Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:16:46 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884109 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #320 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2009, 05:29:44 am »

Bổ ích nhưng cần xem lại tiêu chí:
Vốn là học sinh khóa 9 (1974-1981) của Đại học Quân y (nay là Học viện Quân y) tôi rất mừng khi đọc được thông tin về các thầy, thủ trưởng của mình trên trang này.

Nhưng hình như vẫn thiếu và nếu có thêm bảng Mục lục danh sách các vị Tướng đã được nhập thì tiên tra cứu hơn. Đồng thời, tôi thấy chủ đề là "tướng lĩnh" sao trong bài lại có đến mấy Đại tá và vài vị chưa có cấp hàm vậy?
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười, 2009, 05:34:56 am gửi bởi menthuong » Logged

panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #321 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2009, 02:58:47 am »


Nhưng hình như vẫn thiếu và nếu có thêm bảng Mục lục danh sách các vị Tướng đã được nhập thì tiên tra cứu hơn. Đồng thời, tôi thấy chủ đề là "tướng lĩnh" sao trong bài lại có đến mấy Đại tá và vài vị chưa có cấp hàm vậy?


Dạ. Thực ra những câu hỏi này nhiều người đã đặt ra rồi ạ. Ở đây, đề cập đến một số đại tá (thậm chí có cả thượng tá) rồi một số người chưa có cấp hàm cấp vị là bởi vì có tính đến chức vụ cũng như những đóng góp của họ đối với quá trình lãnh đạo Quân đội.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #322 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2009, 03:29:06 am »


Thiếu tướng Giáo sư Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Văn Âu (22.4.1924) từng giữ chức vụ: Phó Viện trưởng Viện Quân y Trung ương Quân đội 108, Phó Viện trưởng Viện Quân y 211 Mặt trận Tây Nguyên.

Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Giải phóng (hạng Nhì, ba), Huân chương chếin công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huy chương Quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp khoa học và Công nghệ, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy chương Vì Sức khỏe Nhân dân, 5 năm liền là Chiến sĩ thi đua, Chiến sĩ Quất thắng (1975 – 1979).


Thiếu tướng Nguyễn Văn Âu quê tại phố Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Sau khi Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông lên Việt Bắc theo học Đại học Y kháng chiến tại Việt Bắc. Sau 4 năm học, vì điều kiện kháng chiến, Trường không có điều kiện tổ chức cho sinh viên bảo vệ tốt nghiệp, ông cùng các bạn cùng khóa tạm thời được cấp bằng Y sĩ cao cấp. Năm 1950, ông được cử vào Nam chiến đấu tại chiến trường Liên khu 5, là Trưởng ban Quân y Trung đoàn 803 chủ lực của Liên khu.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Trường Đại học Y chuyển lại về Hà Nội tổ chức thi tốt nghiệp, ông được cấp bằng bác sỹ và được cử giữ chức vụ Đội phó Đội điều trị 1, Cục Quân y (1955 - 1956). Năm 1957, ông về công tác tại Viện 108 làm Trưởng Khoa Truyền nhiễm.

Năm 1966, ông lên đường vào Nam chiến đấu trên cương vị Viện phó Viện Quân y 211 thuộc Mặt trận Tây Nguyên (B3). Năm 1971, ông được gọi ra Bắc đi học bổ túc về ngành Truyền nhiễm tại Viện Ki-rốp của Liên Xô. Về nước năm 1973, ông được cử làm Viện phó Viện Quân y 108 cho đến khi về hưu năm 1995.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Âu được phong Phó Giáo sư năm 1980, Giáo sư năm 1991. Ông cũng được phong tặng danh hiệu Thày thuốc Ưu tú năm 1989 rồi danh hiệu Thày thuốc Nhân dân. Ông nghịên cứu về các bệnh truyền nhiễn nhệt đới. Sốt rét, sốt rét ác tính, đái huyết cầu tố, sốt rét dai dẳng – viêm gan virus B – số xuất huyất, thương hàn, lỵ, nhiễm HIV và AIDS. Ông đã hướng dẫn thành công 1 luận án Tiến sĩ và 1 luận văn Thạc sĩ. Hoàn thành 2 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ. Công bố 20 bài báo trên các tạp chí trong và ngòai ngành. Đã xuất bản 7 cuốn sách viết về chuyên môn phục vụ cho học tập và nghiên cứu.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #323 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2009, 11:22:38 pm »


Thiếu tướng Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Hưng Phúc (10.8.1927) từng giữ chức vụ: Phó Viện trưởng Học viện Quân y.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huy chương Vì sự nghiệp Giáo dục,  Huy chương Vì sức khỏe Nhân dân, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ.


Thiếu tướng Nguyễn Hưng Phúc quê tại Hà Nội. 1956 - 1972, ông là Giảng viên Trường Quân y sĩ và Đại học Y - Dược Hà Nội, Phó chủ nhiệm Bộ môn Độc học Học viện Quân y. 1973 - 1987, được cử đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô, ông được cấp học vị Tiến sĩ năm 1975 và học vị Tiến sĩ Khoa học năm 1986. 1988 - 1995, Chủ nhiệm Bộ môn Độc học rồi Phó Viện trưởng Học viện Quân y. Ông là Ủy viên Hội đồng học hàm ngành Dược từ năm 1995 đến năm 2000. Thiếu tướng Nguyễn Hưng Phúc nghỉ hưu năm 1997 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Thiếu tướng Nguyễn Hưng Phúc được công nhận chức danh Phó giáo sư năm 1980, chức danh Giáo sư Dược học năm 1984, chuyên ngành Độc học Quân sự, ông cũng được phong danh hiệu Nhà giáo Nhân dân. Ông chuyên nghiên cứu hậu quả chiến tranh hóa học của Mỹ ở miền Nam Việt Nam đối với con người và biện pháp khắc phục. Chất thải của hóa chất độc hại trong nhà máy công nghiệp, quốc phòng và biện pháp phòng ngừa. Tác dụng của thuốc giãn cơ vân đối với hội chứng co giật do nhiều nguyên nhân khác nhau. Ông đã hướng dẫn 10 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ. Giảng dạy cho nhiều khóa đại học, sau đại học và độc học tại Học viện Quân y. Hòan thành 1 đề tài cấp Nhà nước và 4 đề tài nghiên cứu cấp Bộ. Chủ biên 3 bộ sách giáo khoa và tham gia biên sọan các sách: Phòng và chữa tác hại do vũ khí hóa học (1995).Tổn thương do vũ khí hóa học, cách phòng điều trị (1987). Tổ thương do vũ khí hóa học,vũ khí hạt nhân và biện pháp phòng chống (1993). Đề phòng, tự cứu, cứu nhau đối với vũ khí hóa học, vũ khí hạt nhân vũ khí sinh học.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #324 vào lúc: 11 Tháng Mười Một, 2009, 05:44:23 am »


Thiếu tướng Vũ Khắc Sương (? - 27/10/2009), từng giữ các chức vụ: Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội An Giang (2 lần), Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bến Tre.

Thiếu tướng (1988).


Thiếu tướng Vũ Khắc Sương sinh tại làng Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Huyện Giồng Trôm quê hương ông cũng là quê hương của nhiều tướng lĩnh như: Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Trung tướng Đồng Văn Cống, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị, Thiếu tướng Trần Minh Tích, Thiếu tướng Trần Văn Nhiên, Trung tướng Võ Viết Thanh, Đại tướng Lê Văn Dũng, Thiếu tướng Nguyễn Văn Ngay.

Ông tên thật là Võ Văn Cẩn, sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo lại sớm mồ côi mẹ. Tên Vũ Khắc Sương là tên ông ghép họ ông với tên vợ đầu là bà Trần Thị Sương sau khi bà cùng con trai út bị mất vì bom pháo của kẻ thủ. 2 con đầu của ông cũng bị mất từ nhỏ vì bệnh trái nắng.

Ông sớm giác ngộ cách mạng, gia nhập bộ đội trưởng thành từ chiến sĩ đến chỉ huy trong “Bộ đội ông Cống” Chi đội 19 rồi Trung đoàn 99 thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tham gia các trận đánh khắp chiến trường Tây Nam Bộ.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra Bắc, tham gia xây dựng quân đội chính quy rồi được cử đi học sĩ quan. Năm 1962, trước yêu cầu mới của cách mạng miền Nam, ông vượt Trường Sơn trở về quê hương tham gia chiến đấu. Ông từng là Tiểu đoàn trưởng dũng cảm của Tiểu đoàn 364 lập nhiều chiến công, trong đó có thành tích tiêu diệt Chi khu Kiên Lương, chiến thắng trận Vĩnh Thông vang dội. Sau đó, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu trưởng, rồi Tỉnh đội trưởng An Giang. Năm 1972, ông được Quân khu 8 điều về quê hương xứ dừa chỉ huy chiến đấu khi Tám Vị, Ba Đào, Mười Phục… đã đối đầu quyết tử với đủ loại chủ lực của địch và sau đó lần lượt rời khỏi chiến trường Bến Tre.

Thời gian ông làm Tỉnh đội trưởng Bến Tre (1972-1975) cũng là thời kỳ ác liệt của giai đoạn cuối cuộc chiến tranh. Ông chỉ huy đấu trí, đấu lực, cùng đồng đội đánh tan tác Chiến đoàn A bảo an, tiến công triệt hạ hàng loạt Phân chi khu: An Ngãi Tây, Hưng Phong, Phước Tuy, Tân Xuân, Tân Hưng, Bình Khánh, Chi khu Trúc Giang, xóa sổ Tiểu đoàn 453, Tiểu đoàn 454 bảo an, phục kích Quới Sơn – Phú An Hòa đánh dập đầu Bạch Hổ (Tiểu đoàn 401 bảo an), vây lấn tấn diệt hàng loạt đồn bót, đánh phá bình định của địch, chuyển thế chủ động chiến trường, tích cực xây dựng lực lượng chuẩn bị tham gia chiến dịch mùa Xuân 1975. Địch ở Kiến Hòa (Bến Tre) ngoan cố tử thủ khi chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng. Ông kiên quyết dùng quả đấm quân sự ở mặt trận Lương Quới và sân bay Tân Thành, buộc địch buông súng đầu hàng.

Cuối năm 1975, ông rời khỏi Bến Tre trở lại An Giang tiếp tục nhận nhiệm vụ Tỉnh đội trưởng cho đến khi về hưu. Ông lại gánh vác trách nhiệm nặng nề ở một địa bàn còn khá phức tạp sau mấy tháng giải phóng và bắt đầu phòng thủ đối phó với chiến tranh lấn chiếm biên giới của tập đoàn Pol Pot – Ieng Sari. Ông góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ biên giới và nghĩa vụ quốc tế.


"Anh Năm Sương là vị tướng mà tôi kính trọng, bởi anh có nghị lực vượt lên số phận khi đối diện với sự nghiệt ngã, cả đời giữ gìn sự liêm khiết, mẫu mực, sống có nghĩa, có tình, có thủy, có chung với nhân dân, với đồng đội, trung thành với lý tưởng, gương mẫu thực thi “quân lệnh như sơn”, dũng cảm trong chiến đấu, làm nhiều hơn nói, sâu sát từng công việc, hết lòng thương yêu cấp dưới" (Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị)

Theo Trang web tỉnh Bến Tre




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #325 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2009, 08:45:42 pm »


Đại tá Giáo sư Thày thuốc Nhân dân Anh hùng Lao động Từ Giấy (10/10/1921 – 8h40’ 13/11/2009) từng giữ chức vụ : Cục phó Cục Quân nhu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ăn mặc Quân đội. 

Ngoài ra ông còn là Viện trưởng và là người sáng lập Viện Dinh dưỡng Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Chiến công, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhì, Giải thưởng Nhà nước… Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Ông được Tạp chí các vấn đề dinh dưỡng lâm sàng châu á và Thái Bình Dương bình chọn là "Nhà dinh dưỡng xuất sắc châu á và Thái Bình Dương năm 1993".

Đại tá Từ Giấy quê tại xã Hà Hồi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Là con một trong gia đình, bố lại mất sớm, mẹ ông đã tần tảo nuôi ông ăn học. Lúc còn nhỏ, ông học chữ Nho ở trường làng rồi mới học chữ Quốc ngữ để lấy bằng Sơ học, sau đó lên huyện học hết bậc tiểu học rồi lên Hà Nội thi vào Trường Bưởi. Sau 7 năm ở Trường Bưởi, ông vào Trường Y và là một trong 7 người nhận bằng tốt nghiệp trong tổng số 200 người vào Trường.

Cách mạng tháng 8 thành công, ông gia nhập Vệ quốc đoàn. Giặc Pháp gây hấn và quay trở lại xâm lược Nam bộ, ông theo đoàn quân Nam tiến vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Mặc dù mon muốn trở thành bác sĩ phẫu thuật, nhưng trước đòi hỏi của chiến trường ông chuyển sang công tác phòng chống sốt rét cho cán bộ và chiến sĩ.

Sau các hiệp định đình chiến với quân Pháp, năm 1946 ông quay trở ra Hà Nội. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao cho tổ chức cuộc thi trẻ em khỏe trẻ em đẹp đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để đúc kết kinh nghiệm nuôi con khỏe, con giỏi cho người dân sau khi nước nhà giành được độc lập.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đầu năm 1947 ông lên Việt Bắc kháng chiến và công tác ở Cục Quân y. Tại đây, ông lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao cho nhiệm vụ mở tờ báo Vui Sống nhằm chăm sóc, hướng dẫn đồng bào, chiến sĩ trong điều  kiện kháng chiến thiếu thốn nơi rừng núi để kháng chiến lâu dài với lời dặn "không lúc nào bằng lúc này, các cán bộ chiến sỹ trong quân đội và đồng bào tản cư đang phải đương đầu với các bệnh tật hiểm nghèo vì thiếu hiểu biết về vệ sinh". Là người phụ trách tờ báo đồng thời cũng là người chịu trách nhiệm mục Hỏi Đáp, ông đã trả lời các câu hỏi của đồng bào và chiến sĩ một cách rất khoa học và dí dỏm. Thời gian ở Việt Bắc, ông còn giữ cương vị Ủy viên Ban chấp hành Hội những người viết báo Việt Nam (Hội nhà báo Việt Nam ngày nay). Trong chiến dịch Điện Biên lịch sử, ông được giao trọng trách làm Trưởng ban Bảo vệ sức khỏe cho cán bộ và chiến sĩ.

Hòa bình lập lại, quân đội điều ông về giảng dạy tại Đại học Quân Y và từ đó ông là người tiên phong trong việc xây dựng nên ngành học Vệ sinh quân đội mà ông là Chủ nhiệm đầu tiên. Ông thường xuyên tham gia giảng dạy cho Đại học Y Hà Nội và được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm đầu tiên của bộ môn Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm. Từ năm 1957 đến 1961, ông được cử đi tu nghiệp tại Liên Xô, trong thời gian này ông đã chú tâm nghiên cứu và tìm hiểu về Dinh dưỡng học và Vệ sinh phòng dịch hiện đại. Về nước, ông tiếp tục giữ chức vụ Chủ nhiệm khoa Vệ sinh Quân đội tại Trường Đại học Quân y.

Từ năm 1968 đến năm 1981, ông giữ chức vụ Cục phó Cục Quân nhu rồi sau đó kiêm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ăn – Mặc Quân đội. Ông toàn tâm toàn ý cùng tập thể lao vào nghiên cứu đủ mọi đề tài liên quan đến việc ăn uống, việc mặc, việc giữ gìn vệ sinh trong Quân đội. Ông đã vào chiến  trường nhiều lần và các cuốn sách nhỏ cùng các sản phẩm mới do các đề tài nghiên cứu của ông đã thiết thực phục vụ cho cuộc sống của hàng chục vạn chiến sĩ. Đó là các đề tài về rau rừng ăn được, bảo quản gạo, lương khô chiến trường, men nở bột mỳ, nước giải khát lên men, thức ăn tổng hợp. Và ông đã có mặt ngay tại Sài Gòn ngày thống nhất đất nước trong đoàn công tác của Cục Quân nhu và Cục Quân y đi phục vụ chiến dịch.


Ngay sau khi nước nhà thống nhất, Thủ tướng Phạm Văn Đồng (lúc đó) đã đề ra 10 Chương trình nghiên cứu trọng điểm của Nhà nước, trong đó có Chương trình cải tiến cơ cấu bữa ăn, và Ông được giao làm chủ nhiệm. Chương trình này được phối hợp với các Bộ nội thương, công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp và Tổng cục hậu cần, xây dựng mô hình thực địa ở Khu gang thép Thái Nguyên với 16000 công nhân và 30000 người thuộc các gia đình. Sau 3 năm thực hiện từ năm 1977 đến năm 1980, mô hình xây dựng đã đạt kết quả nhờ phát triển phong trào VAC ở các gia đình; các bếp tập thể đã tự túc về thực phẩm; chế biến thực phẩm tại chỗ và tổ chức được các bếp ăn cơ khí và tiết kiệm than củi; đời sống và bữa ăn của công nhân và gia đình đã được cải thiện rõ rệt. Ông đã thành công trong việc xây dựng cơ sở lý luận về chiến lược tái sinh trong ứng dụng hệ sinh thái Vườn - Ao - Chuồng truyền thống ở nước ta. Danh từ VAC đến nay đã trở thành quá quen thuộc, trở thành một giải pháp tạo nguồn thực phẩm gia đình, xóa đói giảm nghèo và dinh dưỡng hợp lý. Sáng kiến này của ông cũng được nhiều nước ở thế giới thứ ba áp dụng và học hỏi.

Ngày 13/6/1980, Chính phủ đã quyết định thành lập Viện dinh dưỡng quốc gia và cử Ông làm Viện trưởng và Ông đảm nhiệm cương vị này đến năm 1993.

Với cương vị mới, Ông đã đảm nhiệm và hoàn thành xuất sắc 2 Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước 64-02 (giai đoạn 1981-1985) và 64D (1986-1990). Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra được phương án phù hợp nhất về xây dựng cơ cấu bữa ăn của người Việt Nam, là cơ sở nền tảng cho chiến lược duy trì sức khỏe. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được in thành sách như: Thành phần dinh dưỡng thức ăn Việt Nam; Hệ sinh thái VAC và những người làm VAC giỏi; Bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam; Dinh dưỡng ứng dụng.... Với hai công trình này, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động.

Từ các kết quả nghiên cứu khoa học, ngành dinh dưỡng mà đặc biệt là Ông, đã giúp Nhà nước ta lần đầu tiên xây dựng được một chính sách về dinh dưỡng. Đó là bản "Kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng" giai đoạn 1995-2000. Đây có thể coi là bản tuyên ngôn đầu tiên về đường lối dinh dưỡng ở nước ta, trong đó tổng hợp các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm về phòng, chống suy dinh dưỡng, cải tiến bữa ăn.

Với những công trình kể trên, từ năm 1982 đến năm 1999, ông là Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, cố vấn ding dưỡng Quốc gia. Từ năm 1999 đến năm 2003, ông là Chủ tịch Hội dinh dưỡng Việt Nam.

Ông cũng rất quan tâm và có những đóng góp nổi bật cho công tác giáo dục dinh dưỡng, phổ biến các kiến thức dinh dưỡng cho người dân. Ông là người đề xuất "nguyên nhân gốc rễ thứ 2 của suy dinh dưỡng là sự kém hiểu biết". Đề xuất đó đã được Hội nghị cấp cao về dinh dưỡng quốc tế năm 1992 tại Roma thừa nhận và ghi vào Tuyên cáo của Hội nghị.

Ông cũng là tác giả của nhiều tài liệu phổ biến giáo dục dinh dưỡng như các sách "Làm mẹ", "Phong cách ăn Việt Nam", "Dinh dưỡng hợp lý và sức khỏe", Tổng quan "Kinh nghiệm giáo dục dinh dưỡng trong chiến tranh giải phóng dân tộc và trong xây dựng hòa bình"... trong đó Ông luôn luôn gắn liền những kiến thức về dinh dưỡng với thực tế cuộc sống.

Ông được phong Học hàm Giáo sư Y học chuyên ngành Dinh dưỡng năm 1980, rồi Anh hùng Lao động năm 2000. Ông chuyên nghiên cứu nếp sống vệ sinh trong quân đội.Cải tiến bữa ăn của bộ đội ( bếp ăn, tiêu chuẩn, nhà ăn cơ khí hóa). Nghiên cứu chữa trị dịch bệnh phù, dịch bệnh quáng gà. Sản xuất lương khô phục vụ trong quân đội. Các công trình khoa học của ông đều mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, cán bộ chiến sĩ trong Quân đội, chúng xuất phát từ những yêu cầu thực tế trong cuộc sống và chiến đấu.

Là Giáo sư, xong tuy nhiên ông hoàn toàn không có bằng cấp Tiến sĩ. Tuy nhiên, trong cuộc đời hoạt động khoa học, đến nay Ông đã có 26 công trình khoa học, 43 công trình tổng quan và xuất bản 33 đầu sách đồng thời tham gia  hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh trở thành thạc sĩ, tiến sĩ.

Sưu tầm và tổng hợp



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #326 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2009, 11:17:59 am »

Hình như ở tiêu đề thiếu chữ "Y", nếu không có nhiều người hiểu là Quuan nhu, Quân khí, Quân nhạc...thì sao?

Đây là quote lại ạ, chứ trong bài viết chính vẫn đủ chữ "Quân Y". Sở dĩ bị mất chữ "Y" là do phần tiêu đề trong Quân sử giới hạn chữ, nếu tiêu đề vượt quá một số lượng ký tự nhất định thì các ký tự vượt quá sẽ bị tự động cắt đi.

Đúng là các "tiêu đề khác vượt quá một số lượng ký tự nhất định thì các ký tự vượt quá sẽ bị tự động cắt đi" nên nhiều trường hợp như vậy. Panphilov@ nhắc tôi mới nhớ ra. Tôi quan tâm đến bài viết này bởi chính Thiếu tướng (khi đó là Đại tá) vào ngày 09/3/1981 đã ký BẰNG TỐT NGHIỆP số:  1737-ĐHQY cho tôi theo QUYẾT ĐINH công nhận tốt nghiệp số 72/QĐ/QP ngày 06/3/1981 của Bộ Quốc phòng.

Nhớ ơn thầy!
Logged

panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #327 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2009, 12:15:31 am »


Thiếu tướng Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Mai Năng (tên thật: Tạ Văn Thiều), từng giữ chức vụ: Đoàn trưởng Đoàn 126 Quân chủng Hải quân, Tư lệnh Binh chủng Đặc công (1992).

Huân chương Quân công (hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì, 2 hạng Ba)...

Khi được tuyên dương Anh hùng, ông là Đại úy - Tham mưu trưởng - Đội trưởng Đội 1 - Đoàn Đặc công nước 126.

Thiếu tướng (1992)


Thiếu tướng Mai Năng sinh tại xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Ông nhập ngũ năm 1950, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam cũng trong năm này. Trong Kháng chiến chống Pháp, ông tham gia chiến đấu tại Liên khu III, là tổ trưởng Trinh sát trong Trận đánh sân bay Cát Bi ngày 7 tháng 3 năm 1954.

Trong Kháng chiến chống Mĩ, có công tham gia xây dựng ngành đặc công của hải quân, nghiên cứu phát triển cách đánh mới độc đáo, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Chỉ huy Đội 1 đặc công đánh chìm và đánh hỏng 30 tàu địch (3 lần Đội được tuyên dương Anh hùng), tham gia chỉ huy Đoàn 126 đánh chìm nhiều tàu địch trên tuyến Cửa Việt - Đông Hà từ 14 đến 28.4.1975), chỉ huy bộ đội đặc công chiến đấu giải phóng quần đảo Trường Sa.

Ông được phong Thiếu tướng Tư lệnh Binh chủng Đặc công năm 1992, nghỉ hưu năm 1996. Ông hiện đang sống tại thành phố Hải Phòng và là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thành phố.


Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
thptquochoc
Thành viên
*
Bài viết: 17


« Trả lời #328 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2009, 04:52:06 pm »

Các chú các bác cho cháu hỏi là, Trung Tướng Cao Văn Khánh (Quân đội nhân dân Việt Nam ) và Đại tướng Cao Văn Viên (Quân đội Việt Nam cộng hòa) có họ hàng gì không ạ, cháu có đọc một vài diễn đàn bảo là anh em, nhưng không có chứng cớ xác thực,.......mong các bác có thông tin giải đáp thắc mắc giúp cháu.....
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #329 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2009, 11:08:20 pm »

Hai người không có họ hàng gì với nhau cả. Một người dân quý tộc Huế, còn 1 người là gốc Việt kiều ở Lào.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM