Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:38:41 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cõi người  (Đọc 44991 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #30 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:32:38 pm »

TÂN TRÀO HÀ NỘI
Liệu cố gắng khôi phục lại thói quen ghi chép. Tròn một năm ngày vượt ngục Nghĩa Lộ, ông hoàn thành bản thảo về sự kiện “dậy non” kia. Có những đau xót, phân tích, nhận lỗi về phần mình. Có những dí dủm, tức cười dọc đường… Bao điều cần phải ghi ngay, toàn chuyện chả phải chỉ trọng đại với mình ông, mà hên quan đến những vận mệnh rất lớn. Mà từng tí một, Liệu nhận ra cái trí nhớ, vốn là niềm tự hào, đang phản bội lại mình. Cú ngã năm nào ở Côn Đảo dầu sao cũng để lại dư chấn trên đầu…
Nhưng chả thể tỷ mẩn nhặt, ghi lại hết. Ông đang sẵn quá giấy bút, vài tờ báo trong tay để thỏa mãn chí lập ngôn. Nhưng cái trong tù cực nhiều, là thời gian, thì lại không. “Cái gạch nối” giữa hai thời kỳ tự do và lưu đày có lẽ là những bộ “com lê”. Quần tây sáng, áo vét, sơ mi trắng thắt cravate làm Liệu nhớ bộ trong tù, cả trăm thằng “đồng phục”, khác nhau cái số má.
Chuyến xuôi sông Hồng vô sự. Miền xuôi đón họ với một trật tự khá hỗn loạn. Trên đường phố, lính Nhật rầm rập lê sáng lòe. Trong các căn nhà, báo Cứu Quốc của Mặt trận Việt Minh được truyền tay nhau đọc. Mạng thông tin, chủ yếu qua radio, đưa dồn dập việc quân đội Đồng Minh từ Normandie tiến về phía Tây châu Âu, đạo quân Quan Đông thất thủ ở Mãn Châu Lý. Trong trụ sở Cứu Quốc ở Đại Mỗ, Liệu cùng Xuân Thủy soạn lại tin tức, viết những bài kêu gọi chống phát xít.
Cơ sự xoay vần quá nhanh. Phát xít đầu hàng Đồng Minh. Các đô thị lớn cực kỳ mong manh, chả lực lượng nào có quyền lực thực sự. Trong khu rừng lớn có cây đa trùm rợp ở Tuyên Quang, Việt Minh tổ chức Đại hội Quốc dân, nội dung chính là tiến về xuôi nắm lấy chính quyền. Tất tả lên Tân Trào, Liệu nghe nhiều chuyện về Nguyễn Ái Quốc, nhiều người bảo giờ là Hồ Chí Minh. Rằng đã bôn ba nhiều nước, chí hướng giành độc lập, tự do cho dân tộc lớn lắm. Rằng đã về nước năm bốn mốt, ở trong cái hang thẳm trên Cao Bằng chỉ huy cách mạng, gây dựng lực lượng. Ông Cụ rất tích cực tìm kiếm sự hỗ trợ bên ngoài, đem viên phi công Mỹ lái cái máy bay bị Nhật bắn rơi sang tận Trùng Khánh trao trả Đồng Minh. Sự trợ giúp rút cục khá nhỏ nhoi: người Mỹ chỉ cử đội biệt kích “Con nai” do một thiếu tá chỉ huy sang huấn luyện quân sự. Có một việc nhỏ làm hiện ra trong mắt các đồng chí một ông Cụ thật lịch lãm: mấy chị hậu cần lo sốt vó khi được giao tổ chức một buổi tiệc đãi bạn. Ăn uống gì, hút gì, ở đâu…, trao đi đổi lại mãi không ra. Ông Cụ bảo đem con bê về, ra suối thui chín, để xấp dao bên cạnh, tất nhiên kèm rượu cognac. Đây có lẽ là một bữa ăn nhô đời với thiếu tá Thomas và đội “Con nai”.
Đêm 13-8, trong một căn nhà lợp lá, tôi được đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) ủy quyền cho thảo bản Quân lệnh số 1 của Uỷ ban Khởi nghĩa. Mặc dù ngồi dưới ngọn đèn tù mù những con tầm xuân, con thiêu thân bay quanh tới tấp, muỗi và dĩn thi nhau đốt làm tôi nhiều lúc nẩy người lên hay đập chân phành phạch, tôi vẫn say sưa nghĩ đến cảnh mất nước, dân nhục từ tám mươi năm, nghĩ đến sự nghiệp cách mạng của mấy thế kỷ qua; những cuộc khởi nghĩa của Văn thân, của Việt Nam Quốc dân Đảng cho đến ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Mình được sung sướng làm cái việc “nửa đêm truyền hịch hẹn ngày xuất quân”… Bản Quân lệnh số 1 lúc ấy tôi thảo ra một mạch, đọc đi đọc lại vẫn không sửa chữa một chữ nào. Viết xong tôi trao cho anh Văn. Nhìn anh tôi nghĩ đến những ngày gặp nhau ở báo Le Travail, tôi mỉm cười nghĩ thầm: Chàng “bạch diện thư sinh” này đã trở thành một viên tướng rồi ư? Thế là cuộc tổng khởi nghĩa đã phát động. Uỷ ban Khởi nghĩa chỉ còn chờ chính thức hóa tại Đại hội Quốc dân.
(Hồi ký Trần Huy Liệu. NXB Khoa học xã hội. 1991)

Liệu thấy thân phận mình được “cải thiện” từng bước. Cùng Nguyễn Lương Bằng, Phạm Văn Đồng, Dương Đức Hiền ngồi chủ tịch đoàn điều khiển Quốc dân Đại hội ở đình Tân Trào. Được cử làm Phó Chủ tịch Uỷ ban Dân tộc Giải phóng, sau đổi ra Chính phủ Lâm thời. Ông về Thủ đô Hà Nội giữa rừng cờ và biểu ngữ đón chào, lòng hân hoan không thể tưởng. Và cũng không thể tưởng trong niềm hân hoan ấy lại có những lẽ, những nỗi không thể tưởng ra.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #31 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:36:52 pm »

HUẾ
Chưa kịp cảm nhận về một Hà Nội cách mạng, nơi mình ra đi trong cái đêm giá buốt để lên Sơn La, Liệu bù đầu trong đống việc của Chính phủ Lâm thời. Rốt lại, là ông chả giải quyết được bao nhiêu. Từ Trung Bộ có điện tín hoàng đế Báo Đại xin thoái vị, đề nghị phái đại biểu vào tiếp nhận.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đang còn ở chiến khu, Trung ương Đảng và Chính phủ Lâm thời chỉ định Liệu, thay mặt Chính phủ, làm trưởng đoàn, Nguyễn Lương Bằng thay mặt Mặt trận Việt Minh, cùng Cù Huy Cận, một gương mặt của thời Thơ mới.
Ngày 25-8-1945 họ rời Hà Nội trên hai ô tô, có tiểu đội bảo vệ của Giải phóng quân. Chả ai thấy hiểm nguy gì, biết đâu người của Quốc dân đảng luôn rình rập ám hại, theo đến Thanh Hóa thấy không ăn thua thì bỏ.
Đêm 29-8, đoàn có mặt tại trụ sở Uỷ ban hành chính Trung Bộ ở Huế. Cuộc hành trình dài và mỏi mệt, cứ trăm cây đại một lần diễn thuyết rã họng làm Liệu không chợp mắt. Ngủ thế nào khi trước mặt là sự kiện vĩ đại, có một không hai trong đời người. Ngày mai, ông sẽ thay mặt quốc dân đồng bào dự lễ thoái vị, nhận ấn kiếm từ tay hoàng đế Bảo Đại. Lịch sử Việt Nam sẽ ghi chế độ phong kiến chấm dứt từ đây, chuyển sang nền Dân chủ Cộng hòa.
Dinh Khâm sai cũ vắng lặng, dù ngoài kia thành Huế chắc chẳng yên ả. Liệu trở dậy, bước ra vườn, tự nhiên muốn có điếu thuốc trên tay. Chẳng bao giờ hút thuốc, nhưng những nỗi niềm đang trào lên trong lòng làm ông bồn chồn quá thể.
Còn hơn hai tháng nữa, Liệu tròn bốn tư tuổi.
Ông chợt cảm thấy mình đã sống rất nhiều, quá nhiều. Có bao nhiêu sự kiện trọng đại với đời người, với dân tộc, ông đã trải qua, và không thể không ghi lại. Nhưng đến bao giờ mới có thì giờ ngồi yên.
Và ghi cái gì, bỏ chỗ nào? Ví như là những chuyện nho nhỏ mà buồn cười: hôm ra đi từ Hà Nội, ông chọn trong đống quần áo cũ vứt lộn xộn ở Bắc Bộ phủ mãi mới được bộ tropical gọi là tươm tất để khoác vào cái thân thể còm cõi, ngắn ngủn của mình. Ví như giữa đường, một ông cụ tặng phái đoàn tấm biển có dòng chữ “Khánh chúc Tân triều” để chào mừng chính quyền Dân chủ Cộng hòa. Bao nhiêu nỗi niềm để điểm lại. Nhưng đêm thì ngắn, ngày mai ông không thể không khỏe mạnh.
Những ngày “ngồi rồi” ở Việt Bắc kháng chiến, Liệu có thì giờ ghi lại chuyến đi đặc biệt vào cố đô…
Đến cách thành phố Huế 2 cây số, chúng tôi đã gặp ông Phạm Khắc Hòe, Ngự tiền văn phòng của Bảo Đại hồi ấy ra đón phái đoàn… Qua câu chuyện của ông Phạm Khắc Hòe, thì sau khi quân Nhật đã đầu hàng và dân chúng biểu tình đoạt chính quyền ở Huế, Bảo Đại đã hoang mang lo sợ. Cái hy vọng của hắn không còn là phải “duy trì ngôi báu” mà chỉ là bảo toàn tính mạng…
Chúng tôi bàn nhau cách xử trí với Bảo Đại, theo hướng chung là khoan hồng, nếu có việc gì khác sẽ thỉnh thị Hồ Chủ tịch và Chính phủ sau.
Bàn xong, chúng tôi nói cho ông Phạm Khắc Hòe viết mấy điểm mà phái đoàn đề ra…
1. Sau khi đến điện Kiên Trung gặp Bảo Đại, chúng tôi sẽ nói cho biết ngày làm lễ thoái vị và nghi thức thủ tục của buổi lễ này.
2. Sau lễ thoái vị, Bảo Đại sẽ phải ra khỏi hoàng cung, chỉ được đem theo những đồ dùng riêng, còn những tài sản, vật liệu trong hoàng cung sẽ do Uỷ ban Hành chính Trung Bộ làm biên bản và bảo quản.
3. Những lăng tẩm của hoàng tộc nhà Nguyễn là công trình của nhân dân xây dựng nên phải là tài sản của nhà nước. Họ nhà Nguyễn được đến đây cúng bái tổ tiên, nhưng không được nhận làm của riêng.
(Hồi ký Trần Huy Liệu. NXB Khoa học xã hội. 1991)

Buổi chiều, trước khi đi gặp Bảo Đại, có một điều tưởng là nhỏ, mà làm phái đoàn khó nghĩ. Nên xưng hô thế nào với ông hoàng? Nhỡ Bảo Đại xưng “trẫm” thì sao? Chưa thoái vị, vẫn còn là hoàng đế thì xưng “trẫm” là bình thường.
Bảo Đại đang trong tay mình, xử thế nào mà chả được Nhưng chính quyền đang còn mới mẻ, ở cái thành phố đã là Ngự địa Kinh sư của nhà Nguyễn từ hàng trăm năm ta phải cư xử đúng mực để ổn định lòng người. Dù sao con người ấy cũng muốn giao đại tí “quyền lực” cỏn con còn lại cho ta. Danh từ xưng hô không quan trọng lắm, cứ gọi “ông “ theo giao thiệp thông thường, bên kia xưng gì thì xưng. Mà chắc gì Bảo Đại đã dám xưng “trẫm” với những người nắm vận mệnh mình.
Chiều hôm ấy, trước khi vào điện Kiến Trung, tôi tưởng tượng là sẽ được thấy những nhộn nhịp, hỗn tạp của một cảnh cuối cùng đương tan rã, sẽ thấy những bộ mặt ngơ ngáo của những hoàng thân quốc thích, những công nhân viên và cả vợ Bảo Đại là Nam Phương hoàng hậu. Thế nhưng, cảnh trước mắt đã khác trí tưởng tượng của tôi. Xe phái đoàn đã đậu ở cửa điện Kiến Trung, chúng tôi vẫn không thấy rộn lên cái gì ngoài hai người ra cửa đón là Bảo Đại va ông Phạm Khắc Hòe. Bảo Đại hôm ấy mặc chiếc áo dài màu lam, quần lụa, đầu trần. Trên bộ mặt nục nạc vô tri vô giác của hắn không lộ một vẻ nào khác. Câu đầu tiên mà hắn đón chào chúng tôi đã giải quyết xong một việc xưng hô giữa chúng tôi và hắn, là hắn gọi chúng tôi bằng “ông “ và xưng “tôi”. Trong phòng khách, ngoài Bảo Đại và ông Phạm Khắc Hòe ngồi tiếp chúng tôi thì chỉ có mấy người lính “khố vàng” hầu hạ trà nước. Mới đầu tôi hỏi Bảo Đại về mấy điều kiện mà phía phái đoàn đề ra có ý kiến gì không, hắn xin tuân theo cả. Sau mấy câu trao đổi ngắn gọn trong bầu không khí yên lặng, chúng tôi không biết nói gì thêm. Đối tượng của chúng tôi lúc ấy là Bảo Đại lại càng không biết nói gì. Tôi liền gợi chuyện: “Những ngày ông làm vua là những ngày nước ta bị mất nước, hết Pháp, đền Nhật, chắc ông cũng chẳng sung sướng gì, hơn nữa, chắc cũng nhiều cái khổ tâm?”. Hắn chậm rãi trả lời: “Vâng chúng tôi cũng có nhiều cái khổ tâm”. Thế rồi câu chuyện lại rơi vào chỗ yên lặng.
(Hồi ký Trần Huy Liệu. NXB Khoa học xã hội. 1991)

Tới khi về, phái đoàn lại có hai việc phải giải quyết. Như đã định, trong buổi lễ, cờ quẻ ly vẫn treo trên kỳ đài, khi có tràng đại bác nổ thì hạ xuống, cho cờ đỏ sao vàng lên. Nhưng cờ đỏ sao vàng đã ngự trên đó từ hôm 23 tháng 8, không lẽ giờ lại hạ xuống… Liệu bảo sẽ ra lệnh cho địa phương để ban tổ chức được làm. Việc thứ hai, lại ông Hòe nhắc, trong tháng này, tức tháng 8-1945, ngài Ngự và ông đều chưa được lĩnh lương. Liệu lại hứa sẽ lưu ý, giải quyết không khó khăn lắm.
Xe ra khỏi điện Kiến Trung, khi đầu óc đã rảnh rỗi, Liệu mới có thì giờ quan sát. Nhiều ô cửa nửa mở nửa đóng, những cái đầu bịt khăn đen lấp ló nhìn theo họ.
Ngày 30-8, năm vạn dân Huế tập trung trước Ngọ Môn. Cờ đỏ sao vàng cắm san sát dọc sông Hương. Ngồi trên xe tiến vào Ngọ Môn, Liệu nghĩ cái chỗ này ngày nào chỉ “sứ Thiên Triều” mới qua được, rồi thống tướng De Courcy gây chuyện đòi Tôn Thất Thuyết mở cửa cho y vào.
Bảo Đại mặc hoàng bào, quần trắng, chít khăn vàng, chân đi giày dừa thêu rồng chờ phái đoàn ở lầu Ngũ Phụng. Sau vài lời xã giao, “đương triều” và “tân triều” ra mắt quốc dân. Trần Huy Liệu thay mặt đoàn thông báo cho đồng bào biết Chính phủ Lâm thời sẽ ra mắt tại Hà Nội ngày 2 tháng 9. Tuyên ngôn Độc lập do cụ Hồ Chí Minh đọc.
Rồi đứng sang một bên nghe đọc Chiếu Thoái vị.
Dưới kia là biển người. Cần phải đọc trịnh trọng, nhất là giữ thái độ đàng hoàng, dù mình là kẻ yếu, thua trong cuộc cờ này. Xác định vậy, nhưng Bảo Đại vẫn quá xúc động. Loa phóng thanh phát không rõ điều ông nói, có thể vì đấng quân vương ít nói tiếng Việt, nhất là trước đám đông. Đám đông, dù sao cũng hiểu quyền lực đang được chuyển sang tay “tân triều”. Về việc riêng, Bảo Đại nêu hai yêu cầu chính yếu nhất, dưới dạng ôn hòa như một “mong muốn”:
1. Đối với tôn miếu và lăng tẩm của Liệt thánh, chính phủ mới xử trí thế nào cho có sự thể.
2. Đối với các đảng phái đã từng phấn đấu cho nền độc lập quốc gia nhưng không đi sát phong trào dân chúng, chính phủ sẽ lấy sự ôn hòa xử trí để những phần tử ấy cũng có thể giúp vào sự kiến thiết quốc gia và tỏ rằng chính phủ Dân chủ Cộng hòa nước ta đã xây đắp trên sự đoàn kết của toàn thể quốc dân.
Những câu cuối cùng của bản Chiếu rất hùng hồn: Trẫm ưng làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ, quyết không để cho ai lợi dụng danh nghĩa của Trẫm hay của hoàng gia để lung lạc quốc dân.
“Việt Nam độc lập muôn năm? Dân chủ Cộng hòa muôn năm?”, - ông hô to.
Lá cờ vàng của chính thể quân chủ hạ xuống. Cờ đỏ sao vàng từ từ kéo lên kỳ đài giữa tiếng hoan hô như sấm. Hết hai bốn phát súng lệnh, Liệu bước lên nhận từ tay Bảo Đại thanh kiếm để trong bao vàng nạm ngọc, chiếc túi gấm đựng bộ quân cờ nạm ngọc.
Đến lượt trao Quốc ấn thì có chuyện. Liệu không ngờ nó nặng đến thế. Bảy ki lô gam vàng làm ông lảo đảo. Dưới kia biển người hoan hô, vỗ tay từng tràng như sấm dội. Bên trên, vị đại diện “tân triều” phải lấy hết sức bình sinh giơ cao ấn lên cho mọi người nhìn thấy. Khốn khổ là sức anh học trò mới đi tù về đâu có nhiều nhặn. Nhưng tư thế của ta lúc này là tư thế của vị đại diện chính quyền Dân chủ Cộng hòa, không thể run rẩy.
Vận hết sức bình sinh, Liệu giơ cao Quốc ấn vài lần, đưa đi đưa lại cho các góc cùng xem. Cuộc “cử tạ” phải kéo dài vì người bắt đầu nhảy lên, tung mũ nón. Cũng may là ông “lực sĩ” bất đắc dĩ, mặt hết đỏ lại sang tái, đã không để rơi ấn xuống sân Ngọ Môn. Rồi nó được chuyển sang tay Cù Huy Cận có thể hình tròn trĩnh, “phù hợp” hơn.
Cảnh tượng trên được Nam Phương hoàng hậu theo dõi từ một khung cửa sổ trên điện Kiến Trung, cùng với Bảo Long, từ nay đã thành cựu thái tử.
Khi nhà vua, giờ là công dân Vĩnh Thụy trở về đó, bà mới thở phào, quên đi cái hình dung kinh khủng trước đó, mình là hoàng hậu Mari Antoinette cùng chồng, vua Louis XVI bị chặt đầu. Cuộc cách mạng này, vậy là có vẻ không tắm máu như cái cuộc ở Pháp cách nay một thế kỷ rưỡi. Nhưng một nỗi buồn mênh mang lại ập đến.
Trần Huy Liệu hồ hởi, tất nhiên. Sự kiện không phải chỉ là việc Bảo Đại thoái vị. Cái chính, lớn lao nhất, là từ đây đất nước không còn cái chế độ phong kiến đã tồn tại cả nghìn năm nay. Những đặc quyền đặc lợi rồi sẽ hết. Còn lại, là sự bình đẳng giữa mọi công dân, là tự do, dân chủ. Đó là những lý tưởng ông hằng mong mỏi.
Bây giờ nhớ lại tôi nghĩ nếu đời người ta, tình yêu đầu tiên vẫn là tình yêu ngây thơ nhất, thắm thiết nhất, say mê nhất, thì nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của chúng ta, theo chủ quan của tôi, cái phong vị của những ngày đầu sau cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi vẫn đậm đà nhất, nhớ lâu nhất.
(Hồi ký Trần Huy Liệu. NXB Khoa học xã hội, 1991)
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #32 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:38:18 pm »

ĐA MANG NÊN PHẢI ĐÈO BÒNG
Liệu không bao giờ đơn giản hóa được sự đời. Không bao giờ. Trong ông, ngoài con người cách mạng cứng rắn còn là nhà sử học luôn luôn muốn hình dung các sự kiện, vận động đúng như hình hài của nó. Cuộc sống tình cảm sôi nổi, tâm hồn nhạy cảm của thi sĩ lại không buông tha ông khỏi những rung động thật tinh tế trước cái đẹp, sự đồng cảm. Về mọi phương diện, ông lại quá tràn trề, những hạnh phúc lớn cũng như tai ương, phiền muộn cứ thế mà kéo đến.
Xấu người, nhỏ bé, có đôi mắt ướt chèm chẹp do giữ gìn không tốt từ nhỏ, Liệu lại hết sức đa tình. Lấy vợ sớm, có con từ thuở trước hai mươi, ông có những mâu thuẫn để đa mang cả đời. Một mặt, là bà Tý khỏe mạnh, tần tảo, đã nuôi cả sáu con những lúc ông đi biệt. Một trong những đứa con ấy là kết quả cuộc bà đi thăm ông đang ở trại tù Bá Vân. Mặt khác, lại là những phụ nữ luôn thấy ở ông sự tri ngộ, cảm phục tài năng, nhân cách. Liệu biết ơn vợ, yêu quý cuộc sống gia đình, nhưng lại không ngừng rung động. Đến nỗi, trong cuộc hành quân khổ ải lên nhà tù Sơn La, gặp cô gái Thái giữa đường, ông cũng bật lên:
Ai đưa mình đến châu Yên
Hoa rừng một đóa càng nhìn càng tươi…

Để rồi
Gặp nhau chẳng hỏi chẳng chào
Xa nhau cũng thấy nao nao trong lòng

Cô gái Thái ấy có nhiều tư cách nàng thơ, chỉ là thoáng qua. Còn bây giờ là năm 1946, ông Bộ trưởng Thông tin - Tuyên truyền lại vương vào một đam mê mới. Nó đẩy ông vào cuộc phiêu lưu sung sướng và đau khổ đều tột cùng. Không phải chỉ là chuyện tình cảm thuần túy, nó “lập nên” cả một gia đình riêng, với những đứa con muộn.
Nền Dân chủ Cộng hòa thành lập không lâu thì Quốc dân đảng - đang cầm quyền ở Trung Quốc - cử quân đội vào giải giáp vũ khí Nhật ở miền Bắc Việt Nam. Cùng có chân trong chính phủ mới, Việt Quốc, Việt Cách lại “quậy” mạnh, chống đối lực lượng Việt Minh của Hồ Chí Minh, mà Liệu được coi là một yếu nhân. Bắt cóc, khủng bố dân thường và cộng sản diễn ra thường xuyên, công an chìm và nổi đôi bên thỉnh thoảng bắn nhau. Tình hình càng căng khi Quốc dân đảng Trung Quốc bắt đầu nhường nhiệm vụ giải giáp cho quân đội Pháp.
Giầy xăng đá, quân phục ga-bác-đin thay thế chân phù. Bên đại diện Sainteny khá ôn hòa, dễ dàng đối thoại với Hồ Chí Minh xuất hiện d’Argenlieu, viên cao ủy hung hãn.
Việt Nam Quốc dân đảng đối với Liệu có mối thù riêng: trước đây ông từng là đồng chí của họ - thực ra là của những người sáng lập đảng. Bây giờ, ở cương vị Bộ trưởng Thông tin - Tuyên truyền, ông phải quản lý, đấu tranh với sự chống đối, diễn thuyết “luôn miệng” về Việt Minh. Sự nguy hiểm rình rập làm phía Việt Minh phải cảnh giác. Ngày đến làm việc ở công sở, ban đêm họ rút ra các cơ sở ở ngoại thành để tránh khủng bố.
Nhóm Văn hóa cứu quốc chọn ấp Thái Hà làm địa điểm. Đây là một khu tư dinh của nhiều quan lại Nam triều cũ như Nguyễn Năng Quốc, Phan Tử Nghĩa, nằm gần lăng mộ họ Hoàng. Mỗi nhà mỗi kiểu, biệt thự tây có, nhà năm gian kiểu cổ có. Cái nhà những Xuân Thủy, Văn Tân, Nguyễn Đình Thi… đi về gọi là villa des Roses - biệt thự Hoa Hồng.
Thật ra dấu vết biệt thự không rõ, ngôi nhà lớn nhất lại một tầng chạy dài vài gian, có câu đầu cửa võng chạm trổ, bàn thờ trang trọng. Ngoài vườn, những gốc hồng in bóng xuống mặt nước tĩnh lặng. Quang cảnh thường êm đềm, người nhà và đám giúp việc đều ăn nói khẽ khàng lối gia giáo, giấy rách giữ lấy lề - dù gia sản đã không còn sung túc.
Ông chủ là Nguyễn Văn Ngọc, một tên tuổi cự phách của làng giáo, giới trí thức “cũ”. Liệu đã đọc nhiều bài của ông trên tạp chí Nam Phong những năm hai mươi - ba mươi, biết tới xu hướng tồn cổ trong những cuốn “Tục ngữ phong dao”, “Truyện cổ nước Nam”, “Đào Nương ca”, “Cổ học tinh hoa”…
Nguyễn Văn Ngọc mất năm 1942, khi đang là đốc học Hà Đông. Đứng về mặt lý lịch, theo cách nhìn “mới”, tư dinh nhà quan không thể là chỗ tin cậy.
Nhưng Nguyễn Xuân Bích, cậu sinh viên trường Y, con trai ông Ngọc, lại là cơ sở từ trước tháng 8 năm 1945 của Trần Quốc Hương, người hay hoạt động trong thanh niên học sinh, trí thức. Vả chăng đây là gia đình “nghiêng” về chữ nghĩa, trí thức hơn là quan lại.
Ngày ra trụ sở ngoài phố, tối về biệt thự Hoa Hồng, ông Bộ trưởng Thông tin - Tuyên truyền ngày càng để ý đến Sửu, bà chị của Bích. Dường như đây là một hình ảnh ông, cũng như nhiều chàng học sinh, từng biết tới, nghĩ tới, khi cô bé Sửu đứng bán hàng trong hiệu sách Đông Hưng Long thư quán của cha ở 49 - 51 Hàng Đường. Trắng trẻo, đẹp một cách buồn bã, người đàn bà hai con có lối chăm sóc khách ý nhị. Những cán bộ Việt Minh quen tù đày hơn ở nhà, giờ được hưởng cốc nước gừng, bát lục tàu xá giữa đêm đông, đều cảm thấy ấm lòng. Càng lặng lẽ, bà càng gây sự tò mò. Một buổi tối, Liệu giữ Sửu lại, sau những cảm ơn thông thường là lời thăm hỏi gia cảnh. Cảm thấy tin cậy, Sửu kể về những trớ trêu đã trải qua. Không được học nhiều, vào loại “con nhà” bị cấm đọc Truyện Kiều, nhưng hầu bố đèn sách bấy nhiêu năm, bà có vốn văn hóa không nhỏ.
Dần dà, sự khép nép gia giáo và nỗi sợ “quan cách mạng” nhường chỗ cho thân tình, tin tưởng. Ban ngày, giữa bộn bề, Liệu bắt gặp mình nghĩ về người đàn bà đã hai con, chị ta đang làm gì nhỉ, có nghĩ gì đến mình… Những câu chuyện với Sửu làm Liệu thay đổi nhiều suy nghĩ. Chẳng hạn, bố chồng bà, đã làm đến Thượng thư, lại sinh hoạt rất đạm bạc, thanh bần kiểu nhà nho. Ông bố đẻ, dù say mê với văn hóa dân gian nhưng sành rượu tây như sành hát ả đào, vang mua về cả thùng. Liệu ngạc nhiên khi biết ông đốc Ngọc, cùng anh ruột Nguyễn Quang Oánh và ông Đỗ Thận là những người đầu tiên đưa chèo, cái thứ hát quê kệch trong làng quê lên diễn trên sân khấu hộp Hà Thành.
Gia cảnh của Sửu đang điêu tàn theo phận riêng của bà. Mươi lăm năm trước, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Ngọc, cùng quê Hải Dương, đồng môn trường Bưởi rồi trường Hậu Bổ, đã gả con cho nhau. Sau thời kỳ làm báo Nam Phong lừng lẫy, muốn dựa vào quan lộ để thực hành ý hướng xã hội, ông Quỳnh vào Huế làm Thượng thư bộ Học rồi bộ Lại. Rồi chồng Sửu mê người đàn bà khác, không đẹp bằng nhưng đi xe đạp, uốn tóc. Năm 1943, sau đám ma bố, Sửu đưa hai con trai ra Hà Nội, vừa gần gũi họ hàng vừa trông mấy cậu em đang tuổi lớn. An phận, chả biết gì về cách mạng, những đệ tam đệ tứ, các đảng phái, nhưng Sửu cũng vui theo em, theo con khi họ ùa vào đám đông chào độc lập.
Tuần lễ Vàng năm 1946, Sửu dắt con trai tám tuổi Dũng lên gò Đống Đa gần nhà, bế cậu bé lên để bỏ vào hòm phiếu nhẫn. Đó là điều làm Liệu cảm động, tuy vẫn biết rằng bao người khác, nghèo khó hơn, cũng dốc túi vì nền độc lập non trẻ. Để duy trì biệt thự Hoa Hồng, nuôi con, thỉnh thoảng chu cấp những bữa ăn cho cả đông người, Sửu hẳn chẳng còn bao nhiêu của cải. Thời buổi tranh tối tranh sáng, chiến cuộc đến không biết lúc nào, việc tái bản những cuốn sách của ông Ngọc là rất khó. Cái ấp trên Lập Thạch mua bằng tiền viết sách trước đó đem lại không bao nhiêu lợi tức. Mà Sửu thật khó bỏ thói tiêu pha rộng rãi quen thuộc. Một năm ngần ấy cái giỗ, những người làm vườn, mái nhà cần đảo ngói…, cái gì cũng cần tiền, trong khi bà chủ trẻ chả biết tính toán làm ăn thêm ra cái gì.
Những buổi tối cứ dài mãi ra. Cả hai đều bối rối và càng nghĩ đến nhau nhiều hơn. Họ là đàn ông và đàn bà, đấy là nhẽ thường. Nhưng lại còn một cái nhẽ, là giai tầng của hai người rất chênh. Có những điều thuộc về lý tính khiến họ phải “nhận thức” về nhau. Chẳng hạn ăn bát chè hoa bưởi Sửu nấu, đọc những sách “Tục ngữ phong dao”, “Đào Nương ca” ông đốc Ngọc trong nhà, Liệu phải nghĩ những thứ rất vô hình chứa sau đó, liệu có phải đều là phù phiếm? Trong thế giới ăn trên ngồi trốc, ông Ngọc đã nhặt từng hạt chữ, từng lời ăn tiếng nói của người nông dân để mà nâng niu, đêm đêm sàng lọc đến phát ho lao.
“Đấy là những gì mình cũng phải “quét sạch” đi ư?”, sẽ có lúc Liệu tự hỏi mình câu ấy. Nhưng bây giờ là nỗi bối rối trước những đòi hỏi của lòng mình.
Ông đã bề bề vợ con, giờ lại đường đường Bộ trưởng, danh nổi như cồn. Dù nhận thấy các đồng chí của mình cũng quý Sửu, điều ít thấy hơn với Thu Tâm trước kia, Liệu không thể không nhận thấy sự nghiệp chính trị của ông sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng nếu “dính” vào con dâu (dù là “trước đây” thôi) của ông thượng Nam triều đã bị cách mạng bắt rồi “mất tích”. Về phần mình, Sửu chẳng thể đơn giản. Dù rất kính phục ông, bà đã một lần đò. Vài năm trước, chẳng phải bà đã không thể chấp nhận chồng mình có thêm vợ nhỏ đấy ư? Họ hàng bà, những bà phán ông tham, mấy cô em nhí nhảnh, rất khó để họ cũng thấy gần gũi cái nhà ông quan của triều đại mới.
Nhưng cuộc sống có những nhẽ riêng oái oăm. Những câu thăm hỏi bâng quơ. Những chăm sóc ý nhị… Bao nhiêu thứ đều mơ hồ dẫn đến những linh cảm nó khiến cố dằn mạnh, dứt bỏ rồi lại cứ phải nhặt lên nâng mu. Sự dịu ngọt. Những so sánh… Tất cả đều dẫn đến chỗ chết người.
Tình hình căng thẳng ngày một thấy rõ. Hồ Chí Minh, sau những dàn xếp để lui được đoàn quân Tàu Ô, liên tục thương thảo với Sainteny. Nhưng d’Argenlieu là một kẻ cực đoan, gây hấn ở Hải Phòng. Hội nghị Đà Lạt tan vỡ. Súng nổ miền Nam, những người trai lại lên đường, Sửu có người em đi không về. Hà Nội rầm rầm những cuộc đụng độ. Đâu đó trên mạn Tứ Liên, Đông Ngạc, bộ đội buộc phải xử tử một đồng đội đánh lại Pháp. Khắp không gian mùi binh đao đã thoang thoảng.
Một buổi tối Liệu hỏi Sửu:
- Chị đã chuẩn bị gì chưa?
Thấy bà ngơ ngác, ông trầm ngâm: “Có thể chiến tranh sẽ trở lại. Dù đã ký hiệp định Sơ bộ và Tạm ước, bọn Pháp vẫn quyết lấy nước ta. Những cố gắng của Cụ Hồ thất bại rồi. Chị nên chuẩn bị. Hòa bình mong manh lắm. Nhà ta có chỗ nào để lánh về?”
Sửu bàng hoàng. Bà đã trải qua tang bố mẹ, những tổn thất trong tình cảm, giờ là cảnh nhà đang kiệt quệ. Chiến tranh với chết chóc, bom đạn là thế nào? Tuy vậy, giờ là lúc phải cứng cỏi, dù bà vốn dĩ là người an phận, yếu đuối.
Lệnh tản cư ban ra. Sửu đem con lên Lập Thạch, trú trong ấp Bồ Tỉnh, vốn là chỗ viên ẩn của ông bố ngày trước, trong hành lý lỉnh kỉnh mấy bồ sách Liệu gửi. Bà sẽ sống bằng tô tức của tá điền. Sau khi ba em trai tòng quân không lâu, người con lớn - đích tôn của ông Phạm Quỳnh - cũng nhập vào một đơn vị công binh.
Súng nổ. Đất nước bước vào cuộc kháng chiến kéo dài tới 8 năm sau. Liệu lên thăm Sửu. Trong cái ấp nghèo dưới chân núi Con Voi, chẳng có gì ngăn được họ đến với nhau nữa. Đây là cuộc phiêu lưu tình cảm cuối cùng và sâu sắc nhất của Liệu.
Cuối năm 1947, Sửu sinh con gái Trần Nguyệt Quang, đứa con sinh ra trong kháng chiến sài đẹn, ghẻ lở đã lớn lên ăm ắp tình mẹ nhưng đầy những khắc khoải, day dứt của người cha.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #33 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:39:14 pm »

NĂM 1946: ÔNG “Tả KHUYNH”
Cuộc cách mạng nổ ra vào tháng Tám năm 1945 đã thắng lợi mà không phải đổ nhiều máu. Dân chúng, trải qua ngót trăm năm nô lệ và nạn đói khủng khiếp đã căm thù ngoại bang - dù là Pháp hay Nhật - đến cực điểm, chỉ cần một “mồi lửa” là cháy bùng lên. Đó là nguyên nhân sâu xa. Còn trực tiếp, thì đạo quân Quan Đông vỡ trận ở Mãn Châu Lý trước Hồng quân Xô viết, Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện. Trục phát xít đi đời.
Trong nước, chính phủ Trần Trọng Kim bối rối, không điều khiển được sự tình. Quân Nhật gần như tê liệt, Pháp rục rịch trở lại. Ở lán Nà Lừa trong rừng sâu Tuyên Quang, qua radio, Hồ Chí Minh, giữa những cơn sốt ác tính, nhận ra đây là thời cơ có một. Cướp chính quyền nhanh, không thì thời điểm thuận lợi qua đi, lực lượng dù còn mỏng cũng phải tiến hành.
Đội quân cách mạng từ Tuyên Quang tiến về Thái Nguyên. Lấy chính quyền quá dễ. Thực chất là nhiều nơi chả có chính quyền nào cả. Họ tiến luôn về Thủ đô. Được cái là Mặt trận Việt Minh, tổ chức từ rất lâu, đã có cội rễ trong dân chúng, tập hợp được tất cả, từ anh dân cày đến người hào chủ. Việt Minh là lực lượng lớn nhất, ra lời kêu gọi là dân nhất tề hưởng ứng.
Ngày 19-8-1945, Bắc Bộ Phủ về tay Việt Minh. 2-9-1945, Chính phủ mới ra mắt ở quảng trường Ba Đình. Dân chúng, kể cả hoàng gia, mừng rỡ biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc. Trong thành phần “tân triều”, ngoài Việt Minh còn có các đại diện đảng phái khác như Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng đảng. Sự phân chia quyền lực là không thể tránh khỏi, dù người Cộng sản chiếm ưu thế khi nắm Việt Minh.
Chính quyền thì có rồi. Nhưng lại bao nhiêu cái khó đặt ra, thách thức những người chưa có quyền lực thực sự. Quân Tưởng, được Đồng Minh ủy nhiệm, giải giáp lực lượng Nhật ở ngoài Bắc. “Chân phù” đi vào kéo theo bao nhiêu dân binh nhũng nhiễu. Nào lương thảo, chỗ ở, lại còn tiền bạc, thuốc phiện, gái. Ngay trong tháng Chín, tháng độc lập, mà quân Anh - ác cái, cũng là Đồng Minh - đã gây hấn trong Nam Bộ. Rồi quân Tưởng dần dần rút ra, Pháp tràn vào. Dù là Sainteny ôn hòa hay d’Argenlieu hiếu chiến, tư tưởng thực dân vẫn còn đó. Chả làm gì có chuyện họ không còn muốn làm chủ lại Đông Dương. Ngay Cộng sản Pháp có người còn muốn d’Argenlieu đánh mạnh đi để giương cao ngọn cờ nước Pháp.
Hơn bao giờ hết, chắc hẳn trong những ngày này, Hồ Chí Minh phải luôn nghĩ đến câu nói nổi tiếng “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Khôn khéo, tránh manh động, ông Cụ đã lèo lái được con thuyền mỏng manh vượt những thác ghềnh hiểm nghèo nhất.
Điều cần nhất lúc này là sự ổn định. Có hòa bình thì mới có ổn định. Mà các lực lượng Anh, Pháp, Tàu Tưởng thi nhau gây hấn. Có chính quyền rồi mà ngày nào súng cũng nổ, quân Pháp bắn vào bộ đội Việt Minh ở Hải Phòng, Hà Nội…, cướp bóc, hiếp chóc dân lành. Lực lượng vũ trang có trong tay mà cứ phải án binh bất động, nín thở chịu đựng. “Hòa bình” mà không khí ngột ngạt, căng thẳng không thể tả. Nhưng phải có hòa bình, dù chỉ là “duy trì” nó, để đạt được sự công nhận của các nhà nước, phe phái trên thế giới. Trung Cộng còn đang đối phó với Tưởng Giới Thạch, Stalin thành kiến với Nguyễn Ái Quốc, tổng thống Mỹ lơ lá thư Cụ gửi đi. Và dù sao, tính đến nước cùng, trở lại với chiến tranh, thì Việt Minh phải chuẩn bị chiến khu, xây dựng lực lượng. Chưa sẵn sàng thì chưa trở lại chiến tranh được. Phải có thời gian chuẩn bị chứ.
Hồ Chí Minh thực hiện sách lược “Câu Tiễn” đó bằng Hiệp định Sơ bộ, đồng ý “Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền nằm trong Liên hiệp Pháp”.
Đi Fontainebleau đàm phán trong một thế không “thượng phong” gì, nhưng dù sao cũng làm dịu sự hung hăng của phái hiếu chiến trong chính phủ De Gaulle, “tiện thể” kéo về những trí thức có tiếng như Trần Hữu Tước, Trần Đại Nghĩa, Võ Quý Huân… Còn trong nước, Cụ Hồ phát động Tuần lễ Vàng, diệt giặc đói, giặc dốt. Những nhà buôn yêu nước cảm mến Cụ Chủ tịch dốc túi cho chính quyền. Nhiều nhất là ông Trịnh Văn Bô, tới cả hàng nghìn cây vàng để mua vũ khí, còn vợ ông, bà Hoàng Thị Hồng, phải “chạy” thuốc phiện, gái cho đám Tàu Tưởng Lư Hán, Tiêu Văn.
Những hoạt động ngoại giao, nội trị tỏ rõ sự khôn khéo, tầm nhìn xa của Hồ Chí Minh. Từ chỗ “tay không bắt giặc” (nói thế liệu có quá?), trứng treo đầu đẳng mà giữ được chính quyền, kéo dài hòa bình ra đến hơn một năm, phải đánh giá vai trò lãnh tụ là kiệt xuất. Đã chìa tay ra với Truman, Stalin, cả De Gaulle ra đều bị lạnh lẽo, mà làm được vậy dần dần gây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi, Hồ Chí Minh xứng đáng là biểu tượng dân tộc.
Trần Huy Liệu là đàn em Cụ Hồ về tuổi tác, cảm phục tài ứng biến, sự lịch lãm, sức tập hợp, thuyết phục của Cụ. Nghĩa là chịu. Nhưng ông có những điểm nhìn riêng. Ngoài lòng căm thù người Pháp đô hộ, bóc lột, trí thông minh hơn người, tài hùng biện và một quá khứ đầy tiếng tăm, ông lại thiếu hẳn những đức tính của chính khách: sự khôn khéo, biết nín nhịn, khi nào thì tiến, khi nào phải thoái. Ông lại cũng chả có một “tinh thần kỷ luật” dồi dào dù dư biết đã trong đoàn thể là phải chấp hành lãnh tụ tối cao. Những hành động của Liệu làm người ta nghĩ đến hai chữ “tả khuynh”.
Điều đầu tiên làm Liệu ức là việc Đảng Cộng sản tuyên bố giải tán.
Tôi biết tin này khi từ Nam Định lên Hà Nội, đọc báo Cứu Quốc dọc đường thấy đăng bài Đảng tuyên bô giải tán. Khi đền Hà Nội, tôi phải làm ngay cái công việc là triệu tập các nhà báo tại nhà hội quán Khai Trí Tiên Đức cũ để đồng chí Trường Chinh tuyên bố và giải thích về việc này. Hôm ấy, tôi có một ấn tượng không đẹp, vì bọn nhà báo vẫn nghi ngờ và hỏi vặn vẹo mãi.
Cô nhiên là tôi không nghi ngờ về sự tồn tại của Đảng. Nhưng tôi băn khoăn tự hỏi vì những điều kiện bách thiết gì Đảng phải giấu mặt giấu tên? Về phương diện quốc tế, kẻ thù muốn giết Đảng ta lúc bấy giờ là đế quốc Mỹ và bọn quân phiệt Tưởng Giới Thạch không phải nghe ta tuyên bố giải tán mà chúng tin ngay. Bọn gián điệp Mỹ vẫn luôn luôn vạch rõ sự tồn tại của Đảng ta. Lời tuyên bố của ta càng làm tăng thêm sự nghi ngờ của chúng và cái dã tâm muốn bóp chết Đảng ta, bóp chết nền độc lập mới mẻ của ta quyết không vì thế mà gác lại. Về phương diện trong nước, thì, bọn phản động Đại Việt Quốc Dân Đảng càng thừa biết sự tồn tại của Đảng ta. Bọn địa chủ tư sản hay công giáo nếu sợ cộng sản thì cũng không phải thấy nói Đảng giải tán mà hết sợ vì trước mặt họ, người cộng sản vẫn là người cộng sản. Vì vậy tiếng tuyên bố giải tán Đảng phát ra tiếng vang rất ít.
Tôi băn khoăn hỏi Bác thì Bác nói: người đi trên chiếc thuyền tròng trành muốn đắm nếu cần phải vứt cả hành lý đi thì cũng cứ vứt! Câu ví dụ này không đem lại cho tôi một kiên giải thỏa mãn. Vì sự thực đã cho thấy rằng: chiếc thuyền tròng trành không phải chỉ vì hành lý, mà chính vì người. Nên, sau khi vứt hành lý rồi, con thuyền vẫn tròng trành như trước. Có chăng, trong một lúc hoảng sợ, người ta vứt hành lý xuống rồi lại phải mất công mò lên thôi. (Dự thảo bản tổng kiểm thảo tại đợt chỉnh huấn cán bộ, chiến khu cuối năm 1952 - đầu năm 1953, viết tắt là DT TKT)
Đây là nhận thức Trần Huy Liệu bảo lưu rất “kỹ”. Năm 1951, tại Đại hội II, Đảng Cộng sản ra công khai trở lại với tên Đảng Lao động, ông lại phát biểu, đặt vấn đề rằng “nếu ngày ấy ta không tuyên bố giải tán thì nay đã chẳng phải ra công khai trở lại”. Đại hội im phăng phắc, chỉ có Bùi Công Trùng đứng thót lên vỗ tay (nhật ký).
Một điều nữa, chả phải chỉ mình Liệu, mà nhiều người khó “thông” với lãnh tụ hồi đó là Hiệp định Sơ bộ ký ngày 6-3-1946. Tại sao đã giành được chính quyền mà Cụ Hồ còn ký nhận ta làm một quốc gia có chủ quyền nằm trong Liên hiệp Pháp, chả ra hèn kém lắm sao? Mất xương máu, cố công tranh đấu mãi mới làm chủ được đất nước, làm thế là một bước lùi chứ! Đã không tán thành Hiệp định thì cái Tạm ước ký hôm 14-9-1946, chuyến đi của Hồ Chí Minh sang Fontainebleau và hội nghị Đà Lạt cũng chỉ là “tiêu cực”.
Khác hẳn một hình ảnh ôn hòa, điềm đạm, từng trải của Hồ Chí Minh, ông Bộ trưởng Thông tin Tuyên truyền Trần Huy Liệu cứ sồn sồn như lửa.
Lễ hoan nghênh Hà Ứng Khâm, quan chức cao cấp của Quốc dân đảng Trung Hoa, vị Chủ tịch nước bị đặt vào ghế khách thường, trong khi Nguyễn Hải Thần ngồi chỗ trang trọng, Liệu bực không thể tả.
Biết nết “đuya” của Liệu, đám Quốc dân đảng nhiều khi đưa yêu sách trực tiếp cho Cụ Hồ, rồi Phủ Chủ tịch lại gọi sang bên Liệu can thiệp. Về việc đặt tên phố ở Hà Nội, Cụ bảo chỉ được đặt tên bốn người cộng sản là Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, ông cứ đặt “thêm”. Có lẽ chuyện đổi “Nhà thương Khách” thành phố Tôn Đản, danh tướng đã vây đánh châu Khâm, châu Liêm của phương Bắc làm ông khoái chí nhất.
Tình hình mỗi lúc mỗi căng thẳng như sợi dây đàn. Nhật vừa bị giải giáp thì Tàu Tưởng nhũng nhiễu, rồi Pháp lại vào bắn giết dân chúng, vây trụ sở ta. Trên Chèm, bộ đội, có súng trong tay, đã choảng lại, giết chết mấy Tàu trắng. Sợ lửa bùng lên quá, dẫn đến chiến tranh, Chính phủ ra lệnh đem mấy người đó ra xử bắn. Mình bắn mình bảo sao không đau! Liệu chả thích gì chính sách Câu Tiễn của Cụ, mà luôn nghĩ đến hai ông kiệt hiệt, đến chết vẫn cực đoan trong Cách mạng Pháp là Marat và Robespierre.
Tòa án quân sự Bulgarie lần lượt kết án 2000 kẻ phản cách mạng từ chung thân khổ sai đến xử tử. Liệu mang tờ thông tin quốc tế ấy sang phòng Chủ tịch. “Đây, đồng chí Dimitrov, trong việc trấn áp phản cách mạng, đã chặt hàng ngàn cái đầu phản cách mạng. Cụ có thấy cái chính quyền cách mạng nào hiền lành đến nhu nhược như chính quyền của Cụ không?”. Cụ Chủ tịch kệ cho ông phát tiết cơn phẫn nộ, chỉ tủm tỉm cười, thắt lại cái cravate cho Liệu; cử chỉ của một chính khách lão luyện. Có thể hiểu ông Cụ coi những lời của Liệu là trẻ con, chả nên chấp.
Lại có thể cho là nói lại Liệu không dễ. Liệu có cái lý của mình. Ông Cụ, với những tiên cảm nhờ vào sự từng trải, có những ý định của mình, nhưng càng phân giải với cấp dưới càng “rách chuyện”, chi bằng cho “hắn” mỏi mồm, hả tức thì thôi.
Ông Hoàng Tùng, sau này giữ chức trọng trong bộ máy tuyên huấn, có những đánh giá thú vị trong bài “Trần Huy Liệu - ông thầy của tôi” in trong nội san “Nhà báo Hà Nội”:
Về chính trị, lúc đầu ông (nguyên văn viết hoa) ghét bất kỳ ai là Tây. Sau khi trở thành người cộng sản ông bênh vực chủ nghĩa quốc tế song rất bất bình trước sự hống hách của bọn thực dân. Ông không chống việc ký hiệp định ngày 6-3-1946, nhưng không tin là phía Pháp sẽ tuân thủ… Pháp đánh Nam Bộ, ném bom giết đồng bào ta. Bộ Tuyên truyền của ông, qua đài phát thanh, cảnh cáo rằng, nếu Pháp không chấm dút hành động dã man đó, thì tính mạng những người Pháp bị quân Nhật bắt, mới thả ra từ các trại giam, sẽ không an toàn. Hôm sau, đài ta lại phát tin về những cuộc ném bom mới. Anh em thanh niên đã tham gia khởi nghĩa ở Hà Nội tổ chức ngay từ sáng sớm một cuộc săn lùng người Pháp, đánh họ ở phố Tràng Tiền, chợ Đồng Xuân. Là Bí thư Thành ủy, tôi bị cách chức mấy tháng về việc đó.
Rồi cái phải đến đã đến. 19-12-1946, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Đôi bên Việt - Pháp xốc dậy cầm lấy vũ khí, bất kể bên kia có Sainteny luôn muốn trì hoãn binh lừa, bên này có vô số cựu học trò đã thụ giáo làu làu văn hóa Pháp. Chiến tranh là chả tránh được.
Trong những ngày nhàn rỗi ở chiến khu, Liệu có thời gian nghĩ đến năm 1945, nhất là năm 1946, khi đang ở trọng trách “loa” phát ngôn của Chính phủ.
Quyết tâm kháng chiến của Hồ Chí Minh buộc Liệu, như hàng triệu con người khác, phải bước vào cuộc gian khổ, sinh tử. Nhưng ông đã nhận thức lại con người Lãnh tụ cũng như bản thân. Tôi thấy mình đã chủ trương tả khuynh, phiêu lưu, mạo hiểm, không thấy rõ hoàn cảnh…, muốn áp dụng những phương sách thích nghi ở nước khác vào nước ta bấy giờ…Nói tóm lại, tôi đã bị tình cảm cá nhân chi phổi, thiếu quan điểm duy vật biện chứng nên không nhìn thấy hiện tại và cũng không nhìn rõ được tương lai. (Dự thảo nói trên)
“Bị tình cảm cá nhân chi phối…” có lẽ là đặc điểm lớn nhất của con người Trần Huy Liệu, làm thành điểm mạnh cũng như điểm yếu trong ông.
Liệu luôn “xốc nổi”, chả bao giờ biết chờ thời. Bảo là nhân bản cũng được, bảo là thiếu sự lịch lãm của chính khách cũng chả sai. Liệu luôn luôn là mình, nói thế chắc đúng nhất.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #34 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:40:09 pm »

TRI THIÊN MỆNH
Nửa đêm, trong ấp đã lao xao. Dậy sớm nhất là cánh buôn đường dài, lỉnh kỉnh trong bồ, sọt là cả tạ pin đèn, dầu muối, gương lược, kim chỉ… Đầy kinh nghiệm, họ biết phải vượt cánh đồng trước khi giời sáng mới an toàn. Những cán bộ đi công tác có vẻ đủng đỉnh, hẳn vì mang nhẹ và cũng chủ quan hơn.
Liệu mang theo Nghiêm, người cháu từ dưới quê lên, để đỡ đần lúc đi xa. Nghiêm nhỏ người, dai sức, tần ngần nhìn ông đang ngủ rất say trong cái nong. Suốt tháng trời hôm nào cũng đi, đêm diễn thuyết cổ động kháng chiến, tối đen còn ngồi ghi chép, Liệu yếu đi nhiều.
Cũng đã đến lúc. Nghiêm ra chỗ cái nong, lay: “Ông dậy… Cháu nấu cơm rồi”. Trong tối mịt, hai người trệu trạo nhai cơm với thịt rang mặn chát. Sắp lên đường, Liệu thấy bụng đau quặn. Ra khỏi xóm, ông còn vào bụi vài bận nữa. Vì thế đến giữa cánh đồng thì đã sáng bảnh. Cánh lái buôn đi vùn vụt dễ đã cách vài cây số.
Nghiêm rất muốn chạy gằn nhưng người ông lại yếu quá chốc chốc phải dừng lại chờ. Vai Nghiêm đeo cái túi dết có gạo muối, lọ thịt rang, chăn màn, quý nhất là cái radio và mấy quyển nhật ký.
Con đường mòn nằm giữa cánh đồng vừa gặt như sợi chỉ mảnh uốn éo, từ trên cao nhìn rất rõ. Chiếc Bê vanh xít ầm ầm lao qua rồi đảo lại. Phi công nhìn rõ hai con mồi bên dưới, thèm khát bủa xuống.
Ặc ặc ặc ặc… Đạn mười bốn ly năm cày sát hai ông cháu đang chúi xuống rãnh ven đường. Đất và đầu đạn tiện phăng đám chó đẻ. Mùi lá hăng hăng bốc ra. Kể cũng lạ là Liệu lại muốn hít hà tí chút. Nhưng Nghiêm đã đẩy ông xuống ao rồi nhào theo. Chiếc máy bay vòng lại xả đạn hủm mặt nước.
Yên trí đã bắn hạ được con mồi, phi công bay đi. Phía xa kia, đằng cuối cánh đồng, nó phát hiện ra con mồi khác. Lần này anh bộ đội đi chiếc xe đạp đuya-ra đã không thể thoát.
Hai ông cháu lồm cồm bò lên bờ ao, vớ túi dết chạy chối chết. Chạy một lèo hai cây số mới dừng lại gỡ đỉa. Lên đến đỉnh đèo Kháng Nhật, thầy trò chưa qua cơn thất sắc. Tuy thế việc đầu tiên là phải xem chiếc đài có sao không. May, nó vẫn ọ ẹ, có điều lọ thịt mặn vỡ, ngấm nhoe nhoét quyển nhật ký.
Buổi tối, đám buôn chuyến đang gặm sắn ngỡ ngàng nhìn Liệu và Nghiêm bước vào.
- Chúng tôi đã thắp hương cúng vong hồn ông với chú… - Một bà xuýt xoa. - Thôi thế là vợ con ông không mất người rồi.
- Có làm sao thì hai bà phải làm giỗ ông cháu hôm nay. May không sao…
Nghiêm không hề bông phèng, lầu bầu xin điếu thuốc lào dịt chỗ đỉa cắn. Loay hoay lo xong nồi cơm, anh quay ra thấy ông đã ngủ như đứa trẻ.
Bữa cơm sau hồi hút chết rất ngon. Nghiêm ngạc nhiên thấy ông mình không nhắc gì đến làn đạn sáng nay, cứ như đã không xảy chuyện gì.
“Đây là lần chết hụt thứ hai của mình sau cú ngã ở Hòn Cau…”. Thực ra, Liệu đã nghĩ ngợi rất nhiều tử thần đã sờ đến, phả hơi lạnh ngắt vào gáy. Ông đã thoát khỏi tay nó, có lý gì lại không vượt được những trắc trở đang gặp…
Quả là bước sang tuổi “tri thiên mệnh”, cuộc đời Trần Huy Liệu lại gặp những vấn đề mới, gọi là “nhỏ” hay “lớn” đều được. Nó làm ông phải lựa chọn một cách thẳng băng, nghiệt ngã, như trước đây, khi ông đứng giữa cảnh bần nho và đi Nam lập nghiệp, hay giữa hai lập trường Quốc dân đảng và Cộng sản.
Năm 1946, lập trường chính trị cứng rắn “đối với thằng Pháp chỉ có đánh” của ông không phù hợp với chủ trương tìm kiếm hòa bình, gây dựng lực lượng, chuẩn bị kháng chiến của lãnh tụ. Với tầm nhìn lịch lãm của người đã ra ngoài biên giới nhỏ hẹp của đất nước, trong Hiệp định Sơ bộ, Hồ Chí Minh chấp nhận “Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền nằm trong Liên hiệp Pháp”. Cụ Hồ quý, và tin Liệu, dù ông không phải dân “cộng sản gốc”.
Nhưng quanh Cụ là cả đoàn thể, tổ chức. Và cái tính thẳng thừng cũng không để Liệu can dự sâu vào những cuộc bàn bạc chủ chốt. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai 1951, ông phê phán nặng nề chủ trương Đảng rút vào bí mật để rồi giờ lại phải ra công khai, chỉ được mỗi Bùi Công Trừng hoan nghênh. Việc dùng quá nhiều quan lại, thân sĩ cũ trong Liên Việt đầu kháng chiến, ít năm sau lại loại bỏ ngay cả con cái địa chủ trong nhiều vị trí ở cơ sở, Liệu thấy bất ổn. Những dự cảm được phát biểu trên diễn đàn tạo nên “khoảng cách riêng” giữa ông với đồng chí. Thấy mình cô lẻ, tách khỏi những sự kiện trọng yếu, Liệu bắt đầu nản.
Ông đang là gì? Là một công chức cao cấp đi tuyên truyền nghĩa vụ thuế kháng chiến, rất nổi danh nhưng không có thực quyền trong bộ máy, hay đơn giản chỉ là đã thất sủng? Là gì thì cũng đã ra khỏi ban lãnh đạo, hết thực quyền, chỉ làm quả chuông leng keng thôi, tuy kháng chiến cũng cần những “quả chuông”.
Gia đình thứ hai cũng là giọt nước làm tràn cốc. Con trai út ra đời khi Liệu năm mươi tuổi, ông càng gắn bó với bà Sửu. Thu xếp một cuộc gặp giữa “hai chị em” để rồi thất bại, ông bị bà Tý rầy rà dữ dội, “ý kiến” lên cấp trên. Nhiều người đánh giá Liệu lấy vợ Việt gian, con dâu phản động. Có cả tin đồn ngày vào Huế nhận ấn kiếm Bảo Đại, ông đã giết bố con ông thượng để chiếm Sửu.
Nhiều phiền hà, lắm khúc quanh thật. Nhưng Sửu, với sắc đẹp và sự hiền thục, là vưu vật trời ban cho ông. Nặng tình nhưng không thể “thu xếp” ổn thỏa, Liệu chả bao giờ gỡ được mối tơ ngày càng rối, trong khi con cái đôi bên ngày càng lớn lên, và quãng thời gian của ông càng mỏng đi.
Quốc hội có tờ “Toàn dân kháng chiến”, Liệu điều hành nhưng chả để mấy tâm sức, làm nó ra đều đều mà ít tiếng vang. Tâm tính ông nó thế, khổ là chỉ ham những thách thức thực sự, trong khi Quốc hội là một tập hợp mang tính chất “bày biện”.
Cái ý đồ viết sách, nung nấu từ những năm trong tù ngày càng hầm hập chín. Cuốn “Sơ thảo lịch sử cận đại Việt Nam”, dù chỉ là “sơ thảo” và in trên giấy rơm, đem lại cho Liệu sự tự tin vào nghiệp viết sử Tuy hơi buồn cười, Liệu thấy mình bị ám ảnh cái phận nhà nho: khi không hợp quan trường thì lui về dạy học, bốc thuốc và “trước thư lập ngôn”.
“Không hợp” thôi. Chả nghĩ chuyện “ai” sai “ai” đúng nữa. Đời rộng, nhiều nẻo, chả ngả này ta rẽ lối khác, nhưng đừng để ảnh hưởng cái tinh thần dân tộc mà ta đã tranh đấu.
Lạ nhỉ. Ngũ thập mà ta chưa “tri thiên mệnh”, còn muốn phiêu lưu là làm sao…
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #35 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:43:17 pm »

CHỈNH HUẤN
Liệu đi liên tục. Nhiệm vụ của ông giờ không phải là được góp phần quyết định những sự kiện trọng đại của kháng chiến, mà chỉ là một nhà tuyên truyền cao cấp. Gặp gỡ các thổ tù trên miền núi, củng cố cho họ niềm tin vào khối thống nhất dân tộc, để cùng đánh Pháp, tiễu phỉ. Diễn thuyết trước học viên trường Lục quân. Tổ chức Đại hội Văn hóa kháng chiến. Bận bịu, vất vả, di chuyển nhiều, khi có ngựa cưỡi, khi đi bộ, chạy máy bay bằng chết, Liệu rất vất vả. Nhưng không khó chịu bằng cái cảm giác mình chỉ là một quả chuông leng keng, cả tiếng đấy, ngồi nhiều “ghế” đấy nhưng do người khác “gõ”. Từ xưa, Liệu vẫn là người ở những vị trí thách thức, chấp nhận các sức ép trực tiếp, chứ đâu phải loại “đi hàng thứ hai”, tuy không đến nỗi khù khì yên ngủ nhưng vẫn là chỉ đâu đánh đấy Lắm khi ông cảm nhận rằng sau lưng mình, hay trong đám đông đang nghe ông cao giọng kia có những lời bàn tán, “xừ này lấy con dâu Việt gian nên không được dự bàn ở cấp cao nữa”, hay “dân Quốc dân đảng cũ ấy mà”… Ông biết việc mình đang làm có ích cho kháng chiến, nhưng nhiều cán bộ dưới tầm ông cũng làm được nó. Ông có tự cao tự đại quá khi “tự đặt mình” trên họ không?
Phần chung bị tổn thương thì phần riêng trồi lên. Liệu ghi chép rất đều, dù hàng ngày đi vài chục cây số. Nhật ký của ông đầy rẫy những sự kiện quốc tế, quan sát dọc đường, pha phách giữa sổ công tác với việc riêng. Này, ven sông máng có mấy chiếc thuyền cháy. Này, vợ chồng nhà bán quán cọc cạch lắm, vợ rất ưa nhìn, còn chồng quá còm róm. Này, những khẩu hiệu, câu nói. Này, Tam Đảo trước kia đã có nhà bảy tầng… Ông có ý thức lắm, rằng những ngày đương sống, những gì mình đang cảm thấy, thật có ý nghĩa với một người phải lập ngôn, dù ý nghĩa thế nào ông chưa nhận ra.
17-3-1951
Vấn đề sống của gia đình đã trở nên nghiêm trọng khi có thêm 3 miệng ăn nữa. Giá gạo ở đây hiện nay đã lên tới 3 vạn đồng một tạ. Các vật dụng đều cùng với nhân khẩu mà tăng lên. Tất cả chỉ còn 1 trông vào việc tăng gia sản xuất ngoài số tiền phụ cấp Thường trực Quốc hội của mình. T. (tức bà Tý) đã chỉ huy vỡ đất giồng thêm sắn và làm cỏ những vườn chè bỏ hoang để lấy chè bán. Ruộng chiêm làm không kịp nữa. Như vậy, kết quả những hoa lợi trong vườn chỉ có thể là món ăn phụ với gạo. Rồi đây kinh tê gia đình sẽ phải làm cho mình bận lòng đấy!
18-3-1951
Xóm mình ở trong lúc này là một xóm hoang.
Ngoài nhà mình ra, dân cư đều vào ở trong lán, vì sợ máy bay. Hôm nay, mình cũng lên thăm một vài chỗ về mé trên, gần sát núi đá, để một khi cần thiết, sẽ làm một túp lều ngay cửa hang, vì trong khi làm việc trước thuật mà cứ nhấp nhổm chạy và bị uy hiếp luôn hàng phút hàng giờ thì không làm gì được. Hoa màu nhà ta đã có kết quả nhiều. Cà chua và su hào đều sai quả và to củ. Giàn su su cũng rất nhiều triển vọng.
…
Một nhà bên chỗ mình ở có đám cưới. Nhà trai đưa lễ vật đến nhà gái gồm có 50 cân thịt (theo thời giá 2000 đồng một cân) và một số rượu tương đương mặc dầu đã có lệnh cấm. Ngoài ra, một sô tiền mặt mà người ta không điều tra được. Nhà trai cũng như nhà gái mời các bà con đến cơm rượu linh đình. Cô dâu là con bé hơn 10 tuổi, mặc chiếc áo nâu ngắn, đeo đôi hoa bạc…
(Nhật ký quyển 441, lưu trữ Viện Sử học)

Từ Đại Từ, vượt qua Tam Đảo, lại là một niềm vui khác. Bên kia núi có Sửu, chân và mặt đang nề lên vì cái thai, và con gái Quang.
S. (tức bà Sửu) mới làm chiếc nhà mới ở ven đồi. Nhà nhỏ, lợp lá gồi. Vị trí vui mắt. Trông ra đồng ruộng và bờ suối. Mùa hè gió thổi luôn và nhiều ánh sáng. Xung quanh nhà đã sẵn có 3 hầm trú ẩn. Trên đồi lác đác những túp lều của bần, cô”nông. Hầu hết trong mọi nhà đều có những người làm việc ở các cơ quan hay học sinh trọ học của một trường trung học gần.
Bên đường cũng có một đôi hàng phở, hàng xén, quà bánh… Nghĩa là không hiu quạnh lắm.
(Nhật ký quyển 441)

Từ cơ quan Thường trực Quốc hội, Liệu thu xếp khăn gói đi dự lớp chỉnh Đảng, trong khu rừng cách đấy vài giờ cuốc bộ. Kháng chiến phát triển nhưng vẫn phải xác định là lâu dài, công tác cán bộ rất quan trọng để củng cố ở cơ sở, duy trì sức mạnh trong từng địa phương, “tế bào” đơn lẻ. Rà soát, phân loại, học tập lý luận, đường hướng, chủ trương mới là mục đích của các đợt chỉnh huấn. Cố vấn Trung Quốc vào cuộc, với các kinh nghiệm từ Diên An…
1-10-1952
Số học sinh dự lớp chỉnh Đảng khóa II ở đây đã lên đến 240 người… Người quen nhiều lắm. Có người đã làm việc hay ở với mình từ trước, bây giờ mới lại gặp nhau. Có người còn nhớ mặt nhưng đã quên tên rồi. Nhưng không khí ở đây không còn làn không khí ấm áp của năm xưa. Ngoài câu hỏi sức khỏe của nhau theo lệ thường, người ta không còn muốn hỏi nhau một câu nào khác. Vì người ta đến đây phải nhớ luôn một thái độ học tập “nghiêm chỉnh”, một tác phong vô sản. Mỗi câu chuyện phải nghĩ đến lập trường cũng như nghĩ mỗi câu nói của ai đều phải tìm ra tư tưởng. Vì vậy ai nấy đều chú ý dè dặt, “giữ miếng” nhau, làm bặt những chuyện tâm tình cởi mở, nhất là những người có liên hệ với nhau về thân thế, về công tác thì càng phải sửa soạn để “đối phó” với nhau. Không khí kiềm - mặc ấy cố nhiên là không hợp với một người nặng về tình cảm, khổ về tình cảm như mình.
(Nhật ký quyển 444)

Kéo dài từ cuối năm 1952 sang đầu năm 1953, cuộc chỉnh Đảng tạo nên những trạng thái hết sức khác nhau trong con người Liệu. Một mặt, là sự bứt rứt, thấy “không hợp” khi cứ phải kiềm chế từng câu nói, không dám đùa cợt, bồng bột. Mặt khác, vì sự nghiêm túc của sự kiện, vì tính kỷ luật của lớp học, Liệu tự soi xét lại con người mình, “bóc trần” nó ra thật chân thực. Thật ra ông chả còn cách nào khác ngoài sự chân thực, chỉ có điều có nói ra hay không nói ra nhận thức của mình trước những đối tượng đồng chí khác nhau thôi. Vì thế mà khi thảo luận, ông bị người cùng tổ phê bình là “rụt rè”, “hay rào trước đón sau”; một trạng thái tức anh ách, vì thực tâm Liệu thấy nói thẳng ra người ta không thể hiểu.
Nghe phổ biến yêu cầu chỉnh Đảng. Viết tự kiểm thảo, xem xét từng chi ly nguồn gốc giai cấp, ý thức, các quan hệ của mình. Rồi đem ra tổ đọc, nghe góp ý phê bình, không đạt thời viết lại. Nhưng không khí chả phải chỉ có nặng nề. Liệu cầm chịch tờ bích báo của lớp học, chủ trương nó nên vui tươi, dễ đọc. Có những mẩu vui cười, thơ ca - dĩ nhiên không sướt mướt “ủy mị”. Có những tranh luận về quan điểm, Liệu bị thiểu số nhưng nhất quyết không chịu thua. Có những đêm múa tập thể cầm tay nhau “sòn la”, Liệu nhất định không tham gia. Thỉnh thoảng cũng được ra khỏi rừng về cơ quan, về nhà, đầu óc thư thái hẳn. Cùng đi với ông thường là Cung, cũng ở Thường trực Quốc hội, người chịu phận rất éo le trong đợt chỉnh huấn.
6-10-1952
Anh bị tổ truy riết vì anh đã không tìm ra tội lỗi gì. Mà không tội lỗi gì tức là tự nhận mình đã toàn thiện toàn mĩ, là không thành khẩn trong việc học tập. Kết cục, vì thấy anh ở ban TTQH, người ta đưa ra 41 câu hỏi về mọi vấn đề quốc kế, dân sinh, kháng chiên, kiến quốc để buộc anh trả lời… Anh đã phải khóc nức nở vì người ta trút cả trách nhiệm lên đầu anh từ việc bộ đội không được tiếp tê đầy đủ đến những lầm lỗi của một người dân quê. Sáng nay và cả chiều nay, anh vẫn bị truy như thế. Việc này có liên quan tới mình mặc dầu tổ mình không đặt thành vấn đề này với mình. Nghĩ đến đây, mình nhớ lại buổi chúng mình tranh luận với Bộ Chính trị của TU Đảng hôm 3-3 vừa rồi. Ban TTQH đã bị tước hết quyền hành và nhiệm vụ trong khi nó vẫn phải phụ trách trước quốc dân về mọi nhiệm vụ của nó.
(Nhật ký quyển 444)
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #36 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:47:01 pm »

“THI” ĐỖ!
Tổng kiểm thảo là kết quả quan trọng nhất của lớp chỉnh Đảng. Còn hơn cả kỳ thi tốt nghiệp, nó ảnh hưởng tới tiền đồ chính trị của người cán bộ sau đó.
Nhưng giờ thì Liệu không nghĩ nhiều tới điều này. Là người cách mạng, ông sẽ phải thành khẩn với tổ chức cách mạng, không giấu giếm khuyết điểm, những quan hệ “nhạy cảm”, cũng chả vì thế mà tự “tiêu diệt” điểm mạnh cũng như các yêu thích của riêng mình. Không thế thì ông chả còn là mình. Có lẽ đây là lúc những phẩm chất “trung quân” cũng như “tiết tháo” nhà nho thể hiện ra.
Vả lại ông còn bao nhiêu để mà mất. Bị đánh tụt xuống những vị trí xa vời vợi trong phẩm trật quan lộ, chỉ còn cả tiếng chứ không thực quyền, ông phải tự cứu lấy mình. Đường chính trị thế là coi như xong. Nhưng Liệu còn đó chí lập thư. Ông yêu sách vở, thích viết lách, tra tầm để mà dựng lại những trang sử dân tộc. Chẳng phải ngẫu nhiên mà mươi lăm năm trước, lão mật thám già Grandjean đã lấy chân viên chức trong trường Viễn Đông Bác Cổ ra dử để Liệu thôi làm cách mạng đấy ư? Và mấy năm nay, giữa bao nhiêu sự vụ, ông đã làm xong cuốn “Sơ thảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam”.
Lớp chỉnh Đảng chia thành từng tổ, cá nhân viết tự kiểm điểm, nêu ưu khuyết để mọi người phê bình. Trông vào các lứa cán bộ thì có vẻ bị cào bằng, anh bần nông “i tờ ít” về lý luận có thể vặn vẹo anh đã lịch duyệt trên trường văn trận bút. Khả năng tiếp thu phê bình, trả lời để “thông” cả trăm phần trăm hầu như là không thể; cũng có nghĩa là những ai thuộc “tầng lớp trên” dễ gặp nguy nan lắm. Trước đó một cao trào do Đảng khởi xướng đã chả có khẩu hiệu “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ” là gì.
May là những người tổ chức lớp, kể từ Tổng bí thư Đảng trở xuống, chỉ để cho học viên có xuất thân khác nhau cọ xát ở mức độ “cho nóng người” lên thôi. Chứ với từng cá thể, lai lịch, trên có đường hướng đánh giá, phân loại, thậm chí thái độ đối xử không cào bằng cả. Liệu là người được hưởng “diện chính sách” ấy.
12-10-1952
Tối nay, anh Lương, một người trong Học ủy và Trung ủy đến hỏi chuyện riêng mình về những thắc mắc không tiện nói ra trong tổ học tập. Mình không ngần ngại gì, nói cho anh L. nghe mấy điều vẫn “găm” trong đầu mình đối với chủ trương của Bác mà chưa được công khai kiểm thảo lần nào, như “Uỷ ban Hành động” (không chịu gọi là “Uỷ ban Khởi nghĩa) trong đại hội Tân Trào, việc trù định dời chính phủ ra ngoài để diệt nội phản trong khi bị bọn quân phiệt Tàu áp lực (không chịu mang danh nghĩa là Chính phủ lâm thời), việc tự tiện cho Bảo Đại lập chính phủ, việc định đổi quốc kỳ trước áp lực của bọn phản động… Kết quả, đồng chí Lương khuyên mình đừng quá quan tâm đến những việc đã qua để an tâm học tập. Và những “chuyện lịch sử” ấy vẫn chỉ là chuyện trong xó tối. (Nhật ký quyển 444)

Cần phải trình bày những gì và không trình bày những gì trong tự kiểm thảo? Liệu không nghĩ nhiều đến những đồng chí cùng sinh hoạt trong tổ của khóa chỉnh Đảng. Dù đã lên ghế “bị cáo” đôi lần, bị phê bình ra gì, Liệu hiểu họ chất phác, không có ác ý, có điều nhận thức khác mình. Vấn đề là cấp trên nữa, những người sẽ xem “bản văn” để quyết định vận mệnh mình. Liệu sẽ không “đánh” cái tầm của mình xuống quá, cũng không coi ban thân chỉ toàn đúng. Thái độ phải hoàn toàn thành thực, cái thật - chứ không phải thật thà - sẽ quyết định hết. Nhưng mà năm ăn năm thua, còn kiểu gì khác đâu?
Dự thảo tổng kiểm thảo có ba phần lớn. Phần đầu tiên, Gốc rễ xã hội và hoàn cảnh gia đình, khá đơn giản. Nhà ông có nòi yêu nước, lại nghèo, nghĩa là “rất cơ bản” về lý lịch. Phần hai, Hoạt động qua các thời kỳ thì phải nghĩ nhiều, nào “tiền Cộng Sản”, vì sao từ Quốc dân đảng chuyển sang Cộng sản, làm báo thời Mặt trận Dân chủ rồi đi tù thế nào. Đến thời chính quyền cách mạng, ông phản ứng với chủ trương ký Hiệp định Sơ bộ, lấy người đàn bà có một “nhân thân” không thể nói là không đáng ngại. Và kháng chiến, những tâm thế, nhận thức của ngày hôm nay…
Sau hết, học viên phải tổng kết tư tưởng của mình, từ nguồn gốc, bản chất các ý nghĩ, tình cảm đến tác phong thể hiện ra. Cuối cùng là phương hướng sửa chữa, phấn đấu. Đây có thể là cái phần đơn giản, dễ “hô khẩu hiệu” nhất, lại cũng có thế lật đi lật lại lâu bao nhiêu cũng không đủ.
Ngổn ngang bao nhiêu điều, không khéo giống như búi chỉ, càng rút càng rối. Có những người “thi” mãi không xong, tốn bao nhiêu nước mắt, hạ mình xuống bao nhiêu bậc mới qua được. Thế mà bản của Liệu, vào loại dài nhất lớp học, lại giúp ông “đỗ” ngay trong lần “khảo hạch” đầu. Liệu lý giải vì sao lại chậm trễ trong quá trình chuyển từ Quốc dân đảng sang Cộng sản:
Tôi nghĩ đến câu “Gái trinh không lấy hai chồng”. Tôi nhớ lại những ngày đầu tiên được kết nạp vào VN QDĐ, tôi đã giơ tay thề. “Trước mặt giang sơn Tổ quốc, trước mặt các anh em đồng chí, tôi…”. Tôi càng nhớ các đồng chí rất thân của tôi trước kia đã chết vì đảng, vì nước, đã đem máu viết nên những chữ lớn “Việt Nam Quốc dân đảng”… Sự mâu thuẫn giữa lý trí và tình cảm kéo dài hết ngày tháng ấy sang ngày tháng khác trong đầu tôi. Lập trường giai cấp của tôi còn bấp bênh nên không cho phép tôi giải đáp thỏa mãn những kiên giải và tình cảm kể trên”. (Dự thảo tổng kiểm thảo).
Những sự kiện. Biết bao nhiêu quan hệ, kèm theo là hành động, nhận thức trong từng thời kỳ. Rõ ràng Liệu không phải là một người cộng sản từ gốc, mà đã nhuộm mình qua vài phong trào có xu hướng dân tộc. Sự từng trải tạo nên sự vì nể, nhưng cũng gây phức tạp. Ông đã thiếu kỷ luật, sự phục tùng lãnh tụ trong năm 1945-1946, có phải vì mắc mưu khiêu khích của địch không? Trước đó, ở căng Bá Vân, vì sao ly khai chi bộ? Vụ bạo động non ở Nghĩa Lộ, đứng đầu ban hành động, có phải Liệu đã dao động? Ngần ấy “nút thắt” phải được gỡ, dần dần, vừa nghĩ vừa viết chứ không hạ bút lấy nhanh được.
Nhưng phần căn cốt là tình trạng hiện tại.
Sau khi ra khỏi Tổng bộ Việt Minh, tôi dần dần xa cơ quan chỉ đạo tối cao của Đảng và sống cái đời lạc lõng với một tinh thần hoảng loạn… Thấy mình bị khinh bị nhục, một tư tưởng tự sát lởn vởn trong đầu tôi. Người đầu tiên mà tôi cho biết ý nghĩ này là HT (có lẽ là Hải Triều - TC) trong cuộc đại hội văn hóa toàn quốc. HT bảo tôi rằng người Mác-xít không bao giờ tự sát. Thực ra tôi cũng hiểu như thế và nói rõ tự tử là khiếp nhược… Sau đó, ý niệm tự sát không thực hiện được vì hai cớ sau đây: 1) Năm ấy 1948, Đảng đã triệu tập đại hội, đã gửi đề án cho các đại biểu nghiên cứu trước. Tôi biết mình sẽ được đi dự đại hội nên nảy ra ý nghĩ: từ ngày vào Đảng đến giờ, chưa được đi dự đại hội ngày nào. Lần này mình không thể bỏ qua trước khi chết. Nhất là trước đại hội, mình sẽ có dịp phát biểu ý kiên đối với mấy chính sách lớn của Đảng mà mình vẫn không thông. Sau đó, mình còn phải nhân dịp nói rõ trường hợp của mình và rút một kinh nghiệm cay chua cho nhiều đồng chí khác. Rồi có chết sẽ chết. 2) Bộ sử Cách mạng cận đại Việt Nam của tôi lúc ấy chưa biên soạn xong. Tôi tự hẹn phải biên soạn cho xong bộ sử này rồi mới có thể chết được.
Về “phương pháp tư tưởng”, Liệu tự phê bình:
Nhìn vào Đảng, tôi đã lý tưởng hóa Đảng. Nên, một khi thấy Đảng chưa tận thiện tận mĩ như lý tưởng của mình thì đâm ra bực tức. Cũng như, nhìn Đảng không thấy toàn khối, mà chỉ thấy từng cá nhân. Rồi cũng chỉ thấy những khuyết điểm của cá nhân mà sinh ra bi quan. Vì vậy, cái ám ảnh nhất trong đầu tôi bao năm nay là nạn đảng viên phức tạp.
Tôi gửi thư đề nghị lên TƯ. Tôi yêu cầu thanh Đảng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc. Tôi không tin vào “giáo dục vạn năng” của Đảng (phát biểu trong Đại hội Đảng). Những ý kiến không được thu nhận, tôi càng phẫn uất.
Đối với những người phụ trách lớp chỉnh Đảng, Trần Huy Liệu là một trường hợp đặc biệt, tuy không hẳn là quan trọng quá. Mất cán bộ là điều không ai muốn. Người ấy đã thành khẩn bộc lộ một cách sâu sắc, có suy xét lý giải - chứ chả phải chi trình bày- vấn đề của mình, thì đối thoại, cởi gỡ từng “nút” là chuyện cần. Liệu làm việc liên tục với Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn, Lê Văn Lương, và cố vấn họ Mã trong đoàn cố vấn Trung Quốc tại lớp học. Có những điểm yếu, Liệu đã nhận thì họ góp ý thêm, yêu cầu tìm ra “gốc rễ” để khắc phục hoàn toàn. Cũng có những điểm ông nhất định “rằng không sai” thì đành để vậy. “Nhận thức là một quá trình” kia mà, đối với một trí thức càng không nên đơn giản, kiểu mệnh lệnh đơn thuần. Điều chủ yếu là giữa lãnh đạo và “đối tượng phê bình” đã có sự cởi mở giữa những người đồng chí. Thấy “đồng chí già” gầy yếu, phong phanh, Mã cố vấn tặng ông chiếc áo khoác dạ, thứ cực kỳ xa xỉ thời đó.
Noel năm 1952, lớp chỉnh Đảng tổ chức cưới tập đoàn cho bốn đôi học viên. Sau lời khai mạc, một ủy viên trung ương lên căn dặn, đại diện các cô dâu chú rể hứa kiểm thảo tốt để về đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Khách khứa liên hoan rất sơ sài, nhưng được xem phim Liên Xô “Hạnh phúc Cri-mê”, phim Trung Quốc “Người lính biên cương”. Phần Liệu, tuy chả cưới xin gì, tâm tính cũng phải chộn rộn. Buổi trưa, ông vừa đề đạt với Hoàng Quốc Việt một nguyện vọng về công việc trong giai đoạn tới.
Chừng một năm sau, có mấy thanh niên lên rừng đẵn nứa vác về dựng căn lán ở Sơn Dương, Tuyên Quang, cách cây đa Tân Trào nửa cây số đường chim bay. Bên những cột tre, vách nứa lỏng chỏng mấy bồ sách chữ nho, chữ Pháp. Đấy là tài sản đầu tiên của cơ quan tiền thân cho Viện Khoa học xã hội ngày nay. Ban Nghiên cứu Sử - Địa - Văn thành lập ngày 2-12-1953 trực thuộc Trung ương Đảng, là kết quả của nhiều nhu cầu, cố gắng, trong đó có phần rất nhỏ là những ngày chỉnh Đảng khắc nghiệt của Trần Huy Liệu.
“Quốc sử Quán” Đầu năm 1954, Liệu thấy mình trở nên dềnh dàng. Có hai “dinh” hai bên dãy Tam Đảo, Tý ở Đại Từ còn Sửu đằng Lập Thạch. Phần nhiệm sở, đã có cơ quan Thường trực Quốc hội, giờ thêm “anh” Sử - Địa - Văn. Ngôi nhà của “Quốc Sử quán” đầu tiên của “vương triều cộng hòa” lợp lá, thưng nứa, có hai gian ngăn làm bốn “phòng”. Liệu chiếm một chỗ, rồi đến văn thư, nơi làm việc của cán bộ. Và phòng Trần Đức Thảo, ông trí thức khét tiếng vì cuộc tranh luận với nhà văn - triết gia hiện sinh Jean Paul Sartre từ Pháp trở về. Trước đó, Thảo ở bên văn phòng Tổng Bí thư, vừa dịch “Đề cương văn hóa Việt Nam” của Trường Chinh sang tiếng Pháp.
Dường như là “lắp ghép” vị tiến sĩ triết này vào đâu cũng là việc khó đối với trên, ngay cả khi hòa bình, quyền lực đã hoàn toàn về tay những người làm cách mạng. Trở về đất nước rất đỗi mến thương, Thảo trở nên một “mảnh” riêng, cô độc, dù sau này đứng trên giảng đường đại học hay làm cán bộ nghiên cứu ăn phiếu thực phẩm loại êng êng.
Bản tổng kiểm thảo trong cuộc chỉnh Đảng cuối năm 1952 cho Trung ương thấy “tâm bệnh” của Liệu trọng đến mức nào. Sự xa cách, mức kỷ luật - không “án”, một nhiệm vụ không thể nói là không có tác dụng nhưng chẳng thích hợp với Liệu…, là những nguyên nhân dẫn đến mất cán bộ như chơi.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #37 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:51:09 pm »

Mà Liệu lại nổi tiếng, để ông tự sát, nhỡ ra… Khi “đương sự” đã thành thực bộc lộ, đề đạt nguyện vọng về một sự nghiệp mà trên cũng cần, thì tốt nhất là đáp ứng nó, được cả đàng riêng cũng như chung. Sau này, mãi năm 1993, Pelley Patricia Marie, nghiên cứu sinh đại học Cornell, Mỹ, khi làm luận án “Sách báo cách mạng: Lịch sử hiện đại sau thuộc địa ở Việt Nam” đã rất quan tâm đến sự ra đời của cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội đầu tiên này. Những câu hỏi Pelley đặt ra là “Kháng chiến gian khổ vậy, sao ra được các tập san?”, “Các tác giả, nhà nghiên cứu đã sống ở đâu?” “In ấn thế nào, số lượng ấn bản, cách tiêu thụ, ai đọc chúng, nói chung ảnh hưởng ra sao?”…
Khởi động từ năm 1953, nhưng thật ra Liệu đã nung nấu một Quốc Sử quán” từ những ngày “cầm” Bộ Thông tin - Tuyên truyền 1946. Lăn vào những cuộc cổ động, diễn thuyết bất tận, con người chả bao giờ thích hợp với vị trí làm một thành viên của “bộ máy” cứ mong ước được ngồi yên đọc sách, chiêm nghiệm về quá khứ, viết những chuyện trong đầu ra. Kể ra cuốn “Sơ thảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam” đã thỏa mãn phần nào tâm sự ấy của ông, nhưng chỉ là một thử nghiệm, việc làm thêm ngoài nhiệm vụ.
Giờ thì Liệu được ăn bổng để làm việc ấy, tuy không hẳn đã chuyên biệt. Kể cả lương ở Thường trực Quốc hội, ông được hưởng sinh hoạt phí khoảng 70 cân gạo, trong khi người khác lĩnh từ 35 đến 40 cân. Chừng nấy nuôi một gia đình không đủ, nhưng Tý rất có tài tăng gia, và Sửu được khoản tô tức của tá điền trong ấp, trước khi Cải cách ruộng đất tràn đến.
Trong lòng kháng chiến, vẫn có những hoạt động trước thuật. Ngoài những cuốn sử Đảng, sử kháng chiến, Bộ Quốc gia Giáo dục có Ban Sử học trong Vụ Văn học Nghệ thuật. Nằm trong khu Bốn, Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu, vừa viết sách vừa giảng dạy. Việc “tường thuật, cắt nghĩa” quá khứ theo quan điểm mác-xít đã hình thành dần dần qua các tác phẩm. Nhưng phải có một cơ quan chuyên biệt, chính thống của đất nước, kiếu như Quốc Sử viện của giám tu Lê Văn Hưu đời Trần. Sang triều sau, chả phải Lê Thánh Tông đã “sai sử quan tu soạn Ngô Sĩ Liên soạn Đại Việt sử ký toàn thư” đó sao.
“Sử để chép việc, mà việc hay hay dở đều dùng làm gương răn cho đời sau”. Phan Huy Chú tính vậy trong Lịch triều hiến chương loại chí. Liệu đã không còn tham chính, nhưng vẫn rất có thể tác động vào đương thời - trước hết là làm cách mạng - bădng chữ nghĩa được chứ, dù rằng tác động gián tiếp, xa xôi thôi.
Từ nay ta lại là người có ích, được tổ chức cần. Ta thỏa mãn sở nguyện, sở học, và lại có bổng lộc cho vợ con. Cái tâm thể đó khiến Liệu hăng hái xây nền móng đầu tiên cho “ngôi nhà” sau này ngày càng đồ sộ.
Ban Trù bị cho “Quốc Sử quán” gồm Liệu, Minh Tranh, Tôn Quang Phiệt. Tuy đứng đầu, nhưng Liệu phải dựa vào bộ máy Ban Biên ủy nhà xuất bản Sự thật của Minh Tranh, nơi có cán bộ nghiên cứu, tài liệu, in. Dự thảo quyết định thành lập trình lên trên, điều 4, phần nhân sự ghi “… gồm có: các đồng chí Trần Huy Liệu, Minh Tranh, Tôn Quang Phiệt, Hoài Thanh và Trần Đức Thảo, Vũ Ngọc Phan (người ngoài Đảng). Đồng chí Trần Huy Liệu là thư ký của Ban. Với nét chữ rất chân phương, dễ đọc, Tổng Bí thư Trường Chinh chữa: “và hai người ngoài Đảng là các bạn Trần Đức Thảo, Vũ Ngọc Phan”; “Đồng chí Trần Huy Liệu làm Trưởng ban”.
Cái ban mới nghiên cứu Sử, Địa, Văn, gọi là “Quốc Sử quán” thật ra không đúng tí nào. “Sử” được tôn lên đầu vì những người làm đề án, thành viên sáng lập hầu như chỉ toàn anh làm sử. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh tuy có tên nhưng làm việc chính bên văn nghệ. Đề án thành lập của Ban Trù bị ghi: “Nên có một tổ chức gồm các ngành Văn học, nhưng với khả năng hiện có, hãy tập trung vào ngành Sử học để có thể bát tay ngay vào mấy việc cần thiết”. Là một cơ quan thuộc Trung ương Đảng, thì ai ngoài Đảng, ai trong phân ra khá rõ, chi bộ sinh hoạt chung với bên Sự thật. Tổ Lịch sử đông nhất, 7 người, gồm Phiệt, Tranh, Thảo, Liệu, ông Phạm Trọng Điềm chuyên dịch Hán Nôm, hai lính trẻ Văn Tạo, Nguyễn Công Bình. Tất nhiên phải có người đánh máy và người làm thư viện, tư liệu. Có từng nấy “mống” mà đủ cả các “ngành” khảo cổ, dân tộc, thế giới, Hán Nôm…, gần gần được như các viện thuộc “Bộ” Khoa học xã hội bây giờ. Làm được vậy vì các trí thức đang nghiên cứu Sử, Địa, Văn ngay trong kháng chiến đâu có ít. Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh, Nguyễn Đổng Chi trong khu Bốn. Trần Thanh Mại, Ngô Quân Miện, Văn Tân, Trần Văn Giáp, Nguyễn Lương Bích, Đinh Gia Khánh… ở miền Bắc. Đâu đó trong các khu rừng, nhà dân, hàng ngày chạy ăn, chạy máy bay, họ vẫn đọc, viết.
Ban Sừ - Địa - Văn ra đời, họ vô cùng phấn khởi vì coi như đã có một ngôi nhà chung, có chỗ để gửi tác phẩm hằng dày công mài miệt tới. Và tên tuổi người đứng đầu cái cơ quan đó chả phải xa lạ với họ. Từ Khu học xá Trung ương bên Nam Ninh, Trung Quốc, các bài nghiên cứu viết dưới ánh sáng đèn điện cũng được gửi về.
Cơ quan toàn ông già, Liệu nghĩ đến những người trẻ tuổi hơn để làm nguồn cho giai đoạn sau. Lần đầu gặp Văn Tạo, do một chỗ khác giới thiệu, ông đưa chàng thanh niên một bản tin tiếng Pháp, một đoạn văn bạch thoại để dịch thử. Rồi bảo “phải học thêm bạch thoại đi, công việc không phải chỉ toàn chữ nho đâu”. Cái câu lớp người sau luôn luôn được “dạy bảo” là “có sử đã rồi mới thành dân tộc được”.
Sự sống học thuật đầu tiên thể hiện ở hai số Tập san tử Địa Văn, sang số 3 đổi thành Tập san Văn Sử Địa. Sau ngày “khai sinh”, do neo người làm trực tiếp, phần nghiên cứu Văn học có thể nói là khá mỏng, còn mảng Địa lý chủ yếu kết hợp với bên giáo dục làm sách giáo khoa cho các trường phổ thông. Từ Tân Trào sang nhà in Tiến bộ ở Ghềnh Quýt để chạy in tập san phải qua sông Phó Đáy và 24 đoạn suối. May là cơ quan đã có thanh niên lo việc này. Và cũng may cho họ là có xe đạp để đi, cứ thế vác qua sông suối, cốt sao bản thảo khỏi ướt. Không được vào khu vực nhà in đóng, họ phải ở lại lán trạm giữa rừng, chờ có bản in thử để sửa, ngày xơi hai lon gạo, hai quả trứng vịt.
Tập hợp tư liệu, lập thư viện là một công việc phải làm gấp rút, có khi còn cần gấp rút hơn viết lách. Chiến tranh đang từng ngày, thời cuộc chạy thoăn thoắt, sách vở, các giá trị vĩnh cửu có thể tiêu tan bất cứ lúc nào. Đầu năm 1954, số sách báo Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh tập hợp được, tự nguyện cho Ban được chuyển từ khu Bốn ra. Văn tự thu được từ các gia đình địa chủ bị đấu tố trong cuộc Cải cách ruộng đất thí điểm ở 48 xã thuộc Đại Từ, Đồng Hỷ (Thái Nguyên), Liệu phái Văn Tạo đi lấy về.
Một nhiệm vụ tự nhiên “phát sinh” trước các nhà nghiên cứu mới chân ướt chân ráo, là tăng gia sản xuất. Ngoài số gạo tiêu chuẩn, rau xanh phải trồng lấy, chất tươi thì nhà bếp mua lợn choai về vỗ lên. Hôm nào mổ lợn cứ như có Tết. Được ăn lòng, tiết canh, người ngợm tươi lên, yêu đời hẳn. Mắm muối tháng một lần nhà bếp ra chợ Văn Lãng mua. Thỉnh thoảng bên đình Hồng Thái có văn công, chiếu phim, “quân ta” lại kéo sang xem ké, vui như hội. Bên những nếp áo chàm Tày Nùng, những gương mặt xinh tươi của dân văn nghệ, tuyên huấn, dáng vóc của “cánh” Sử Địa Văn có vẻ già trước tuổi, đăm chiêu hơn. Trong bối cảnh ấy của kháng chiến, sụ tồn tại của Trần Đức Thảo rất khó hòa hợp. Chuyên ngành của vị tiến sĩ đào tạo ở Pháp từ thời còn trẻ là triết học, khá xa lạ với Liệu và những bậc túc nho, những nhà cách mạng chuyển sang nghiên cứu.
Thôi thì việc ông ông cứ làm. Khổ nỗi, ác nỗi là những cá tính (?) trong sinh hoạt. Thảo lầm lì, lừ đừ, khó trao đổi, chả văn nghệ văn gừng bao giờ. Người được trên giao nhiệm vụ giúp việc cho ông là một đảng viên, rất khó thông với “quan niệm” phải giặt cả quần đùi áo lót của Thảo, trong khi ông triết gia học Tây về coi đó là đương nhiên, chả có gì đáng gọi là “không tôn trọng”. Tuy chả hợp, thậm chí kêu giời rằng “Thảo điên rồi”, nhưng vài lần Liệu phải bảo vệ con người lập dị ấy khỏi những ý định “cải tạo lão giáo sư tư sản”.
Điện Biên thắng lớn. Cục diện kháng chiến thay đổi hẳn. Tháng 9 năm 1954, Ban Văn Sử Địa (đổi tên rồi) chuyển từ Tân Trào về Đại Từ, Thái Nguyên. Chiếc bè chở họ bị đắm, sách báo trôi lềnh bềnh. Vũ Ngọc Phan chết thốt khi nghĩ tới tập bản thảo cuốn Tục ngữ dân ca Việt Nam sưu tầm, biên soạn bao năm trời. May là cuối dòng có bè mảng của cơ quan khác cũng đang chuyển về xuôi, họ lội ra vớt lên cho. Kiểm lại thì sách báo, bản thảo, lai cảo không mất tí gì. Cuộc hong phơi sách trên bờ thật vui, về tới Ký Phú, Đại Từ càng vui vì có Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang nhập bọn, dù là tàm tạm thôi.
Hoạt động của Ban Sử Địa Văn dần dần có đà. Vất vả, nhưng cái cảm giác làm người thừa không còn, Liệu thấy hứng khởi hơn khi được giao việc khác: trở lại mặt trận, tham gia Việt Hoa hội… Cuối cuộc kháng chiến, sự biến chuyển của thời thế, theo sau là vận mệnh ngày càng xấu của Sửu tạo nên tâm trạng chộn rộn, dấm dứt. Dù thế nào, thân phận bên ngoài của Liệu đã thay đổi hẳn. Ông được gọi vào một đoàn thăm mấy nước xã hội chủ nghĩa mới, rồi về Hà Nội ở nhà riêng, làm việc phòng riêng, sau đó có ô tô riêng. Lắm cái “được” quá…
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #38 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:52:50 pm »

DỰ CẢM
Từ An Mỹ, Liệu sang Đồng Bẩm dự mấy cuộc đấu tố thí điểm. Địa chủ bị “bầu” làm “điển hình” là Tổng Bính và Nguyễn Thị Năm.
Vượt suối đang tràn lũ, qua con dốc, đã thấy rừng người đông rầm rập. Trên cây lũ trẻ vắt vẻo như đàn chim. Quang cảnh giống một lễ hội dưới xuôi với những người dân náo nức, vui vẻ như sắp vào đám vật, nhưng làm Liệu lo ngại. Người sắp bị đấu tố vừa có công vừa có tội, bóc lột nông dân thực nhưng lại đóng góp không ít cho kháng chiến. Cuộc Cải cách ruộng đất sẽ lan tới đâu, liệu có đụng đến Sửu và hai đứa con yêu dấu đang bên kia dãy Tam Đảo? Cơ quan nghiên cứu vừa thành lập đang cần sắp xếp mà ông không thể ngồi yên. Được cái là Trần Đức Thảo, Vũ Ngọc Phan, Phạm Trọng Điềm, Tôn Quang Phiệt… đều có mục đích công việc của mình, Liệu chỉ phải hướng dẫn mấy chàng trai mới như Văn Tạo, Nguyễn Công Bình. Và cái ban mới ra đời cũng dựa được nhiều vào cơ sở của nhà xuất bản Sự thật của Minh Tranh.
Kháng chiến đang ở giai đoạn cuối. Thắng lợi, chắc chắn là vĩ đại, đang rất gần. Công cuộc tổng phản công cần sự hỗ trợ của hậu phương để động viên chiến sĩ ngoài chiến trường - đa phần con em nông dân. Phân chia lại ruộng đất, tước bỏ của người giàu đem chia lại cho người nghèo là một chủ trương cần thiết, nước Trung Hoa mới lập nền xã hội chủ nghĩa cũng đã làm, và đang muốn ta tiến hành. Nhưng làm quá đi, liệu có phải tự chặt tay mình. Liệu thấy lo ngại khi nghe đồng chí cố vấn Trung Quốc phổ biến kinh nghiệm “Thổ cải”, nhất là việc định ra tỷ lệ địa chủ, trong một làng nhất định phải tìm cho ra ngần nấy tên bóc lột.
Liệu ghi nhật ký, rất kỹ. Một mặt, đó là công tác, đi dự đấu tố thí điểm để về báo cáo ban chỉ đạo trung ương, rút kinh nghiệm cho cuộc Cải cách ruộng đất sẽ làm đại trà sau này trên cả miền Bắc.
Nhưng mặt khác, lại là sự quan tâm đến các số phận, những gương mặt riêng lẻ của ai đó đã từng gặp mặt, quen biết hay mới chỉ nghe tiếng, cùng với “gương mặt quần chúng”. Bên những “cảm xúc sử thi”, chưa bao giờ Liệu chôn vùi những cảm nhận riêng của mình. Phải ghi lại tất cả, dù có khi chả giúp được ai, chả làm “sáng ra” nhận thức của cấp trên. Dù bé nhỏ, là một hạt bụi, nhưng không cảm nhận nữa, thì mình, cái cá nhân bé nhỏ này, cũng chả còn tồn tại. Mà lịch sử lớn lao bao giờ chả tồn tại qua cảm nhận của các cá nhân bé mọn…
18-5-1953
Nhưng mình không dự hội nghị, mà đi dự cuộc đấu địa chủ Nguyễn Văn Bính tức Tổng Bính tại xã Dân Chủ… Theo lối rẽ vào xã Trung Thần, đã thấy từng tốp người từ các ngả đường kéo đến…, trong đó có cả những bà bồng bế con thơ… đôi người đàn bà mặc quần mới. Lũ trẻ con giành nhau chạy trước Một thanh niên leo lên cây me vệ đường rung cây cho quả rơi xuống để mọi người nhặt… Mình có ấn tượng như đi xem hội ở vùng quê. Họ không nói chuyện gì về đối tượng sắp đem tranh đấu cả. Vào một nhà tập hợp. Những ủy viên chấp hành nông hội xã và cán bộ đội công tác đương tíu tít về những công việc tổ chức. Ban tiếp tế nấu từng chảo cơm, bày từng dãy mâm cơm cho những “tân khách”, ai muốn ăn thì ghi tên vào với giá tiền 3.000 đồng một bữa. Mình mặc dầu đã mang cơm nếp đi theo cũng ngồi vào ăn. Dọc đường đi đến trường sở ở trong rừng, có dân quân du kích và công an xã vác súng đi lại canh gác. Từng chòm người ngồi xúm xít dưới gốc cây hay trong một chiếc nhà trống. Một chị phụ nữ bán xôi và bánh khúc tha hồ đắt hàng. Nhưng cho mãi đến gần 11 giờ, cuộc đấu mới bắt đầu. Vì thôn nọ phải chờ thôn kia, xóm nọ phải chờ xóm kia. Có người đi từ sáng sớm, chưa kịp ăn cơm. Có người gần trưa mới tới. Ban tổ chức đã không giao trách nhiệm chặt chẽ những người phụ trách các khu vực hướng dẫn quần chúng đến cho được đúng giờ hay ít nhất là không chậm trễ quá. Mình cố ý ngồi lẫn vào từng đám quần chúng để nghe ngóng dư luận, nhưng không thấy gì. Một anh bạn hỏi người ngồi bên thì y nói: “Tôi đối với ông ấy (chỉ địa chủ Tổng Bính) cũng không có chuyện gì”. Ban tổ chức đi gọi người nào có “vấn đề” với địa chủ thì vào trước. Một số lững thững đi vào. Có người không chịu vào trước, nói: “Tôi có ít thôi, để nói vào cuối cùng”. Nhưng có ai biết được người tố cuối cùng sẽ là ai? Trường sở tranh đấu tại một khu rừng thưa, gần cánh đồng, bên một cái đình. Không có hầm hố tránh máy bay gì cả. Cũng may trời nắng ráo. Mưa thì sẽ ra sao? Ngoài lá quốc kỳ và ảnh Hồ Chủ tịch, những khẩu hiệu “Hồ Chủ tịch muôn năm”, “Đảng Lao động Việt Nam muôn năm”, “Triệt để giảm tô, kể cả thoái tô. Thực hiện giảm tức, phát triển sản xuất. Thực hành tiết kiệm” và một chiếc băng dài đề “Đả đảo và trừng trị xứng đáng tên địa chủ cường hào gian ác Nguyễn Văn Bính”. Mình nhận thấy không có một khẩu hiệu phản đế nào. Một thói quen trong lúc này là người ta mải nhìn vào địa chủ phong kiến mà quên kẻ thù đương phải tranh đấu bằng vũ trang là đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ. Trước mấy chiếc bàn để dành cho chủ tịch đoàn và ban thư ký, một chiếc bục kê lên cho địa chủ quỳ và đằng sau có những biển quy định chỗ ngồi: “địa chủ ngoan cố”, “địa chủ đã thanh toán”, “phú nông nói láo”, “phú nông chưa thành khẩn” và “những người phú nông”. Số quần chúng đến dự độ 700 trở lại. Có cả một số bộ đội và nhân viên cơ quan ở gần. Ban điện ảnh nha Thông tin có đến quay phim. Theo lời căn dặn của chủ tịch đoàn, thì, khi máy quay phim kêu sè sè, mọi người không nên nhìn vào, mà phải “căm thù địa chủ”. Lễ khai mạc bắt đầu. Trên ghế chủ tịch đoàn là ban chấp hành nông hội, nghĩa là bần, cố, trung nông. Có cả một phụ nữ và một thương binh. Phát ngôn nhân của chủ tịch đoàn cũng dõng dạc mạnh bạo, không kể vô sô những sai lầm về danh từ cũng như về văn phạm. Nhưng những lời tuyên bố đầu tiên đã lộn xộn giữa phú nông và địa chủ. Người ta không nói ngay đến địa chủ thủ phạm, mà đã kể đến từng “tên” phú nông thuộc các loại, do du kích áp giải “mời” đến hội trường. Chủ tịch truyền lệnh cho cứ tọa hễ thấy địa chủ vào thì hô đả đảo. Một việc làm không cần đến mệnh lệnh. Đến lượt địa chủ vào. Hai tay bị trói quặt ra sau, nhưng vẫn phải bò từ ngoài vào, đeo bên mình những gói quần áo. Ngoài tiếng hô đả đảo, những người ngồi gần lối y vào cũng với tay ra đánh tát tơi bời. Không đợi để quỳ lên bục, một người đã túm lấy tóc mà “tố”. Trận vũ bão bắt đầu.
Mình đã đọc hồ sơ của B., biết rõ tội ác của B. B. trước làm lý trưởng rồi phó tổng hồi Pháp thuộc. Sau Cách mạng tháng Tám, B. làm chủ tịch Uỷ ban hành chính kháng chiến xã rồi UBHCKC huyện. B. cũng là đảng viên cộng sản đầu tiên ở đây. Một số người vào tố đầu tiên buộc tội B. đã làm tay sai cho Cung Đình Vận, tuần phủ Thái Nguyên ngày trước, để lùng bắt Việt Minh và đồng chí Chu Văn Tấn.
Tuy vậy, ngoài một người ra, hầu hết những người khác đều không đem được ra những bằng chứng cụ thể. Có người không nói được rõ cả việc xảy ra ở đâu ngày tháng nào. Kết quả là B. chỉ nhận sau cuộc Nhật đảo chính Pháp, có nhiều trộm cướp xảy ra, mình làm tổng lý phải đem lính dõng và tuần phiên đi canh gác, thế thôi. Đến lượt tố các vấn đề kinh tế. Một điểm đáng chú ý là trong khi đấu tố địa chủ mà không nổi bật lên cái gì là chiếm đoạt ruộng đất hay tô tức. Người ta chỉ len vào những việc phụ khác như ăn hối lộ, quỵt tiền công, tham ô, đánh người… Có một số người mà phần nhiều là phụ nữ tố tên B. bằng một giọng kể lể tự nhiên thì được công chúng nghe rõ ràng và thấm thía. Một bà đau xót vì chồng bị B. đánh 3 cái ba toong và khi B. vào nhà bà sục bắt cán bộ thời bí mật, cán bộ chạy làm vỡ một rổ bát để nhà bà không có cái bát mà ăn. Một chị ở giơ cái chân khấp khểnh vì bị sâu quảng đế truy nguyên vì B. mà què chân. Một anh ở khác tố cáo vì B. không cấp thẻ thuế thân trong thời Pháp thuộc nên không đi đâu được. Tuy vậy, có bà kể lể vì bị quỵt 3 nồi thóc, đi tới kết quả là con ốm bị chết để kết luận bằng câu: “Vậy mày có trả tao 3 nồi thóc không?”. Cũng một bà khác có anh ở cho B. ốm chết, rồi cũng suy luận theo kiểu trên để đi tới đòi mấy nồi thóc tiền công. Một chị chấp hành nông hội, ngồi ghế chủ tịch đoàn là chị Bân đã tố B. cướp một con trâu với tinh thần căm tức dào dạt, nhưng chị vừa nói vừa vỗ tay xỉa xói vào mặt B. khiến mình có cảm tưởng như nghe cuộc cãi nhau của một mụ bán hàng chua ngoa ở chợ Đồng Xuân.
Ngoài ra, không thiếu những điều vô lý đến phì cười Có người tố B. đã quyên tiền của mình để đóng cho Việt Minh trước cuộc Cách mạng Tháng Tám mà không nói rõ B. đe dọa nếu không quyên thì sẽ bị giết. Có người tố B. đã làm chết hai du kích chỉ vì B. đã phái đi bố trí trong khi quân Pháp tiên lên Thái Nguyên năm 1947. Có người còn tố B. đã làm thịt lợn đãi du kích mà con lợn đó là lợn nhà của B. Một anh tự xưng là bộ đội Anh Bắc trước cuộc cách mạng trong khi tố B. đã không quên “quảng cáo” cho B. là B. đã đốt bằng sắc của thời Pháp thuộc. Một anh phu phà nhắc lại chuyện năm xưa đã bị B. đánh một cái tát vì té nước vào quần B. rồi cứ sừng sộ mãi: “Mày có phải là cán bộ không?”. Nhiều người tố giác B. đã thừa cơ ăn cắp vải, đồng hồ, súng lục… khi quân ta đánh chiếm Thái Nguyên tháng 8-1945. Rồi sau khi nghe B. phân trần, người ta vẫn cứ truy mãi: “Thế còn đạn mày lấy ở đâu?”. Cuộc tranh đấu càng kéo dài, những vấn đề đem ra tố càng trở nên lung tung, tản mạn. Một chị phụ nữ là y tá của một cơ quan cũng lăng xăng chạy vào hỏi chiếc bút Pắc-ke bị mất năm trước khi cơ quan còn đóng ở nhà B. Một người khác kể tội B. khi dạy học đã dùng thước đánh mình. Nói tóm lại, người ta không còn thấy gì là tính chất giai cấp đấu tranh của nông dân chống địa chủ nữa.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #39 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:54:28 pm »

Nếu mình hôm ấy chỉ là một người xa lạ đến dự thì sẽ không biết B. có phải là địa chủ cường hào gian ác không và vì sao phải đem ra đấu tố? Khuyết điểm là chủ tịch đoàn, trước khi đem tố, không giới thiệu tóm tắt những tội trạng của y rồi mọi người đem bằng cớ ra để chứng thực. Những phần tử cốt cán đem ra tố, đã bị bồi dưỡng theo một kiểu cách sai lệch đến lố bịch. Đại đế anh nào chạy ra cũng đầu tiên vỗ ngực bằng một câu hỏi: “Mày có biết tao là ai không?” và “Mày đã dựa vào thế lực nào?”, “Đéo mẹ tiên sư mày, không nhận tao đánh bỏ mẹ bây giờ”… bằng những cử chỉ hùng hổ và quát tháo om sòm, lại không có lý lẽ gì cũng như không đem được ra chứng cứ. Ngu ngốc đến nỗi khi nhắc đến những việc làm thời Pháp thuộc của B, rồi hỏi: “Mày đã dựa vào thế lực nào?”, là có ý chỉ vào thế lực đế quốc cái đó đã đành. Tới khi hỏi những việc làm của B. bằng danh nghĩa chính quyền của ta, cũng cứ gạn hỏi: “Mày đã dựa vào thế lực nào?”. Và nếu quên hỏi câu này thì lại có người nhắc hỏi. Đã thế, không cho “phạm nhân” được trả lời, vì trả lời tức là “ngoan cố”. Những tiếng quát tháo: “Mày còn chối tao đánh bỏ mẹ bây giờ” và những tiếng hò hét của công chúng ở ngoài: “Không cho nó nói”, “Không cho nó phân trần” chỉ tỏ ra những hèn kém, yếu ớt không tin được vào lý lẽ của mình. Sau khi chủ tịch đoàn đọc bản cáo trạng, mình phải lấy làm ngạc nhiên là cuộc tố đã không nêu ra được tội trạng của B. Chẳng những thế, người ta bắt tội nhân phải quỳ trên sàn gỗ tính ra từ 11 giờ đến 4 giở rưỡi chiều. Mỗi khi tội nhân run rẩy gục xuống thì những tiếng thét từ xung quanh lại vang lên: “Quỳ cao lên!”. Anh du kích đứng sau lưng thỉnh thoảng lại dọi một báng súng mỗi khi thấy phạm nhân quỳ thấp xuống, nghĩa là đặt đít vào hai gót chân. Có lúc chủ tịch đoàn ra lệnh cho B. được ngồi xuống một tí thì người tố và quần chúng lại bắt quỳ cao lên. Ngoài hình phạt bắt quỳ thường xuyên, người ta đã đánh đập tội nhân rất tàn nhẫn. Mỗi người ra tố, theo thói quen và bắt chước lẫn nhau, đều nắm tóc tội nhân để giật hỏi. Sau mấy câu hỏi không đi đến đâu, người tố thấy mình trơ trẽn nên phải kết thúc bằng một cái tát để xuống đài. Có người đã thoi vào mang tai tội nhân. Có người đã đá phốc lên bụng. Trong khi ấy, chủ tịch đoàn hay một vài người ở ngoài chỉ khuyên bằng một câu nhè nhẹ “Không cần đánh nó!” hay “Đánh nó thêm bẩn tay!”. Trước mắt mình đã có một ấn tượng rất xấu: một anh, cứ cách năm, mười phút lại lên nắm tóc tội nhân hay xen vào cuộc đấu tố của người khác để hỏi một vài câu trống rỗng, rồi theo đó một cái tát. Mình không thể thấy được ở y một căm thù giai cấp mà chỉ thấy ở y một hèn nhát của một kẻ đánh hôi trong trận đòn hội chợ. Mình còn thấy ở y, cũng như một số khác trong khi đánh đập tội nhân còn có ý biểu dương tinh thần trước mặt cán bộ. Cũng hôm nay, mình còn thấy hai đứa trẻ con trong đám quần chúng cốt cán cũng luôn chạy ra bắt địa chủ phải quỳ cao và túm tóc đánh tát theo kiểu này. Họ hiểu lầm hai chữ “đấu lực” bằng cách dùng nhục hình vô nhân đạo. Họ không biết sức mạnh của giai cấp không phải đánh hôi một cách hèn nhát, có tính chất báo thù cá nhân. Hiện tượng xấu xa này còn do ở những cán bộ của chúng ta, trong khi huấn luyện trong lớp cũng như nói ngoài quần chúng, là: “Kỷ luật thì cấm đánh ẩu, giết ẩu, nhưng nếu nông dân người ta căm thù quá độ mà đánh tát một vài cái thì cũng không sao”. Câu nói này đã trở nên như một châm ngôn. Nó gợi bảo quần chúng là có thể đánh một vài cái được, miễn là đừng đánh chết. Rồi đó, những kẻ lưu manh đã thừa cơ đánh để trả thù hay đánh để chơi, đánh cho thích. Mình thật không muốn thấy nhục hình khôn nạn còn diễn ra dưới chính quyền dân chủ nhân dân này!
Hôm ấy, còn diễn ra một cảnh tượng nữa là người trong gia đình tên B. cũng được áp giải ra hội trường. Trong đó có một bà cụ già khọm, mẹ của B, và một đứa trẻ độ 3, 4 tháng nằm trên bàn tay vợ của B. Chủ tịch đoàn gọi vợ B. lên khuyên chồng thú nhận tội lỗi. Cảnh này chỉ gây cho công chúng rủ lòng thương những kẻ mặc dầu đã sống vào bóc lột và áp bức đương bị trả thù!
Sau trận đấu, chủ tịch đọc bản cáo trạng và cho phép B. được ngồi nghe. Đến lượt cho nói, B. phân trần là trước kia làm tổng lý thì sự áp bức bóc lột nông dân là điều không tránh khỏi. Nhưng sau khi giác ngộ thì B. đã thấy rõ cuộc cách mạng của ta là đánh đổ phong kiến và đế quốc, làm cách mạng ruộng đất. Trên con đường tiến của Liên Xô vĩ đại, B. không dại gì đi vào con đường chết. Từ sau Cách mạng tháng Tám, B. đã tích cực phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nếu có những việc lặt vặt xảy ra, thì nó chỉ là bột phát, không chủ ý. Nếu nhân dân giết y thì y chịu, chớ y không chịu nhận là phản cách mạng, mưu bắt cán bộ. B. nói có thực không, đó là một chuyện. Điều đáng ghi ở đây là cuộc đấu hôm nay đã không đạt được mục đích yêu cầu và không làm cho B. khuất phục. Tuy vậy B. vẫn phải ký vào bản cáo trạng kể trên.
***
Đến lượt Phùng Thái Ký, một Hoa kiều địa chủ kiêm công thương nghiệp. Từ sáng, Phùng vẫn ngồi dưới tấm biển đề “địa chủ ngoan cố”. Thực ra Phùng không phải mục tiêu định đem đấu hôm nay. Nhưng chủ tịch đoàn vừa gọi ra chất vấn, Phùng nói líu tíu khó hiểu, thì mấy nông dân Hoa kiều đã ồ lại thoi đánh túi bụi con của Phùng. Đến đây thì trật tự bị mất hẳn. Chủ tịch đoàn bị động.
Cuộc chất vấn trở thành cuộc đấu. Những việc đem ra tố đều thuộc về hiềm thù cá nhân, xích mích xóm giềng giữa một số Hoa kiều, không có gì là tính chất của nông dân đấu địa chủ. Hầu hết mọi người lại chỉ nhằm vào thằng con của Phùng, một thanh niên ngỗ ngược. Khác với Nguyễn Văn Bính, thằng con của Phùng không thể quỳ cho người ta đánh, mà lăn ra khóc hu hu. Cuối cùng, hai bố con Phùng cũng phải ký vào bản cáo trạng, nhận bồi thường cho nông dân.
***
Ngoài hai địa chủ, đến lượt một số phú nông. Từ sáng, một số phú nông đã phải ngồi theo từng loại.
Khi mà cuộc đấu tố B. đến lúc quyết liệt nhất thì chủ tịch đoàn truyền lệnh cho đem những “phú nông” chưa chịu thanh toán ra một chỗ bắt phải nhận bồi thường cho nông dân. Mà ai cũng thấy rõ là một hình thức uy hiếp phú nông rõ rệt, vượt quá phạm vi “trung lập phú nông” theo sách lược của Đảng.
***
Sau cùng là những lời tuyên bố không phải của chủ tịch đoàn, mà của anh NQC, trưởng đội công tác xã Dân Chủ. Anh hoan hô cuộc thắng lợi của nông dân và nhắc nhở về việc củng cố nông hội.
Nhưng cái điệu lệch của cán bộ là chỉ nhắc đến Hồ Chủ tịch, đến Đảng, mà không nói đến chính quyền dân chủ nhân dân. Những khẩu hiệu hô trước khi mít tinh giải tán cũng thiếu hẳn khẩu hiệu chố đế quốc
***
4 giờ rưỡi, mít tinh giải tán, mình ra về trong đám quần chúng, nhưng không nhặt được một dư luận nào thêm. Nhọc mệt. Bực bội. Một vài ấn tượng xấu trong cuộc mít tinh vẫn ám ảnh trong đầu mình.
(Nhật ký quyển 447)
Có thể hình dung là Liệu phải để rất nhiều thời gian ghi lại những diễn biến trên của cuộc đấu tố thí điểm. Ông ghi trong một ngày ư? Kể cũng khó, vì đâu có rỗi thế. Nhưng cái chính là ý thức ghi chép của ông. Liệu, hẳn nghĩ tới tư cách chứng kiến một vận động sơ khởi nhưng sẽ thành phong trào, sẽ ghi vào lịch sử, đã ghi lại toàn bộ. Ngoài các sự kiện, hành động bên ngoài, ông còn phản ánh cả tâm trạng, nhận xét - nhiều khi mâu thuẫn nhau - của mình. Rõ ràng là trong các dự cảm đã có sự lo ngại thói tham lam, tăm tối của đám đông, ở đây là những người nông dân.
Những hoạt động thí điểm cho cuộc cải cách ruộng đất sau đó càng làm những “hoạt động ghi chép” của “chứng nhân” Trần Huy Liệu khẩn trương, và tốn nhiều thời gian hơn. Nhật ký ngày 22-5-1953 ghi về cuộc đấu tố địa chủ Cát Hanh Long tức Nguyễn Thị Năm, cũng ở hai xã Đồng Bẩm và Dân Chủ.
Số người tới dự độ 1 vạn trở lại, ngồi chen chúc trong một khu đất dưới lùm cây hai bên là núi. Hôm nay nắng nhiều, ánh mặt trời rọi vào khiến nhiều người phải cầm cành cây vừa che cho đỡ nắng, vừa để ngụy trang chống máy bay. Nhưng làm thế thì hàng trước sẽ che lấp hàng sau, không nhìn thấy gì, nên kết cục là phải bỏ cành lá đi và khi nắng quá thì dồn người sang hai bên…
Hôm nay cũng như hôm trước, chủ tịch đoàn lại phạm một khuyết điểm là ra lệnh cho quần chúng hễ thấy địa chủ vào là đả đảo kịch liệt. Một việc làm thừa! Nguyễn Thị Năm và hai con Hanh, Công cùng đầy tớ là đội Hàm, Chính, Chiêu vào. Quần chúng hô đả đảo vang dậy và đòi phải đứng lên cao quay mặt tứ phía cho ai nấy đều trông thấy mặt để đả đảo. Chủ tịch đoàn giới thiệu từng tên với một tràng lý lịch tư pháp mà không nêu tội ác. Tuy vậy quần chúng cũng chấm dứt từng đứa bằng một làn sóng đả đảo. Quần chúng ghét nhất là đội Hàm, vì tội ác đã đành, mà còn vì đôi mắt đầy khiêu khích. Nhiều người hô bắt nó phải cúi mặt xuống.
Rút kinh nghiệm lần trước, chủ tịch đoàn tuyên bố đề nghị quần chúng phải giữ vững trật tự và không cần đánh đập tội nhân hay bắt quỳ, bò. Bọn mẹ con và tay sai địa chủ được ngồi trên một cái bục dưới gốc cây. Quần chúng lần lượt vào tố, từ loại vấn đề kinh tế đến chính trị và sau hết là chống chính sách chính phủ và nói xấu cán bộ. Những người đấu tố hôm nay cũng có một phong độ và một nghệ thuật khác hôm đấu Tổng Bính. Những tiếng hò hét “Mày có biết tao là ai không?”, “Mày dựa vào thế lực nào?” kèm theo cái tát để xuống đài không còn nữa. Những người tố được quần chúng cảm động và tán thưởng nhiều nhất là bà Sâm, chị Đăng và anh Cò. Bà Sâm, với một giọng gợi cảm, kể lể vì Thị Năm mà mình phải suốt đời cô độc, có người rơi nước mắt. Nhưng sự thực, nội dung câu chuyện không có gì. Chị Đăng, một người ở với Thị Năm lâu ngày, tố lên rất nhiều sự việc bí mật và chi tiết. Nhưng, với một giọng lưu loát quen thuộc, chị trở nên một tay “tố nghề” và ít làm cho ai cảm động.
Còn anh Cò, một người thiểu số đã bị Hoàng Công, con Thị Năm, bắt vì có tài liệu Việt Minh, trước cuộc Cách mạng tháng Tám, bị tra tấn rất dã man, rồi trốn thoát trước giờ Công định lấy đầu nộp cho Cung Đình Vận. Bằng một giọng chân thành đến ngây ngô, anh đã làm cho Công không chối cãi được nửa lời.
…
Cũng có không ít những người nói không đạt ý, không rõ việc. Bà Minh nói việc chẩn bần tại đồn điền Đồng Bẩm năm 1945 đã làm bao nhiêu người chết đói, rồi kết luận bằng những câu: “Mày đừng nhận là chủ đồn điền có được không?”, “Mày chỉ có hình thức thôi” và “Mày nói nhân nghĩa mà mày không nhân nghĩa gì cả” khiến người nghe không hiểu tội Thị Năm ở đâu? Sự thực thì hồi ấy dân chết đói nhiều quá, bọn thống trị Pháp, Nhật muốn che lấp tội ác của chúng, bắt các chủ đồn điền phải hàng ngày xuất ra một số gạo phát chẩn cho dân. Thị Năm đã bớt và khai man số gạo này, nghĩa là ăn cắp số gạo mà dân đói đáng được hưởng để chết đói thêm. Ông Giồng tố cáo Thị Năm đã cướp gánh cỏ của ông cho ngựa nó ăn và giỏ củ mài làm cho cả nhà nhịn đói. Câu chuyện của ông đã được một văn nghệ sĩ làm thành một bài thơ tràng thiên rất cảm động Nhưng hôm nay, ông đã thuật lại một cách nhạt nhẽo. Con gái ông Giồng, hơn mười tuổi, đáng nhẽ cứ kể rành rọt cảnh đói rét của nhà mình phải chịu vì sự bóc lột của Thị Năm, nhưng nó lại nói bằng một giọng “bà cự” nên nhiều người không cảm động, mà lại phát ghét. Chị Lý, con nuôi của Thị Năm, được Thị Năm trang điểm cho để định gả cho một võ quan Nhật. Nhưng sau khi biết chị chỉ là thân phận tôi đòi, không có tiền của gì thì tên Nhật lại không lấy và chị lại bị Thị Năm bắt lột trả lại quần áo, trở lại thân tàn ma dại như trước. Chị vừa nói vừa khóc. Nhưng không ai rõ chị nói gì.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM