai sĩ quan tù binh Nga được dùng vào mọi sự thử nghiệm này ở trại Dachau. “Hai sĩ quan Nga được đưa từ trại Bunker đến. Chúng cấm họ không được nói câu gì. (...) Rascher bắt họ cởi hết quần áo và trần truồng bước vào trong bể nước. Hai giờ sau họ vẫn còn tỉnh. Chúng tôi nói với Rascher cần phải tiêm cho họ thuốc hồi sức, nhưng không có kết quả. Đến giờ thứ ba, một người Nga nói với người kia: Đồng chí! Hãy bảo tên sĩ quan ấy bắn chúng ta, như thế còn hơn phải chịu đựng như thế này. Người kia trả lời: Đừng mong gì ở con chó ấy!
Sau câu nói của họ, một phiên dịch Ba Lan đã dịch nguyên văn ra tiếng Đức. Rascher đã quay về phòng làm việc. Trong khi anh thanh niên Ba Lan muốn gây mê họ bằng chất chloroforme thì tên Rascher quay lại, vung khẩu súng ngắn quát đe doạ chúng tôi: “Chúng mày đừng nhúng vào chuyện này. Tao cấm chúng mày không được đến gần chúng.”
Cuộc thí nghiệm tiến hành trong gần 5 giờ trước khi họ bước đến cái chết. Thi thể của họ được chuyển đến Munich để mổ xét nghiệm. Rascher đã tuyên bố khám phá ra thứ thuốc cầm máu kỳ diệu mà hắn gọi là “Polygal”. Thuốc này có rất nhiều hiệu nghiệm. Cha và chú hắn đều là thầy thuốc. Hắn được nuôi dưỡng trong môi trường y tế có đạo đức cao, nhưng người ta tự hỏi vì sao hắn lại tự mình phá bỏ nền đạo đức y học để phục vụ cho thuyết của Quốc xã! Niềm tin chính trị của hắn đã gay gắt chống lại cha hắn, bác sĩ Hans August Rascher.
Vì vợ hắn đã khuyên ngăn hắn, hắn đã không ngần ngại gì tố cáo vợ với Gestapo làm bà bị bắt giam hai lần. Lần thứ nhất 5 ngày. Lần thứ hai 9 ngày.
Có lần ông chú Rascher là bác sĩ ở Hambourg đã trách cứ hắn về những cuộc thử nghiệm. Cuộc tranh cãi giữa hai chú cháu kéo dài suốt một đêm. Rascher cố bảo vệ những nguyên lý quốc xã. Chú hắn đã nói cho hắn rõ tầm quan trọng của sự trung thành với lý tưởng của Hippocrate. Cuối cùng Rascher đã phải thú thật với ông chú: “Tôi không còn có thể nghĩ được gì. Tôi biết đã đi vào con đường xấu nhưng không có cách nào để thoát ra khỏi con đường ấy.”.
Không phải thầy thuốc Đức nào cũng có ý nghĩ như Rascher.
Khi bác sĩ Weltz đề nghị làm mọi thử nghiệm lên con người, bác sĩ Lutz đã trả lời: “Tôi thấy mình không đủ cứng rắn để làm các cuộc thử nghiệm theo loại ấy. Ngay cả thử nghiệm đối với con chó, tôi cũng thấy khó khăn khi nhìn thấy nó đau đớn.”
Tên Rascher đã coi khinh mọi ý kiến của đồng nghiệp. Có lần hắn nói với Rein, nhà sinh lý học: “Ông tự cho mình là nhà sinh lý học, nhưng mọi cuộc thử nghiệm của ông lại chỉ ở những con chuột lang và những con chuột nhắt. Chỉ có một mình tôi là người biết rõ mọi sinh lý của con người, bởi vì tôi đã lấy con người là vật thử nghiệm mà không phải là những con chuột!”
Himmler động viên Rascher tiếp tục các cuộc thử nghiệm. Hắn còn viết nhiều thư cho Rascher nhắc đi, nhắc lại là chỉ có S.S mới có khả năng cung cấp con người để Rascher dùng làm vật thí nghiệm. Bản thân Himmler đã dự nhiều cuộc thử nghiệm của Rascher và đấu tranh lại mọi dư luận về việc này. Hắn đã viết thư cho tướng Milch vào hồi tháng 11-1942: “Những cuộc nghiên cứu của bác sĩ Rascher đã rút ra được nhiều kinh nghiệm rất quan trọng. Cá nhân tôi sẽ đảm bảo trách nhiệm cung cấp những kẻ hạ đẳng và những tội phạm xứng đáng bị kết án tử hình ở các trại tập trung cho bác sĩ Rascher làm vật thí nghiệm.”
“Những khó khăn chính, dựa trên sự bác bỏ về tín ngưỡng, đã chống lại những sự thử nghiệm mà tôi chịu trách nhiệm, cũng sẽ bị loại trừ. Bản thân tôi đã dự vào những cuộc thử nghiệm ấy, và tôi có thể nói không quá lắm, rằng tôi đã tham dự vào từng giai đoạn của công việc khoa học ấy.”
“Chúng tôi cần phải làm việc đó ít ra là 10 năm, để trừ tận gốc những ý nghĩ hẹp hòi. Tôi đã gợi ý cho một bác sĩ không phải là người theo đạo Cơ đốc, nhưng nổi tiếng về am hiểu khoa học, thiên về ngành bay, chịu trách nhiệm liên hệ giữa lực lượng không quân và đội S.S.”
Trong bức thư gửi cho Rascher, Himmler còn đi xa hơn, theo thói quen của hắn, là đe doạ Rascher: “Ngày nay, tôi coi những người không chịu dùng người làm vật thí nghiệm, để cho những người lính Đức can đảm phải chết vì không sử dụng được những thành tựu khoa học, như là kẻ phản bội Tổ quốc và sẽ bị trừng trị. Tôi không ngại gì việc thông báo tên những người đó cho các nhà chức trách có thẩm quyền, buộc họ phải xét xử trách nhiệm những người đó. Tôi cho phép ông được báo cho các nhà chức trách được biết cách làm của tôi.”
Việc Himmler che chở bảo vệ cho Rascher cũng không ngăn cản được cái kết thúc đau đớn cho cả hai vợ chồng tên bác sĩ này. Năm 1943, xảy ra một vụ xì-căng-đan. Bà Rascher, đã làm mẹ của hai đứa con, (Rascher lấy vợ đã có một con và đang chờ đứa con thứ hai) nói trước là mình đang có chửa và sau đó người ta thấy bà có đứa bé mà bà bảo là do bà sinh ra. Nhưng việc bà có chửa là giả tạo và thực tế đứa bé ấy đã bị bắt trộm. Đối với một kẻ đã gây nhiều đau khổ cho con người, và hàng ngày đang phạm vào nhiều tội ác thảm khốc, thì chuyện này chỉ như một chuyện nhỏ mọn. Nhưng “đạo đức” Quốc xã cũng không đồng tình về chuyện đó. Tất cả mọi chuyện dính dáng đến nòi giống, đến quốc tịch đều mang một ý nghĩa thiêng liêng. Việc dự định nhận một cách gian giảo đứa bé có thể thuộc dòng máu “không trong sạch” vào cộng đồng những “dòng máu quý tộc” lại bắt đầu từ một sự lừa dối của một tên S.S như bác sĩ Rascher, phải được coi như một tội ác đáng treo cổ. Hai vợ chồng Rascher trốn biệt nhưng đến cuối năm 1943 họ bị bắt. Rascher và vợ bị tống giam và bị đưa ra trước tòa án. Trước khi quân Đồng minh tiến vào nước Đức, Himmler đã ra lệnh nhất thiết không để cho Rascher được sống rơi vào tay quân Đồng minh, vì hắn hiểu rõ Rascher, nhất là bà vợ hay bép xép và ngờ họ sẽ khai ra sự thật. Bà Rascher bị treo cổ và bác sĩ Rascher bị đưa đến trại Dachau giam vào trong hầm ngầm. Cuối tháng 4-1945, khi nhận suất cơm qua cánh cửa hé mở, Rascher đã bị giết ngay bằng một phát đạn bắn gần.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #191 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2010, 11:05:48 pm » |
|
Có nhiều cuộc thử nghiệm được tiến hành ở các trại tập trung. Chúng thử nhiều loại thuốc tiêm và nhiều biện pháp cho cuộc chiến tranh sinh học. Có một tai nạn mà ít người biết đến. Ở vùng Caucase bọn S.S đã từ chối không chịu tiến quân bởi vì chúng nghe đồn là chúng đang đi vào vùng có bệnh dịch hạch. Đây có lẽ là lần duy nhất bọn lính S.S không chịu tuân lệnh của chỉ huy.
Chúng đã sử dụng con người để sản xuất các loại thuốc tiêm; bệnh sốt chấy rận được truyền từ người này sang người khác. Chúng dùng người tù ở trại tập trung Buchenwald làm “nơi dự trữ vi khuẩn”. Ở trại Dachau, chúng nghiên cứu bệnh sốt rét, nuôi những con muỗi a-nô-phen để truyền bệnh cho hơn một ngàn người được lựa chọn trong số các giáo sĩ Ba Lan. Tháng 9-1943 có dịch vàng da do nhiễm khuẩn lây lan ở mặt trận phía Đông (có tháng có 180.000 người mắc bệnh này). Ở trại Auschwitz và trại Sachsenhausen, chúng dùng người Do Thái trong hàng ngũ kháng chiến của Ba Lan làm vật thử nghiệm.
Còn có rất nhiều nghiên cứu khác mà người tù được dùng làm vật thí nghiệm: thử các loại thuốc tiêm mới, thử các thực phẩm hỗn hợp ở trại Origanenburg1; sản xuất các hoóc-môn nhân tạo ở trại Buchenwald; các loại huyết thanh chống bệnh hoại thư; các loại thuốc mỡ chữa bỏng bởi chất lân tinh, cách làm viêm tấy nhân tạo, áp-xe, bệnh nhiễm khuẩn máu... Ở trại Dachau; chúng thử các thuốc Sun-pha-mit, kinh nghiệm mổ xương, gân, các mạch máu. Chúng còn thử nghiệm gây cái chết không đau bằng cách tiêm chất phenol vào cơ thể người tù để giết người ấy không đầy một giây đồng hồ. Chúng còn tiêm thuốc độc aconitine (nhựa cây phụ tử - người ta đã mô tả cái chết rất đau của người bị bắn bằng đạn có tẩm aconitine). Chúng còn tìm những chất để không làm gây nhiễm nước đã bị pha thuốc độc bằng hơi ga. Chúng đã nghiên cứu chất độc ancaloit và nhiều thuốc độc khác nữa. Chúng cho người tù uống loại thuốc viên, nghiên cứu tác dụng các loại ga trong chiến đấu như hyperite, chất phosgène.
Chúng còn thử nghiệm cả việc làm cho tuyệt sản để hạn chế dân số các dân tộc khác. Bác sĩ Pokorny đã viết thư gửi cho Himmler để báo cáo về tình trạng nghiên cứu việc triệt sản bằng thứ thuốc dùng trong một thời gian ngắn đã làm cho người phụ nữ không còn sinh sản được nữa. Chúng còn phát minh một thứ vũ khí mới rất hiệu nghiệm. Trên 3 triệu người Xô Viết đã bị bắt giam ở Đức đã không còn khả năng sinh sản nhưng vẫn có thể làm việc được. Nhưng việc tuyên truyền cho thứ thuốc ấy phải ngừng lại để mở ra một viễn cảnh rộng lớn hơn nữa. Bác sĩ Madaus còn tìm ra thứ thuốc bằng nhựa cây Caladium Seguinum (cây môn cảnh) dùng làm thuốc uống hay thuốc tiêm, có thể làm ngừng sinh sản trong thời gian dài.
Tác dụng của loại nhựa ngọt cây môn cảnh khá chậm và việc trồng loại cây này ở vùng nhiệt đới là rất khó; còn bác sĩ Brack lại dùng cách thức đơn giản hơn, dùng tia X quang để triệt sản bằng cách làm lan tỏa 500-600 tia Roentgen trong hai phút đối với đàn ông, và 300 đến 350 tia Roentgen trong ba phút đối với đàn bà.
Cái khó khăn trong áp dụng các cách “điều trị” là không có người để tiến hành thử nghiệm. Tên bác sĩ Brack đã có “sáng kiến” đệ trình lên Himmler: gọi người tù đến gần chỗ cửa ghi-sê và buộc họ phải trả lời vài câu hỏi bâng quơ nào đấy hay làm một thủ tục nào đấy trong vài ba phút đủ để có thời gian xoay núm cho hai bóng đèn hoạt động liên tục. Nếu tiến hành đặt độ hai mươi cửa ghi-sê thì mỗi ngày hắn có thể làm cho 3.000 đến 4.000 người bị triệt sản hoàn toàn.
Sự biến đổi đột ngột của chiến tranh đã không cho phép bọn Quốc xã thực hiện chương trình đầu độc bằng khoa học. Tất cả mọi việc nghiên cứu của chúng đã làm xong và chỉ còn chuẩn bị tiến hành. Chắc chắn nếu chiến tranh không kết thúc thì những cách đầu độc đó sẽ được bọn quốc xã sử dụng để giết hàng loạt người trong thời gian rất ngắn. _______________________________________ 1. Những khả năng nhịn đói, nhịn khát được thử nghiệm ở trại Dachau. Chúng dùng hai thiêu niên 16 và 17 tuổi cho nhịn đói, nhịn khát để xem sức chịu đựng của họ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #192 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2010, 11:06:40 pm » |
|
* Lực lượng Gestapo ở các trại tập trung chịu trách nhiệm “lựa chọn” những người khốn khổ dùng làm vật thí nghiệm. Bọn Gestapo chỉ ghi một dấu hiệu, một chữ hay chữ thập nhỏ vào bản danh sách người tù, một người trẻ tuổi hay một người to lớn khoẻ mạnh sẽ phải vào buồng chân không và chỉ một giờ sau là hai lá phổi của họ bị vỡ tung hay một phụ nữ trẻ sẽ bị chiếu tia X quang dẫn đến triệt sản hoàn toàn. Đôi khi tên Himmler cũng ra lệnh cho thuộc hạ dùng người Ba Lan kháng chiến bị bắt vào cuộc thử nghiệm bệnh sốt vàng da như ở trại Auschwitz, hay những sĩ quan Nga bị tên bác sĩ Rascher bắt ngâm mình vào thùng nước đông lạnh để thử sự chịu đựng của cơ thể với cái lạnh ở trại Dachau. Bọn Gestapo còn thỏa mãn nhu cầu cho bọn bác sĩ lựa chọn những bộ phận cơ thể người để cung cấp cho các học viện của Quốc xã. Bởi vì các trại tập trung chỉ là cơ sở dự trữ người để làm thí nghiệm. Đó là sự thật hết sức phi lý mà một tên thông thái điên rồ đã ám sát hàng ngàn nạn nhân bởi những cuộc nghiên cứu khoa học hoang tưởng. Hắn làm đúng kiểu như trong vài bộ phim khoa học giả tưởng khủng khiếp nhất. Ví dụ đầu tiên là vụ bọn Quốc xã giết người Đức theo chương trình gây chết không đau. Ở Berlin có một học viện chuyên nghiên cứu não người, gọi là Học viện Kaiser Wilhelm và chúng còn đặt thêm ba cơ sở phụ của học viện này ở Munich, ở Göttingen và ở Dillenburg. Cơ sở ở Dillenburg do tên bác sĩ Hallervorden phụ trách. Một hôm tên bác sĩ này được tin có nhiều người bệnh sẽ bị giết bằng chất oxyde, và hắn đã nghĩ ngay đến việc lợi dụng cơ hội này. Hắn đến gặp những người chịu trách nhiệm và theo như hắn kể lại, hắn đã nói với bọn ở trại tập trung: “Các bạn! Nếu các bạn muốn giết tất cả số người đó, xin đề nghị giữ lại bộ óc của họ để tôi dùng vào công việc sau này!” Bọn ở trại tập trung hỏi hắn: “Cần bao nhiêu bộ óc?” “Không hạn chế. Càng nhiều càng tốt.” Hắn đã trả lời đúng như vậy. Sau đó hắn còn báo cho bọn Quốc xã những bộ phận cơ thể người cần thiết và chỉ cách bảo quản và vận chuyển những bộ phận ấy. Tên bác sĩ Hallervorden thú nhận: Hầu hết các cơ sở nghiên cứu đều thiếu thầy thuốc, vì vậy chúng tôi phải chọn trong số nam, nữ y tá, do công việc nhiều, hay cũng do nhiều bác sĩ không chịu tích cực làm việc; những nam nữ y tá này đã lựa chọn người ốm để đưa đến chỗ thủ tiêu. Điều tệ hại trong vụ này là số y tá còn lựa chọn người theo sự thù ghét của chúng để đưa vào danh sách tiến hành thử nghiệm. Học viện Kaiser Wilhelm đã được cung cấp rất nhiều bộ óc người như yêu cầu của Hallervorden. Tên này còn ca tụng tương lai của khoa học dưới sự đảm bảo chắc chắn của chế độ Quốc xã. Ví dụ thứ hai về cách hành hình bằng tác động của khoa học, diễn ra vào năm 1941. Lần này chúng không bằng lòng về việc nghiên cứu trên xác chết hay trên những người bị kết tội tử hình như tên Hauervorden đã làm. Chúng quyết định dùng những người còn nguyên vẹn khoẻ mạnh. Khi quân Đức chiếm được vùng Alsace chúng trưng dụng ngay trường đại học y ở Strasbourg và cử một trong những tên chỉ huy S.S là bác sĩ Hirt đến tiếp quản. Tên này theo quy tắc quốc xã, hướng ý nghĩ vào vấn đề nòi giống. Hirt đã thực hiện ý định trưng bày ở đại học y Strasbourg một bộ sưu tập xương người và hộp sọ của người Do Thái. Hắn yêu cầu Himmler cho hắn biết người phải có trách nhiệm cung cấp mọi bộ phận người theo yêu cầu của hắn. “Chúng tôi đã có bộ sưu tập gần đầy đủ các loại hộp sọ của mọi giống người và của các dân tộc. Riêng đối với nòi giống Do Thái, chúng tôi có rất ít sọ làm mẫu và vì thế chúng tôi không có thể kết luận dứt khoát được cuộc thử nghiệm về người Do Thái. Cuộc chiến tranh ở phía Đông có thể cung cấp đầy đủ cho đòi hỏi của chúng tôi. Nhất là những tên ủy viên Do Thái Bôn-sê-vich có ý nghĩ trái ngược với chủ nghĩa Quốc xã, có tính cách đặc biệt của con người mất gốc. Chúng tôi cần có hộp sọ của số người đó để sử dụng nghiên cứu.” Kể từ đó những bí thư chi bộ Xô Viết - Do Thái phải được bắt sống và giao ngay cho cảnh binh trông giữ cho đến khi có đại diện chuyên trách đến gặp họ. Tên này sẽ chụp ảnh những người đó, đo đạc cơ thể, hỏi về mọi biểu hiện trong đời sống trước đây và nguồn gốc của họ, sau đó giết họ chặt lấy đầu chuyển về Strasbourg. Tên bác sĩ Hirt viết: “Khi hành quyết số người Do Thái, cái đầu của chúng không được làm dập nát, phải cất vào trong hộp sắt, hàn thật kín. Trong hộp phải có chất thuốc lỏng để giữ cho những cái đầu ấy còn nguyên.” Và trường đại học y ở Strasbourg đã nhận được nhiều bưu kiện kỳ lạ. Nhưng chỉ ít lâu sau, Hirt lại thấy không thể chỉ có đầu người, vì vậy hắn yêu cầu chuyển cho hắn toàn bộ bộ xương người, thường là những ủy viên Do Thái - Bôn-sê-víc. Trại tập trung Auschwitz chịu trách nhiệm cung cấp 50 bộ xương người. Nhưng vì hoàn cảnh của trại không có đủ biện pháp để thu lại các bộ xương người, nên tên Hirt đã có cách đo thân thể người tù và quyết định giải pháp đơn giản là giao những người sống cho trại tập trung ở Natzweiler, gần Strasbourg, để làm việc đó. Tháng 6-1943, 115 người được lựa chọn để đưa đến trại Auschwitz, bọn Gestapo đến từ trại Natzweiler nhận số người này. Đến tháng 8-1943 lại có thêm 80 người nữa đến trại đó. Tên đại đội trưởng S.S Kramer chỉ huy hầu hết các trại tập trung và là sếp trực tiếp của trại Bergen - Belsen đã kết thúc sự nghiệp của hắn ở trại này và người ta đặt cho hắn cái tên “ Con vật ở Belsen”, đã hành quyết tất cả những người khốn khổ trên, bằng cách cho họ hít hơi độc cyanure để không làm hủy hoại thân thể. Theo cách đó, tên bác sĩ Hirt đã nhận được xác người còn nóng để đưa lên bàn phẫu thuật. Hắn rất hài lòng về chuyện này. Khi bộ sưu tập thân thể con người của hắn đã đầy đủ, trở nên quan trọng thì các đội quân Mỹ và Pháp đang tiến lại gần thành phố. Bọn Quốc xã hoảng sợ vì các hòm lạnh ở nhà xác của trường đại học còn lưu giữ 80 xác chết có thể trở thành nguy hại cho chúng. Tên Hirt đã cân nhắc: Giữ lại toàn bộ bộ sưu tập người? Phá hủy một bộ phận? Hay phá hủy hoàn toàn? Hắn cho lóc hết thịt ở bộ xương để không ai còn nhận ra người nào và tuyên bố đấy là những bộ xương người của Pháp để lại trong trường đại học y từ trước. Cuối cùng ngày 26-10, Sievers, tổng thư ký của Ahnenerbe đã chăm chú theo dõi công việc lóc thịt ở các xác người, tin là số người trong hòm lạnh đã hoàn toàn làm sạch. Nhưng tin ấy sai. Vì những tên phụ việc cho Hirt không có thể làm kịp việc lóc thịt cho 80 xác chết một cách nhanh chóng. Khi quân đội Đồng minh tiến vào Strasbourg họ vẫn thấy một số xác người trong hòm lạnh của trường đại học, do bọn Quốc xã để lại. Họ phát hiện trong số xác chết này có nhiều người của binh đoàn xe tăng Pháp. Tên bác sĩ Hirt đã biến mất và người ta không bao giờ thấy hắn nữa. Người ta không có một tài liệu nhỏ nào về số phận của hắn. Đây là một tên trong số rất hiếm hoi bọn thử nghiệm quốc xã đã thoát khỏi cuộc truy nã và không có mặt trong số đồng nghiệp của hắn ở trước tòa án Nuremberg, xử tội những tên bác sĩ giết người. Có thể lúc này hắn mang cái tên giả và đang sống yên ổn với cái nghề thầy thuốc ở nông thôn thuộc một vùng hẻo lánh, hay cũng có thể vẫn hành nghề bác sĩ ở một khu phố nào đấy, thăm bệnh tim phổi cho bệnh nhân với sự tỉ mỉ cẩn thận như khi hắn làm với bộ sưu tập xác người trước đây. Có thể hắn lại chữa bệnh cho cả những người Do Thái mà mặc dù thời gian đã qua lâu, vẫn gợi lại cho hắn những mối lo sợ khi hồi nhớ đến chuyện cũ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #193 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2010, 11:07:56 pm » |
|
4. Gestapo mở rộng hoạt động ở Pháp
Ở Paris cũng như phần còn lại của Châu Âu bị Đức chiếm đóng, Himmler luôn có đường lối chính trị riêng. Theo tên Knochen thì “đường lối chính trị của Himmler không giống như của Ribbentrop và Abetz. Đường lối chính trị của Abetz ở Tòa đại sứ hoàn toàn dựa vào Laval (chính phủ tay sai Pháp). Và khi Abetz chấp nhận một phần quan trọng công việc của Déat thì đấy cũng chỉ là phần riêng của cá nhân ông ta để qua Déat nắm lấy Laval. Nhưng Abetz cũng biết hạn chế sự quan hệ mật thiết với Déat vì ông này không được lòng dân lắm. Abetz có cái nhìn lâu dài nhằm qua Laval để đạt được sự cộng tác toàn diện với người Pháp.
Còn mục tiêu của Himmler lại muốn có sự cộng tác của người Pháp ngay tức thời và thật nhanh chóng. Đấy chỉ là sự cộng tác chủ yếu về quân sự để lôi kéo Chính phủ Vichy liên kết chống lại Cộng sản, và để thành lập một vài binh đoàn S.S chiến đấu ở mặt trận Nga.
Himmler chú ý ngay đến các sự kiện ở phía Đông, nơi mà mùa đông khắc nghiệt đã làm cho quân đội phải trả giá hơn một triệu sinh mạng. Việc tuyển mộ người lúc này là cấp bách, để bù cho sự tổn thất của quân đội mà chắc chắn trong suốt mùa hè cũng không thể xây dựng lại các đơn vị cho đầy đủ.
Phần khác, mỗi khi có trong tay những đội quân người Pháp, Himmler sẽ sáp nhập các đơn vị này vào lực lượng S.S. Hắn vẫn không quên khát vọng thầm kín là vị trí tổng tư lệnh đội quân chiến đấu.
Chính vì mục đích ấy, Himmler đã chỉ thị cho Oberg phải giúp đỡ tối đa cho các phong trào chính trị ủng hộ Quốc xã. Đường lối chính trị ấy đã có kết quả đầu tiên. Ngày 7-7-1941, Deloncle có cuộc họp với những người đứng đầu các đảng phái ủng hộ Quốc xã. Qua cuộc họp này Quân đoàn chống Cộng sản đã ra đời, ít lâu sau đổi là Quân đoàn tình nguyện quân Pháp (Légion des Volontaires Francais- L.V.F)
Việc thành lập quân đoàn không có sự tham gia của sứ quán, mà chỉ có cá nhân Westrick đứng ra làm cố vấn. Sở dĩ sứ quán tỏ ra hờ hững với việc này, bởi vì đó không phải là sự khởi xướng từ chính phủ Vichy, họ chỉ gượng gạo phải dự vào. Mãi 18 tháng sau, ngày 11-2-1943, Laval mới ra sắc lệnh công nhận chính thức Quân đoàn tình nguyện quân Pháp.
Mặc dầu có những quan điểm khác nhau, nhưng Oberg và Abetz vẫn hợp tác với nhau rất tốt. Mỗi tên hoạt động riêng trong lĩnh vực của mình. Abetz chỉ giám sát các đường lối chính trị của chính phủ. Còn Oberg hợp tác với Stülpnagel. Năm 1918, Stülpnagel còn là quân dưới quyền của Oberg. Ở Paris, Oberg giao cho Stülpnagel nhiệm vụ cai quản về những vấn đề về vũ khí và quân dụng. Nhưng về cảnh sát thì Oberg chỉ nhận chỉ thị của Himmler để thi hành.
Khi đến Paris, Oberg đặt trụ sở ở số 57 đại lộ Lannes. Hắn ở đây cho đến khi chiến tranh kết thúc. Ban tham mưu của Oberg có hai sĩ quan tuỳ tùng là Hagen và Beck (Tháng 12-1943 Jungst thay chức vụ của Beck), sáu hạ sĩ quan, hai thư ký đánh máy và hai nhân viên trực điện thoại.
Oberg bắt tay ngay vào việc cải tổ cơ quan cảnh sát. Hắn có nhiệm vụ đặc biệt: Chỉ đạo các biện pháp về an ninh và tấn công tập trung ở Paris. Nếu có xẩy ra cuộc chiến đối đầu thì quan hệ với giới quân sự (Stülpnagel), riêng ngoại giao thì quan hệ với Abetz. Oberg có thể nhờ cậy đến Himmler trong một quyết định của hắn. Nếu có vấn đề quan trọng, hắn có toàn quyền làm chủ, trấn áp các đảng phái hay các các cá nhân nguy hiểm, bằng tất cả biện pháp.
Oberg như là tên chỉ huy tối cao của S.S trong các vùng nước Pháp bị chiếm đóng. Hắn có quyền sử dụng các tổ chức S.S của Đức và của lực lượng S.S tuyển mộ trong số người Pháp để tấn công, vây ráp các lực lượng chống đối. Vả lại hắn có khả năng tập hợp những người Pháp cộng tác với Đức và những lực lượng bán quân sự khác. Oberg đã sử dụng đến tối đa quyền lực của hắn. Oberg không bao giờ quên những bài học chinh phục quyền lực ở Đức. Hắn tích cực giúp đỡ các toán cảnh sát của người Pháp tự nguyện, rập khuôn kiểu tổ chức của S.A và S.S mà không cần biết đến các tổ chức ấy thường là những tổ chức hoàn hảo về “trấn lột”, cướp bóc, có thể làm cho vài cá nhân thu được một số tiền lớn.
Heydrich cũng có ý nghĩ như Oberg nên đã giới thiệu Oberg với những người đại diện chính quyền Pháp là René Bousquet và Georges Hilaire. Hai người này được triệu tập về Paris để tống đạt những biện pháp khiến chính phủ Vichy phải trao quyền hành cảnh sát cho những người đứng đầu các đảng phái ủng hộ Quốc xã.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #194 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2010, 11:10:33 pm » |
|
Đầu tháng 5, René Bousquet đã đưa vấn đề này ra bàn luận và được Heydrich trao cho một thời hạn để thực hiện những quyết định ấy. Đổi lại, Heydrich cũng đảm bảo cho cảnh sát Pháp có nhiệm vụ duy trì trật tự và kiềm chế các vụ chạy trốn, nhưng họ phải chiến đấu tích cực để lấy được lòng tin của người Đức. Theo Heydrich thì ở Pháp có nhiều người phản bội dân tộc hơn là chống đối người Đức. Mục đích của hắn là bãi bỏ “điều luật về con tin” ra ngày 30-9-1941.
Cuộc mặc cả mà Oberg đưa ra nhằm đạt được một tuyên bố chung dựa trên sự liên kết giữa hai lực lượng cảnh sát Đức và Pháp với những hoạt động trong giới hạn được tôn trọng. Cuộc thương lượng đã bị ngừng lại do cái chết của Heydrich. Sau đó Oberg quay trở lại Paris và người ta đã thuyết phục hắn xác nhận những điều đã thỏa thuận về quyền hạn của hai lực lượng cảnh sát Pháp và Đức. Nhưng Heydrich chết nên phải đặt lại các vấn đề đã trao đổi. Trước đây Heydrich mới chấp nhận tạm thời các điều khoản vì còn phải chờ có sự công nhận chính thức của Laval. Cũng trong thời gian này các đảng phái cộng tác với Đức nhất là Doriot đã phát động chiến dịch rầm rộ về thông tin và tổ chức các cuộc mít tinh chống lại đường lối chính trị của Vichy. Họ kết tội Vichy là mềm yếu, hèn hạ, là đồng loã với kẻ thù của Châu Âu (có nghĩa là của Quốc xã). Các đảng phái này còn công khai kết tội Bousquet che chở cho những người Do Thái và bọn Tam Điểm.v.v...
Mặc dầu bị công kích nhưng lại được các lực lượng S.S ủng hộ, cuộc thương lượng ở Paris vẫn tiếp tục. Cuối cùng ngày 29-7 một bản thỏa thuận đã ra đời gọi là Thỏa thuận của Oberg và Bousquet. Từ này là do Knochen đặt ra.
Theo Bousquet thì: “Đúng là có sự thỏa thuận nhưng văn bản về các điều kiện đưa ra của cả hai bên đã có sửa đổi chút ít.” Các điều khoản thỏa thuận được thông tin công khai để dân chúng Pháp biết.
Oberg đã kể lại: “Trong bữa tiệc ở nhà tôi, có mặt đầy đủ các quan chức địa phương và những người đứng đầu cảnh sát, tôi và ông Bousquet đã trao cho nhau văn bản mà chúng tôi cùng soạn thảo.” 1
Theo những điều người ta thấy hôm ấy thì sự thỏa thuận này là một thắng lợi của ông Bousquet bởi vì ông đã nhấn mạnh đến giới hạn sự can thiệp của cảnh sát Đức và việc gần như lực lượng cảnh sát Pháp được độc lập hoạt động.
Bản thỏa thuận này có một điểm rất quan trọng mà người ta vẫn chờ đợi là sự giảm bớt các vụ trấn áp bắt bớ và chấm dứt việc bắt con tin của cảnh sát Đức. Điều đó có nghĩa là cảnh sát Pháp sẽ không bao giờ còn phải tố cáo các vụ bắt con tin. Và những người bị các nhà chức trách Đức bắt để trả thù sẽ không còn xẩy ra nữa. Những người Pháp phạm tội quả tang về chính trị hay bị bắt về các tội hình sự, từ nay sẽ do người Pháp xét xử và kết tội theo luật pháp của nước Pháp. Nhưng những người gây ra các vụ mưu sát chống lại quân đội và các nhà chức trách Đức vẫn có thể sẽ do cảnh sát Đức xử lý. Và từ lúc này người Đức không còn được bắt con tin để trả thù.
Người ta thấy ngay ông bộ trưởng cảnh sát Pháp đã khẳng định được quyền lực đáng tự hào. Bản thỏa thuận được gửi đến các cấp cảnh sát Pháp và các chỉ huy đơn vị Sipo-S.D và Orpo của Đức. Sau khi đánh chiếm miền Nam nước Pháp, bản thỏa thuận cũng được áp dụng ở những vùng do Đức mới chiếm đóng.
Đấy là bản thỏa thuận Oberg-Bousquet thứ hai được áp dụng vào ngày 18-4-19432. Bản thứ hai nêu lại những điểm quan trọng của bản thứ nhất, nhắc lại những người quốc tịch Pháp bị cảnh sát bắt cũng sẽ được đưa ra tòa án xử theo luật pháp của Pháp.
Nhưng khốn thay những lời hứa ấy chỉ là những điều khoản đơn giản theo thủ tục. Bản thỏa thuận thứ nhất được long trọng loan báo công khai ngày 29-7-1942, còn lâu mới có tác dụng và người ta vẫn không ngăn cản được những vụ bắt bớ con tin. _______________________________________ 1. “Ông Bousquet muốn tôi kéo dài cuộc thương lượng đến giờ cuối cùng. Mặc dù các khách mời dự tiệc người Pháp và Đức đã đến đông đủ nhưng ông bộ trưởng cảnh sát Pháp vẫn muốn tôi có vài sự nhượng bộ cuối cùng. Và rồi người ta cũng vào bàn dự tiệc chậm hơn một giờ” - lời Oberg. 2. Toàn bộ nội dung bản thoả thuận thứ hai và phần phụ không bao giờ được đưa ra công khai.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #195 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2010, 11:11:43 pm » |
|
Từ ngày 29-7-1942 theo văn bản mà Oberg đã ký thì Đức không được quyền bắt giữ hay đòi hỏi điều gì ở người Pháp, chỉ trừ khi có người gây ra hành động trực tiếp chống lại quân đội và các nhà chức trách Đức. Nhưng cần phải có chứng cớ về sự phạm tội ấy và phải giải trình chứng cớ trước tòa án.
Những sự việc thảm khốc xẩy ra đã đánh giá cụ thể về bản chất những lời hứa đó của bọn Đức. Ngày 5-8, bảy ngày sau khi công bố bản thỏa thuận Oberg-Bousquet, có ba người nấp trong hàng rào cây fusain trồng quanh sân vận động Jean-Bouin ở Paris đã ném hai quả lựu đạn vào đội hình 50 lính Đức đang tập chạy trên đường đua vòng làm 8 người chết và 13 người bị thương. Đây đúng là vụ mưu sát trực tiếp chống lại binh lính chiếm đóng mà bản thỏa thuận đã nêu rõ. Gestapo liền mở ngay cuộc điều tra, tìm ngay được lý lịch của ba người gây ra vụ mưu sát là Martunek người Hung và hai người Rumani là Copla và Cracium. Họ bị bắt vào ngày 19-10-1942 và bị xử bắn vào ngày 9-3-1943, sau khi được tòa án binh Đức xét xử. Nhưng từ ngày 11-8, báo chí ở Paris đã đăng tin cho biết: “93 người phạm tội khủng bố, hay là đồng lõa đã bị xử bắn vào ngày hôm nay.” Thông báo này có chữ ký của Oberg.
Việc hành hình những con tin ấy là sự vi phạm vào bản thỏa thuận được hai bên ký xác nhận 13 ngày trước.
Ngày 11-8, vào giữa quãng 7 giờ đến 8 giờ sáng, 88 người (không phải là 93 người) bị dẫn lên đồi Valérie để xử bắn, gồm có 70 người Pháp và 18 người nước ngoài. Trong số này chỉ có 3 người do Gestapo bắt còn 67 người khác do lữ đoàn đặc biệt của cảnh sát Pháp bắt. Chỉ có 9 người tham gia vào hành động chống lại quân đội Đức, 3 người định làm hỏng đường ray để lật đổ chuyến tàu chở những quân nhân Đức nghỉ phép, 4 người phá hủy đường dây điện thoại, một người đã bắn nhiều phát đạn vào quân đội Đức, một người khác đặt bom vào tòa nhà nơi bọn chiếm đóng hay lui tới. Chỉ có Dutriux, người duy nhất phải qua xét xử của tòa án quân sự Đức xử ở Épinal, bị kết tội tử hình.
Nếu tách riêng trường hợp của 18 người nước ngoài có hoạt động chính trị và do cảnh sát Pháp bắt giữ giao lại cho Đức, 3 người Pháp do Gestapo bắt, 9 người có hành động mưu sát và 1 người bị tòa án binh Đức xét xử, thì còn 57 người Pháp không có hành động nào trực tiếp chống lại người Đức, đã bị xử bắn ngày hôm ấy như là các con tin. Hành động này của Đức là sự vi phạm nghiêm trọng bản thỏa thuận Oberg - Bousquet, ký ngày 29-7. Tất cả 57 người này đều do cảnh sát Pháp bắt về lý do hoạt động chính trị đã vi phạm vào sắc lệnh ngày 26-9-1939 công bố giải tán Đảng Cộng sản, cấm các việc in, rải truyền đơn, bao che cho các đảng viên Cộng sản hoạt động bí mật v.v...
Tất cả những hành động này, theo con mắt của những người thi hành luật pháp của Pháp thời đó, đều là quả tang. Và theo luật của Pháp phải do tòa án của Pháp xét xử. Có vài trường hợp phạm tội nhẹ hơn như Ethis bị bắt chỉ vì tội “có cảm tình với Cộng sản”, và đã nuôi những người vượt ngục ở trại tập trung Compiège, hay như Fillätre đã cho một đảng viên Cộng sản mượn xe đạp; như Scordia chỉ vì bị nghi là có quan hệ với một đảng viên Cộng sản. Những người này bị bắt trước khi xẩy ra vụ mưu sát thì làm sao họ có thể tham dự vào các hành động chống lại quân đội Đức được? Hai người bị bắt ngay sau khi có bản thỏa thuận Oberg-Bousquet là: Deschanciaux bị bắt ngày 1-8, và Bretagne bị bắt ngày 3-8. Hai người đều bị giao lại cho Gestapo. Đến ngày 10-8 có 5 trong số những người bị xử bắn vẫn còn ở nhà giam của cảnh sát Pháp là Boatti, giam ở nhà tù Fresnes; Jean Compagnon, Hanri Dauboeuf và François Wouters bị giam ở Sở cảnh sát Pháp và đến ngày 10-8 bị giao cho Đức rồi bị xử bắn ngay vào ngày hôm sau. Raine bị lữ đoàn cảnh sát đặc biệt của Pháp bắt ngày 18-6, cũng bị xử bắn.
Những người ấy do chính quyền Pháp bắt, thì sao lại bị kết tội, giam giữ và xử theo điều khoản trong bản thỏa thuận Oberg-Bousquet? Một trong hai người là Louis Thorez, bị bắt vào tháng 10-1940 về tội rải truyền đơn bị kết án 10 năm tù và bị chuyển đến trại tập trung Châteaubriant, rồi cũng bị giao cho Đức để chúng đưa đến trại tập trung ở Compiègne. Nhưng ngày 22-6-1942, Louis Thorez đã vượt ngục. Ngày 10-7 Thorez bị bắt lại, bị giao cho bọn Đức rồi cũng bị chúng xử bắn.
Như vậy 57 người Pháp đều đã chết gục dưới những viên đạn của bọn Đức, đúng vào lúc mà ông René Bousquet tưởng đã xóa bỏ được điều luật về con tin của Đức.
Chính phủ Vichy đã phản đối sự vi phạm quả tang, trắng trợn thỏa thuận Oberg-Bousquet còn chưa khô mực. Việc vi phạm này chứng tỏ lời nói và chữ ký của Oberg không có một chút giá trị nào, và Gestapo chỉ hành động theo sở thích của chúng, tiếp tục gieo rắc nỗi kinh hoàng cho nhân dân ở các nước bị chúng chiếm đóng.
Hình như thảm kịch ngày 11-8 không tác động gì đến thái độ của chính quyền Pháp. Họ chỉ nêu lại bản thỏa thuận năm 1943; đặt trong tay những người nắm chức quyền cao nhất của Pháp ủng hộ Vichy.
Oberg vẫn tiếp tục ra lệnh xử bắn các con tin như trước. Nhiều người Pháp bị lữ đoàn cảnh sát đặc biệt bắt đều bị giao lại cho Gestapo. Ngày 19-9 gần hai tháng sau khi công bố bản thỏa thuận Oberg-Bousquet, Oberg đã cho đăng báo ở Paris công bố để trả thù cho vụ mưu sát binh lính Đức xẩy ra vào ngày 17-9 ở rạp chiếu bóng Rex tại Paris, sẽ có 116 con tin bị xử bắn. Đây là vụ giết người với số lượng lớn mà người ta thấy xẩy ra ở Pháp từ sau khi có bản thỏa thuận Oberg-Bousquet. Ngày 21-9, tất cả 116 con tin, trong đó có 46 người ở Paris và có 70 người ở Bordeaux, bị xử bắn. Trường hợp những con tin bị xử bắn cũng giống như vụ xẩy ra ngày 11-8. Ở Paris có 46 con tin bị giết thì chỉ có 1 người bị tòa án Đức xử tử còn 45 người kia không tham dự gì vào vụ mưu sát ở rạp Rex.
Bộ trưởng Bộ an ninh Pháp cũng đã làm hết mình để can thiệp vào những vụ này, nhưng ông thấy bản thỏa thuận Oberg-Bousquet có rất ít tác dụng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #196 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2010, 11:12:53 pm » |
|
Trong khi diễn ra cuộc thương lượng vô ích ấy Oberg vẫn tiếp tục cải tổ lại tổ chức Gestapo. Toàn bộ lực lượng cảnh sát chia ra làm hai ngành cảnh sát trật tự mặc sắc phục (Orpo) và cảnh sát an ninh (Sipo-S.D). Knochen chỉ huy ngành cảnh sát thứ hai, cũng chia ngành này thành hai bộ phận, được phân cấp rõ ràng, giống như ở Berlin. Lực lượng thứ nhất chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh nội bộ các vùng đóng quân ở Pháp. Bộ phận thứ hai làm nhiệm vụ điều tra, thu thập tin tức về chính trị và phản gián, giám sát nước Pháp, những nước trung lập và Vatican. Chỉ có lực lượng thứ nhất mới có quyền bắt giữ người. Ban chỉ đạo trung ương về quyền hành quyết đóng ở số nhà 11, phố Saussaies và người chỉ huy do Berlin cử sang.
Tổ chức của bộ phận thứ hai đóng ở Pháp là Ban III của sở Sipo-S.D ở Paris, chia ra làm 4 đội. Ban III thu thập tất cả tin tức tình báo chủ yếu về hoàn cảnh nội tình nước Pháp.
Đội thứ 4 của Ban III lại chia ra 5 toán nghiên cứu về các lĩnh vực.
1 Thực phẩm và nông nghiệp.
2- Thương mại và giao thông.
3- Nhà băng và chứng khoán.
4 - Kỹ nghệ.
5- Nhân công và xã hội.
Chỉ huy Ban III là Maulaz rất thành thạo, có khả năng, học thức, lịch thiệp, biết cách dùng các mối quan hệ, thường lui tới các phòng trà và biết cách khai thác những người am hiểu nhiều thông tin như các chuyên gia có tiếng tăm, các thương nhân, người trong giới thượng lưu, các chủ nhà băng, các nhân viên phòng chứng khoán, phụ nữ, các cô tình nhân, những người hoạt động chính trị v.v... Ví dụ có ông giám đốc nhà băng đã chỉ cho Maulaz hoàn cảnh thực tế của một vài xí nghiệp, sự phân bổ công việc, thực trạng của nội tình xí nghiệp, cách kiểm soát thế nào cho tốt. Những thông tin tốt ấy có giá trị đối với Maulaz để hắn chỉ đạo công việc điều tra, nắm được những thông tin về tình hình. Hay như ông chủ của hãng kỹ nghệ lớn, bấy giờ đang phát triển mạnh, đã cho hắn biết các thủ đoạn của những xí nghiệp khác đang cạnh tranh với hãng kỹ nghệ của ông ta, nói cho Maulaz rõ về số lượng sản phẩm, những sản xuất thực tế mà họ đang tìm cách khai man để trốn thuế. Ông ta mong muốn có được sự cộng tác với nước Đức sau ngày chiến thắng và ông ta mong sẽ giúp được cho Maulaz nhiều vấn đề sau này. Hay như một nhà buôn lớn đã cung cấp tin tức nội tình của những nhà buôn đang cạnh tranh với ông ta là người Do Thái. Điều đó đáng để cho các nhà chức trách Đức trưng thu tài sản của họ.
Hay người tình của một nhà hoạt động chính trị, đã cho Maulaz biết đời tư của ông này và những quan hệ chính trị bí mật.
Maulaz hoạt động thoải mái. Hắn ca tụng những thú ăn chơi của giới thượng lưu. Những tin tức mà hắn thu được đã giúp cho những ông chủ của hắn ở Berlin khai thác được nền kinh tế của Pháp.
Khi người ta cho rằng những con số về nguyên liệu hắn thu thập được là quá đáng thì hắn đã cho biết hắn có đủ số liệu về việc sản xuất nông sản và công nghiệp một cách cụ thể và cả khả năng tăng trưởng nền kinh tế Pháp. Điều đó càng giúp người Đức trưng dụng được số tài sản lớn.
Chỉ vì lợi ích cá nhân mà những người Pháp đã trở thành đồng lõa với Maulaz để cướp bóc tài sản của nhân dân họ.
Trong thời kỳ lạ lùng ấy, một bộ phận giới quý tộc Paris đã gây ra một vụ việc khá bẩn thỉu.
Cũng trong thời gian này Oberg đã đặt thêm những trụ sở mới của các sở, phòng, ban của Gestapo tại đại lộ Foch. Những trụ sở ấy là những dấu hiệu cho thấy ưu thế của cảnh sát đối với giới quân sự.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #197 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2010, 11:13:30 pm » |
|
Bên cạnh Oberg có một cơ quan tình báo chính trị do người của S.D chịu trách nhiệm (Cục VI) một phòng kiểm soát các báo chí, thư từ, nghệ thuật, chiếu bóng, rạp hát, một phòng giám sát các nhà thờ Cơ đốc và đạo Tin lành; một phòng mới chuyên về chống cộng sản; một phòng chống phản gián điệp trong các nước thù địch và thu thập tình báo ở các nước trung lập.
Tất cả những phòng này đều sáp nhập vào Ban II của Knochen.
Knochen lợi dụng triệt để sự ủng hộ của Heydrich để tiến hành công việc. Nhưng cái chết của Heydrich đã làm thay đổi một phần hoàn cảnh của Knochen.
Kaltenbrunner thì không quan tâm gì công việc của cảnh sát. Müller đã thực sự trở thành ông chủ của Gestapo. Hắn ra những chỉ thị bằng miệng, sau đó mới gửi thư báo cho cấp dưới biết để thi hành.
Knochen cố áp dụng những cách thức khá mềm dẻo trong công việc ở Pháp, nên những mệnh lệnh cứng rắn của Müller thường làm cho hắn khó chịu, đôi khi hắn lờ đi không chịu thi hành. Knochen thích độc lập. Hắn tự hào cho rằng tổ chức cảnh sát Đức ở Pháp là do hắn gây dựng nên. Vì thế Knochen thường tỏ ý công khai không chịu phụ thuộc vào Müller.
Müller đã thẳng thừng kết tội Knochen, không phải thân Pháp mà là “thân với Phương Tây.”
Những cuộc đả kích nhau, mà người Pháp cũng cảm thấy cay đắng, đã trở nên gay gắt làm cho Himmler, trước đây cố quên những chuyện đó, đến nay không thể không can thiệp. Knochen đã chống lại rất cương quyết và được Oberg che chở.
Ở Paris, theo con mắt của giới quân sự Knochen luôn là kẻ tự do quá trớn. Thông thường thì tất cả hồ sơ và những người bị bắt giam, sau khi hỏi cung xong không được thả ra mà phải giao cho giới quân sự. Thực tế người được tòa án binh tuyên bố trắng án thì lại bị Gestapo bắt. Nhưng bọn này thường giết những người ấy trước khi đưa hỏi tòa án. Knochen không làm những công việc đó, mà báo về nước Đức, đến nỗi ngày 12-4-1943, Kaltenbrunner phải đăng một thông báo nêu rõ: “Thường khi tòa án thông báo cho Gestapo lệnh ân xá đối với người tù nào đấy, thì Gestapo đã xử tử họ rồi. Vì lý do đó mà Hitler ra lệnh từ nay Gestapo phải báo cho các tòa án địa phương biết về các cuộc hành quyết. Nhưng thông tin hạn chế, sẽ không báo tên tội phạm và hành động phạm tội. Lý do để xử tử cũng không cần phải thông báo.”
Những chỉ thị này được Oberg nhấn mạnh thêm, trước hết bởi vì có sự đòi hỏi cấp bách của Himmler, do mùa xuân năm 1942 nguyên tắc của Gestapo ngày càng cứng rắn hơn. Một thông tin của Cục R.S.H.A ra ngày 10-6-1942 gửi cho tất cả các sở, phòng, ban của Sipo-S.D quy định rõ những điều cần tôn trọng để tăng cường những cuộc thẩm vấn. Chúng áp dụng hình thức chặt chẽ, có thể xét hỏi đối với tất cả mọi người:
“1/ Những cuộc hỏi cung bắt buộc tăng cường áp dụng đối với kẻ bị giam giữ biết nhiều tin tức quan trọng về kẻ thù; hay bao gồm những việc liên quan, hay kế hoạch hành động mà kẻ bị giam giữ không chịu khai báo.
“2/ Những cuộc hỏi cung tăng cường chỉ có thể áp dụng để chống lại bọn Cộng sản, các Bibleforscher (sinh viên các trường tôn giáo) những kẻ phá hoại, khủng bố, chống đối, những nhân viên liên lạc, những người vô chính phủ, những người trốn quân dịch ở Ba Lan hay Nga, những kẻ lang thang trộm cắp.
“Trong tất cả các trường hợp, theo nguyên tắc, lệnh của tôi phải được thi hành ngay.”
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #198 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2010, 11:14:35 pm » |
|
* Tháng 7-1942, đã có dấu hiệu về cuộc thương lượng. Cũng trong thời gian này diễn ra cuộc trao đổi tích cực để đạt được các điều khoản trong bản thỏa thuận Oberg-Bousquet. Đã có nhiều cuộc đàm phán với Darlan, tư lệnh trưởng lực lượng bộ binh, hải quân và không quân. Ngày 17-4, tướng Bridoux, bộ trưởng Bộ chiến tranh đã trao đổi về những biện pháp cho phép Đức tăng thêm quân số 50 ngàn người cùng những quân dụng cho quân đội trong hoàn cảnh đình chiến. Trò trẻ con của tướng Bridoux chỉ do động cơ cá nhân muốn làm tăng thêm uy tín cho mình. Nhưng còn lâu mới làm thỏa mãn được đòi hỏi của quân đội Đức. Đầu tháng 9, có một cuộc họp ở Paris, tại khách sạn Lutétia, trụ sở của Bộ quốc phòng, hai sĩ quan Pháp, đại diện cho tướng Darlan và Bridoux đã chịu trách nhiệm thương lượng với quân Đức. Đô đốc hải quân Canaris, cũng có mặt ở Paris. Cố vấn sứ quán Đức là Rahn, chuyên gia về tình báo đã mời cơm Canaris và hai sĩ quan Pháp. Sau đó diễn ra hai cuộc họp tiếp ở khách sạn Lutétia. Ở cuộc họp thứ nhất, đại tá Reile thay mặt cho Canaris, nhưng ngày hôm sau Reile đã coi như người có quyền “kết luận sự việc.” Thoạt đầu tiên, những người của Bộ quốc phòng Đức đề nghị sự cộng tác có hiệu quả giữa các nhân viên điều tra của Đức với Phòng nhì của Pháp ở Bắc Phi. Họ đã nhanh chóng đi tới sự thỏa thuận và nhân viên điều tra của Phòng nhì Pháp sẽ chuyển báo cáo cho nhân viên điều tra của đô đốc Canaris về những hoạt động của các hạm đội qua lại giữa Dakar và hải cảng Bathurst của Anh. Nhưng Canaris lại có những dự kiến khác. Canaris muốn chính phủ Vichy cấp cho người Đức giấy tờ giả là người Pháp để làm nhiệm vụ quan trọng của cảnh sát ở miền Nam, khu vực Đức chưa chiếm đóng. Bộ Quốc phòng Đức còn được đặt một cơ quan là Cục IIIF chuyên về radio, phát hiện các đài phát bí mật. Một cơ quan khác là W.N.VF đặt trụ sở ở số 64, đại lộ Suchet, được đặt những trung tâm nghe nhìn ở Bois le-Roi và ở Chartrettes (tại vùng Seine ét Marne). Cơ quan này còn được sử dụng một đơn vị lưu động do đại úy Shuster chỉ huy. Chúng dò các đài phát quan trọng bí mật thường xuyên giao dịch với Anh. W.N.VF đặt ở khu vực miền Nam nước Pháp, vùng chưa bị Đức chiếm đóng, đặc biệt là ở Lyon. Các nhà chức trách Đức đã dễ dàng buộc chính phủ Vichy không được hoạt động để tránh những hậu quả về quân sự quan trọng cho Đức. Nhưng tham vọng của Bộ quốc phòng Đức và Gestapo còn rất rộng. Gestapo muốn hoạt động kín đáo ở vùng tự do. Vào thời điểm đó đã có một chiến dịch với danh nghĩa hợp tác Pháp - Đức để loại trừ hết các đài phát bí mật. Sự cộng tác thân thiện này cũng có ảnh hưởng tốt cho yêu cầu của Pháp là tăng thêm cho đội quân đang đình chiến. Những đại diện người Pháp, sau khi đã đệ trình ý kiến lên thủ tướng Laval, buộc phải chấp nhận nguyên tắc là những người Pháp bị bắt trong các chiến dịch sẽ bị giao cho tòa án Pháp xét xử, để đổi lại Pháp sẽ cấp giấy tờ giả cho bọn Gestapo hoạt động ở các vùng nước Pháp chưa bị Đức chiếm đóng như thẻ căn cước, phiếu lương thực, giấy thông hành v.v... Bousquet buộc phải cung cấp các giấy tờ giả này cho bọn Đức, đã cảm thấy như mình bị xỏ mũi, nhưng theo lệnh của Laval, ông ta cúi đầu làm chuyện đó.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #199 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2010, 11:16:22 pm » |
|
Ngày 28-9, đội đặc công hỗn hợp của Đức tiến vào vùng phía Nam nước Pháp. Bọn này gồm 280 người gồm người của quân đội, của Gestapo và của lực lượng Orpo. Tất cả bọn chúng đều mang giấy tờ giả của người Pháp. Đây là sự tiếm quyền của bọn Đức vào công việc của Vichy và chúng đã bắt Chính phủ Pháp phải thần phục. Hậu quả của việc này là rất nghiêm trọng.
280 tên đặc công Đức chia nhau đến ở trong các nhà mà chúng đã chuẩn bị trước ở Lyon, Marseille và Montpellier. Boemelburg được giao trách nhiệm chỉ huy đơn vị, là phụ tá của Dernbach trong Bộ quốc phòng Đức, và Shuster là người của Orpo. Toàn bộ chiến dịch này mang tên mật mã là Hành động Donar 1.
Tất cả những tên Đức trong đơn vị này đều nói thành thạo tiếng Pháp.
Sau khi ổn định chốn ăn ở, mẻ lưới đầu tiên đã phát hiện chính xác một số đài phát đặt ở giáp vùng phía Bắc. Tên đại diện cho Bộ quốc phòng có tài năng phát hiện những làn sóng của đài phát bí mật; Fridrich Dernbach, là cựu cảnh sát chính trị. Hắn cũng như những tên Gestapo kỳ cựu trong cơ quan do thám của Đức, một tên đặc công thiện nghệ của đơn vị Balte mà tên Roehm đã lựa chọn. Hắn cũng là tên Quốc xã hoạt động từ thời kỳ bí mật, tham gia lực lượng cảnh sát chính trị ở Brême năm 1925. Cuối cùng Dernbach trở thành chỉ huy đơn vị Abteilung III F ở Sarrebruck, khi đó hắn là một chuyên gia về radio. Không khó khăn, hắn nhanh chóng thiết lập toàn bộ hệ thống đài dò tin bí mật. Khi mẻ lưới giăng ra, hắn bắt được độ 15 đến 20 đài phát bí mật ở vùng Lyon. Sau đó nhiều đài phát bí mật ở Marseille, Toulouse, trong vùng Pau cũng bị phát hiện và bị xóa sổ. Từ đó người của Boemelburg bắt đầu hoạt động. Đội đặc công Kiefer là toán đầu tiên được cử sang Paris giúp cho Knochen vào tháng 7-1940. Đơn vị đặc công này lấy tên Kiefer, là tên kẻ chỉ huy. Kiefer ở lại Pháp như là một chuyên gia về chống gián điệp. Hắn khiêm tốn đúng mức, bình tĩnh, không có tham vọng cá nhân. Hắn là chuyên viên điêu luyện về công việc chống gián điệp, mà bọn Đức gọi là Funkspiel. Khi chúng đã bắt giữ được những người điều khiển đài phát tin bí mật thì công việc thực sự bắt đầu được tiến hành. Một Funkspiel là một chiến dịch tế nhị, sau khi đã bắt được đài phát bí mật, chúng tiếp tục cho đài này liên lạc trực tiếp với kẻ thù. Nhưng cũng rất khó khăn khi tiến hành công việc này. Trước hết là về kỹ thuật mật mã, giờ phát sóng chính xác, cách gọi liên lạc v.v... Dẫu vậy việc nghe tin kéo dài có thể giải quyết được những rắc rối trên; nhưng khó là ở chỗ khi “nhận” tin và “thao tác” phải làm sao cho thật giống với người phát tin trước đây. Giữa hai người phát, nhận tin ở hai đầu, thường có quy định với nhau một tín hiệu không thể thiếu được. Nếu thay đổi người ta có thể cảm nhận ngay ra sự không bình thường. Mỗi người thao tác đài phát có cách hoạt động riêng, mà một đài thường có nhiều người thao tác. Người đã thành thạo nhận ngay ra tín hiệu là của người nào đang phát tin liên lạc với mình.
Đội đặc công Funkspiel bắt được người đánh điện đài, buộc họ phải tiếp tục làm việc theo ý đồ của chúng. Cách này cũng có những mạo hiểm rằng mình đã bị bắt. Và có thể từ đây đối phương sẽ chơi trò phản gián.
Một cách ít hiệu quả là thay người đánh điện đài, bắt chước đúng những thao tác của người đã bị bắt.
Boemelburg và Kiefer đã liên lạc với Kopkow, một chuyên gia người Đức, sử dụng rất giỏi điện đài bí mật. Đã có nhiều điện đài bí mật bị phát giác, người đánh điện cũng bị bắt, mà Kopkow vẫn tiếp tục sử dụng điện đài bí mật truyền tin về London mà người nhận tin không biết gì về người phát tin đã bị bắt.
Kết quả là thảm khốc đối với những người kháng chiến Pháp. Bọn Đức đã “tiếp đón” nhiều đợt thả dù vũ khí (có khoảng 20.000 vũ khí rơi vào tay quân Đức), đạn dược, tiền... Chúng còn nhận được những tài liệu để khám phá ra những hệ thống liên lạc, những đơn vị kháng chiến Pháp, đặc biệt là ở Normandie, trong vùng Orléans, Angers và cả vùng xung quanh Paris. Quân Đức đã tiến hành bắt rất nhiều người hoạt động bí mật.
Những tên đặc công Donar, không tiến vào vùng phía Bắc, vì Boemelburg phải trở về Paris, thay vị trí của hắn là tên Muhler cũng nói tiếng Pháp chuẩn như hắn.
Ngày 11-11, khi những đội quân Đức tràn xuống vùng phía Nam nước Pháp, chúng vẫn tiếp tục hoạt động, nhưng không cần phải mang giấy tờ giả như đội Donar đầu tiên xâm nhập vào miền Nam nước Pháp.
Cuối năm 1942, đầu năm 1943, những đội đặc công mới Funkspiel đã giúp cho quân Đức thu được kết quả trong vụ French Section (Ban điện đài bí mật ở Pháp). Nhờ có một người làm nghề thủ công sắp bị xử tội khai những mẩu tin rời rạc, và qua việc nghe được các tin tức..., Gestapo đã tổng hợp lại các tình hình để có thể bắt liên lạc qua radio với đường dây của Phòng nhì Pháp và cơ quan do thám Anh mang cái tên French Section.
Việc bắt liên lạc với London đã có kết quả. Những phái viên mật nhảy dù xuống đất Pháp đều bị quân Đức bắt. Những tài liệu mà những người này mang theo đều bị Đức thu giữ. Và thế là toàn bộ mạng lưới tình báo của Anh trên đất Pháp đã bị bắt gọn. Việc khai thác vụ án này kéo dài đến tháng 5-1944.
Thực tế đội đặc công Funkspiel đã không còn. Gestapo đã loại trừ đội này bằng một hành động khôn ngoan. London nhận được tín hiệu cuối cùng qua làn sóng điện đài của Đức vẻn vẹn có một câu: “Cảm ơn sự cộng tác của các ông và đã giúp gửi cho chúng tôi nhiều vũ khí.” Người đánh điện đài bí mật của Anh cũng trả lời bốp chát: “Chẳng có gì là quan trọng. Số vũ khí ấy không đáng kể gì đối với chúng tôi. Đây chỉ là thứ hàng xa xỉ mà chúng tôi dễ dàng gửi đi. Chúng tôi sẽ sớm thu hồi lại ngay!”
Bọn Đức không hiểu rằng từ nhiều tuần, người Anh đã hiểu rằng những đài phát tin bí mật của họ ở Bretagne đã lọt vào tay kẻ thù. Chính vì thế họ tự nguyện tiếp tục trò chơi này. Dưới hình thức đó, Anh đã tổ chức lại nhiều nhân viên mật khác để thay thế hoạt động.
Những kết quả của chiến dịch Funkspiel đã gây tổn thất nặng nề cho cuộc kháng chiến của Pháp, cũng như cơ quan do thám của Đồng minh. Họ phải mất công sức trong nhiều tháng để phục hồi lại những mất mát. Có nhiều người kháng chiến Pháp và Đồng minh bị rơi vào tay Gestapo, đã bị xử tử hay bị đày đến các trại tập trung. Những trang tiếp đây kể lại thời kỳ đen tối nhất của lịch sử kháng chiến Pháp. _______________________________________ 1. Tên mật mã của chiến dịch - Donar là thần Sấm sét - tên do Boemelburg đặt.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|