Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:20:48 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nội chiến Hoa Kỳ  (Đọc 75626 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #60 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2010, 10:41:10 pm »


Một trong những thảm cảnh gây tranh cãi nhiều nhất của chiến tranh chính là việc đối xử với vô số tù nhân chiến tranh: 195 ngàn lính Liên bang, 215 ngàn lính Liên minh, đều phải ở tù quá hạn thời gian giam giữ được cam kết từ trước. Việc cố tình cư xử tàn bạo của người miền Nam đối với tù nhân Liên bang làm dấy lên ở miền Bắc một truyền thuyết về sự tàn bạo, khủng khiếp mãi cho đến cuối thế kỷ XX vẫn còn được người ta nhắc đến. Một người sau này bị hành hình như một tội phạm chiến tranh chính là sĩ quan chỉ huy của một trong những trại giam khét tiếng ở miền Nam: thiếu tá Henry Wirz của nhà tù Anderson ở Georgia. Sau chiến tranh, hội tôn giáo tại Georgia đã dựng tượng ông tại thị trấn Andersonville. Đề tặng trên bức tượng này là những dòng chữ của Tổng thống Jefferson Davis: “Khi thời gian làm lắng dịu sự phẫn nộ và thành kiến, khi lẽ phải vạch trần mặt nạ của xuyên tạc và bóp méo, thì khi đó thần công lý giữ cho mình cán cân thăng bằng sẽ đòi hỏi những lời khen chê ngày trước phải đổi chỗ cho nhau”.

Điều kiện tại nhà tù Andersonville có thể tồi tệ hơn bất cứ nhà tù nào trong nội chiến. Trại giam này được xây dựng vào cuối chiến tranh, lúc Liên minh bị chia cắt bởi những cuộc tiến quân và chiếm đóng của Liên bang. Lúc đó liên minh đang thiếu binh lính, lương thực tiếp tế, phương tiện vận chuyển và chỉ còn là một chính thể buộc phải làm việc quá sức để sống còn. Truyền thống trao đổi tù binh đã bị đình hoãn theo lệnh của tướng Grant (lúc ấy là chỉ huy toàn bộ quân đội Liên bang), vì nhiều lý do trong đó có những lời buộc tội rằng nếu phóng thích tù nhân Liên bang sẽ lại gia nhập quân đội ở những đơn vị trước đây họ từng phục vụ. Rõ ràng chuyện này không thể không có. Thêm vào đó còn có lời từ chối trong một thời gian rất lâu của nhà chức trách Liên minh không chịu trao trả tù nhân da đen. Nhưng một lý do tuy khó chấp nhận nhưng lại thực tế đó là số lượng lớn lính tráng sẽ được trao đổi giúp cho số quân của Liên minh sẽ nhiều hơn quân của Liên bang.

Hoạch định giam giữ 10 ngàn tù nhân, nhà tù Andersonville vào lúc cao điểm giam giữ 33 ngàn người. Hầu hết họ đều đến từ những nhà tù ở khắp nơi đang bị đe dọa bởi các lực lượng quân Liên bang sắp tràn tới. Nhà tù Andersonville giam giữ tổng cộng 49485 người trong khoảng 13 tháng tồn tại. Con số gây kinh hoàng là: trên 13700 hoặc hơn 27% đã chết vì bệnh tật và trước đó từng bị thương. Cả bệnh tật và những vết thương ngày càng trầm trọng hơn bởi số lượng người đông quá tải, bởi tình trạng vệ sinh vô cùng tồi tệ, bởi thiếu lương ăn và thiếu sự chăm sóc y tế cần thiết.

Việc đối xử của Liên bang đối với tù nhân Liên minh (khi so sánh với những lợi thế của người miền bắc) cũng đáng chất vấn không kém. Nhà tù Elmira Barracks tại miền Bắc New York, dù giam giữ ít tù nhân hơn Andersonville, nhưng cũng có thể so sánh được với nhà tù Andersonville về phương tiện thiếu thốn, đặc biệt là phương tiện giữ ấm cho mùa đông lạnh giá và sự bẩn thỉu của các phương tiện vệ sinh. Trong số 12.147. tù nhân Liên minh bị giam giữ ở đây, 2980 người chết, gần 25%. Con số thống kê chung về số tù nhân chết như sau: 15,5% tù nhân thuộc các nhà tù Liên minh. 12,1% tù nhân trong các nhà tù Liên bang.

Giáo sư Edward Channing kết luận cách nay hơn nửa thế kỷ rằng: mỗi phe phải nuôi số tù nhân nhiều gần bằng số binh lính của chính mình. Những thống kê về số thương vong trong thời chiến của mỗi phe, cho thấy mỗi bên chăm sóc cho tù nhân còn tốt hơn chăm sóc binh lính của chính mình. Tỉ lệ tử vong giữa tù nhân của cả miền Nam và miền Bắc thấp hơn rất nhiều số tử sĩ vì những nguyên nhân không do chiến đấu trong quân đội Liên minh. Tỉ lệ tử vong của tù nhân cả hai phe thấp hơn tỉ lệ tử vong do những nguyên nhân không phải chiến đấu quân đội Liên bang. Nếu so với con số ước tính ít hơn về quân số của toàn bộ quân đội này là chấp nhận được: 1,5 triệu người. Mặc dù bàng hoàng với sự chịu đựng và mất mát của những tù nhân, không một học giả nào nghiên cứu về nội chiến ngày nay lại tin rằng nhà chức trách của mỗi bên đều có tội vì đã cố tình tạo ra cuộc sống tàn khốc đối với tù nhân.

Những rắc rối của chính quyền Liên minh, cả về dân sự lẫn quân sự, với những nguồn lực sẵn có và trong cuộc chiến như cuộc nội chiến này là không thể khắc phục được. Không ai có thể tìm ra đội ngũ lãnh đạo nào làm việc tốt hơn Tổng thống Davis và đồng sự của ông. Thế nhưng rất nhiều thiếu sót và sai lầm ở mức độ lớn mà Liên minh không thể gánh vác nổi cũng đã xảy ra. Số lần thay đổi nhân sự của nội các ông Davis (tổng cộng 10 lần) chỉ ra sự bất ổn đó. Mặc dù những người được chọn đều xuất chúng, một số lớn những nhân vật có khả năng làm tròn trọng trách đối với dân chúng miền Nam lại không thuộc nhóm này. Thành viên nổi bật nhất của nội các Liên minh đầu tiên là ông Toombs đã sớm rời tổ chức này để trở thành một viên tướng ngoài mặt trận. Một người miền Nam khác tương đương với ông về kinh nghiệm và lòng can đảm, ông Howell Cobb cũng đã từng mặc quân phục và không bao giờ là một thành viên của chính quyền Davis. Hầu hết những người xuất chúng trong khu vực miền Nam, bao gồm bản thân ông Davis, thích hợp với việc điều hành quân sự hơn là dân sự. Mỉa mai thay, những tham mưu quân sự lại phải dựa dẫm nhiều vào nỗ lực tham chiến của miền Nam.

Ông Davis cần sức mạnh và sự kiên nhẫn lớn. Ông đầy đủ sức mạnh nhưng lại thiếu kiên nhẫn. Mặc dù ông là người thông minh, quyết đoán và can đảm ít ai bì kịp, song tính cách của ông khiến người ta cảm thấy khó gần. Ông độc đoán, khôn ngoan và kín đáo. Tất cả những tính cách ấy đều được vợ ông, bà Varina nhận biết ngay từ buổi đầu tiên họ gặp mặt. Khi ấy bà mới 17 tuổi. Bà viết thư cho mẹ: “Davis có cách buộc mọi người đồng ý với anh ấy khi anh đưa ra một ý kiến nào đó... Thực tế anh ta là người có thể cứu một nạn nhân không bị làm hại bởi một con chó đang phát điên nhưng sẽ vô cùng lạnh lùng với cơn hoảng sợ của nạn nhân sau khi rủi ro đã qua”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #61 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2010, 10:41:54 pm »


Những tính cách khó lòng hòa hợp của ông Davis ngày càng trở nên nghiêm trọng bởi áp lực do bổn phận thời chiến đè nặng trên vai ông. Bộ trưởng Bộ hải quân, ông Mallory, một nhà quan sát sắc sảo, một người ủng hộ đồng thời là bạn của Tổng thống Davis, đã có đánh giá mang tính chỉ trích nhưng cũng rất công bằng: “Hiếm ai có thể lạnh lùng đến mức khiến người ta lạnh xương sống và sửng sốt đến như vậy”. Ông Mallory nhận ra rằng: ông Davis không hễ có nỗ lực “nuôi dưỡng thiện ý đối với những dân biểu chống đối ông...” Đó không phải bản chất của ông. Chính tinh thần bất an, gia trưởng, thẳng thắn đã khiến ông hiếm khi tìm sự đồng tình và lấy lòng người khác. Ông coi thường niềm tin: “cần phải vỗ về người ta làm tròn bổn phận trong những điều kiện khó khăn của quốc gia như thời nội chiến”. Những tính cách này càng rõ ràng hơn bởi điều kiện sức khoẻ không ổn định của ông. Về mặt thể lực, ông Davis rất yếu ớt (ông mắc chứng khó tiêu và nhìn không rõ). Bệnh tình của ông càng nặng bởi cái chết do tai nạn của đứa con trai lên 5 tuổi của ông là Joe. Sự việc diễn ra vào tháng 04 năm 1864. Người ta cho rằng sự kiện đau lòng này là một điểm tương đồng quái lạ trong đời tư thời chiến của cả Tổng thống Davis lẫn Lincoln.

Ông Davis có xu hướng càng lúc càng kín đáo, sống thu mình với thế giới bên ngoài và tận hiến mọi nỗ lực để giải quyết những chi tiết mà quên đi đại cuộc. Điều này đặc biệt đúng khi xét quan hệ của ông với Bộ chiến tranh. Thật dễ hiểu khi ông tự coi mình là một chuyên gia trong lĩnh vực này. Một quan chức sâu sắc trong bộ này đã có lần viết với chút cường điệu nhưng được đánh giá là chân lí: “Mọi nỗ lực cách mạng đều được phô ra với kẻ thù... với chúng tôi lại quá kín đáo - hay bắt bẻ từng li từng tí”. Một phần có lẽ vì vậy, văn phòng của bộ trưởng bộ chiến tranh lúc nào cũng có mặt năm người. Văn phòng của bộ trưởng bộ nội vụ chỉ có ba nhân sự. Văn phòng chưởng lý tối cao pháp viện: bốn nhân sự. Văn phòng bộ trưởng bộ tài chính hai nhân sự. Ông Davis không phải chịu trách nhiệm về việc thiếu nhân sự trong các ban bệ ấy, nhưng rõ ràng ông đã đóng góp phần lớn vào tình trạng này.

Sự ổn định trong bộ tham mưu đặc biệt quan trọng đối với bất cứ chính quyền nào khi phải đảm đương công việc vất vả thời chiến. Mùa hè năm 1861, Tổng thống Davis thuyên chuyển ông Judah P. Benjamin của bang Louisiana từ vị trí quan tòa của Pháp viện tối cao sang vị trí bộ trưởng bộ chiến tranh, kế nhiệm ông Walker. Tháng 03 năm 1862 sau khi ông Benjamin gặp nhiều mối bất hòa trầm trọng với nhiều viên tướng, đặc biệt là tướng Jackson, Tổng thống Davis chuyển ông sang bộ nội vụ và chỉ định ông George W. Randolph người gốc Virginia làm Bộ trưởng Bộ chiến tranh. Tháng 11 năm 1862, khi ông Davis bác bỏ lệnh của ông đòi vận chuyển lính từ miền Tây sông Mississippi đến miền Đông của sông này, ông Randolph đã bất mãn từ chức bởi ông tin rằng ông bị đối xử chẳng khác nào một nhân viên bình thường. Tổng thống Davis sau đó bổ nhiệm vào vị trí này cho ông James A. Seddon người Virginia, một người yếu đuối về mặt thể chất nhưng mẫn cảm và làm việc chăm chỉ. Đến cuối cuộc chiến ông này cũng phải từ chức vì quá mệt mỏi. Ông John C. Breckinridge, trước đây từng là Phó tổng thống của Liên bang Hoa Kỳ, sau này là một viên tướng của Liên minh, giữ vị trí bộ trưởng bộ chiến tranh trong suốt những tuần cuối cùng của cuộc chiến và hoàn tất bổn phận chuẩn bị cho miền Nam đi đến thất bại cuối cùng.

Ông Benjamin, Bộ trưởng Bộ nội vụ, trở thành người có thế lực nhất trong nội các. Ông thay thế ông R. M. T. Hunter người Virginia (trước ông này là ông Toombs). Ông Benjamin trụ lại trong văn phòng cho tới khi kết thúc cuộc chiến. Ông thông minh, có năng lực và trở thành quân sư chính của Tổng thống Davis. Ông cũng là người bạn tâm tình của vị Tổng thống này. Người ta từng gọi ông là “bộ não của chính quyền”, phần bởi vì sự ghen tị nhưng cũng bởi ông Benjamin khéo léo ôn tồn điềm tĩnh và đáng tin đến khó chịu. Ông là người Do Thái thế nên là thành viên nội các bị người ta ghen ghét và ngờ vực nhiều nhất. Trên cương vị chưởng lý pháp viện tối cao, ông Benjamin sau này được Thomas Bragg kế vị. Sau Bragg là George Davis. Cả hai là người Nam Carolina. Chỉ có Bộ trưởng Bộ hải quân Mallory và Bộ trưởng Bộ bưu chính Reagan yên ổn tại vị trí làm việc từ đầu cho tới cuối cuộc chiến.

Ngoài những xích mích trong nội bộ chính quyền, các chính sách và việc thực thi của ông Davis đã động chám tới những quan điểm cá nhân và xã hội sâu kín nhất của người miền Nam. Kiểu cư xử không biết đến người khác và sự cương quyết của ông cũng xung đột với cách cư xử của nhiều chính trị gia khác của miền Nam, đồng thời cũng xung đột với tính cách của rất nhiều viên tướng dưới quyền ông. Ông bị chỉ trích kịch liệt vì tính ngoan cố, chuyên quyền, tự cao tự đại và bất tài. Trong cuốn sách có tựa đề “Năm đầu của cuộc chiến” phát hành vào năm 1862 của một trong những nhà báo xuất chúng nhất miền Nam, ông Edward A. Pollard của tờ Richmond Examiner đã lên tiếng phản đối khi viết rằng: Tổng thống Davis đã khiến cuộc chiến thất bại bởi ông đã lờ đi không màng tới “sự khôn ngoan của dân chúng” và “khao khát đề cao tính đúng đắn của tri thức riêng mình trong từng biện pháp thực hiện trong cuộc cách mạng miền Nam để chứng minh mình là bậc kỳ tài trong từng sự kiện và từng tiểu tiết...”.

Ông Davis và vài viên tướng nổi bật của Liên minh thường xuyên bất hòa trong suốt chiều dài cuộc chiến. Ngay khi chiến tranh mở màn, ông và ông Joseph E. Johnston đã cãi cọ về cấp bậc của ông Johnston. Ông Davis không bao giờ tin tưởng vào khả năng của vị tướng này. Tổng thống Davis cũng có mối quan hệ bất hòa không kém với tướng Beauregard. Mối bất hòa này xảy ra sau cuộc chiến Bull Run đầu tiên. Lúc đó ông Davis đã ngầm ám chỉ rằng tướng Beauregard đã tắc trách nên không truy sát được quân Liên bang thua trận.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #62 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2010, 10:42:39 pm »


Có lẽ cuộc tranh cãi tai hại nhất chính là cuộc tranh cãi giữa Tổng thống Davis và một viên tướng dưới quyền, tướng Toombs, người bị quy cho là thiên vị sĩ quan tốt nghiệp trường West Point và đã bị ông Davis bác bỏ một lần thăng chức. Là một người tính cách dữ dội, cũng là một nhân vật chính trị thế lực nhất trong vùng, ông này đã từ chức vì tức giận và dành khoảng thời gian suốt cuộc chiến để phản đối khả năng lãnh đạo của Tổng thống Davis. Giáo sư Frank L. Owsley viết rất chí lý “Liên minh không đủ chỗ cho cả Jeff Davis và Bob Toombs”. Một vài học giả tự biện rằng: thể chế nô lệ (trong đó quyền của ông chủ là tuyệt đối) đã khiến cho người miền Nam không có khả năng đặt quyền lợi chung lên trên mong muốn của cá nhân.

Nếu ông Davis tranh cãi với một số viên tướng này, ông lại đặc biệt kiên định trong việc ủng hộ những viên tướng khác. Đầu cuộc chiến, khi dân chúng đòi ông Albert Sidney Johnston phải bãi nhiệm bởi để pháo đài Henrry và Donelson thất thủ, Tổng thống Davis từ chối: “Nếu Johnston không đủ tư cách là một vị tướng, Liên minh chẳng có vị tướng nào hết”. Khi tướng Lee đề nghị từ chức sau thất bại Gettysburg, Tổng thống Davis không thèm nghe. Trong tâm trí người dân, tư cách đạo đức của tướng Johnston và tướng Lee sau đó đã chứng minh lòng tin của ông Davis đối với họ. Nhưng sự tin tưởng của ông với những viên tướng khác lại được hiểu theo một cách khác biệt: ông bị buộc tội đã giữ tướng Northrop không được lòng dân vào vị trí bộ trưởng bộ quân nhu chỉ bởi vì muốn trả ơn cho những gì ông Northrop đã từng làm cho Davis trước cuộc chiến.

Những lời phản đối gay gắt nhất về sự tin tưởng của Tổng thống Davis với tướng Bragg, người năm 1863 trở thành vị chỉ huy quân đội, bị chỉ trích nhiều nhất tại Liên minh. Những câu chuyện tếu bêu rều sự bất tài và do dự của tướng Bragg được người ta truyền miệng kể cho nhau nghe. Ví dụ: ông chết và được lên thiên đàng, như khi gặp Thánh Peter tại cổng thiên đàng, ông đòi được trở lại trần gian để nổi danh. Sau khi thất bại ở Chattanooga vào mùa thu năm ấy, Tổng thống Davis đã đưa tướng Bragg (ít nhất là mặt danh nghĩa) về vị trị giám sát mọi chiến dịch quân sự của Liên minh. Đến lúc này những lời lên án đã trở thành cao trào. Ông Pollard phát biểu đầy phẫn nộ trên tờ báo Examiner (người quan sát). Nhiều người miền Nam đồng tình với ông khi ông viết: “Từ đỉnh cao danh vọng, tự cho mình có quyền lực và địa vị cao quý nhất là tự nhiên và không thể tránh khỏi”.

Chính quyền Davis cũng phải chịu đựng rất nhiều bởi vì nhiều chính sách và biện pháp của Tổng thống đối lập với đặc tính về kinh tế chính trị và xã hội miền Nam. Một cuộc chiến sâu rộng như nội chiến Hoa Kỳ đòi hỏi một bộ máy chính quyền và các chương trình quản lý của một quốc gia tập trung và có nền công nghiệp hiện đại. Trong nỗ lực tạo ra một bộ máy như vậy và thực hiện những chương trình thuộc loại ấy tại các miền quê sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, trước đây quen với chính sách phân quyền và tự do cá nhân của mỗi công dân, chính phủ Liên minh đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ không thể tránh khỏi.

Một trong những nguyên nhân của sự phản đối ấy là học thuyết quyền các bang, một nguyên tắc chính trị mà dựa vào đó liên minh được thành lập: Tổng thống Davis, vào cuối cuộc chiến, đã phát biểu quan điểm này khi ông viết rằng những người ủng hộ cực đoan quyền của bang thật sự làm tăng thêm khó khăn trong việc bảo vệ miền Nam chống lại quân xâm lược miền Bắc. Ông buộc tội những người cực đoan này là “cản trở chính phủ hành động, ngăn cản việc thực thi luật pháp, chỉ trích những chính sách cần thiết của chính phủ, làm suy yếu lòng tin của chính phủ trong nhân dân và coi chính phủ như thể kẻ thù của dân chúng (chứ không phải một chính phủ phục vụ cho quyền lợi của họ), đang thực hiện công cuộc bảo vệ chung của quốc gia đồng thời chính phủ là niềm hi vọng duy nhất của họ để có thể được an toàn trước những nỗi kinh hoàng không bút nào tả xiết của chế độ chuyên quyền miền Bắc”. Các học giả nghiên cứu cuộc chiến, mà quan trọng nhất là giáo sư Owsley cho rằng chính quyền các bang là nguyên nhân thất bại chính cho Liên minh. Ông viết rằng trong lý thuyết này, hạt giống của chết chóc đã được gieo ngay vào ngày Liên minh ra đời. Theo ông trên văn bia của chính quyền Liên minh nên mang những dòng sau: “Chết vì quyền các bang”.

Về vấn đề này cũng như mọi vấn đề khác của cuộc nội chiến, có một sự bất đồng ý kiến. Một học giả chuyên nghiên cứu về lịch sử Liên minh, giáo sư E. Merton Coulter lập luận rằng: chính bởi quyền các bang là nguyên tắc chính trị nền tảng của miền Nam, nên chính phủ Liên bang dựa vào nó để đề ra: những chính sách cho mình.

Giới học giả ngày nay có xu hướng không nhấn mạnh quyền các bang như là nguyên nhân cho thất bại của Liên minh. Những con số thống kê chỉ ra rằng các bang có các viên chức buộc tội thẳng thắn chính sách hạn chế của Liên minh trong việc thực hiện quyền các bang cung cấp đủ quân số và nguồn thực phẩm cho chiến tranh. Một số người nghiên cứu cuộc chiến gợi ý rằng: yêu cầu thời chiến đối với quyền các bang là hệ quả chứ không phải là nguyên nhân của thất bại Liên minh. Một số người cho rằng quyền các bang thật sự làm nỗ lực của Liên minh mạnh mẽ hơn. Lối suy nghĩ như vậy được nhiều học giả kết luận như sau: “Quyền các bang không phải là nhân tố quyết định thất bại của Liên minh và thậm chí còn có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ nỗ lực thời chiến bằng cách sử dụng khả năng và quyền lực ở mức độ địa phương và từng bang, bổ sung thêm cho nỗ lực của chính phủ trung ương”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #63 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2010, 10:46:38 pm »


Dù việc thực thi quyền các bang có hậu quả như thế nào, việc không thể nghi ngờ là nguyên tắc này đã đi ngược lại các nguyên tắc kiểm soát trên quy mô toàn quốc của miền Nam và chống lại sự tập trung nguồn lực quân đội của Liên minh. Chiến lược bảo vệ lãnh thổ của Liên minh trong những ngày đầu, nỗ lực bảo vệ mọi khu vực không bị xâm lấn, được truyền đi bằng những mệnh lệnh giao cho thống đốc các bang rằng: quân đội Liên minh sẽ đóng quân trong các bang của chính mình. Đồng thời, hàng ngàn người miền Nam được trang bị súng ống đã tòng quân theo các đội hình quân sự từng bang và dửng dưng những khi có cuộc chiến quan trọng ở bang khác. Shiloh có lẽ cho ta một ví dụ điển hình nhất của hiện trạng này. Theo giáo sư Kenneth Vvilliam, 5 ngàn quân Liên minh bổ sung đủ sức đánh bại đội quân của tướng Grant. Con số này ít hơn con số lính tráng trong các quân đoàn của bất cứ bang nào thuộc Liên minh.

Một trong những thống đốc lớn tiếng ủng hộ quyền của bang là ông Joseph E. Brown của bang Georgia và ông Zebulon Vance thuộc bang Bắc Carolina. Ông này nhiều lần từ chối không cho dân quân của bang và các phòng ban dân sự tham gia hỗ trợ các bang khác. Như đã nói ở trên, ông Brown phản đối và ngăn cản lệnh tòng quân của Liên minh trên cương vị ông có được. Khi chiến tranh gần kết thúc, ông Brown lại ve vãn ý tưởng li khai trong hòa bình với quân Liên bang.

Ông Vance là người không khoan nhượng trong quyết định: mọi nguồn lực của bang ông phải được sử dụng chủ yếu cho chính những người lính từng là dân của bang ấy. Ông phản đối hoạt động những đại lý mua bán của Liên minh tại miền Bắc Carolina. Ông tích cực phản đối luật của Liên minh đòi phải dành nửa không gian trên các phương tiện chở hàng cho Liên minh sử dụng. Ông nói: “Chẳng lẽ một vi phạm trơ trẽn đến như vậy lại có thể là ý định của chính phủ? Tôi sẽ phóng hỏa đốt tàu trước khi chấp nhận lệnh này”. Ông tích trữ nhiều vải vóc chỉ dành riêng cho binh lính Bắc Carolina. Khi chiến tranh kết thúc, ông Vance có trong tay 92 ngàn bộ quân phục và nhiều kho lớn tích trữ chăn và da thuộc. Binh lính thuộc bang của ông được ăn mặc đầy đủ. Số quân trang quân dụng dư thừa này đáng lẽ phải được trang bị cho những binh lính đang phải mặc những bộ quân phục cũ mòn ở những nơi khác.

Tổng thống Davis bất đồng sâu sắc với ông Brown và ông Vance trong những vấn đề có liên quan tới quyền lực của chính phủ Liên minh với nguồn nhân lực và nguồn cung cấp vật chất của những bang nằm trong quyền sinh sát của hai ông này. Sự căng thẳng giữa tinh thần dân tộc miền Nam và quyền của các bang đã làm nản chí và cản trở nghiêm trọng nỗ lực thời chiến của Liên minh còn hơn cả ngay bản thân cuộc chiến.

Gần như mọi hành động của chính phủ Liên minh nhằm huy động nguồn lực ở miền Nam và đàn áp những kẻ bất trung đều vấp phải những phản đối quyết liệt, không nơi này cũng nơi khác. Cơn giận dữ và chống đối xuất phát từ luật sung công tiếp tế cho quân đội đã được ghi nhận. Còn một hình thức chống đối xung công khác mỉa mai hơn: các chủ nô chống lại lệnh sung công nô lệ của họ nhằm góp phần lao động hỗ trợ nỗ lực cho chiến tranh. Khi chuẩn bị tấn công Shiloh tướng Albert Sidney Johnston tìm cách tăng nguồn lực của mình bằng việc: nô lệ sẽ được tuyển làm lính phục vụ quân đội nhưng không trực tiếp chiến đấu. Khi những chủ đồn điền phản đối yêu cầu này của ông, ông đã ngao ngán: “Những người này thoải mái giao con trai của mình cho quân đội, nhưng chớ có dại dột nói với họ về việc trao cho quân đội một tên nhọ hoặc một con lừa”.

Những lý do đằng sau sự phản đối này đối với lệnh sung công nô lệ có đủ loại. Những chủ nô bất mãn vì sẽ bị mất sức lao động của nô lệ. Họ cũng lo: giá trị của nô lệ bị giảm sút nếu nô lệ bị thương hoặc bị ốm. Vô số chủ nô, và có lẽ có rất nhiều người trong số họ quan tâm thực sự tới quyền lợi của nô lệ khi trao họ vào tay quân đội hoặc những chỉ huy quan liêu. Dù bất cứ lý do gì, chủ nô kháng cự lại hành động này và thông thường họ thành công.

Trong số những mặt bị chỉ trích nhiều nhất của chính phủ Liên minh chính là sự bảo mật và kín đáo của cả Tổng thống Davis lẫn Hạ viện về vấn đề an ninh quốc gia. Tổng thống Davis lưỡng lự khi tin tưởng dân chúng. Hạ viện thường xuyên tranh luận và ban hành những pháp chế quan trọng sau những cánh cửa đóng im ỉm. Trong số nhiều chính trị gia miền Nam chỉ trích hành động này, ông William L. Yancey, một trong những người có lý lẽ thuyết phục nhất là một chính trị gia hiếu chiến nổi tiếng, người Alabama, thành viên của thượng viện Liên minh và là một người ủng hộ cho chính quyền Davis, người đã lên tiếng phản đối rằng: dân chúng miền Nam càng được thông tin kịp thời bao nhiêu họ càng hăng hái đáp ứng nhu cầu phục vụ chiến tranh bấy nhiêu.

Không có gì gây bất mãn đối với chính quyền Liên minh nhiều hơn lệnh đình quyền giam giữ và tuyên bố thiết quân luật thỉnh thoảng được ban hành tại các khu vực đang gặp nguy hiểm. Tháng 02 năm 1862, sau khi thành Donelson thất thủ, Hạ viện ủy quyền cho Tổng thống Davis hoãn lệnh đình quyền giam giữ ở những nơi ông cảm giác hoàn cảnh quân sự đòi hỏi phải có nó. Ông đã làm thế ở New Orleans và sau đó ở một số vùng ở Bắc và Nam Carolina. Mặc dù lệnh này được thực thi bằng cách áp đặt, chúng vẫn khiến một làn sóng chỉ trích bùng phát. Hành động phản đối áp đặt thiết quân luật còn dữ dội hơn. Các tướng lãnh tại nhiều vùng lãnh thổ Texas, Louisiana, Mississippi và Georgia là những người lớn tiếng nhất. Thống đốc Brown chỉ trích lệnh thiết quân luật cùng với các biện pháp khác là những hành động có tính lật đổ chủ quyền của các bang, ông Robert Toombs viết về những điều luật này như sau: “Tổng thống Davis và đám lính tráng của ông ta (ám chỉ quân đội chủ lực) hiệp lực triệt hại tất cả những ai không chịu chiều theo những kế hoạch đáng hổ thẹn và ích kỷ của họ”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #64 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2010, 10:47:21 pm »


Mùa xuân năm 1863, để tăng hiệu lực của điều luật cưỡng bách tòng quân, Hạ viện đề ra một điều luật ủy quyền cho Tổng thống Davis được tùy ý hoãn lệnh đình quyền giam giữ. Nhiều công dân phản đối điều luật này vì sợ đó là sự vi phạm quyền hợp pháp của họ. Đồng thời, bởi vì nó chủ yếu được soạn thảo với ý định hỗ trợ cho hiệu lực của lệnh cưỡng bách tòng quân, những người chống đối lệnh quân dịch đã không thương tiếc phản đối điều luật này với những câu chuyện ghê gớm về sự ngược đãi những công dân lương thiện khi họ rơi vào tay những chỉ huy quân đội tàn nhẫn. Điều luật này đã bị đánh bại và không được áp dụng. Tờ báo Charleston Mercury hả hê với kết quả nhưng cảnh báo về sự cần thiết thường xuyên cảnh giác chống lại những nỗ lực còn đi xa hơn nhằm cướp đi của người dân sự tự do của chính họ.

Trong suốt gần một năm, lệnh đình quyền giam giữ được tận dụng thoải mái bởi những quan tòa của các bang, người chống đối lệnh cưỡng bách tòng quân giải thoát lính quân dịch khỏi tay những sĩ quan cưỡng bách quân dịch, những kẻ đào ngũ khỏi tay những cảnh sát trưởng địa phương. Ông John S. Preston, người có nghĩa vụ giám sát thi hành lệnh quân dịch phàn nàn: “Từ chính quyền Liên minh cho tới mỗi sĩ quan, mỗi người kể cả đàn ông và đàn bà đều tham gia chống đối sĩ quan tuyển mộ tân binh đang thi hành nhiệm vụ”. Ông Davis yêu cầu Hạ viện cảnh báo nếu không có lệnh đình quyền giam giữ “việc đào ngũ sẽ trở thành vấn nạn của Liên minh đang trong thời kỳ chiến tranh ác liệt”. Tháng 02 năm 1864, Hạ viện ủy quyền cho ông thời gian là một năm thực hiện lệnh đình quyền giam giữ. Năm sau ông lại đề nghị phục hồi sự ủy quyền này, vì theo ông nó không chỉ thiết thực mà còn không thể thiếu để công việc quản lý tình hình chiến sự được suông sẻ. Đến lúc này, các nhà làm luật đã từ chối. Liên minh suy vong chính bởi những điều luật mà vì nó người dân buộc phải phản đối để chống lại tính bạo ngược và chuyên chế của Liên minh.

Liên minh suy vong cùng với quyền tự do ngôn luận một cách bừa bãi. Thể chế ngôn luận Liên minh thường xuyên chỉ trích chính quyền Davis. Cũng thật dễ hiểu, trong lúc luôn có sự chống đối kịch liệt của người miền Nam đối với bất cứ mệnh lệnh nào của chính phủ, Tổng thống Davis không hề hạn chế ngôn luận. Ông Edward A. Pollard của tờ Richmond Examiner liên tục phản đối tính bất lực của chính quyền. Ông Robert Barnwell Rhett của tờ Charleston Mercury buộc tội Tổng thống Davis mọi thứ: Từ việc ông là người ủng hộ việc tái thiết (bằng cách dùng từ này, ông ta ám chỉ ý định cầu hòa của Davis với Liên bang), cho tới nỗ lực biến mình thành một bạo chúa quân sự. Những lời tuyên bố như vậy bởi những nhà cầm bút đáng kính trọng khác làm dấy lên trong dân chúng sự nghi ngờ và mất cảm tình đối với chính phủ Liên minh. Mỉa mai thay, một vài người ủng hộ trung thành nhất hoạt động li khai cũng đóng một vai trò đáng kể trong sự thất bại của chiến dịch li khai ấy.

Cuộc chiến tranh nặng nề và kéo dài đồng thời với suy nghĩ nó không thể thắng lợi, đã khơi lên tinh thần theo chủ nghĩa hòa bình trong nhiều người dân miền Nam và họ dần có cảm tình với những người chủ trương thân Liên bang hiện sống ở miền Nam. Kế hoạch của Tổng thống Lincoln trong việc tái thiết đất nước được tuyên bố tháng 12 năm 1863. Đại diện phần nào cho lời thỉnh cầu của những người mang tình cảm nói trên (một lời thỉnh cầu tương đồng với lời thỉnh cầu gồm 14 điều, Tổng thống Woodrow Wilson gửi tới dân chúng Đức đã mệt mỏi về chiến tranh thế chiến lần thứ nhất). Nhân vật theo chủ nghĩa hòa bình hàng đầu ở miền Nam chính là Phó tổng thống, ông Stephens luôn có lối suy nghĩ nước đôi trong động thái biến miền Nam thành quốc gia độc lập. Ông Stephens ngớ ngẩn tin rằng có thể sắp xếp hòa bình bằng cách điều đình với chính phủ Liên bang để có được kết quả: mỗi bang giữ lại chủ quyền của riêng mình và quyết định vận mệnh của chính mình.

Chủ bút một tờ báo thân Liên bang của miền Nam Carolina,. Ông William W. Holden của tờ Raleigh Standarđ hưởng ứng kế hoạch của Tổng thống Lincoln, thách thức Thống đốc Vance đưa ra cương lĩnh hòa bình trong cuộc tranh cử thống đốc năm 1864. Ông Holden đã thua nhưng ông cũng phát động đủ số cử tri để họ chứng minh rằng: đang có một sự thúc giục cho động thái hòa bình phát triển mạnh mẽ ở bang của ông nhiều khu vực khác ở miền Nam.

Những người chủ trương đoàn kết lên tiếng chỉ trích và trút giận vào chính quyền Davis. Mọi biện pháp chính cho việc hỗ trợ chiến tranh: cưỡng chế tòng quân, xung công, tăng thuế và hoãn lệnh đình quyền giam giữ, đều bị lên án mạnh mẽ. Ông Stephens luôn đứng đầu trong những cuộc công kích này. Thậm chí nhiều người bạn cũ trước đây ủng hộ cho chính quyền Davis bây giờ cũng quay lưng lạnh nhạt.

Chính quyền Liên minh không có thời gian và cơ hội để phát triển những đối tác chính trị chính thức. Nhưng điều này cũng không thể ngăn trở được làn sóng phản đối. Không có những người đồng chí hướng, Thượng, Hạ viện Liên minh nhanh chóng chia rẽ thành các bè phái chống đối và ủng hộ Tổng thống Davis. Các thượng nghị sĩ của Benjamin Hill của Georgia và Robert Barnwell của miền Nam Carolina là người ủng hộ Tổng thống Davis tại Thượng viện. Người phát ngôn của Thượng viện là ông Thomas S. Bocock người Virginia và dân biểu Ethelbert Barsdale bang Mississippi đóng vai trò tương tự tại Hạ viện.

Những dân biểu chống đối Tổng thống Davis mạnh mẽ nhất chính là Hạ nghị sĩ Henry Stuart Foote bang Tennessee và Thượng nghị sĩ Louis T. Wigfall người Texas. Như một đối thủ chính trị của ông Davis tại Mississippi trước cuộc chiến, ông Foote với những lời chỉ trích gay gắt và mạnh mẽ chống lại những biện pháp khắc nghiệt của thời chiến. Ông Wigfall tán thành những biện pháp này. Nhưng với tư cách một người ngưỡng mộ tướng Joseph E. Johnston và ủng hộ chiến lược tập trung vào miền Đông, ông chỉ trích chính quyền Davis không tiếc lời bởi sự bất lực trong tiến trình theo đuổi chiến tranh.

Không có cách hợp pháp nào ngắn gọn hơn trong việc dèm pha đòi cách chức Tổng thống Davis. Nhưng những cuộc bầu cử Hạ viện xảy ra vào mùa thu năm 1863 với kết quả thực sự cho một số phiếu không tin tưởng vào chính quyền của ông ta. Cứ mỗi lần một ứng viên chống chính quyền giành đa số phiếu, Hạ viện lại gần như trở thành một chính thể đối kháng với chính quyền. Bởi chính những nhà làm luật không có một chương trình thống nhất nào cho chính mình. Họ buộc phải tiếp tục ban hành, phê chuẩn cho hầu hết các biện pháp do Tổng thống Davis đệ trình. Sự bất hòa giữa các vị dân biểu và người điều hành chính của quốc gia (thể hiện ở những lời công kích dữ dội không ngớt trong hành lang và đại sảnh của tổ chức lập pháp này) đã làm xói mòn tinh thần hợp tác của bất cứ ai trong chính quyền Liên minh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #65 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2010, 10:49:10 pm »


VII
Sự cân bằng chiến thuật
------------X------------


Ông Andre Burnside chỉ huy quân đội thật xuất sắc. Với vẻ ngoài hấp dẫn, thậm chí rất hấp dẫn, với bộ râu quai nón xén tỉa công phu mà nhờ nó ông được lưu danh muôn thuở (sau này tên ông được đảo ngược lại là Sideburn - tóc mai dài). Ông nhận chỉ huy một đội quân và đã từng bị phản đối rằng ông không phù hợp với vị trí chỉ huy họ. Tuy nhiên khi đã nắm quyền, ông đưa đội quân Potomac đi thật nhanh tới bờ Bắc của con sông Rappahannock, đối diện Fredericksburg, kế hoạch của ông là làm thay đổi vị trí của tướng Lee bằng cách băng qua con sông ấy và đóng quân giữa tướng Lee và Richmond.

Lúc đầu mọi chuyện dường như suôn sẻ đối với ông Burnside. Ngày 20 tháng 11 năm 1862, toàn bộ quân đội Liên bang gồm 120 ngàn người đã ở vị trí sẵn sàng. Nếu ông có thể băng ngang qua dòng sông lập tức, những chiến thuật của ông có thể sẽ thành công ở Fredericksburg, lúc đó không được quân Liên minh canh phòng cẩn mật. Quân đội tướng Lee bị phân tán dọc theo tuyến đường Virginia, với quân đoàn của quân Jackson vẫn còn ở thung lũng Shenandoah và đang theo đuổi chiến dịch Antietam. Nhưng các thuyền phao của tướng Burnside dùng làm cầu bắc ngang qua dòng sông lại không thể đến kịp trước khi tháng 12 tới. Đợi đến lúc đó lại quá trễ để sang sông, đảm bảo chiến thắng bởi vì quân đoàn Bắc Virginia với 74 ngàn người đang tập trung và hình thành những đội hình chắc chắn dọc theo cây cầu mang tên Marye’s Heights phía sau thị trấn. Tuy nhiên ông Burnside vẫn cương quyết thực hiện kế hoạch của mình và ra lệnh xây cầu bắt đầu vào ngày 11 tháng 12. Như vậy sân khấu đã được hoàn tất để đón chờ một màn kịch khủng khiếp.

Quân Liên minh hạ trại bên bờ dốc của cây cầu. Quân đoàn của tướng Longstreet chiếm cứ khu vực bên trái của vòng tuyến. Cánh quân bên trái của quân đoàn này chiếm cứ sông Rappahannock ngay phía trên Fredericksburg. Cánh quân giữa nhắm thẳng hướng thị trấn. Quân đoàn tướng Jackson bên bờ phải gần một đèo ngang được hình thành bởi Deep Run Creek. Quân đoàn kỵ binh của tướng Stuart dàn quân bên bờ phải dòng sông ngay phía dưới Fredericksburg, vị trí này giúp phòng thủ chắc chắn, lại được gia cố thêm bởi công sự của tướng Longstreet đã được chuẩn bị sẵn.


Theo lệnh của tướng Burnsiae, ba quân đoàn lớn trong đó ông đã tổ chức thành đội quân Potomac đang xúc tiến cho trận đánh. Sư đoàn lớn của tướng Sumner bên cánh phải, đối diện với Fredericksburg, sư đoàn lớn của tướng Hooker ở giữa. Và sư đoàn của tướng William B. Franklin bên cánh trái. Pháo binh của Liên bang sẽ hỗ trợ cuộc tiến quân từ Stafford Heights, một độ cao chiến lược. Nó chỉ cách Fredericksburg chưa đầy một dặm. Bộ binh đã qua sông, được triển khai và sẽ là đơn vị đầu tiên tấn công.

Lính công binh của ông Franklin không gặp rắc rối gì nhiều khi dàn quân bởi họ băng qua khu vực bên ngoài tầm súng của tướng Jackson. Nhưng lính công binh tại các công sự khác đã phải ngã gục dưới làn đạn của biệt đội quân Mississippi đóng tại Fredericksburg, dưới quyền chỉ huy của tướng Longstreet. Chỉ khi đạn pháo của tướng Burnside nã vào thị trấn này và bộ binh của Liên bang theo thuyền đến nơi những tay thiện xạ rời thuyền trên sông thì công binh mới có thể hoàn tất nhiệm vụ của họ ở cánh quân bên phải của đoàn quân Liên bang.

Cuộc tấn công bắt đầu vào sáng sớm tháng 12. Vì phối hợp kém nên lệnh của tướng Sumner không được thực hiện trước 11 giờ sáng. Rất nhiều mệnh lệnh của tướng Hooker được thực hiện trước 4 giờ chiều. Chiến dịch tệ hại ngay từ khi mới bắt đầu. Chỉ có một lần, một tia hy vọng mong manh xuất hiện khiến quân Liên bang nghĩ mình có thể thành công. Đầu giờ chiều, thiếu tướng George Gordon Meade chỉ huy một sư đoàn thuộc cánh quân của tướng Franklin tiến sâu một đoạn ngắn vào tuyến phòng thủ của tướng Jackson chỉ để nếm mùi thất bại và rút lui sau một hồi phản công của đối phương. Từ vị trí chỉ huy của mình tại Telegraph Hill sau này được biết đến dưới cái tên Lee Hill, tướng Lee quan sát cuộc tấn công dữ dội của Liên minh, nghe tiếng quân nổi loạn reo hò đắc chí liền quay sang tướng Longstreet và bộc bạch: “Đúng là chiến tranh kinh khủng thật! Có lẽ ta đã quá kỳ vọng vào nó”.

Cuộc tấn công của tướng Hooker nhằm vào vị trí cố thủ của tướng Longstreet tại Marye’s Heights. Với tinh thần quả cảm phi thường, những người lính mặc áo xanh dương tấn công dữ dội. Đỉnh đồi ầm vang tiếng súng và mù mịt khói. Nhưng rồi đội hình của họ bị cắt ra thành từng mảnh nhỏ bởi súng hỏa mai của những lính bộ binh hỗ trợ cho pháo binh đang bắn chéo cánh xẻ. Vào lúc trời tối, tướng Hooker ngưng tấn công. Sau đó ông giải thích trong ngậm ngùi “nhận thấy đã mất quá nhiều binh sĩ phải chết dưới lệnh của tôi chỉ để chuốc lấy thất bại, tôi đã ngưng cuộc tấn công”. Hơn 12 ngàn lính Liên bang vừa chết vừa bị thương nằm trên những đỉnh đồi đỏ máu. Số thương vong của quân Liên minh cũng khoảng hơn 5 ngàn người. Đây rõ ràng là chiến thắng vang dội của quân Liên minh với số thương vong không đến nỗi trầm trọng.

Tức giận bởi thất bại, ông Burnside đề nghị đích thân dẫn binh đoàn của mình tiến công vào ngày hôm sau. Cuộc tấn công này được coi là cuộc tấn công tự sát vào vị trí quân Liên minh. Những người dưới quyền khôn ngoan can ngăn tướng Burnside đừng thực hiện ý định đó và thuyết phục ông nên nghỉ ngơi và đưa quân đội băng ngang qua sông Rappahannock. Ông làm theo. Ngày 15 tháng 12, ông đã rút lui thành công. Tướng Lee có thể đã mất một cơ hội hủy diệt hoặc làm thương vong thêm cho đội quân Potomac không phản công trong lúc vẫn còn ở phía Nam của dòng sông. Có thể ông đã làm được như vậy trong lúc đội quân ấy đang co cụm suốt hai ngày ngay giữa Fredericksburg, lúc này chỉ còn là một đống gạch vụn. Nhưng khi tướng Jackson nỗ lực đưa quân đội tiến lên phía trước trong lúc trời chập choạng tối của ngày đầu tiên, ông đã là mục tiêu của quân đoàn pháo binh đối phương bắn xối xả từ dãy đồi Stafford Heights. Thế là ông ngưng cuộc tấn công. Tướng Lee ra lệnh không được tấn công nữa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #66 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2010, 10:49:56 pm »


Trong lúc tướng Burnside đang đau đầu với những chiến dịch thảm họa ở Virginia, tướng Rosecrans và tướng Bragg đụng độ trong một cuộc đọ sức dữ dội nhưng thiếu quyết đoán giữa bang Tennessee. Tướng Rosecrans bấy lâu nay đóng quân ở Nashville để vơ vét lương thực, và lúc này bị làm cho tê liệt bởi những cuộc đột nhập của kỵ binh dưới quyền chỉ huy của tướng Bragg nhưng trực tiếp điều hành bởi hai ông Forrest và Morgan. Đầu tháng 12, với đe dọa sẽ bị cách chức vì hay chậm trễ, tướng Rosecrans phản ứng gay nếu cấp trên của ông không còn tin tưởng vào ông, họ phải ngay lập tức tìm người thay thế. Điều này không xảy ra. Cuối tháng 12, khi ông biết rằng ông Forrest đang sắp sửa tới miền Tây Tennessee và ông Morgan đến Kentucky. Ông tấn công quân đội Liên minh tại Murfreeboro chỉ cách đó 30 dặm về phía Đông Nam.

Tướng Bragg cũng đang chịu áp lực của cấp trên thúc giục ông hành động mạnh tay. Một tháng trước, Tổng thống Davis đưa tướng Johnston (sống nhàn hạ kể từ khi bị thương từ mùa hè trước) vào vị trí chỉ huy quân đoàn Liên minh Tennessee và Mississippi. Như vậy ông Johnston là chỉ huy trực tiếp của tướng Bragg. Ông ta có quyền đích thân ra lệnh cho quân đoàn Tennessee nếu như ông thấy như vậy là hợp lý. Tướng Johnston không làm như vậy, nhưng việc sắp xếp các vị trí chỉ huy mới xảy ra này khiến cho tướng Bragg cảm giác rằng mình nhất thiết phải chuyển biến.

Bối cảnh chiến sự tại miền Tây lúc đó cũng buộc ông phải ra quân. Các lực lượng của Liên bang lúc này đang uy hiếp một phần đất duy nhất thuộc sông Mississippi vẫn còn dưới quyền kiểm soát của quân Liên minh. Vùng đất này nằm giữa các thị trấn có các pháo đài che chở tại Vicksburg, Mississippi và pháo đài Hudson, Louisiana. Vì thế tướng Johnston đã nỗ lực gây dựng một đội quân dự bị cơ động có thể được sử dụng hoặc ở Tennessee hoặc ở Mississippi nếu chiến sự yêu cầu. Trong lúc đó đội kỵ binh của tướng Forrest quấy nhiễu phòng tuyến của quân Liên bang, đánh phá các con đường huyết mạch giúp đưa quân đội của họ đến Mississippi. Tướng Bragg quyết định tấn công một đòn chí tử giúp vừa chuyển đổi tình thế vừa đảm bảo an toàn cho quân đoàn của ông ta. Vào ngày cuối cùng của năm, ông đã làm như vậy trong một động thái chứng tỏ ông đã biết trước và sẵn sàng đánh bại kế hoạch tấn công của tướng Rosecrans.

Ngày 31 tháng 12, khi bình minh vừa ló dạng, đội quân của tướng Bragg và tướng Rosecrans (tướng Bragg với 38 ngàn quân, tướng Rosecrans với 34 ngàn quân) đụng độ tại vị trí cách Murfreeboro một dặm về phía Bắc. Mỗi viên tướng đều lên kế hoạch tấn công. Nỗ lực chính là bao vây đánh thọc vào sườn phải của đối phương. Khi trận chiến ngày càng ác liệt, cả hai đội này đều ở thế gọng kìm trên con đường tiến về Nashville Turnpike và đường sắt từ Nashville, đồng thời tiến đến sông Stone, một con sông rộng 30 bộ song song với dãy đồi và đường sắt. Tướng Bragg tấn công trước. Với quân đoàn của tướng Hardee chỉ huy, thực hiện nỗ lực chính của cánh quân bên trái và binh đoàn tướng Polk hỗ trợ. Quân Liên minh vòng về phía sau đội hình chính của quân Liên bang nằm ở phía Tây con sông. Khi mặt trời đứng bóng, đội quân này đã uy hiếp cửa ngõ vào Nashville. Đây là con đường duy nhất dành cho quân tiếp viện và tiếp tế lương thực cho tướng Rosecrans. Chỉ huy lữ đoàn quân Liên minh Joseph Wheeler dẫn đầu toán kỵ binh tấn công vào cánh quân phía sau.

Giờ đây tướng Bragg ra lệnh cho sư đoàn Fredericksburg, (đang cố thủ ở phía đông con sông canh chừng bất cứ cuộc tấn công nào của quân Liên bang tại đây) đến chi viện cho cuộc tấn công ở phía tây con sông. Cuộc chiến đấu ác liệt nhất diễn ra buổi chiều ngay tại góc của đội hình quân Liên bang. Nơi đây là vị trí cố thủ của lữ đoàn dưới quyền chỉ huy của tướng Thomas. Vị trí cố thủ này có nhiều bụi cây tuyết tùng dày đặc bao quanh. Người ta gọi đó là Round Forrest, một vị trí có thể kiểm soát đường xe lửa và cả cửa ngõ qua Nashville. Phòng tuyến của Liên bang vẫn kiên cường chống trả. Cuộc tấn công của Liên minh mất đi xung lực và tướng Bragg mất đi thế chủ động chiến thuật.

Cả hai đội quân suốt ngày hôm sau nghỉ ngơi, tổ chức lại lực lượng và chuẩn bị tiếp tục chiến đấu. Ngày 02 tháng 01, tướng Bragg lùi lại phía tây của con sông. Lực lượng của quân Liên bang được chỉnh đốn đội hình đội ngũ ở đó nhưng cuộc tấn công không có ai hỗ trợ được tiến hành vào lúc chiều muộn bị bẽ gãy với con số thương vong lớn. Sở dĩ như vậy là có một đơn vị pháo binh của Liên bang nã đạn dồn dập vào một vị trí chiến lược nằm ở phía tây con sông. Trận giao chiến lớn nhất thế là kết thúc. Rosecrans được tiếp viện từ Nashville vào ngày hôm sau trong lúc tướng Bragg cố và suy tính liệu có nên tiếp tục tấn công hay không. Đêm đó tướng Bragg bắt đầu rút lui dọc theo con đường sắt tới Tullahoma, Tennessee cách đó 30 dặm về phía Nam và ở phía Đông Murfreeboro.

Về mặt chiến thuật, trận chiến sông Stone (Liên minh gọi là Murfreeboro) là một bước lùi gây thiệt hại nặng nề cho cả hai bên. Quân Liên bang có 13 ngàn người, cả chết, bị thương và mất tích. Tương tự, thiệt hại giống như vậy của Liên minh là 12 ngàn. Có người nói cuộc tấn công này là một thắng lợi của quân Liên bang. Ông Grant cay đắng bảo: chỉ vài trận thắng kiểu này chắc sẽ thua cả cuộc chiến. Mặc dù quyết định của tướng Bragg là rút lui đã được phê chuẩn bởi cả hai viên tướng chỉ huy quân đoàn dưới quyền ông, hai người này đều coi cách chỉ đạo của ông là thiếu quyết đoán và không dứt khoát. Nhưng nó cũng cho thấy một tình tiết nữa trong tiểu sử quá trình sa sút của ông Bragg trên cương vị một vị tướng chỉ huy quân đội, đồng thời cũng cho thấy sự suy vi chính quân đoàn Tennessee.

Theo bức tranh toàn cảnh, cuộc chiến Murfrechoro là một chiến thắng chiến lược quan trọng đối với Liên bang bởi vì nó đã đưa một cánh quân hùng mạnh đánh thẳng vào nhà ga quan trọng bậc nhất của Liên minh tại Chattanooga. Nó cũng quan trọng bởi nó làm nức lòng dân chúng và quân đội Liên bang. Tổng thống Lincoln bày tỏ lòng biết ơn của mình với tướng Rosecrans bằng cách coi đó là “một chiến thắng dày công mới có được dù có người cho là thất bại, nhưng quốc gia vì nó có thể trường tồn”. Nhưng trong những tuần tiếp theo, ngay cả khi ông Rosecrans ở Murfreeboro và ông Bragg ở Tullahoma trong các doanh trại mùa đông. Cuộc tấn công của Liên bang tại Tennessee đã phải trì hoãn vô hạn định, với quân đội của ông Bragg từ chối không tấn công vào mục tiêu chính của Liên bang là Chattanooga.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #67 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2010, 10:50:50 pm »


Nỗ lực của Liên bang đảm bảo phần đất còn lại phòng tuyến thuộc sông Mississippi cũng phải rút lui. Sự đình hoãn này kéo dài đến tận cuối năm. Vào cuối mùa thu, tướng Grant điều động một đội quân đi theo đường bộ hướng về phía Grenada, Mississippi thiết lập một căn cứ của ông tại Holly Springs trên tuyến đường sắt trung tâm Mississippi dẫn tới Jackson và New Orleans. Đầu tháng 12, ông cử một đoàn viễn chinh dưới sự chỉ huy của tướng Sherman (lúc này đã là thiếu tướng) theo đường thủy tiến từ Memphis. Cuộc viễn chinh theo chặng đường dài nhanh chóng là nạn nhân của những cuộc tấn công bằng kỵ binh của Liên minh khi tướng Forrest nỗ lực phá hủy đường sắt của Liên bang. Con đường liên lạc bằng thư tín tại Tennessee. Tướng Van Dorn ngày 20 tháng 12, đưa quân tràn xuống các vị trí của quân Liên bang tại miền Bắc Missisippi để chiếm giữ và phá hủy căn cứ Holly Springs. Chín ngày sau nỗ lực của ông Sherman nhằm chiếm cứ Vicksburg bằng cách di chuyển quân đội trên các phương tiện vận chuyển dọc sông Yazoo phía bắc thành phố và tấn công từ điểm này đã gặp phải sự chống trả quyết liệt tại Chickasaw Bluff, một vị trí nhìn xuống bờ nam của dòng sông. Tướng Grant giờ đây đưa ra một quyết định quan trọng: chuyển hướng tấn công xuống sông Mississippi dù quân Sherman đã thất bại ở đây. Trong lúc những con đường sắt dài dằng dặc tỏ ra quá lộ liễu, dòng sông lớn lại là một con đường giao thông không thể phá hủy. Nhưng tại thời điểm đó và nhiều tháng sau đó, Vicksburg vẫn nằm gọn trong vùng kiểm tỏa của quân Liên minh.

Đối với Tổng thống Lincoln, tháng 12 là một tháng ảm đạm kéo dài. Từ khắp các chiến trường, điện tín mang về những thông tin thất bại của quân Liên bang. Lời tuyên bố chiến thắng của ông Rosecrans tại Murfreeboro vào đầu tháng một, không đủ để xua tan tâm trạng u ám này. Chỉ có một chiến thắng rõ ràng tại Virginia mới có thể thay đổi tâm trạng của Tổng thống. Lúc này ông Burnside bày ra một kế hoạch là: qua dòng sông Rappahannock ngay phía trên Fredericksburg để có thể làm lung lạc vị trí không thể tấn công của tướng Lee ở đây. Nhưng các tướng chỉ huy quân đoàn thuộc binh chủng Potomac, phản đối trực tiếp lên Tổng thống Lincoln. Tổng thống lúc này đã mệt mỏi và quay sang tướng Halleck hỏi ý kiến xem nên chấp nhận hay bác bỏ kế hoạch này. “Kĩ năng quân sự của ông sẽ là vô dụng đối với tôi nếu ông không làm điều này”.

Khi tướng Halleck đe dọa thà từ chức chứ không ra lệnh trực tiếp cho Burnside dựa trên ý kiến đồng ý hoặc bác bỏ của ông này, Tổng thống Lincoln mặc cho Burnside quyết định. Cuối tháng 01, quân đoàn Potomac bắt đầu cuộc hành quân tai hại đến Rappahannock. Cuộc hành quân của ông Burnside sau này nổi tiếng với cái tên Mud March “cuộc hành quân trong bùn lầy” đã sa lầy và kết thúc với việc hạ trại mùa đông tại Aquia Creek trên sông Potomac. Những lần bất hòa và đổ lỗi cho nhau chia rẽ đội quân này. Người khích động sự chia rẽ chính là ông Hooker. Ông này công khai chỉ trích ông Burnside là bất tài, Tổng thống Lincoln là khờ dại. Ông ta tuyên bố nước Mỹ cần một nhà độc tài mới có thể chiến thắng. Khi ông Burnside nỗ lực xoa dịu viên chỉ huy quân đoàn không chịu phục tùng này, Tổng thống Lincoln lại đứng ra làm trung gian hòa giải và xoa dịu Burnside. Về phần mình, Tổng thống Lincoln đã có một quyết định tai hại khi bổ nhiệm một ông Hooker bất mãn và hay gắt gỏng.

Chính Tổng thống Lincoln hiểu rất rõ những rủi ro khi bổ nhiệm tướng Hooker. Điều này thể hiện trong bức thư của ông gửi cho ông Hooker. Ông nói với ông Hooker rằng ông buộc phải chỉ định ông này vì những lý do ông cho là đúng đắn. Trong những lý do đó có niềm tin của ông rằng: ông Hooker là một quân nhân tài năng và dũng cảm. Và theo lời ông Lincoln “trong những giới hạn có thể chấp nhận được, mang tới phúc nhiều hơn họa”.

Tổng thống Lincoln chỉ trích viên tướng này đã để cho tham vọng của mình thành vũ khí chống lại ông Burnside. Trong việc này, theo lời Tổng thống Lincoln, ông Hooker đã quá sai trái đối với quốc gia và với sĩ quan cấp trên của mình. Tổng thống Lincoln cho ông Hooker biết ông hiểu quan điểm của vị tướng này về nhu cầu của quốc gia cần một nhà độc tài. Tổng thống nói “tất nhiên, không phải vì lời nói đó, mà bởi tôi không để ý tới nó, nên tôi mới cho anh quyền chỉ huy”. Sau đó ông châm biếm tế nhị “chỉ có tướng thành công mới có thể đủ sức phụng sự lãnh đạo độc tài. Giờ yêu cầu ông hãy thành công trên chiến trường, được như vậy tôi sẽ mạo hiểm là độc tài thử xem sao”.

Tổng thống Lincoln tiếp tục bày tỏ rằng ông lo sợ thói quen chỉ trích và hay ngăn trở mà ông Hooker đang dung dưỡng quân đội của mình, một ngày không xa, sẽ “gậy ông đập lưng ông”. Tổng thống Lincoln hứa hỗ trợ ông dập tắt làn sóng chỉ trích và cản trở chỉ huy ấy, bởi vì ông cảnh cáo “không ai dù là anh hay Napoleon đội mồ sống dậy có thể làm được bất cứ điều gì tốt đẹp với một đội quân đang có tinh thần ấy lan tràn khắp nơi”. Nhằm khuyên ông Hooker nên kiềm chế về mọi mặt, Tổng thống Lincoln thuyết phục ông Hooker hãy để ý chớ nên hấp tấp nhưng “với năng lực và sự thận trọng không ngừng, hãy tiến lên và mang về cho chúng tôi chiến thắng”. Ông Hooker vui vì Tổng thống không hề nghi ngờ gì vào khả năng của ông trong việc giành chiến thắng.

Là một quân nhân từng tốt nghiệp trường West Point và là người có thể lực mạnh khoẻ cường tráng, ông đã từng chiến đấu nổi bật tại chiến tranh Mehico, nhưng sau này ông từ chức và định cư tại California. Được bổ nhiệm làm chỉ huy lữ đoàn quân tình nguyện vào đầu cuộc nội chiến, ông được thăng chức bởi tài lãnh đạo hăng hái trong những trận chiến mở đầu ở Virginia. Là một tướng chỉ huy lữ đoàn giỏi, ông được người ta gọi thân mật là “Joe Hooker hiếu chiến” - Fighting Joe Hooker. Mặc dù thật ra cái tên ấy bắt nguồn từ một lỗi của thợ sắp chữ của một tờ báo. Người thợ đã quên không bỏ dấu phẩy vào một thông điệp gửi nhanh Fighting, Joe Hooker: “Hãy chiến đấu đi nào, Jo Hooker”. Tướng Hooker giờ đây trở lại cương vị lãnh đạo với nghị lực vô song. Mùa xuân năm 1863, quân đoàn Potomac mạnh mẽ với 134 ngàn quân sẵn sàng tiến bước.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #68 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2010, 10:51:47 pm »


Kế hoạch cho chiến dịch sắp tới của tướng Hooker tương tự kế hoạch sắp thất bại trước đó của tướng Burnside nhưng được tính toán kỹ hơn. Tướng Hooker giữ chân quân đội của tướng Lee tại Fredericksburg bằng cách đe dọa đội quân này với hai quân đoàn thuộc đội quân Potomac dưới sự chỉ huy của thiếu tướng John Sedgwick. Trong lúc ấy, đội kỵ binh của Liên bang 12 ngàn người tập trung lần đầu tiên dưới quyền chỉ huy của tướng George Stoneman, dàn quân bên cánh trái Liên minh và tấn công sâu từ phía sau để chia cắt hoặc đe dọa con đường huyết mạch phía trên Richmond. Lúc đó tướng Hooker dẫn đầu cánh quân chủ lực được tổ chức thành năm quân đoàn dưới sự chỉ huy của năm thiếu tướng tài (Darius N. Couch, Meade, Henry W. Slocum, Oliver O. Howard và Daniel E. Sickles) vượt sông tại địa điểm phía trên Fredericksburg tấn công vào con đường huyết mạch của tướng Lee ngay phía sau quân Liên minh.

Những chiến dịch này sẽ buộc tướng Lee phải bỏ vị trí bất khả chiến bại của ông ta trên dãy Height Marye và rút lui về tuyến phòng thủ Richmond hoặc sẽ bị tiêu diệt ngay từ đầu nhờ cuộc tấn công của Liên bang có sức mạnh áp đảo. “Tôi có một quân đội tinh nhuệ nhất trên đời. Kế hoạch của tôi hoàn hảo. Và khi tôi bắt đầu thực hiện chúng, tướng Lee sẽ phải kêu trời vì tôi sẽ không thương tiếc ông ta” - Viên tướng của Liên bang tin như vậy.

Vị trí của tướng Lee lúc này quá yếu ớt và lộ liễu. Lo lắng vì những lời đe dọa mới đây của quân Liên bang từ bán đảo Virginia và tình trạng thiếu thực phẩm trầm trọng bởi khu vực của ông vừa bị đánh phá, tướng Lee lợi dụng quân Liên bang không còn gây sức ép sau trận Fredericksburg để cử tướng Longstreet cùng hai lữ đoàn đến bảo đảm cho Richmond không rơi vào tay quân Liên bang, đồng thời đánh phá phòng tuyến tại Bắc Carolina. Tướng Lee định mang những đội quân này trở về với quân chủ lực theo đường tàu hỏa để kịp lúc đón đầu cuộc tiến quân của một viên tướng Liên bang. Ông ra lệnh cho tướng Longstreet chuẩn bị một cuộc di chuyển quân như vậy.

Quyết định chia nhỏ quân đội của Liên minh là một sai lần to lớn. Kế hoạch tái tập trung thất bại. Tướng Longstreet bị giam hãm trong vòng vây của quân đoàn Liên bang ở Suffolk, Nam Richmond. Tướng Hooker di chuyển nhanh hơn như dự đoán. Và tướng Longstreet không thể phá vây kịp lúc để kết hợp với quân chủ lực. Tướng Lee vấp phải sự công kích dữ dội của tướng Hooker với một đội quân bị yếu đi rất nhiều, quân đoàn Bắc Virginia, một lực lượng chỉ còn khoảng 60 ngàn quân.

Bắt đầu ngày 27 tháng 4 những cuộc tiến quân đầu tiên của tướng Hooker xuôi chèo mát mái. Nhất thời, tướng Lee chưa thể đoán ra ý định của ông với đội quân kỵ binh của Liên bang đang triển khai và tướng Sedgwick đang băng qua sông Rappahannock tại cầu phao Fredericksburg, đội quân chủ lực lội qua khúc sông cạn tại rất nhiều điểm phía trên thị trấn và hành quân nhanh chóng trên những con đường quê, băng qua những khu vực cây cối rậm rạp được biết đến với cái tên Vilderness. Nếu lực lượng tấn công có thể băng ngang qua vùng này mà không bị cản trở và tiến vào khu vực thành phố đang bỏ ngỏ, nó sẽ ở ngay sau quân đội của tướng Lee, và vị trí của ông này nhất định phải thay đổi.

Nhưng chuyện đó không xảy ra: Trong lúc quân kỵ binh của Liên bang ở rất xa, tướng Lee có trong tay đội kỵ binh của nình dưới quyền chỉ huy của ông Stuart. Đội kỵ binh này đã do thám từ trước và sớm biết chiến dịch của Liên bang. Tướng Lee phản ứng rất nhanh và dũng cảm bằng cách ra lệnh sư đoàn duy nhất, dưới quyền chỉ huy của thiếu tướng Richard H. Anderson, một cánh quân của tướng Longstreet hành quân về phía Tây dọc theo cửa ngõ Orange và chặn đứng bước tiến của quân Liên bang bằng cách phản công mãnh liệt từ những công sự được đào trước đó. Trong lúc ấy, tướng Lee bắt đầu đưa toàn bộ quân đoàn của ông ta tới đây, chỉ để lại tướng Jubal A. Early với 10 ngàn quân cố thủ Marye’s Heights.

Ông Anderson thiết lập một phòng tuyến bên ngoài nhà thờ Tabernacle cách Fredericksburg 6 dặm về phía Tây và chặn đứng bước tiến của quân tiên phong Liên bang (lữ đoàn của tướng George Syke thuộc quân đoàn tướng Meade) ngay tại điểm này. Khi quân của tướng Jackson đi đúng hướng mình tiên đoán, tướng Lee triển khai phòng thủ quân Liên bang về phía bắc và nam nhưng lại không thể tránh được việc cánh quân hai bên sườn không được che chắn. Cuộc tổng tấn công của tướng Hooker mở màn vào buổi sáng ngày 01 tháng 05. Có lúc nó tiến triển cực kỳ tốt. Trong lúc hai tiểu đoàn của tướng Couch và Slocum đụng độ với quân Liên minh và giữ chân họ tại chỗ, quân đoàn của tướng Meade tiến vào khoảng trống giữa cánh quân bên sườn phải Liên minh và dòng sông mà không gặp trở ngại nào. Tướng Lee dường như đã bị sập bẫy.

Chính sự táo bạo của tướng Hooker khiến ông ta thất bại. Chiến dịch tiến hành một cách mù quáng bởi vì quân kỵ binh chưa tới. Ông không còn tin vào kế hoạch của mình nữa và ra lệnh cho các chỉ huy các cánh quân rút lui sâu vào vùng ngoại ô Chancellorsville. Dù bất bình, những viên tướng chỉ huy này vẫn tuân lệnh.

Buổi tối, tuyến phòng thủ quân Liên minh được hình thành với cánh quân bên trái đóng ở Rappahannock. Cánh quân giữa ở Chancellorsville. Cánh quân phải không chịu nghe lệnh chỉ huy đã rút lui sâu vào khu Wilderness về phía Tây. Khi quân Liên bang rút lui và bắt đầu đào công sự, một phòng tuyến của quân Liên bang ngắn hơn đã tiến lên và tập trung tại nơi đối diện với phòng tuyến quân Liên bang tại Chancellorsville. Trong lúc ấy, kỵ binh của Liên bang dàn thành một lá chắn bảo vệ cho hai bên sườn quân Liên bang, do thám của Liên minh phát hiện một trong những cánh quân ấy rất sơ hở. Tướng Stuart đã báo cáo với tướng Lee.

Hiểu tướng Hooker quá ngạo mạn mới không để ý tới việc phòng thủ như vậy, tướng Lee nghĩ rằng mình đang nắm thế chủ động. Đêm đó ông cùng Jackson đề ra một trong những kế hoạch tiến quân táo bạo nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại. Họ cùng lên kết hoạch tấn công. Jackson lãnh đạo cuộc tấn công này, thọc sâu vào bên sườn hở của tướng Howard. Trong lúc đó tướng Lee và đám quân còn lại sẽ giữ chân quân đội Liên bang tại vị trí cố thủ. Khi tướng Jackson đề nghị đưa toàn bộ quân đội của ông gồm 26 ngàn người đi tấn công, bỏ lại 17 ngàn người đối phó với 73 ngàn người của tướng Hooker. Tướng Lee ngần ngại. Nhưng theo ông Freeman, “máu hiếu chiến” trong huyết quản tướng Lee sôi sục. Suy nghĩ một lát, tướng Lee lặng lẽ nói: “Tốt lắm. Cứ thế mà làm!”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #69 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2010, 10:52:49 pm »


Ngày 02 tháng 05, khi bình minh vừa ló dạng Jackson cùng quân đội hành quân theo con đường mòn được che chở bằng một rừng cây dày đặc trong rừng, rồi đột ngột xuất hiện trên con đường Brock cho tới khi đến được Orange Turnpike gần Wilderness Tavern. Lính tuần tra của Liên bang có báo về cuộc di chuyển này nhưng tướng Hooker lại tưởng đó là cuộc rút lui và phái tướng Sickles truy đuổi. Đội quân này đã bị cánh quân phía sau Jackson chặn lại. Trinh sát đoạn đường phía trước toán quân của mình, tướng Jackson lên kế hoạch tấn công làm ba đợt nhằm quét sạch suốt chiều dài tuyến phòng thủ của Howard.

Đợt tấn công dữ dội nổ ra vào buổi chiều cùng ngày. Hươu nai và thú hoang chạy tán loạn khỏi nơi ẩn nấp. Bị tấn công bất ngờ vào cánh quân bên sườn, hai lữ đoàn quân Liên bang được cử xuống con đường đi ngang qua trụ sở của Hooker tại Chancellorsville. Cuộc tấn công dữ dội của quân Liên minh đe dọa đánh tan tác đội quân còn lại của Liên bang. Nhưng bóng đêm đã che chở cho quân Liên bang. Và quân Liên minh, hàng ngũ hỗn loạn đã phải dừng tấn công ngay trước nửa đêm. Để quyết định phải đánh cho quân Liên bang tan tác tách rời khỏi con đường chờ quân tiếp viện, hoặc rút lui, Jackson cưỡi ngựa đi do thám tình hình.

Ông cùng một tùy tùng khi quay trở lại phòng tuyến mình, đã bị tưởng nhầm là kỵ binh Liên bang. Thế nên Jackson bị một loạt đạn của lính gác Liên minh. Ông bị thương nặng ngay lúc cao trào của một chiến dịch ngoạn mục do chính ông thực hiện. Quyền chỉ huy của Jackson được chuyển sang cho A. P. Hill, một sĩ quan chỉ huy lữ đoàn kỳ cựu. Khi ông Hill bị thương cũng ngay trong đêm ấy, quyền chỉ huy được chuyển giao cho Stuart. Nhưng cuộc tấn công rời rạc tiếp tục trong đêm. Trong khu rừng rậm rạp Wilderness, chỉ huy Stuart đề ra kế hoạch tiếp tục tấn công vào bình minh.

Quân Liên minh tiếp tục tấn công chiếm địa hình chiến lược Hazel Grove, một quả đồi nhỏ ngay phía Nam giao lộ lúc này bị quân Liên bang bỏ ngỏ theo lệnh của tướng Hooker. Pháo binh Liên minh tại Hazel Grove bắn vào tuyến phòng thủ của Liên bang. Vị trí này là yếu điểm, là nơi tập kết của cánh quân kết hợp giữa quân của tướng Stuart với số quân còn lại của Liên minh dưới quyền chỉ huy trực tiếp của tướng Lee. Tại trụ sở của mình tại Chancellorsville tướng Hooker càng lúc càng thêm lo sợ bởi thông tin mật báo liên tục được đưa về cho ông biết tiến trình cuộc chiến.

Một sự kiện xảy ra vào giữa buổi sáng ngày hôm sau đã làm tiêu tan nhuệ khí còn lại trong lòng viên tướng Liên bang. Một quả đạn đại bác của Liên minh từ Hazel Grove trúng cột trụ tướng Hooker đang dựa lưng khiến ông choáng váng. Không chịu từ bỏ mệnh lệnh đã đưa Rappahannock, ông bác bỏ lời thúc giục của các chỉ huy quân đoàn và ra lệnh thực hiện một kế hoạch ông đã nghĩ ra đêm hôm trước là rút lui quân đội ra khỏi vị trí cố thủ về phía sau thị trấn Chancellorsville. Đến lúc này hi vọng của tướng Lee về một chiến thắng đã bị đảo lộn bởi thông tin từ chiến trường khác. Ông Sedgwick, phản ứng lại lệnh của tướng Hooker của ngày hôm trước, đã tấn công không ngừng vào cánh quân của tướng Early ở Fredericksburg trong suốt buổi sáng ngày 03 tháng 03, ông ta đánh bật quân Liên minh ra khỏi vị trí cố thủ của mình và đe dọa cánh quân chủ lực của tướng Lee từ phía sau. Một lữ đoàn duy nhất dưới quyền chỉ huy của thiếu tướng Lafayette, thuộc cánh quân của tướng Longstreet, được tướng Lee cử đi, đã giữ chân Sedgwick tại nhà thờ Salem. Tiên đoán tướng Hooker sẽ vẫn thụ động với cánh quân chủ lực của Liên bang, tướng Lee tìm cách lợi dụng phòng tuyến phía trong, đến lượt ông, tấn công kẻ thù đang bị chia nhỏ.

Bỏ mặc ông Stuart với 25 ngàn quân đi chặn bước tiến của quân Hooker ra lệnh cho tướng Early và quân đội với tướng McLaws, tướng Lee kết hợp hai cánh quân này cùng với một lữ đoàn của Anderson thực hiện cuộc tấn công vào buổi chiều ngày 04 tháng 05 vào lực lượng đang bị cô lập của Sedgwick. Ước đoán của Tướng Lee về động thái của Hooker là chính xác. Viên tướng chỉ huy quân Liên bang này vẫn còn đang nhàn hạ và lãng phí một cơ hội giành chiến thắng. Hành động táo bạo của tướng Lee đã xóa đi mối đe dọa từ phía sau. Nhưng ông ta không thể đạt được mục đích này bằng cách triệt hạ tướng Sedgwick. Ông Sedgwick chiến đấu rất ngoan cường và đã thoát khỏi vòng vây bằng cách rút lui dọc theo con sông ngay trong đêm.

Giờ đây tướng Lee tập trung quân đội và quyết định giáng một đòn chí tử vào tướng Hooker. Trong đêm ngày 05 tháng 05, tướng Hooker một lần nữa lại bác bỏ lời đề nghị của các tướng chỉ huy quân đoàn (họ muốn được tiếp tục chiến đấu) và ra lệnh cho quân đoàn Potomac rút lui ra xa dòng sông Rappahannock. Khi Liên minh tiến quân vào buổi sáng ngày mùng 06 tháng 05, họ thấy phòng tuyến của quân Liên bang bỏ ngỏ. Trận chiến với số lượng hùng hậu ở Chancellorsvilie kết thúc. Quân Liên minh chịu con số thương vong khoảng 13 ngàn người, quân Liên bang 17 ngàn người.

Trận Chancellorsville có một không hai. Không như bất cứ trận chiến nào của nội chiến, nó đại diện cho chiến thắng của các tướng Lee và Jackson đối với tướng Hooker. Vào đầu cuộc chiến Fredencksburg, đội quan Potomac đã bị chặn đánh và thất bại. Đến cuối cùng nó vẫn có khả năng và vẫn sẵn lòng chiến đấu. Về mặt lý thuyết, tướng Hooker nếu táo bạo vẫn có thể chiến thắng. Hai tướng Lee và Jackson, dũng cảm, hiểu thấu tình hình và sự nhanh trí của họ trong lúc cuộc chiến còn đang hỗn loạn, hoàn toàn tương phản với sự yếu đuối và dao động của tướng Hooker. Trên cương vị là chỉ huy quân đoàn, tướng Hooker vận dụng hết tài năng của mình. Nhưng khi ở vị trí chỉ huy tối thượng, ông lại dao động ngay vào giờ khắc quan trọng nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM