Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:43:01 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 2  (Đọc 422067 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #280 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 06:47:22 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....
2.3 Các tài liệu do người Việt Nam đưa ra

Các tài liệu này cũng khẳng định sự hiểu biết từ lâu đời về hai quần đảo. Sự hiểu biết này đã chuyển hóa thành sự chiếm hữu thực sự từ thế kỷ XVIII.

Sự hiếm hoi các tài liệu chính thức của Việt Nam là do phần lớn chúng đã bị cướp đi, đốt cháy hay phá hủy trong suốt các cuộc chiến tranh từ xa xưa, cho nên nay và không thể đi ngược lên xa hơn.

Từ những tài liệu hiện có (ít nhất là được nhắc tới) thấy được, giống như trong các sách Trung Quốc, các đảo và quần đảo đã được đề cập từ rất lâu đời. Như các bản đồ có lẽ được lập từ cuối thế kỷ XV (thời vua Lê Trang Tông) và có nói đến quần đảo Hoàng Sa đã được Viện Nghiên cứu lịch sử in lại (Hồng Đức bản đồ- Sài Gòn, 1962, tr 218), tấm bản đồ như vậy cũng có trong các tập Hồng Đức bản đồ được lưu trữ tại Nhật Bản có niên đại từ thế kỷ XVII.

Những dấu vết đầu tiên khẳng định về một quyền đã xuất hiện trong cuốn Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, điều này đánh dấu niên đại của những dấu hiệu pháp lý chắc chắn đầu tiên từ thế kỷ XVIII. Trong tác phẩm của nhà bách khoa với chức vụ Hiệp trấn, các quần đảo đã được mô tả (phải đi ba ngày đêm mới đến được, các quần đảo đã được xác định khá chính xác) và nói đến hoạt động khai thác có tổ chức của các chúa An Nam. Người ta tìm thấy ở đây bản kê khai các tài nguyên thu lượm được, việc khai thác này sau khi đã tham khảo các sổ đăng ký của chúa nhà Chúa có ghi ngày: “Tôi từng tra khảo số biên của cai đội Thuyên Đức Hầu ngày trước như sau:

- Năm Nhâm Ngọ (1702), Đội Hoàng Sa thu lượm được 30 thỏi bạc.

- Năm Giáp Thân (1704), thu lượm được 5.100 tấn thiếc.

- Năm Ất Dậu (1705), thu lượm được 126 thỏi bạc. Còn từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), tức là trong khoảng 5 năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy cân đồi mồi và hải sâm. Cũng có lần chỉ lượm được mấy cái bát sành và hai khẩu súng đồng"
(32). Cũng tác giả này đã thuật lại những sự kiện trước kia đã từng được các nhà sử học biết đến như một số trận đánh giữa hạm đội Hà Lan và thủy binh của các chúa Nguyễn 1643-1644. Các sự kiện này chứng tỏ các chúa An Nam đã có một lực lượng hải quân có hiệu quả và rất chú ý tới việc kiểm soát trên biển. Điều này liệu có đưa đến việc nghĩ rằng việc khai thác có tổ chức có lẽ đã có từ lâu mà các cuốn sổ ghi chép chính xác này không nói đến? Không thể bảo vệ điều này vì không có đủ các bằng chứng trước đó.

Ngược lại, từ đầu thế kỷ XVIII, các bằng chứng về việc cai quản của chúa An Nam đã được xác lập tốt. Như vậy, khi ông Le Fol, Khâm sứ Pháp tại Trung Kỳ viết cho Toàn quyền Đông Dương ngày 22-1-1929, “quần đảo  (Paracels) dường như vẫn còn là res nullius (đất vô chủ) cho đến đầu thế kỷ trước” và cho biết trong văn kiện này các chỉ dẫn về hành vi cai quản các đảo được các triều đại trước đây thực hiện từ đầu thế kỷ XIX, luận điểm này là của một con người đang đảm nhiệm chức vụ trong một miền của Việt Nam trực tiếp liên quan đến khía cạnh lịch sử của các vấn đề đó, chắc hẳn là dựa trên sự hiểu biết nhất định về các hồ sơ. Tuy nhiên, ông ta không biết đủ để xác định ngày tháng của các hành vi cai quản của An Nam với tất cả các mức độ chính xác mà việc xem xét đầy đủ hồ sơ cho phép.

Đặt mình vào thế kỷ XVIII, người ta có thể bảo vệ được rằng cho tới thời điểm đó, sự tồn tại của các đảo Paracels đã được biết đến một cách rộng rãi, rằng Trung Quốc không thể viện dẫn bất kỳ sự chiếm hữu nào phù hợp với các tiêu chuẩn đã được nêu ở trên, rằng cuốn sách của Lê Quý Đôn ở Việt Nam là tư liệu đầu tiên nêu lên các hành vi tương ứng với một sự quản lý nhất định quần đảo, đó là sự quản lý có niên đại từ những năm đầu của thế kỷ XVIII.

Đối với các đảo Trường Sa, sự tồn tại của chúng chắc chắn đã được biết đến cho dù còn chưa xác lập rõ sự khác biệt của chúng với quần đảo Hoàng Sa (trong các tài liệu được tiếp xúc). Không có gì cho phép khẳng định rằng Trung Quốc đã chiếm hữu các đảo này. Việc quản lý các đảo Trường Sa (Spratleys) đồng thời với các đảo Paracels của các chúa Nguyễn từ thế kỷ XVIII là một giả thuyết có thể thừa nhận. Trong hồ sơ không có dấu hiệu về mối quan tâm của Indonesia, Malaisia hay của Philippin đối với quần đảo này trong thời kỳ đó.
________________________________________________________________________________________
32.   Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục.
....
Phần tiếp theo:  3. VIỆC KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN (THẾ KỶ XVIII-XIX)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #281 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 09:22:55 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

3.   VIỆC KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN (THẾ KỶ XVIII-XIX)

Phần trên đã đưa ra ánh sáng sự hiện diện của một yếu tố đầu tiên. Nó xuất xứ từ một tài liệu năm 1776 (Phủ biên tạp lục), trong đó tác giả - khi đó đảm nhiệm chức vụ Hiệp trấn hai tỉnh, đã kể lại, có sử dụng các báo cáo có từ đầu thế kỷ XVIII, rằng các chúa Nguyễn đã thành lập ra đội Hoàng Sa, đi tới các đảo vào tháng hai âm lịch và từ đó trở về vào tháng tám âm lịch, để khai thác các sản vật biển và thu lượm hàng hóa từ các tàu bị đắm.

Ở đây cần phải nghiêm túc liệu dấu hiệu này tiếp sau đó có được khẳng định không ?, liệu lúc đó có tạo nên được một quyền trên các đảo có thể đối kháng với các quốc gia khác không ? và phạm vi của nó đến đâu, cuối cùng liệu các quyền cạnh tranh có được thể hiện hay không?

3.1 Các tài liệu Việt Nam thế kỷ XVIII và XIX

Chúng rất nhiều, nói chung là ăn khớp với nhau và được bổ sung bằng các ghi chép của nước ngoài đáng tin cậy và theo chiều hướng khẳng định một danh nghĩa chủ quyền.

Nhiều bản đồ, tập địa đồ hay sách địa lý Việt Nam chỉ rõ các quần đảo như một bộ phận của Việt Nam, cụ thể là:

- Giáp Ngọ Bình Nam Đồ, 1774

- Đại Nam Nhất Thống toàn đồ, 1838

- Đại Nam Nhất Thống chí, 1882  (33).

Sự quản lý thật sự các quần đảo xuất hiện trong nhiều tài liệu khác có sẵn tại Việt Nam. Những tài liệu quan trọng nhất là:

- Đại Nam thực lục viết từ 1821, Đại Nam thực lục tiền biên, liên quan đến thời kỳ 1600-1775 và Đại Nam thực lục chính biên về thời kỳ sau;

- Đại Nam nhất thống chí viết từ 1865-1882;

- Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, 1843-1851;
 
- Cũng như một số báo cáo tại cơ quan lưu trữ ở thành phố Hồ Chí Minh.

Một số tài liệu này mang dấu ấn của nhà vua hoặc có những lời phê bằng mực son, chứng tỏ đó là bút tích của nhà vua. Từ đó có thể thấy với độ chính xác cao rằng các hoàng đế Việt Nam đã luôn theo đuổi việc tổ chức (đã được nói đến trong cuốn sách năm 1776) một đội khai thác kinh tế biển và thăm dò các quần đảo. Các biện pháp này thuộc một chính sách quốc gia chú trọng tới các lợi ích biển.

Do sự khắc nghiệt của khí hậu nhiệt đới, các đảo nhỏ không thích hợp cho nông nghiệp. Một số đảo có phân chim bao phủ nhưng việc sử dụng nguồn phân này chỉ bắt đầu từ thế kỷ 20. Các nhà biên niên sử của thế kỷ XIX cho biết các tài nguyên là hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, ba ba và các hàng hóa đồ vật của các tàu bị đắm (Đại Nam nhất thống chí).

Ngay từ đầu thế kỷ XVIII, các chúa Nguyễn đã thành lập các đội đi biển có tính nhà nước. Tổ chức và hoạt động của chúng đã được mô tả chi tiết trong cuốn sách của Lê Quý Đôn năm 1776. Các đội này có nhiệm vụ đặc biệt, một số để thu lượm các hải sản tại các đảo gần bờ, số khác để thu lượm các đồ vật hoặc các hóa vật từ các xác tàu đắm trên các đảo ngoài khơi.

Lê Quý Đôn còn mô tả các hóa vật thu lượm được như súng trường, kiếm, đại bác, vàng, bạc, chì, thiếc, ngà voi, đồ sứ, vải len, vải bố, sáp ong…Ông cũng mô tả các đội có nhiệm vụ đo đạc hải trình, lập bản đồ dâng lên trình lên các Chúa. Có những chỉ dẫn rất chính xác cho phép biết rằng mỗi đội gồm có 70 người được tuyển mộ tại phủ Bình Sơn, những người tình nguyện được miễn thuế sưu và tiền tuần, đò. Các hình phạt cũng được trù định cho trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ.

Ngược lại, hoàn thành nhiệm vụ xong được lĩnh bằng, hay thưởng vật chất. Thời gian hoạt động từ tháng hai đến tháng tám hàng năm. Đi năm chiếc thuyền và mang theo sáu tháng lương thực (34).
_____________________________________________________________________________________________
33.   Các dữ liệu này có trong các tài liệu do Bộ Ngoại giao Việt Nam phát hành năm 1981 và có thể tham khảo tại Hà Nội, nhất là tại Viện Lịch sử quốc gia.
34.   Lưu Văn Lợi, Phân tích tác phẩm: Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Hà Nội, 1994, in Roneo.
....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #282 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 11:10:47 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

Giữa năm 1771 và năm 1802, lịch sử Việt Nam được đánh dấu bằng sự đối đầu của các triều đại phong kiến. Khi nhà Nguyễn được khôi phục lại, vua Gia Long đã tiến hành thống kê tất cả đất đai của đất nước. Các đội thủy binh đóng một vai trò quan trọng trong việc thống kê các quần đảo. Các đội này do bốn quan chức lãnh đạo. Năm 1815, vua cử Phạm Quang Ảnh chỉ huy đơn vị hải quân có nhiệm vụ thăm dò các quần đảo và vẽ bản đồ thủy trình tại đó.

Theo một số sách chép lại, vào năm 1816, hoàng đế Gia Long có lẽ muốn đích thân ra quần đảo (35) để chiếm hữu chúng và gắn “nhánh hoa lên vương miện của Ngài”, nhưng thông tin này không được xác nhận vì nhà vua không thể đi xa mà không có nhiều ngàn người đi theo xa giá, điều này gây tranh cãi về chuyến đi của hoàng đế tới các đảo. Đúng hơn là vua đã cử Phạm Quang Ảnh ra đó. Đại Nam thực lục chính biên kể lại năm 1815 và sau đó một lần nữa vào năm 1816, nhà vua đã ra lệnh cho đội Hoàng Sa ra các đảo để xem xét đo đạc thủy trình và vẽ bản đồ trình lên nhà vua.

Vua Minh Mạng, người kế nghiệp ông, vào năm 1833, đã ra chỉ thị cho Bộ chủ quản phái người tới dựng miếu, lập bia, trồng nhiều cây cối: “Ngày sau, cây cối to lớn, xanh tốt, người dễ nhận biết, có thể tránh được nhiều mắc cạn”. Chỉ thị trên đã được nhắc lại vào năm 1835 vì kế hoạch đã bị hoãn lại do gió và sóng dữ dội. Lúc đó công việc mới được tiến hành và nhà vua đã ra lệnh trọng thưởng cho những người thi hành.

Năm 1836, vua Minh Mạng tiếp tục kế hoạch của người tiền nhiệm thực hiện làm địa bạ toàn quốc. Nhiều chỉ thị chính xác hơn cho việc đo đạc đã được đưa ra. “Không cứ là đảo nào, bãi cát nào, phàm khi thuyền đến nơi, tức thì cứ chiếu chỗ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước bốn bên xung quanh nông hay cạn, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thể hiểm trở bình dị thế nào, phải xem xét đo đạc rõ ràng, vẽ thành bản đồ”. Cùng năm đó (1836), vua lệnh cho thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi và chuẩn bị mang theo các bài gỗ đến các nơi thanh tra dựng làm dấu. Trên mỗi bài gỗ đều khắc chữ: Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng lệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ.

Vào năm 1837, Thượng thư Bộ Lại làm một bản tường trình nhà vua về các khoản chi tiêu của đội. Năm 1838, quan tuần phủ tỉnh Quảng Hà đề nghị vua cho bãi các thuế khóa đánh vào các tàu của đội và được vua chấp thuận. Cùng năm đó, Thượng thư Bộ Công làm một bản báo cáo lên nhà vua về các hoạt động của đội. Các đảo Hoàng Sa đã được ghi trong đó.

Năm 1847, dưới triều vua Thiệu Trị, Thượng thư Bộ Công đã tâu với vua về việc cần thiết phải hoãn lại các chuyến đi của Đội vì lý do thiếu ngân sách.

Năm 1867, năm Tự Đức thứ 20, đối với các thủy binh đã tử vong trong quá trình ra các quần đảo đều được nhà vua tôn vinh là anh hùng.

Tất cả các thông tin nói trên đều lấy từ các tư liệu lịch sử của Việt Nam và tính chất chính thức của chúng đã từng được nhiều tác giả nước ngoài thừa nhận. Đó là trường hợp của Chaigneau (Viết về Cochinchine) và của Gutzlaff, (1849, Tạp chí của Hội Địa lý Hoàng gia về Vương quốc Cochinchine). Như vậy, có thể cho phép nghĩ rằng vương quốc An Nam với tư cách là một quốc gia trước thời thuộc địa đã thể hiện mối quan tâm cụ thể tới các quần đảo và đã phát triển các hành vi cai quản ở đó vào thời điểm không có một quốc gia nào có mối quan tâm tới chúng như một quốc gia có chủ quyền (36).
___________________________________________________________________________________________
35.   Xem, Nguyễn Khắc Viện: Việt Nam lịch sử lâu đời, NXB Ngoại Văn, Hà Nội, 1987.
36.   Xem, Dieter Heinzig: Các đảo bị tranh chấp trong biển Nam Trung Hoa, Viện các vấn đề về Châu Á tại Hamburg, Wiesbaden, 1976.
....
Phần tiếp theo: 3.2 Việc hình thành một quyền đối với các đảo và phạm vi của nó
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #283 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 03:08:59 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

3.2 Việc hình thành một quyền đối với các đảo và phạm vi của nó

Các tài liệu đưa ra cho thấy sự hoạt động có tính chất nhà nước của Việt Nam đối với các quần đảo và điều đó đã được lịch sử xác lập. Vấn đề còn lại là vạch ra khu vực hoạt động một cách thận trọng và xác định rõ ràng ngày tháng, cường độ và phạm vi địa lý.

Văn bản đầu tiên có giá trị là tác phẩm của Lê Quý Đôn năm 1776. Ông ta đã mô tả tỉ mỉ việc khai thác các quần đảo này từ năm 1702. Như vậy, ý chí về chủ quyền của nhà nước phải chăng là chắc chắn từ đầu thế kỷ XVIII. Các nhà chức trách Việt Nam khẳng định rằng các đội Hoàng Sa đã hoạt động liên tục từ triều đại đầu tiên của Nhà Nguyễn (1558-1786) (37).

Đội Hoàng Sa có thể đã tồn tại từ trước năm 1702. Đó là một giả thuyết có thể chấp nhận. Tuy nhiên, các dữ kiện dựa trên các tài liệu lịch sử có thể kiểm tra được không vượt quá những năm đầu của thế kỷ XVIII và không thể ngoại suy một cách chắc chắn được.

Dù sao đi nữa, và bắt đầu từ thời điểm này, đã có một ý định thật sự khẳng định chủ quyền đối với các đảo bởi vì đã tìm thấy các loại hành vi được án lệ quốc tế nêu ra để thể hiện ý định này (38).

Đặc biệt, vấn đề sẽ không dừng lại ở các cuộc thám hiểm nhằm lập các bản đồ hay đo đạc các đường hàng hải. Đó có thể là những công việc của các nhà địa lý, các nhà hàng hải để góp phần vào hiểu biết chung và phổ biến một vùng đất hay biển (tuy rằng Trung Quốc cho rằng đã chấm dứt các công cuộc thám sát do người Đức thực hiện trên các đảo này vào năm 1883 với lý do Trung Quốc muốn “chấm dứt các hoạt động này” là để tỏ rõ quyền lực của họ) (39).

Đã có nhiều hoạt động khác thuộc về cách ứng xử của nhà nước: lập một đội thủy binh riêng, trợ cấp về tài chính cho nó, khai thác nó, quản lý nó, thưởng cho nó, quyết định các công trình xây dựng trên lãnh thổ, muốn làm cho các công trình đó có tính chất tượng trưng như cắm một cái bia hay một cái mốc chủ quyền: đó chính là những hành động mà ta không có gì nhầm lẫn.

Các nhà chức trách Vương quốc An Nam đã triển khai trên các đảo những hoạt động đó. Ngay cả khi không tính đến cuộc thân chinh trịnh trọng của vua Gia Long năm 1816 do các tác giả Pháp nói đến, thì cũng còn khá đủ các sự kiện trùng hợp và liên kết với nhau để có thể khẳng định rằng các nhà cầm quyền Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến đầu thời kỳ thuộc địa, đã thụ đắc các quyền chủ quyền đối với các quần đảo theo đúng các quy tắc của pháp luật quốc tế áp dụng vào thời điểm đó.

Các sự việc đó là thật sự, một tính thật sự thích hợp với yêu cầu của thời đại và với điều kiện địa hình và hình thể các địa điểm không cho phép thực hiện một sự chiếm đóng toàn bộ và thường trực. Đó là những hành vi theo mùa do các đặc điểm địa lý và khí hậu của các đảo. Trong phán quyết trọng tài này 28-1-1931 về các đảo Clipperton giữa Pháp và Mehico, vua Italia, Victor Emmanuuel II đã công nhận hiệu lực của việc chiếm cứ dựa trên các hành vi giám sát (40).
__________________________________________________________________________________________________
37.   Liên hợp quốc, A/43/346, ngày 2-3-1988. Thư ngày 2-5-1988 của Quyền Đại biện lâm thời phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc gửi tổng thư ký Liên hợp quốc.
38.   Xem các tranh trên đây, các ví dụ rút ra từ vụ Minquiers và Écréhous.
39.   Đây là một luận điểm không có tham chiếu cụ thể, Bản tin Trung Quốc học, 1988, số 8, tr.76.
40.   Phán quyết trọng tài Pháp - Mehico trong vụ đảo Clipperton: Tuyển tập các phán quyết trọng tài, q.11, tr.1103.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #284 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 05:07:29 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

Đó là những sự kiện được các nhà chức trách nhà nước ở cao nhất đưa ra. Chúng không gây ra một chút nghi ngờ gì về ý định của một sự khẳng định chủ quyền. Trong khi chúng không bị bất cứ ai phản đối, các sự kiện đó làm thành cái mà người ta có thể gọi là một sự quản lý lãnh thổ một cách hòa bình và không gián đoạn. Điều này cũng phù hợp với lời khẳng định trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ 1843-1851: Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực biển nước ta rất là hiểu yếu.

Tuy nhiên, phạm vi địa lý của các quyền đã từng được khẳng định phải được xác định. Chúng ta sẽ kiểm tra ở đây tất cả thời kỳ từ thời kỳ cổ xưa cho tới thời kỳ bảo hộ của Pháp mà thời điểm củng cố (1884) cũng là thời điểm Hội nghị Berlin mở ra một chương mới của lịch sử luật pháp quốc tế.

Sự khẳng định chủ quyền do người Việt Nam đưa ra dường như liên quan tới một vùng rộng lớn hơn vùng chỉ có các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. Có hai yếu tố đi theo hướng này. Các nhà địa lý Việt Nam thế kỷ thứ XIX đã thống kê được 130 đảo, có nghĩa là các vùng đất nổi (41).

Thế mà con số 130 không đúng với quần đảo này hay quần đảo kia trong số hai quần đảo nếu chúng ta xem xét tách chúng ra. Ngược lại, nó phù hợp khá chính xác với tổng số đảo của cả hai quần đảo (42). Mặt khác, các biên niên sử An Nam chỉ rõ rằng đã có nhiều đội được phái đến những hướng địa lý khác nhau.

“Các đảo Hoàng Sa nằm ở phía Đông đảo Lý, từ bờ biển Sa Kỳ chạy ra khơi, thuận gió ba, bốn ngày đêm có thể đến. Trên đảo có nhiều núi la liệt tất cả hơn 130 ngọn, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài canh giờ. Giữa đảo có bãi cát vàng bề dài không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn Lý Trường Sa, trên bãi có giếng nước ngọt, hải điều tụ tập nhiều, không biết bao nhiêu mà kể, sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, ba ba, các thuyền bị phong nạn cũng tụ tập ở đó…Đầu triều Nguyễn, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm cứ tháng ba cưỡi thuyền ra đảo, thu lượm hóa vật, đến tháng 8 trở về cảng Tư Hiền nộp lại. Lại có đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa cai quản đi thu lượm hóa vật ở các đảo Côn Lôn ở Bắc Hải. Phía Đông, các đảo giáp với quận Quỳnh Châu của đảo Hải Nam thuộc vương triều Trung Hoa” (43).

Một trong các đội được thành lập vào thế kỷ XIX có tên là Bắc Hải, theo tên mà người Việt Nam cũng như người Trung Quốc đặt cho quần đảo Trường Sa. Các chỉ dẫn trên có thể nhằm chứng minh rằng các hoàng đế có quan tâm đến việc khai thác hai quần đảo đã giải quyết vấn đề bằng cách đặt hai đội hoạt động ở các địa điểm khác nhau nhưng dưới một sự chỉ đạo chung. Giả thuyết này được bảo vệ bởi một tấm bản đồ xuất hiện vào năm thứ 14 triều Minh Mạng (44). Bản đồ này đã thể hiện rõ một nhóm đảo tách hẳn với các đảo gần bờ. Các đảo này đã được ghi bằng hai tên gọi khác nhau, đó chính là sự phân biệt hai quần đảo.
_____________________________________________________________________________________________
41.   Nhất là trong Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, 1821 và Đại Nam nhất thống chí từ 1865 đến 1882.
42.   Xem phụ lục tên các đảo.
43.   Biên niên sử An Nam, do P.A. Lapieque trích đoạn.
44.   Xem bản đồ này tại Phụ lục 9.
....
Phần tiếp theo: 3.3 Sự thể hiện có thể có của các quyền mang tính cạnh tranh
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #285 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 07:35:09 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

3.3 Sự thể hiện có thể có của các quyền mang tính cạnh tranh

Một quyền chỉ hình thành nếu sau khi được khẳng định nó vẫn được duy trì trong một số điều kiện nhất định. Đó cũng là điều mà cơ chế luật theo thời điểm mong muốn. Mọi khiếu nại đặt ra từ khi khẳng định quyền, mọi trở ngại cho việc thực hiện quyền đó, đều làm cho quyền này yếu đi và có thể bị bàn cãi. Do vậy, cần phải kiểm tra các thái độ của từng bên tranh chấp có thể có.

3.3.1 Trường hợp của Trung Quốc

Trường hợp của Trung Quốc cần được nghiên cứu trên cơ sở hai câu hỏi: Có phải Trung Quốc tự họ đã giành được các quyền, cùng cạnh tranh với các quyền của Việt Nam trong thời kỳ này không? Và, có phải Trung Quốc đã giành được các quyền, thông qua các quyền của Việt Nam, theo cơ chế của chế  độ chư hầu giữa hai nhà nước với nhau hay không?

a) Không có một danh nghĩa lịch sử của Trung Quốc trên các quần đảo

Như đã thấy ở phần trên, các tài liệu của Trung Quốc không cho phép xác định là đã có sự thụ đắc chủ quyền lãnh thổ cho đến đầu thế kỷ thứ XVIII. Từ thời điểm đó, đã có các sự kiện mới xác lập các quyền có lợi cho phía Trung Quốc không?

Một cuốn sách do Trung Quốc xuất bản đã kể lại điều này: “Dưới triều Thanh, Quách Tông Đào, Công sứ Trung Quốc được ủy nhiệm ở Anh, trên đường đến nhiệm sở để nhậm chức vào năm 1876, đã viết trong Sứ Tây kỷ trinh (notes sur mon voyage de mission à l’Ouest- Những điều ghi về cuộc hành trình sang phương Tây) như sau: “Con tàu, sau khi đã vượt 813 dặm, đến giữa trưa ngày 24 (tháng 10, năm thứ hai đời Quảng Tự). đã tới một điểm ở 17°.30’ Bắc xích đạo, cách phía Nam Quỳnh Châu 200 đến 300 dặm. Các thủy thủ gọi nơi này là biển Trung Hoa (China sea), nghĩa là biển Trung Quốc…Cách đó không xa, ở bên trái, là các đảo Paracels (các đảo Tây Sa) sản xuất ra hải sâm và cả san hô nhưng không phải là loại tốt. Các đảo này thuộc Trung Quốc”.

Tài liệu nói trên không ghi rõ ngày tháng và lời trích dẫn cũng không ghi. Cứ giả sử như nó là xác thực và đã được dịch một cách chính xác, thì đó là một ghi chép của một chuyến đi. Tác giả đã không đứng trên lập trường chính thức và ngay cả khi ông ta là một nhà ngoại giao trên đường đến nhiệm sở tại châu Âu, lời mà ông ta đã ghi thoáng qua về việc các đảo thuộc về Trung Quốc, dù có thú vị thế nào chăng nữa, thì cũng không phải là một căn cứ đủ để cho một vài tác giả khẳng định đã từng có một yêu sách của Trung Quốc trong thời kỳ xa xưa (45).

Trong tất cả các tài liệu Trung Quốc đều nhắc lại rằng các ngư dân Trung Quốc đã đến các đảo vào mọi thời (46).

Nhưng, như đã biết (xem phần I), đó chỉ là những hành vi cá nhân, không có đặc quyền, không phù hợp với một sự chiếm hữu cũng như với ý định khẳng định chủ quyền bởi vì việc chiếm cứ “do các tư nhân không hành động nhân danh chính phủ của họ mà thực hiện vì một lợi ích cá nhân không tạo thành một sự chiếm hữu” (47).
______________________________________________________________________________________________________
45.   Xem Jeannete Greenfield: Thực tiễn của Trung Quốc về luật biển, Clarendon Press, Oxford, 1992, tr.154-155. Tác giả trích dẫn các tài liệu Trung Quốc đã phân tích ở trên mà tên tài liệu đã bộc lộ sát nghĩa (như: “Chư Phiên Chí”) trong đó mô tả các đảo nhỏ như là những đảo không phải của Trung Quốc đối với các quần đảo này.
46.   Nhất là Tạp chí Window, tr.25
47.   Phán quyết ngày 30-6-1865, vụ đảo Aves, Tuyển tập các vụ án trọng tài quốc tế, A.de le Pradelle và N.Politis, quyển 11, tr.413.
.....
(còn tiếp)

Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #286 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 08:40:54 pm »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

Hơn nữa, trong cùng những thời kỳ này, chính các quần đảo đó cũng thường được các dân chài Việt Nam lui tới. Trên thực tế, đã không có một chút dấu vết gì là Trung Quốc đã từng phản kháng lại sự khẳng định chủ quyền của Hoàng đế Gia Long và các người kế nhiệm ông trong suốt cả thế kỷ XVIII cũng như thế kỷ XIX, khi các chúa Việt Nam tổ chức việc khai thác các đảo nằm dưới quyền tài phán của họ một cách hành chính hơn.

Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn tập lịch sử Trung Quốc những lời xác nhận sự không tồn tại tham vọng của Trung Quốc trong lịch sử. Ví như trong Hải lục, có viết: “Vạn Lý Trường Sa là đất nổi giữa biển, dài vài ngàn dặm, là phên dậu của An Nam” (48), điều đó cho phép kết luận rằng “…ở đây, không có bằng chứng nào cho thấy nhà Thanh đã sáp nhập các đảo này vào lãnh thổ của đế chế” (49). Từ đó ta thấy rằng Trung Quốc không có các hành vi thực thi chủ quyền mà còn im lặng, họ hình như đã đồng tình với sự chiếm hữu của Việt Nam.

Một số sử gia đã đưa ra lời giải thích: “…Từ thời Gia Long xa xưa, những người láng giềng duy nhất có thể chiếm các đảo Hoàng Sa (Paracels) là người Trung Quốc thì đã ở quá xa; việc chiếm đóng Hải Nam lúc đó chỉ là trên danh nghĩa. Cho đến những năm gần đây, người Trung Quốc chỉ chiếm đóng có một vùng hẹp dọc bờ biển phía Bắc đảo và một hay hai cảng ở bờ biển Nam”.

Như vậy, có thể thừa nhận rằng Trung Quốc đã không tha thiết đối với các quần đảo suốt trong thế kỷ XIX (vả lại Trung Quốc cũng chứng tỏ điều ấy trong những năm cuối thế kỷ này).

Sự thờ ơ của Trung Quốc đối với các quần đảo trong thời kỳ này đã được hai tài liệu xác nhận: bản đồ Trung Hoa của đế chế thống nhất Hoàng triều nhất thống Dư dị tổng đồ, phát hành vào năm 1894, Lãnh thổ Trung Quốc trong đó chỉ mở rộng tới đảo Hải Nam. Ngoài ra, quyển sách “Trung Quốc Địa lý học giáo khoa thư”, phát hành năm 1906 nêu ở trang 241 rằng “điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Nhai Châu đảo Quỳnh Châu, ở vĩ tuyến 18°13’ Bắc”.

Các tài liệu có từ cuối thời kỳ đang xem xét ở đây, xác nhận rằng cho đến khi đó (cuối thế kỷ XIX), Trung Quốc chưa thể hiện tham vọng rõ ràng đối với bất kỳ quần đảo nào trong hai quần đảo. Trong luận án bảo vệ tại Đại học Tổng hợp Pháp, Chu Kiện đã ghi trong đại sử ký của ông ta vào thời điểm 1902: “Sự khảo sát đầu tiên của Trung Quốc về các vùng biển quần đảo Tây Sa (Paracels)” (50). Điều này cho thấy rõ là không có “sự khảo sát” từ trước thì càng không có sự quản hạt. Tác giả cũng tự mâu thuẫn với chính mình vì ông ta đã bảo vệ điều đó trong luận văn này và không chỉ rõ xuất xứ rằng “Chính phủ Trung Quốc của các triều đại liên tiếp đã sáp nhập về mặt hành chính các đảo và đặt chúng dưới quyền tài phán cuả các nhà chức trách tỉnh Quảng Đông” (tr.265)

Vì thế một số nhà bình luận không tự bằng lòng việc xác nhận các quan điểm đã làm sẵn đó, mà do sự lo lắng về tính khách quan đã buộc phải xem xét từng yếu tố lập luận về tính khách quan, họ đã đi đến kết luận là không có một danh nghĩa lịch sử lâu đời của Trung Quốc đối với các quần đảo Paracels và Spratleys. Giả thuyết này chỉ có thể đứng vững trên cơ sở các tài liệu chưa công bố so với tất cả những tài liệu mà công trình nghiên cứu này đã dựa vào. Chỉ duy sự có mặt của các ngư dân Trung Quốc theo thời vụ là không bàn cãi. Nhưng cũng có cả những ngư dân từ các vùng khác tới. Và trong luật quốc tế điều này không phải là cơ sở cho một danh nghĩa pháp lý (51). Bởi vì chỉ đơn thuần khẳng định các quyền chủ quyền hoặc ý định thể hiện mong muốn làm cho một sự chiếm hữu thành thật sự là chưa đủ” (52).
_____________________________________________________________________________________________________
48.   Trích dẫn trong t.13, tờ 4, tr.2 của Hải quốc đồ chí viết năm 22 Đạo quang nhà Thanh (1730). In lại trong lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp. Hộp AS 1840, Trung Quốc 797.
49.   M.S. Samuels: Tranh chấp biển Nam Trung Hoa, tr.4.
50.   Chu Kiện: Các biên giới biển của Trung Quốc, luận án làm dưới sự hướng dẫn của GS Hubert Thierry, Đại học Paris X, Nanterre, tr.562.
51.   Xem Micheal Bennet: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và việc sử dụng luật quốc tế trong tranh chấp các đảo Spratleys, Stanford Journal of International Law, 1992, tr.434, 435, 436.
52.   Phán quyết trọng tài ngày 6-6-1904 của Vua Italia Victor Emmanuel III trong vụ kiện giữa Brazil và Anh: Tạp chí Tổng quan Công pháp quốc tế, 1904, tr.19.
....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #287 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2011, 09:22:14 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

b) Những hậu quả không có của chế độ chư hầu

Phải chăng chế độ chư hầu của Trung Quốc đối với Việt Nam đã đưa lại cho Trung Quốc những quyền thông qua hành động của chính Việt Nam?

Trước sự chính xác của các luận chứng của Việt Nam đã tạo thuận lợi cho họ trong việc thụ đắc chủ quyền bằng những hành vi từ thế kỷ XVIII, Trung Quốc đã phản bác lại là các vua An Nam luôn chỉ hoạt động nhằm phục vụ tôn chủ của họ là hoàng đế Trung Hoa. Các hành vi của họ chỉ “xác nhận chủ quyền Trung Quốc đối với các đảo không phải thuộc An Nam” (53).

Như vậy là phải làm sáng tỏ bản chất của mối quan hệ chư hầu này và những hậu quả mà nó có thể mang lại đối với thẩm quyền về các đảo.

Vương quốc Việt Nam (Đại Cồ Việt) được thành lập vào thế kỷ XI bằng việc thiết lập một quyền lực chính trị và một nền cai trị độc lập đối với Trung Quốc, nhưng đồng thời công nhận (khôn ngoan) quyền bá chủ của Trung Quốc.

Mối quan hệ chứ hầu này khó xác định theo một quan điểm pháp lý bởi vì nội dung của nó mơ hồ và tăng giảm tùy theo các thời kỳ.

Nếu so sánh với phong kiến Châu Âu, một mô hình có cấu trúc chặt chẽ và được các luật gia phương Tây biết đến nhiều hơn, sẽ là một điều khinh suất. Dường như, mối quan hệ ở đây chủ yếu là một sự trung thành có tính tôn giáo đi kèm với sự nộp cống định kỳ thay đổi. “Về giá trị pháp lý của các mối quan hệ này, rõ ràng không thể đánh giá chúng theo các quy tắc quốc tế của cộng đồng châu Âu mà với chúng thật khó trùng hợp, nhất là sự khác nhau của thời đại và sự khác biệt giữa các quan niệm ở châu Âu và các quan niệm của xã hội châu Á” (54).

“Triều đại Việt cần lễ thụ phong của Trung Quốc để được công nhận, giống như mọi quốc gia hiện đại muốn đứng vững thì không thể bỏ qua sự công nhận quốc tế. Vả lại, theo quan điểm Trung Quốc, ý tưởng có hai quốc gia khác biệt nhau là không thích hợp. Đúng hơn, thay vào đó là ý tưởng về hai thế giới kế cận: một thế giới văn minh và một thế giới không văn minh. Thế giới văn minh, nghĩa là thế giới Khổng giáo, phải phục tùng Hoàng đế (mà chúng ta gọi là hoàng đế Trung Quốc); để tham dự vào thế giới này mà nước Đại Việt phụ thuộc, vì nước này sử dụng chữ viết Trung Quốc và tôn trọng các tập tục Trung Hoa, các biểu tượng của văn minh, Đại Việt không còn cách nào khác là chịu làm chư hầu trước Thiên Tử. Có nghĩa là sự cống nạp đó che đậy, về thực chất, một hệ thống quan hệ cực kỳ phức tạp. Đối với Trung Quốc, cống nạp thể hiện sự phụ thuộc tối đa mà họ hy vọng qua đó có thể duy trì một nước Việt mà không gây phản ứng “đế quốc” từ phía Đại Việt. Ngược lại, đối với Đại Việt, cống nạp thể hiện sự độc lập tối đa mà vương quốc này có thể đạt tới mà không gây nên phản ứng đế quốc từ phía Trung Quốc. Trong trường hợp này cũng như trường hợp kia, có tính Khổng giáo của hai quốc gia, việc triều cống, ít nhất là một phần, chứng tỏ rằng cả hai bên cùng thuộc một hệ thống giá trị” (55).

Ngay cả Trung Quốc cũng có một khái niệm mơ hồ và mở rộng đến mức mà “Kỷ yếu chính thức của Chính phủ Trung Quốc đã xếp là ở thế kỷ XIX chư hầu của họ bao gồm: An Nam, Miên Điện, Xiêm, Lào, Anh, Hà Lan, Ý, Bồ Đào Nha và Tòa thánh!”(56).

Đây không phải là một tình trạng pháp lý thuộc như trong một số vụ khác gọi là “bản chủ quyền”. Một nước bản chủ quyền có đặc điểm là năng lực quốc tế của họ không bao giờ được trọn vẹn (57). Trong trường hợp như thế có sự từ bỏ một số thẩm quyền quốc tế cho tôn chủ và chủ quyền của chư hầu bị cắt một phần. Chúng ta thấy chẳng có gì giống như vậy trong các quan hệ giữa An Nam và Trung Quốc. Chế độ chư hầu được Việt Nam chấp nhận trên danh nghĩa, dưới hình thức triều cống danh dự, đã không bao giờ Trung Quốc nhìn vào quan hệ đối ngoại của nước Việt Nam cũ. Nhưng nghĩa vụ tôn kính của triều đình Huế đối với triều đình Bắc Kinh là hoàn toàn hình thức. Đó chỉ là “một bá quyền về danh nghĩa, theo nghi thức và hoàn toàn đạo đức hơn là một bá quyền thực sự mang tính chất chính trị” (58).

Lịch sử các quan hệ Trung-Việt từ khi thành lập nước Việt Nam, thoát ra khỏi sự chi phối của Trung Quốc, đã được đánh dấu bằng nhiều mưu toan quân sự của Trung Quốc chống lại Việt Nam. Sau khi đã chiến thắng, các vua Việt Nam không bao giờ bỏ qua việc tìm cách xoa dịu người láng giềng khổng lồ của mình bằng một sự thần phục tượng trưng.
______________________________________________________________________________________
53.   Xem Jean Pieree Fierrier: Tranh chấp các đảo Hoàng Sa và vấn đề chủ quyền trên các đảo không người ở, Niên giám của Pháp về luật quốc tế, 1960, tr.180 (Tác giả hoàn toàn không đồng tình với luận chứng này của Trung Quốc).
54.   Huan-Lai Cho (Phó Lãnh sự Trung Quốc tại Sài Gòn): Các nguyên nhân của cuộc xung đột Pháp- Trung về Bắc Kỳ cho tới năm 1883, Nhà in Albert Portrail, Sài Gòn, 1938, tr.82.
55.   Francois Joyaux: Trung Quốc việc giải quyết xung đột Đông Dương lần thứ nhất, Geneve, 1954, NXB Sorbonne, 1979, tr.44-45.
56.   Trích dẫn của Jean Pierre Ferrier: Tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và vấn đề chủ quyền trên các đảo không người ở, tr.180-181
57.   Về điểm này, xem Nguyễn Hữu Trụ: Một số vấn đề về thừa kế nhà nước có liên quan đến Việt Nam, NXB Bruylant, Bruxelles, 1976, tr.26 (đặc biệt là điểm 3) và tr.27.
58.   Xem G. Taboulet: Bản anh hùng ca của Pháp ở Đông Dương, t.11, Adrien Maisonneuve-1956; trích dẫn, Nguyễn Hữu Trụ, tr.27.
.....
(còn tiếp)
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Su30MK2V
Thành viên
*
Bài viết: 158

Tôn trọng và khiêm tốn


« Trả lời #288 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2011, 10:04:09 am »

Manila: 'Bãi Cỏ Rong không thuộc Trường Sa'

Manila khẳng định Bãi Cỏ Rong (Reed Bank) ở phía tây đảo Palawan là lãnh thổ của Philippines, không nằm trong khu vực có tranh chấp ở Biển Đông.

Manila đưa ra tuyên bố này ngay ngày Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt mở đầu chuyến thăm Philippines.

Trước đó có tin máy bay chiến đấu của Trung Quốc xâm phạm bầu trời Philippines, đặc biệt bên trên khu vực đảo Cỏ Rong, nơi Manila cùng các công ty nước ngoài đang thăm dò dầu khí.

Báo The Philippine Star trích dẫn lời người phó phát ngôn của dinh tổng thống Abigail Valte nói trên một đài phát thanh địa phương rằng trong những tuần qua chính phủ đã tuyên bố vùng đảo này không có tranh chấp, không thuộc khu vực Trường Sa.

"Reed Bank (Bãi Cỏ Rong) ở phía tây Palawan, thuộc chúng tôi. Chúng tôi cố làm rõ chuyện này, xin đừng nhầm lẫn Reed Bank thuộc Trường Sa vì nó ở xa lắm, và đó là một sự khác biệt lớn, vì Reed Bank không thuộc khu vực có tranh chấp - không có vấn đề gì với chủ quyền của Reed Bank," bà Valte nói.

Bà cho biết chính phủ đang xác minh chuyện máy bay chiến đấu của Trung Quốc bay gần máy bay thám thính của Philippines trên khu vực này hôm 19/5.

Trước đó ngày 2/3 Philippines đã phải đình chỉ các hoạt động khảo sát địa chấn quanh Bãi Cỏ Rong sau khi một chiếc tàu thăm dò của họ bị hai tàu tuần tra Trung Quốc đe dọa. Manila đã có công hàm ngoại giao phản đối với Bắc Kinh về vụ này.

'Kiềm chế'

Bộ Năng lượng Philippines cho biết công ty đóng tại Anh, Forum Energy, đã hoàn tất thăm dò địa chất ở Bãi Cỏ Rong, cách Palawan 240km về hướng Tây, gần Trường Sa.

Trước việc Manila thăm dò dầu khí ở Bãi Cỏ Rong, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Khương Du, tuyên bố Trung Quốc có ''chủ quyền không thể tranh cãi ở Trường Sa và vùng biển lân cận''.

''Mọi hoạt động của bất kỳ nước nào, công ty nào nhằm khai thác dầu khí trong vùng biển thuộc quyền Trung Quốc mà không được phép của chính phủ Trung Quốc sẽ là một sự vi phạm chủ quyền của Trung Quốc,'' phát ngôn nhân này nói, tuy không nhắc gì đến Philippines hay công ty Forum Energy, và cũng không nói khu vực thăm dò có thuộc quyền của Bắc Kinh hay không.

Trong bối cảnh xem chừng căng thẳng đó, hai Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt của Trung Quốc và Voltaire Gazmin của Philippines khuyến cáo các bên liên quan tự kiềm chế để tránh xung đột tại Biển Đông.

Đại sứ quán Trung Quốc ở Manila nói với các phóng viên rằng ông Liệt sẽ dùng chuyến thăm để mở rộng các cuộc ''trao đổi và hợp tác quân sự'' và ''củng cố cũng như tăng cường quan hệ chiến lược và hợp tác'' giữa hai nước.

Ông Liệt thăm Philippines trong năm ngày sau khi đã ghé Singapore và Indonesia.

Trung Quốc và Philippine đã sử dụng vũ lực đánh chiếm và hiện đang chiếm giữ bất hợp pháp toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa và một số đảo thuộc Quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Việt Nam khẳng định chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hoạt động của nước ngoài tại hai quần đảo này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam.

Nguồn BBC

« Sửa lần cuối: 24 Tháng Năm, 2011, 10:11:29 am gửi bởi Su30MK2V » Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #289 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2011, 11:18:17 am »

CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU)
____________________________________________________________________________________

( tiếp theo )
....

Nền độc lập của Việt Nam đối với Trung Quốc đã được cụ thể hóa trong những năm Pháp xâm nhập (trước thời kỳ bảo hộ) bởi ngay chính sự không quan tâm của Trung Quốc. Từ đó cho thấy lập luận của Trung Quốc rút ra từ các vấn đề chư hầu không thể có giá trị pháp lý.

Một tiền lệ xét xử quan trọng trước đây đã củng cố điều khẳng định này. Thật vậy, trong vụ Minquers và Écréhous , người ta đã bảo vệ các lập trường giống như lập trường bây giờ về các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa. Nước Pháp khẳng định có các quyền ban đầu chỉ với lý do là các công tước Normandie trước đây là chư hầu của các vua nước Pháp, và các vua Anh đã nhận quận là đất tấn phong.

Anh đã phản bác lại là danh hiệu của các vua nước Pháp đối với xứ Normandie là hoàn toàn danh nghĩa. Thấy rằng đây là những quan điểm không rõ ràng hay bị tranh cãi về một thời kỳ phong kiến xa xôi. Tòa án đã nhận định rằng nếu các vua Pháp có danh nghĩa phong kiến ban đầu bao gồm các đảo trên biển Manche, thì danh nghĩa đó cũng không còn tồn tại vào năm 1204, và Tòa đã bổ sung thêm: “Một danh nghĩa phong kiến ban đầu như vậy của các vua nước Pháp đối với các đảo trên biển Manche, ngày nay đã không còn hiệu lực pháp lý, trừ trường hợp một danh nghĩa khác có giá trị theo luật pháp được áp dụng vào thời kỳ đang xem xét đã được thay thế vào đó. Chính phủ Pháp có phận sự  phải chứng minh tình hình này” (59).

Từ đó có thể rút ra cho vụ việc hiện tại những kết luận sau đây: Chế độ chư hầu của Việt Nam đối với Trung Quốc chắc chắn là còn danh nghĩa hơn nhiều so với chế độ các công tước Normandie đối với các vua nước Pháp (nếu như sự so sánh này có thể hiện được trong những thế giới chính trị và văn hóa khác biệt nhau như thế): các kết luận của tòa án có giá trị đối với các mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc; chế độ chư hầu của Việt Nam đã kết thúc ngay trong ngày ký Hiệp ước bảo hộ Pháp 1884. Ngày đó “…ấn tín tượng trưng của Trung Quốc, một khối kim hoàn đẹp, trên có chạm một con lạc đà phủ phục, do Hoàng đế Trung Quốc gửi cho Gia Long năm 1803, đã được nung chảy trước sự có mặt của Patenôtre vị đại diện toàn quyền của Pháp, trong một buổi lễ long trọng” (60). Dường như, sự thay đổi này đẫ diễn ra trong sự thờ ơ của Trung Quốc. Dù sao, Trung Quốc đã không hề biểu lộ một sự mong muốn nhỏ nhặt nào để giữ lại bất kỳ một quyền nào trong các quyền mà Việt Nam đã giành được qua một quá trình lịch sử lâu dài đối với lãnh thổ trên đất liền hay trên đảo của Việt Nam. Lúc đó, Trung Quốc đã không đưa ra một bảo lưu nào theo hướng này.

Như vậy là đã hội đủ các điều kiện để áp dụng phán quyết của Tòa án quốc tế năm 1953: danh nghĩa phong kiến ban đầu “ngày nay không thể mang lại hiệu lực pháp lý trừ trường hợp có một danh hiệu khác, có giá trị theo luật pháp được áp dụng vào thời kỳ được xem xét, đã được thay thế vào đó”.

Thời kỳ đang xem xét là giai đoạn trước đó cho đến thời kỳ chế độ bảo hộ của Pháp. Trung Quốc, như đã thấy, lúc đó đã không giành được một danh nghĩa nào đối với các quần đảo theo như luật pháp tại thời điểm đó. Như vậy đã không có gì có thể thay thế được một chế độ chư hầu đã mất đi sau khi đã tồn tại chủ yếu một cách tượng trưng.

Không thể chia cắt lãnh thổ Việt Nam bằng cách vận dụng quan điểm này. Khi bị mất đi quyền kiểm soát (phong kiến) đối với Việt Nam, Trung Quốc mất luôn quyền kiểm soát các quần đảo, nếu như họ đã có một mối quan tâm nào tới các quần đảo, thế nhưng người ta không tìm thấy các bằng chứng là họ có mối quan tâm đó.

Cuối cùng, người ta nhận thấy khi Trung Quốc viện lý về chế độ chư hầu để đòi các quyền của Việt Nam đã giành được phải thuộc về Trung Quốc (khi luận chứng về vấn đề chư hầu bị bác bỏ), Trung Quốc chỉ còn lại việc công nhận rằng các quyền đã được thụ đắc thực sự. Trong khi đó, các quyền này chỉ cho Việt Nam.
__________________________________________________________________________________________
59.   Toà án quốc tế, tuyển tập, tr.56.
60.   Nguyễn Hữu Trụ: Một số vấn đề về thừa kế nhà nước có liên quan đến Việt Nam, tr.28, chú thích 8.
........
Phần tiếp theo: 3.2 Các quốc gia khác trong khu vực
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM