Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:21:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cõi người  (Đọc 44973 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #40 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:55:36 pm »

…
Tuy vậy, trong đám người tố, vẫn còn sót lại một ít những phong thái cũ. Câu hỏi “Mày có biết tao là ai không?” đã được chủ tịch đoàn ngắt đi bằng câu: “Cứ việc tố không cần bắt nó trả lời”. Một vài cái tát vẫn còn diễn ra. Trong khi tố tên Công, nhiều người hỏi những câu vô ý thức: “Mày có xứng đáng là cách mạng không?”, “Mày nói mày là cách mạng mà như thế à?”. Một người ở Phúc Trừu tố cáo Thị Năm về tội chiếm đoạt ruộng đất khẩn hoang của nông dân và cơi thùng thóc lên để thu thóc, rồi kết luận “Như thế mày có xứng đáng là địa chủ không?”. Một người khác tố Thị Năm, đội Hàm và Lý Nguyên Lập bảo an đoàn ở Phúc Trừu bắt nông dân gác và đánh đập tàn nhẫn, cũng để đi tới kết luận: “Mày là con chó! Chứ không phải địa chủ?”.
Một tá điền tố Thị Năm lấy ruộng của mình đương làm bán cho người khác vì mình không có tiền mua, bằng câu: “Lấy tiền ở mả bố mày mà mua à?”. Nhiều người vẫn gắn vào hai chữ “tiến bộ”: “Mày nói mày tiến bộ mà như thế à?” Đi xa hơn nữa, có người nói Thị Năm lập quán Bông Lau ở thị xã Thái Nguyên để đón gián điệp trong khi ai cũng biết đó là cơ quan sinh lợi của hội Phụ nữ liên hiệp tỉnh Thái Nguyên.
Về phía quần chúng, thì, khi nghe người tố không chịu bình tĩnh lắng nghe cho rõ sự việc cũng như luận điệu tố cáo, cứ việc “đả đảo” bừa đi. Nhiều lúc ầm ĩ quá làm không nghe gì được. Một người trong chủ tịch đoàn cũng phạm một lỗi quá nặng. Trong khi quần chúng đòi đem bày ổ thủ phạm ra ngồi ngoài nắng, lại trả lời: “Đem ra ngoài nắng ngộ nó lăn ra chết thì lấy gì mà tố?”. Đây là lời dặn của cán bộ với những phần tử cốt cán là không nên đánh đập địa chủ. Nếu lỡ tay đánh chết nó thì lấy gì mà tố. Hôm nay, vị chủ tịch ngốc nghếch kia đã theo ý đó nói toạc ra một cách công khai cho địa chủ biết.
Đến lúc đọc bản cáo trạng kết thúc, hội trường im lặng để lắng nghe trong một bầu không khí trầm nghiêm. Nhưng một vị chủ tịch đã đọc chữ nọ thành chữ kia. Có câu đọc đi đọc lại. Có lúc phải ngừng lại để lẩm nhẩm. Rồi mỗi lúc mỗi ngập ngọng thêm. Kết cục là nửa chừng phải thay người khác. Về việc này, mình hỏi một cán bộ phụ trách thì được biết là trước khi đọc, bản chữ viết đã chú ý viết rõ ràng và vị chủ tịch nọ đã đọc đi đọc lại, đảm bảo là đọc được.
… Tính ra suốt ngày hôm nay không được uống nước dưới trời nắng. Trời tối, nhiều lúc lạc đường, về đến cơ quan một cách mệt mỏi.

Tiếp nhật ký:
31-5-1953
Sáng sớm, mình xuống xã Dân Chủ cùng hai người trong tổ kiểm tra để kiểm tra việc thoái tô, thoái tiền công và chia quả thực. Nằm ở nhà một bần nông, sáng và chiều vùi đầu vào trong đám giấy tờ của đội công tác để tìm ra vấn đề. Một điều nhận thấy là giấy tờ lộn xộn quá, vì kém văn hóa và thiếu khoa học. Thiếu đến cả những hình thức thông thường. Nhiều tài liệu phải vừa đọc vừa hỏi mới biết rõ sự việc. Trong khoản nông dân bắt địa chủ và phú nông bồi thường có cả khoản trâu bò phá hoại hoa màu từ mấy năm trước. Đến cả bần, cô nông với trung nông cũng thanh toán cả món nợ từ năm nảo năm nào. Có anh cố nông năm nay 39 tuổi khai bị một địa chủ quỵt công ở 25 năm, sau đem bình nghị phải giảm xuống 15 năm. Sau cùng là 9 năm. Có người đòi công ở 2 năm tới 86 nồi thóc (mỗi nồi 22 cân) trong khi công ở mỗi người nhiều nhất trong một năm chỉ có 20 nồi. Hơn nữa có anh bần nông bắt đến địa chủ bắn chết một con lợn 15 cân từ năm 1935 là 8 nồi thóc. Nếu tính theo giá hiện thời: 300 đồng bạc ngân hàng một cân thóc thì con lợn 15 cân ấy (kể cả lòng lẫn cứt), giá bồi thường mỗi cân tới 3.520 đồng, trong khi thời giá chỉ có 2.700 đồng. Ấy là chưa kể con lợn hồi ấy, địa chủ, người bắn chết, có ăn thịt không hay con lợn vẫn về nhà có lợn. Đại để những việc như thế đã nói rõ sự lạm quyền thế mới lên và sự tham lam trắng trợn của một số bần, cố nông chưa được giáo dục.
Buổi tối, mình dự một tổ nông hội bàn về mấy nguyên tắc chia ruộng công. Trong gian nhà bức, nóng, người đến dự vừa đau mắt, vừa buồn ngủ, mỏi mệt, uể oải sau một ngày làm việc dưới nắng hè để sáng mai lại phải dậy sớm đi làm. Trong khi ấy, chủ tọa buổi họp là một cố nông không biết điều khiển gọn ghẽ, cứ hỏi đi hỏi lại, bắt mọi người đều phải phát biểu ý kiến. Có nhiều vấn đề trở đi trở lại mãi. Thêm vào đấy, mấy phần tử cốt cán cứ nói theo giọng cán bộ, tuôn một tràng dài những lý luận và danh từ không cần thiết. Rồi, sau đó, cũng làm đủ mọi phương thức: phê bình hội nghị, duyệt y biên bản, kéo tới 11 giờ khuya.
Cuộc Cải cách đã có “đà” ngày càng sôi động các xóm làng. Nông dân được ruộng đất hăng lên “hưởng ứng” phong trào đấu tố. Nhưng Liệu thấy nặng nề. Vì công việc, và những ý nghĩ cứ lẩn vẩn trong đầu. Từ ngày phát động quần chúng làm Cải cách ruộng đất, tại liên khu Việt Bắc tới cuối tháng 5-1953 đã có hai địa chủ tự sát. Bần cố nông được trả thù, chia quả thực, nhà được chiếc cối đá, nhà tối tối thắp đèn ra xem con trâu bỏm bẻm nhai lại cỏ. Nhưng lắm khi lại chả chắc đã hơn trước, khi nhà nọ đem “lộc” cải cách sắm đồng hồ bút máy, đeo chiếc xà cột trong có quyển sổ đi rong, dù là không biết chữ. Cứ thế, chả chịu ra đồng nữa, để cỏ rả mọc tràn lan.
Lại những chuyện khác, liên quan đến thực hành tư pháp. Đúng hơn, đây là chuyện thưởng phạt “ở cơ sở” nhân danh tư pháp. Dư luận xao xuyến trước tin kỳ hào nấy, trung nông nọ sẽ bị đem ra đấu. Các đoàn thể thanh niên, phụ nữ ở làng Văn Yên kết án một phụ nữ “tằng tịu” với bộ đội 3 năm tù, cho dong lên huyện. Người ta đã vượt quá phạm vi dân chủ của nước Việt Nam dân chủ nhân dân và không theo đường lối của chính quyền. Mình càng cảm thấy trong việc phóng tay phát động quần chúng cần phải vững tay lãnh đạo mới được. (nhật ký 22-6-1953).

Trước Quốc hội kháng chiến, ông nói ra những điều trên, ở dạng “điều đáng lo ngại”, chả mấy tác dụng.
Nhưng cũng có những niềm vui nho nhỏ, nó giúp ông hồn nhiên thoát khỏi dòng suy nghĩ về “công cuộc vĩ đại chung”. Trần Thị Vân, người con gái lớn đang ở với mẹ - vừa lấy chồng, sự lựa chọn ông chẳng bằng lòng lắm. Nhưng rồi gặp chàng rể Sinh, thấy hiền lành, Liệu lại yên tâm. Đại Từ lại “cử” chú bé Trần Thành Công 9 tuổi lên cơ quan chơi với bố, một dịp để biết đến sách báo đèn điện, nghe radio và máy hát, ra chơi thị xã Thái Nguyên, may ra thì còn xem được chớp bóng. Nhìn con bẩn thỉu, sờn rách, ông đem nó đi tắm. Giá Liệu có cả Chiến, cu út cu ít, con của Sửu ở đây, anh dắt em đi lẫm chẫm…
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #41 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:57:29 pm »

CƠN LŨ
Những dự cảm lớn dần, trở thành nỗi lo, rồi hiển hiện trước mắt mối nguy hiểm. Nguyễn Thị Năm bị bắn. Đấu tố ngày càng khắc nghiệt. Không ít đội “xâu chuỗi”, “bắt rễ” nhầm, để người ta đem tư thù tị hiềm ra trị nhau. Hệ thống cán bộ ở cơ sở lung lay. Đêm đêm, có những bí thư Cộng sản bị lôi đi kết tội “Quốc dân đảng”, vợ con không bao giờ thấy trở về. Không khí làng quê u uất, căng như có quả bom tấn gài vào.
Nhức nhối nhất, là khi “lũ” tràn về gia đình thứ hai bên kia Tam Đảo. Dù có ba em - một đã hy sinh - và một con trong quân ngũ, đóng góp thóc gạo cho bộ đội, dù căn nhà thường xuyên nuôi ăn cả tiểu đội, Sửu vẫn bị quy địa chủ vì mấy chục mẫu ruộng cụ đốc Ngọc mua bằng tiền viết sách trước kia. Bị cô lập thiếu ăn, bà ho lao, thổ ra máu, mà không có tiền chữa chạy.
Lớp chỉnh Đảng, những cố gắng để ra đời một cơ quan nghiên cứu khoa học… khiến Liệu không về thăm Sửu được. Chả có tin tức gì từ bên kia Tam Đảo của mấy mẹ con. Mà cuộc phát động quần chúng đánh địa chủ đã bước vào cao trào. Nghe rầm rầm tin đấu tố đâu đó, lòng ông cứ như có lửa cháy. Phải dứt ra mà đi thôi, dù việc đang bề bề.
Qua mấy quả đồi, thung lũng, cái ấp bé nhỏ dưới chân núi Con Voi hiện ra. Ao rau muống, ai đang nhấp nhô hái, dáng tiều tụy mà quen quen. Không thể ngờ được. Sửu của ông, bắp chân trắng xanh ngấn bùn. Một cảm giác khó diễn tả, nghẹn ngào pha chút vui vui. Thế là Sửu đã gần người lao động hơn. Nhưng cái gần đó có giá gì không?
12-8-1953
Cả một cảnh tượng điêu tàn và hiu quạnh hiện ra trước mặt cha. Con và chị Quang đương nằm chơi trên giường. Hãy biết các con vẫn sống, vẫn mạnh khỏe. Mới đầu, con không nhận biết cha, mà gọi là “ông cụ”. Cha vừa buồn cười vừa có cảm tưởng như Lưu Nguyễn xưa kia từ Thiên Thai trớ về xa lạ với cả mọi người yêu dấu!
Cha muốn biết ngay những biên thiên trong gia đình, nhưng không muốn hỏi và thấy ngại ngùng khi hỏi đến. Vì biết nó sẽ không hay gì. Ở đây đội công tác phát động quần chúng chưa về làm việc. Nhưng nhà ta, cũng như các địa chủ khác trong làng, đã bị cấm không được tự do đi lại. Sự thực, mẹ con có phải là địa chủ chính thức đâu. Vì ruộng là của chung gia đình mà cậu Bích, cậu Khôi đều đi công tác vắng nhà, nên việc cai quản gia đình rơi vào tay mẹ con…
Gia đình ta hiện nay như ở trên một hòn cô đảo, cách xa với đất liền rộng lớn là đại chúng nhân dân. Những người thân thuộc trước kia đều không dám bén mảng tới, vì sợ mang tiếng xấu câu kết với địa chủ… Ngay đến cả việc cha về cũng ngoài sự chờ đợi của mẹ con. Vì mẹ con tưởng rằng cha sẽ không dám về thăm trong khi phong trào đương sôi nổi… Mẹ con từ trước kháng chiến vẫn sống xa nông thôn. Từ khi lên đây đối với những người nông dân xung quanh, mẹ con vẫn giữ được cảm tình. Không chiếm đoạt ruộng đất. Không cho vay lãi. Không đánh đập chửi mắng ai. Không giựt công ai. Không mắc nợ máu với nông dân. Nói cho đúng, mẹ con ở trong giai cấp bóc lột, cái giai cấp mà nông dân coi là thù địch, phải đánh đổ nó cũng như tiêu diệt đế quốc Tuy vậy, cộng với những công tác phục vụ kháng chiến (nhà có 3 người đi bộ đội và thường xuyên góp khá nhiều cho kháng chiến), nhà ta vẫn được liệt vào hạng thân sĩ yêu nước và tiến bộ. Có chăng, chỉ phải thanh toán với nông dân một khi tính ra rằng có nợ với nông dân thôi. Mà chắc rằng cũng không nhiều.

Khi viết những dòng này, trong một quyển vở riêng cho con trai út mới 26 tháng tuổi, Liệu thấy hơi buồn cười: chính cha lúc này đương phụ trách kiểm tra trong đoàn chỉ đạo công tác ruộng đất tại Việt Bắc. Ông không ngờ mình đang nhầm. Đám đông, nhất là đám đông thuần phác, bị vô thức kiểm soát khi được phát động một chiều hướng nào, sẽ phát tiết ra những năng lượng khổng lồ tăm tối hay tích cực tùy thuộc người khơi mào. Đến một lúc “âm binh” trỗi dậy mạnh mẽ quá, chính người đốt lửa cũng thành bất lực, đứng xuôi tay nhìn thực tế nghiệt ngã.
Ngày 7-5-1954, trận chiến ở Điện Biên Phủ kết thúc. Cả thế giới thán phục chiến thắng của bộ đội Việt Nam. Dân tộc tự hào. Ý nghĩa của sự kiện là quá lớn, nhất là trong mắt con người vừa làm chính trị, vừa bắt đầu nghiệp nghiên cứu lịch sử. Nức lòng với tư thế mới của phe cách mạng, Liệu lại có những ấm ức khác. Tin ký hiệp định Genève về Tân Trào, ông tốc lên Hồ Chủ tịch, Trường Chinh thắc mắc “đứng về tương quan lực lượng hai bên thì ranh giới quân sự phải lui xuống phía Nam mới đúng chứ. Chính địch cũng thừa nhận ranh giới chỉ lên được đến vĩ tuyến 14 - 15 là cùng, thế mà ta chịu ký ở vĩ tuyến 17, phí bao nhiêu xương máu đấu tranh của quân dân”. Lãnh đạo giải thích, nhưng làm sao có thể hở cho một người “xốc nổi về chính trị” cái điều ranh giới ở đâu thì các cường quốc đã quyết định rồi được. Con suối ở Tân Trào chiều tháng 7-1954 ấy đến là lắm thác lũ.
Dù sao, trước mắt là hòa bình rồi. Ngày về Hà Nội đang đến, với vô vàn hạnh phúc hạnh phúc quá giản đơn sau những ngày hầm hố bom đạn, có khi chỉ là giấc ngủ ấm, bữa ăn no. Liệu sẽ được rảnh rang trong việc đèn sách, làm việc theo chí hướng, đào sâu chiêm nghiệm cái mình thích. Hòa bình đem lại bao nhiêu thứ, thế mà trước ngưỡng cửa của nó, lòng Liệu lại ngổn ngang.
13-5-1954
Chiều nay tại cơ quan tổ chức ăn mừng chiến thắng Điện Biên Phủ bằng những hình thức ăn chung, nói chuyện, mặc niệm các chiến sĩ hy sinh, hô khẩu hiệu, ca hát… Trong lúc này, mình nhớ đến Diễm đã dự chiến trong trận Điện Biên Phủ, có lập công theo như lời hứa hẹn gửi về nhà không. Mình cũng nhớ cả Chiến, Quang và mẹ nó đương sống trong những ngày ảm đạm ở Bồ Tỉnh, không được cùng toàn dân reo mừng trong trận chiến thắng lịch sử này.
14-5-1954
Mấy hôm nay mình phải trấn tĩnh lắm để làm việc như thường. Hôm qua Nghiêm về báo cho biết tình hình Sửu và các con đương sống những ngày đau khổ mà chưa có lối thoát. Sửu, con người hiền hậu, yêu nước và ủng hộ cách mạng, bây giờ không may lại là “kẻ thù” của nông dân mặc dầu vẫn được nông dân công nhận là không có tội ác gì. Hai đứa con đáng thương của mình là Quang và Chiến cũng do đó, sống không chỗ dựa, thiếu thốn, bơ vơ mặc dầu chúng nó vẫn không cảm biết những sự vật xảy ra trong gia đình nó. Mấy tháng trước, mình đã đề việc này với TƯ và định rõ thái độ của mình. Thái độ ấy là trong cuộc tranh đấu giữa nông dân với địa chủ, mình phải đứng về phe nông dân, nhưng vẫn phải có nhiệm vụ đối với con, với vợ. Khốn nạn cho Sửu, tự mình không phải là địa chủ chính thức, mà chỉ là nạn nhân của một gia đình ăn tiêu phung phí rồi đến ngày cuối cùng, một mình phải chịu sỉ nhục trước nông dân trong khi không thanh toán nổi số tô phải thoái. Thương hại cho Chiến và Quang, nếu hoàn cảnh thuận tiện được ở chung với cha thì làm gì phải sống trong cảnh đau thương hiện nay. Hôm trước, viết cho Sửu, mình đã dặn phải thành khẩn với nông dân, bình tĩnh xử trí trước mọi sự biến và luôn luôn tin tưởng vào tương lai cải tạo của mình. Đối với các con, đừng đế chúng nó có một ấn tượng xấu trong khi chúng nó là dòng dõi của một gia đình cách mạng, là thế hệ xã hội chủ nghĩa sau này. Cũng may là các con còn thơ dại chưa biết gì. Theo Nghiêm thuật lại, thì Quang vẫn nhập bọn với nhi đồng, mỗi buổi chiều đi hô khẩu hiệu: Đả đảo địa chủ! Chiến nằm ở nhà cũng hô theo. Cũng may là các con tuy thiếu thốn nhưng vẫn khỏe mạnh. Nghiêm đem tiền phụ cấp về và mang theo cho các con một chai đường. Quang viết thư lên, bức thư đầu tiên gửi cho cha từ khi biết chữ quốc ngữ, đã khoe là ăn đường ngon lắm. Chiến thì vẫn khoẻ đòi Nghiêm cho lên với cha. Cha nghĩ đến mà se lòng lại.
Mình tự hỏi: tình cảm của mình có gì là yếu đuối không? Trong lúc toàn dân đương phấn khởi về chiến thắng Điện Biên Phủ, sao mình vẫn không quên được những thường tình gia đình? Mình thì cho rằng tình cảm này vẫn là tình cảm của một con người nó rất tự nhiên và hợp lý. Sao mình lại không thương con và thương vợ, miễn là mình không lụy về tình cảm để hại đến công tác. Trong cuộc tranh đấu, mình đứng về phe nông dân, nhưng vẫn biên rõ những tham lam ích kỷ của nông dân, nhất là khi đức tham lam ấy được nuông chiều.
17-5-1954
Đến hôm nay mình mới thảo xong tập giới thiệu lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam đê tuyên truyền quốc tế. Nhưng còn phái để cho ban Sử - Địa - Văn duyệt lại. Làm xong việc này, mình cũng đỡ thấy sốt ruột đôi chút.
Nghiêm hôm nay từ Bồ Tỉnh về đem theo tin tức của Sửu. Tình hình còn nghiêm trọng hơn. Sửu nói vẫn muốn sống để gần các con và thành khẩn với nông dân trong việc thoái tô. Nhưng can đảm hết rồi, sức lực kiệt rồi, tiền của không còn gì nữa, không chắc có còn sống được để gần con gần chồng dưới áp lực của nông dân không? Sửu còn gửi lên trả mình một gói nhật ký, thư từ và kỷ niệm vật để mình giữ, vì giữ ở dưới ấy lúc này không có gì là đảm bảo cả. Sửu phải xa lìa những vật liệu đã hòa vào đời sống này chắc là khổ tâm lắm. Vấn đề sống chết của Sửu đã đề ra rồi. Mình có còn giữ được bình tĩnh không? Về bề ngoài, mình vẫn làm việc không ngừng. Nhưng ban đêm, mỗi khi nghĩ đến thì đến sáng không ngủ được.
(Nhật ký quyển 448, lưu trữ Viện Sử học)

Vào cuối cuộc kháng chiến, Sửu không còn gì để chạy ăn. Không thể về thăm - chẳng ai được phép làm việc ấy, Liệu viết thư lên Trung ương, xin đón Quang, Chiến lên Lạng Sơn gửi người bà con bên Sửu, lý do là “các con tôi có tội gì đâu”. Trong ngôi nhà tranh dưới chân núi Con Voi còn trơ lại “hoa khôi” phố Hàng Đường dạo nào với căn bệnh hiểm nghèo.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #42 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:58:19 pm »

CHỘN RỘN HÒA BÌNH
Chiến thắng Điện Biên Phủ đem lại thế mạnh cho đoàn Việt Nam trên bàn hội nghị Genève. Các bên tham gia ký kết thiết lập nền hòa bình tạm thời cho xứ sở. Đất nước chia đối với hai chế độ chính trị khác nhau, cái vạch ngăn về địa lý là vĩ tuyến 17.
Các cơ quan kháng chiến ở Việt Bắc chuyển về Thủ đô Hà Nội, trong đó có Trần Huy Liệu và gia đình lớn. Bên kia Tam Đảo, bà Sửu được tiếp tế một món tiền từ Hà Nội, đã nộp đủ thoái tô và được tha. Nằm trên cáng ra Vĩnh Yên, Sửu lên ô tô về Thủ đô, vào thẳng bệnh viện Đặng Vũ Lạc. Hai đứa con nhỏ bấy lâu ở Lạng Sơn, nay ngày ngày được vào thăm mẹ, vui như Tết.
Chẳng “bên” nào có niềm vui trọn vẹn. Bà Tý không chấp nhận “hiện tình”, bà Sửu tuần được chồng về thăm một lần. Còn bọn trẻ em lớn lên, đi học, quên dần nỗi khổ đạn bom, túng đói. Cậu út Chiến, một lần nghe bố giảng con với anh Công là cùng cha khác mẹ, với anh Dũng là cùng mẹ khác cha, với chị Quang là cùng cha cùng mẹ”, đã rất khó hiểu ra.
Liệu tập xe đạp, trầy trật mấy tối ra vườn hoa Ba Đình ngã tím đầu gối mà chẳng xong. Ông cáu với Nghiêm, người cháu giữ xe, rồi cười xòa: “Có phải ai cũng làm được mọi việc đâu”. Hình như ý nghĩ mình không thể đi xe đạp làm ông an tâm với công việc viết sử.
Cơ quan từ kháng chiến về đóng ở số 2 Lê Phụng Hiểu, nhà ở cũ của một viên quan hai người Pháp, tiện nghi rất sang, đủ đầy sa lông, quạt, tủ… Ngồi hố xí “máy” sướng hơn hẳn những “chuồng chồ” hôi hám có thúng tro, ai nấy bất giác nhớ lúc đi “quận công” ngoài suối Việt Bắc. Những ông ké, bà bủ mới đấy đã thành ra xa. Bộ Thương mại, được phân ở 16-18 Hàn Thuyên đặt vấn đề đánh đổi, anh em lại chuyển ra đấy. Năm 1959, nhà 38 Hàng Chuối, vốn của hiệu vải lụa Tân Vinh trên Hàng Đào, trở thành trụ sở chính thức của Viện Sử học cho tới nay.
Ở khu phố tây có nhiều cái thích thật. Tiện nghi thay đổi cách sống của con người. Thích nhất là sự tĩnh mịch, những hàng cây xanh mát, đi bên dưới có thể nghĩ ngợi lắm điều hay. Chả hiểu nhà cửa, phố xá có làm người ta thông minh hơn không nhỉ, Liệu nghĩ. Từ nhà riêng ở 16 Phan Huy Chú, ông dễ dàng sang cơ quan hay nhà Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Hoa Bằng… bàn soạn công việc. Đấy là những người có sở học hệ thống, nghiêm túc và giỏi giang. Biết mình là người tự học mà nên, Liệu tôn trọng họ. Những vị “túc nho thuần túy” được đắm chìm trong cổ sử, văn hóa học, những gì không động chạm trực tiếp quá đến lịch sử hiện đại. Quan hệ với Trần Đức Thảo vẫn rất khó, nhưng vị trí thức ngoài Đảng ấy đã chuyển sang đại học Tổng hợp, bắt đầu cuộc đời ngày càng đơn côi.
Các khoa học ngày càng nghiên cứu sâu, dần dần ra chuyên biệt. Năm 1955, ban Sử - Địa – Văn chuyển thành ban Văn - Sử - Địa, rồi năm 1959 trở thành cơ quan trong ủy ban Khoa học Nhà nước.
Liệu có chân trong ban lãnh đạo, nắm luôn Viện Sử Hoạt động từ trước đó khá lâu, nhưng tháng 2 năm 1960, Viện Sử học mới có quyết định thành lập chính thức, trực thuộc ủy ban Khoa học Nhà nước, có tạp chí nghiên cứu riêng. Đây là một bước chuyển cực kỳ lớn về chất. Từ một cơ quan Đảng chuyển sang cơ quan Nhà nước, tính chất khoa học sẽ “nổi” lên hơn tính chất phục vụ cách mạng.
Nhưng dầu sao phục vụ cách mạng, thể hiện ở công tác của Đảng trong từng thời kỳ, là công việc không thể không làm. Đó là chuyên đề về giai cấp công nhân Việt Nam, các cuộc thảo luận về phương pháp luận sử học Mác xít, những bài viết phục vụ đấu tranh thống nhất đất nước. Và bản thân Liệu, giữa hai vai trò nhà cách mạng và nhà khoa học cũng còn “chân ướt chân ráo” cơ mà.
Cơ man thứ để phải nghĩ, chọn lựa, rồi cách thức cho nó ra đời an toàn. Làm một đảng viên, tuân thủ kỷ luật của tổ chức đã khó, nhưng làm người độc lập còn khó hơn.
Chẳng hạn, Liệu đã phải lao tâm bao nhiêu với mấy người ông lấy về cơ quan. Phải nói đó là mấy “số phận” mới đúng. Người đầu tiên là Nguyễn Khắc Đạm, con nhà yêu nước Nguyễn Khắc Nhu. Đạm đã đỗ tú tài, đang ở trong bộ đội, có anh là Nguyễn Khắc Trạch không theo cách mạng mà đi Pháp. Chuyện sẽ chẳng có gì nếu trong chỉnh huấn, Đạm không kiểm điểm rằng đã có lần Phòng Nhì Pháp chủ động liên hệ với mình. Muốn có Đạm, Liệu sang bên Quốc phòng đặt vấn đề với Võ Nguyên Giáp, rằng anh ta thật thà khai nhận, và có bắt tay với bên kia đâu. Đạm đang bị giữ thì được “khều” ra, chuyển sang làm ở phòng tư liệu Viện Sử đến khi về hưu.
Người thứ hai là Nguyễn Ngọc Tỉnh, một nhà nho uyên thâm ở Nam Định. Trên mảnh đất đầy đình đền chùa, Tỉnh đem “chuyện” cách mạng phổ vào các bài văn cúng Thánh. Hồi cải cách ruộng đất Tỉnh bị nghi Quốc dân đáng lẽ ra bị bắn nhưng thế nào lại thôi, sống vương vất đói khát cho đến khi Liệu kéo lên cơ quan, giữ chân dịch Hán văn.
Nhọc nhằn nhất là trường hợp Nguyễn Đổng Chi, một tay thông tuệ trong khu Bốn. Đầu năm 1954, ban Sử - Địa - Văn ở Tân Trào lấy về khi Chi đang cải tạo ở Hà Tĩnh. Huyện ủy Can Lộc tư công văn “tên Nguyễn Đổng Chi là địa chủ cải tạo chưa xong, không thể vào được cơ quan Trung ương”, đề nghị giả về… Sau khi xin ý kiến Phạm Văn Đồng, Liệu phúc đáp lại rằng Nguyễn Đổng Chi đang có công trình về cổ văn học sử, ban giữ lại cải tạo tiếp. Rồi về Hà Nội, thế là thoát!
Ngoài Nguyễn Khắc Đạm, Nguyễn Ngọc Tỉnh, Nguyễn Đổng Chi, Lê Toại (vốn là một ông phán)…, có những người Liệu rất thương nhưng chẳng làm gì để giúp được. Đoàn Xuân Kiểu tức Hoàng Công Khanh, ngoài Hải Ninh có “tí toáy” “định” cướp một đồn binh, Pháp bắt được đưa lên Sơn La. Chẳng phải tù cộng sản, Kiểu nằm chung buồng giam với Tô Hiệu, vì cũng bị lao. Anh giữ quan hệ tốt với mọi người, đóng một chân văn nghệ đắc lực. Khi làm tập thơ văn cách mạng trong nhà tù, Liệu đưa một bài của Kiểu vào, ký tắt “Đ.X.K”. Trường Chinh, tức Đặng Xuân Khu, có lần hỏi “anh kiếm đâu bài thơ hay, thỉnh thoảng người ta vẫn tưởng của tôi cứ khen”, Liệu chỉ cười, vì tác giả đang cưa gỗ trên rừng. Sau này, hết hạn cải tạo của ta, Đoàn Xuân Kiểu về Hà Nội, viết lách trở lại, được giải thưởng của Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
Liệu hay có liên quan đến những “số phận” kiểu như thế. Đó cũng là “số phận” của ông? Rất nhiều chuyện, sau này, lúc bình thời, ông chỉ nói được với vài người, trong đó có Minh Tranh, một thời nắm nhà xuất bản Sự thật, tham gia nghiên cứu lịch sử Đảng. Có lẽ sau Nguyễn Bình, Hải Triều, Trần Đình Long, thì Minh Tranh là người Liệu gửi gắm nhiều tâm sự, cả u ẩn lẫn trong veo. Sau Minh Tranh, Liệu có những hậu sinh gần gũi trong cơ quan: Bùi Đình Thanh, Văn Tạo, Nguyễn Công Bình.
Chẳng hạn, “nắm” trong tay những nhà nghiên cứu tên tuổi đã lừng lẫy, thì làm thế nào để họ phát huy sở học sở trường mà không mắc “phốt” chủ quan, biệt phái. Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy… dù làm sử hay bơi trong bể Hán Nôm đều có chuyên môn rất sâu, khó thay thế trong địa hạt hẹp của họ.
Liệu nổi tiếng cũng đã lâu, nhưng lại trên trường báo chí, cách mạng, phải nói thẳng là đi sau họ về phương pháp luận sử học. Ông phải chiêu hiền đãi sĩ thực sự tôn trọng, không lấy khuôn khổ hành chính cứng nhắc ra đòi hỏi họ được. Và rồi những con người uyên thâm, đầy cá tính ấy đều đã cùng Liệu yên ổn với nhau.
Chẳng hạn, sự thay đổi của thời thế tác động rát rạt đến công việc. Sau cái chết của Stalin năm 1953, Liên Xô, trong Đại hội Đảng XX năm 1956, chủ trương “phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, khắc phục tệ sùng bái cá nhân của Stalin”. Mâu thuẫn Xô - Trung ngày càng nóng, đến mức bỏng rẫy. Lưu học sinh, nghiên cứu sinh đang đào tạo ở Liên Xô phải rút về trước thời hạn. Các nhà khoa học trong nước, vốn chịu những “nguồn” ảnh hưởng khác nhau, đụng độ tóe lửa. Chọn lựa lập trường, “mở mồm” rất không dễ. Có lúc phải tránh né.
Chẳng hạn, những yêu cầu tức thời của trên đặt ra rất cấp thiết. Tháng 4 năm 1959, Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuống làm việc trực tiếp với Viện Sử học. Trao nhiệm vụ đến tháng 8 năm sau phải có ấn phẩm kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, con người hiểu biết, có cá tính mềm mại đó nói khá gay gắt:
- Một cuộc cách mạng lớn lao như vậy, đánh dấu cả một bước chuyển vĩ đại trong lịch sử dân tộc… mà cả ngành Sử học cho đến nay gần 15 năm rồi, vẫn không có được một công trình nào xứng đáng sao? Thế nào các anh cũng phải làm. Tập trung sức vào mà làm, gác các việc có thể làm sau cũng được để có nhân lực mà làm…
- Các anh giao việc, anh em rất mừng và sẽ làm. - Ông viện trưởng, cũng là người góp phần làm nên “bước chuyển vĩ đại” trên, đã trả lời, cũng hết sức khiêm nhường - Nhưng anh cũng biết đấy, số cán bộ thì ít lại chưa được đào tạo cơ bản, chỉ vừa học vừa làm, khó có thể có được công trình gọi là xứng đáng với tầm vóc to lớn của “cách mạng”. Anh em sẽ cố gắng có một “cái áo đỏ” để cùng nhân dân đi vào ngày hội mà thôi.
- Nhưng “áo đỏ” có thể “đỏ thẫm” cũng có thể “hồng hồng” thôi cũng được đấy nhé, vì thời gian gấp quá - Liệu nói thêm sau chút chần chừ, giọng khá “thân ái” với Thủ tướng.
Sau một năm cật lực, năm 1960, “Lịch sử Cách mạng tháng Tám” và hai cuốn về Cách mạng tháng Tám ở các địa phương từ Thanh Hóa trở ra được đưa in. Vài tháng sau, quyển II, 462 trang, về các tỉnh từ Nghệ An trở vào ra đời.
Trên khen. Nó ra kịp thời, tức là Viện đã làm xong cái việc lãnh đạo cần. Nhưng còn chất lượng, chắc Liệu nghĩ có những đánh giá, kể cả tư liệu, còn chưa “chín”.
Chẳng hạn, đánh giá các nhân vật lịch sử gắn liền với các sự kiện, trào lưu quan trọng trước năm 1930 thế nào cho thỏa đáng. Có phải những người không cộng sản, như những Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu không đóng góp gì được cho dân tộc? Và Phan Thanh Giản, tiêu cực hơn, Liệu thấy cũng phải nhìn ông ta trong bối cảnh yếu đuối ươn hèn chung của nhà Nguyễn trước thực dân mạnh mẽ. Trong khung cảnh nền hòa bình ở miền Bác vừa lập lại, chiến tranh giải phóng đang nhóm lên ở miền Nam, quan điểm trên có thể coi là không được “chính thống” lắm. Dù sao “ép hành ép mỡ ai nỡ ép người vào thời thế không phải của họ”, Liệu thấy thế.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #43 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 10:59:06 pm »

LỊCH SỬ 80 NĂM CHỐNG PHÁP
Hồi lang thang làm báo, ở tù, Liệu đã viết những cuốn sử nhỏ. “Anh hùng khứ quốc. Ông Nạp Nhĩ Tốn (Nellson)” in trong Cường học thư xã năm 1927, rồi đến “Bạo động Yên Thể”, “Thái Nguyên khởi nghĩa” (sau nhà xuất bản đổi thành “Loạn Thái Nguyên” cho dễ bán) là các khởi động đầu tiên. Trong kháng chiến, lúc “ngồi chơi xơi nước” và đợi tự tử, “Sơ thảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam” ra đời, in giấy rơm. “Tiện thể”, trong một lúc vừa phẫn chí vừa rồi việc, ông Thường trực Quốc hội viết hồi ký kể lại đời mình, từ lúc tấm bé đến liên chi đoạn tù đày. Hồi ký thì chưa in, nhưng cuốn “Sơ thảo…” đã đem lại cho ông nhiều thứ quý báu: bạn bè, những nhận xét, lớn nhất là sự tự tin. Ông được góp ý kiến rằng thời cận đại cũng có những thành tựu về văn hóa xã hội, sự phản ánh về kinh tế trong sách còn mỏng. Liệu muốn làm quyển mới trên nền cái đã có, đặt cho nó một phạm vi hẹp hơn, lịch sử chống Pháp thôi, trong 80 năm, còn những vua tàu thủy Bạch Thái Bưởi, thơ văn các ông hoàng, những công trình, tiến bộ mang ảnh hưởng Pháp không đụng tới. Hẹp, nhưng nhất định phải sâu hơn, thấu đáo chứ không theo những yêu cầu bên ngoài. Đây là công trình của riêng ông cơ mà, dầu trong khi làm, ông vẫn sống bằng lương bổng Nhà nước.
Giờ là lúc tĩnh tâm, tĩnh trí để tra cứu trong thư viện, đối chiếu, học phương pháp trong các cuốn sử Pháp, Trung Hoa hay Liên Xô. Phương pháp chẳng phải là thế mạnh của một người tự học. Ngược lại, ông đã sống, nếm trải quá nhiều, đã gặp các nhân vật chính yếu của một thời như hai cụ Phan, Nguyễn An Ninh, Hồ Chí Minh, Bảo Đại… Không gì dễ hơn là đi vào sử cận đại, cái thời của cả cha, anh ông. Nó không quá xa xôi để “tan” vào huyền thoại. Tư liệu về nó đủ nhiều để khỏi phụ thuộc hoàn toàn vào các sử gia như thời phong kiến, dù đó là Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn hay Ngô Gia văn phái. Nó cũng không quá sát sạt, còn “nóng rẫy” như thời hiện đại, đủ để ông độc lập trong cách đánh giá. “Đánh giá”, cái công việc vừa trọng đại nhất lại vừa vớ vẩn nhất. Sự kiện vừa diễn ra ít năm trước đây thôi, chứng nhân còn sờ sờ đó, mà đã có người cứ riết riệt khoác cái ý nghĩa xa lạ này, phủi bỏ căn cốt kia đi, nên gọi là tham lam lố bịch hay là cái chi chi đây… Trời phú cho Liệu trí nhớ tuyệt vời, nó cho ông sống lại bao nhiêu câu chuyện đã nghe trong tù, khi làm báo, lúc gặp gỡ đủ loại người của nhiều thế hệ, lập trường chính trị. Nhưng lại có lúc nó hành, khi ai đó muốn ông quên đi điều gì…
“Lịch sử tám mươi năm chống Pháp” được thai nghén, hình thành và đầy đặn dần giữa bao nhiêu công việc. Là Viện trưởng Viện Sử học, ông phải tổ chức đội ngũ nghiên cứu trẻ, tìm đề tài, cử người đi học, thăm hỏi nhà có đám… Là Uỷ viên Uỷ ban Thường trực Quốc hội, ông phải dự các kỳ họp, luận bàn về luật pháp, tranh thủ đọc sách giữa hai bài diễn văn. Là Phó chủ tịch hội Việt - Trung hữu nghị, ông dự các bữa tiệc xã giao, lưu ý Trung ương cảnh giác với đề nghị của bạn dời thủ đô từ Hà Nội lên Xuân Hòa. Quan hệ xã hội càng nhiều, “dự” lắm “ghế” thì càng sốt ruột, tiếc thời gian. Được cái Liệu dễ ngủ, và ăn cũng rất dễ. Không uống rượu, chè thuốc, ông đều đặn mỗi bữa ba bát cơm, trưa ngủ ít phút rồi đúng giờ ngồi vào bàn.
Lịch sử cận đại Việt Nam có những vận động căn bản: thực dân xâm lược, phong kiến tan rã từ hệ ý thức đến thực lực, các trào lưu đấu tranh cho dân tộc, sự giao thoa giữa văn hóa phương Đông và phương Tây… Có những “nẻo” không đơn gian, như đánh giá các trào lưu cứu nước trước khi Đảng Cộng sản ra đời. Liệu cố gắng giữ sự độc lập của mình, ít ra là vì trước khi trở thành cộng sản, ông đã lang thang từ chủ nghĩa này, đảng này sang chủ nghĩa khác, đảng khác rồi. Ông yêu nước, những người tìm đường cũng yêu nước, có lý gì cho họ là không tiến bộ, khi họ chưa hề biết chủ nghĩa cộng sản là gì.
Tư liệu cho cuốn sách được bổ sung dày dặn dần, khi bộ “Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam” do Liệu chủ biên ra đời. Nguyễn Khắc Đạm, Nguyễn Lương Bích, Văn Tạo, Nguyễn Công Bình…, bao nhiêu thứ nhặt được trong các nghiên cứu của họ nữa. Liệu có cả vạn trang tư liệu để ngẫm ngợi, nung nấu thành gần nghìn trang sách. Bản thảo viết trên mặt sau những tờ tin, chữa be bét, được cái chữ dễ đọc nên người đánh máy không mất công đoán.
Quyển I bộ “Lịch sử tám mươi năm chống Pháp” hoàn thành và được in năm 1956, dày 328 trang khổ to, làm nhanh và suôn sẻ. Quyển II không như thế. Viết về giai đoạn Đảng Cộng sản đã ra đời, đánh giá của các nhà lãnh đạo đang còn sống có những chỗ vừa khác nhau, vừa khác ông. Nó có hai tập tập Thượng dày 156 trang ra năm 1958, tập Hạ 230 trang ra năm 1960. Đây là cuốn sử dày dặn, hệ thống nhất lúc đó về thời kỳ này. Nó được dùng làm giáo khoa trong trường đại học, đem ra nước ngoài giới thiệu. Trần Huy Liệu nhận huân chương Humbolt và bằng Viện sĩ thông tấn của Viện Hàn lâm Khoa học Cộng hòa dân chủ Đức có tiền đưa Nghiêm gom mộ nội tộc về một khu lăng ở quê. Niềm vui quả là lớn, đôi khi ông nghĩ mình đã làm hết bổn phận với cuộc đời.
Nhưng cuộc đời vẫn trôi, và ông thì còn sống. Liệu đi nước ngoài nhiều hơn, đổi ô tô công từ chiếc Moskvich biển HNA 861 sang Lada đời mới màu trắng. Nhà có bìa mua hàng loại A, phẩm hàm của Thứ trưởng, ông không phải lo đến cái ăn. Bà Tý tham gia câu lạc bộ Phụ nữ trí thức, sinh hoạt cùng các “mệnh phụ”. Gia đình thứ hai ở Hàng Buồm, cách nhà ông hơn hai cây số. Nhuận bút viết báo dành đưa Sửu - giờ chỉ còn phải lo chính cho hai đứa trẻ họ Trần, vì bà đã đi làm ở tổ đan len không dư dật nhưng không đến nỗi thiếu. Vinh và Dũng, hai con riêng của Sửu, một ở bộ đội, một đi làm xa, đã có lương.
Có điều, hòa bình đem lại những vấn đề mới cho cuộc sống không hề dễ xử như lúc còn thằng Pháp thằng Nhật dí súng gươm vào cổ đồng bào ông, bắt họ sưu cao thuế nặng. Bề nào, ông còn là người của chính trường, các hoạt động xã hội. Đến lúc tuổi ngoài sáu mươi, bao nhiêu ý đồ còn ấp ủ, mà ông không thể “đóng cửa” trong thư viện, viết những điều mình nhớ, mình nghĩ. Nỗi ham công tiếc việc cứ căng con người đa mang, đa sự ra.
Có hôm sẵn thời gian, Liệu về bà hai ăn cơm tối, xong đưa tiền cho Chiến đi mua vé xem phim. Cậu út tám tuổi đã biết tiếc tiền, mua vé hai hào ngoài rạp Long Biên, gần chợ Đồng Xuân, loại rẻ nhất, khiến cả nhà ngồi xem mà bắt tay diễn viên được. Kể cũng vui, vì cái hạnh phúc đến đơn sơ. Và hơi hơi ngậm ngùi. Rất lâu, kể từ thời kháng chiến.
Liệu mới ngồi giữa mùi mồ hôi nặng đến thế. Rạp bẩn thỉu, chỗ đi tiểu nhớp nhúa đang xem trẻ con đánh đuổi nhau chạy huỳnh huỵch. Chiến và Quang đã lớn lên giữa những đứa trẻ như vậy, và ông chả dạy bảo được chúng tẹo nào.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #44 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 11:01:29 pm »

UỐNG CẠN CHÉN ĐẮNG
Ám ảnh.
Có những thứ ám ta, dai dẳng kinh khủng. Bằng mọi cách, mọi cố gắng, ta tẩy nó đi. Nếu là một con kiến bò trong cổ thì rất dễ. Khó hơn một chút, cái mụn ở chỗ nhạy cảm như nách, háng, khoeo chân mỗi cử động đều làm đau đớn, thì phải uống thuốc và đợi. Nhưng làm thế nào để chạy trốn một ý nghĩ, vứt nó ra khỏi đầu?
Liệu là kẻ dễ ngủ, thế mà đêm đêm, nó cứ bò ra ngoe nguẩy, làm buồn buồn, rồi thung thăng đi lại. Đến lúc cắn xé cuống cuồng thì tỉnh hẳn rồi, mắt chong chong, đầu hoạt động. Nó làm ông phải sang giường con, nhìn lũ trẻ tĩnh tâm lại được lắm. Kinh khủng nhất là phải ra ngồi ngoài vườn hoa Pasteur, đi đi lại lại như tâm thần.
Ngoài năm mươi, cái tuổi đã cần thư thái dưỡng thần, thu xếp yên mọi chuyện để tận hưởng những bổng lộc cuộc đời dành cho. Ông có những “ghế” cao lắm nơi mời đi kể quá khứ cách mạng, một “bề dày” nhiều người phải ngước lên, được dự bàn những cuộc quan trọng. Cứ ngồi phăng phắc cho tổ chức sắp xếp, có phải hơn là cựa quậy, nhấp nhổm tôi có ý kiến khác đây ạ… Nhìn ra xung quanh, có người quen làm thơ giờ chỉ đạo kinh tế, có người từng vợ con đâu đấy, giờ viết lý lịch đã “quên” đi…Chắc cũng ngứa ngáy, có thể bất ổn, nhưng khéo khéo lựa thì cũng xong. Tổ chức an tâm, mình không tằng tằng tiến thì cũng an bề một đấng đáng kính. Đằng này Liệu…
Chẳng hạn, cơn cớ gì mà ngẫm chuyện ngồi Thường vụ Quốc hội, nhưng quyền quyết ở nơi khác. Đã có Đảng lãnh đạo cơ mà, và mình là đảng viên. Hay mình từ Quốc dân đảng qua, công nhận sự trong sáng, đẹp đẽ của lý tưởng cộng sản nhưng không nhìn hết được cái tốt trong thực tế của xã hội xã hội chủ nghĩa?
Chẳng hạn, phản đế phản phong là nhiệm vụ đương nhiên của cách mạng để đưa đất nước tới chủ nghĩa xã hội, một con đường tất yếu. Thời Việt Minh mới thành lập, năm 1941, điều lệ của mặt trận ghi rõ là liên hiệp hết các tầng lớp nhân dân…, làm cho Việt Nam và cả xứ Đông Dương được hoàn toàn độc lập. Về kinh tế thì chủ trương chỉ tịch thu hết tài sản bọn Nhật, Pháp, lũ Việt gian, Hán gian…, chia lại công điền, giảm tô, còn địa chủ vẫn được sở hữu ruộng đất. Thế mà sang giai đoạn cuối cuộc kháng chiến khi ta đã gần làm chủ được tình thế trong cuộc chiến tranh với đế quốc, những quyền đó lại bị xóa đi một cách triệt để, khiến nhiều gốc rễ rung chuyển.
Những con cái địa chủ kêu oan. Những bí thư chi bộ bị kết tội Quốc dân đảng, phải xử tử, “hiện hồn” về báo oán người chịu trách nhiệm quản lý mới của thôn xóm. Những ông giáo từng mở trường dạy học cho cả vùng, được kính trọng, nay còng lưng xuống chào “ông bà nông dân” mù chữ. Những ruộng đất cằn cỗi để hóa vì người ta bận họp, bận đấu tố, quy thành phần, lắp ráp cho đủ tỷ lệ địa chủ được ấn định. Người bỏ quê đi tha phương nhiều quá. Trí thức sợ hãi, kẻ có của co mình lại. Mà đã một thời họ nô nức đi trong đội ngũ dân tộc theo tiếng gọi của ta cơ mà.
Đảng đã nhận ra sai lầm của Cải cách ruộng đất năm trước, và tiến hành sửa sai. Có người được “phong” địa chủ kháng chiến. Có người được “xuống” làm trung nông lớp trên. Án oan cũng xóa, kẻ xuống tay mạnh quá đến nức nở xin con cái người bị xử lý tha tội. Lại có cả cán bộ cấp Trung ương mất chức… Nhưng đó mới chỉ là biện pháp tổ chức. Cần phải có sự tổng kết về nhận thức, chỉ ra các nguyên nhân, cội rễ của sai lầm thì mới triệt để. Việc đó cần vô cùng.
Vào giữa những năm năm mươi, Liệu trăn trở với ý tưởng xây dựng một bài viết về địa chủ Việt Nam. Trước đó, hai bài của ông có liên quan một chút đến đề tài này đã ra mắt trên tạp chí Văn Sử Địa: “Những người hoạt động văn hóa với việc cải cách ruộng đất” in số 1, “Vấn đề ruộng đất trong cách mạng Việt Nam” in số 2. Cả hai đều ra năm 1954 và ký Trần Huy Liệu. Bài lần này đưa một vấn đề trực diện về cái sự kiện còn nóng hôi hổi, có chỗ vẫn nhức buốt. Tuy tính xã hội rất lớn, nó không thể dài quá, và phải nghĩ rất nhiều để có một kết cấu hợp lý, chặt chẽ về lập luận.
Liệu làm thận trọng, kín kẽ, các ý tứ đều được kiểm soát khi triển khai bóc tách, chẻ nhỏ ra. Chả gì ông có một bà vợ bị quy địa chủ, dễ mang tiếng đem cái riêng ra bàn nhẽ chung. Nhưng cái chính đây là một luận văn khoa học, cần có lý tính, viết trên cơ sở nhận thức về cái chung, đại thể. Cũng không thể vì những sai lầm trong Cải cách ruộng đất mà phủ nhận hết thành quả mà nó mang lại. Nhưng dù thế nào, cái tư thế tranh luận, phản biện là không thể tránh khỏi, cho nên Liệu chọn một cách đặt vấn đề trực tiếp, không né tránh kiểu “thừ bàn về…”, “thử xem xét…”.
Sau những sai lầm nghiêm trọng về cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, đã đến lúc chúng ta cần phải xét lại một số nhận đinh từ trước về tính chất giai cấp, quan hệ giữa các giai cấp và đối tượng chủ yếu của cách mạng, các lực lượng tham gia cách mạng trong quá trình cách mạng Việt Nam. Việc này chúng tôi đã bắt đầu làm trong mấy sô tập san gần đây. Một nhận thức chung là xã hội Việt Nam trong thời Pháp thuộc là một xứ thuộc địa và nửa phong kiến, do đó, nó có những đặc điểm mà chúng ta phải tìm ra, phải biết đến để sắp xếp lực lượng, định một chiến lược cho thật đúng.
(Xét lại hồ sơ” giai cấp địa chủ. Tạp chí Văn Sử Địa số 25 năm 1957)

Sau khi khẳng định một nhiệm vụ của cách mạng là quét sạch tàn tích phong kiến, ông viết đến cuộc giảm tô và Cải cách ruộng đất vừa tiến hành, mà đối tượng của nông dân là giai cấp phong kiến địa chủ: “Nhưng trong đó còn có những trường hợp phiền phức như. Có những người địa vị và danh vọng thuộc giai cấp phong kiến nhưng không có ruộng cho thu tô, không bóc lột theo lối phong kiến. Liệt họ vào giai cấp nông dân thì cố nhiên họ không phải là nông dân. Cũng có người nói họ là chủ của một ít ruộng đất, tức là tiểu tư hữu nằm trong cơ sở của chế độ tư sản. Vấn đề rất phức tạp, cần phái nghiên cứu nhiều. Ngay đến việc quy định thành phần địa chủ trong cuộc cải cách vừa qua cũng còn nhiều điểm phải bàn lại”.
Vì “vấn đề rất phức tạp”, Liệu lập một “ba-ri-e”, rằng mới chỉ trình bày “những ý kiến sơ bộ và còn tiếp tục nghiên cứu”. Rồi ông triển khai từ giai đoạn cận đại:
Trước ngày thực dân Pháp đánh chiếm nước ta, giai cấp phong kiến thống trị đã thoái hóa, phản động, lâm vào chỗ bí không lối thoát. Nhưng cũng bắt đầu từ khi thực dân Pháp đánh chiếm nước ta thì mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân và giai cấp địa chủ phong kiến đã phải nhường chỗ chủ yếu cho mâu thuẫn giữa toàn dân Việt Nam, trong đó có giai cấp phong kiến địa chủ, với bọn xâm lược cướp nước. Cũng từ lúc này sự phân hóa trong giai cấp phong kiến địa chủ biểu hiện thái độ chính trị với bọn xâm lược đã diễn ra không ngừng… Nếu chúng ta điểm mặt những lãnh tụ khởi nghĩa bấy giờ thì hầu hết là những hưu quan, những nhà khoa mục ở các địa phương. Họ không những không có đặc quyền đặc lợi gì cả, mà phần nhiều thuộc vào loại “tiếng cả nhà thanh”, nghĩa là danh vọng thì lớn nhưng tài sản thì ít… Ngoài chỗ dựa vào nông dân, những phần tử trung kiên trong các cuộc khởi nghĩa đa số là những nhà nho nghèo. Về danh nghĩa họ thuộc giai cấp phong kiến, nhưng không phải là địa chủ sống bằng địa tô. Chính những người này là động lực của cuộc khởi nghĩa kháng Pháp và nối liền những tập đoàn lãnh đạo khởi nghĩa với nông dân địa phương.
Nói đến cuộc lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn đầu, có người thấy giai cấp địa chủ là đối tượng của cách mạng ngày nay rồi chực phủ nhận cả một bộ phận phong kiến đã có lúc lãnh đạo cách mạng. Có người dựa vào lý luận nói giai cấp phong kiến địa chủ là kẻ thù của nông dân thì làm thế nào lãnh đạo được nông dân. Những người này đã xa lìa thực tế, không đặt giai cấp phong kiến địa chủ vào khung cảnh thuộc địa, lại cũng không thấy mâu thuẫn dân tộc ở một xứ thuộc địa bao trùm cả mâu thuẫn giai cấp, mặc dù mâu thuẫn dân tộc về thực chất vẫn là mâu thuẫn giai cấp.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #45 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 11:06:05 pm »

Bước sang thế kỷ XX, Liệu cho rằng giai cấp phong kiến địa chủ lại tiếp tục có sự phân hóa. Bên cạnh phái thủ cựu, những phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đều do sĩ phu tiến bộ trong giai cấp ấy lãnh đạo, còn như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh thì đã bước dần vào xu hướng dân chủ tư sản rồi, chưa nói đến Tân Việt.
Vì chưa thấy sự phân hóa ấy, cao trào quần chúng đầu tiên do Đảng lãnh đạo đã có những chỗ đáng tiếc: Tài liệu về phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930 cho biết rằng: những ngày đầu nhiều địa chủ phú nông cũng hưởng ứng theo phong trào, sẵn sàng đem thóc gạo trong nhà ra công cho xã hội.
Nhưng với khẩu hiệu “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc trốc tận rễ”, những người trực tiếp lãnh đạo phong trào hồi đó đã không nắm vững đường lối chính trị của Đảng, đã làm cho công, nông bị cô lập và mặt trận dân tộc thống nhất bị tan rã và không tranh thủ được trung tiểu địa chủ còn có thể đi được với cách mạng đến một chừng mực nào, trong một phạm vi nào.
Sau giai đoạn đòi cải thiện dân sinh, dân chủ năm 1936-1939, Nhật vào Đông Dương. Mặt trận Việt Minh thành lập, tập họp được mọi lực lượng của các tầng lớp nhân dân, dẫn đến thành công của Cách mạng tháng Tám. Tính chất dân tộc đã nổi bật lên trong sự kiện này
. Nhắc đến đại địa chủ, quan lại đã trở nên phản động, Liệu nêu lên “một sự thật không thể không nhắc đến”: Đại đa số trung tiểu địa chủ, ngay cả một vài đại địa chủ, đã đứng trong mặt trận Liên Việt, dự vào cuộc toàn dân kháng chiến, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và lại một sự thật khác: “địa chủ kháng chiến là con số lớn”.
Điểm lại thái độ chính trị của giai cấp phong kiến địa chủ qua các thời kỳ xong, việc xem xét lại một vài nhận định từ trước là tất nhiên, dưới dạng thức “đề nghị”. Liệu cho rằng số ruộng đất chiếm hữu của trung, tiểu địa chủ ở miền Bắc so với nhiều nước khác là quá nhỏ. Cũng bị đế quốc áp bức, một số đã đứng trong mặt trận dân tộc do Đảng lãnh đạo. Trong một xứ thuộc địa, thái độ chính trị của họ khác với bọn địa chủ ở xứ không phải thuộc địa.
Như vậy những quan điểm từ trước cho rằng toàn bộ giai cấp phong kiến địa chủ đã đầu hàng địch, đã câu kết với địch, phủ nhận quan điểm của xã hội Việt Nam, phủ nhận sự thật lịch sử, tôi thấy cần phải xét lại. Không cần phải nhắc lại những sai lầm trong Cải cách ruộng đất vừa qua không phân biệt địa chủ phong kiến với địa chủ khác, coi tất cả địa chủ là địch là máy móc… Chúng ta chỉ cần nhắc lại là: vì xã hội nước ta trước đây là xã hội thuộc địa và nửa phong kiến, nên nhiệm vụ cơ bản của cách mạng là chống đế quốc chủ nghĩa và quét sạch tàn tích phong kiến; nhưng đừng quên giữa hai mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn dân tộc với chủ nghĩa đế quốc xâm lược và mâu thuẫn nông dân với địa chủ phong kiến thì mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc vẫn là chủ yếu nhất.
Trình bày xong những nhận thức, Liệu kết thúc:
Đề ra việc xét lại “hồ sơ” của giai cấp phong kiến địa chủ, tôi chú ý vào việc nghiên cứu để mong dựng lại một sự thật lịch sử, đồng thời mong công hiên một phần nào cho công tác sửa sai lúc này.
Có cảm giác là phần cuối ngắn gọn quá, không có những “đề nghị”, đưa “giải pháp” để trên áp dụng. Dầu sao, đây là cuộc trao đổi khoa học, trình bày một cách nghĩ chủ quan, riêng biệt, thì cái phần dành cho thực tế không có chỗ cũng được.
Nhưng cái chính, là đưa bấy nhiêu thôi, “nó” đã khó “tiêu hóa” quá rồi.
“Xét lại “hồ sơ” của giai cấp phong kiến địa chủ” còn nằm trên bàn khá lâu, xem đi xem lại rồi ký “Hải Khách”, cái tên tranh đấu ông đã dùng thời làm báo Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Nó xuất hiện trên Văn Sử Địa, tờ tạp chí nghiên cứu phát hành ít bản, cho một giới độc giả không rộng rãi.
Như thế có vẻ “nội bộ”, bàn vấn đề khoa học. Và cũng còn có thể in ở đâu được nữa. Bài ra thì ngồi chờ phản ứng. Đùa cợt, đọc cổ sử, trông coi việc ở Quốc hội, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng…, lúc nào cũng nghĩ đến “nó”. Trước mắt, không khí cơ quan khá im ắng. Cái chính là cấp trên kia, và là ai thì Liệu cũng đoán biết. Những cảm giác đợi chờ ấy, ông đã quá quen từ hồi còn trẻ.
Rồi việc cũng đến. Cuộc họp của trí thức ở câu lạc bộ Đoàn kết có Tổng Bí thư dự. Liệu giới thiệu, đồng chí Trường Chinh lên nói nhiều vấn đề, nhiều chuyện của địa hạt tư tưởng, khoa học xã hội. Bài “Xét lại “hồ sơ” của giai cấp địa chủ” bị kết luận rất nặng nề: “Mơ hồ giai cấp?”. Ai nấy bàng hoàng kể cả người chưa đọc.
Liệu đã đứng dậy cảm ơn Tổng Bí thư đã cho ý kiến, rồi chuyển sang phần nghị sự khác.
Buổi “học” tan trong không khí nặng nề. Người phụ trách tổ chức Đảng ở cơ quan nhận được lời đề nghị của người vừa bị phê bình “Anh cho họp chi bộ để tôi trình bày vấn đề”. Tâm thế Liệu khá bình tĩnh. Không “lên máu”, không hoang mang. Hẳn đã biết cái sự thế nào cũng diễn ra, và diễn ra như thế nào. Việc gì mà ông phải nghĩ lại, phải tiếp thu. Đằng sau ông là sự thực lịch sử, chả có học thuyết, lý luận nào giúp được ông phủ nhận nó. Ông sẽ chung sống với lỗi “mơ hồ”.
Có điều Liệu không biết, trước khi đi họp, Tổng Bí thư đã hỏi “có khách nước ngoài không để tôi không nói vấn đề nội bộ”. Hẳn là những bức xúc không kìm được, ông đã phải ra lời…
Bài báo đụng chạm đăng tạp chí chuyên ngành, quá hẹp về độc giả nên không được nhiều người biết đến. Coi như một lẩn ném hòn sỏi xuống ao. Người ta không nhắc đến nó cùng những hệ lụy cho tác giả một cách chính thức, công khai. Có lẽ bà vợ hai của Liệu, một người “có chân” trong giai cấp địa chủ, cũng không biết là nó đã từng có mặt trên đời này.
Nhiều năm sau, khi binh lửa trở lại trên bầu trời miền Bắc, Viện Sử học sơ tán lên Hiệp Hòa, Bắc Giang, nơi có những giếng nước trong mát đầy ăm ắp. Trong một đêm trăng sáng, Liệu ngồi ngoài sân ngôi nhà nông dân cùng Bùi Đình Thanh, bí thư chi bộ cơ quan. Cả hai đã thức gần trắng đêm, nói bao nhiêu chuyện, cả “vụ” “Xét lại “hồ sơ” giai cấp địa chủ” ngày nào. Bùi Đình Thanh đã ngỡ ngàng nghe thủ trưởng bộc bạch cái điều “đấu tranh giai cấp không phải tư tưởng chủ đạo của tôi”, rằng cái tính khí khái, “tôi học nó từ Nho giáo, không phải từ khi là người cộng sản mới có”. Lần đầu tiên Thanh nghe Liệu nhắc đến mấy chữ “cường hào mới”, cái đám đang xuất hiện ở nông thôn.
Có những kỷ niệm về Trần Huy Liệu mà Bùi Đình Thanh, ở tuổi ngoài tám mươi, còn trân trọng. Đi công tác, ông cùng lái xe bị thủ trưởng bắt chạy lòng vòng để tìm một hàng cơm nào “tiềm tiệm thôi”. Dự những bữa tiệc thừa mứa, Liệu nghĩ đến người ngoài kia đang túng đói. Và những câu kiểu “dân bát ăn chưa đủ, nói chuyện công nghiệp hóa làm gì, anh cứ ghi biên bản tôi nói thế…” “Đối với tôi Trần Huy Liệu là người cộng sản ít giáo điều nhất. Ông giữ được tố chất nhân văn, giữ được mình, tình cảm với bạn bè, đồng đội, người yêu trước những cái nó cứ dìm mình xuống. Ông đành phải cắt đứt Thu Tâm theo ý của tổ chức, nhưng với Nguyễn Thị Hy (Sửu) thì ông đã dám uống cạn. Chưa bao giờ vì “đấu tranh giai cấp” mà Liệu hy sinh phần dân tộc, cũng chưa bao giờ vì những tín điều, mục đích lớn mà ông chịu để những gì bé nhỏ bị tổn thương”.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #46 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 11:07:37 pm »

Ý KIẾN “GIÀ”, ĐIỀU KIỆN “NON”
Đầu những năm sáu mươi, đất nước có những vận động lớn: bước vào xây dựng nền kinh tế theo kế hoạch với nền tảng là công nghiệp nặng; đấu tranh giữa hai “con đường” Xét lại và Giáo điều của các cường quốc xã hội chủ nghĩa… Không phải bao giờ Liệu cũng tán đồng ý kiến từ trên đưa xuống.
Nhưng đối với công cuộc đưa bộ đội vào miền Nam chiến đấu, giành sự thống nhất cho đất nước, ông là một tín đồ nhiệt thành. Những chiến thắng Đồng Xoài, Bình Giã làm ông nức lòng. Chiến dịch Mậu Thân 1968, ông phấn khởi:Không Tết nào vui bằng Tết này, Quang Trung xưa cũng vẫn chưa tày để rồi lại rầu lòng thương xót cho máu xương đổ ra mà cuộc tổng tiến công không thành.
Đó là những lúc Liệu đồng cảm, hòa hợp chân thành được với không khí chung. Nhưng lại chẳng hiếm những khi ông không “nhất trí trăm phần trăm” với lãnh đạo.
Hòa bình trở về là lúc thực hiện giấc mơ về nền sản xuất đại quy mô. Công nghiệp nặng sẽ là nền tảng lôi dắt các ngành kinh tế khác. Bên nông nghiệp, chẳng còn gì ngăn cản nổi cái hình ảnh quyến rũ cánh đồng thẳng cánh cò bay “tung tăng” những chiếc máy cày hằng xuất hiện trên phim Liên Xô, Trung Quốc. Trong khung cảnh đó, những Cô Thắm cô Nhài sẽ vừa hát vừa nhoẻn miệng cười với anh lái máy, biểu tượng của công nông liên minh. Thóc sẽ ự lên như núi. Người nông dân đi làm có kỷ luật, theo kẻng, nhận công điểm chứ không khư khư mảnh ruộng riêng của mình nữa. Đến thời cộng sản chủ nghĩa chỉ còn mấy bước chân thôi, nhưng manh mún, tư lợi vứt hết đi, để mà chỉ nghĩ đến cái chung…
Khi công cuộc hợp tác hóa diễn ra, nghĩa là ruộng đất tập trung hết, khối tư tưởng, khoa giáo có đợt học tập, quán triệt đến từng người. Quyết tâm trong Nghị quyết của Đảng phải đến với từng cán bộ các cấp, người ta có thông thì những cản trở trong thực hiện mới không “lòi ra”. Hình thức thảo luận được áp dụng, ai nghĩ gì có thể nói, để rồi được đả thông.
Lớp do Tố Hữu chỉ đạo, làm với hình thức nghe chủ trương, tổng kết trên hội trường, rồi chia tổ thảo luận. Những cán bộ quản lý khối trí thức, kỹ thuật như Lê Khắc, Bùi Công Trừng, Tạ Quang Bửu đều thấy hợp tác hóa là cần thiết. Liệu cũng vậy, nhưng lại “thêm” vào một thái độ e ngại. Rằng việc tập đoàn hóa sớm quá, và cũng nhanh quá (theo kế hoạch thì trong ba năm triển khai xong ở miền Bắc) có ảnh hưởng đến sự nỗ lực của nông dân? Rằng nông dân ở Việt Nam chả biết có được giác ngộ như ở Liên Xô, nhưng mảnh ruộng riêng đối với họ lớn vô cùng. Rằng, nhiều người vào hợp tác là bắt buộc, để con họ được tiến bộ, vào đoàn, vào đại học hay biên chế, chứ thực tâm vẫn muốn có miếng đất chăm lấy. Khi mọi người hỏi bắt buộc ra sao, ông dẫn chứng những chuyện ở quê mình, ở quê này quê no đã đi qua. Có cái gì đó không dân chủ, không “con người” rồi. Hồ Chủ tịch bảo hợp tác hóa là tự nguyện, phải để người ta thấy hợp tác đạt năng suất cao hơn thì vào cơ mà. Mà chuyện năng suất cao hơn ruộng ngoài thì chưa thấy, có dẫn đến thiếu ăn?…
- Tôi tán thành chủ trương hợp tác hóa, nhưng kết luận là “tốt” và “đã căn bản hoàn thành” thì không đồng ý.
Liệu chấm dứt phần ý kiến của mình. Không khí phòng thảo luận nặng trĩu. Các cán bộ trí thức bứt rứt. Hiển nhiên, đây là một quan điểm chẳng dễ chịu gì cho người nghe lẫn người nói ra.
Sáng hôm sau, Liệu đến lớp lớn dự tổng kết. Văn Tạo ngồi cùng xe, hỏi rất ngập ngừng: “Hôm nay bác định phát biểu thế nào?”.
Tôi đã nghĩ kỹ cả đêm rồi. Tôi sẽ nói nhận thức thực của mình.
- Nhưng mọi người đều nhất trí với Trung ương cả - Tạo thận trọng. - Các tổ khác cũng thế…
- Tôi sẽ chấp hành mọi nghị quyết của Trung ương, tuân thủ các nguyên tắc tổ chức. Nhưng đã thảo luận thì phải phát biểu nhận thức của mình chứ. Nói tất cả nông dân đều tự nguyện tán thành hợp tác hóa là sớm quá.
Văn Tạo rất ngại cho thái độ “bảo lưu ý kiến” của Viện trưởng nhưng cũng không muốn can nhiều. Bản thân Liệu cũng e những hậu quả của sự “không nhất trí với trung ương” trong một quyết định về đường lối lắm chứ. Nhưng sự bướng bỉnh trong ông còn mạnh hơn nhiều.
Tố Hữu tổng kết lớp học, rằng tuyệt đại đa số trong khối khoa giáo đã nhất trí với Trung ương, có vài ý kiến chưa thống nhất. Các đồng chí đó cứ bảo lưu nhận thức của mình, nhưng đi đâu, phát biểu gì không được nói trái. Hội nghị giải tán. Trong tiếng ghế đập ồn ào, Liệu nhận được những ánh mắt tò mò đến lạ lẫm. Có cả những ý tứ, rằng “quan điểm thế mà cũng nói ra được à…”. Thế là đã hơn một lần, ông bị thiểu số trong đám đông.
Chế độ tập thể hóa nông nghiệp được áp dụng trên toàn miền Bắc có những hệ quả tích cực. Trong thời chiến, nó tạo điều kiện cho những người quản lý địa phương dễ nắm chặt nông dân. Ai đi đâu, làm gì là đều biết, bởi người ta ra đồng theo tiếng kẻng. về cũng theo hiệu lệnh của đội trưởng. Kinh tế tất cả đều làng nhàng thì lấy người vào quân đội, đi đắp đê, thủy lợi cũng dễ. Và về mặt tâm lý, lãnh đạo ở tầm cao tít tắp cũng an ổn. Giống Liên Xô, Trung Quốc ra gì mà. Đó là những tấm gương, ta còn non về xây dựng, chưa nhiều kinh nghiệm quản lý kinh tế thì cứ soi vào đó. Cái cảnh máy cày, máy gặt đập liên hợp chạy trên cánh đồng rộng mênh mông trong các phim kiểu “Anh lính Ivan đi khai hoang” nhất định diễn ra trong nay mai. Tóm lại là cứ thực hiện, kiểu gì cũng thắng lợi.
Nhưng thực tế càng diễn ra càng theo một chiều hướng khó lường. Nhiều người vừa được ruộng theo cải cách ruộng đất đã phải tập trung lại, cả ao chuôm, trâu bò. Làm theo kẻng, chấm điếm cũng bấy nhiêu, nên đều “tám giờ vàng ngọc” cả mà ai cũng trông nhau. Cấy nhanh, bừa kỹ cũng ăn có chừng nấy. Tập thể, cộng sản có nghĩa là “dàn hàng ngang cùng tiến”, làm cầm chừng, ăn nếm náp. Hết “giờ”, nông dân về hùng hục trên mảnh đất riêng được dành lại, chiếm 5% chỗ đất trước khi góp vào hợp tác xã, có nơi gọi là “ruộng rau xanh”. Bón kỹ, cày sâu bừa ngấu, nên chi chúng cho bộn thóc, hơn hẳn những bờ xôi ruộng mật bên “tập thể”.
Vì sản lượng trên phần đất chung không cao, nên thuế má, các khoản thu từ nông nghiệp hạn chế theo. Sinh hoạt miền Bắc cứ thấp dần, tem phiếu ở thành thị cũng như sự cào bằng ở nông thôn đều chỉ duy trì một mức sống tối thiểu. Tóm lại là ổn định trong gieo neo. Trong các tổng kết, người ta giải thích đó là do tâm lý tư hữu, chỉ biết mảnh đất của riêng mình của nông dân. Và báo chí, đến lượt mình, lại lên án sự lạc hậu ấy.
“Đói thì đầu gối phải bò, túng thì phải tính”. Đã có chỗ đói. Bình thường ăn dè sẻn, đến trận mưa đá, bão lốc thì mất hẳn. Cái khu vực mênh mông nhất của miền Bắc cứ tiêu điều, cạn kiệt. Khá lâu sau cuộc bảo lưu ý kiến của Trần Huy Liệu, tại tỉnh nửa đồng bàng, nửa trung du Vĩnh Phú, ông bí thư Kim Ngọc lãnh đạo cấp ủy ra nghị quyết chia ruộng ra giao khoán, tạm thời thôi, cho nông dân. Sản xuất lên được một chút thì Trung ương biết chuyện. Kim Ngọc mất chức vì “trái đường lối”. Vĩnh Phú lại tiu nghỉu như mèo cắt tai.
Nhưng lại chỗ khác phá rào. Một huyện Đồ Sơn ở Hải Phòng mấy năm liền im re chả kêu ca túng đói gì. Trên tìm hiểu, hóa ra họ khoán chui đã lâu. Và chả phải chỉ có Đồ Sơn. Bây giờ thì người ta phải tra tận gốc rễ cái “phong trào tiêu cực” ấy.
Nông dân, và nói chung, con người ta, liệu có ai thích chả có quyền lợi riêng gì trong hoạt động lao động không, có phải là ai ai cũng thích “cống hiến hết” cho tập thể? Kết quả của quá trình phân tích tìm hiểu ấy là những nghị quyết “Mười”, “Một trăm”. Hợp tác xã nông nghiệp giải tán về thực chất khi được quyết định “khoán” đất cho nông dân làm “riêng rẽ khỏe ăn”.
Tất nhiên đây cũng được đánh giá là một thắng lợi, kết quả của tầm nhìn xa trông rộng. Sản lượng nông nghiệp lên trông thấy. Việt Nam đứng hạng cao thế giới về xuất khẩu gạo. Vai trò Kim Ngọc được đánh giá lại, quê hương Vĩnh Phú đòi dựng tượng ông, còn những người phê ông không “được” đánh giá lại…
Nói chuyện ở trường Đại học Tổng hợp, Bộ trưởng Đại học - Trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu nhắc lại lớp học về chủ trương hợp tác hóa xưa, có câu “trong thời điểm ấy, nhà khoa học dám nói điều cần thiết với Đảng là rất đáng quý”…
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #47 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 11:11:26 pm »

LÀM NGƯỜI LÀ KHÓ
Thế sự khôi tâm đầu hướng bạch
Suy nhan tá tửu vựng sinh hồng
(Chuyện đời đầu gần bạc lòng gần như tro nguội
Mặt mày vàng võ mượn rượu để sinh hồng)

Liệu viết Nguyễn Trãi. Mấy câu thơ của con người lòng dạ sáng như sao Khuê ám ảnh. Phải phân tích thời cuộc thế nào, Ức Trai(1) đã vận nó vào mạng mình thế nào, rồi lại bị nó “vặn” lại ra sao.
Đúng là ngổn ngang một cục diện oái oăm đến đảo điên, không thể tin đối với cả những ai đã dâng cả ý nghĩa cuộc đời cho nó. Làm sao có thể ngờ được một khai quốc công thần, và hơn thế, người trí thức đã thổi cái hồn vào cho cuộc kháng chiến chống Minh lại bị Lê Lợi, sau khi lên ngôi Thái Tổ, dồn đuổi đến phải từ quan về Côn Sơn dạy học, vui thú cùng lũ vượn. Dù là nhà nghèo bốn bức tường chỉ giàu sách vở, đúng “tạng” hàn sĩ thực nhưng thần liệu có an, tâm biết có tại? Hẳn là không Nếu mũ ni che tai, cầu an bảo mạng hẳn tiên sinh đã không ra thi thố, giúp giập cuộc đời từ thời nhà Hồ, cái triều ông không mấy tâm phục khẩu phục. Dù sao ông đã ra, vì Hồ Quý Ly đã chấm dứt nhà Trần quá bạc nhược. Hơn nữa, Quý Ly đã có những chính sách mới thật đáng khâm phục: phát hành tiền giấy thay tiền đồng, hạn chế số ruộng đất, nô tì của quý tộc. Quý Ly chết vì chỗ ấy. Chiếm được ngôi cao tót vời, ông đã không còn được sự ủng hộ của vương hầu công chúa cũ, vốn đã bị lột nhiều quyền lợi qua các cải cách của ông.
Lòng người, sự xoay vần của thế sự khó lường quá. Nhất là khi nhìn vào lịch sử, đem những “sự” trong đó ra ngẫm nghĩ, so đo với những gì đương diễn ra. Mặt người cứ đăm chiêu là phải.
“Nguyễn Trãi - một nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam” dày 135 trang, in ở nhà xuất bản Sử học năm 1962, là một khảo cứu công phu, có tiếng vang. Nhưng nó có vẻ “khách quan” quá. Mà Liệu bị Nguyễn Trãi ám. Số phận bi thảm của con người quá lớn ấy, ông thấy có nhiều nét tương đồng.
Những năm sáu mươi là thời điểm Trần Huy Liệu thấy cực kỳ cô đơn khi phát ra những chính kiến của mình - những suy nghĩ nung nấu ông, không thể nói ra dưới một dạng nào khác. Nhìn xung quanh cứ thưa vắng dần. Trần Đình Long, Hải Triều tâm giao thời Mặt trận Dân chủ Đông Dương đều không còn. Nguyễn Bình, người đàn em từ Quốc dân đảng, cùng chuyển sang “phe” Cộng sản ở ngục Côn Đảo, lại mất một cách bí ẩn sau những chiến tích vang dội trong Nam. Những Vũ Đình Huỳnh, Bùi Công Trừng đang ở những đâu đâu, còn hay mất? Và Liệu “còn” được bao lâu nữa? Ông chỉ còn những trao đổi thi thoảng với Trần Văn Giàu, Tạ Quang Bửu. Trên cương vị Bộ trưởng Đại học, Bửu phải rất cố gắng mới lập được chế độ thi vào đại học thay cho lối gọi chủ yếu dựa trên lý lịch.
Đó là một kỳ tích, phải đánh giá thế, để những người tài còn ngoi lên, đất nước được hưởng năng lực của họ. Chứ không thì đội ngũ trí thức cứ chỉ được bổ sung những ông “đã kinh qua lao động” nhưng cầm quyển sách là ngại mãi à? Nhưng vẫn còn đó vô vàn cái khó mà Bửu chả thể vượt qua.
Không biết bao nhiêu lần, Liệu nghe người ta kêu xin khi giấy gọi con vào đại học bị chính quyền cấp xã ỉm đi mà phải bất lực. Cái bể tiểu nông với những tư thù tủn mủn nhỏ hẹp, những toan tính ti tiện, đến lúc này mới thấy nó quá mênh mông.
Liệu tham gia làm những tổng tập chung, có sự chỉ đạo của trên nên cái chủ quan “lên” không được bao nhiêu. Giống như người nông dân làm thư thả trên mảnh ruộng tập thể ấy mà. Dần dần, ông tìm cách trở về với những trước tác riêng, không đồ sộ, bao quát bằng, nhưng có dấu ấn cá nhân. Trong đó, ông tha hồ một mình, làm chủ những nhận định, chịu trách nhiệm khi phán xét. Tất nhiên như thế thì phải công phu hơn trong tư liệu, nghiêm túc hơn trong các đánh giá. Phải thế thôi. Những nhận định non, áp đặt đều không thể có chỗ.
Khảo cứu tiếp theo, chỉ đơn giản mang tên “Nguyễn Trãi”, dày 230 trang, ra đời năm 1966, khác hẳn “người anh em” sinh năm 1962. Một phương pháp khoa học, những tư liệu phong phú, kết quả của nhiều lần trở đi trở lại với đề tài. Và không thể không nhận ra rằng nhân vật đã vận vào tác giả quá sâu sắc. Công trình khảo cứu mà lời văn đăm đắm, dù không rơi vào ủy mị, ảo não. Những đoạn trích đều đạt, rất có hồn, mang lại cho cuốn sách một cái “vẻ” dễ đọc, dù là với người đọc đơn giản.
Liệu không biết rằng 34 năm sau, trong nền kinh tế thị trường lộn xộn, người ta in lại công trình của ông dưới mác nhà xuất bản Văn hóa Thông tin. Tên sách bị sửa lại: “Nguyễn Trãi - cuộc đời và sự nghiệp”, có lẽ cho dễ bán. Con cái ông chả ai được hỏi ý kiến, chỉ biết đến khi có người phô. Và họ thốt ra câu đùa: “Bố mình dại? Ai bảo dính đến Nguyễn Trãi. Dù là danh nhân văn hóa thế giới được UNESCO kỷ niệm dịp 500 năm, ông cụ vẫn bị báo người ta in nhầm ảnh kia mà!”
______________________
Chú thích:
1. Ức Trai: hiệu của Nguyễn Trãi
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #48 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 11:13:42 pm »

LÃO NÔNG TRI ĐIỀN
Liệu dậy muộn. Đêm qua có những điều ít liên quan đến sử học bám lấy ông, bắt nghĩ ngợi. Những đêm như thế ngày càng nhiều, càng mông lung càng thấy vô tích sự, sáng ra rất phờ phạc. Cuối cùng ông cũng “nén” được, thiếp đi. Đức dễ ngủ trời cho khiến Liệu hồi sức rất nhanh sau công việc, những quan hệ chả đơn giản chút nào.
Anh thư ký, tên là Hiến, trước là bò đội biên phòng, thấy ông đi xuống thì chào rồi báo: “Bác Phạm Văn Đồng hẹn bác lên sáng nay để bàn về Đề cương…”.
- Chết, sáng nay tôi bận.
- Nhưng Văn phòng Thủ tướng giờ họ mới báo.
- Nhưng tôi cũng có lịch của tôi chứ. - Liệu nóng lên nhưng thấy mình vô lý bèn ghìm lại. - Chú nói tôi đã xếp việc rồi, bảo họ hẹn hôm khác vậy? Hay là anh Đồng cứ tự xuống đây, tôi sẽ nghỉ để tiếp.
Rồi ông xách cặp đi sang Viện Sử, để anh thư ký, ngồi trầm ngâm. Giúp việc một người độc lập, khái tính quá quả không dễ. Nói thế nào với Văn phòng cấp trên đây…
Nhưng đúng là sáng nay Liệu có việc, và không muốn bỏ việc đó. Viện Sử mới tách ra từ ban nghiên cứu Văn - Sử - Địa, thường làm những buổi sinh hoạt học thuật. Mỗi người được đề nghị chuẩn bị trình bày một đề tài, như Đào Duy Anh với văn hóa truyền thống, Cao Xuân Huy về Hán Nôm. Đó là những bậc túc nho thông kim bác cổ, nói rất có cái để nghe. Hôm nay, theo phân công, đến lượt một cán bộ nghiên cứu lớp sau nói về phương pháp luận. Lớp sau thì ít kinh nghiệm hơn, nhưng đối với người tự học mà nên như Liệu thì vẫn có nhiều cái mới đáng nghe. Họ có cái nghĩ khác mình, đọc những sách khác mình chứ. Đến lúc này, đứng đầu một cơ quan nghiên cứu, ông càng chiêm nghiệm rõ ý nghĩa cái câu tưởng đã mòn nhẵn đi rồi: “Tri thức là một hành trình liên tục”.
Hội trường nhỏ bên Viện đã khá đông. Liệu xin lỗi đến chậm rồi ngồi vào chỗ, giở sổ ra ghi chép. Người nói bắt đầu trình bày các quan điểm viết sử. Mỗi quan điểm chi phối một phương pháp, xuất phát từ mục đích viết, nhưng có những nguyên tắc chung mà đã là người làm khoa học thì không thể bỏ qua.
Ban đầu Liệu còn cắm cúi ghi, nhưng bất chợt nhìn lên trên, ý nghĩ ông lại bị lái sang hướng khác. Trước mặt là những mái đầu không còn một sợi đen, của dòng túc nho, nhô lên trên đôi vai đã khòng không. Những cán bộ nghiên cứu lứa sau, “muối” đã nhiều hơn “tiêu”. Bùi Đình Thanh, người ông xín đích danh tướng Đặng Kim Giang từ quân đội đang đều đặn “nhả tơ” dù đã có lúc phải nhọc mệt vì nghĩ khác trên khi đánh giá các giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Nguyễn Hồng Phong có những phát hiện trong cuốn “Xã thôn Việt Nam”, Nguyễn Danh Phiệt hằng cắm cúi với xứ Thanh…
Cạnh họ là những nghiên cứu viên đầu xanh bóng, vừa tốt nghiệp khoa Sử Đại học Tổng hợp ra hay từ Liên Xô về. Bao lâu nữa thì những mái tóc ấy bắt đầu thưa đi, ngả sang muối tiêu? Nghiệp sử làm người ta chóng già. Những Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn, Lê Văn Hưu đến độ “tứ thập bất hoặc” mặt mũi liệu có tươi tỉnh được? Những nho gia cắm cúi trong thư viện Quốc Sử quán triều Nguyễn liệu có thể trẻ trung hay gàn dở, cực đoan khi làm việc dưới trướng vua Tự Đức người ngắn một mẩu, uyên thâm và khe khắt? Đã làm ở Quốc Sử quán là khó độc lập lắm, dù đâu như, ở đâu đó, đã có cái quy tắc là nhà vua không được bước chân vào Quốc Sử quán, cũng tức là không được bắt bẻ, sửa sang những gì bọn sử gia chép. Đã chả có một câu chuyện nhà nọ có ba anh em, người đầu bị chém vì viết trái ý bậc chí tôn, người thứ hai vẫn bất tuân, đến người thứ ba thì… đó sao?
Như ông, khi thành lập Viện, đã được ngay bài học về tính tổ chức. Số đầu tiên của “Khoa học lịch sử” ra tháng 3 năm 1959 bị đình lại. Cái tên tập san do ông chọn đổi thành “Nghiên cứu lịch sử”, số đầu tiên chính thức ra với một vài thay đổi về bài vở. Liệu sôi lên nhưng đành chịu. Tổng Bí thư quyết cơ mà. Dù sao thì việc điều hành tập san chủ yếu vẫn ở nơi ông. Ngoài những nội dung chính chẳng còn gì phải bàn, nó vẫn tải được những bài “chông chênh tí chút”, như nhắc đến vai trò Nguyễn Hữu Thu, Bạch Thái Bưởi, hai nhà tư sản kỹ nghệ. Đối với Nguyễn Văn Vĩnh, Trương Vĩnh Ký, thái độ của tập san không phải là sổ toẹt tất cả. Làm cho Tây nhưng báo họ vẫn đăng những bài có ý tứ cách mạng đấy thôi. Nhưng Liệu không thể “thể tất” cho Trần Trọng Kim; không phê thằng Tây thì còn ra cái gì…
Thông sử là một trong bốn bộ sách lớn mà lãnh đạo đất nước muốn làm ngay khi hòa bình trở về, cùng với Bách khoa thư, Từ điển tiếng Việt và Lịch sử văn học Việt Nam. Nó sẽ là chuẩn mực về sử liệu, quan điểm cho những nghiên cứu khác dựa vào. Vị “Tổng tài Quốc Sử quán” của chính thể cộng hòa đầu tiên đã không ít lần lên cơn huyết áp vì công trình này. Ngay từ khi thành lập cơ quan nghiên cứu trong chiến tranh, Liệu đã nghĩ tới nó. Bây giờ, cáp trên chính thức giao nhiệm vụ biên soạn đề cương. Bản trình lên không được thông qua. Công trình qua tay một chủ biên khác, với nhóm cộng sự khác. Đó là mối bẽ bàng lớn?
May là trước, giữa và sau những cơn lên máu ngày càng mau, Liệu làm được nhiều việc. Lớp trẻ cậy vào ông và chính ông phải dựa vào họ.
“Lịch sử tám mươi năm chống Pháp” có những phản hồi tích cực trong giới. Người ta cảm nhận được trong đó tâm hồn dân tộc, sự từng trải của người viết. Và cũng không ít “giá mà” với “nếu như”… Cái câu “Lịch sử phải luôn luôn được viết lại” của Ănghen hẳn chưa phải gần gũi với Liệu. Nhưng cái điều “lịch sử phải công bằng, sòng phẳng” thì ông đã thể hiện ra được.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #49 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2010, 11:17:25 pm »

TRỞ LẠI VỚI THƠ
Đứng đầu cơ quan “Quốc Sử quán” của chế độ, có nghĩa là phải tấp nập với trước thuật. Viết những cái của riêng mình, đọc và nhận xét của anh em, đồng sự, chú ý đến đám trẻ…, đó là những công việc Liệu phải làm hàng ngày, thường là có ý thức, nhưng đôi khi là vô ý thức. Chẳng hạn buổi tối đi dạo thấy Chương Thâu, một sinh viên mới ra trường đọc sách dưới ánh đèn đường tù mù, vàng vọt ông gằn giọng đùa: “Cái thằng đồ Nghệ… Cái thằng đồ Nghệ…”, lửng lơ, chẳng ra khen chẳng ra nhận xét. Nhưng Chương Thâu thì nhớ, cho đến khi đã trở thành nhà nghiên cứu sử cận đại, “sở hữu” bao điều về Phan Bội Châu.
Những mối quan tâm khác: Lê Văn Lan, Nguyễn Linh hai nghiên cứu viên trẻ của Viện Sử học gặp tai nạn nghề nghiệp… Nằm trong tù, chắc chả phải khổ sở thiếu thốn lắm, Lê Văn Lan thêu trên miếng vải bông hoa xòe cánh, mấy chữ kính biếu bác Trần Huy Liệu, viền nó lại bằng những đường hoa văn rồi gửi “chiếc khăn tay” ra ngoài. Ngẫm nghĩ về tay nghề thêu ren đang lên của cậu nhân viên trẻ, Liệu thấy phát phiền. Lại đi tới đi lui, đến những địa chỉ này nọ xin bảo lãnh. Hai người được trở lại đời tự do, nhưng Linh bỏ nghề sử, đi rất xa về phía Nam sống, còn Lan vẫn theo đuổi cái nghiệp ngắm nghía chế độ phong kiến Việt Nam. Sang đến thế kỷ XXI, hình ảnh giáo sư Lê Văn Lan ngoại bảy mươi đầu xanh đen “bồng bềnh lãng tử” còn rất quen thuộc với người xem truyền hình.
Là người đứng đầu Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Liệu rất muốn xây dựng một mạng lưới nghiên cứu, sưu tầm, chỉnh lý ở địa phương. Đi đến đâu, làm việc với cấp tỉnh xong, ông cũng cố gắng để thời giờ gặp gỡ những người có xu hướng đó. Nhiều khi chỉ là mươi lăm phút giữa hai cuộc họp, Có lúc xin phép người lãnh đạo kéo họ vào bàn ăn. Địa phương yêu cầu nói chuyện là ông nhận lời, cả những lúc rất mệt. Trước mặt là những thầy cô giáo, nhân viên tuyên huấn, cán bộ văn hóa, ông phải gieo vào họ tình yêu lịch sử, lòng tự hào dân tộc Những “hạt” sẽ rơi xuống, có cái “điếc”, nhưng thế nào cũng có cái nảy mầm, cho hoa trái sau này. Muốn “mùa màng” đảm bảo, phải có một tổ chức tập hợp họ. Những Hội Khoa học Lịch sử địa phương ra đời, Liệu chả thấy tiếc công sức để lập những “ngôi đền nhỏ” như thế ở tỉnh.
Nhưng chả được toàn ý. Ông lại phải ngồi rất nhiều “ghế”. Làm Thường trực Quốc hội, Phó ban nghiên cứu lịch sử Đảng, bên Mặt trận Tổ quốc…, đi giảng, nói chuyện liên miên. Được cái Liệu ngủ tốt, và biết phân phối thời giờ. Giữa hai cuộc họp, ông hí hoáy vài nhận xét vào sổ tay, trao đổi với tác giả có cách nhìn khác - những người làm ông thấy mình mới ra, như được trẻ lại. Đọc sách khi trên đang quán triệt cũng là một “thói hư” của Liệu, nhưng quả tình chả phải bao giờ ông cũng háo hức với những điều đáng phải nghe. Ông đã có quá nhiều cái nhìn riêng rồi mà… Những lời, những chữ cứ bay lượn trong thinh không hội trường, đáp xuống đâu đó quanh con người biết mình đã qua tuổi tráng niên, chạm vào vai, sượt qua mái tóc đốm bạc, rồi lả tả rơi xuống nền nhà…
Là Chủ tịch hội Việt - Trung hữu nghị, Liệu lại có cái nhìn khá xét nét về quan hệ đôi bên. Lần đi Trung Quốc, dự tiệc, Ngoại trưởng bên ấy là Trần Nghị ngồi cạnh ông hỏi nhỏ: “Các đồng chí Việt Nam có sợ chúng tôi không?”. Câu trả lời ra rất nhanh: “Các đồng chí cứ nhìn lại lịch sử”. Thân thiết với nhiều cán bộ “xét lại” trong Đảng, Liệu có bao nhiêu “thế” phải giữ gìn, nhất là từ khi Vũ Đình Huỳnh, Bùi Công Trừng “đi vắng”. Ông thấy chả được tự do khi nói, nhất là khi viết, đôi khi như có người giám sát. Mà ông có nhu cầu mơ mộng, ra lời những điều mình nghĩ. Thế thì chỉ có thơ, dù thơ chả phải cứu cánh lúc này.
Liệu làm thơ trở lại. Không hồn nhiên, thơ thới như xưa, bao điều không thể nói ra, nhưng những gì đã nói đều có thật trong tâm hồn ông. Làm sao ông có thể làm khác. Ông chỉ có thể “hộc ra thơ” kia mà. Thật ra thì nó đến cũng tự nhiên, chả phải thần hứng gì, vì trước hết ông là một người yêu nước những sự kiện, thắng lợi trong cuộc chiến đấu giành thống nhất cho dân tộc hay một thắng lợi về xây dựng ở miền Bắc đều làm ông nức lòng. Và là một con người có trách nhiệm, ông cũng chả muốn trút vào thơ những phiền muộn, canh cánh. Liệu ý thức điều đó.
Có điều, thơ thường ra khi ông không ở nhà. Giữa đất trời tự do, thiên nhiên thơ thới, xa cách những ràng buộc hành chính, ông thấy mình hồn nhiên hơn. Mộc Châu, Cúc Phương, sông Đa-nuýp ở Slovack, núi Kim Cương ở Bắc Triều Tiên đem lại những lai láng để ra thơ.
Nhưng ông thấy mình đã cứng lại. Lập ý tức là ra người già mất rồi còn gì. Những câu không đến nỗi vô hồn nhưng nhạt nhẽo hơn rất nhiều cái đoạn Ơ kìa cô gái sông Đen, non cao rùng thẳm con thuyền đợi ai còn trẻ. Thời gian khắc nghiệt thật, đã cho ông nhiều thứ, nhưng lại lấy đi sự nồng nàn, những cảm hứng “vô mục đích”. Và ngược lên giai đoạn thanh niên, sao mà Liệu có thể sôi sùng sục, nhiều nhiệt huyết tới liều lĩnh đến thế.
Thơ Trần Huy Liệu ở giai đoạn “trọng trách bề bề” rõ là đã không còn nhiều cái riêng như trước. Thời tù đày, ông còn có thể cười khúc khích trước một quan sát hóm hỉnh. Giờ thì không thế nữa. Thơ là sự thách đố lớn nhất. Khi đã trưởng thành, con người ta thường khôn ra, tỉnh táo, lịch lãm hơn, nhưng tiếc chừng nào cái chú bé ngơ ngác, dại khờ của một thời. Chả phải trong tiếng Pháp, tính từ prosaique - văn xuôi - còn một nghĩa khác là “tầm thường” đấy ư. Có nghĩa thơ mới khó nhất, là tột đỉnh.
Trần Huy Liệu có ý thức ra điều ấy không, chả biết được. Nhưng chắc chắn ông biết mình không làm thơ như một thi sĩ thuần túy. Ông là nhà tuyên truyền, làm lắm khi là để phục vụ. Đôi khi ông nói chí, dù chả khoái lắm cái quan niệm “thi dĩ ngôn chí” của nhà Nho. Nhưng ông đã nghĩ về thơ như nó phải là.
Liệu nhận được bản thảo tập “Thơ Sóng Hồng” của Trường Chinh, đang giữ những trọng trách lớn. Là người nghiêm cẩn, “đánh dấu chấm trên chữ I”, ông quan tâm, đồng thời có trách nhiệm lãnh đạo khối tư tưởng, khoa học xã hội. Sau những mật thiết thời lao lung, đến hòa bình, Liệu đụng nhiều “ca” với Trường Chinh. Nhưng thơ lại khác. Nó chả phải chính trị, học thuật, quan điểm nói ra có khắc nhau cũng đỡ đụng chạm hơn. Vả chăng, Liệu quen rồi cái thói “không nói ra thì thôi, đã nói thì đúng điều mình nghĩ”. Dầu sao giữa hai người còn rất nhiều liên hệ chung, bên tâm trạng xa lánh vẫn còn sự nể trọng. Liệu đọc kỹ tập bản thảo “Thơ Sóng Hồng”, cẩn thận đánh dấu, rồi trả lời.
Anh Trường Chinh
Hôm nay chủ nhật, tôi mới có thì giờ và cũng rất hào hứng ghi một số ý kiến sau khi đọc tập thơ của Sóng Hồng.
Như đã nói chuyện với anh tôi đọc tập thơ này, nói chung, thấy thích; nhưng tiếc rằng không có bài nào đọc thích từng câu, từng chữ từ đầu chí cuối mà nhà nho gọi là “toàn bích”, vì rải rác nó cử vấp phải những câu, những chữ kém thi vị. Anh đã nghe nhiều dư luận về tập thơ này chưa? Có thể có hai thiên hướng. Một cho rằng, anh có làm thơ thì cũng là “chiến sĩ làm thơ” thôi. Một số đông khác nghe nói anh làm thơ, thì ngạc nhiên nên tìm để đọc và vì biết tác giả trên mọi chưng diện khác nên sẵn sàng khen hay. Cháu Kính, con dâu tôi cũng vào loại ấy. Tôi còn nhớ trong một số báo tết của báo Tin tức bị cấm năm trước, có mấy bài thơ của Trần Đình Long(1), tôi bằng lòng đăng nhưng vẫn cười rằng thơ theo kiểu “dùi đục chấm mắm cáy”, còn anh thì vừa đọc vừa gật gù khen hay. Tôi và Trần Đình Long cùng nháy nhau cười khúc khích…
Trở lại tập thơ đầu lòng của anh mới ra đời. Bài Cùng bạn đọc tôi không thích lắm vì nó có giọng chiến sĩ hơn là thi sĩ. Trước khi đọc, tôi cũng mang cái chủ quan là anh mạnh về ý chí mà nghèo về tình cảm nên làm thơ sẽ không hay. Nhưng đọc rồi thì thấy anh quả có một tâm hồn thơ. Một bài mà tôi thích nhất có lẽ là bài Nhớ bạn làm Nam Định mùa xuân 1927, vì nó thanh thoát, nhẹ nhàng, dạt dào tình cảm. Đọc bài ở căn cứ địa Việt Bắc, những câu trên nói lên được ý chí, khí phách, tình cảm rất thích, nhưng vấp phải câu: “Trường kỳ kháng chiến gian nan / Con đường cứu nước cứu dân sáng ngời” thì tôi bị cụt hứng. Bài Đi họp cũng có nhiều câu thú vị, nhưng thỉnh thoảng có những chữ kém vị, như “xuống đèo vừa mới tối”, và “thấp thoáng ở sườn non”? Hai chữ mới và ở nếu được đổi bằng chữ khác thì thú hơn. Bài Thư nhà, hai câu “Quê ta cải cách xong rồi đó / Tiền tuyến anh nên gắng lập công thì thật là lời nói chớ không phải là lời thơ. Trái lại, hai câu cuối cùng thì rất mộc mạc, rất nông dân và cũng không kém thi vị “diệt xong quân địch (sao không đề là quân giặc) về thăm vợ/ thăm ruộng, thăm làng, thăm bãi dâu”. Bài Dọc đường số 5 cũng là một bài hay và không có một “hạt sạn” nào làm mất thi vị. Bài ở Mạc Tư Khoa ra về làm năm 1960, tại sao không có một ý gì nhắc đến cuộc đấu tranh thông nhất Tổ quốc của ta và nhắc đến như nhân dân An-giê-ri anh dũng mà không nhắc đến cuộc trường kỳ không chiến còn nóng hổi của ta. Bài Gửi qua Bến Hải cũng như Thăm In-đô-nê-xi-a có những câu chưa hả lắm, nhưng cũng là những bài chứa nhiều thi vị. Bài Từ trên núi cao nhìn xuống Vĩnh Phúc, bên những câu rất thiết thực nhưng không kém thi vị, già dặn như “Mong sao biến được chí căm thù, thành lúa, thành ngô, mùa bội thu, thành mức chỉ tiêu, giờ cứu nước, thành đôi cánh mới vút trong mơ” và “ngói đỏ reo lên đời sống mới, cây rợp bên đường thôn Lạc Trung” - thì lại có không ít những câu chẳng thơ chút nào, như “Đường lối trung ương đã thấm rồi; then chốt thành công cần nắm vững, ăn thua phát động sức muôn người”, hay “Phù Lập làm phân thật khác thường, Phượng Trù thủy lợi đáng nêu gương. Chăn nuôi tập thể Hòa Loan giỏi”, hay “mong sao luyện tập cả ngày đêm, giặc đến là ta chặt cổ liền. Thuốc súng có khô(?) cây mới vững, sẵn sàng mọi mặt, phóng tâm thêm”, hay “Chiến đấu lại càng hăng sản xuất, quyết tăng tiềm lực diệt Giôn-sơn”, hay “Bến Tre xứng đáng với thành đồng, ta gắng thi đua kẻo phụ lòng, và “anh hùng Vĩnh Phúc về ra mắt”. Trong bài này anh có câu “Mong sao kỹ thuật thắng nhân tuần”, không hiểu anh dùng chữ nhân tuần theo nghĩa nào? Theo chữ nho thì nhân tuần là quen theo nếp cũ, lần chần, rề rà, lề mề… Bài Ngọn lửa Mô-ri-sơn kém gợi cảm vì chất thơ ít. Những câu như “vì cuộc đấu tranh tiêu cực của anh, đang truyền phẫn nộ cho quần chúng nhân dân”, hay “ đang thúc giục những ai có lương tri, phải bóp đầu suy nghĩ để tự trả lời… rồi ai nấy sẽ tìm ra câu trả lời đúng nhất”. Cố nhiên không phải là thơ. Bài Diệt phát xít là một bài diễn thuyết trước quần chúng hơn là một bài thơ. Những câu “Cứu cho nhau khỏi nô lệ dã man thời trung cổ, rồi tiến lên vác búa đập cho tan - Dân Việt Nam hỡi! Dân Việt Nam hỡi! - Thống nhất để tiêu trừ quân Pháp, Nhật… Chúng ta phải tham gia cùng chiến đấu… Gương anh hùng sáng rực cả non sông” có thể dùng làm bài văn vần tuyên truyền cho người ta dễ thuộc lòng. Cuối cùng là bài Quyết thắng, đọc cái tên của nó cũng có thể biết nội dung của nó. Nhưng có mấy câu về ý nghĩa, tôi thấy trong chỗ lực lượng đối sách giữa ta và địch, ta ngày càng mạnh hơn thì đây chưa phải đã là một quy luật nhất định. Và, câu “Sức triệu người là sức mạnh vô song” tôi e người ta đọc chữ triệu sẽ có ấn tượng là con số thì không đúng.
Trong những bài thơ trong tập, nếu đem ra đọc ngâm nga thì tôi thích bài Đi. Vì nó có nhiều ý thơ lại theo thể thơ Đường bốn câu. Những câu “Xao xuyên lòng anh bao ý thơ, muốn bắt quang âm ngừng lại chút, cho thêm nồng thắm những ngày xanh, lòng ta man mác, gió bay bay, câu chuyện tâm tình lẫn nước mây” thật là đẹp!
Bên những ý bạo, lời mới, tác giả cũng còn những ý những câu của một thời đương qua. Ví dụ: “Cho bừng lửa hận, biết tay anh hùng” trong bài Lấy củi, Hãy tạm ngừng gót hải hồ” trong bài Xuân đã về. Đọc những bài này, tôi nhớ lại những bài xướng - họa của Thu Tâm-Hải Khách(2)trong những năm 1933 - 1938. Nhất là câu “Buổi ấy ra đi chí khí hùng” trong bài Buổi ấy, tôi gợi nhớ lại những liệt sĩ U, Yên trong thời Xuân Thu chiến quốc!
Tôi muốn viết dài hơn nữa nhưng mấy hôm nay huyết áp hơi cao phải dừng lại. Nói tóm lại, tập thơ của anh đã nói lên được những Tiếng lòng của anh bên những tiếng đanh thép mà mọi người quen nghe. Chắc anh cũng cảm thấy vui và cũng muốn biết các bạn đọc thơ mình có ý kiến gì. Tôi đã làm cái việc mà tôi muốn làm. Anh ạ, tôi thì tôi muốn rằng các đồng chí của ta mỗi người mỗi việc, nhưng ai cũng phải biết thưởng thơ và nếu có thể được thì làm thơ cho tâm hơn được thư sướng hơn, đời sống mạnh mẽ và đậm đà hơn, có thể nói là yêu đời hơn.
Thân ái
Trần Huy Liệu

______________________
Chú thích:
1. Trần Đình Long: Thành viên nhóm “Tin tức” - tờ báo Cộng sản giai đoạn 1936-1939.
2. Thu Tâm: Tức Phạm Thị Bách; Hải Khách: Một bút danh của Trần Huy Liệu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM