Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:25:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884163 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #210 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2009, 06:57:36 am »

Họ và tên: Nguyễn Nam Khánh

Năm sinh: Ngày 20 tháng 2 Năm 1927.

Cấp bậc, chức vụ cao nhất: Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Quê quán: Xã Bình Phú Tây, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Trú quán: Số nhà 36, phố Lý Nam Đế, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Thành phần: Bần nông.

Năm tham gia cách mạng: Ngày 15 Tháng 3 năm 1945.

Năm nhập ngũ: Tháng 8 năm 1945.

Ngày vào Đảng CS VN: Tháng 5 năm 1946

Năm phong quân hàm cấp tướng: Thiếu tướng năm 1977; Trung tướng năm 1984; Thượng tướng năm 1988.

Quá trình tham gia cách mạng:
Năm 1945, đồng chí tham gia Thanh niên Cứu quốc, là Trung đội trưởng, đại đội trưởng Chi đội 4 Phú Yên. Từ năm 1948 đến năm 1949, đồng chí là Trưởng Ban Chính trị Phân khu 15 Tây Nguyên. Năm 1952, đồng chí là Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 108, Liên khu 5. Tháng 9 năm 1954, đồng chí là Chính uỷ Trung đoàn 108, Liên khu 5.

Từ năm 1955 đến năm 1956, đồng chí là Phó Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 305, Từ năm 1956 đến năm 1958, đồng chí học tại Học viện Chính trị Trung Quốc. Từ năm 1959 đến năm 1960, đồng chí là Trưởng Phòng Huấn luyện Cục Tuyên huấn. Tháng 4 năm 1961, đồng chí là Chính uỷ Lữ đoàn 305. Tháng 5 năm 1965, đồng chí là Phó chính uỷ Sư đoàn 304 Tây Nguyên Từ năm 1967 đến năm 1970, đồng chí là Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Sư đoàn 3, Quân khu 5. Từ năm 1970 đến năm 1978, đồng chí là Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính uỷ Quân khu 5, Đảng uỷ viên, Uỷ viên Thường vụ, Phó bí thư Quân khu uỷ Khu 5, Uỷ viên Khu uỷ Khu 5. Tháng 6 năm 1978, đồng chí là Viện trưởng, Bí thư Đảng uỷ Học viện Chính trị. Từ tháng 4 năm 1979 đến năm 1996, đồng chí là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Đồng chí là Uỷ viên Quân uỷ Trung ương, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá V, VI, VII. 
 
Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:
                    Huân chương Độc lập hạng nhất.
                    Huân chương Quân công hạng nhất.
                    Huân chương Chiến công hạng nhất.
                    Huân chương Kháng chiến hạng nhất.
                    Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.
                    Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba.
                    Huân chương Chiến sỹ Giải phóng hạng nhất, nhì, ba.
                    Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.
                    Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh sinh ngày 20-2-1926 tại xã Tây Phú, huyện Tây Sơn trong một gia đình nông dân nhưng đã bị địa chủ thực dân chiếm hết đất nên cha mẹ ông đi làm công nhân ở xưởng dệt Đờ-li-nhông (Phú Phong - Tây Sơn). Ông là con lớn nhất trong gia đình có 5 anh em trai. Học hết sơ học ở quê, ông xuống Quy Nhơn học hết bậc tiểu học và tiếp tục học trung học bằng cách vừa học vừa làm thuê tại các cửa hàng ăn. Nhưng học được hơn 2 năm thì bỏ dở vì cha mẹ ông lúc đó không thắng nổi cái nghèo. Những năm tháng ở quê, nhờ sự giác ngộ của người chú họ là thầy giáo Nguyễn Đông, ông đã sớm nhận ra nhiều thủ đoạn độc ác của bọn địa chủ, thực dân, và nỗi nhục của người thanh niên mất nước. Cuối năm 1943, ông làm công nhân của hãng dệt Đờ-li-nhông, nơi cha mẹ ông đang làm. Tại đây, ông nhận rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc thực dân đã bóc lột sức lao động của công nhân, cư xử tàn ác, thô bạo đối với người dân thuộc địa. Nhiều đêm, ông thao thức không sao ngủ được, mong muốn thoát khỏi sự áp bức, nhưng chưa biết đi đâu, làm gì? Đang băn khoăn trước ngã ba đường thì phong trào cách mạng tràn về, ông đến với "Việt Minh" như nắng hạn gặp mưa rào!
Tháng 3-1945, ông được tiếp xúc với hai chiến sĩ Việt Minh ngay tại hãng dệt Đờ-li-nhông. Đầu tháng 4-1945, ông chính thức được kết nạp vào tổ chức "Việt Minh" huyện Bình Khê và tham gia vào đội ngũ tuyên truyền lưu động, vận động nhân dân trong các huyện Bình Khê, An Nhơn, Tuy Phước, Quy Nhơn nhằm hình thành lực lượng chủ lực cho cuộc khởi nghĩa tháng 8-1945. Lực lượng này sau đó đã giành được chính quyền tỉnh lỵ Bình Định lúc bây giờ và các huyện xung quanh Quy Nhơn, thành lập Ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Nguyễn Huệ (tên mới của tỉnh Bình Định lúc đó). Sự kiện đó là bước ngoặt lớn của đời ông và nhân dân tỉnh Bình Định - từ người mất nước trở thành người làm chủ đất nước. Ông đứng vào hàng ngũ bộ đội Cụ Hồ và từng bước trưởng thành.
Với ông, những trận chiến ác liệt ở chiến trường Bình Định năm xưa là chuỗi tháng ngày không quên của mình. Ông nhớ nhất là trận đánh cuối cùng trong chiến dịch Mùa Xuân 1975 - tiến công đường 19 trong phạm vi hai huyện Bình Khê và An Khê để thực hiện chiến lược chia cắt quân địch giữa đồng bằng và Tây Nguyên. Đường 19 không chỉ là đường tiếp liệu, tiếp vận của địch mà còn là con đường rút lui nhanh nhất của chúng xuống đồng bằng Khu V khi Tây Nguyên bị thất thủ. Do vậy, Mỹ-ngụy đã khẳng định phải bảo vệ đường 19 trong bất cứ tình thế nào… Nhận thức về con đường chiến lược này, ông đã trực tiếp chỉ đạo Sư đoàn 3 lên phương án và chuẩn bị chiến đấu hết sức khẩn trương dưới sự đánh phá ác liệt của Mỹ - ngụy. Lúc đó, ông là Phó Chính ủy Quân khu V được phân công chỉ đạo Sư đoàn 3 đảm đương trọng trách này. Vào lúc 5 giờ 35 phút ngày 4-3-1975, Sư đoàn 3 nổ súng tấn công cắt đường 19 với chiến thuật tập kích hiệp đồng binh chủng và bao vây tiến công liên tục, cùng một lúc vừa cắt đường, vừa diệt quân chủ lực dự phòng ở Truông Ổi - Định Quang. Trong 5 ngày tấn công, Sư đoàn 3 do ông chỉ đạo đã đánh thiệt hại nặng trung đoàn 47, sư đoàn 22 và liên đoàn bảo an 927 ngụy, diệt 310 tên địch, bắt sống 52 tên; thu 200 súng, trong đó có 2 khẩu pháo 105 mi-li mét; làm chủ đoạn đường dài hàng chục ki-lô-mét, chia cắt chiến lược hiểm hóc giữa Tây Nguyên với đồng bằng Khu V. Đây là tiếng súng mở màn chiến dịch Mùa Xuân 1975 trên chiến trường Khu V…
Có thể nói, cả đời binh nghiệp của ông gắn chặt với chiến trường Bình Định. Ông kể: Trong kháng chiến chống Mỹ, Sư đoàn 3 (Sao Vàng) cũng như du kích và nhân dân ở đây đã xây dựng Bình Định trở thành một chiến trường kiên cường, thành đồng vững chắc sau lưng địch, đã chi phối và chôn chặt quân đoàn 2 của địch ở miền Trung. Quân dân Bình Định đã cắt đứt, khống chế hoàn toàn đường 19. Không một đơn vị nào của địch tấn công được lên Tây Nguyên, góp phần giải phóng các tỉnh Tây Nguyên, làm bàn đạp tấn công vào sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền ở Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam vào ngày 30-4-1975.

Theo Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam và Báo Bình Định
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Tư, 2009, 09:11:00 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #211 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 02:45:17 am »

Bác panphilov có tài liệu về tiểu sử của Thiếu tướng Đặng Quang Long ở quân khu 7 kô  ah? nếu có bác pót cho e đọc với nhé .
Cám ơn bác trước !

Rất tiếc là em không có bác ạ! Em đang hỏi, hy vọng là có thể trả lời bác trong một thời gian sớm nhất (có thể).

Bác macbupda, rất cám ơn bác vì đã tiếp sức. Sao bác không cho link ảnh của cụ lên để mọi người cùng "chiêm ngưỡng"  Roll Eyes
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #212 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 03:08:44 am »


Thiếu tướng Phạm Liêm (bí danh : Duy Thanh, 15.12.1928) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985).


Thiếu tướng Phạm Liêm quê tại thôn Vũ Xã, huyện An Đồng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Ông tham gia Cách mạng tháng 4 năm 1945, là Bí thư Thanh niên cứu quốc xã Hưng Nhượng (nay là xã An Đồng), huyện Phù Dực (nay là huyện Quỳnh Phụ), tỉnh Thái Bình. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, ông là trưởng Ban bình dân học vụ, Bí thư Thanh niên cứu quốc xã An Đồng. Tháng 4 năm 1946, là Ủy viên thanh niên, Trưởng ban thiếu nhi huyện Phù Dực. Tháng 3 năm 1948, Phó Bí thư rồi Bí thư Thanh niên cứu quốc huyện Phù Dực.

Tháng 2 năm 1950, ông nhập ngũ và giữ chức vụ Chính trị viên phó Huyện đội Phù Dực ; 2.1952, Huyện đội trưởng huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình ; 5.1954, Đại đội trưởng Đại đội 277 Bội đôi địa phương Thái Bình ; 12.1954, quyền Tiểu đòan phó Tiểu đoàn 62 Bội đội địa phương Thái Bình.

Tháng 2 năm 1957, ông chuyển lên làm Trợ lý Phòng Cán bộ Quân khu Tả Ngạn ; 11.1960, học đào tạo Trung cao Chính trị khóa 1 ; 7.1963, Phó Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Pháo phòng không 230, 250 Bộ Tư lệnh Phòng không. Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Pháo phòng không 250 Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1965, Phó Chính ủy Trung đoàn Pháo phòng không 250 ; 6.1966, Chính ủy Trung đoàn pháo phòng không 224 Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội (Sư đoàn 361) Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1968, Chính ủy Trung đoàn pháo phòng không 241 Sư đoàn phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân, tham gia Chiến dịch Đường 9 Khe Sanh ; 10.1969, Phó Phòng Cán bộ, Trưởng Phòng Cán bộ (10.1971) Cục Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Cục Chính trị ; 7.1973, Phó Chính ủy, Chính ủy (4.1975) Sư đoàn Phòng không 367 Quân đoàn 1, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn.

Tháng 4 năm 1976, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1977, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Bí thư Đảng ủy Cục Chính trị ; 8.1979, được cử đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1980, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 10.1983, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 7.1986, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng cho đến khi nghỉ hưu tháng 7 năm 1990. Thiếu tướng Phạm Liêm hiện đang sống tại Hà Nội.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #213 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 04:21:42 pm »


Thiếu tướng Đoàn Văn Thuận (bí danh : Văn Tiến, 07.07.1929) từng giữ các chức vụ : Hiệu trưởng Trường Trung cao cấp Phòng không, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo Phòng không, Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao Bộ Quốc phòng.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Tự do hạng Nhất của Chính phủ Lào, Huân chương của Chính phủ Cam-pu-chia, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985).


Thiếu tướng Đoàn Văn Thuận quê tại xã Đức Tân, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 10 tháng 10 năm 1946, ông nhập ngũ là chiến sĩ bộ đội Việt kiều ở Thái Lan về Lào tham gia chiến đấu trong chiến khu Noọng Ổn, U Đon Thái Lan thuộc Bộ Tư lệnh Lào Miên. Từ tháng 1 năm 1947, ông lần lượt giữ các chức vụ tiểu đội phó, tiểu đội trưởng chiến đấu ở chiến trường Phôn Hùng, Viên Chăn, Lào ; 12.1947, trở về nước là tiểu đội trưởng thuộc Trung đoàn Quang Trung, Khu 4 ; 7.1948, quay trở lại Thái Lan, là tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội phó trực thuộc Bộ Tư lệnh Tây Lào ; 1.1951, đại đội trưởng Đại đội 198 thuộc Bộ Tư lệnh Tây Lào ; 7.1954, cùng Đại đội tập kết tại huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.

Tháng 1 năm 1955, ông được cử giữ chức vụ tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 83 Bộ binh thuộc Tổng đội Biên phòng rồi đi học chuyển loại binh chủng Pháo binh mặt đất ở Sơn Tây ; 6.1956, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 10 Trung đoàn Pháo binh 58 Sư đoàn Pháo binh 335 Quân khu Tây Bắc (Quân khu 1 ngày nay) ; 7.1956, đi học văn hóa và ngoại ngữ tại Trường Văn hóa Kiến An Hải Phòng và sau đó được cử đi học Pháo binh tại Trường Trung cao Pháo binh Thẩm Dương, Trung Quốc rồi học đào tạo cán bộ Pháo bih cấp Trung đoàn ; 9.1959, trở về nước và được cử giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Pháo binh 21 Trung đoàn Pháo binh 168 Quân khu Tây Bắc ; 9.1963, Tham mưu trưởng Lữ đoàn Pháo binh 335 rồi Tham mưu trưởng, Trung đoàn phó Trung đoàn 158 Quân khu Tây Bắc.

Tháng 1 năm1965, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo binh 168 Sư đoàn Pháo binh 335 ; 5.1966, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 267 Quân chủng Phòng không Không quân tham gia chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà Nội, Hải Phòng. Đi học bổ túc cán bộ Trung đoàn Tên lửa Phòng không tại Trường Sĩ quan Phòng không Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1968, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa Phòng không 267 Sư đoàn Phòng không 267 Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1970, Tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 367 ; 7.1971, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không cửa khẩu 377 ; 7.1973, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 ; 2.1974, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 rồi đi học bổ túc cao cấp Học viện Phòng không Ô-đéc-xa ở Liên Xô.

Sau khi về nước, tháng 8 năm 1976 ông được cử giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 367 và được cử đi học tại Học viện Quân sự Cao cấp của Bộ Quốc phòng ; 4.1979, được bổ nhiệm giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 377, Đảng ủy viên Đảng ủy Quân chủng ; 11.1980, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo Phòng không Quân chủng Phòng không ; 7.1981, Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao Bộ Quốc phòng ; 7.1982, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo Phòng không Quân chủng Phòng không ; 4.1987, Hiệu trưởng Trường Trung Cao cấp Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng cho đến khi nghỉ hưu tháng 3 năm 1994. Thiếu tướng Đoàn Văn Thuận hiện ở tại Hà Nội, sau khi nghỉ hưu ông tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, đoàn thể, từ 1997 đến 2002 là Thường vụ Hội Cựu chiến binh phường Khương Trung và Thường vụ Hội Cựu chiến binh quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #214 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 04:45:42 pm »


Thiếu tướng Nguyễn Sinh Huy (bí danh : Văn Thái, 01.08.1929) từng giữ các chức vụ : Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Tên lửa Ra-đa, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Phòng không.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985).


Thiếu tướng Nguyễn Sinh Huy quê tại xã Đại Đồng, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Theo học tại Hà Nội, năm 1944 ông là Đội viên Tuyên truyền xung phong rồi gia nhập Việt Minh thành Hoàng Diệu. Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là Đội viện trinh sát Tỉnh đội Hà Đông, tham gia giành Chính quyền ở Hà Tây và Hà Nội.

Tháng 12 năm 1946, ông là chiến sĩ Đại đội địa phương Thanh Hóa rồi chiến sĩ thuộc Đại đội 126 Trung đoàn 77 Khu 4 ; 10.1947, đi học Trường Quân chính Liên khu 4 ; 4.1948, trung đội trưởng Đại đội 4 Tiểu đoàn 750 Khu 4 ; 10.1948, chuyển sang Đại đội 2 Tiểu đoàn 427 Trung đoàn 9 ; 4.1949, đại đội phó Đại đội 129 Trung đoàn 18 Bình Trị Thiên kiêm Phó Bí thư Chi bộ ; 10.1949, Đại đội trưởng kiêm Chính trị viên, Lien chi ủy viên Liên chi 2 Trung đoàn 18 ; 12.1951, được cử đi học Lục quân khóa 7 ; 10.1952, Nam tiến chi viện cho chiến trường Nam Bộ là đại đội phó, đại đội trưởng Đại đội 4 Tiểu đoàn 307 (Tiểu đòan Liên quân lưu động Tây Nam Bộ).

Sau khi tập kết ra Bắc, tháng 10 năm 1955 ông là đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn phó Liên chi ủy viên Tiểu đoàn lựu pháo 105mm Trung đoàn 24 Sư đoàn Pháo binh 351 ; 5.1957, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 14 cao xạ ; 1959, Trưởng ban Tác huấn  Bộ Tư lệnh Pháo binh rồi chuyển sang làm tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ Sư đoàn 330 ; 1960, đi học bổ túc pháo binh (Đại đội 11 Trung đoàn 400) ; 1962, giáo viên Trường Trung cao quân sự ; 1963,  đại đội trưởng khung cán bộ Trung đoàn 228B, học lớp văn hóa chuẩn bị chuyển binh chủng Tên lửa của Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 3 năm 1965, ông được cử giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 83 Trung đoàn Tên lửa 238 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1966, Tham mưu trưởng Trung đoàn Tên lửa 238 ; 1967, Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Trung đoàn Tên lửa 238 ; 6.1968, Trung đoàn trưởng Trung đoàn tên lửa 275 Sư đoàn Phòng không 377 rồi 365 ; 12.1968, Phó Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Bộ Tham mưu ; 7.1972, Trưởng Phòng Huấn luyện Bộ Tham mưu, Đảng ủy viên Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.1973, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 9.1974, đi học bổ túc Phòng không tại Trường Cao đẳng Phòng không ở Ô-đéc-xa (Liên Xô).

Tháng 7 năm 1975 về nước, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 367 ; 11.1976, đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 6.1978, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 5.1979, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Phòng không Quân chủng Phòng không, Bí thư Đảng ủy trưởng ; 9.1980, đi học bổ túc lý luận tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc ; 9.1981, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan chỉ huy Kỹ thuật Tên lửa Ra-đa Quân chủng Phòng không, Phó Bí thư Đảng ủy trường, Đảng ủy viên Quân chủng cho đến khi nghỉ hưu tháng 10 năm 1989. Từ năm 1990 đến 1997, Thiếu tướng Nguyễn Sinh Huy tiếp tục tham gia 2 khóa Đảng ủy viên phường Nguyễn Trãi, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội là Ủy viên Thường vụ, phụ trách Mặt trận Tổ quốc, Dân vận và Chủ nhiệm kiểm tra Đảng.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
SukhoiSu-47Berkut
Thành viên
*
Bài viết: 354


Vọng mãi đến ngàn năm, vần thơ Nam quốc sơn hà!


« Trả lời #215 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2009, 11:43:29 pm »

Đại tướng Lê Trọng Tấn, tên thận là Lê Trọng Tố, bí danh Ba Long, sinh tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây trong một gia đình trí thức có 7 người con (5 trai, 2 gái). Cha ông là một thày đồ nghèo mất khi ông mới lên 7 tuổi, ông trưởng thành nhờ sự tần tảo của người mẹ. Theo những người trong dòng họ Lê ở Yên Nghĩa thì dòng họ ông bắt nguồn từ chúa Trịnh, chính vì vậy mà người em của ông mang họ Trịnh. Xã Yên Nghĩa là một xã có truyền thống yêu nước cũng như có truyền thống cách mạng, thời kì trước cách mạng, nhân dân xã đã nuôi giấu nhiều nhà cách mạng, mà sau này họ trở thành những lãnh đạo cao cấp của Việt Nam như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Trần Quốc Hoàn...Đây chính là An toàn khu của Xứ ủy Bắc Kỳ thời tiền khởi nghĩa.

Cảm ơn Panphilov đã đưa tiểu sử các vị tướng cũng như giới thiệu tóm tắt nhưng nêu bật được những nét điển hình của mỗi vị. Tuy nhiên, tôi đề nghị nên chỉnh sửa và bỏ đoạn đỏ ở trên, vì điều đó là không chính xác. Quả thật cũng có một vài ý kiến nói rằng "có thể là như thế" nhưng trên thực tế không có một cứ liệu nào chứng minh họ Lê ở Yên nghĩa bắt nguồn từ họ Trịnh (suy luận là do sợ Quang Trung tiêu diệt nhà Trịnh khi lấy danh nghĩa: “Dĩ phù Lê diệt Trịnh vi danh” nên có thể lúc bấy giờ có sự thay đổi đó). Việc em trai Đại tướng tự nghĩ và chọn cho mình cái tên Trịnh Quý Đông chỉ là vấn đề cá nhân, còn tên cha mẹ đặt hai anh em là Lê Trọng Tố và Lê Quý Giả (cụ Giả mới mất khoảng chục năm, bia mộ là Lê Quý Giả)...nên thông tin này mà diễn đàn đưa là không chính xác, dù có thể đựơc trích từ một nguồn “đáng tin cậy” nào đó, ta có thể xem xét lược bỏ mà không ảnh hưởng đến tính chân thực, toàn vẹn của sự việc.
Logged

Bóng ai như tôi đi qua cánh đồng...
Bóng ai như tôi đi qua cuộc đời....!
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #216 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2009, 02:26:19 am »


Thiếu tướng Phó Giáo sư Hoàng Bát (10.02.1932) từng giữ các chức vụ : Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 363, 369, 367 Quân chủng Phòng không, Phó Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ.

Thiếu tướng (8.1980).


Thiếu tướng Hoàng Bát quê ở xã Khai Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Tháng 9 năm 1949, ông tham gia Thiếu sinh quân Khu 4. Tháng 6 năm 1950, ông được cử đi học khóa 1 Trường Sĩ quan Pháo binh Liên khu 3-4, tiếp đó, tháng 1 năm 1951 ông là học viên Trường Quân chính Đại đoàn 304 ; 7.1951, học lớp súng cối 120mm tại Đại đoàn Pháo binh 351 ; 4.1952, tiểu đội trưởng, trung đội phó (8.1953) Đại đội 112 Tiểu đoàn 83 Trung đoàn 675 Đại đoàn Pháo binh 351 ; 10.1953, trợ lý Ban Chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 367 Đại đoàn Pháo binh 351 chiến đấu ở Điện Biên Phủ Đông-Xuân 1953-1954 ; 9.1954, phụ trách Hành chính văn thư Phòng Chính trị Đại đoàn Pháo Phòng không 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 11 năm 1956, ông được cử giữ chức vụ Bí thư Chủ nhiệm Phòng Chính trị Đại đoàn Pháo Phòng không 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 3.1958, Bí thư Chủ nhiệm Phòng Chính trị Đại đoàn 367 ; 2.1959, đi học tại Trường Văn hóa Lạng Sơn ; 9.1961, được cử đi học tại Học viện Phòng không Ka-li-nin của Liên Xô.

Sau khi về nước, tháng 10 năm 1964 ông là Chính trị viên Đội Ra-đa Trung đoàn 290 Quân chủng Phòng không Không quân đi phục kích đánh máy bay thả biệt kích ở Mai Sưu (Bắc Giang) ; 2.1965, Chính trị viên Đại đội 14,5mm bảo vệ Sân bay Vinh ; 3.1965, Tham mưu trưởng, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 62 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 238 Quân chủng Phòng không Không quân (2.1966) ; 5.1967, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 62 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1968, Trợ lý Phòng Tách chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 1.1969, công tác ở bộ phận tổng kết Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, trợ lý Phòng Huấn luyện Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 12.1970, trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 236 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1972, trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 236 ; 9.1975, tiếp tục đi học tại Trường Cao đẳng Phòng không Ô-đéc-xa Liên Xô.

Tháng 8 năm 1976, về nước, ông được cử giữ chức vụ Phó Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1977, trưởng Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không ; 5.1978, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không ; 4.1979, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 367 ; 8.1979, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 369 ; 10.1979, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363, Đủy ủy viên Quân chủng Phòng không ; 9.1981, đi học tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1982, tiếp tục giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 ; 4.1984, giáo viên Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1987, Phó Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao ; 6.1989, Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao cho đến khi nghỉ hưu 1.1.1998. Thiếu tướng Hoàng Bát hiện đang sống tại Hà Nội.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #217 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2009, 12:14:25 am »


Thiếu tướng Đào Sơn Tây (bí danh : Bạch Vân, Tư Khanh ; 10.01.1915-16.06.1998) từng giữ các chức vụ : Phó Chính ủy Quân khu 7, Chính ủy Cục Hậu cần Quân giải phóng miền Nam, Chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh, Phụ trách Pháo binh Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1974).


Thiếu tướng Đào Sơn Tây quê tại xã Tân Ninh, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1936 ông tham gia đấu tranh cùng giới thợ ở Sài Gòn Chợ Lớn. Trong quá trình đấu tranh, ông dần giác ngộ lý tưởng Cách mạng và bắt đầu hoạt động trong phong trào công nhân ở các công xưởng Ba Son, Sài Gòn (1938). Năm 1944, ông chuyển về gây dựng cơ sở và hoạt động ở đề pô xe lửa Dĩ An và các làng phụ cận, Sài Gòn. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia huấn luyện quân sự, chính trị…cho Thanh niên cứu quốc và Thanh niên tiền phong khu vực Dĩ An, tham gia lãnh đạo giành chính quyền.

Sau khi thực dân Pháp núp bóng quân Anh quay trở lại xâm lượng Nam Bộ, tháng 9 năm 1945 ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy phó Bộ đội khu vực Dĩ An thuộc Đặc khu Sài Gòn Chợ Lớn, những đơn vị dưới quyền chỉ huy của ông được gọi là Bội đội Đào Sơn Tây giống như các đơn vị khác thời đó : Bộ đội Huỳnh Văn Nghệ, Bộ đội Tô Ký… ; 1947, ông lần lượt giữ các chức vụ đại đội phó, đại đội trưởng Đại đội 10 Chi đội 6 Gia Định rồi tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 917 Trung đoàn 306 Nam Bộ ; 1948, trung đoàn phó Trung đoàn 306 Nam Bộ, Chỉ huy trưởng Liên khu 17 ; 1949, trung đoàn phó Liên trung đoàn 306-312 rồi tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Gia Định, Ủy viên Ban Quân sự Tỉnh ủy ; 1951, sau khi tổ chức lại tỉnh đội Gia Định, ông giữ chức vụ tỉnh đội phó ; 1953, tập kết ra Bắc theo học Trường Đảng Trung ương và được cử đi học Pháo cao xạ ở Trung Quốc.

Năm 1955, ông phụ trách bộ phận binh khí thuộc Lớp chuyển binh chủng Đại đoàn Pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 1956, Tham mưu trưởng Đại đoàn Pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 3.1957, tham mưu trưởng Sư đoàn 465 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 3.1958, Trưởng Phòng Huấn luyện cao xạ Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Trước yêu cầu mới của Cách mạng miền Nam, tháng 6 năm 1961 ông về Cục Cán bộ vào Nam chiến đấu ; 1962, phụ trách Pháo binh Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam ; 1966, ông giữ chức vụ Chính ủy Phòng pháo binh Bộ Tư lệnh miền cho đến cuối năm 1967 là Chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh (Đoàn 69) ; 10.1968, Chính ủy Cục Hậu cần Quân giải phóng miền Nam.

Sau khi miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, ông giữ chức vụ Phó Chính ủy Quân khu 7 cho đến khi nghỉ hưu ngày 13 tháng 12 năm 1978. Thiếu tướng Đào Sơn Tây mất ngày 16 tháng 6 năm 1998 tại thành phố Hồ Chí Minh.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #218 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2009, 12:57:59 am »


Thiếu tướng Trần Đình Cửu (bí danh : Nguyễn Xuân Trường, Trần Văn Hiệu ; 17.12.1925-23.12.2002) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 7, Cục trưởng Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị, Chính ủy Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự (nay là Học viện Kỹ thuật Quân sự).

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1.1980).


Thiếu tướng Trần Đình Cửu nguyên quê tại xã Vị Dương, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định nhưng ông lại lớn lên tại thành phố cảng Hải Phòng-một thành phố của công nhân lao động có truyền thống Cách mạng.

Năm 1939, ông vào học năm nhất Trường Bonnal (nay là Trường Ngô Quyền) lớp Cao đẳng tiểu học. Đây là một ngôi trường nổi tiếng của Hải Phòng, nơi học tập của nhiều nhà Cách mạng cũng như lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội sau này. Trước năm 1930, đã có nhiều nhà cách mạng hoạt động trong học sinh Bonnal, đó là Tổ ‘’Học sinh Đoàn’’ do ông Nguyễn Văn Linh phụ trách.

Những năm 1936-1939, Đảng chủ trương thành lập những hội, đoàn để tập hợp và giáo dục quần chúng như Hội Ái hữu, Hội Tương tế, Hội Hướng đạo…Lúc này ở Hải Phòng có hai tổ chức Hướng đạo : đạo Yên Tử gồm các thanh niên, học sinh nhà giàu và đạo Cửa Cấm gồm thanh niên, học sinh nhà nghèo. Ông tham gia vào đạo Cửa Cấm trong đoàn Quang Trung. Trong tổ chức hướng đạo, ông được ông Lưu Thi (Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện), Vũ Quý…chỉ bảo, hướng dẫn và định hướng tới con đường Cách mạng giải phóng dân tộc.

Theo gợi ý của ông Lưu Thi, ông cùng bạn bè thành lập tổ ba người, bước đầu làm công tác liên lạc rồi sau đó tham gia phổ biến các bài hát yêu nước trong học sinh, thanh niên, truyền bá chữ quốc ngữ cho công nhân, thợ thuyền nghèo ở Trường Hạ Lý dưới danh nghĩa Hướng đạo sinh cũng như làm việc thiện…Cũng dưới sự dìu dắt của ông Lưu Thi, ông dần tiếp xúc với sách báo tiến bộ và đặc biệt là sách báo về cách mạng về Xã hội Chủ nghĩa.

Tháng 11 năm 1944, ông tham gia Thanh niên cứu quốc của Mặt trận Việt Minh tỉnh Quảng Yên. Cách mạng tháng 8 thành công, là người có học thức ông được đoàn thể và tổ chức cử đi học Trường Quân chính khóa 5.

Thực dân Pháp núp bóng quân Anh quay trở lại gây hấn ở Nam Bộ, tháng 11 năm 1945 ông lên đường Nam tiến vào chiến đấu tại Mặt trận Biên Hòa Đồng Nai ; 11.1946, làm Huấn luyện viên Trường Quân chính Chi đội 10 Khu 7, Khu 8 ; 4.1948, Chính trị viên Bộ đội chủ lực Khu 7 ; 4.1949, Chính trị viên Tiểu đoàn 303 Bộ đội chủ lực Khu 7 ; 5.1951, Chính trị viên Tiểu đoàn 304 Trung đoàn Đồng Nai chủ lực của Nam Bộ ; 1.1952, Chính trị viên Tiểu đoàn 307 chủ lực Nam Bộ ; Khi thành lập Phân liên khu miền Tây Nam Bộ, tháng 12.1952 ông chuyển về làm Chính trị viên Tiểu đoàn 410 tiểu đoàn tập trung của tỉnh Cần Thơ ; 10.1954, Phó Chính ủy Trung đoàn 2 Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ. 

Sau khi tập kết ra Bắc, tháng 4 năm 1955 ông là Trưởng Ban tuyên huấn Phòng Chính trị Phân liên khu miền Tây Nam Bộ ; 6.1955, ông giữ quyền Chính ủy Trung đoàn pháo Sư đoàn 332 Quân khu Đông Bắc ; 5.1956, Chính ủy Trung đoàn cần vụ đối không (Trung đoàn 4 đơn vị tiền thân bộ đội Ra-đa) Đại đoàn 367 ; 5.1957, Trưởng Phòng Cán bộ Tổng cục Cán bộ Bộ Quốc phòng ; 3.1961, được cử đi học Trung cao Chính trị ; 3.1962, Trưởng Phòng Binh chủng Hậu cần, Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng ; 7.1962, Cục phó Cục Cán bộ Tổng Cục Chính trị. Bước vào cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ tháng 12 năm1963 đến 1975 ông nhiều lần là Phái viên của Bộ vào Chiến trường miền Nam.

Sau khi đất nước hoàn tòan thống nhất, tháng 10 năm 1976 ông là Chính ủy Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự kiêm Bí thư Đảng ủy trường ; 6.1977, được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị ; 9.1979, đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1980, vào giữ chức vụ Phó Tư lệnh về Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7, 10.1983, khi quân đội thực hiện hệ hội đồng chính trị, ông là Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7 ; năm 1985 ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7 đến khi nghỉ hưu 1.7.1988. Thiếu tướng Trần Đình Cửu mất ngày 23.11.2002 tại thành phố Hồ Chí Minh.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #219 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2009, 06:16:02 am »


Trung tướng Vũ Xuân Vinh (bí danh : Võ Xuân Vinh, 09.02.1923) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục liên lạc đối ngoại Bộ Quốc phòng, Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp thanh niên, Huy chương Vì sự nghiệp Lao động Thương binh Xã hội, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy chương vàng học tập tại Học viên Pháo binh Tên lửa Lê-nin-grát (Liên Xô).

Thiếu tướng (12.1984), Trung tướng (6.1992).


Trung tướng Vũ Xuân Vinh quê tại xã Trực Chính, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Trước Cách mạng tháng 8, ông theo học tại Hà Nội. Năm 1944, tốt nghiệp Trường Bưởi (nay là Trường Chu Văn An). Tháng 5 năm 1945, ông tham gia vào hoạt động của sinh viên và thanh niên cứu quốc, bị phát xít Nhật bắt giam từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1945. Sau khi thoát khỏi nhà tù phát xít, ông trở về địa phương tham gia giành chính quyền, là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Trực Chính, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

Tháng 3 năm 1946, ông được cử đi học tại Trường võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 1 ; 12.1946, trung đội phó rồi trung đội trưởng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 147 Vệ binh Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng ; 9.1947, đại đội trưởng Đại đội 2 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 147 chủ lực của Bộ Quốc phòng ; 6.1948, Trưởng ban Tác huấn Trung đoàn 140 ; 10.1948, Phó Ban Tác chiến Mặt trận Trung Du ; 6.1949, Phó Ban Tác chiến Mặt trận Bắc Kạn ; 8.1949, Phó Ban Tác huấn Đại đoàn 308 ; 2.1950, Tham mưu trưởng Trung đoàn 36 Đại đòan 308 ; 2.1951, đi dự Đại hội Thanh niên Sinh viên Quốc tế rồi là phái viên Tổng cục Chính trị ; 3.1952, Tham mưu phó Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 ; 6.1953, Tham mưu trưởng Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 ; 6.1954, thư ký đoàn Hội nghị Trung Giã đấu tranh với thực dân Pháp thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam ; 10.1954, đi học Trường Sĩ quan Pháo binh, sau đó là Tham mưu trưởng Trung đoàn Pháo binh Đại đoàn Pháo binh 349 Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 6 năm 1955, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng ban Tác huấn Đại đoàn Pháo binh 349 ; 6.1958, theo học ngoại ngữ tại Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng ; 1959, được cử đi học tại Học viện Pháo binh Tên lửa Lê-nin-grát của Liên Xô.

Sau khi về nước, tháng 10 năm 1964 ông là Tham mưu trưởng Lữ đoàn 368 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 3.1966, Tham mưu phó phụ trách về Tên lửa Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1967, Tha mưu phó Bộ Tư lệnh Binh chủng Tên lửa (Sư đoàn 369) Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1968, Phó Tư lệnh Sư đòan Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1974, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 375 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1976, ông về giữ chức vụ Trưởng khoa Phòng không tại Học viện Quân sự cấp cao ; 1.1980, Cục trưởng Cục Liên lạc Đối ngoại Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu tháng 9 năm 1996 ; Mặc dù nghỉ hưu, từ tháng 1 năm 1997 ông tiếp tục tham gia hoạt động của Hội Cựu Chiến binh Việt Nam với chức vụ Ủy viên Thường vụ Trung ương Hội.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM