thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #580 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2011, 09:12:36 pm » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU) ____________________________________________________________________________________
( tiếp theo ) .... Vài năm sau, có vấn đề chuẩn bị hòa ước với Nhật Bản. Năm 1951, Mỹ và Anh là những cường quốc đứng ra triệu tập Hội nghị San Francissco. Năm mươi lăm nước được mời trong đó có các quốc gia liên kết Việt Nam, Lào và Campuchia. Người ta đã quyết định không mời chính phủ nào trong hai chính phủ Trung Quốc (88) . Hòa ước được ký và ngày 08-09-1951 giữa Nhật Bản và 48 cường quốc đồng minh. Kết quả của Hòa ước có một tầm quan trong đặc biệt đối với các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa. Theo các khoản của điều 2 của Hòa ước, Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và yêu sách đối với một số lãnh thổ trong đó có các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Nhưng, do một kiến nghị của Pháp nên đã không có cuộc chuyển giao các lãnh thổ đó theo Hòa ước. Đúng là Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã có lời phản đối bên ngoài Hội nghị bằng một tuyên bố ngày 15-8-1951 vì họ không được mời. Việc không có một quy định nào để quy thuộc các quần đảo đó đã gây ra nhiều bình luận và dẫn đến nhiều giả thuyết. Theo D.P. O’Connel, có bốn giải pháp được xem xét (89) : 1- Một hình thức quản lý chung của các nước có chiến tranh với Nhật trên các lãnh thổ bị bỏ ; 2- Một chủ quyền chung giữa các quốc gia thành viên của Hiệp ước hòa bình (như vậy là đã loại trừ Trung Quốc vì vắng mặt ở San Francisco) ; 3- Trở lại quy chế đất vô chủ do bị bỏ derelicto (đó là luận đề được Maurice Faure bảo vệ ở Quốc hội Pháp trong cuộc tranh luận về phê chuẩn) ; 4- Sự chiếm hữu của những người đang chiếm đóng các lãnh thổ đó sau khi Nhật Bản ra đi. Đáng lưu ý là giả thuyết cuối cùng này có thể dẫn tới việc phân chia quần đảo Hoàng Sa giữa Pháp và Trung Quốc và quy thuộc quần đảo Trường Sa cho Pháp. Tuy nhiên, giả thuyết này thiếu cơ sở pháp lý. Danh nghĩa và sự cạnh tranh trong việc duy trì danh nghĩa đã khá sâu sắc cho đến khi Nhật xâm chiếm khiến cho khi giai đoạn đó khép lại, người ta phải xem xét lại cẩn thận các yêu sách của mỗi bên theo chiều sâu lịch sử và hiệu lực của chúng. Và khi nghiên cứu phải tính đến tất cả các yếu tố, kể cả và nhất là các tuyên bố công khai, các sự im lặng hay bảo lưu tiếp theo hay kèm theo các tuyên bố đó. Do đó, phải xem xét cẩn thận các điều kiện trong đó việc thanh toán chiến sự với Nhật Bản đã được thực hiện. Theo yêu cầu của ông Gromyko (đại diện của Liên Xô tại San Francisco), một tu chỉnh án đã được trình bày trong phiên họp toàn thể trong ngày 5-9-1951. Nó trù định Nhật Bản thừa nhận chủ quyền của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đối với một loạt lãnh thổ, trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng tu chỉnh án nói trên đã bị 46 nước trong số các nước có mặt ngày hôm đó bác bỏ. Chỉ có Ba Lan và Tiệp Khắc ủng hộ Liên Xô. Ngày 28-4-1952, khi đến lượt mình ký một hòa ước với Nhật, Trung Hoa dân quốc đã ghi nhận việc từ bỏ mọi quyền của Nhật đối với các đảo, nhưng không đưa vào Hiệp Ước song phương này bất kỳ yêu sách nào có lợi cho mình. Nếu như khung cảnh của San Francisco ít thuận tiện để yêu sách của Trung Quốc đạt được kết quả, thì một cuộc đàm phán song phương là rất thuận lợi. Thế nhưng văn bản chỉ đề cập tới sự từ bỏ của Nhật và không đưa ra một điều nào về sự quy thuộc. Do đó, thật khó có thể đồng ý với các tác giả cho rằng việc soạn thảo này hàm ý có một sự công nhận từ phía Nhật chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo (90). Thực ra, dựa trên các quy tắc chung về việc giải thích các hiệp ước, một lập luận chặt chẽ đưa đến kết luận ngược lại rằng sự im lặng của văn bản về điểm này đã bỏ ngỏ hoàn toàn vấn đề quy chế tương lai của các quần đảo. ________________________________________________________________________________________ 88. Do sự bất đồng giữa Mỹ và Anh : Mỹ chỉ thừa nhận Trung Hoa Dân quốc, còn Anh thì đã công nhận Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. 89. D.P O’Connel : « Quy chế Đài Loan và vấn đề thừa nhận của Trung Quốc », Niên giám Luật quốc tế của Mỹ, 1956, tr 405 và tiếp theo. 90. Chu Kiện, các biên giới của Trung Quốc, tr 237-238 hoặc Steven Kuan-Tsyh Yu « Ai sở hữu các đảo Paracel và Spratly ? Sự phát triển bản chất và cơ sở pháp lý của các yêu sách lãnh thổ tranh chấp », Niên giám Trung Quốc, q.9, 1989-1990, tr12. .... (còn tiếp)
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
|
vietha1990
Thành viên
Bài viết: 1
|
 |
« Trả lời #581 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2011, 10:07:31 pm » |
|
Trọn bộ 3 tập phim tài liệu của PTTH Hưng Yên (10/06/2011)Ký sự Trường Sa link :http://www.daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1501&Style=1&ChiTiet=31813
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #582 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2011, 06:31:54 am » |
|
"Lưỡi bò” đã phi lý còn dọa "tát vỡ mặt" láng giềng Không phải cho đến vụ tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp thăm dò dầu khí tàu Bình Minh 02 của Việt Nam báo chí Trung Quốc mới truyền thông hăm doạ mà trước đó nhiều tờ báo của Trung Quốc đã công khai kích động chiến tranh với Việt Nam và các nước trong khu vực xung quanh vấn đề Biển Đông. Nay nhân sự kiện tàu hải giám Trung Quốc ngang nhiên táo tợn uy hiếp và cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02, các cơ quan truyền thông của Trung Quốc như một dàn hợp xướng đã đồng thanh lên tiếng doạ nạt Việt Nam cùng các nước trong khu vực. Phải thừa nhận là báo chí Trung Quốc đã làm rất tốt công tác truyền thông trong nước về vấn đề Biển Đông, về “chủ quyền không thể tranh cãi trong “đường lưỡi bò” do chính Trung Quốc tự vẽ và tự công bố “chủ quyền”. Theo các học giả Trung Quốc, “đường lưỡi bò” liếm gần trọn Biển Đông ấy (80% diện tích) chính thức xuất hiện lần đầu tiên trên một bản đồ do chính Trung Quốc xuất bản vào tháng 2-1948, được thể hiện là 1 đường gấp khúc 11 đoạn, đến năm 1953 bỏ đi 2 đoạn còn lại 9 đoạn như công bố hiện nay. Sự phi lý của “đường lưỡi bò” bất chấp lịch sử, bất chấp luật pháp quốc tế và không được quốc gia nào thừa nhận ấy đã được báo chí Trung Quốc truyền thông “thành công” cho đông đảo người dân của 1 nước có bề dày “bành trướng”: đó là “chủ quyền không thể tranh cãi” của Trung Quốc, để từ đó làm cơ sở cho cả chuỗi lời nói và hành động phi lý tiếp theo, tự ý cho mình cái quyền làm mọi thứ, từ cấm đánh bắt cá, khủng bố ngư dân các nước trong khu vực, tập trận, đến ngang nhiên cho tàu bán quân sự (hải giám) vào tận sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam uy hiếp tàu Bình Minh 02 và ra tay phá hoại. Và vẫn trong khuôn khổ “đường lưỡi bò” 9 đoạn nên Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã ngang nhiên nhiều lần tuyên bố “đây là hoạt động bình thường trong vùng biển chủ quyền của Trung Quốc và tàu hải giám của Trung Quốc chỉ làm việc thực thi pháp luật trước sự hoạt động bất hợp pháp của tàu Việt Nam. Đây là hành động hoàn toàn chính đáng”. Cũng ngày 7-6, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại thản nhiên tuyên bố với bàn dân thiên hạ rằng Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Nam Sa và các vùng lãnh hải lân cận và “Trung Quốc và Việt Nam đã nhiều lần đạt được nhận thức chung quan trọng về phong cách xử lý về các vấn đề trên biển và duy trì sự ổn định ở Nam Hải”? Phải chăng cũng với sự tự khẳng định mặc nhiên với “lưỡi bò”, đưa chủ quyền và quyền chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào vùng “tranh chấp” như vậy mà tại đối thoại Shangri-La vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc cũng đã không ngần ngại tuyên bố quan điểm của Trung Quốc về vấn đề tranh chấp ở Biển Đông là giải quyết thông qua đàm phán ngoại giao (?) Sự nhất quán về “chủ quyền không thể tranh cãi” trong khuôn khổ “đường lưỡi bò 9 đoạn” đã được truyền thông Trung Quốc lấy làm cơ sở để kích động và công khai đe doạ dùng vũ lực với Việt Nam và các nước trong khu vực. Đại Đoàn Kết ngày 3-6-2011 cũng đã trích đăng một số bài báo của Trung Quốc về vấn đề này. Xong không phải dừng tại đấy mà ngày càng nhiều các cơ quan truyền thông đủ loại của Trung Quốc ra sức vu cáo đổi trắng thay đen và kích động chiến tranh, hăm doạ Việt Nam. Tiếp sau các báo mạng mà một trong những tờ tiên phong chính thống là Hoàn cầu thời báo cùng đồng loạt nhiều báo in, thì mới đây ngày 3-6-2011 ông Sheh QiPing - bình luận gia tin tức đã nói trên truyền hình Trung Quốc rằng: “Khi tình thế bắt buộc sẽ phải tát cho anh chàng Việt Nam vỡ mặt” và họ đã công khai bàn đến việc đánh ai, đánh như thế nào và dự báo ra sao? Chương trình truyền hình nêu trên của Trung Quốc đã làm ngỡ ngàng tất cả những người yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới cũng như mọi người Việt Nam. Thật là công khai ngạo mạn của hình ảnh một “Đại bá”, đi ngược lại mong muốn hòa hiếu của một dân tộc đã chịu nhiều đau thương mất mát cho sự nghiệp bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Hãy bình tĩnh và trung thực, lấy chứng cứ lịch sử và chuẩn mực pháp lý quốc tế làm chuẩn để xem xét vấn đề. Đừng nên hăm doạ và kích động chiến tranh, vì chắc chắn đó sẽ là phi nghĩa. Theo ĐĐKlink: http://vitinfo.vn/MMuctin/Quocte/Quanhequocte/LA89624/default.html
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #583 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2011, 06:39:31 am » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU) ____________________________________________________________________________________
( tiếp theo ) .... Đúng là về phía mình, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, qua phát ngôn của Bộ trưởng Ngoại giao Chu Ân Lai có tuyên bố về dự thảo Hiệp ước hòa bình vời Nhật Bản ngày 15-8-1951 rằng « các đảo Tây Sa và các đảo Nam Sa bao giờ cũng là lãnh thổ Trung Quốc ». Tuy nhiên, chính các điều khoản của các hòa ước với Nhật Bản (tập thể hay riêng rẽ), các tuyên bố nêu trong đó hay dùng làm nguồn gốc cho các hiệp ước đó, cho thấy năm 1949, Trung Hoa Dân quốc là nước bảo đảm sự liên tục của Chính phủ Trung Quốc duy nhất trước đó, đã không khẳng định bất kỳ yêu sách nào trên các quần đảo trong dịp có bản Tuyên cáo Cairo và đã thừa nhận song phương sự từ bỏ của Nhật Bản mà không đưa ra yêu sách của chính mình. Hai yếu tố đó, trong đó yếu tố thứ hai có tính trịnh trọng của những hiệp ước và yếu tố thứ nhất có một sức mạnh chính trị to lớn, cho phép kết luận là Trung Hoa Dân quốc khi đó đã từ bỏ việc khẳng định các quyền của mình đối với các hòn đảo tranh chấp. Nhưng điều đó không giải quyết được vấn đề yêu sách đã được các đại diện của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa lớn tiếng và mạnh mẽ lặp lại sau khi họ nắm quyền. Yêu sách đó liệu có một cơ sở hay không khi nhà nước tiền nhiệm còn tồn tại (Trung Hoa Dân quốc) từ bỏ các quyền của mình bằng im lặng ? Liệu người ta có thể nói rằng Trung Hoa Dân quốc đã từ bỏ để Cộng hoà nhân dân Trung Hoa hưởng? Điều này là không thể có trong bối cảnh tuyệt giao giữa hai nhà nước. Như vậy, yêu sách của Chu Ân Lai phát biểu năm 1951 (ngày 15-8), đã bị Hội nghị ngày 5-9 bác bỏ cùng tu chỉnh án của Liên Xô, là thiếu cơ sở và Hội nghị San Francisco cùng các sự kiện xung quanh hội nghị đã làm suy yếu lập trường của Trung Quốc, một lập trường mà ta thấy luôn luôn được biểu thị như một sự thực thi tương quan lực lượng. Như thế người ta có thể tóm tắt tình hình năm 1954-1956 khi Pháp rời khỏi Đông Dương như thế nào? Nếu để riêng ra một bên yêu sách của Philippin vừa mới ló ra đối với quần đảo Trường Sa, thì thấy rằng trong thời gian này (từ 1884 cho đến 1954-1956), các lập trường Pháp - Việt một bên và Trung Quốc bên kia đều đã biến đổi mặc dù ở những mức độ khác nhau. Nước Pháp đã ra khỏi các lưỡng lự có thể làm suy yếu danh nghĩa, ở buổi đầu thời kỳ thuộc địa. Pháp quản lý thật sự hai quần đảo cho đến khi Nhật chiếm đóng, Pháp làm việc này đối với quần đảo Hoàng Sa bằng cách khẳng định rõ ràng (mặc dù muộn) là thừa kết các quyền của nước An Nam và đối với quần đảo Trường Sa với tư cách là người chiếm một lãnh thổ vô chủ. Mặc dù trong tình hình nước Pháp bị lún sâu xuống khi cuộc chiến tranh Đông Dương tiếp nối cuộc chiến tranh thế giới, Pháp vẫn duy trì cả sự có mặt lẫn yêu sách của mình cho đến khi ra đi, để lại cho Việt Nam (miền Nam) nhiệm vụ thay thế. Thậm chí Pháp còn có những giọng nước đôi khi bình luận về Hiệp ước San Francisco (hay trong một số công văn của Bộ Ngoại giao), trong đó đã đưa ra ý tưởng là Pháp có thể muốn giữ các quần đảo cho chính mình chứ không phải cho Việt Nam (91). ______________________________________________________________________________________________ 91. Xem M. Samuels: Tranh chấp biển Nam Trung Hoa, tr. 68. .... (còn tiếp)
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #584 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2011, 08:55:25 am » |
|
CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA - ( MONIQUE CHEMILLIER - GENDREAU) ____________________________________________________________________________________
( tiếp theo ) .... Các đại diện của nước Việt Nam không thể phát biểu như một quốc gia trong suốt thời kỳ này. Tuy nhiên, mỗi khi họ phát biểu, dù vào năm 1925 (nguyên Binh bộ Thượng thư của nhà vua), hay vào năm 1949 (Đổng lý Văn phòng của Bảo Đại), hoặc vào năm 1951 (đại diện của Quốc gia Liên kết Việt Nam ở San Francisco), các phát biểu của họ là giống nhau. Các quần đảo đã thuộc Việt Nam từ lâu đời. Các quần đảo phải tiếp tục là của Việt Nam. Ý chí đó, chủ tâm đó kết hợp với sự có mặt của Pháp (đã qua giai đoạn do dự) góp phần duy trì danh nghĩa có lợi cho Việt Nam. Hồ sơ của Trung Quốc, mặc dù có vài yếu kém, nhưng không phải là hoàn toàn không có nội dung. Trước chiến tranh, các biểu thị của Trung Quốc là rời rạc nhưng được nhắc đi nhắc lại (1909-1921-1932). Sau chiến tranh, sự quan tâm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa là kiên trì. Đối với các đảo đó, Trung Quốc tỏ ra rất bền bỉ. Sự từ bỏ của Trung Hoa Dân quốc (qua việc họ không yêu sách trong Hoà ước với Nhật Bản) có thể được coi như một lập trường “bắt buộc về chính trị”, điều có thể khôi phục ý tưởng về sự thừa kế của môt Trung Quốc này đối với một Trung Quốc kia. Bởi vì Trung Quốc đã không bao giờ tỏ dấu hiệu đồng ý với yêu sách của An Nam hay của Pháp. Họ đã không làm việc đó qua phát ngôn của các vị quan địa phương năm 1896 bởi vì nếu như những người này đã nói rõ là các hòn đảo không phải của Trung Quốc thì họ cũng đã nói thêm là chúng cũng chẳng phải của Việt Nam. Trung Quốc cũng đã không làm việc này sau đó vì năm 1938 khi Pháp chiếm đóng các quần đảo, người ta đã thoả thuận là các quyền của hai bên sẽ được bảo lưu (92). Như vậy, khó tìm thấy dấu vết một sự đồng ý thật sự của Trung Quốc đối với danh nghĩa Pháp - Việt, trừ trường hợp sử dụng các tư liệu còn chưa được công bố. Đến đây khái niệm về thời điểm tới hạn lại có ý nghĩa. Khả năng đầu tiên tính đến là những năm 1880. Một quan niệm mạnh mẽ về quyền dân tộc tự quyết và sự tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của các dân tộc bị trị dẫn đến việc coi năm 1884 như thời điểm tới hạn và bảo vệ ý kiến là không có việc nào xảy ra sau đó có thể được xét đến nếu nó làm tổn hại đến quyền của một dân tộc đã được thụ đắc từ lâu. Tuy nhiên, hai thời điểm tới hạn khác có thể được nêu ra trong thời kỳ được xem xét này. Những năm 1930 và đặc biệt năm 1937 là năm đầu tiên Pháp đề nghị với Trung Quốc đưa vấn đề ra trọng tài có thể coi như một thời điểm khác về kết tinh tranh chấp. Ở trên người ta đã thấy rằng vào các thời điểm đó Pháp còn có danh nghĩa hơn danh nghĩa Trung Quốc đối với quần đảo này và quần đảo kia (vì những lý do khác nhau). Cuối cùng, trong những năm 1954-1956 (được Jean Pierre Ferrier coi như thời điểm kết tinh tranh chấp) là những năm quyết định do việc dân tộc Việt Nam trở lại vũ đài quốc tế (dù việc trở lại đó thể hiện qua hai Nhà nước). Mỗi một trong ba “thời điểm kết tinh tranh chấp” đó đều đưa lại một viễn cảnh có vẻ thuận lợi cho lập trường của Việt Nam. Nhưng phải thừa nhận rằng những năm hậu chiến đã làm cho sự việc rối rắm nhiều, danh nghĩa Pháp - Việt dù không bị phá huỷ nhưng việc thực hiện nó đã gặp phải những điều kiện khó khăn và yêu sách của Trung Quốc không có căn cứ ngay từ đầu (năm 1909) và bị Hội nghị San Francisco làm suy yếu nhiều, đã kết hợp với thời gian Trung Quốc có mặt trên các đảo mặc dù sự có mặt đó được thiết lập một cách bất hợp pháp do sử dụng vũ lực và do vậy không thể tạo ra hiệu lực pháp luật. Bây giờ việc còn lại là xem xét số phận của các quần đảo trong các thập kỷ cuối cùng. ________________________________________________________________________________________________ 92. Ghi chú của Vụ pháp luật, ngày 6-9-1946, Phụ lục số 40 (Thực ra là Phụ lục số 43 – N.D.) ..... Phần tiếp theo: 4. THỜI KỲ SAU GIAI ĐOẠN THUỘC ĐỊA
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #585 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2011, 09:03:49 am » |
|
Vụ “Trung Quốc lại phá cáp khảo sát của Việt Nam”:Việt Nam cần phản đối lên Liên Hiệp Quốc TT - Sau sự kiện tàu Bình Minh 02, một mặt Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố một cách hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và ngang ngược rằng hành động của Trung Quốc là “bình thường”, thậm chí là “chính đáng”, một mặt bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc tuyên bố những lời hay chữ đẹp tại Diễn đàn an ninh châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 10 (còn gọi là Đối thoại Shangri-La).  Những hành động của Trung Quốc vượt quá tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa - Đồ họa: VĨ CƯỜNG Ngay sau những lời hay chữ đẹp đó, các tàu Trung Quốc lại tiến hành cản trở và phá hoại tàu khảo sát địa chấn Viking 2 đang hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Một chính sách có hệ thốngĐiều cần nhấn mạnh là hai sự kiện Bình Minh 02 và Viking 2 không phải là những sự kiện đơn lẻ mà là những bước trong một chính sách có hệ thống của Trung Quốc. Trung Quốc hiện đang “cấm đánh cá” trong vùng biển phía bắc 12O Bắc và phía tây 113O Đông. Vùng biển này bao gồm một vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn của Việt Nam không liên quan đến tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa. Điều đáng chú ý về vùng “cấm đánh cá” này là Trung Quốc đã thiết kế nó sao cho xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, nhưng không xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của nước Đông Nam Á nào khác, và không xâm phạm vùng bên ngoài 200 hải lý, nơi cả thế giới có quyền đánh bắt. Có thể thấy trên bản đồ rằng hai vùng Mộc Tinh, Hải Thạch (được đánh dấu bằng ký hiệu M và H) không liên quan với tranh chấp Trường Sa. Hai vùng này cũng nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Thế nhưng, năm 2007 Trung Quốc đã ép Hãng BP rút ra khỏi hợp tác với Việt Nam trong hai vùng này. Trước đó, vào năm 1992 Trung Quốc ký hợp đồng khảo sát dầu khí với Công ty Mỹ Crestone trong vùng Tư Chính. Trung Quốc còn tuyên bố rằng sẽ dùng hải quân để yểm trợ việc khảo sát. Khu vực cụ thể của hợp đồng này nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Chiếu theo luật quốc tế thì vùng Tư Chính không nằm trong tranh chấp Trường Sa. Những điều trên thể hiện một chính sách có hệ thống của Trung Quốc để mở rộng vùng tranh chấp ra cả những vùng biển không liên quan đến tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa. Trung Quốc dùng tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa như hỏa mù để ngụy trang cho chủ trương chiếm phần lớn biển Đông. Có thể Trung Quốc sẽ tiếp tục tìm cách gây ra những sự kiện Bình Minh 02 và Viking 2, thậm chí những sự kiện còn nghiêm trọng hơn. Sự xâm phạm phải bị trả giáTrước mắt, Việt Nam phải không nhượng bộ về những sự kiện này. Nếu nhượng bộ, các công ty dầu khí nước ngoài sẽ không còn dám hợp tác với Việt Nam, ngay cả các vùng biển của Việt Nam không thuộc tranh chấp cũng sẽ rơi vào tay Trung Quốc. Về lâu dài, Việt Nam phải xác định và khẳng định ranh giới cho các vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và khẳng định rằng tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa chỉ có thể nằm trong các vùng biển đó. Những hành vi xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam bên ngoài vùng tranh chấp đó là một sự bành trướng vô cớ vượt quá tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa. Sau khi xác định, Việt Nam phải công bố rộng rãi các ranh giới biển của mình. Tất cả các bản đồ Việt Nam nên thể hiện quan điểm của Việt Nam đâu là ranh giới của tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, đâu là ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình không liên quan đến tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa. Việt Nam nên gửi bản đồ thể hiện quan điểm đó đến các nước trên thế giới và các cơ quan quốc tế. Như vậy để thế giới thấy rõ yêu sách của Việt Nam và yêu sách đó công bằng và phù hợp với luật quốc tế hơn yêu sách của Trung Quốc. Yêu sách của Trung Quốc đối với 75% diện tích biển Đông là vô lý và Trung Quốc phải ngụy trang cho yêu sách đó bằng sự mù mờ. Việt Nam phải đối trọng điều đó bằng những ranh giới hợp lý và minh bạch. Trong những trường hợp xâm phạm như sự kiện Bình Minh 02, Viking 2, nếu các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia đều lên án hành vi của Trung Quốc thì tiếng nói chung đó sẽ mạnh mẽ hơn chỉ có Việt Nam lên án. Trong mỗi trường hợp cụ thể, mọi sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam đều phải trả một giá xứng đáng trong lĩnh vực ngoại giao và hình ảnh của nước xâm phạm trước cộng đồng quốc tế. Nếu nước có hành động xâm phạm không phải trả giá ít nhất là bằng hình ảnh xứng đáng thì họ sẽ tiếp tục xâm phạm, và sự xâm phạm sẽ ngày càng ngang ngược hơn. Để thực hiện điều này, không có cách nào khác hơn là mỗi cơ quan nhà nước có chức năng, mỗi người Việt có khả năng phải tích cực làm cho thế giới thấy rõ “hình ảnh xứng đáng” của Trung Quốc. Những hành động xâm phạm ngày càng leo thang của Trung Quốc đã chứng minh rằng không thể sống cạnh một nước vừa lớn, vừa muốn bành trướng, bằng cách phản đối song phương mỗi khi họ xâm phạm chúng ta. Đã đến lúc Việt Nam phải phản đối lên Liên Hiệp Quốc các hành động xâm phạm của Trung Quốc. Việt Nam có thể đề nghị Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc xin ý kiến tư vấn của Tòa án công lý quốc tế. Nếu chúng ta không phản đối lên Liên Hiệp Quốc các hành động xâm phạm của Trung Quốc, thì đến lúc cần sẽ khó thuyết phục Đại hội đồng rằng ý kiến tư vấn của Tòa án công lý quốc tế là cần thiết. Vì vậy, ngay từ bây giờ chúng ta phải phản đối lên Liên Hiệp Quốc tất cả các hành động xâm phạm của Trung Quốc. DƯƠNG DANH HUY (Quỹ Nghiên cứu biển Đông)link: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/441899/Viet-Nam-can-phan-doi-len-Lien-Hiep-Quoc.html
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
panphilov
Cựu chiến binh

Bài viết: 780
|
 |
« Trả lời #586 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2011, 02:27:46 pm » |
|
Eo Mallaca, sẽ vẫn là một yếu điểm chí mạng của TQ trong ít nhất vài chục năm tới. Mà thật không may, lãnh thổ Việt Nam với bờ biển dài bao trọn biển Đông, với các căn cứ không hải quân ở phần cực Nam lãnh thổ, vốn nằm ngoài tầm với của Không - Hải quân TQ, lại có khả năng khóa chặt eo Mallacca nếu thực sự bị đẩy đến bước đường cùng. Sẽ thế nào nếu toàn bộ đường vận tải dầu khí và hàng hóa của TQ bị chặn lại khi chiến tranh Trung - Việt nổ ra? Đất nước to lớn ấy chắc chắn sẽ cạn kiệt dầu trong không quá 6 tháng đánh nhau, và bước đến giai đoạn suy tàn. Một cuộc chiến với Việt Nam, dù là với bất cứ đối thủ nào, đều sẽ phải kéo dài tới vài thập kỷ, Mỹ, Pháp hiểu điều này hơn bất cứ ai, và Trung Quốc thì lại càng hiểu hơn bất cứ ai trong số đó. Lang thang trên mạng, vô tình đọc được mấy dòng này. Nói chung em rất ghét mấy tay đại ngôn và cứ nghĩ mình là vĩ nhân. Nhưng không hiểu sao có nhiều người lại vỗ tay ca tụng bài viết này (em xin không đưa đường dẫn vào đây vì theo em đó là địa chỉ xấu). Không biết các bác có ý kiến gì không ạ?
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Sáu, 2011, 02:51:12 pm gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
vespa
Thành viên

Bài viết: 265
|
 |
« Trả lời #587 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2011, 03:58:29 pm » |
|
panphilov : Tác giả bài viết hịch này hình như chưa hiểu hết thế nào là Địa lý-Kinh tế-Quân sự ra làm sao cho nên bài hịch hơi....lãng.Nếu chấp nhận phân tích thì nên có đầu và đuôi như thế nào,đằng này chưa gì đã phan vào giữa.Vì vậy chứng tỏ tay này trình còn kém lắm 
|
|
|
|
|
Logged
|
'' Cẩm Đào cùng với Cận Bình ... Sắm tàu mẫu hạm rập rình Biển Đông ! Mấy cu đừng có chơi ngông ... Coi chừng máu Hán nhuộm hồng Hoàng Sa ! Sông Hồng thuở ấy chưa xa ... Quân Thanh chết đuối , Đống Đa xác vùi ... Bay ngon thì cứ t
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #588 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2011, 04:20:59 pm » |
|
"Đường đứt khúc 9 đoạn” – Một yêu sách phi lý QĐND - LTS: Gần đây, Trung Quốc liên tục có những hành động đáng lo ngại trên Biển Đông. Dư luận đang đặt câu hỏi, phải chăng Trung Quốc đang đi những bước đầu tiên để hiện thực hóa “Đường đứt khúc 9 đoạn”, một yêu sách chưa có quốc gia hay tổ chức quốc tế nào thừa nhận và không có chứng lý nào khả dĩ để chứng minh. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của chuyên gia Nguyễn Hồng Thao về yêu sách “Đường đứt khúc 9 đoạn” dưới góc độ luật pháp quốc tế. Ngày 7-5-2009, Trung Quốc chính thức yêu cầu lưu truyền trong cộng đồng các nước thành viên Liên hợp quốc bản đồ thể hiện đường lưỡi bò (hay còn gọi là Đường chữ U, Đường đứt khúc 9 đoạn) trên Biển Đông, yêu sách không chỉ các đảo, đá mà toàn bộ vùng biển trong đó.  Đường lưỡi bò phi lý của Trung Quốc. Nguồn: Bản đồ: nghiencuubiendong.vn Trước ngày 7-5-2009, chính quyền Trung Quốc qua các thời kỳ đều chưa có giải thích gì về con đường chữ U trong Biển Đông. Theo các tác giả Trung Quốc, Đường chữ U lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ các đảo trong biển Nam Trung Hoa - The Location Map of the South China Sea Islands (Nanhai zhudao weizhi tu) do Fu Jiaojin, Wang Xiguang biên soạn và được Vụ Địa lý của Bộ Nội vụ Trung Quốc xuất bản vào năm 1947. Một số người khác còn cố đẩy thời gian xuất xứ của con đường này xa hơn nhằm mục đích giải thích có lợi cho Trung Quốc. Họ cho rằng, Đường chữ U này do một người tên là Hu Jinjie vẽ từ năm 1914 và đến tháng 12-1947, một viên chức của Cộng hòa Trung Hoa tên là Bai Meichu vẽ lại đường này trong một bản đồ cá nhân. Tuy nhiên, các tác giả Trung Quốc cũng phải khách quan thừa nhận “không rõ khi vẽ đường này Bai Meichu có đủ hiểu biết và kiến thức về luật biển quốc tế đương đại hay không?”. Daniel Schaeffer trong cuốn sách “Biển Đông: Những điều hoang tưởng và sự thật của đường lưỡi bò” và các nhà nghiên cứu nước ngoài khác cũng cho rằng, bản đồ đường đứt khúc này xuất hiện trong một tập bản đồ tư nhân (chứ không phải của Nhà nước). Đường đứt khúc gồm 11 đoạn vẽ gộp các quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa, Trường Sa và bãi ngầm Trung Sa và có điểm giới hạn phía Nam là vĩ tuyến 40. Tuy nhiên năm 1953, đường 11 đoạn đã được điều chỉnh thành 9 đoạn, bỏ 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ, không rõ nguyên nhân. Trên thực tế, đến nay không có bất kỳ một tài liệu nào cho biết tọa độ cũng như vị trí chính xác của đường lưỡi bò. Chính quyền Trung Quốc cũng chưa bao giờ đề cập đường lưỡi bò như là một ranh giới bất khả xâm phạm đối với chủ quyền Trung Quốc mặc dù các bản đồ biển Nam Trung Hoa đều có thể hiện đường này. Chính vì vậy, đã có nhiều bàn luận giải thích về ý nghĩa của đường này. Các học giả Trung Quốc đưa ra ba cách giải thích: 1) Giáo sư Gao Zhiguo, Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển biển, Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc cho rằng, đường này yêu sách sở hữu các đảo nằm bên trong hơn là một đường biên giới biển. Ông nhận xét: “Nghiên cứu kỹ các tài liệu Trung Quốc cho thấy, Trung Quốc chưa bao giờ yêu sách toàn bộ cột nước của biển Nam Trung Hoa mà chỉ có các đảo và vùng nước xung quanh các đảo nằm trong đường này”. 2) Pan Shiying cho rằng, con đường này đã tồn tại một nửa thế kỷ nay, không quốc gia nào phản đối và vì vậy đã tạo ra một danh nghĩa lịch sử cho Trung Quốc, là con đường biên giới quốc gia. Trung Quốc yêu sách chủ quyền không chỉ các đảo, đá của bốn quần đảo Đông Sa, Tây Sa (Hoàng Sa), Trung Sa (bãi ngầm Macclefield) và Nam Sa (Trường Sa) mà toàn bộ vùng nước trong Đường chữ U đó. Theo ông, “Chính phủ Trung Quốc thông qua việc ấn bản các bản đồ này muốn gửi ba thông điệp tới cộng đồng quốc tế: I. Khu vực nằm trong đường biên giới này là các đảo, đá và các vùng nước kế cận của chúng đã thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc trong lịch sử. II. Phù hợp với các công ước quốc tế, vị trí và hướng đi của con đường đứt khúc 11 đoạn này (sau thay bằng 9 đoạn) đã được vạch theo cách gần như là đường cách đều giữa rìa ngoài của bốn quần đảo trong biển Nam Trung Hoa với đường bờ biển của các quốc gia kế cận. Điều này đã và đang là hợp pháp vào thời gian đó của chiếm cứ, chiếm hữu và quản lý. III. Thực tiễn sử dụng các đường đứt khúc hơn là một đường liên tục để đánh dấu một số các khu vực chủ chốt đã chỉ ra thực chất của việc “chưa dứt điểm”, để lại khả năng đưa ra những điều chỉnh cần thiết trong tương lai”. Nói cách khác, vùng nước do con đường này bao bọc là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy của Trung Quốc. Con đường này chỉ là hình thức, còn danh nghĩa lịch sử của Trung Quốc trên vùng biển này mới là nội dung. 3) Zou Keyuan cho rằng, yêu sách của Trung Quốc không nên xem như yêu sách vùng nước lịch sử theo nghĩa truyền thống mà giống như một dạng yêu sách các quyền chủ quyền và quyền tài phán lịch sử chứ không phải là yêu sách chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối. Nói cách khác, đây là sự ngụy biện liên hệ đường lưỡi bò với các khái niệm quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của luật biển hiện đại. Rõ ràng nguồn gốc và ý nghĩa của đường lưỡi bò này hoàn toàn mập mờ, không chính xác, đến nỗi bản thân các học giả Trung Quốc cũng không thống nhất được một giải thích hợp lý nào. Yann HueiSong còn cho rằng “không có cơ sở nào trong luật quốc tế cho yêu sách lịch sử đó”. Với công hàm ngày 7-5-2009 có kèm bản đồ Đường chữ U, có vẻ như Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận “tính chất lịch sử của đường lưỡi bò, coi biển Đông như một vịnh lịch sử”. Đường này sẽ được ngộ nhận là đường biên giới quốc gia trên biển của Trung Quốc. Họ cũng rất khéo kết hợp con đường này với các khái niệm đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của luật biển quốc tế hiện đại bằng tuyên bố dưới dạng Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với các vùng nước phụ cận của quần đảo Nam Sa (Trường Sa theo tên Việt Nam). Như vậy, toàn bộ Biển Đông sẽ trở thành “ao hồ” của Trung Quốc. Theo luật pháp quốc tế, một vịnh hay một vùng nước được coi là lịch sử, căn cứ vào tập quán và các phán quyết của Tòa án và Trọng tài quốc tế phải thỏa mãn ít nhất hai điều kiện: 1. Tại đó quốc gia ven biển thực hiện một cách thực sự chủ quyền của mình một cách liên tục, hòa bình và lâu dài; 2. Có sự chấp nhận công khai hoặc sự im lặng không phản đối của các quốc gia khác, nhất là các quốc gia láng giềng và có quyền lợi tại vùng biển này. Về điều kiện thứ nhất, Trung Quốc phải chứng minh được các chính quyền của họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông này một cách thực sự, liên tục và hòa bình trong thời gian dài. Điều này thật khó bởi vì: - Các văn kiện chính thức của nhà nước phong kiến Trung Quốc, như Đại Nguyên nhất thống chí (1294), Đại Minh nhất thống chí (1461), Đại Thanh nhất thống chí (1842) trước năm 1909 đều khẳng định “cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc là Nhai huyện, đảo Hải Nam”. Các bản đồ lãnh thổ Trung Quốc của người nước ngoài cùng thời cũng vẽ và giải thích phù hợp với cách hiểu này của người Trung Quốc. Bản đồ Trung Quốc thế kỷ 17 của Peter de Goyer và Jacob de Keyzer thuộc công ty Đông Ấn - Hà Lan cũng có lời giải thích rất rõ: “Nơi xa nhất của Trung Quốc bắt đầu từ phía Nam đảo Hải Nam ở 18 độ vĩ Bắc, rồi từ đó ngược lên phía Bắc đến vĩ độ 42 độ". Trung Quốc chỉ thực sự bước chân lên quần đảo Hoàng Sa năm 1909 khi quần đảo này đã thuộc Việt Nam, không còn là đất vô chủ. Về Trường Sa, cho tới tận năm 1932, công hàm ngày 29-9-1932 của phái đoàn ngoại giao Trung Hoa Dân quốc tại Pa-ri vẫn còn khẳng định các nhóm đảo “Amphitrite” (Lưỡi Liềm) và “Croissant” (An Vĩnh) của quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) “tạo thành phần lãnh thổ Trung Quốc nằm tận cùng ở phía Nam”. - Trung Quốc đã không đưa ra được các bằng chứng nào có sức thuyết phục về việc họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng biển rộng lớn này một cách liên tục, hòa bình từ thời xa xưa. Các sách Hán văn cổ đều ghi nhận các hoạt động của dân đánh cá và dân buôn A-rập, Ấn Độ, Ma-lay, Việt, và vùng Vịnh trong vùng biển này, không có một bằng chứng nào cho thấy Biển Đông hoàn toàn là “ao hồ Trung Quốc”. Các chính quyền phong kiến Trung Quốc cũng không thiết lập hoặc duy trì có lợi cho họ một sự độc tôn nào trong vùng biển này, khả dĩ có thể loại bỏ hoạt động khai thác của các đội Hoàng Sa và Bắc Hải của triều Nguyễn. Ngược lại còn có những hành động thừa nhận tính hợp pháp của các hoạt động đó như trường hợp năm 1774: Quan huyện Văn Xương giúp đội viên đội Hoàng Sa khi đi làm nhiệm vụ bị bão dạt vào đất Trung Quốc. - Đường đứt khúc 9 đoạn của Trung Quốc không phải là một con đường có tính ổn định và xác định. Từ 11 đoạn nó đã phải bỏ đi 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ vì quá vô lý. Tính chất không liên tục của đường này được các tác giả Trung Quốc giải thích để cho “những điều chỉnh cần thiết trong tương lai”. Một con đường như vậy rõ ràng không thể nào lại được coi là “biên giới quốc gia” theo luật pháp quốc tế. Đặc tính quan trọng nhất của một đường biên giới quốc tế là tính ổn định và dứt khoát. Trong một xã hội có trật tự riêng, các đường biên giới là một trong số các thể chế ổn định nhất từ tất cả các thể chế. Vậy mà ở đây, đến cả người Trung Quốc, tác giả của đường này còn chưa biết nó đi thế nào, thì sao có thể gọi đó là biên giới quốc gia được? Nguyễn Hồng Thao (còn tiếp) link: http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/7/24/24/150683/Default.aspx
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #589 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2011, 04:25:01 pm » |
|
“Đường đứt khúc 9 đoạn” – Một yêu sách phi lý (Phần cuối) QĐND - Về điều kiện thứ hai, Trung Quốc chưa bao giờ công bố chính thức yêu sách Biển Đông theo đường ranh giới gồm 9 đoạn không liền nhau này. Theo luật pháp quốc tế, các hành vi mà quốc gia thể hiện phải mang tính công khai ý chí thực thi chủ quyền trên lãnh thổ đó. Các hành vi này phải chính danh như những hành vi bình thường của một quốc gia. Những hành vi bí mật không thể tạo nên cơ sở cho quyền lịch sử; ít nhất các quốc gia khác phải có cơ hội để biết được cái gì đang diễn ra. Các học giả Trung Quốc mặc nhận rằng, con đường này tồn tại từ lâu mà không có quốc gia nào phản đối. Tuy nhiên, luật pháp quốc tế cho rằng một yêu sách phải được tuyên bố rõ ràng, không mập mờ, chính thức và được duy trì trong một thời gian dài đủ để quốc gia có ý kiến bất đồng phải đưa ra ý kiến chính thức của họ. Đường chữ U có nguồn gốc từ một bản đồ tư nhân, không phải là cái để các quốc gia khác có ý kiến. Hơn nữa, việc các nước tham gia Hội nghị Xan Phran-xi-xcô năm 1951 bác bỏ đề nghị của Liên Xô trao cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và thực tế tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đòi hỏi của Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a đối với hầu như toàn bộ hoặc một bộ phận của quần đảo Trường Sa cho thấy không thể nói đường ranh giới 9 đoạn trên Biển Đông mà Trung Quốc vạch ra đã được các nước khác công nhận. Trong các hội nghị quốc tế như Hội nghị kiềm chế các xung đột tiềm tàng trong Nam Trung Hoa tổ chức hằng năm theo sáng kiến của In-đô-nê-xi-a, các đại biểu Trung Quốc luôn lảng tránh khi bị chất vấn về cơ sở pháp lý và lịch sử của con đường này.  Hội nghị Xan Phran-xi-xcô năm 1951. Ảnh tư liệu - Con đường đứt khúc 9 đoạn này mâu thuẫn ngay với quan điểm chính thức của Trung Quốc đã nêu trong Tuyên bố ngày 4-9-1958 về các vùng biển Trung Quốc: “Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố: 1. Bề rộng lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho tất cả lãnh thổ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm lục địa và các đảo ven bờ, cũng như Đài Loan và các đảo phụ cận, Bành Hồ, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa quần đảo và tất cả các đảo thuộc Trung Quốc được tách rời khỏi lục địa và các đảo ven bờ bởi biển cả”. Rõ ràng Trung Quốc công nhận rằng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển cả, chứ không phải các vùng nước lịch sử. Trong Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp của CHND Trung Hoa năm 1992, Trung Quốc cũng chỉ nêu đòi hỏi lãnh hải 12 hải lý xung quanh những vùng đất yêu sách chủ quyền và vùng tiếp giáp 12 hải lý dành cho thuế quan và các mục đích tương tự chứ không xác định “vùng nước lịch sử”. Ngày 15-6-1996, Trung Quốc phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và ban hành “Quy định về hệ thống đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải, bao gồm quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa). Quy định đường cơ sở của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa đã vi phạm hai nguyên tắc cơ bản: Đó là sự vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam và cũng là sự vi phạm các quy định của Luật Biển quốc tế về vạch đường cơ sở. Nếu đặt vấn đề chủ quyền lãnh thổ sang một bên để chỉ xét về mặt kỹ thuật thì việc vạch đường cơ sở của Trung Quốc tại Hoàng Sa không tôn trọng tinh thần và nội dung của Công ước Liên hợp quốc năm 1982 về Luật Biển. Hệ thống đường cơ sở thẳng ở đây nối liền các điểm nhô ra nhất của các đảo, các bãi nửa nổi nửa chìm ngoài cùng của quần đảo như: Đá Bắc (Beijiao), Cồn Cát Tây (Zhaoshudao), Đảo Bắc (Beidao), Đảo Nam (Nandao), Đảo Lincon (Dongdao), Đá Bông Bay (Langhuajiao). Các đoạn dài nhất là đoạn 3-4 (Lincon-Đá Bông Bay) 36,3 hải lý; đoạn 7-8 (Đá Bông Bay-Đá Triton) 75,8 hải lý; đoạn 14-15 (Đá Triton-Đá Bắc) 78,8 hải lý; đoạn 22-23 (Đá Bắc-Cồn Cát tây) 41,5 hải lý; đoạn 28-1 (Đảo Nam-Đảo Lincon) 28 hải lý. Ở đây rõ ràng Trung Quốc đã áp dụng phương pháp vạch đường cơ sở quần đảo chỉ quy định cho các quốc gia quần đảo (Điều 47 của Công ước) để vạch đường cơ sở cho các quần đảo xa bờ. Điều 47 quy định: Quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá nửa nổi nửa chìm của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước so với đất, kể cả vành đai san hô phải ở giữa tỷ số 1/1 và 9/1. Diện tích mà hệ đường cơ sở này của Trung Quốc bao lấy là một khu vực rộng 17.000km2, trong khi tổng diện tích các đảo nổi của quần đảo Hoàng Sa là 10km2. Ngoài ra, hầu hết các đá, bãi san hô mà Trung Quốc sử dụng ở đây đều không thích hợp cho con người đến ở hoặc không có một đời sống kinh tế riêng. Các đảo này lại cách xa nhau quá 24 hải lý, không có lý do gì có thể nối các đoạn đường cơ sở như vậy. Do vậy, bất kỳ một vùng biển nào mà Trung Quốc tuyên bố bao quanh vùng biển của các mỏm đá, bãi san hô này về mặt kỹ thuật đều trái với các quy định của Công ước 1982. Tuyên bố về đường cơ sở ngày 15-5-1996 của Trung Quốc áp dụng đối với cả quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam cho thấy, việc Trung Quốc yêu sách một vùng nội thủy nằm trong một vùng nước lịch sử có cùng chế độ nội thủy là một mâu thuẫn lớn trong lập trường của họ. Lập trường này của Trung Quốc cũng mâu thuẫn ngay với chính các tuyên bố của Trung Quốc về việc tàu chiến Mỹ đã vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc trong vụ ngày 8-3-2009. Chẳng lẽ cùng lúc Trung Quốc lại yêu sách một vùng biển với hai chế độ pháp lý khác nhau: Quyền chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế nằm trong vùng nước nội thủy có tính chất chủ quyền? - Trong lập luận của mình, các học giả Trung Quốc đã viện dẫn một số trường hợp yêu sách vùng nước lịch sử trong thực tiễn quốc tế như yêu sách của Liên Xô trước đây ngày 20-7-1957 tại vịnh Pierre Đại đế, yêu sách của Li-bi ngày 11-10-1973 tại vịnh Sidra. Theo họ, các ví dụ này chứng tỏ rằng trong thực tiễn quốc tế, luật về các vịnh lịch sử đã có được một quy chế pháp lý riêng biệt và như vậy yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc là hợp pháp. Lập luận này dựa trên cơ sở 15 trường hợp yêu sách quá đáng vùng nước lịch sử mà luật pháp quốc tế luôn phê phán. Các trường hợp ít ỏi này không tạo ra được một opinion juris (ý thức pháp luật) và một thực tiễn pháp lý không đổi nên chúng không bao giờ được luật quốc tế chấp nhận như một quy tắc tập quán. Vùng nước nằm trong đường 9 đoạn chiếm 80% diện tích Biển Đông mà Trung Quốc cho là “vùng nước lịch sử” là không có cơ sở pháp lý. Luật quốc tế không hề biết đến một vùng nước lịch sử lớn đến như vậy. Yêu sách “đường lưỡi bò” đi ngược lại với học thuyết các vùng nước lịch sử. Cộng đồng quốc tế chưa bao giờ ghi nhận một yêu sách như vậy và sẽ không chấp nhận một khoảng không gian rộng lớn như Biển Đông - biển lớn nhất, nhì thế giới - nằm dưới quyền tài phán của duy nhất một nước. - Quan điểm của Trung Quốc và Đài Loan, bên đầu tiên đưa ra yêu sách Đường chữ U cũng khác nhau. Ngày 30-12-1992, Viện Lập pháp Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) đã thông qua “Luật vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Trung Hoa Dân quốc”. Luật này được ban hành trên cơ sở nguyên tắc “chủ quyền thực tế” bỏ đi điều khoản về “vùng nước lịch sử” (vùng nước trong Đường chữ U). Ngày 2-1-1993, Viện Lập pháp Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) thông qua “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp Trung Hoa Dân quốc”. Luật này quy định Lãnh hải Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) rộng 12 hải lý đồng thời quy định các điểm cơ sở để vạch đường cơ sở và ranh giới ngoài lãnh hải do Viện Hành chính quy định và công bố trong thời gian tới. Trong các đạo luật này, khác với Trung Quốc, Đài Loan đã không đề cập "tính chất lịch sử" của "đường lưỡi bò" mà họ đã từng yêu sách năm 1947. Họ chỉ yêu sách các đảo đá, bãi cạn nằm trong giới hạn Đường chữ U nhưng không yêu sách vùng nước trong giới hạn đó. - Đường đứt khúc 9 đoạn mà Trung Quốc yêu sách này chạy sát bờ biển của các nước, có đoạn chỉ cách bờ biển Việt Nam khoảng 50 – 100km, trong khi Trường Sa cách bờ Việt Nam khoảng hơn 200 hải lý. Đường này còn chạy sát bãi Shoal James (Tăng Mẫu) của Ma-lai-xi-a và đảo Natuna của In-đô-nê-xi-a, quần đảo Phi-líp-pin, gây lo ngại sâu sắc cho các nước trong khu vực. Vì vậy, thật khó có thể đồng ý với các học giả Trung Quốc rằng con đường này được vạch “theo cách gần như là đường cách đều giữa rìa ngoài của bốn quần đảo trong biển Nam Trung Hoa với đường bờ biển của các quốc gia kế cận, phù hợp với các công ước quốc tế”. Trước hết, các công ước quốc tế cũng như thực tế xét xử của các cơ quan tài phán quốc tế không trù định quyền ưu tiên của phương pháp đường cách đều trong phân định nhất là trong trường hợp có các danh nghĩa lịch sử. Trung Quốc khẳng định xây dựng yêu sách của mình trên cơ sở “danh nghĩa lịch sử”, đồng thời lại áp dụng phương pháp đường cách đều để phân định, phủ nhận danh nghĩa lịch sử đó. Điều này không nhất quán. Thứ hai, nếu vẽ đúng kỹ thuật, con đường này hoàn toàn không thể là con đường cách đều giữa các đảo nằm giữa Biển Đông với bờ biển của các nước xung quanh. Đó là chưa kể đến điều 121 của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 quy định rằng những đảo, đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì chỉ có lãnh hải rộng không quá 12 hải lý. Thay lời kết, B.A. Hamzah, học giả Ma-lai-xi-a nhận xét: “Một yêu sách phi lý như vậy không thể có một danh nghĩa gì, do đó sự không có danh nghĩa sẽ kéo theo sự không có quyền tài phán”. Chủ quyền không thể suy diễn, không thể dựa trên những dẫn chứng thiếu cơ sở. “Đường đứt khúc 9 đoạn”, con đường không được xác định rõ cả về cơ sở pháp lý lẫn tọa độ địa lý, đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ không chỉ của các nước liên quan mà còn là sự thách thức đối với quyền lợi hàng hải, hàng không… của cộng đồng quốc tế. Từ bao đời nay, các quốc gia trong khu vực vẫn tiến hành các hoạt động sử dụng biển một cách bình thường trong Biển Đông không có sự ngăn cản nào của Trung Quốc. Đòi hỏi Đường chữ U như là một đường biên giới quốc gia trên biển và yêu sách hầu hết Biển Đông cùng các đảo, đá trong đó như Daniel Schaeffer - nguyên Tùy viên quân sự Pháp tại Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan - nhận xét, “thực chất cố tình làm cho hầu hết người dân Trung Quốc và một số người khác hiểu rằng đây đơn giản là sự khẳng định đối với “việc đã rồi”, biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và 4 quần đảo trong đó là của Trung Quốc, và vì thế không việc gì phải bàn cãi”. Tuy nhiên, đối với những người Trung Quốc đang muốn đất nước mình là một thành viên đáng tin cậy của cộng đồng quốc tế, của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 thì việc từ bỏ đường này sẽ khắc phục được tình trạng mập mờ cản trở thực tiễn, tạo niềm tin với các nước hữu quan, làm cho các cuộc đàm phán phân định biển trong khu vực trở nên khách quan hơn, thúc đẩy hợp tác và phát triển. Một cách tự nhiên, Biển Đông là nơi liên kết các nền văn minh kinh tế giữa các nước Đông Nam Á và giữa họ với phần lục địa phía Nam Trung Quốc. Với vị trí địa chính trị, cấu tạo tự nhiên và hoạt động kinh tế - xã hội liên kết giữa các quốc gia, Biển Đông là ngôi nhà chung của các nước trong khu vực và chứa đựng nhiều quan tâm chung của các nước trong và ngoài khu vực. Các vấn đề của Biển Đông cần được các nước trong khu vực, trên tinh thần cầu thị, tôn trọng chủ quyền và lợi ích của nhau, tuân thủ pháp luật quốc tế, cùng nhau tìm một giải pháp công bằng, mà các bên có thể chấp nhận. Nguyễn Hồng Thaolink: http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/7/24/24/150803/Default.aspx
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
|