Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:10:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Các loại tên lửa không-đối-không hiện đại của phương Tây  (Đọc 58502 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1515



« Trả lời #20 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2010, 09:36:38 pm »

Trích dẫn
Safety flag assembly : chỗ gắn cờ báo mức an toàn

Có phải cái dải đỏ này đúng không máy bác




Safety flag assembly: Móc gắn băng đánh dấu khóa an toàn dùng cho liều phóng

Đạn AIM-9 có 3 dải đỏ in chữ Tháo trước khi bay (Remove before flight) tính từ đầu tới đuôi đạn là:

- Dải đỏ gắn kèm nắp chụp đầu dò hồng ngoại: thông báo lính kĩ thuật mặt đất phải tháo nắp chụp đầu dò trước khi máy bay mang đạn chiến đấu xuất kích

- Dải đỏ gắn kèm đai bảo vệ 4 cặp "mắt thần" hồng ngoại của bộ phận ngòi nổ cận đích cảm ứng hồng ngoại: thông báo lính kĩ thuật mặt đất phải tháo đai bảo vệ cảm biến hồng ngoại trước khi máy bay mang đạn chiến đấu xuất kích

- Dải đỏ gắn tại móc khóa an toàn liều phóng: thông báo lính kĩ thuật mặt đất phải mở khóa an toàn cho phép phóng đạn trước khi máy bay mang đạn chiến đấu xuất kích
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1515



« Trả lời #21 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2010, 11:35:55 pm »

Mô tả thiết kế đầu tự dẫn hồng ngoại 451-K của đạn tên lửa R-3S tương tự kiểu trang bị cho AIM-9 đời đầu (nguồn rbase.new-factoria.ru):

Chú thích hình: 1 - Nắp chụp thủy tinh (Обтекатель); 2 - Gương phẳng (Плоское зеркало); 3 - Vành chắn nhiễu sáng (Бленда); 4 - Mắt kính khuếch đại kiêm gá gương phẳng (Линза-держатель); 5 - Màng lọc (Диафрагма); 6 - Đĩa điều biến quang (Модулирующий диск); 7 - Màng nhạy hồng ngoại (Фотосопротивление); 8 - Gương lõm (Сферическое зеркало)


Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
spetsnaz GRU
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #22 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2010, 11:56:54 am »

Sự khởi đầu - AIM-9B (tiếp theo và hết)



Tên lửa AIM-9B sử dụng một đầu đạn nổ mảnh kích nổ bởi một ngòi nổ cận đích hồng ngoại thụ động. Động cơ tên lửa đẩy nhiên liệu rắn Thiokol Mk.17 cung cấp lực đẩy lên tới 8200 lb-giây với thời gian duy trì đốt 2,2 giây.

*thông số động cơ đẩy Thiokol Mk.17:
Động cơ tên lửa đẩy nhiên liệu rắn.
Hãng chế tạo: Thiokol Chemical Copr, hiện nay là Thiokol Corporation, Ogden, UT, USA.
Tổng khối lượng: 40 kg (88 lb).
Khối lượng khô: 18 kg (39 lb).
Dài: 1.90 m (6.20 ft).
Đường kính: 0.13 m (0.42 ft).
Lực đẩy: 17.70 kN (3,979 lbf).
Thời gian đốt: 2.2 s



Mô hình đạn tên lửa AIM-9B tại Bảo tàng quân sự Hoàng Gia - Brussel.


Theo các tiêu chuẩn hiện đại ngày nay thì AIM-9B là một loại tên lửa có rất nhiều hạn chế, nhưng vào thời đó, nó không có một đối thủ đáng kể nào và đã nhanh chóng được Không lực Hoa Kỳ (USAF) và NATO chấp nhận làm loại vũ khí tiêu chuẩn, với không ít hơn 40.000 đơn vị vũ khí được sản xuất bởi Ford Aerospace, nhà sản xuất chính. Không lực hoàng gia Australia (RAAF) cũng chấp nhận loại tên lửa này và trang bị nó trên những chiếc CAC Avon-Sabre, rồi sau đó là những chiếc Mirage.



Máy bay tiêm kích F-86 Sabre của Không quân Trung Hoa Dân Quốc trang bị tên lửa AIM-9B.

Những đạn tên lửa của NATO được sản xuất chủ yếu bởi l/d FGW của Tây Đức, họ đã phát triển một phiên bản được định danh AIM-9B-FGW Mod.2. Phiên bản AIM-9B này sử dụng các mạch điện tử bán dẫn, làm lạnh bằng carbon dioxide, một vòm mũi mới và khả năng lọc nhiễu quang học tốt hơn, điều này đem lại độ nhạy tìm kiếm cao hơn nhiều.



Một chiếc Duoglas A-4B Skyhawk thuộc phi đội VA-22 Fighting Redcocks mang theo tên lửa AIM-9B tự vệ, ảnh chụp 1963. Phi đội VA-22 thuộc nhóm tác chiến tàu sân bay chống ngầm 53 (CVSG-53) tàu sân bay USS Kearsarge (CVS-33).


Đầu những năm 60, Sidewinder đã trở thành loại tên lửa tầm nhiệt chính phục vụ trong biên chế của Phương Tây và đã tham chiến tại Bắc Việt Nam. Chúng được sử dụng bởi Không lực và Hải quân Hoa Kỳ (USAF & USN). Bảng thành tích chiến đấu trong thời kỳ đầu của nó không được đẹp cho lắm, bởi vì khả năng kém cỏi của đầu tự dẫn càng bị làm nghiêm trọng thêm do sự bất ổn định trong hoạt động của hệ thống điện tử bằng ống chân không và sự thiếu kinh nghiệm của bên sử dụng, cho tới thời điểm đó, họ vẫn chủ yếu huấn luyện đánh chặn hơn là huấn luyện không chiến. Xác suất tiêu diệt mục tiêu là khoảng 10% và điều này phụ thuộc nhiều vào vị trí của máy bay phóng đạn. Được thiết kế để đánh chặn các máy bay ném bom ì ạch, AIM-9B không thích hợp với việc hỗn chiến cùng MiG-17 ở độc cao thấp.Giới hạn phóng của nó là 2G, vậy nên nó gây khá nhiều cản trở cho phi hành đoàn, trong khi đó, đầu dò của nó thường xuyên khóa nhầm vào Mặt Trời hay các đám mây, làm sai lệch quỹ đạo tên lửa. Tầm bắn giới hạn ở mức 2,6 hải lý khiến máy bay phải tiếp cận mục tiêu với một vị trí hợp lý để thực hiện phóng đạn, phi công sẽ phải rất cẩn trọng với khoảng cách và tốc độ tiếp cận mục tiêu.

Tuy nhiên, theo tài liệu của Hoa Kỳ, không ít hơn 28 chiếc MiG đã bị rơi sau 175 phát bắn trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến 1968, thực hiện bởi những chiếc F-4C/D của Không lực Hoa Kỳ, tính chung lại, xác suất tiêu diệt mục tiêu là 16%.



Tên lửa AIM-9B trang bị trên tiêm kích F-4C Phantom II, ảnh từ chuyên đề Chiến tranh đường không trên bầu trời miền Bắc, bài của bác Chianshan.




Logged
spetsnaz GRU
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #23 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2010, 02:57:37 pm »


Một số hình ảnh thử nghiệm tên lửa AIM-9




Thử nghiệm bay đầu tiên của mẫu thử nghiệm Sidewinder, khung thân EX-0, giá phóng LARK, tại China Lake, 09 tháng 10, 1950. Official U.S. Navy photo.




Thử nghiệm tên lửa Sidewinder, SNORT, China Lake, ảnh chụp ngày 26 tháng 5 năm 1950.




Thêm một bức ảnh mô phỏng đầu dò tên lửa AIM-9B
Logged
spetsnaz GRU
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #24 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2010, 03:14:42 pm »

Các máy bay Hải quân Hoa Kỳ sử dụng loại giá phóng LAU-7/A để mang các tên lửa AIM-9 Sidewinder, sau đây, em xin giới thiệu về loại giá phóng tên lửa này.



GIÁ PHÓNG TÊN LỬA ĐIỀU KHIỂN LAU-7/A:






         Giá phóng tên lửa điều khiển LAU-7/A (series)là loại giá phóng có thể tái sử dụng được. Nó là một hệ thống phóng hoàn chỉnh dành cho tên lửa AIM-9 Sidewinder (series). Giá phóng LAU-7/A gồm 4 cấu phần chính: khung vỏ giá phóng, khối bình chứa Ni-tơ làm lạnh, khối thiết bị cơ khí và khối cấp điện.

-Khung-vỏ giá phóng:
   Khung-vỏ giá phóng là thành phần cấu trúc chính của giá phóng. Khung vỏ được đúc dập từ vật liệu nhôm, có vai trò làm cấu trúc cố định của giá phóng, được dùng để gá lắp tất cả các bộ phận, cơ cấu khác. Khung-vỏ giá phóng được gắn vào mấu treo của máy bay.

-Khối bình chứa Ni-tơ làm lạnh:
   Khối bình chứa Ni-tơ bao gồm bộ phận chính là bình Ni-tơ nén áp suất cao (3,200 psig) được sử dụng để làm lạnh đầu tự dẫn hồng ngoại trong hệ thống dẫn hướng của tên lửa. Giá phóng LAU-7/A có thể sử dụng 2 loại bình chứa Ni-tơ làm lạnh: loại bình hình trụ làm từ sợi thủy tinh với lớp bọc kim loại chống rỉ hoặc loại bình hình trụ làm từ thép thông thường. Khối bình chứa Ni-tơ làm lạnh được gắn trong phần đuôi của Khung-vỏ giá phóng và được xiết chặt vào đầu van của khối thiết bị cơ khí.

-Khối thiết bị cơ khí:
   Khối thiết bị cơ khí là một thiết bị cơ-điện phục vụ giữ tên lửa để tháo lắp và thả-phóng tên lửa. Nó được gắn trong khung-vỏ giá phóng và nằm phía trước khối bình chứa Ni-tơ. Các cấu phần của khối thiết bị cơ khí gồm:
     (i) bộ dây điện đảm bảo kết nối nguồn điện máy bay và giá phóng;
     (ii) bộ khóa hãm đề phòng trường hợp phóng không theo chủ đích, chống rơi tên lửa trong khi cất, hạ cánh với tốc độ cao;
     (iii) van Ni-tơ dùng cơ chế cuộn solenoid điều khiển lượng Ni-tơ vào tên lửa, hoạt động của van được điều khiển bởi phi công từ buồng lái;




-Bộ cấp điện:
   Giá phóng sử dụng một bộ cấp điện một pha loại PP-2581/A. Đây là loại nguồn cấp điện độc lập với các đầu dây nối ở mỗi phía. Đầu dây nối ở phía đuôi kết nối nguồn cấp điện với khối thiết bị cơ khí. Đầu dây nối ở phía trước dùng để nối với cáp nối kiểm soát tín hiệu đầu dò trên tên lửa (đã chú thích tại các bài trước trên hình của bác tientt82).

-Mũi chụp phía trước:
   Mũi chụp phía trước được làm từ nhôm, gắn vào phía trước của bộ phận khung-vỏ giá phóng, với vai trò tạo ra hình dáng khí động học cho giá phóng từ phía trước.

-Cụm móc treo trung tâm:
   Cụm móc treo trung tâm được gắn trên khung giá phóng, phía trước ray phóng. Khi lắp đạn tên lửa lên giá phóng, cụm móc treo này được khớp vào mấu trượt giữa của tên lửa. Khi tên lửa được phóng đi, cơ cấu móc treo sẽ thả, thu phần cáp tín hiệu vào trong giá phóng, giúp cho nó không bị vướng vào mấu trượt của tên lửa.

-Chốt giữ cánh:
   Hai thiết bị chốt giữ cánh được gắn sau phần mũi của khung giá phóng, nằm phía bên dưới của mũi chụp phía trước. Chốt giữ cánh là một giá kép nhỏ, hình chữ U, gồm 2 lá đàn hồi trượt kẹp vào cánh tên lửa, nhằm giữ cho tên lửa không bị xoay chuyển khi máy bay đang bay.

-Vấu chặn chống dao động, mũi chụp phía sau và móc chặn ở đuôi:


    Vấu chặn chống dao động, mũi chụp phía sau và móc chặn ở đuôi là một tổ hợp, gắn tại đuôi của khung giá phóng. Khi móc chặn đuôi ở vị trí mở, ta có thể thấy bình chứa Ni-tơ làm lạnh. Nó cũng giải phóng vấu chặn, cho phép ta lắp tên lửa vào giá phóng. Khi ở vị trí đóng, nó cho phép vấu chặn bật vào mấu trượt sau của tên lửa và khóa nó vào vị trí đấy.



NGuồn tham khảo: The Ordnance Shop
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Chín, 2010, 03:15:30 pm gửi bởi daibangden » Logged
spetsnaz GRU
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #25 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2010, 03:25:07 pm »


AIM-9 SIDEWINDER


CÁC PHIÊN BẢN SIDEWINDER HẢI QUÂN – AIM-9D, G và H




AIM-9B (trên cùng), AIM-9D (giữa), AIM-9C (dưới)


Hải quân Hoa Kỳ đã nhận ra những hạn chế của AIM-9B ngay từ đầu những năm 50 và đã sớm tiếp tục phát triển các phiên bản tiếp theo nâng cấp tính năng. Theo đó, một sê-ri Sidewinder dành cho Hải quân đã ra đời, một nhánh trong họ tên lửa Sidewinder vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Thay đổi quan trọng nhất trên AIM-9D là việc sử dụng một hệ thống làm lạnh bằng Ni-tơ cho các phần tử đầu dò PbS, kết hợp với một đầu dò quang học đã được thiết kế lại. Hệ thống quang học mới giữ lại hệ gương cassegrain đặt nghiêng của phiên bản trước, nhưng nhỏ gọn hơn, gắn trong một nắp mũi có thiết diện hình cung nhọn và quay với tần số cao hơn – 125 Hz, nhanh hơn tần số 70 Hz của phiên bản B. Thị trường tức thời giảm xuống còn 2,5º, trong khi thị trường tìm kiếm lại tăng nhẹ lên tới trên 25º. Vòm mũi bằng kính được thay thế bằng loại vòm mũi bằng Magnesium Fluoride nhỏ hơn nhiều, nó cũng có độ thấu quang tốt hơn đối với các bức xạ hồng ngoại có bước sóng dài hơn (lạnh hơn).

Ni-tơ làm lạnh được nén trong một chai dung tích 6 lít trên giá phóng LAU-7 của Hải quân và cung cấp khả năng làm lạnh đầu dò trong 2,5 tiếng.



Hình dáng phần mũi tên lửa AIM-9D


Đầu dò cải tiến có tốc độ theo dõi mục tiêu cao hơn, đạt mức 12 độ/giây và nó được hỗ trợ hơn nữa bởi hệ thống phát động nâng cấp, cung cấp mô-men xoắn lên tới 100 lb.ft. Cả hai biện pháp đã giúp nâng cao độ linh hoạt của tên lửa, trong khi đó một máy khí hóa mạnh hơn sinh công trong thời gian tới 60 giây trong quá trình bay của tên lửa. Động cơ tên lửa được thay bằng loại Hercules Mk.36, với lực đẩy lớn và thời gian hoạt động lâu hơn.




Hai tên lửa AIM-9D trên ray phóng kép của một chiếc Vought F-8U-2N (sau năm 1962 được định danh lại thành F-8D Crusader)-ảnh chụp 1960.

*
   Cũng giống như họ tên lửa Falcon, những phiên bản đầu tiên của Sidewinder đã được định danh lại theo chuẩn mới:

Định danh cũĐịnh danh mới
AAM-N-7 Sidewinder IAIM-9A
AAM-N-7 Sidewinder IA GAR-8AIM-9B
AAM-N-7 Sidewinder IC (SARH)AIM-9C
AAM-N-7 Sidewinder IC (IR)AIM-9D
Logged
spetsnaz GRU
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #26 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2010, 09:18:12 am »

CÁC PHIÊN BẢN SIDEWINDER HẢI QUÂN – AIM-9D, G và H
(tiếp theo)

.....
Hệ thống ngòi nổ cũng được thay đổi, với khả năng tùy chọn một ngòi nổ hồng ngoại hoặc radio cận đích, kích nổ một đầu nổ thanh giăng liên kết. Đầu nổ thanh giăng liên kết có một hộp các thanh đặt song song theo chiều dọc được hàn với nhau luân phiên tại các đầu, khi được kích nổ, các thanh giăng trải rộng ra thành một đường tròn trước khi đứt vỡ, nhờ vậy, một đám các mảnh vỡ sẽ được tạo ra xung quanh trục quả tên lửa. Các thanh giăng này giống như các lưỡi dao cắt đứt vỏ và cấu trúc của mục tiêu.




Nguyên lý làm việc của đầu nổ thanh giăng liên kết



Hình vẽ mặt cắt đầu nổ Mk-46 của tên lửa RIM-8G, thuộc loại đầu nổ thanh giăng liên kết


So với AIM-9B, AIM-9D có khoảng tác chiến lớn hơn nhiều, nó linh hoạt hơn và do đó đạt được xác suất tiêu diệt mục tiêu cao hơn. AIM-9D được đưa vào sản xuất từ cuối những năm 50 và Ford Aerospace đã chế tạo hơn 1000 tên lửa.

AIM-9D được kế tục bởi loại AIM-9G có thiết kế tương tự, nó được triển khai theo chương trình SEAM (Sidewinder Extended Acquisition Mode – Sidewinder tăng cường năng lực chế độ bắt mục tiêu), một thiết bị cho phép xoay đầu dò quang học thông qua mẫu tìm kiếm để xác nhận mục tiêu (giống như sử dụng một rosette scan), hoặc cho phép xoay đầu dò theo đường ngắm ra-đa hay đường ngắm trên mũ phi công (helmet sight). Phiên bản này được sử dụng rộng rãi trên những chiếc F-4 Hải quân trong suốt thập niên 70, trước cả khi F/A-18 được triển khai.

AIM-9D/G được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam bởi Hải quân, đạt được nhiều thành tích trước các đối thủ nhanh nhẹn như MiG-17 và MiG-19, giao chiến với các máy bay Hải quân ở độ cao thấp. Hầu hết các pha bắn hạ của Hải quân được thực hiện với loại vũ khí này.
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Chín, 2010, 10:53:58 am gửi bởi spetsnaz GRU » Logged
spetsnaz GRU
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #27 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2010, 03:42:18 pm »

CÁC PHIÊN BẢN SIDEWINDER HẢI QUÂN – AIM-9D, G và H
(tiếp theo và hết)


Giai đoạn sau của cuộc chiến tranh Việt Nam, chiến dịch Linebacker, chứng kiến việc lần đầu tiên đưa vào sử dụng phiên bản Sidewinder Hải quân tiếp theo, AIM-9H. Phiên bản H (Hotel) có một số thay đổi cơ bản nhờ kinh nghiệm thu được với phiên bản D/G ; vốn thiếu tin cậy do đèn chân không của nó không chịu được việc hạ độ cao quá 20 feet / s nhiều lần khi hạ cánh trên tàu sân bay. AIM-9H là loại Sidewinder đầu tiên sử dụng mảng điện tử bán dẫn, với hệ thống dẫn đường chế tạo hoàn toàn bằng chất bán dẫn. Trong hệ thống điện tử đã được thiết kế lại, thiết bị quang học của phiên bản G về cơ bản được giữ nguyên, nhưng tốc độ bám sát mục tiêu được tăng lên đáng kể, bổ sung cùng với máy phát động công suất mạnh hơn đạt mô-men 120 lb.ft.

Trong khi rất ít tên lửa AIM-9H được bắn trong chiến đấu do những thiếu hụt ở khâu cung cấp, người ta thông báo rằng nó đã đạt tỉ lệ tiêu diệt mục tiêu cho mỗi lần bắn cao hơn nhiều so với bất kỳ một phiên bản Sidewinder nào khác đã được sử dụng trong chiến dịch. Có hơn 3000 tên lửa được sản xuất.

AIM-9H hơn xa phiên bản đầu tiên của Sidewinder và tạo nên dấu ấn riêng biệt của nó tại Việt Nam bởi tỉ lệ bắn hạ cao hơn bất kỳ loại tên lửa nào được sử dụng trong chiến dịch. Sử dụng một đầu dò bán dẫn với cảm biến Chì Sulphide làm lạnh bằng Ni-tơ và một hệ thống phát động mạnh mẽ hơn, AIM-9H là phiên bản linh hoạt nhất trong loại tên lửa này, tính tới thời điểm nó ra đời. Phiên bản AIM-9L được phát triển lên từ AIM-9H.



Một chiếc F-14A thuộc phi đoàn VF-51. Ảnh: thiếu tá hải quân Dave Ericksson chụp năm 1981.
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Chín, 2010, 09:52:12 pm gửi bởi spetsnaz GRU » Logged
spetsnaz GRU
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #28 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2010, 07:57:59 pm »



AIM-9 SIDEWINDER


Các phiên bản Sidewinder Không quân AIM-9E/J/N:

Không giống như Hải quân, luôn tập trung vào chiến thuật không chiến, Không quân Mỹ đã tự làm hao hụt nguồn ngân sách của họ vào nhiều chương trình tên lửa không-đối-không khác nhau, do đó, Không quân đã bị tụt hậu trong việc phát triển những phiên bản Sidewinder của riêng mình. Chiến trường Việt Nam cho thấy những vấn đề của AIM-9B và Không lực Hoa Kỳ đã theo đuổi những chương trình nâng cấp nhằm mục đích tăng cường khả năng chống lại các mục tiêu kiểu máy bay chiến đấu. Kết quả là phiên bản AIM-9E đã ra đời.

AIM-9E cho thấy việc chấp nhận kiểu thiết kế giảm thiểu lực cản mũi tương tự như các phiên bản của Hải quân, nhưng sử dụng mũi hình côn chứ không phải loại mũi có thiết diện hình cung nhọn, một đặc điểm phân biệt của họ tên lửa này cho tới tận ngày nay. Vòm mũi bằng Magnesium Fluoride cũng được chấp nhận, bộ phận quang học gọn nhẹ nhưng đạt tốc độ quay nhanh hơn, tới 100Hz và tốc độ theo dõi lên tới 16,5 độ/giây. Cánh mũi được thay đổi với đặc trưng của cánh tam giác (delta) kép với góc vuông, giúp cải thiện độ tin cậy khi cánh mũi hoạt động với góc tấn lớn. Những thay đổi đáng kể cũng được thực hiện với bộ dây dẫn điện bên trong.




Đầu dò AIM-9E/N bên cạnh các phiên bản khác.


Thay đổi lớn nhất trong thiết kế là việc sử dụng phương pháp làm lạnh mới cho phần tử đầu dò PbS, Không quân Mỹ đã lựa chọn thiết bị làm lạnh dựa trên nguyên lý cặp nhiệt điện Peltier. Thiết kế này có lợi thế về thời gian làm lạnh không hạn chế khi tên lửa còn trên ray phóng và chỉ phụ thuộc vào nguồn cấp điện. Đầu dò được nâng cấp giúp mở rộng khả năng khóa mục tiêu, đồng thời tăng xác suất tiêu diệt mục tiêu của tên lửa, cho dù không ấn tượng lắm. Hơn 5000 đạn tên lửa đã được sản xuất lại từ đạn AIM-9B.




Một đạn tên lửa AIM-9E được chụp tại Sully Plantation, Virginia, Hoa Kỳ. Viền màu xanh được sơn trên thân đạn cho biết đây là đạn huấn luyện.
Logged
spetsnaz GRU
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #29 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2010, 09:55:45 am »


Các phiên bản Sidewinder Không quân AIM-9E/J/N:
(tiếp theo)


AIM-9E được triển khai tới Đông Nam Á từ cuối những năm 60 và một số lượng đáng kể phiên bản này đã được Không quân Mỹ sử dụng. Bởi vì hầu hết những cuộc giao chiến của Không lực Hoa Kỳ diễn ra trên độ cao lớn nên loại tên lửa này được sử dụng ít hơn nhiều so với loại Sparrow, và khi tới tầm gần thì những chiếc F-4E và F-105D/F/G của Không quân có khuynh hướng dựa vào khẩu pháo M-61 gắn trên máy bay, chính vì vậy tên lửa AIM-9 chỉ chiếm có duy nhất 14% số pha bắn hạ của Không quân Hoa Kỳ. Có thể nói rằng, chính môi trường tác chiến này đã sản sinh ra ít áp lực hơn đối với việc nâng cấp khả năng cho AIM-9 của Không quân, kết quả là họ sử dụng những phiên bản có tính năng kém hơn các phiên bản của Hải quân, nơi mà những chiếc F-4B chỉ được vũ trang duy nhất với tên lửa.




Một chiếc F-4D Không quân đang thực hiện tiếp dầu từ máy bay KC-135, 150 dặm phía nam Hà Nội. Chiếc F-4D này thuộc phi đoàn tiêm kích chiến thuật 366 "Gunfighters" - sân bay Đà Nẵng. Trong ảnh, máy bay đang mang theo 4 tên lửa AIM-9J, ảnh chụp từ KC-135, năm 1971


Một đặc trưng của những phiên bản Sidewinder thời kỳ chiến tranh Việt Nam là cái cách nó tiêu diệt mục tiêu, bởi vì nó luôn bám đuôi mục tiêu và trong hầu hết các trường hợp, nó đều đâm vào họng xả động cơ, nó cắt đôi đuôi cánh máy bay khi đầu đạn phát nổ, hình ảnh này đã được nhiều đoạn phim ghi lại.

Phiên bản tiếp theo của AIM-9E là AIM-9J, nó được đưa vào tham chiến tại Đông Nam Á từ tháng 7 năm 1972. Phiên bản J (Juliet) là một nâng cấp từ AIM-9E, với một hệ thống điện tử lai giữa công nghệ bán dẫn và công nghệ đèn chân không, và một hệ thống điều khiển nâng cấp sử dụng máy phát điện khí ga với thời gian duy trì lâu hơn đến 40 giây, với một hệ điều khiển mạnh hơn tạo mô-men xoắn tới 90 lb.ft để điều khiển các cánh mũi. Đã có tất cả 6700 quả AIM-9J được chế tạo mới hoặc cải tạo lại từ AIM-9B.

Năm 1973, Ford bắt đầu đưa vào sản xuất một phiên bản nâng cấp gọi là AIM-9J-1, sau này được định danh lại thành AIM-9N. Phiên bản N (November) tận dụng cấu hình tương tự bản J (Juliet), nhưng 3 bản mạch in chính về căn bản đã được thiết kế lại nhằm cải thiện tính năng cho đầu dò. Có tới gần 7000 quả AIM-9N đã được sản xuất. Động cơ tên lửa Hercules-Aerojet Mk.17 được giữ lại.




Mô hình đạn AIM-9N/P dùng để huấn luyện bay cho phi công.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM