Đại tá Giáo sư Thày thuốc Nhân dân Anh hùng Lao động Từ Giấy (10/10/1921 – 8h40’ 13/11/2009) từng giữ chức vụ : Cục phó Cục Quân nhu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ăn mặc Quân đội.
Ngoài ra ông còn là Viện trưởng và là người sáng lập Viện Dinh dưỡng Việt Nam.
Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Chiến công, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhì, Giải thưởng Nhà nước… Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Ông được Tạp chí các vấn đề dinh dưỡng lâm sàng châu á và Thái Bình Dương bình chọn là "Nhà dinh dưỡng xuất sắc châu á và Thái Bình Dương năm 1993".
Đại tá Từ Giấy quê tại xã Hà Hồi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Là con một trong gia đình, bố lại mất sớm, mẹ ông đã tần tảo nuôi ông ăn học. Lúc còn nhỏ, ông học chữ Nho ở trường làng rồi mới học chữ Quốc ngữ để lấy bằng Sơ học, sau đó lên huyện học hết bậc tiểu học rồi lên Hà Nội thi vào Trường Bưởi. Sau 7 năm ở Trường Bưởi, ông vào Trường Y và là một trong 7 người nhận bằng tốt nghiệp trong tổng số 200 người vào Trường.
Cách mạng tháng 8 thành công, ông gia nhập Vệ quốc đoàn. Giặc Pháp gây hấn và quay trở lại xâm lược Nam bộ, ông theo đoàn quân Nam tiến vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Mặc dù mon muốn trở thành bác sĩ phẫu thuật, nhưng trước đòi hỏi của chiến trường ông chuyển sang công tác phòng chống sốt rét cho cán bộ và chiến sĩ.
Sau các hiệp định đình chiến với quân Pháp, năm 1946 ông quay trở ra Hà Nội. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao cho tổ chức cuộc thi trẻ em khỏe trẻ em đẹp đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để đúc kết kinh nghiệm nuôi con khỏe, con giỏi cho người dân sau khi nước nhà giành được độc lập.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đầu năm 1947 ông lên Việt Bắc kháng chiến và công tác ở Cục Quân y. Tại đây, ông lại được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao cho nhiệm vụ mở tờ báo Vui Sống nhằm chăm sóc, hướng dẫn đồng bào, chiến sĩ trong điều kiện kháng chiến thiếu thốn nơi rừng núi để kháng chiến lâu dài với lời dặn "không lúc nào bằng lúc này, các cán bộ chiến sỹ trong quân đội và đồng bào tản cư đang phải đương đầu với các bệnh tật hiểm nghèo vì thiếu hiểu biết về vệ sinh". Là người phụ trách tờ báo đồng thời cũng là người chịu trách nhiệm mục Hỏi Đáp, ông đã trả lời các câu hỏi của đồng bào và chiến sĩ một cách rất khoa học và dí dỏm. Thời gian ở Việt Bắc, ông còn giữ cương vị Ủy viên Ban chấp hành Hội những người viết báo Việt Nam (Hội nhà báo Việt Nam ngày nay). Trong chiến dịch Điện Biên lịch sử, ông được giao trọng trách làm Trưởng ban Bảo vệ sức khỏe cho cán bộ và chiến sĩ.
Hòa bình lập lại, quân đội điều ông về giảng dạy tại Đại học Quân Y và từ đó ông là người tiên phong trong việc xây dựng nên ngành học Vệ sinh quân đội mà ông là Chủ nhiệm đầu tiên. Ông thường xuyên tham gia giảng dạy cho Đại học Y Hà Nội và được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm đầu tiên của bộ môn Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm. Từ năm 1957 đến 1961, ông được cử đi tu nghiệp tại Liên Xô, trong thời gian này ông đã chú tâm nghiên cứu và tìm hiểu về Dinh dưỡng học và Vệ sinh phòng dịch hiện đại. Về nước, ông tiếp tục giữ chức vụ Chủ nhiệm khoa Vệ sinh Quân đội tại Trường Đại học Quân y.
Từ năm 1968 đến năm 1981, ông giữ chức vụ Cục phó Cục Quân nhu rồi sau đó kiêm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ăn – Mặc Quân đội. Ông toàn tâm toàn ý cùng tập thể lao vào nghiên cứu đủ mọi đề tài liên quan đến việc ăn uống, việc mặc, việc giữ gìn vệ sinh trong Quân đội. Ông đã vào chiến trường nhiều lần và các cuốn sách nhỏ cùng các sản phẩm mới do các đề tài nghiên cứu của ông đã thiết thực phục vụ cho cuộc sống của hàng chục vạn chiến sĩ. Đó là các đề tài về rau rừng ăn được, bảo quản gạo, lương khô chiến trường, men nở bột mỳ, nước giải khát lên men, thức ăn tổng hợp. Và ông đã có mặt ngay tại Sài Gòn ngày thống nhất đất nước trong đoàn công tác của Cục Quân nhu và Cục Quân y đi phục vụ chiến dịch.
Ngay sau khi nước nhà thống nhất, Thủ tướng Phạm Văn Đồng (lúc đó) đã đề ra 10 Chương trình nghiên cứu trọng điểm của Nhà nước, trong đó có Chương trình cải tiến cơ cấu bữa ăn, và Ông được giao làm chủ nhiệm. Chương trình này được phối hợp với các Bộ nội thương, công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp và Tổng cục hậu cần, xây dựng mô hình thực địa ở Khu gang thép Thái Nguyên với 16000 công nhân và 30000 người thuộc các gia đình. Sau 3 năm thực hiện từ năm 1977 đến năm 1980, mô hình xây dựng đã đạt kết quả nhờ phát triển phong trào VAC ở các gia đình; các bếp tập thể đã tự túc về thực phẩm; chế biến thực phẩm tại chỗ và tổ chức được các bếp ăn cơ khí và tiết kiệm than củi; đời sống và bữa ăn của công nhân và gia đình đã được cải thiện rõ rệt. Ông đã thành công trong việc xây dựng cơ sở lý luận về chiến lược tái sinh trong ứng dụng hệ sinh thái Vườn - Ao - Chuồng truyền thống ở nước ta. Danh từ VAC đến nay đã trở thành quá quen thuộc, trở thành một giải pháp tạo nguồn thực phẩm gia đình, xóa đói giảm nghèo và dinh dưỡng hợp lý. Sáng kiến này của ông cũng được nhiều nước ở thế giới thứ ba áp dụng và học hỏi.
Ngày 13/6/1980, Chính phủ đã quyết định thành lập Viện dinh dưỡng quốc gia và cử Ông làm Viện trưởng và Ông đảm nhiệm cương vị này đến năm 1993.
Với cương vị mới, Ông đã đảm nhiệm và hoàn thành xuất sắc 2 Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước 64-02 (giai đoạn 1981-1985) và 64D (1986-1990). Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra được phương án phù hợp nhất về xây dựng cơ cấu bữa ăn của người Việt Nam, là cơ sở nền tảng cho chiến lược duy trì sức khỏe. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được in thành sách như: Thành phần dinh dưỡng thức ăn Việt Nam; Hệ sinh thái VAC và những người làm VAC giỏi; Bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam; Dinh dưỡng ứng dụng.... Với hai công trình này, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động.
Từ các kết quả nghiên cứu khoa học, ngành dinh dưỡng mà đặc biệt là Ông, đã giúp Nhà nước ta lần đầu tiên xây dựng được một chính sách về dinh dưỡng. Đó là bản "Kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng" giai đoạn 1995-2000. Đây có thể coi là bản tuyên ngôn đầu tiên về đường lối dinh dưỡng ở nước ta, trong đó tổng hợp các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm về phòng, chống suy dinh dưỡng, cải tiến bữa ăn.
Với những công trình kể trên, từ năm 1982 đến năm 1999, ông là Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, cố vấn ding dưỡng Quốc gia. Từ năm 1999 đến năm 2003, ông là Chủ tịch Hội dinh dưỡng Việt Nam.
Ông cũng rất quan tâm và có những đóng góp nổi bật cho công tác giáo dục dinh dưỡng, phổ biến các kiến thức dinh dưỡng cho người dân. Ông là người đề xuất "nguyên nhân gốc rễ thứ 2 của suy dinh dưỡng là sự kém hiểu biết". Đề xuất đó đã được Hội nghị cấp cao về dinh dưỡng quốc tế năm 1992 tại Roma thừa nhận và ghi vào Tuyên cáo của Hội nghị.
Ông cũng là tác giả của nhiều tài liệu phổ biến giáo dục dinh dưỡng như các sách "Làm mẹ", "Phong cách ăn Việt Nam", "Dinh dưỡng hợp lý và sức khỏe", Tổng quan "Kinh nghiệm giáo dục dinh dưỡng trong chiến tranh giải phóng dân tộc và trong xây dựng hòa bình"... trong đó Ông luôn luôn gắn liền những kiến thức về dinh dưỡng với thực tế cuộc sống.
Ông được phong Học hàm Giáo sư Y học chuyên ngành Dinh dưỡng năm 1980, rồi Anh hùng Lao động năm 2000. Ông chuyên nghiên cứu nếp sống vệ sinh trong quân đội.Cải tiến bữa ăn của bộ đội ( bếp ăn, tiêu chuẩn, nhà ăn cơ khí hóa). Nghiên cứu chữa trị dịch bệnh phù, dịch bệnh quáng gà. Sản xuất lương khô phục vụ trong quân đội. Các công trình khoa học của ông đều mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, cán bộ chiến sĩ trong Quân đội, chúng xuất phát từ những yêu cầu thực tế trong cuộc sống và chiến đấu.
Là Giáo sư, xong tuy nhiên ông hoàn toàn không có bằng cấp Tiến sĩ. Tuy nhiên, trong cuộc đời hoạt động khoa học, đến nay Ông đã có 26 công trình khoa học, 43 công trình tổng quan và xuất bản 33 đầu sách đồng thời tham gia hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh trở thành thạc sĩ, tiến sĩ.
Sưu tầm và tổng hợp