241. “Richelieu”
“Richelieu” trở thành tàu đầu tiên trong dòng bốn tàu chủ lực, được đóng theo kế hoạch từ năm 1935 đến 1938, nhưng khi bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai, mới chỉ có duy nhất nó hoàn thiện. Hạ thủy tháng 3 năm 1940, sau khi ký kết sự đầu hàng, “Richelieu” rời khỏi Pháp và năm 1942 đã liên kết với các lực lượng đồng minh ở Viễn Đông. Tàu đã nằm trong thành phần biên chế Hải đoàn bao gồm các tàu chủ lực “Valiant”, “Hope” và “Queen Elizabeth”, tàu tuần dương chủ lực “Renown” và tàu sân bay “Victorious”, “ Illastrious” và “Indomitable”. “Richelieu” phối hợp với các tàu sân bay trong các cuộc tập kích Java, Sumantra và các quần đảo khác bị đối phương chiếm đóng trên Ấn Độ Dương. Năm 1943, tàu được sửa chửa hoàn toàn tại Mỹ, lắp thêm rada và gần 100 pháo phòng không tự động. Từ năm 1944 cho đến cuối chiến tranh, “Richelieu” nằm trong biên chế Hải quân Hoàng gia Anh. Sau đó, tàu chủ lực tham gia các hoạt động quân sự của Pháp tại Đông Dương. Năm 1959, “Richelieu” bị loại khỏi biên chế Hải quân và kéo tới bến đỗ, năm 1964, tàu bị tháo dỡ.
Các thông số chính:Quốc gia sở hữu: Pháp
Thủy thủ đoàn: 1670 người
Lượng choán nước: 47 000 tấn (hoàn toàn)
Kích thước: 247,85x33x9,63
Tầm hoạt động: 11 000km (6000 dặm) với tốc độ 12 hải lý
Bọc thép: thân: 343-250mm (13,5-9,75 inch); tháp pháo chính: 445-170mm (17,5-6,75 inch)
Trang bị: 8 pháo 380mm (15 inch) và 10 pháo 152mm (6 inch)
Thiết bị động lực: tuabin bốn trục
Tốc độ: 30 hải lý.
