macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #30 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2010, 04:09:27 pm » |
|
NHỮNG BÀN TAY ĐẸP ẤY Ba thằng nói láo, bảo rằng: “Phún có xấu và ế chồng, chiến đấu mới hăng!”. Tôi đã gặp một nữ du kích ấy rồi. tôi có thẻ nói ngay rằng: Những thằng nói thế là những thằng nói láo. Các chị không xấu. Cũng không ế muộn. Chị tổ trưởng ngội nói chuyện với tôi, mới độ mười chín đôi mưoi. Chị đẹp như một cô gái Bắc Ninh. Khăn vuông mỏ quạ yếm trắng bong, áo nâu dài, hai vạt trước lỏng lẻo bắt tréo nhau,bên ngoài dải thắt lưng xanh, quần nái đen buông đến mắt cá chân. Đây là lúc nghỉ ngơi, không phải lúc đánh giặc các chị vẫn duyên dáng lắm. và cũng thùy mị nữa. Khuôn mặt trái xoan rất dịu dàng. Da nhỏ, mơn mởn trăng hồng. Mắt bồ câu. Miệng nhỏ xinh xinh. Mỗi khi cười, đôi má bầu bầu lúm đồng tiền. cô con gái nền nếp xứ quê này, mặc dầu cái mộc mạc nâu sồng, cũng khả dĩ làm nhiều chàng trai mơ nước. Tôi cũng không biết lúc xông vào trại giặc thì chị có dữ dội, ngổ ngáo không. Lúc này đây, chị cũng khép nép như bất cứ cô thôn nữ đẹp nào ngồi trước mặt đàn ông. Trong khi nói chuyện, đôi mắt chị luôn luôn nhìn xuống, đôi bàn tay trắng mịn, đặt trên đùi. Những ngón tay búp măng muồn muột chít vào nhau. Những bàn tay nhỏ nhắn này đã từng cầm súng bắn Tây, ném lựu đạn vào Tây, hoa đao lăn xả vào Tây, nó cũng không kém mềm mại chút nào. Trước kia, hẳn là nó dưa thoi rất nhẹ nhàng. Và ẵm em rất khéo. Tôi nhìn những bàn tay xinh ấy. Những bàn tay rất mềm yếu, nhưng cũng biết rời mái tóc mềm như tơ của trẻ con, để cầm vũ khí giết quân thù, bảo vệ tấm thân trong trắng của mình và tương lai của những đứa con mình sẽ đẻ ra. Tôi thương hại cho biết mấy cái bày tay nam nhi tận đến lúc này mà vẫn chưa biết gì. Hay là chỉ biết chiều vuốt mái tóc buồn của người yêu, nhớ tiếc những chiều mông, nắm tay nhau đi trên đường Cổ Ngư hay trên bờ Hồ Hoàn Kiếm viền liễu rủ. Những bàn tay ủy mị! Chúng có còn nhiều nữa không, vào cái lúc hàng triệu thanh niên đang náo nức đầu quân vào toàn quốc phấn khởi đi như nước lũ làm lung lay những cái đầu thiếu lòng tin, đã có những bàn tay “mềm yếu” cương quyết cầm dao súng. Đâu có phải những bàn tay ấy không có mái đầu nào để vuốt ve? Đâu có phải những bàn tay ấy không biết làm món ăn ngon vừa miệng người chồng hay một cái áo xinh xinh cho đứa con mong đợi của vợ chồng. Chị tổ trưởng du kích bảo tôi: - Hai phần ba chúng em đã có chồng, một vài người đã có con. Tôi băn khoăn không hiểu những đứa con ấy bây giờ ở với ai. Chúng nó có thấy thiếu mẹ lắm không? Và những người chồng có vui lòng thành thật khi thấy vợ vào du kích không? Chị mỉm cười: - Các anh ấy rất bằng lòng. Bởi vì các anh ấy cũng đi công tác cả. Hiểu nhau lắm. - Còn các em? - Anh không biết đấy thôi, chứ ở những vùng buôn bán không mấy khi chính người mẹ được nuôi con? Bán hàng cứ lần lượt đi hết chợ nọ đến chợ kia. Thường thường ở cữ xong độ một tháng hay hơn một tháng, chị em đã phải đem con gửi u nuôi để đi chợ. Các chị phu nữ nông dân cũng hẳng làm gì có thì giờ ôm ấp trẻ một ngày. Chị em chúng tôi người nào có con, đã có chị em nuôi giúp. Có thể nói rằng chúng nó được săn sóc chu đáo lắm. Chị em phụ nữ địa phương coi sóc chúng nó còn hơn chính con các chị. Chúng có nhiều mẹ lắm! Chị cười hóm hỉnh. Đôi mắt đen lay láy rời đôi bàn tay đẹp để nhìn một chút, vẻ hơi chế nhạo: - Ý các anh thế nào? Nếu các anh có con, các anh có thích để vợ đi công tác hay chỉ công tác ở nhà thôi? Tôi chưa từng đặt với tôi câu hỏi ấy bao giờ. Bây giờ có người đột ngột đặt nó ra trước mặt tôi, tôi mới chợt nhận thấy rằng trong đầu óc dàn ông của tôi vẫn còn nhiều thành kiến với đàn bà lắm. Tại sao chúng ta lại cứ muốn giữ rịt phụ nữ ở nhà, cầm họ không được làm cái bổng phận công dân của họ trước khi họ muốn? Tôi chợt nghĩ đến anh con trai cầu tự của một bà hiếm hoi kia. Bà không dám cho con ra tỉnh học, vì không dám xa con. Mặc dầu anh ta đã ngoài hai mươi, đã lấy vợ bảy năm rồi, đêm đêm bà vẫn thích nằm cùng giường với con, quạt cho nó. Kết quả của sự nâng niu ấy là mặc dầu đã lớn lộc ngộc rồi, anh vẫn chỉ là một đứa con bé bỏng thôi. Trong khi những đứa trẻ lên sáu đã biết tìm cái vui tập đoàn trong đoàn thể nhi đồng, anh ẫn chỉ ru rú ở nhà. Anh muốn vợ anh cũng ru rú ở nhà. Anh càu nhàu với vợ, khi tối tối chị vợ cắp sách đến lớp học bình dân. Anh ấm ức như bị hóc xương gà, khi thấy vợ vào phụ nữ. Không biết bao nhiêu năm rồi, người vợ đáng thương kia tủi vì chồng. Chị cứ đi học, cứ vào phụ nữ như tất cả các chị em. Chị tham gia công tác đoàn thể hăng hái lắm. Và từ ngày vào đoàn thể, chị cố nín nhịn mẹ chồng, cố nín nhịn chồng, cố làm công việc nhà gấp bội trước kia. Một chuyến địch tiến đến gần làng, mặc cho chồng run sợ cuống cuồng, chị đã nai nịt gọn ghẽ, xách mã tấu, đeo lựu đạn, theo anh chị em du kích đi phục kích.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #31 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2010, 04:09:49 pm » |
|
Tôi thành thực nghĩ rằng trong một gia đình như gia đình ấy, nếu họ có con, có lẽ anh chồng nên yên phận ẵm con để cho chị vợ thay anh làm bổn phận công dân!... Vấn đề không phải là thích hay không thích. Vấn đề chính là cần hay không cần…
Chị nữ du kích ngồi trước mặt tôi vẫn mỉm cười. Bây giờ thì chị không e lệ một chút nào. Chị nhìn thẳng vào mặt tôi, chị bảo:
- Cần thì có lẽ chưa cần lắm. Phụ nữ còn khối việc làm ở hậu phương.
Nhưng chúng tôi khó chịu vì có những người đàn ông nhút nhát. Vả lại chúng tôi cũng muốn thử xem phụ nữ có thể đi đánh giặc được như đàn ông không?
- Chị thấy thế nào?
- Anh muốn sao?
- Tôi không biết các chị đi chiến đấu có thấy vất vả lắm không?
Đôi mắt chị lại cười. Chị tủm tỉm trả lời tòi:
- Chúng tôi không thấy vất vả bằng làm ruộng.
Người thiếu nữ này muốn nhạo báng tôi. Đôi bàn tay trắng muốt kia chưa từng quen với nắng tháng sáu đốt cánh dồng. Nhưng còn các chị đứng xung quanh. Trông chị nào cũng đen giòn. Các chị cho tôi biết bây giờ các chị vẫn làm ruộng như thường. Làm ruộng giúp đồng bào. Cả chị trắng trẻo đang ngồi tiếp chuyện tôi trước kia thật ra chỉ chăn tằm, dệt lụa ở nhà, cũng đã học chị em, hoạt động trong vùng địch mà không biết làm ruộng thì thiệt lắm.
Tôi muốn biết tình độ học thức của các chị thế nào.
- Phần nhiều kém…
Chị bảo tôi như vậy. Hầu hết các chị là con nhà nông, trước kia chưa bao giờ được học. Mới học từ sau hồi khởi nghĩa cả đó thôi. Có chị từ khi vào du kích mới bắt đầu. Lại có chị hiện giờ vẫn chưa đọc thạo. Tất cả đều lấy làm đau xót vì trình độ văn hóa quá thấp kém của mình và đang ráo riết học thêm. Cả đội, chỉ có một mình chị chính trị viên là đã học hai năm trung học…
Chị N. học trường Hà Nội trước, chắc anh có biết.
Chị bảo thêm như vậy. Làm như Hà Nội chỉ có một trường và có ở Hà Nội thì người ta phải biết tất cả những người Hà Nội khác! Nhưng dù sao thì cũng làm một điều rất lí thú đối với tôi. Một nữ sinh Hà Nội làm chính trị viên đội du kích phụ nữ này. Bây giờ lại có quyền đội trưởng chỉ huy cả về quân sự nữa. Mà xung trận rất gan, đánh rất hăng. Thì ra không phải chỉ phụ nữ nông dân đã quen với những công việc nặng nề mới có thể thành đội viên du kích…
- Các cụ ở nhà đối với việc các chị vào đội du kích như thế nào?
- Đều bằng lòng cả… Chúng tôi không nhận những chị không được gia đình ưng thuận.
- Nghĩa là vẫn có những cụ không ưng thuận?
- Tất nhiên là phải có. Các cụ lo con đua chị, đua em như vậy rồi thành ra lêu lổng. Nhưng chúng tôi giữ hết sức đúng đắn. Bây giơ thì hầu hết các cụ đã hiểu rồi. Một ngươi hư thì không phải đợi và du kích mới hư. Trái lại vào du kích, được rèn luyện theo kỉ luật, còn ngoan ra nhiều nữa. Vả lại, ở trong vùng địch, Tây khủng bố, phụ nữ muốn giữ thân cần biết quân sự. Có thể nói rằng phụ nữ trong vùng địch thích quân sự hơn chính trị.
Mấy hôm trước mấy anh cán bộ vùng địch cũng đã bảo tôi như vậy. Kể cũng là một điều đáng cho chúng ta suy nghĩ. Trong vùng địch phần lớn nam giới thích đi làm cán bộ; chị em phu nữ thì lại thích vào du kích; hơi nghe nói có lớp quân sự nào là các chị đòi đi học. Mà không phải chỉ học cho biết thôi đâu. Các chị thích đi đánh lắm. Bộ đội tới thường được các chị đem xôi chuối, quà bánh ủng hộ luôn. Ủng hộ để dược ngắm nghía khẩu súng cho đỡ thèm. Và để gạ: “Các anh cho chúng em đi đánh với”.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #32 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2010, 04:10:19 pm » |
|
Người ta kể với tôi mẩu chuyện nhỏ, nhiều ý nghĩa. Hôm ây là một ngày kỉ niêm. Trong một gia đình có hai vợ chồng và một đứa con kia, cơm chiều xong, anh chồng chực ra đi. Chị vợ gọi giật lại hỏi: - Đi đâu? Anh chồng bảo: - Đi có việc. - Việc gì? Trong vùng địch không bao giờ hỏi thế. Bởi vì việc ai người ấy biết thôi. Nhưng dễ thường chị không có việc của chị sao? Chị nằng nặc bảo anh: - Việc gì cũng giữ em hộ tôi một lúc. Tôi phải đi đằng ngày một lát. Anh chồng gắt: - Đi đâu hãy để đấy đã. Người ta không đợi được. Việc cần. Anh đi. Chị vợ đứng tần ngần… Chị em bây giờ chắc đã đến cả rồi. Họ đang đợi mình đây. Mình đã hứa chắc chắn kia mà!... Chị băn khoăn, nóng lòng nóng ruột lạ lùng. Y như là một tai nạn gì lớn sắp xảy ra. Nếu lỡ việc của chị em? Nếu vì mình mà chị em hỏng việc? Trong vùng địch một người hẹn đến mà không đến, đó là một việc gieo hoang mang vào đầu óc mọi người. Phải chẳng bị chộp giữa đường? Nhiều khi chỉ vì thế, mà cả một kế hoạch đã định, không dám đem thi hành nữa. Hôm nay là ngày kỉ niệm sinh nhật Hồ Chủ tịch. Để lỡ việc thì chị em trách chết! Chị “chặc lưỡi” một cái. Chị đem con sang bà hàng xóm gửi, nói là bà mẹ đẻ cho tìm đến ngay có việc. Chị đến chỗ hẹn với chị em. Vì dêm hôm ấy chị cùng chị em đi đột kích. Ai khen? Ai trách? Tôi chỉ muốn tìm để hiểu. Cái gì đã thúc chị em trong vùng địch thích vào du kích? Một chút lãng mạn chăng? Hay là nỗi căm giận lũ giặc đi đến đâu cũng giở trò hãm hiếp? Thà chết còn hơn bị làm nhục. Và biết đâu không phải là lòng phẫn nộ đối với cái nhỏ nhen cái hèn hạ, cái bất công của những kẻ đàn ông phụ bạc, ruồng bỏ, hắt hủi những chị phụ mữ đáng thương và bị sa vào tay giặc? Hay là một lời thách thức nói với bên nam giới? Dù sao, cuộc giải phóng dân tộc không thể bỏ qua một nửa lực lượng nhân dân, ở trong những bàn tay đẹp mà những người đàn ông ích kỉ, tưởng chỉ có thể dùng để làm bếp và giặt quần áo ở nhà? Và cuộc giải phóng phụ nữ phải do chính bàn tay phụ nữ săn sóc lấy. đấu tranh không làm mất vẻ dịu dàng. Đôi mắt nảy lửa phóng vào mặt lũ giặc mọi rợ, dâm cuồng vẫn biết tình tứ với chồng và âu yếu với con. Những bàn tay nữ du kích khi chịt cổ quân thì cứng cáp như kìm, nhưng khi nắm lấy cái bàn tay bé tí xíu và hồng hồng của đứa con yêu, vẫn êm đềm như bàn tay tất cả những bà mẹ trên dời. Người đàn bà bó chân của đất nước Trung Hoa phong kiến và những cô gái cầm cung trong cổ tích Việt Nam đã thành cổ tích rồi. Người đàn ông tự do và tự trọng không cần đến những nô lệ, những con hầu, những đồ chơi. Chúng ta vui sướng nhìn vẻ đẹp dũng mãnh của người nữ chiến sĩ điều khiến khẩu súng phóng lựu đạn trong trận đầu tiên đánh vào thị xã H.Đ. Những bàn tay đẹp cầm súng chiến đấu cùng một lúc giải phóng cho dân tộc và giải phóng cho phụ nữ. Sự ấy không chướng mắt. Sự ấy đáng cho ta cảm phục. (Trích ở tập tài liệu “Sức mạnh dân quân” do nhà xuất bản Quân du kích xuất bản năm 1948.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #33 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2010, 04:11:04 pm » |
|
TRÊN NHỮNG CON ĐƯỜNG VIỆT BẮC Ông ké cầm tay tôi, tần ngần nhìn vào mặt tôi. Lối lịch sự Tây phương ấy không ngờ lại gặp đất ở đây. Vốn dĩ là đồng bào miền ngược rất thích tỏ tinh thần thân ái, lòng lưu luyến bằng cách nắm tay, bá vai một cách nhẹ nhàng, yêu yêu. Đúng như chúng ta xoa đầu vuốt tóc một đứa bé nhỏ, trong khi hỏi chuyện… - Đồng chí đi, ké thương nhớ để đâu cho hết? Những câu nói ấy rất thường ở trên này, nghe ra cũng bóng bảy như thế đấy. Ké còn nói rằng ké tiếc tôi như tiếc một con ba ba rơi xuống bể. Có lẽ ông già miền núi ấy suốt đời chưa trông thấy bể bao giờ. Lời ông thành thật hay khách sáo? Thì cũng có cả hai thứ ở trong. Người trên này cũng chẳng chất phác quá như người ta thường thích tả đâu. Cũng thích mua rẻ bán đắt, cũng thích có thể nào cho được thật nhiều lợi về mình. Cái đấy dẫu có làm cho ta đôi lúc phải bực mình nhưng ta cũng thừa hiểu rằng đó chỉ là thói thường của hầu hết mọi người trong cái xã hội có tục bán và mua. Cũng nhiều khi họ thiển cận hơn nhưng đó là tại trình độ hiểu biết và suy nghĩ kém miền xuôi. Nhưng được cái cũng yêu nước, cũng ghét Tây, cũng thích Cụ Hồ. Rất ghét Tây và rất thích Cụ Hồ. thế là đủ lắm rồi, chúng ta dễ nhiểu nhau, dễ yêu nhau lắm. Vả lại gần gũi đồng bào trên này, tôi thấy rằng họ cũng dễ thân. Chúng tôi đến ở chỗ nào, chỉ vài tháng là đã quen cả bản rồi. Đám ma, đám cưới nào cũng có mặt chúng tôi. Các anh thanh niên đến xem báo, đọc sách nhờ, hoặc nói oang oang ở lán chúng tôi. Các ông già đến uống chè, nói chuyện trầm ngâm. Và các thiếu nữ, các lục sao má đỏ hây hây, thì đến xin ảnh Cụ Hồ hay xin bài hát. Mỗi khi phải rời một chỗ để đi chỗ khác bao giờ cũng có sự dùng dằng, quyến luyến. Ông ké vẫn không chịu buông tay tôi ra, cứ nghẹo đầu ngoẹo cổ dặn mãi: - Đồng chí đi mạnh khỏe chứ! Bao giờ đi công tác qua đồi, nhớ ghé vào chơi với ké nhé! Ba, bốn lần như vậy rồi tôi mới rút tay ra được để đi. Chẳng biết ông già trỏ về có vương vấn gì không, nhưng riêng thôi cũng thấy bùi ngùi. Thì ra những người, vật ở đây với tôi đã như có một chút tình nghĩa gì rồi. Lúc đầu, chúng ta tưởng rằng chúng ta chỉ làm việc dân vận thôi: chúng ta cố gây cảm tình với đồng bào địa phương đối với chúng ta. Dần dần chính chúng ta sinh ra có cảm tình với họ, cái cảm tình ấy nó đến êm thấm quá đến nỗi chính chúng ta không biết nữa. Từ khi xảy ra kháng chiến, có dịp thay đổi chỗ ở rất nhiều, tôi mới tìm ra điều này thật ấm lòng, là ở bất cứ chỗ nào trên đất nước Việt Nam, chúng ta đều có những người thân thuộc của chúng ta, chỉ chỉ tỏ cho họ biết chúng ta là những người thân thuộc họ, lòng yêu nước, lòng quý mến đồng bào, lòng xót xa đến những người cùng mục đích, cùng số phận với mình, hồi này mới được đồng bào ta ở khắp nơi tỏ ra một cách thật rõ rệt. Không đến chỗ nào chúng ta bị cái cảnh quê người đất khách. Trái lại, ở đâu ta cũng có cảm giác là ở một nơi thân thuộc. Hồi tôi mới bước chân lên Việt Bắc, một anh bạn hỏi cảm tưởng đầu tiên của tôi khi tới miền rừng núi. Tôi nghĩ mãi chẳng thấy cảm tưởng gì. Tôi trả lời một câu có vẻ tuyên truyền: - Tây không dời nào dám lên đây. Nó sẽ chết vì vấn đề tiếp tế. Anh bạn không được thỏa. Anh nói rõ ý anh hơn: - Tôi có ý muốn hỏi cảm giác riêng của anh kia. Anh thấy thế nào? Khi qua các núi rừng, có thấy rợn không? A! Rợn thì không rợn tí nào, tôi chỉ thấy thú như một người đi ngắm cảnh. Con đường tôi đi cũng tấp nập in như một con đường ở dưới xuôi. Và khi đi sâu vào những con đường nhỏ, vượt qua núi hoặc xuyên rừng, tôi cũng chỉ coi như qua đồng vắng… chỉ có giống vắt là làm tôi hơi khó chịu. Anh bạn tôi cười khẽ một tiếng rồi lại hỏi: - Trước đây, anh đã lên Việt Bắc lần nào chưa? - Tôi lên lần này là lần thứ nhất. - Thế thì anh không nhận thấy sự thay đổi đấy. Ngày xưa, nghe nói đến mạn ngược là đã thấy một cái gí bí mật, ghê gớm. Thổ, Mán, Mèo là những giống người gì khác hẳn chúng ta khiến chúng ta ghê gớm, sờ sợ. Một phần nữa, các con đường mà anh thấy tấp nập bây giờ, ngày xưa vắng ngắt. Năm chừng mười họa mới có người đi bộ. Thành thử ngày xưa đi qua các con đường mạn ngược, rợn lắm. Đúng như thế thật. Cuộc cách mạng đã đổi hẳn bộ mặt xứ này đi. Đổi cả những con người. Con người mới, tin tưởng ở chính quyền nước mình, tin tưởng ở chính mình và những người sống quanh mình, mất hết cả tính e dè sợ sệt. Anh ta không còn sợ núi rừng. Tỉnh thành đã trà trộn với thôn quê và miền xuôi đã hòa lẫn cùng miền ngược. Vấn đóng khung trong nhưng biên giới cũ, lãnh thổ Việt Nam có vẻ như đã mở rộng. Trước mắt chúng ta cả một vùng rừng núi mênh mông, không còn là chỗ ma thiêng nước độc, bất khả xâm phạm nư xưa, mà là một miền rộng rãi có rất nhiều khả năng khai thác. Những nhà máy sau này sẽ mọc lên rất nhiều ở trên này, bên cạnh những thác nước dùng làm động lực. Những đồn điền chăn nuôi sẽ lớn lập nên cùng với các nông trường. Đèn điện sẽ sáng trưng. Bệnh sốt rét sĩ hết chỗ nương thân. Hà Nội sẽ lên đây nghỉ hè. Những thanh niên nam nữ Thổ, Mán, Mèo về học trường đại học ở thủ đô. Không còn phân biệt miền ngược với miền xuôi, cũng như sẽ hết sự ngăn cách giữa thôn quê và thành thị. Những ngày kiến thiết sau này vui biết mấy… Ra gần đến bờ suối, tôi gặp chị Quyên. Chị đem gạo ra đổ vào cái cối nước về. Hôm qua tôi đã đến chào những “người già” nhà chị, nên vừa trông thấy to, chị hỏi ngay bằng tiếng Kinh rất sõi: - Anh Tâm về xuôi hả? - Vâng, chào chị nhé! - Chào anh Tâm. Anh Tâm đi mạnh khỏe nớ. Anh Tâm về xuôi có nhớ chị Tình không? Chị cười tít mắt. Hai má bầu và trắng hồn của chị lúm xuống hai lỗ đồng tiền nhỏ tí. Tôi cười, trả lời lại bằng tiếng Thổ: - Xuống chứ lai! Xuống chứ nhình Quyên lai (Thương nhớ lắm. Thương nhớ chị Quyên lắm). Má chị đỏ thêm. Đôi mắt long lanh chị nhình tôi: - Không nhớ tôi tôi đâu! Thương nhớ vợ anh Tâm ấy. Chị lại cười đột ngột: - Thôi anh Tâm đi nớ, mạnh khỏe nớ! Chúc công tác thắng lợi nớ! Chị lướt qua tôi và soàn soạt vạt áo chàm, thoăn thắt đi về bản. Hồn nhiên như vậy đấy. Các cô nói chuyện tình tứ rất tự nhiên. Nói một cách vui vẻ thắng thắn thế đấy. Có vẻ chỉ nửa giờ sau là chị Quyên đã quên rồi. Cũng chẳng làm sao cả. Nhưng tôi cúi đầu vơ vẩn một mình, thích nghĩ rằng đi khỏi mấy bước rồi chị còn ngoảnh mặt lại nhìn tôi. Để cho đời đẹp thêm một chút. Cũng chẳng làm sao cả!...
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #34 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2010, 04:11:50 pm » |
|
* * * Qua một cái dốc đi một mạch hết vừa đúng ba giờ, trong lúc đó mỗi bước nặng của ta cứ như ghì ta xuống. Tôi đến một làng mán bám cheo leo vao lưng chừng một quả núi cao. Cả làng vẻn vẹn có ba nhà, xếp bậc lên nhau. Nhà rất sơ sài, từ vách đến mái, toàn tre nứa. Cột kèo ở trong là những cây gỗ để nguyên cả vỏ. Không có một cái lỗ đục, một con xỏ vì dụng cụ độc nhất của người Mán là con dao rừng mà đi đâu anh ta cũng đeo lủng lẳng ở sau lưng. Tre gỗ buộc vào với nhau bàng những sợ dây leo. Cái lò bếp nấu “ruốc mu” (thức ăn của lợn) với cái chảo to tướng ở trên lù lù ngay ở giữa nhà. Ở đây người và vật sống gần gũi và bình đẳng lắm. Nhưng hôm nay, người vật đi làm cả. Nhà cửa vắng teo. Người Mán ở tân đậy, đúng như một cái tổ chim giữa rừng sâu trên gần đỉnh núi cao, vẫn còn thấy chỗ của mình trống trải và vẫn còn thấy cần phải làm vườn không nhà trống, đem hết trâu, bò, gà, lợn, ngô, thóc, gạo, muối và người già con trẻ vào cơ quan bí mật ở một chỗ mà trừ họ ra khó có ai biết và tới được. Có khi rồi họ bỏ hẳn chỗ nhà cũ, chẳng cần nữa. Ở rừng, tre gỗ sẵn. Làm nhà mới lúc nào cũng được và chẳng tốn kém gì. Vì thế người Mán rời chỗ ở, rời một chỗ đất hết màu hay một chỗ mà họ cho là chẳng dược lành hoặc có nhiều ngươi qua lại quá, dễ dàng như một người đi đường rời quán trọ. Phong tục du mục vẫn còn vương lại đôi chút trong tâm tính họ. Tôi đứng lại trước cái làng bé con kia, thở những hơi dài cho đỡ mệt. Vi cố gắng đi một mạch, mắt tôi hơi hoa lên một chút. Áo đẫm mồ hôi. Cổ thì khô cháy. Không thể vào nhà xin nước uống, tôi nhặt những quả trám trắng rụng nhan nhản ở dưới chân ăn. Trám trắng chan chát, lờ lợ, chẳng lấy gì làm ngon lắm, nhưng nuốt xong, còn chút gì ngọt lững lờ trong cổ. Cũng làm một cách cho đỡ khát. Anh em Mán thường bảo tôi rằng: chỗ nào có nhiều quả trám thì gấu thường hay đến. Tôi đứng đấy có một mình. Tôi nhớ đến một anh Mán bị gấu vồ nát cả mặt và cổ vai ra. Nhưng ở rừng đã nhiều, chính mắt tôi chưa trông thấy gấu bao giờ. Người bị gấu vồ, tôi cũng mới chỉ trông thấy có một anh Mán ấy thôi. Vì thế, tôi vẫn cho rằng việc bị thú dữ vồ ở rừng chẳng qua cũng chỉ như một việc bị ô tô đè ở những thành phố náo nhiệt như Hà Nội, Sài Gòn. Tất nhiên là cũng có thể xảy ra luôn. Nhưng không phải vì thế mà động ra đường là người ta nơm nớp. Cảnh hoang vắng lúc này không gợi cho tôi một tí thấp thỏm nào. Bên dưới tôi một suối nước chảy xiết đổ ào ào. Cái thứ tiếng dông bão ấy dâng lên tận chỗ tôi và tỏa rộng ra làm một cái nền hơi sẫm tôi cho những tiếng chim lảnh lảnh, vui và sáng. Trước mắt tôi là những ngọn núi trọc hoặc um tùm, ấy là trăm ngọn núi khác, lớp lớp, nhấp nhô, hòa hợp với trời xanh như những đợt sóng xanh lơ vô cùng tận. Đó đây một vài điểm mây trắng lởn vởn, là bọt sóng. Không khí trong nhưng dịu. Nắng rất êm. Một ngày xuân đẹp như hôm nay kể cũng là một sự hiếm có ở miền rừng, nơi mà mùa xuân chỉ là một chuỗi dài những ngày mưa xám xịt và bẩn thỉu. Xuân ở đây là mùa của vắt. Rừng mênh mông. Rừng hỗn độn. Rừng lại rừng, tiếp giáp nhau, trà trộn lên nhau, chồng chất lên nhau. Núi trùng trùng điệp điệp, hết núi này sang núi khác, vô cùng tận. Rừng núi không có đường đi, nhưng lại có hàng vạn lối đi. Thằng Tây liều mạng nhảy dù xuống mấy điểm chính ở Việt Bắc, tưởng làm bế tắc được chúng ta. Nhưng chúng ta vẫn đi lại, chuyên chở được như tường. Sự chật vật, khó khăn đối với chúng ta chẳng nghĩa lí gì. Một dòng máu lạnh có những cách lưu thông rất lạ lùng, lưu thông mà bất cần đến những mạch máu thường ngày, mặc kệ những bế tắc ở đoạn này hay đoạn khác, nó khơi ra hàng trăm đường máu khác. Thử để ý mà xem! Có phải từ ngày chúng ta bắt đầu phá đường thì những con đường của ta mới bắt đầu thật là tấp nập không? Nghĩ một tí thì thú vị lạ lùng! Trước đây, đường nhựa, đường đá thênh thang, xe lửa, ô tô sẵn, những phương tiện xê dịch có thiếu gì đâu, mà cuộc đời của chúng ta ngừng trệ biết bao! Kiếp sống tu hãm thật là thảm hại. từ ngày phá đường, hết tàu xe đến nay thì cả một dân tộc lên đường. Cuộc sống lưu thông. Toi không ghét gì bằng thi vị hóa cuộc đời. Nhưng thật tình từ hồi kháng chiến, mặc dầu những tàn phá, chết chóc chia lìa cưc kì đau đớn, bộ mặt nước mình vẫn có vẻ tươi trẻ, vui mạnh hơn lên. Chỉ cần bước ra đường là đủ biết. Đường phá, đường tắc nghẽn, nhưng dòng người thì vẫn chảy như thường, chảy lưu loát, mạnh mẽ, chưa bao giờ mạnh mẽ và lưu loát thế. Thì ra máu chúng ta ngừng trệ ngày xưa, không phải vì mạch máu, mà chỉ vì những kí sinh trùng. Mạch máu nước ta, những con đường thời kháng chiến này bị cào cắt đứt lung tung, nhưng máu lành mạnh vẫn chảy như thường, huyết mạch vẫn lưu thông. Chỉ phiền cho những kí sinh trùng, những sinh vật phá hoại chở bệnh tật bằng xe tăng. Chúng nó bị những mạch máu kháng chiến của ta đọng lại.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #35 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2010, 04:12:15 pm » |
|
Rồi đây rút lui khỏi Việt Bắc, có nơi chúng phải đốt hàng chục xe hơi, chôn hàng tấn đạn dược và đồ hộp, vì không có đường về. Chúng nó chỉ ỷ vào sức mạnh của máy móc tối tân. Nhưng khi ta đã làm cho máy móc tối tân của chúng nó hết là sức mạnh thì chúng nó còn gì? Một lũ người buồn nản, sợ sệt, cáu kỉnh, mất tinh thần, lúc nào cũng kêu ca càng ngày càng sốt ruột. Người mình thì kiên nhẫn. Cái nghị lực của dân tộc ta là một thứ nghị lực bình tĩnh, lặng lẽ, tiềm tàng. Nó không nổ tung ra một cách ầm ĩ như trái phá, cốt mình. Nó không chuyển đất rung trời như núi lửa. Nó là dòng sông cần cù, đêm ngày mài giũa đôi bờ để tạo cho mình một con đường rộng mãi ra, đêm ngày bồi đắp những cành bãi phì nhiêu và ngày càng bát ngát. Nó biểu lộ ra ngoài một cách giản dị thản nhiên, gần như không tự biết. Ai đi lại nhiều trên những con đường Việt Bắc những con đường vượt núi, xuyên rừng, luồn khe, lội suối, lên xuống hàng trăm cái dốc, mũi chạm đất và chân cứ sắp khô thì lại được đầm xuống nước - ai đã từng đi lại nhiều như vậy, đều phải ngạc nhiên về cái tài chịu đựng của dân mình và sự cố gắng của dân mình để vượt những khó đối vói chúng ta. Cái gì cần làm, cái gì muốn làm, chúng ta đều cho là làm được, và cố gắng làm cho bằng được. Tây vừa nhảy dù hôm trước thì hôm sau, những xưởng máy hàng ba bốn trăm người làm đã biến dần dần từng bộ phận của nó, bắt đầu là những bộ phận quan trọng nhất. Anh em công nhân xuất lực gấp bốn ngày ngày thường để tháo, chuyển và chôn giấu. Họ quần quật suốt ngày đêm, ăn vội vàng, ngủ qua loa, bỏ cả đánh răng rửa mặt. Chỉ mấy hôm sau là ngay đến cái xác nhà cũng không còn. Các nhà máy đã ra đi, không để lại một vết tích gi đặc biệt. Cả một cái nhà máy lên đường. Nó tự phân nó ra thành từng phần nhỏ, vượt hàng trăm cây số núi rừng để đi nơi khác. Việc chuyển đi thật là nặng nhọc, công phu. Gang sắt thì khiêng ngay trên một con đường rộng rãi, bằng phẳng cũng đủ nhức vai, sụn xương sống lưng rồi. Đắng này không có đường đi. Toàn là những lối nhỏ, lầy lội và lắm vắt, những dốc gần dựng đứng, những khe suối lởm chởm đá tai mèo, hết lên thì lại xuống, hết trèo thì lại lội. Có những cái dốc khổ sở, chỉ một người với một cái ba lô cũng đã phải đu vào từng cái cây để kéo người lên. Làm thế nào mà khiêng được ở những chỗ như thế này? Đứng vào đâu mà khiêng, nếu mà tuột chân hay tuột tay một cái thì tránh sao khỏi bị gang sắt đè giập xương hay gãy cẳng? Người ta phải dịch đi từng bước một, vưa dịch vừa chèn, vừa dùng xẻng cuốc đào bực để dịch thêm bước nữa. Phải đến bốn năm người phục dịch cho một bộ máy chỉ nặng chừng nửa tạ. Nếu nặng hơn thì lại càng nhiều sự vất vả. Ấy thế mà người ta cứ nhất định tha đi cho bằng được, tha đến hết. Đúng là một đàn kiến tha mồi, đánh vật với mồi. Hàng mấy chuc tấn sát đã qua đoạn đường này và đã vượt hàng trăm cây số. Và chỉ chừng một tháng sau, cái nhà máy của chúng ta đã tái sinh ở một chỗ khác chắc chắn hơn, ung dung sản xuất những thức cần thiết cho kháng chiến. Như vậy đấy, thằng Tây đấm chúng mình cứ như đấm bị, đau tay mà chẳng được tích sự gì. Đấm vào chỗ này thì sức mạnh của chúng ta lại bật ra chỗ kia. Chẳng có cái gì gãy nát, chỉ tay chúng sứt thêm một chút, hay là thêm rất nhiều. Tôi nghĩ đến những đô thị mới của chúng ta. Những đô thị nhỏ tí nhưng cũng khá sầm uất tươi vui. Chúng nó mọc lên một cách rất tự nhiên. Mới đầu là một vài hàng cơm, để tiện cho khác qua đường. Rồi thì hàng cà phê, hàng tạp hóa ũng đến bâu vào. Hiện nay, hiệu giày cũng hiện ra. Các căn nhà lá cứ làm thêm, nói vứ dài thêm. Thấy đồn chỗ ấy vui, những người tản cư kéo đến,góp thêm vào chỗ ngồi hàng và những khách qua đường cố thu xếp độ đường, để có thể ngừng một đêm ở đây, hướng cái thú đông người một tí. Đôi lúc cũng phải như vậy chứ! Cân não người ta cứ căng thẳng mãi thì chịu làm sao được? Một cốc cà phê, một điều thuốc lá, một căn phòng sáng sủa và tấp nập, cô bán hàng vui vẻ và mau mồm miệng, những cái ấy kể thì chẳng có cũng chẳng chết ai, nhưng lâu lắm được sống trong cái không khí ấy một vài giờ cũng làm cho đời thêm vị lên nhiều lắm. Kháng chiến thì kháng chiến. Người ta vẫn phải giải trí, vui vẻ. Có điều cũng đừng vô ý thức. Có những thức quyến rũ nó giống như thuốc phiện, làm sức người ta phải hao mòn. Bởi vậy, thà nhạt miệng một tí còn hơn là nhấp những chất độc nồng thơm, nhưng giết chết người. Rượu của Tây, thuốc lá của Tây, xa xỉ phẩm ủa Tây chúng ta thèm chết thì thôi nhất định không để những thức ấy giết chúng ta. Một cố cà phê đường hoa mai, một điếu thuốc lá sứng bò cũng khả dĩ làm cho ta vui chốc lát. Lúc này đừng khó tính. Có những cái ấy nếu người ta cắt ngọn nó đi, nó sẽ mọc lên rất nhiều cành. Nếu người ta cắt một cái cành của nó đi, nó sẽ mọc mười cái cành khác. Sức sống mạnh mẽ, cần có để vọt ra. Một đô thị cũ của chúng ta bị phá hủy hay bị thối, hàng chục mầm đô thị khác mọc ra. Sức sống quá dồi dào, không bao giờ chịu để vùi giập cả. Tôi có thể đoán trước một số những mầm độ thị mới mọc hiện nay sẽ thành những đô thị lớn ngày mai. Ngay trong cảnh tàn phá chiến tranh, ngay trong cơn rung chuyển bão táp những mầm non đã nhú, bộ mặt của Việt Nam tương lai đã lờ mờ hiện. 1948
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #36 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2010, 09:17:32 am » |
|
TỪ NGƯỢC VỀ XUÔI Việt Bắc nhiều rừng núi. Núi rừng Việt Bắc kín đáo và hiểm trở. Tôi đã sống ở đây hơn một năm, chắc chắn và yên ổn quá. Tôi rời rừng cây Việt Bắc để trở về rừng người ở miền xuôi. Rừng người ấm áp biết bao! Người miền xuôi mở to đội mắt ngạc nhiên và cảm phục khi nghe tôi nói chuyện về cuộc đời Việt Bắc của tôi. Người miền xuôi rất sợ cái bí mật của của rừng sâu. Sợ từ con chim lợn trở đi. Tôi đã ở toàn rừng. Chúng tôi chỉ còn biết có rừng. Những cánh đồng phẳng, những bãi dâu xanh, những con đường có xe chạy là những kỉ niệm kiếp trước, còn sót lại trong tiềm thức. Đồng bào Mán thích ở cao. Cón lần tôi ở một chỗ cao hơn họ. Một cái lều không cửa, chơ vơ trên đỉnh núi. Nhưng ngọn núi tôi ở còn phải tựa vào một quả núi khác, cao hơn. Và ở cao hơn chúng tôi, là một anh chàng gấu. Ban đêm, khi anh Thọ họa sĩ và tôi vào màn nằm hút một thứ thuốc lá Mán tẩm mật ông rất đậm vị, nhìn đống lửa to bằng nửa cái nhà tí hon của chúng tôi, thì chú gấu len lén đi ở bên ngoài vào, xuống rẫy để ăn trộm bắp. Gấu chưa vồ chúng tôi lần nào cả. Người Mán đã bẫy được gấu một lần, người Mán cho chúng tôi ăn thịt gấu. Chúng tôi không sợ gấu. Một hôm, tôi rất ham đọc những truyện đường rừng của Lan Khai. Bây giờ tôi tôi thấy rừng Lan Khai mới chỉ đứng ở ven rừng để nhìn vào. Nhà văn đoán ra dủ điều rùng rợn ở bên trong. Nhưng nhà văn lại đoán nhầm. Người đã sống ở giữa rừng - giữa rừng đại ngàn của những đội giải phóng quân đã đánh các đồn Phay Khắt, Nà Ngần… - người ấy chỉ thấy rừng rất bình thường. Cũng chẳng có gì ghê gớm. Khi chưa biết được rừng, tôi cũng tưởng rằng rừng ghê gớm lắm. Tôi từ biệt vợ con ra đi, như làm một việc hi sinh. Bạn bè tôi ái ngại nhìn tôi. Họ cười buồn, bảo tôi rằng: “Anh sẽ không phải sốt đến hai cơn”. Tôi đã sốt đúng hai cơn. Nhẹ nhàng tôi. Trước sau, vừa đúng một năm hai tháng mười một ngày, mới phải tiêm có hai ống kí ninh. Các bạn cũ của tôi lạ lắm. Vợ con tôi đã khóc nức nở khi đột nhiên thấy tôi về. Người đàn bà ấy mới khóc có một lần, vào độ chết một đứa con. Tôi mỉm cười, nhìn tất cả những cái ngây thơ của người miền xuôi, nghĩ đến núi rừng. Người miền xuôi vẫn không dám tin tôi. Nhưng sự thực trờ trờ là tôi vẫn sống mà về được đến đây. Có đen đi, có già đi, nhưng lại rắn rỏi hơn. Giao nước cũng chẳng sốt siếc gì.Cái thân thể cò hương, cái tâm hồn chỉ có một chiều u ám cũng đủ làm rủ hết, không ngờ lại có sức chống chọi ngang bướng ấy. Họ cho là ngang bướng lắm. Riêng tôi, về giữa họ, tôi thấy tôi là một thằng nhút nhát. Và lạc hậu. Đồng bào miền xuôi đã đi sâu vào kháng chiến. Tàu bay, tiếng súng, giặc cướp làng, ở một vài vùng đã thành chuyện hằng ngày. Họ đã quen. Cũng như ở miền rừng núi, người ta đã quen với ve, với vắt. Tôi đã cười rất nhiều một anh bạn mới ở xuôi lên. Lúc nào làm gì, đi đâu cũng sợ hổ vồ. Ban đêm, người anh vẫn giật mình mỗi khi nghe tiếng sột soạt ở những bụi cây quanh nhà. Dường như anh cứ đinh ninh rằng: nếu hổ nó bỗng thấy hứng muốn chộp một người để điểm tâm, thì nhất định nó phải soi đèn tìm đến xác anh để mà vồ, chứ không chịu vồ người khác! Tôi đã bị anh em cười lại còn dữ hơn tôi đã cười anh bạn. Mới về đến Sơn, tôi đã hỏi người ta đủ thứ: Đêm ngủ ở đây có được không? Chúng nó tiến thế nào? Nếu gặp chúng nó thì nên hạy như thế nào? Nên đi bộ hay đi đò? Đi đêm hay đi ngày?... Ngờ nghệch! Muốn yên lòng, tôi chỉ việc nhìn ra chung quanh một tí. Cánh đồng rất thái bình. Lúa xanh rờn, lúa có đòng đòng xen lẫn với những mảng lúa đã hoe vàng hay đã chín hẳn, bông nặng trĩu. Đã lác đác có người đi gặt. Họ nói rằng: đáng lẽ lúa năm nay tốt lắm; mấy cơn bão có hại ít nhiều; nhưng tình hình thóc gạo không có gì đáng lo ngại. Người đi buôn ồn ào trong các chợ, tấp nập trên các con đường, tươi cười trong quán nước, hàng cơm. Phần nhiều là những người đầu đội vai mang, đổ hàng suối mồ hôi để cho hàng hóa đất nước được lưu thông. Có những người chỉ khoác một cái bị con con hay xách một cái túi nhỏ xinh xinh. Đó chính là hạng buôn to. Họ cũng mặc quần áo vải nâu hoặc đen, nhưng lối may đỏm dáng hoặc “du”. Nói năng thì thầm, dùng nhiều tiếng lóng, mà mặt múi thì láu lỉnh. Tiêu xài lớn. Nhưng thời kiếm mỗi chuyến hàng vạn bạc đã qua rồi. Họ ghét công an lắm. Các bố ấy bây giờ hắc tợn! Nhiều tay chợ đen lão luyện đã nghĩ đến sự bỏ cái nghề hại nước hại dân ấy, để tìm nghề khác. Tàu bay sục suốt ngày. Chúng nó bắn gì mà bắn luôn luôn, có lúc, trút luôn hàng chục quả bom. Một lúc, một chiếc lượn vèo vèo ở chỗ tôi. Tôi tưởng nó bắn ngay trên nóc nhà tôi trọ. Môt lát sau, hỏi ra mới biết là nó bắn sông. Có gì đâu? Một chiếc thuyền nhỏ chở chuối qua sông trên chỉ có hai người. Hai người nhảy cả xuống sông. Một người bám lấy một sợi dây buộc vào thuyền, cứ chạy quanh cái thuyền để tránh làn đạn của máy bay. Nước bắn tóe lên ở chung quanh. Nhưng họ không chết. Thuyền cũng không trúng đạn. Trong khi ấy, ở cánh đồng vẫn gặt. Người đi đường vẫn cứ đi. Ông giáo ở trường bên đọc chính tả vẫn choang choang. Thằng bé ẵm em ngồi ở võng bảo tôi: - Pi-phia, anh ạ! Lúc sáng ngày nó bảo: - Bố già! Nó phân biệt tiếng động cơ máy bay giỏi thật!
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #37 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2010, 09:18:38 am » |
|
Ngay sau đấy, một anh tuyên truyền xã vác loa mời mọi người đi đự một cuộc mít tinh tuyên bố kết quả ba tháng thi đua. Tối nay, có diễn kịch ở thôn trên. Tiêng trống ếch và tiếng hát của đoàn thiếu nhi thúc giục mọi người. Đàn ông, đàn bà, phụ lão, thanh niên ơi ới gọi nhau, kéo nhau đi. Ông cụ chủ nhà mải đập lúa không đi được, luôn miệng xin lỗi các cụ đi qua ngõ:
- Đón các cụ đi thôi. Nhà cháu dở nắm lúa, làm cho xong phơi phóng, còn cất giấu đi. Ta cái gì cũng cận thẩn là hơn. Đề phòng nó tấn công. Nhà cháu xin khất các cụ để lần sau…
Bà cụ đứng vò lúa ở gốc cau, cũng phàn nàn:
- Trông thấy cảnh các cụ, lại nghĩ đến cảnh nhà cháu mà buồn!
Bà cụ buồn chi! Hình như đôi vợ chồng giá ấy cho cái sự mình bận việc nhà bỏ việc công là đáng lấy làm xấu hổ. Họ phân trần mãi với tôi. Họ bảo nhau: “Tăng gia sản xuất cũng là giúp nước”.
Tối hôm sau, chúng tôi vào nhà ngủ nhờ một làng đã bị địch cướp phá nhiều lần. Mấy hôm nay báo động luôn. Tôi vẫn tưởng người ta sống ở đây lặng tiếng im hơi như ở các làng gần vị trí địch, khi địch mới tràn ra. Nhưng người ta chỉ xem những mảnh lúa nào gặt được thì gặt gấp thôi. Vào một nhà, thấy thóc lúa đầy sân. Người đập lúa, giũ lúa, tới tấp dưới trăng. Con gái, con trai. Những bó lúa quật xuống cối đá thình thịch. Lúa băn tóe, rào rào. Tiếng cười ròn. Chỉ nghe tiếng cười cũng đoán ra được những cặp má đầy căng lúm đồng tiền và những con mắt long lanh. Bỗng nhiên, chó sủa ran. Những tiếng gắt gỏng gọi nhau. Một anh con trai quăng cái néo xuống sân, lững thững vào nhà. Anh hút một điếu thuốc lào, hỏi chuyện tôi một vài câu có tính cách xã giao. Rồi anh lùi lại gian bên, trật khăn vải bịt đầu, giũ sạch những hạt thóc ở đó đi, dùng nó phủi quần, phủi áo. Du kích đang gọi nhau đi họp. Anh đi họp.
Cuộc đời bình thưởng. Ở những vùng như vùng này, súng nổ là chuyện bình thường. Súng không nổ, đó mới là bất thường. Những hôm ấy, ngươi ta bảo: “Hôm nay, chưa thấy súng”. Nhưng đừng tưởng sống như vậy, người ta chỉ còn nhgĩ đến một việc là đối phó với tiếng súng thôi đâu! Ông cụ chủ nhà vừa cưới vợ cho thằng con trai thứ hai, tốn hơn một vạn đồng. Tôi rất gạc nhiên. Tiêu hơn một vạn đồng vào việc cưới lúc này? Một đám cưới nhà quê?...
- Thưa ông, ăn uống đã tinh giảm đi nhiêu rồi đấy ạ! Nhà cháu có dám bày vẽ gì đâu. Nhưng chết cái may mặc bây giờ đắt quá.
Ông phân trần như vậy. Ngoài đường bây giờ hiếm họa lắm mới gặp một cái áo dai. Nhưng vẫn còn có những cô dâu, lức sắp về nhà chồng, đòi cho được có đủ áo đơn, áo kép, khuyên vàng, xà tích.
Tảng sáng hôm qua, chúng tôi ra đi được mấy bước thì có tiếng súng máy nổ ran. Giặc đánh vào cá làng lúc tang tảng sáng. Cũng chẳng sao. Một người đàn bà gánh nặng, từ một cái ngõ tối ra, đặt gánh nhìn ra phía sau lưng một chút rồi lại đi, cái đòn gánh kĩu kịt trên vai. Chúng tôi đi theo chị. Thanh niên một làng đang tập thể thao. Họ chỉ mặc mỗi người một cái quần đùi. Võ khí đặt sẵn trên bờ ruộng.
Súng nổ mỗi lúc một xô xát thêm. Tôi có cảm giác như không phải vì nó gần thêm, nhưng trời càng sáng thêm làm ngươi ta nghe càng rõ. Là vì đường càng sáng thì lại càng đông người qua lại. Người đàn bà chúng tôi theo đã nhập vào một chuỗi đàn bà, con gái gồng gánh khác. Họ chuyện giòn, cười cũng rất giòn. Chuyện chạy Tây, vừa kể vừa cười. Ngày xưa họ kể chuyện nhà cửa, chuyện chồng đánh bạc, chuyện nàng dâu, chuyện mẹ chồng. Bây giờ họ nói chuyện đánh giặc và đi học.
Mặt trời đã nhô lên, nắng buổi sáng xiên chênh chếch. Súng càng dữ dội. giặc đuổi thế hay sao mà chúng nó bắn rất nhiều súng lớn. Mỗi tiếng súng, người ta kêu; “Đấy đấy!”. Nhưng người ta vẫn bước đến. Người ta mải chuyện vẫn chuyện đều. Những cái gánh vẫn nhấp nhô nhấp nhỉnh theo nhịp bước chân thoăn thoắt.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #38 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2010, 09:19:33 am » |
|
Chúng tôi ngừng lại ở một cái chợ nhỏ họp ngay trên đường để ăn cơm.tôi hỏi bà hàng: - Cụ có biết tiếng súng ở đâu không? - ở T. - T. ở mạn nào, chụ nhỉ? - Ở ngay trước mặt này. Cứ đi thẳng con đường này, sáu cây số. Tôi sửng sốt: - Cách có sáu cây số thôi à? Ta có đánh chặn không? - Nếu ta không đánh, nó đến đây từ bao giờ rồi. - Thế cụ không chạy à? - Nó đã đến được đâu mà chạy? Nhiều khi chúng nó đến tận nơi chúng tôi mới chạy. - Chạy lối nào? - Tùy đấy. Nó ở đầu kia lại thì chạy đầu này. Nó ở đầu này lại thì chạy đầu kia. Nó ở hai đầu lại thì chạy vào mạn núi. Có khi nó ở cả trong con đường ven núi, vây ba mặt, chúng tôi ở giữa. - Thế mà không sợ nhỉ? - Nhiều khi cũng sợ. Thật ra không ai sợ. Người ta ăn cơm vẫn ăn cơm. Người ta hút thuốc lào vẫn phồng má thổi cái mồi rơm. Một thiếu phụ bế nách một thằng bé con đang phụng phịu, đang mặc cả mua cho nó mấy quả hồng. Bà hàng phở ở trước cửa, ý chừng vào hạng tản cư, nhéo nhéo mời khách qua đường: - Mời các ông nghỉ chân, vào xơi cơm, xơi phở. Miền xuôi quả có khinh địch thật. Tôi cứ tưởng sau vụ Vân Đình, những đất chợ có tiếng của miền xuôi tản cư hết cả rồi. Nhưng mấy cái chợ ấy vẫn còn chật nứt người. Đông, nhộn, không khác gì Hà Nội trước. Hàng tạp hóa, hàng thuốc, hàng vải, hàng cơm, tiệm cà phê, có phòng ngủ và buồng tắm. Có cả những tiệm ăn rất sang, đủ các món ăn Tây. Cũng may mà cạnh những phố xa xỉ ấy, những phố kĩ nghệ đang cựa quậy để thành hình. Người ta đang làm khá nhiều máy cán bông, máy kéo sợi, máy dệt, máy in. Thuyền san sát ở bến sông. Vẫn vui vẻ, sâm uất lắm. Miền xuôi đã đi sâu vào chiến tranh, song những vùng tự do miền xuôi - nghĩa là chín phần mười đất miền xuôi - là có vẻ thái bình. Một vài quãng sông, vẫn còn ca nô chở khách. Nhiều con đường có xe tay. Rất nhiều vùng địch chưa chạm đến bao giờ, người dân vẫn sống rất yên ổn ở nhà mình, chưa phải xê xích một bước. Những vùng khác phần nhiều mới bị địch lướt qua vài ba trận. người giạt đi trong chốc lát rồi lại kéo nhau về. Họ lại sửa sang lại nhà cửa, lại làm ăn. Lúa lại xanh. Chợ lại đông. Trẻ con lại ríu rít đến trường. Chúng đến trường đông hơn ngày trước bội phần. Dân quân, du kích, không có Tây để đánh, thay phiên nhau đem tiền lưng gạo bị, mỗi tháng mười ngày ra các mặt trận dự chiến cho quen tiếng súng. Tập trận giả mãi cũng nhạt trò. Họ muốn chơi trận thật. Nhiều nơi như vậy. Chiến tranh mới chỉ lướt qua một đô lần như những con bão ngắn. Và cả những cơn bão nữa. Năm nay bão hai lần. có vùng thiệt hại ít nhiếu. Nhưng cũng có những vùng không thiệt, còn lợi thêm ra nữa. Người ta bảo: - Đáng lẽ thì lúa sấu, vì lúa đã có sâu. Bão không làm đổ lúa nhưng lại giũ sạch sâu. Thành ra được màu. Nếu gặt hái trót lọt, nhất định không sợ đói. Sự thật, dân mình no hơn trước. Gà lợn nuôi nhiều. số thịt bán ở các chợ tăng lên. Bông vải cũng đã tăng chút ít. Hạng người vay nợ hầu như không còn nữa. Quỹ nghĩa sương lập ở hầu khắp các làng. Nhưng ở hầu khắp các lang, hiện nay quỹ nghĩa sương không thể sinh sôi nảy nở. Không có người vay thóc. Tình cảnh đồng bào ở các thành phố tản cư, bối rối hồi đầu, cũng ổn lại dần dần. Mỗi người cố kiếm ra nghề nghiệp để làm. Cố nhiên là cuộc đời chật vật hơn xưa. Đôi khi, có thể nói: thảm thê. Nhưng nói chung, vẫn sống. Có người lại sống đàng hoàng hơn trước nữa. Một người quen bảo tôi: - Anh cứ mở một lớp dạy tư. Tôi cam đoan rằng anh có thể kiếm thiền mỗi tháng từ năm trăm đến một nghìn. Bây giờ người ta ham học lắm. Người ta ham học thật. Các trường học, mặc dầu mở thêm khá nhiều, vẫn không đủ nhận hết học trò. Người lớn đã hai, ba con cũng cố xin vào học cùng một lớp với trẻ con. Ở một trường tiểu học kia, có cả một nhà sư trong số các học sinh. Những lớp dạy tư mở nhan nhản ở các làng. Nhiều ông chủ tịch xã, buổi sáng ra trụ sở, buổi chiều đi học trường trung học. Đến đâu cũng thấy kêu thiếu sách. Tôi đem theo mấy quyển sách cũ để xem, bị anh em cướp hết. Nhất định không trả lại. Muốn lấy bao nhiêu thì lấy! Trong cuộc thi đua ái quốc vừa mới nhóm, việc thi đua học tập sôi nổi và có kết quả nhiều hơn hết. Tháng mười 1948
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Trung tá

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #39 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2010, 09:22:01 am » |
|
BỐN CÂY SỐ CÁCH MỘT CĂN CỨ ĐỊCH Những người ở vùng chung quành cho biết rằng thường thường cứ độ bốn giờ chiều hay quá bốn giờ một tí là những toán quân Pháp đi ăn cướp đã trở về căn cứ hết. Mặc dầu vậy tôi đợi tận tối mịt mới sang đò. Sang ở một bên cách làng tới hai làng. Tôi có cảm tưởng như đã đêm khuya lắm. Làng xóm im lìm. Không một tiếng chó cắn. Không một ánh lửa. Không một tiếng người ho. Người canh gác cũng không. Tản cư hết rồi sao. Tôi không khỏi hơi thấp thỏm và gần như không nghĩ đến, tôi tự nhiên đi chậm lại và cố bước cho thật nhẹ. Mắt tôi chăm chú nhìn vào trước mặt. Nghi ngờ từng bụi cây lù lù ở bên đường, tai nghe ngóng. Chẳng có gì. Tôi chỉ nghe thấy tim tôi đập. Đường vắng quá. Tôi chợt thấy hơi ngần ngại. biết đâu giặc đã chẳng xích vị trí đến gần hơn? Tôi đứng lại một chút nhưng rồi lại bước. Bỗng có tiếng hô: “Ai? Đứng lại!”. tôi có cảm giác như không phải tôi gật mình mà chính cái cảnh vắng lặng giật mình. Tôi đứng lại nhìn quanh không đoán được tiếng hỏi từ chỗ nảo ra. Hai bên đường là giậu che kín mít. Chừng nửa phút sau mới có hai bóng người tiến lại trước mặt tôi: - Ai đi đâu đấy? - Tôi về Đại. - Ông ở đâu đến? Tôi đưa giấy. một người tự vệ biến đi một lúc để xem rồi trở lại. - Mời ông đi. - Ông cho tôi hỏi thăm một chút. Từ đây đến đại có Tây không? - Không có đâu. Nó cách Đại một làng, ở làng Bái Thượng. Tôi vững dạ hơn một chút. Rõ thật là anh chàng nhát gan vừa ở chỗ an toàn đến! Tôi tự cười tôi như vậy. Trời lành lạnh. Đến tận bây gời tôi mới biết là trời lành lạnh. Tôi bỗng ngừng phắt lại. Có người. Tôi vội né ra vệ đường, nép người vào một bụi tre để họ không nhìn thấy. Họ lại gần. Mấy người vừa đàn ông vừa đà, đội gánh đi lặng lẽ, mải miết. - Các ông các bà đi đâu thế này? - Chúng tôi đi tản cư đây. - Các ông các bà ở tận đâu? - Chúng tôi ở Bái. - Ở Bái sao người ta nói có Tây ở đấy? - Có Tây, nhưng chúng tôi vẫn lẻn về luôn luôn. Lẻn về lấy lương thực hàng hóa đi. Tôi lại càng thấy tôi là hèn. Tôi không sợ nữa. Nhưng đã đến địa phận làng tôi được một lúc rồi. Chỉ còn một quãng nữa là đến nhà tôi. Vẫn hoang vắng, im lìm. Vẫn tối tăm. Vẫn cái nhà lặng lẽ không lửa không người. Ôi chào! Đâu là cảnh tấp nập những buổi tối trước đây: những thanh niên tập gậy chan chát ở đường, nhi đồng hát, những ông già ngồi nói chuyện, hút thuốc lào trong quán nước, lớp bình dân học vụ mới bắt đầu, tiếng giáo viên choang choang và tiếng học trò râm ran… Gia đình tôi chạy đâu rồi? Xóm tôi có còn ai ở nhà nữa không? Sau nửa năm giời xa vắng chính làng tôi, tôi lại không thể nắm một đêm ấm cúng bên vợ con, ở trong cái nhà gỗ xinh xắn mà tôi đã phải chật vật mãi mới làm nên được? Nhà tôi bây giờ chắc đã có cái mùi ẩm mốc và lạnh lẽo của những nhà không người ở. Liệu có còn một chiếc chiếu nào ở nhà không? Tôi thấy trước rằng đêm nay nằm co quắp ở đây, tôi sẽ thao thức suốt đêm, lòng tê tái chết lịm đi trong cảnh cô quạnh, mênh mông của căn nhà rộng quá. Không có cái đèn ấm áp hắt lên tưởng; không có cái nói cười ríu rít của thằng Thiên, con Hường xúm xít quanh mẹ, đùa với thằng me nhỏ mười lăm tháng đang vừa cười với chúng vừa áp má ào ngực vợ tôi; không có nụ cười dịu dàng của vợ tôi cúi xuống các con, căn nhà của tôi chỉ là một căn nhà chết. Tôi biết trước rằng nước mắt tôi sẽ chảy suốt đêm nay trong căn nhà ấy. Tôi thấy có một cảm giác uất ức xông lên mạnh trong óc và một cục gì nghèn nghẹn trong cổ họng. Đôi mắt căm giận của tôi nhìn qua bóng tối về làng Bái Thượng nơi có quân hùm sói đang gây cảnh chết chóc điêu tàn. Làng tôi… chao ôi! Chón làng quê yêu dấu của tôi sao lại đến nỗi thê thảm như thế này! Tôi dừng lại ở dốc đê đầu lối rẽ xuống con đường nhỏ đưa vào xóm tôi, do dự. Tôi nhìn vào con đường nhỏ ấy, con đường chỉ thấp thoáng giữa những cái ao lớn, nước đen loang loáng - rồi lại nhìn trở xuống. Về nhà chăng? Hay là đi đâu?... Tôi muốin đi tìm một người nào để nói chuyện, để được nghe tiếng người một chút. Nhưng mà tìm ai, con những ai ở nhà?... tôi lại gần một cái nhà ở vệ đường: cổng đóng. Cửa chắn liếp im lìm. Tôi đến một cái nhà nữa cách đấy chừng mười thước: cổng đóng, cửa chắn liếp, im lìm. Tôi đằng hẳng: chẳng có ai ra. Có lẽ đi đến nhà nữa thì cũng thế thôi!...tôi lại do dự một lúc rồi toan quay trở lại.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
|