Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:02:10 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thông tin - Hình ảnh về cuộc chiến của Liên Xô tại Afghanistan  (Đọc 315016 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #40 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2012, 02:20:57 am »

(tiếp)


Biên chế tổ chức đầy đủ của lữ đoàn xung kích-ĐBĐK cận vệ số 56 năm 1986.

Trước năm mới 1980 việc triển khai các trung đoàn của sư đoàn ĐBĐK 103 ở Afghanistan đã hoàn thành. Trung đoàn dù 317 đóng quân ở trung tâm thủ đô Kabul (khu vực hoàng cung Delkusha), 1 tiểu đoàn của trung đoàn làm nhiệm vụ bảo vệ nhà riêng của Babrak Karmal. Trung đoàn dù cận vệ 357 đóng ở pháo đài Bala Hissar. Trung đoàn dù cận vệ 350 đóng trong các lều dã chiến tại vùng ngoại vi sân bay, bên cạnh trụ sở sư đoàn. Ngoài ra tại đó còn có trung đoàn pháo binh và đơn vị đặc nhiệm spetsnaz của sư đoàn. Một số công trình xây dựng lớn mà lính nhảy dù chiếm giữ ở trong tình trạng khủng khiếp. Hoang tàn và bẩn thỉu, chúng đòi hỏi nhiều công sức và vật liệu để chỉnh trang mới ở được. Chúng không có cả đồ để sưởi ấm.

Nhìn chung, trong tháng 12 năm 1979, đã thực hiện được một chiến dịch di chuyển đường không chưa từng có về phạm vi và tổ chức nhằm chuyển bộ đội từ một không gian chiến trường này sang không gian chiến trường khác trên khoảng cách gần 4500 km. Chiến dịch này chỉ có thể đem so sánh, thậm chí một phần nào, với chiến dịch chuyển vận trong một đêm tháng 8 năm 1968 hai sư đoàn ĐBĐK vào Praha và Brno khi đưa lực lượng vũ trang thống nhất của các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw vào Tiệp Khắc. Như sau này được biết đây là chiến dịch đổ bộ đường không cuối cùng của quân đội Xô Viết.

Herat trước, sau đó là Kandahar

Vào đêm 27 sang ngày 28 tháng 12 năm 1979 (giờ địa phương là 3,00 giờ), theo mệnh lệnh bổ sung của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô, thêm một sư đoàn BBCG tiến vào Afghanistan - sư đoàn BBCG cận vệ số 5.

Đơn vị hành quân theo tuyến: Kushka - Herat - Mir Ali - Adraskan - Shindand. Chiều dài đường hành quân là 280 km.

Sư đoàn tiến theo một hành trình. Đội hình các lực lượng chính được chia nhỏ theo chiều sâu tại các đội hình trung đoàn, các trung đoàn di chuyển với các khoảng cách thu gọn. Gián cách giữa các đơn vị - 2 km, giữa các tiểu đoàn - tối đa 1 km.

Gián cách thu gọn dẫn đến sự di chuyển khó khăn trên tuyến đường hành quân, đặc biệt là ở các khu đường đèo. Các nút nghẽn hình thành tại các khu vực không tạo khả năng thực hiện hành quân nhanh chóng và làm giảm tốc độ hành trình trung bình, đặt ra cho xe tăng - ban ngày 20 km / h, ban đêm - 15 km / h, BMP ban ngày - 30 km / h, ban đêm - 20 km / h, Ô tô - ban ngày 35 km / h, ban đêm - 30 km / h. Khi vượt qua đèo dốc tốc độ trung bình cho tất cả các loại xe máy - 5 km / h.

Việc tổ chức hành quân diễn ra ngay từ khu vực xuất phát. Nhiệm vụ được truyền đạt đến các đơn vị qua mệnh lệnh chiến đấu của sư đoàn trưởng thiếu tướng Yu.V.Shatalin.

Ban tham mưu sư đoàn BBCG chuẩn bị tất cả các thông tin cần thiết để cho người chỉ huy các đơn vị ra quyết định.

Trong quyết tâm chiến đấu người ta xác định thứ tự hành quân, số lượng đội hình hành quân, thành phần của các đội tiên phong và bảo vệ hành quân, trình tự hành động khi gặp địch, xây dựng trình tự hành quân và phân phối nhân lực vật lực trong một đội hình hành quân, số lượng các điểm dừng chân nghỉ ngơi và thời gian nghỉ.
Nhiệm vụ cho các đơn vị được trao trong ngày đêm hành quân đầu tiên.

Công tác chỉ huy hành quân thực hiện từ các SCHTP, SCH chính và trạm hậu cần chỉ huy. Tổng thời gian hành quân gồm 28 giờ tính cả thời gian nghỉ tại các điểm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho xe máy. Tiêu tốn nhiên liệu cho hành quân: xăng ô tô - 188,5 tấn (0.88 lần nạp); diesel - 248,8 tấn (0, 7 lần tiếp nhiên liệu).


Đất ở Afghanistan tại vùng núi là đất đá, trong các thung lũng - đất hoàng thổ. Khi các phương tiện xe máy di chuyển và khi có gió, nó tạo ra môi trường nhiều bụi, đồng thời hạt bụi nhỏ một thời gian dài lưu lại trong không khí, làm tăng độ mài mòn động cơ xe chiến đấu, xe vận tải, và máy bay trực thăng.
Ảnh: Leonid Yakutin.


Đến cuối ngày 28 Tháng 12 sư đoàn BBCG số 5 đã chiếm lĩnh khu vực được giao ở phía nam thành phố Herat và tại sân bay Shindand. Chung cuộc thì khu vực trách nhiệm của sư đoàn mở rộng đến tận Kandahar, nơi mà trung đoàn BBCG 373 của sư đoàn tiến đến và sau này trung đoàn đó chuyển đổi thành lữ đoàn bộ binh cơ giới (lữ đoàn BBCG độc lập số 70).

Việc đưa sư đoàn bộ binh cơ giới số 5 vào Afghanistan diễn ra trót lọt hơn (so với sư đoàn bộ binh cơ giới 108) và không có độ lệch lớn so kế hoạch ấn định. Người chỉ huy sư đoàn, thiếu tướng Yu.V.Shatalin trong quá trình tiến quân đã chứng tỏ ông là một nhà chỉ huy quân sự chín chắn và hiểu biết.
.........
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Hai, 2012, 11:08:11 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #41 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2012, 04:10:52 pm »

(tiếp)

Gian nan đường tới Faizabad

Đặc biệt đáng chú ý là điều kiện bất lợi của cuộc tiến quân của trung đoàn BBCG độc lập số 860 từ khu vực Khorog sang Faizabad (tỉnh Badakhshan của Afghanistan). Trung đoàn dưới sự chỉ huy của trung tá V.S.Kudlai một thời gian dài tiến dưới hỏa lực gần như liên tục của các nhóm và các toán nhỏ quân đối lập, vừa đi vừa phải khôi phục lại con đường duy nhất trong vùng núi non này vốn bị phá hủy hoàn toàn bởi các chiến binh hồi giáo.

Nhịp độ tiến quân tối đa của trung đoàn là 10 km mỗi ngày. Rõ ràng điều đó nói lên một thực tế rằng sống ở đây là một số lượng lớn các cựu basmach và hậu duệ của họ đã chạy trốn khỏi vùng Trung Á thuộc Liên Xô. Mặc dù có những khó khăn và tổn thất về quân số cũng như trang bị quân sự, trung đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu.
Để làm ví dụ, chúng ta trích ra một vài dòng từ nhật ký chiến sự của tập đoàn quân 40.

01/11/80. - trung đoàn BBCG độc lập 860 không có pháo binh và xe vận tải được tập trung ở khu vực huyện Gulhana. Trinh sát của trung đoàn trên 4 xe BMP phải dừng lại trước một đoạn tắc nghẽn trong khu vực huyện Kazdeh (23 km về phía tây bắc Gulhana). Con đường từ Gulhana đến Kazdekha rất gồ ghề ngay cả với BMP - các vách đá dựng đứng. Sau khi BMP vượt qua thì các mép đường sụp lở. Đối diện với nguy cơ thường trực khiến các xe máy bánh xích rơi xuống vực thẳm. Đối xe bánh hơi, con đường không thể đi qua. Khi cố gắng xóa những điểm tắc nghẽn thì các băng nhóm phiến quân lại khai hỏa. Cuộc đấu súng qua lại bắt đầu. Trong quá trình hành quân 2 sỹ quan trung đoàn BBCG độc lập 860-2 đã bị thương.

13/01/80. - trung đoàn BBCG độc lập 860 đang ở trong khu vực giữa Gulhana và Ishkashim. Đến cuối ngày, toán trinh sát và đội tiên phong của trung đoàn trong đội hình một lữ đoàn BBCG đã giải quyết xong đoạn tắc nghẽn trên tuyến đường sâu đến 120 m ở vị trí cách 15 km về phía tây bắc Gulhana, lại một lần nữa gặp phải một đoạn đường bị phá hủy. Không thể vượt qua. Từ sáng 15/1 trung đoàn bắt đầu công tác sửa chữa khôi phục và tiếp tục trinh sát dò đường. Tiến hành trinh sát về phía nam Gulhana trên chiều sâu 12 km cho đến làng Falakhmadin. Tiếp theo xe BMP không thể đi được nữa, vì đường chỉ có thể đi được đối với người đi bộ và vận chuyển bằng sức ngựa.

16/01/80. - Trung đoàn BBCG độc lập 860 tiếp tục tảo thanh con đường trong khu vực huyện Gulhana và sẵn sàng thi hành nhiệm vụ trên hướng Faizabad. Trung đoàn có nhu cầu hỗ trợ đường không (bằng máy bay trực thăng) để trinh sát và đổ bộ các phân đội nhỏ với mục tiêu bảo vệ các đoạn đường nguy hiểm và ngăn chặn hành động của đối phương trên tuyến đường này.

20/01/80. - Trung đoàn BBCG độc lập 860 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đặt ra. Vào lúc 15:30 giờ, khối hành quân đi đầu bị bắn và cuộc chiến xảy ra suốt đêm. Trung đoàn bị thương 14 người (trong đó có một sĩ quan) và có 3 người hy sinh (có 1 sỹ quan).

Để giúp đỡ trung đoàn BBCG độc lập 860, đã phái một phân đội của lữ đoàn BBCG độc lập 56 (? Lữ đoàn dù-đột kích độc lập số 56) từ Kunduz tiến ra đón họ (chỉ huy lữ đoàn là đại tá Plokhikh). Tuy nhiên, thiết bị xe máy nặng của lữ đoàn đã nhanh chóng vấp phải một cây cầu bị phá nổ tại một trong những hẻm núi. Để bắc lại cầu qua nó sau này đã sử dụng kết cấu cầu dura được bộ đội chế tạo theo bản vẽ của tổ hợp xí nghiệp hàng không Tashkent mang tên Chkalov (giám đốc vào thời điểm đó là - B.Sivets), được vận chuyển tới và lắp đặt nhờ sự giúp sức của các máy bay trực thăng Mi-6 và Mi-8.


Địa hình rừng núi thực sự gây khó khăn cho hoạt động của các phân đội Xô viết, cho phép đối phương ngụy trang, ẩn mình, ban đêm nhanh chóng thoát khỏi đụng độ chiến đấu với quân đội của chúng ta khi sử dụng sự thông thuộc địa hình để tẩu tán vào các vùng sâu, vùng xa. Điều này tạo cơ sở cho một thực tế là các đơn vị của tập đoàn quân 40 trong năm đầu tiên của cuộc chiến tranh hầu như không tiến hành chiến đấu ở vùng núi vào ban đêm. Ảnh: Leonid Yakutin.
......
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười Hai, 2012, 08:43:43 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #42 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2012, 10:06:48 pm »

(tiếp)

Không quân

Cụm Không quân Xô Viết ở Afghanistan được thành lập vào giữa tháng 3 năm 1980 tính đến việc triển khai và tiến hành tác chiến của các đơn vị BCHT trên các hướng chiến dịch khác nhau. Việc đặt căn cứ đóng quân cho các đơn vị không quân dựa trên mạng lưới sân bay của lực lượng KQ Afghanistan, mạng lưới này khi cần thiết sẽ đảm bảo tiến hành huy động và tập hợp các nhóm máy bay nhằm tăng cường nỗ lực của không quân trong một số hướng (khu vực) nhất định.

Tại hầu hết các sân bay Afghanistan, các đơn vị không quân Xô viết và Afghanistan cùng đóng quân bên nhau. Điều đó đảm bảo sự phối hợp khăng khít hơn giữa họ, rút ngắn thời gian khôi phục khả năng chiến đấu của các đơn vị không quân Afghanistan và đưa chúng vào tham chiến.


Mig-21bis của KQ Afghanistan trên đường lăn sân bay Bagram, máy bay đeo 4 trái bom OFAB-100-120.

Để tăng cường bảo vệ và phòng thủ các sân bay, tại mỗi sân bay đều bố trí một tiểu đoàn (đại đội) BBCG (hoặc quân dù).

Tại các sân bay căn cứ đã lắp đặt bổ sung các thiết bị VTĐT dẫn đường và TTLL, tạo ra các trung tâm điều hành bay thống nhất, chỉ huy chiến đấu, cũng như quản lý các hoạt động của máy bay Xô Viết và máy bay Afghanistan trên lãnh thổ Afghanistan.

Các đơn vị không quân Xô viết kết hợp với các đơn vị không quân Afghanistan đặt căn cứ tại bốn sân bay (Kabul, Bagram, Kandahar và Shindand), trên bốn sân bay khác (Kunduz, Faizabad và Jalalabad) không quân Xô viết đóng quân tách biệt và không quân Afghanistan cũng đặt căn cứ riêng (sân bay Mazar-Sharif).

Khi tập kết không quân phục vụ các chiến dịch sắp tới, thực tế trên tất cả các sân bay hiện có, các máy bay cánh cố định và trực thăng Xô viết cũng như Afghanistan đều đóng quân chung.


Afghanistan 1987, trên đường băng sân bay quân sự Baraki-Baraki. Trực thăng vũ trang Mi-8MT của trung đoàn KQ hỗn hợp số 50 thuộc tập đoàn quân BCHT số 40.

Tổng biên chế chính thức của cụm không quân Liên Xô ở Afghanistan (không quân thuộc tập đoàn quân BCHT số 40) bao gồm hai trung đoàn không quân và một phi đoàn máy bay chiến đấu, một trung đoàn không quân hỗn hợp, ba trung đoàn trực thăng độc lập, ba phi đoàn trực thăng độc lập và một phi đội trực thăng. Có tổng cộng 60 máy bay chiến đấu và 19 máy bay vận tải quân sự, 253 trực thăng chiến đấu và trực thăng vận tải.

Dựa trên các điều kiện địa-vật lý và sự phân bố của các đơn vị BCHT và các đơn vị độc lập của TĐQ 40 và các khu vực tác chiến mà họ được phân công, cụm không quân ở Afghanistan (LLKQ thuộc TĐQ BCHT số 40) được chia thành 4 cụm: "Bắc", "Trung tâm", "Nam" và "Tây".
....
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Hai, 2012, 12:40:58 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #43 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2012, 12:37:42 am »

(tiếp)

Cụm "Bắc" - trung đoàn KQ độc lập 181 với một phi đoàn máy bay trực thăng của trung đoàn KQ độc lập 335 và phi đội trực thăng độc lập 146 thuộc sư đoàn BBCG 201, khu vực tác chiến - dãy núi Hindukush trên vùng phía bắc và đông bắc Afghanistan (từ Shibarghan đến Faizabad). Các căn cứ không quân - Kunduz và Faizabad. Trong quá trình tác chiến sử dụng tạm thời các sân bay Mazar-i-Sharif và các sân đỗ trực thăng Puli-Khumri, Baghlan, Sari Pul, Shibarghan, Ishkashim, Gulkhana, Jarm và những sân đậu khác. Tổng quân số biên chế tác chiến của cụm "Bắc" - 81 trực thăng, trong đó trực thăng chiến đấu và trực thăng vận tải-chiến đấu - 60.


Mig-21R thuộc phi đoàn trinh sát-vận tải 263 tại sân bay Kabul, 1983.

Cụm "Trung tâm" - trung đoàn KQ độc lập số 50, phi đoàn trinh sát-vận tải độc lập 263, trung đoàn tiêm kích cận vệ 115, phi đoàn KQ độc lập 262, trung đoàn KQ độc lập 292. Được phân công hoạt động ở miền trung và miền đông nam Afghanistan (phía nam dãy núi HinduKush cho đến biên giới Pakistan). Căn cứ không quân - Kabul, Bagram, Jalalabad. Trong quá trình tác chiến được sử dụng các sân bay: Ghazni, Gardez, Chaghcharan (tất cả - chỉ cho máy bay trực thăng), cũng như các sân đậu Baghlan, Chak, Urgun, Khost, Asadabad, Asmar, v.v. Tổng quân số tác chiến trong biên chế cụm "Trung tâm" - 26 máy bay chiến đấu cánh cố định và 114 trực thăng (bao gồm 110 trực thăng chiến đấu và vận tải-chiến đấu).


Một chiếc Mig-21bis thuộc trung đoàn tiêm kích 115 đang tăng lực trên bầu trời căn cứ KQ Bagram.

Cụm "Nam" - hai phi đoàn của trung đoàn KQ độc lập 280 và một phi đoàn của trung đoàn tiêm kích bom 136 (136 апиб - авиационный полк истребителей бомбардировщиков). Cụm này hoạt động ở miền nam Afghanistan (các tỉnh Zabol, Kandahar, Uruzgan, Hilmend). Sân bay căn cứ - Kandahar. Trong quá trình chiến đấu, được sử dụng sân bay Lashkargha, các sân đỗ trực thăng Girishk, Qalat, Tarinkot và những sân bay khác. Tổng quân số của cụm - 12 máy bay chiến đấu cánh cố định và 26 máy bay trực thăng (trong đó trực thăng vận tải-chiến đấu - 16).

Cụm "Tây" - phi đoàn KQ độc lập 302, một phi đội của trung đoàn KQ độc lập 280 và một phi đội của trung đoàn tiêm kích bom 136. Khu vực hoạt động - các tỉnh miền tây và tây nam Afghanistan (Badghis, Herat, Farah, Hilmend).

Sân bay căn cứ - Shindand. Trong quá trình hoạt động chiến đấu được sử dụng các sân bay Herat, Meimene, các sân đậu trực thăng Dilaram, Daulatabad, Zaranj, Farah, Hush và những sân bay khác. Tổng quân số cụm "Tây" - 12 máy bay chiến đấu cánh cố định và 32 máy bay trực thăng (trong số đó có - 30 trực thăng chiến đấu và vận tải-chiến đấu).

Trong một số trường hợp riêng, khi tiến hành các chiến dịch lớn, các phân đội không quân độc lập của các cụm kể trên được huy động đến tham chiến trong các khu vực khác, tuy nhiên, khi lên kế hoạch tác chiến, người ta cố gắng tránh điều đó do những khó khăn trong việc tập kết máy bay.

Với việc di chuyển tới Afghanistan các máy bay tiêm kích và tiêm kích-bom, tại các sân bay Bagram (trung đoàn tiêm kích 115), Kandahar (trung đoàn tiêm kích-bom 136) và Shindand (trung đoàn tiêm kích-bom 217, sau đó là một phi đoàn của trung đoàn tiêm kích-bom 136), đã đưa vào trực ban chiến đấu các máy bay Xô Viết trong thành phần của hệ thống phòng không chung ở Afghanistan.
.....
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Hai, 2012, 01:19:16 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #44 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2012, 04:32:09 pm »

(tiếp)

Kết thúc chiến dịch đưa quân đội vào Afghanistan

Đến giữa tháng 1 năm 1980, việc đưa các lực lượng chính của TĐQ 40 vào Afghanistan về cơ bản đã hoàn thành. Tại lãnh thổ Afghanistan đã tập trung đầy đủ hai sư đoàn BBCG (các sư đoàn BBCG cận vệ số 108 và số 5), một sư đoàn ĐBĐK (103), một lữ đoàn xung kích-ĐBĐK (lữ đoàn dù-xung kích số 56) và hai trung đoàn độc lập (trung đoàn dù độc lập số 345 và trung đoàn BBCG độc lập số 860).

Ngày 2 tháng 2 năm 1980 trong thành phần TĐQ 40 có thêm một sư đoàn nữa - sư đoàn BBCG 201 (căn cứ cơ bản và SCH trước đây đóng ở thành phố Dushanbe), sư đoàn 201 gồm có trung đoàn BBCG cận vệ 149, trung đoàn BBCG 122, trung đoàn BBCG 191, trung đoàn xe tăng 285, trung đoàn pháo mặt đất 998, trung đoàn pháo PK 990, tiểu đoàn trinh sát độc lập 71 và các đơn vị khác. Tại thời điểm xâm nhập sư đoàn được đảm bảo trang bị kỹ thuật, vũ khí đạn dược, nhiên liệu ở mức 100%. Tình hình nhận thức tư tưởng-đạo đức của đội ngũ quân nhân được đánh giá vững vàng lành mạnh. Sư đoàn BBCG 201 nổi bật ở khả năng sẵn sàng chiến đấu và sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của các đơn vị hợp thành.

Để hiểu được đôi khi cuộc tiến quân của bộ đội TĐQ 40 diễn ra trong những hoàn cảnh nào, ta cần dẫn ra một vài ví dụ (trích từ nhật ký tác chiến của TĐQ 40, bản ghi ngày 20 tháng 1 năm 1980):

":trung đoàn BBCG 186 tiếp tục tiếp tục thi hành nhiệm vụ đã đặt ra từ trước. Trung đoàn bị chặn lại ở vị trí 21 km về phía bắc thành phố Kishim, còn cách cây cầu 800 m. Cầu đã bị các phiến quân đánh sập. Vách núi đá bị đặt mìn nổ tung và đổ ngổn ngang xuống đường. Con đường đã tắc nghẽn. Từ đường đến vách đá cao 2-2,5 mét. Để khơi thông lòng đường chỉ có thể xẻ núi. Chiều sâu của hẻm núi trong khu vực này là - hơn 18 mét. Khả năng khai triển được cầu cơ giới nặng TMM và xe cầu vượt bánh xích MTU là không có. Nhiệm vụ đặt ra là trinh sát các tuyến đường vòng tránh về phía nam tuyến đường chính và xác định khối lượng công việc phải làm để khôi phục lại cây cầu bị phá hủy".

Hoặc xét dù chỉ một trong các báo cáo về đặc điểm phá hủy đường trên một trong các hành trình tiến quân của các đơn vị TĐQ 40: ": nửa bên trái phần mặt đường lưu thông trên một đoạn 10 mét đã sụt xuống vực sâu. Phần mặt còn lại chỉ rộng 1,5-2 m. Bên phải - một bức tường đá nguyên khối treo trên phần đường lưu thông. Nền đá cứng đến mức không thể khoan nổ mìn bằng tay".

Tuy nhiên, nhiệm vụ đặt ra cho các đơn vị và phân đội thuộc TĐQ 40 đã được thực hiện.

Nhóm đặc nhiệm của Bộ Quốc phòng Liên Xô (đóng ở Termez) thực hiện chỉ huy bộ đội ở Afghanistan trực tiếp hoặc thông qua tư lệnh và bộ tham mưu quân khu Turkestan. Trưởng nhóm là nguyên soái Liên Xô S.L.Sokolov kiểm soát sự di chuyển của bộ đội bằng cách bay trực thăng chỉ huy cùng với một nhóm sĩ quan.


Nguyên soái Liên Xô (binh chủng thiết giáp) Sergei Leonidovitch Sokolov (1911-2012), người tham gia chiến tranh Xô-Nhật tại hồ Khasan (1938), Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1945), Chiến tranh Afghanistan (1979-1989), Bộ trưởng QPLX (1984-1987) đang trao phần thưởng cho một quân nhân. Trong những năm chiến tranh Afghanistan, con trai út của ông - Vladimir Sergheevitch Sokolov - là tham mưu trưởng TĐQ BCHT số 40. Tại thời điểm đưa quân đội Liên Xô vào Afghanistan năm 1979, ông là thứ trưởng thứ nhất BQP, trưởng nhóm đặc nhiệm BQP LX lãnh đạo chiến dịch trên. Vì chỉ đạo thực hiện thắng lợi chiến dịch này, ông được tặng danh hiệu AHLX năm 1980.

Tại Kabul, nhóm đặc nhiệm bộ tham mưu binh chủng ĐBĐK đứng đầu là phó tư lệnh binh chủng trung tướng N.N.Guskov tiếp nhận chỉ huy bộ đội. Lúc ban đầu, toàn bộ cụm quân xâm nhập Afghanistan trực thuộc quyền chỉ huy của chính ông.

Tại Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô, nhóm sỹ quan thuộc Tổng cục tác chiến làm việc suốt ngày đêm, nhóm theo dõi tiến trình xâm nhập của bộ đội, những thay đổi của tình hình trong nước và xung quanh Afghanistan, chuẩn bị các báo cáo và đề xuất với ban lãnh đạo Bộ Quốc phòng Liên Xô và ban lãnh đạo quốc gia. Các phiên trực ban của nhóm này chịu sự lãnh đạo của các chủ nhiệm hướng tác chiến thuộc Tổng cục tác chiến Bộ TTM các LLVT Liên Xô.

Trong thời kỳ đưa quân đội xâm nhập Afghanistan, công tác trinh sát và các dạng đảm bảo tác chiến khác, công tác đảm bảo kỹ thuật và hậu cần được thực hiện bằng các lực lượng và phương tiện trong biên chế của bản thân lực lượng xâm nhập, vì các cơ quan của quân chủng lục quân không được báo động. Việc giữ bí mật công tác xây dựng cụm quân đội này được đảm bảo bằng cách kéo dài khoảng thời gian huy động và tiến hành báo động các đơn vị một cách lần lượt, và quan trọng nhất là trên thực tế không ai trong quân đội có thể nghĩ đến một quyết định như vậy có thể xảy ra.

Tổng quân số quân đội Xô Viết ở Afghanistan tới đầu tháng 2 năm 1980 đã đạt đến 81800 người (quân nhân 79,8 nghìn người, trong đó quân số tại các đơn vị chiến đấu thuộc Lục quân và Không quân là - 61,8 nghìn người).
..........
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Hai, 2012, 05:03:55 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #45 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2012, 10:44:48 pm »

(tiếp)

Những sự thay đổi và đổi tên

Trong những năm tiếp theo (kể cả đến năm 1986) biên chế chiến đấu của cụm quân đội Xô Viết tại Afghanistan đã nhiều lần thay đổi. Việc phiên chế lại của một số đơn vị diễn ra nhằm cải thiện khả năng chiến đấu của họ.

Kết quả là, biên chế chung cuộc của đội quân hạn chế quân đội Xô Viết (OKSV - OKCB - Ограниченного контингента советских войск) trở thành như sau: bộ chỉ huy tập đoàn quân 40 với các đơn vị đảm bảo và phục vụ; sư đoàn - 4; lữ đoàn - 5; trung đoàn độc lập - 4; tiểu đoàn cảnh vệ độc lập - 6; trung đoàn không quân - 4; trung đoàn trực thăng - 3; 1 lữ đoàn đảm bảo; 1 lữ đoàn đường ống xăng dầu; các đơn vị và cơ quan y tế, sửa chữa, xây dựng, khai thác quản lý nhà ở.

Quân số quân đội Liên Xô ở Afghanistan đạt mức lớn nhất trong năm 1985 là 108,8 ngàn người. (Quân nhân - 106 nghìn người), trong đó số ở các đơn vị chiến đấu - 73,6 nghìn người (số lượng quân chiến đấu không bao giờ vượt quá một con số đã được ban lãnh đạo chính trị Liên Xô xác định vào tháng 12 năm 1979).

Trong những ngày đầu tháng 1 năm 1980 có một vấn đề phát sinh về việc phải gọi tên bộ đội tại Afghanistan như thế nào. Họ tiếp tục ở trong biên chế bộ đội các quân khu Turkestan và Trung Á và do đó không thể được gọi là cụm bộ đội. Ngay cả gọi họ là tập đoàn quân số 40 cũng không hoàn toàn chính xác. Ngoài bản thân tập đoàn quân 40, ở Afghanistan còn có sư đoàn ĐBĐK và các trung đoàn ĐBĐK độc lập, lữ đoàn xung kích ĐBĐK, một số trung đoàn không quân chiến đấu của LLKQ, các trung đoàn trực thăng chiến đấu và trực thăng vận tải, các đơn vị hậu cần Trung ương.

Ban lãnh đạo chính trị muốn tên gọi chung của các lực lượng của chúng ta phản ánh được số lượng hạn chế và tính chất tạm thời trong việc đồn trú của họ tại Afghanistan. Cuối cùng đã phê duyệt tên gọi "Đội quân đồn trú hạn chế của quân đội Liên Xô ở Afghanistan" (viết tắt - OKSV). Việc đề cập trong tên gọi tính chất lưu trú tạm thời tại Afghanistan được người ta quyết định từ bỏ để không làm phức tạp thêm chữ viết tắt.

Không nghi ngờ gì nữa, ý nghĩa tuyên truyền ban đầu của tên gọi cuối cùng cũng biến mất theo thời gian. Tên gọi này đã được tất cả tiếp nhận như tên chính thức, để phổ biến công khai cho báo chí và giao dịch hàng ngày.

Sự xâm nhập của quân đội Xô Viết vào Afghanistan đối với nhân dân Afghanistan, đặc biệt là những người nghèo, bước đầu được tiếp nhận một cách tốt đẹp. Mọi người tự nguyện liên lạc với những người lính Liên Xô, thể hiện sự quan tâm vói đời sống ở Liên bang Xô viết. Mọi người chân thành hy vọng rằng các lực lượng của chúng ta sẽ giúp chấm dứt chiến tranh, giúp họ thiết lập lại hòa bình và sự thanh bình của đất nước. Từ "shuravi" (Liên Xô) được phát âm với sự ấm áp đặc biệt.

Trong quá trình bộ đội hành quân, tại các điểm dừng ở các điểm dân cư, đã có các cuộc mít-tinh tự phát mà tại đó nó phát hiện ra cư dân của các ngôi làng gần đường giao thông chính đã biết về sự xuất hiện sắp tới của quân đội Xô Viết. Có tâm trạng đặc biệt thân thiện với quân đội Liên Xô là các binh sỹ quân đội Afghanistan và các thành viên của các ủy ban bảo vệ cách mạng. Các bài phát biểu tại cuộc mít-tinh của quân nhân Afghanistan có những lời cảm ơn sự giúp đỡ của các chiến sỹ chúng ta, bày tỏ sự sẵn sàng hợp tác để cùng nhau chiến đấu. Các câu khẩu hiệu biểu thị tình hữu nghị chiến đấu Liên Xô-Afghanistan được mọi người hô vang.

Tuy nhiên, cùng với điều đó, tầng lớp khá giả thể hiện thái độ thận trọng với quân đội Liên Xô, họ tỏ ra cảnh giác, không tiếp xúc. Ngoài ra còn có một số biểu hiện thù địch. Cần chú ý, đặc biệt có những trường hợp một số xe chiến đấu Liên Xô đang hành quân đã bị bắn (chủ yếu là - các đội đoạn hậu).

Ngoài ra còn có một nỗ lực ngăn chặn việc quân đội Liên Xô thiết lập quyền kiểm soát đèo Salang. Một nhóm lớn phiến quân đã cố gắng tấn công tiểu đoàn xung kích ĐBĐK của đại úy L.Khabarov trong khi anh đang sắp đặt các trạm cảnh giới trên đèo. Nhóm này có cả xe BTR và thậm chí cả một chiếc xe tăng (sau này mới biết nó đào thoát từ phía một đơn vị Afghanistan sang phía quân nổi loạn chống lại quân đội Afghanistan). Toán tuần tra trinh sát của tiểu đoàn dưới sự chỉ huy của trung ú N.Krotov phát hiện phiến quân và nổ súng đẩy lùi cuộc tấn công của họ. Trong cuộc chiến, trung úy N.Krotov đã bị giết. Đó là một trong những sỹ quan đầu tiên của OKSV hy sinh.

Quân đội Liên Xô đã đưa vào Afghanistan theo thỏa thuận với Chính quyền nước này và phối hợp cùng các đơn vị quân đội Afghanistan và các phân đội bộ đội của tập đoàn quân, các đơn vị Tsarandoya (Bộ Nội vụ Afghanistan), các cơ quan an ninh đã thực hiện một loạt các nhiệm vụ khác nhau. Họ bảo vệ tất cả các tuyến đường ô tô trọng yếu: Kushka-Herat-Shindand-Girishk-Kandahar; Termez-Puli-Khumri-Kabul; cũng như Kabul-Jalalabad và Puli-Khumri-Kunduz-Faizabad.

Được bảo vệ còn có rất nhiều cơ sở hợp tác kinh tế Liên Xô-Afghanistan, nơi có các cố vấn dân sự và các chuyên gia Liên Xô sống và làm việc. Đó là các cơ sở công nghiệp khí đốt Dzharkuduk và Shibarghan, các nhà máy điện ở Surubi, Naglu, Puli-Khumri và Kabul, nhà máy đạm ở Mazar-i-Sharif, đường hầm và toàn bộ các hạng mục công trình đường đèo Salang, một số cơ sở giáo dục ở Kabul và các hạng mục khác.

Đảm bảo an ninh và hoạt động bình thường không bị gián đoạn của các sân bay Kabul (bao gồm cả cảng hàng không quốc tế), Bagram, Kunduz, Faizabad, Jalalabad, Kandahar, Shindand, Herat, Lashkargakh. Vịệc bố trí các đơn vị đồn trú Liên Xô đã hỗ trợ và tăng cường cho các cơ quan chính quyền tại 21 tỉnh, và nhiều trung tâm huyện, xã.

Nhiệm vụ quan trọng của quân đội Xô Viết là phối hợp với các đơn vị Afghanistan tiến hành các hoạt động quân sự có quy mô khác nhau để đánh bại những nhóm đối lập vũ trang nguy hiểm nhất, tích cực nhất, cũng như đấu tranh với các đoàn vận tải lữ hành cung cấp vũ khí đạn dược đến Afghanistan từ các nước Pakistan và Iran. Vấn đề này được xác định từ tháng ba năm 1980 và cuối cùng trở thành một trong những nhiệm vụ chính từ năm 1981.


Biên chế tổ chức một trung đoàn pháo binh Xô Viết điển hình thời kỳ chiến tranh Afghanistan: trung đoàn 1074 thuộc sư đoàn BBCG 108 (biên chế năm 1986).
......
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười Hai, 2012, 03:33:31 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #46 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2012, 11:00:41 pm »

(tiếp)



Chiến dịch Afghanistan: Kinh nghiệm không có người nhận (bài 3)

Bài của: Thiếu tướng Evghenii Grigorievitch Nikitenko.

Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của tập đoàn quân 40 và vấn đề chỉ huy quản lý bộ đội

Ngày 01 tháng 3 năm 1980, việc xây dựng cụm quân đội Xô Viết ở Afghanistan về tổng thể đã hoàn thành. Tuy nhiên, biên chế tập đoàn quân 40 vẫn thay đổi trong suốt thời gian quân đội Liên Xô dồn trú ở Afghanistan.

Cơ cấu tổ chức tập đoàn quân 40

Chẳng hạn, dựa trên kinh nghiệm những tháng hoạt động chiến đấu đầu tiên, ngay từ ngày 01 tháng 9 năm 1980 các đơn vị sau được rút khỏi thành phần TĐQ 40 và tái bố trí lại trên lãnh thổ Liên Xô, đó là trung đoàn xe tăng của sư đoàn BBCG cận vệ 201, các tiểu đoàn tên lửa độc lập của sư đoàn BBCG cận vệ 5, 201 và 108, cũng như lữ đoàn pháo binh cận vệ 353, lữ đoàn TLPK số 2 "Krug" và căn cứ kỹ thuật tên lửa phòng không 2412.


Biên chế tổ chức năm 1986 của sư đoàn BBCG 108.

Ngoài ra, các đặc điểm đóng quân và tiến hành tác chiến đã bắt buộc các đơn vị và bộ phận phải tiếp tục thực hiện các thay đổi trong cơ cấu tổ chức của tập đoàn quân.

Ngày 01 tháng 11 năm 1980 đã thành lập nhóm sửa chữa cơ động thiết bị y tế, ngày 20 tháng 12 năm 1980 trên cơ sở chỉ lệnh của Bộ tham mưu Quân khu Turkestan ngày 28 tháng 10 năm 1980, căn cứ kỹ thuật-hàng không 542 được tổ chức lại thành hai tiểu đoàn độc lập và một đại đội độc lập làm nhiệm vụ đảm bảo kỹ thuật-hàng không đóng ở các sân bay Bagram và Kabul.

Năm 1981, quá trình lựa chọn thành phần tối ưu nhất của tập đoàn quân vẫn tiếp tục. Thêm vào đó sự thay đổi diễn ra trong thành phần các đơn vị chiến đấu, và cả trong các bộ phận đảm bảo tác chiến và hậu cần. Kể từ 01 tháng 7 năm 1981, trong thành phần bộ đội không quân thuộc tập đoàn quân có thêm phi đoàn cường kích độc lập số 200 và một đại đôi thông tin liên lạc kiêm đảm bảo vô tuyến điện tử.

Sự thay phiên thường trực của đội ngũ quân nhân TĐQ cũng như sự gia tăng lưu lượng vận chuyển người đã dẫn đến phải hình thành binh trạm quá cảnh 606 tại sân bay Kabul, và hai bộ chỉ huy quân quản kiểm soát các cảng hàng không ở Kabul và Shindand. Do nhu cầu ngày càng cao về thực phẩm và nhiên liệu của TĐQ mà ngày 1 tháng 8 năm 1981 đã thành lập kho nhiên liệu 6353 và đội cứu hỏa quân sự 1226, kho nhu yếu phẩm 6357 đóng quân ở Kabul, kho nhiên liệu độc lập 897 ở Hairatan. Ngoài ra, còn thành lập bổ sung hai trạm tắm và giặt là.


Cơ cấu tổ chức và biên chế chính thức của TĐQ binh chủng hợp thành số 40.
.......
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười Hai, 2012, 03:36:49 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #47 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2012, 02:35:45 am »

(tiếp)

Trong tháng 6-tháng 7 năm 1981 có sự thay phiên trung đoàn KQ tiêm kích và tiêm kích-bom, cũng như trung đoàn máy bay trực thăng với các bộ phận đảm bảo kỹ thuật-hàng không cho các trung đoàn tương tự, đến từ các quân khu khác nhau của Liên bang Xô Viết. Xưởng sửa chữa di động số 19 điều chuyển đến từ quân khu Prikarpat. Cuối cùng là các đơn vị hàng không được thay đổi hoàn toàn hàng năm.

Hư hỏng lớn về xe máy vào giữa năm 1981 là nguyên nhân của sự phiên chế lại đại đội sửa chữa ô tô tại lữ đoàn hậu cần độc lập 59, xưởng đo lường kiểm định xe máy và tổ chức lại trung đội bảo dưỡng (xe máy công binh) tại đại đội sửa chữa độc lập 210 (xe máy công binh). Sau đó, tháng 5 năm 1982, tại lữ đoàn hậu cần độc lập 59 đã thành lập tiểu đoàn sửa chữa phục hồi độc lập (xe máy hậu cần) số 894.

Ngày 1 tháng 12 năm 1981 trung đoàn pháo PK của sư đoàn BBCG số 108 được thay phiên bằng trung đoàn TLPK 1415.

Các cuộc tấn công thường xuyên của quân nổi dậy vào các sân bay của không quân Liên Xô và các mục tiêu quan trọng khác đòi hỏi phải có các phân đội bảo vệ đặc biệt. Ngày 01 tháng 12 năm 1981 thành phần TĐQ có thêm 8 tiểu đoàn cảnh vệ độc lập đóng tại Bagram, Jalalabad, Kandahar, Surubi, Shindand, Kabul, Ghazni và Kunduz.


Mảnh xác máy bay Mig-21 của biên đội trực chiến trung đoàn tiêm kích 927 sau cuộc pháo kích của quân Hồi giáo Dushman tháng 4 năm 1984.

Trong tháng 2 năm 1982, để đảm bảo sự chỉ huy tin cậy cho không quân đã thành lập 5 đại đội thông tin liên lạc và đảm bảo kỹ thuật VTĐT độc lập triển khai đến Bagram, Faizabad, Gardez, Ghazni và Kandahar.

Tỷ lệ lớn mắc các bệnh truyền nhiễm của quân nhân đã dẫn đến sự thành lập trong tháng 7 năm 1982 hai trạm kiểm soát vệ sinh ở Kabul và Shindand.

Vấn đề đảm bảo nhiên liệu cho TĐQ đã buộc người ta phải tìm cách ra khỏi tình trạng hiện có. Việc vào thời điểm đó chỉ có một tuyến đường ống dẫn dầu là không đủ, vì vậy người ta quyết định mở tuyến mới và kéo dài tuyến đã có. Để làm việc này, trong tháng 7 năm 1982, TĐQ có thêm ban bảo quản chất đốt 867 và tiểu đoàn đường ống độc lập 14, tiểu đoàn này vào cuối tháng Tám biên chế lại thành lữ đoàn đường ống 276 đóng tại Pul-i-Khumri. Đồng thời, đại đội tiếp tế chất đốt độc lập 206 và trung đội bộ binh địa phương độc lập số 83 giải thể.

Do thiếu thiết bị xe máy và gia tăng quy mô chuyên chở nhằm đảm bảo vật chất cho các đơn vị đồn trú mà ngày 1 tháng tư năm 1982 đã điều động đến phục vụ tạm thời, với thời hạn 5 tháng, các tiểu đoàn ô tô độc lập 777 từ quân khu Prikarpat và tiểu đoàn ô tô độc lập 652 từ quân khu Zacapcaz, đóng quân tương ứng ở Kabul và Pul-i-Khumri. Tuy nhiên, thay vì 5 tháng, các tiểu đoàn phục vụ trong thành phần TĐQ cho đến 01 tháng 5 năm 1983. Ngày 01 tháng 4 đến thay thế họ là các tiểu đoàn ô tô độc lập 605 và 434. Tiếp theo các tiểu đoàn ô tô được thay phiên sau một năm.

Năm 1983, việc đảm bảo sự di chuyển của các đoàn xe trên các tuyến đường (đặc biệt là qua đèo Salang) đã thu hút sự quan tâm thường xuyên, trước hết đó là do phiến quân đang tăng cường nỗ lực đánh phá các tuyến giao thông. Vì mục đích trên từ ngày 1 tháng 5 đã thành lập lữ đoàn quân quản đường bộ 278 gồm 3 tiểu đoàn quân quản đường bộ (hai trong số đó được tổ chức lại từ các tiểu đoàn cảnh vệ độc lập).

Để sắp xếp, khai thác bảo dưỡng và phục hồi quỹ nhà ở, tháng 5 năm 1983, đã thành lập đơn vị quản lý-khai thác nhà khu vực số 295, cơ sở cung ứng vật chất-kỹ thuật số 4571 và đại đội khai thác 581, đóng quân ở Jalalabad. Thành lập các trung đội khai thác 962 và 963 triển khai ở Pul-i-Khumri và Kandahar.

Ngày 1 tháng 6 năm 1983 trong thành phần TĐQ có thêm tiểu đoàn ô tô độc lập số 501 với việc triển khai 2 đại đội độc lập ở Hairatan và một đại đội tại Turagundi. Để chấn chỉnh việc vận chuyển đường sắt tới các đơn vị đồn trú ở Hairatan và Turagundi, ngày 01 tháng 7 đã thành lập các ban quân quản giao thông quân sự (các ga đường sắt) số 869 và 870.

Trong năm 1983, TĐQ có thêm kho y tế 3964, trạm quân bưu 22, trạm phân tích-tính toán 849, xưởng sửa chữa khí tài thông tin liên lạc và VTĐT 556, ban bảo quản tài sản hiện vật 921.

Năm 1984, trọng tâm chú ý khi thay đổi cơ cấu tổ chức-biên chế của TĐQ hướng vào chất lượng của TĐQ, cũng như của các đơn vị và cơ quan, tình hình chất lượng này sẽ cho phép nâng cao hơn hiệu quả cuộc đấu tranh chống lực lượng nổi dậy, cải thiện cuộc sống và đời sống hàng ngày cho đội ngũ quân nhân.

Nhằm mục đích ấy một trung đoàn xe tăng của sư đoàn BBCG 108 được tổ chức lại thành trung đoàn BBCG, còn phi đoàn không quân cường kích độc lập số 200 - chuyển thành trung đoàn không quân cường kích độc lập số 378.


Cường kích Su-25, một loại máy bay cường kích tiền tuyến phổ biến và có ứng dụng thành công ở chiến trường Afghanistan của quân đội Liên Xô.

Ngày 15 tháng 9, từ quân khu Kiev đội đặc nhiệm độc lập 668 đến Afghanistan và được bố trí triển khai tại Bagram.

Để tăng cường công tác bảo đảm chiến đấu trong tháng 3 các tiểu đoàn cảnh vệ độc lập 1351 và 1360 của các sân bay Kabul và Kunduz được thành lập và gia nhập biên chế tập đoàn quân.

Ngày 20 tháng 9 tiểu đoàn công binh rải mìn đặc nhiệm độc lập số 1117 được thành lập trên cơ sở đại đội công binh rải mìn đặc nhiệm thuộc trung đoàn công binh 45, còn tiểu đoàn độc lập 2088 được chuyển đổi thành tiểu đoàn công binh độc lập 2088 và biên chế vào trung đoàn công binh số 45.
.........
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười Hai, 2012, 09:33:21 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #48 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2012, 02:58:09 pm »

(tiếp)

Ngày 1 tháng 11, tiểu đoàn trinh sát VTĐT độc lập (đặc nhiệm) số 1845 được chuyển hóa thành trung đoàn trinh sát kỹ thuật VTĐT (đặc nhiệm) độc lập số 254 gồm 3 trung tâm định vị VTĐT độc lập và hai trung tâm trinh sát VTĐT độc lập.

Việc thành lập trong tháng 3 năm 1984 xí nghiệp sản xuất bánh mì di động số 245 thuộc sư đoàn dù cận vệ số 103, cũng như trung tâm nghỉ dưỡng số 952 tại Bagram đã góp phần cải thiện công tác bảo đảm hậu cần.


Đặc điểm hệ thống chỉ huy OKSV (đường liền nét - quản lý hành chính; đường đứt nét - theo tuyến các trung tâm chỉ huy tác chiến).

Trong tháng 4, đã thành lập quân y viện chống bệnh truyền nhiễm số 743 đặt tại thủ đô Kabul, tháng 7 - đội chống dịch hạch và vệ sinh phòng dịch quân đội.

Đơn vị quản lý khai thác nhà ở và một trung đội khai thác đã được thành lập nhằm đạt được mức chất lượng mới và nâng cao các điều kiện sống. Trong tháng 7, bốn cơ sở cung ứng vật chất-kỹ thuật được cải tổ thành kho quản lý tài sản nhà ở. Ngày 31 tháng 8 đã thành lập ban quản lý khai thác nhà ở, ban xây dựng cơ bản số 223 (với tư cách một ban thuộc tập đoàn quân), cũng như trung đội quản lý-khai thác 1861. Tháng 11, ban quân nhu 635 được tổ chức lại thành phòng quân nhu 879.

Các biện pháp cơ cấu lại biên chế-tổ chức được thực hiện nhằm cải thiện việc cung cấp nhiên liệu của TĐQ. Ngày 01 tháng 12 đến gia nhập biên chế TĐQ có tiểu đoàn đường ống độc lập 1461 từ quân khu Kiev và đóng quân ở Herat. Ngoài ra cũng đã hình thành hai kho chứa nhiên liệu ở Bagram và Shirkhanov.

Năm 1985, các biện pháp tinh chỉnh biên chế tổ chức TĐQ đã được thực hiện, gồm có việc tổ chức lại các đơn vị, tái trang bị cho chúng, chuyển đổi sang biên chế mới hoặc đưa vào trong thành phần đơn vị các phân đội bổ sung, cũng như bố trí lại nơi đóng quân. Đặc biệt, trong biên chế các lữ đoàn và trung đoàn BBCG độc lập thay cho các trung đội phòng hóa là các trung đội súng phun lửa, còn đại đội phòng hóa của đơn vị được chuyển đổi thành đại đội súng phun lửa độc lập.


Đội đặc nhiệm 334 Tổng cục Quân báo BTTM QĐLX được thành lập tháng 1 năm 1985 tại thành phố Marina Gorka (CHXHCNXV Belarussia) trên cơ sở lữ đoàn đặc nhiệm số 5 Tổng cục Quân báo (Quân khu Belarussia). Đội được đưa vào Afghanistan tháng 3 năm 1985, bố trí ở thành phố Asadabat tỉnh Kunar. Tháng 4 năm 1985, đội được biên chế vào lữ đoàn đặc nhiệm số 15 Tổng cục Quân báo BTTM QĐLX. Tháng 5 năm 1988 đội được rút khỏi Afghanistan về lại thành phố Marina Gorka (CHXHCNXV Belarussia). Trong ảnh: quân nhân đội đặc nhiệm 334 đóng tại Asadabat trong quân phục quân đội chính phủ Afghanistan, năm 1986. Khi hoạt động tại Afghanistan họ trực tiếp thuộc quyền bộ tham mưu TĐQ BCHT số 40.

Tháng 3 năm 1985, gia nhập biên chế sư đoàn BBCG cận vệ 5 có trung đoàn BBCG số 12 đóng quân ở Herat. Ngoài ra, ba tiểu đoàn thuộc các đơn vị - sư đoàn BBCG cận vệ 5, sư đoàn ĐBĐK 103, lữ đoàn BBCG độc lập số 70 - thay đổi vị trí đóng quân do có 10 đội đặc nhiệm spetsnaz mới đến được biên chế vào TĐQ, và được bố trí tại Asadabad, Shahdzhoe, Jalalabad, Ghazni, Barraki, Kandahar và Lashgarhar.


Biên chế của "tiểu đoàn Hồi giáo" số 2 - đội spetnaz 177, mùa hè 1982. Đội này thành lập năm 1980 gồm 300 quân nhân dân tộc Uigur theo đạo Hồi dự kiến phục vụ cho các hoạt động chiến đấu có thể xảy ra trên lãnh thổ khu tự trị Duy Ngô Nhĩ-Uigur nước CHND Trung Hoa.

Ngày 25 tháng 3, trung tâm định vị vô tuyến độc lập 381 đến gia nhập TĐQ, biên chế vào trung đoàn trinh sát VTĐT đặc nhiệm (osnaz) 254, đại đội thu tin kỹ thuật VTĐT của trung đoàn đó được tổ chức lại thành tiểu đoàn thu tin kỹ thuật VTĐT. Ngày 30 tháng 5 trong biên chế các lữ đoàn đặc nhiệm (spetsnaz) cận vệ độc lập số 15 và 22 (thuộc Tổng cục Quân báo Bộ TTM các LLVT Liên Xô) có thêm 2 nhóm liên lạc vệ tinh được thành lập ở Tashkent.
......
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Mười Hai, 2012, 02:17:30 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #49 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2012, 10:56:01 pm »

(tiếp)

Năm 1985, bộ chỉ huy tập đoàn quân bắt đầu tiến hành nhiệm vụ phong tỏa tất cả các con đường từ nước ngoài đưa vũ khí và đạn dược vào cung cấp cho phiến quân. Ngoài các đội đặc nhiệm, đóng vai trò quan trọng ở đây là việc gài mìn các tuyến vận tải lữ hành và đường mòn dẫn từ biên giới vào nội địa.

Để làm điều đó ngày 30 tháng 5, tiểu đoàn công binh độc lập 2088 thuộc trung đoàn công binh 45 được cải tổ thành tiểu đoàn công binh rải mìn chuyên nhiệm số 2088. Ngày 30 tháng 6, trong biên chế các tiểu đoàn công binh thuộc các đơn vị BBCG, thay cho một đại đội công binh là một đại đội công binh rải mìn chuyên nhiệm.

Ngày 05 tháng 8, tại các đội đặc nhiệm spetsnaz, trên cơ sở các nhóm đặc nhiệm (rải mìn) và các trung đội công binh đã thành lập các đại đội rải mìn. Ngày 15 tháng 12 tại các đại đội công binh của các trung đoàn và lữ đoàn BBCG thay cho một trung đội công binh  là một trung đội rải mìn chuyên nhiệm.


Súng cối 2B9 "Vasiliok" lắp trên đầu kéo đa dụng MB-LB.

Kinh nghiệm chiến đấu ở Afghanistan cho thấy sự cần thiết phải tăng cường sức mạnh hỏa lực cho các phân đội và các đơn vị, cũng như thay thế một số loại vũ khí sang chủng loại hiện đại hơn. Ví dụ, ngày 25 tháng 5 năm 1985, thay cho một súng phóng lựu tự động AGS-17 tại trung đội súng phóng lựu thuộc các đại đội BBCG là súng máy 12,7 mm "Vách đá - Utes". Ngày 01 tháng 6 các tiểu đoàn pháo binh của trung đoàn BBCG 371 sư đoàn BBCG cận vệ số 5 và trung đoàn BBCG 149 thuộc sư đoàn BBCG cận vệ 201 được chuyển sang trang bị pháo tự hành 122-mm, "Gvozdik - Hoa cẩm chướng". Ngày 31 tháng 10 tại tất cả các khẩu đội súng cối thuộc các tiểu đoàn bộ binh cơ giới, các trung đoàn bộ binh cơ giới, các trung đoàn và lữ đoàn BBCG độc lập đã đưa vào trung đội súng cối thứ hai sử dụng súng cối 82 mm "Vasiliok-Bông lúa". Cũng theo mệnh lệnh này, lữ đoàn xung kích ĐBĐK độc lập số 56 đã tái vũ trang với các xe chiến đấu BMP-2 thay cho BMP-1. Ngày 30 tháng 11 năm 1985 tại các tiểu đoàn cảnh vệ độc lập đã đưa vào trang bị các đại đội súng cối 120 mm (6 khẩu súng cối). Tại các tiểu đoàn pháo binh của các lữ đoàn bộ binh cơ giới và lữ đoàn xung kích ĐBĐK đã bổ sung đại đội lựu pháo 122-mm thứ tư (8 đại bác) và cho mỗi cặp 2 đại bác trong các đại đội hiện có các tổ hợp máy chỉ huy chiến đấu.


Súng phóng lựu AGS-17 gắn trên cầu sau GaZ-66 nhằm mục đích quan sát toàn vòng. Ảnh chụp tháng 7 năm 1988 tại một trạm gác của đại đội trinh sát pháo binh, tiểu đoàn pháo binh mặt đất 1074 thuộc sư đoàn BBCG cận vệ 108. Ngoại ô phía bắc thủ đô Kabul.

Năm 1985, bộ chỉ huy tập đoàn quân hoàn tất việc đảm bảo phương tiện vật chất cho các doanh trại đồn trú. Ngày 30 tháng 6, thành lập trạm điều phối trung tâm, trực thuộc chủ nhiệm hậu cần TĐQ. Ngày 29 tháng 8, hai tiểu đoàn ô tô độc lập trực thuộc quân khu (quân khu Turkestan) đã đến và đóng quân tại Hairatan và Turagundi, và ngày 25 tháng 11 thêm một tiểu đoàn ô tô nữa đến Hairatan. Ngoài ra, ngày 01 tháng 8 đã thành lập tiểu đoàn đảm bảo vật chất-kỹ thuật độc lập 1388 thuộc sư đoàn ĐBĐK cận vệ số 103.
........
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM